Tranh chấp đất đai được hiểu là sự tranh chấp về quyền quản lý, quyền sử dụng xung quanh một khu đất cụ thể mà mỗi bên đều cho rằng mình phải được quyền đó do pháp luật quy định và bảo h
Trang 1Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá đối với mỗi quốc gia, là tư liệu sản xuất đặc biệt, càng đặc biệt hơn khi dân số tăng nhanh diện tích đất đang sử dụng tối đa, nhu cầu về lương thực đang được toàn thế giới quan tâm
Sở dĩ đất đai luôn là đối tượng tranh chấp giữa các tầng lớp nhân dân trong xã hội vì nó có vai trò rất lớn trong cuộc sống của con người Đất luôn là điểm tựa
mà trên đó con người luôn sinh sống, xây dựng nhà cửa, các công trình văn hóa, kho tàng, bến bãi… Đất là tư liệu sản xuất quan trọng trong một số ngành sản xuất như: Nông nghiệp, lâm nghiệp, và một số ngành nghề quan trọng khác Vậy vấn đề đặt ra là quản lý, sử dụng như thế nào phát huy tối đa giá trị của đất
Do đặc điểm vị trí đất đai là cố định và diện tích không thay đổi, nhưng nhu cầu về đất ngày càng tăng chính vì thế mà nhu cầu sử dụng đất và nhà ở luôn là áp lực, luôn là vấn đề quan trọng của những nhà quản lý sao cho việc sử dụng đất đai là hợp lý nhất, phù hợp với chính sách phát triển kinh tế, xã hội, với tình hình chung của đất nước
Một trong những nhiệm vụ cấp bách của công cuộc cải cách nền hành chính của nước ta hiện nay, là phải đẩy mạnh công tác giải quyết khiếu nại,
tố cáo, làm sao cho các khiếu kiện của công dân được giải quyết nhanh chóng, kịp thời, có hiệu quả, hiệu lực Để góp phần làm tốt công tác giải quyết khiếu kiện của công dân là phải nói đến vai trò công tác giải quyết tranh chấp đất đai ở phường xã Trong thời gian qua, Đảng bộ phường Bình Đức luôn lãnh, chỉ đạo các cấp ủy, UBND phường và 06 khóm thuộc phường, quan tâm thực hiện tốt công tác giải quyết tranh chấp đất đai, để từng bước ổn định về tổ chức, cơ cấu, bảo đảm về chất lượng, số lượng Đến nay, toàn phường có 01 Ban hòa giải phường và 06 Tổ hòa giải của 06 khóm với 64 hòa giải viên Hòa giải viên chủ yếu là những cán bộ tư pháp, địa chính, xây dựng, đô thị, môi trường với các đại diện các đoàn thể: Mặt trận, Đoàn thanh niên, Phụ nữ, Thanh tra nhân dân, Cựu chiến binh, Chi hội
Trang 22
luật gia có kiến thức pháp luật nhất định, có bề dày về thực tiễn đời sống
Từ khi Tổ hòa giải được thành lập ở các địa bàn dân cư theo Pháp lệnh Tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở, các tranh chấp nhỏ phát sinh trong nhân dân giảm đáng kể, những xích mích thường nhật trong gia đình, hàng xóm được các tổ hòa giải giải quyết ổn thỏa, giữ gìn đoàn kết trong nội bộ nhân dân, củng cố phát huy những tình cảm, đạo lý truyền thống tốt đẹp trong gia đình và cộng đồng dân cư, phòng ngừa, hạn chế vi phạm pháp luật, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội Bằng việc vận dụng những quy định của pháp luật để giải thích, phân tích thuyết phục các bên tranh chấp Các tổ viên Tổ hòa giải
đã góp phần nâng cao nhận thức hiểu biết pháp luật và quan trọng hơn là cảm hóa, giáo dục ý thức nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật cho các bên
Xuất phát từ những vấn đề trên, bản thân chọn đề tài: “C ng gi i quyế
ranh hấp đấ đai ở phường Bình Đứ , hành phố Long Xuyên - Thự rạng và
gi i ph p” làm tiểu luận tốt nghiệp Trung cấp ý luận Chính trị - Hành chính
B.64 nhằm gi p ch ng ta tìm hiểu sâu hơn về lĩnh vực quản lý đất đô thị của phường, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về đất đai Trong quá trình thực hiện đề tài không tránh khỏi những hạn chế thiếu xót, em rất mong được sự đóng góp ý kiến của thầy cô để bài tiểu luận được hoàn chỉnh
và đạt kết quả tốt hơn
Trang 3Tranh chấp đất đai là tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể tham gia quan
hệ pháp luật đất đai về quyền và nghĩa vụ trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai
Tranh chấp đất đai được hiểu là sự tranh chấp về quyền quản lý, quyền sử dụng xung quanh một khu đất cụ thể mà mỗi bên đều cho rằng mình phải được quyền đó do pháp luật quy định và bảo hộ Vì vậy, họ không thể cùng nhau tự giải quyết các tranh chấp đó mà phải yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết
Tranh chấp đất đai là sự bất đồng, mâu thuẫn hay xung đột về lợi ích, về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai Tranh chấp đất đai là một hiện tượng xã hội được phát sinh từ khi có sự chiếm hữu, sử dụng đối với đất đai, là hiện tượng phức tạp, do lịch sử để lại hoặc do phát sinh các chính sách đất đai trong quá trình đổi mới và hoàn thiện
xã hội nói chung và chế độ xã hội chủ nghĩa nói riêng
Tranh chấp đất đai không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của các bên tham gia tranh chấp mà còn ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước hi xảy ra tranh chấp, trước hết một bên không thực hiện được những quyền của mình, do ảnh hưởng đến việc thực hiện các nghĩa vụ đối với Nhà nước
Trang 44
Tranh chấp đất đai xảy ra sẽ tác động không tốt đến tinh thần tâm lý của các bên gây nên tình trạng bất ổn định, bất đồng trong nội bộ nhân dân, làm cho những quy định của uật Đất đai cũng như những đường lối, chính sách của Nhà nước không được thực hiện một cách triệt để
Bước sang nền kinh tế thị trường, Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào hoạt động sản xuất - kinh doanh mà thực hiện quản lý thông qua hệ thống pháp luật, chính sách thuế, đất đai được thừa nhận có giá trị, quyền sử dụng đất (QSDĐ) được tham gia các giao dịch trên thị trường làm quan hệ đất đai ngày càng đa dạng và phức tạp, xuất hiện nhiều quan hệ mới liên quan đến chuyển nhượng, thừa kế, góp vốn… làm gia tăng tranh chấp, mâu thuẫn đất đai
Như vậy, tranh chấp đất đai là tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật đất đai về quyền và nghĩa vụ trong quá trình quản lý và
sử dụng đất đai
1.1.2 Đối tượng ủ tr nh h p t i
Đối tượng của tranh chấp đất đai là quyền quản lý, quyền sử dụng và những lợi ích phát sinh từ quá trình sử dụng một loại tài sản đặc biệt không thuộc quyền sở hữu của các bên tranh chấp
1.1.3 hủ thể ủ tr nh h p t i
Các chủ thể tranh chấp đất đai chỉ là chủ thể quản lý và sử dụng đất, không có quyền sở hữu đối với đất đai Quyền sử dụng đất của các chủ thể được xác lập dựa trên quyết định giao đất, cho thuê đất của Nhà nước hoặc được Nhà nước cho phép nhận chuyển nhượng từ các chủ thể khác hoặc được Nhà nước thừa nhận quyền sử dụng đất hợp pháp của người sử dụng đất đối với diện tích đất đang sử dụng
Chủ thể của các tranh chấp đất đai chỉ là chủ thể của quá trình sử dụng đất đai Các bên tham gia tranh chấp đất đai không phải là chủ sở hữu đất đai mà
họ chỉ được Nhà nước chuyển giao đất cho sử dụng trong khuôn khổ pháp luật quy định Đối tượng tranh chấp đất đai của các chủ thể ở đây là quyền sử dụng
Trang 51.1.4 Nội dung ủ tr nh h p t i
Nội dung của tranh chấp đất đai rất đa dạng và phức tạp Hoạt động quản
lý và sử dụng đất trong nền kinh tế thị trường diễn ra rất đa dạng, phong phú với việc sử dụng đất vào nhiều mục đích khác nhau, với diện tích, nhu cầu sử dụng khác nhau Trong nền kinh tế thị trường, việc quản lý và sử dụng đất không đơn thuần chỉ là việc quản lý và sử dụng một tư liệu sản xuất Đất đai đã trở thành một loại hàng hóa đặc biệt, có giá trị thương mại, giá đất lại biến động theo quy luật cung cầu trên thị trường, nên việc quản lý và sử dụng nó không đơn thuần chỉ là việc khai thác giá trị sử dụng mà còn bao gồm cả giá trị sinh lời của đất (Thông qua các hành vi kinh doanh quyền sử dụng đất) Tất nhiên, khi nội dung quản lý và sử dụng đất phong ph và phức tạp hơn thì những mâu thuẫn, bất đồng xung quanh việc quản lý và sử dụng đất đai cũng trở nên gay gắt và trầm trọng hơn
1.1.5 ậu quả ủ tr nh h p t i
Tranh chấp đất đai phát sinh hậu quả xấu về nhiều mặt như: Có thể gây mất ổn định về chính trị, phá vỡ mối quan hệ xã hội, làm mất đoàn kết trong nội bộ nhân dân, phá vỡ trật tự quản lý đất đai, gây đình trệ sản xuất, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích không những của bản thân các bên tranh chấp mà còn gây thiệt hại đến lợi ích Nhà nước và xã hội
1.1.6 Ph m vi giải qu t tr nh h p t i ơ s
Theo mục 2 và mục 3 của Quy định về việc giải quyết tranh chấp đất đai trên địa bàn tỉnh n iang, được ban hành kèm theo Quyết định số
Trang 6“UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp có nhiệm vụ tổ chức hòa giải, hướng dẫn, gi p đỡ, thuyết phục các bên đạt được thỏa thuận, tự nguyện giải quyết với nhau những tranh chấp về quyền sử dụng đất mà các bên tranh chấp không tự hòa giải được ở Tổ hòa giải cơ sở.”
á v việ s u h ng ượ h giải
Theo khoản 3 Điều 13 của Quy định về việc giải quyết tranh chấp đất đai
và giải quyết khiếu nại về đất đai, được ban hành kèm theo Quyết định số 21/2012/QĐ-UBND, ngày 06 tháng 8 năm 2012 của UBND tỉnh n iang
“ hông hòa giải các tranh chấp phát sinh do các hành vi vi phạm pháp luật về đất đai mà theo quy định của pháp luật phải bị xử lý hành chính hoặc hình sự.”
1.2 V TR , N H C C N T C QU T TR NH
CH P Đ T Đ C S
Vai trò giải quyết tranh chấp đất đai ở cơ sở là giải thích những quy định pháp luật, hướng dẫn, gi p đỡ, thuyết phục các bên tranh chấp đạt được thỏa thuận tự nguyện giải quyết với nhau những việc tranh chấp mà các bên không
tự thỏa thuận được, trên tinh thần đạo lý, thuần phong mỹ tục, tình làng nghĩa xóm, quy định của pháp luật, nhằm giữ gìn đoàn kết trong nội bộ nhân dân, củng cố phát huy những tình cảm và đạo lý truyền thống tốt đẹp và phòng ngừa hạn chế vi phạm pháp luật, đảm bảo trật tự, an toàn xã hội trong gia đình và cộng đồng dân cư
Trang 77
inh nghiệm cho thấy, khi làm tốt công tác giải quyết tranh chấp đất đai ở
cơ sở thì tình hình an ninh, trật tự được giữ vững, tạo điều kiện cho phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống người dân Ngược lại, nếu còn coi nhẹ công tác giải quyết tranh chấp đất đai, tình hình mâu thuẫn, tranh chấp có chiều hướng tăng, dẫn đến mất trật tự, trị an xã hội Thông thường, những mâu thuẫn,
va chạm trong cuộc sống, l c đầu đơn giản, nhưng do không được quan tâm giải quyết kịp thời cho nên đã nhanh chóng trở thành phức tạp, thậm chí là nguyên nhân xuất hiện những “Điểm nóng” về khiếu kiện Vai trò của công tác giải quyết tranh chấp đất đai ở cơ sở quan trọng như vậy, song cơ chế, chính sách đối với những cán bộ làm công tác giải quyết tranh chấp đất đai còn nhiều bất cập Cán bộ làm công tác giải quyết tranh chấp đất đai thường xuyên phải làm việc xuyên suốt để giảng giải, phân tích, vận động người dân chấp hành pháp luật Thiết nghĩ, khi xã hội phát triển thì các mối quan hệ, làm ăn càng trở nên đa dạng, phức tạp, dễ dẫn đến những mâu thuẫn nảy sinh trong cuộc sống thì Nhà nước nên cải tiến chế độ đãi ngộ một cách thỏa đáng đối với người làm công tác giải quyết tranh chấp đất đai Cơ quan chuyên ngành quan tâm công tác đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ giải quyết tranh chấp đất đai ở cơ sở, bảo đảm có đủ năng lực, phẩm chất và lòng say mê nghề nghiệp Một trong những phương pháp để hai bên đi đến thỏa thuận trong trường hợp họ không chấp nhận thì tổ viên tổ hòa giải phải nhờ đến sự trợ gi p của người đại diện chính quyền như công an để tạo nên một tâm lý nhất định đối với một hoặc các bên tranh chấp, để họ đồng ý chấp nhận việc giải quyết tranh chấp đất đai Đương nhiên sự tác động tâm lý này không được mang tính ép buộc mà chỉ là sự hỗ trợ cho giải quyết tranh chấp đất đai thực hiện thành công
Công tác giải quyết tranh chấp đất đai phải khách quan, công minh, có lý,
có tình, giữ bí mật thông tin đời tư của các bên tranh chấp, tôn trọng quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, không xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng Thông thường khi mâu thuẫn xảy ra, mỗi bên tranh chấp đều đưa ra
lý lẽ để tự bảo vệ mình cho mình là đ ng, không nhìn nhận được cái sai của
Trang 88
mình đã gây ra cho người khác Do đó, người giải quyết tranh chấp đất đai phải thực sự khách quan, vô tư, công minh, đề cao lẽ phải, tìm cách thuyết phục để mỗi bên hiểu rõ sai trái, không xuề xòa “Dĩ hòa vi quý” cho xong việc Hơn nữa sự công minh, khách quan, vô tư của người giải quyết tranh chấp đất đai sẽ
là yếu tố để hai bên đặt lòng tin và cùng nhau giải quyết vụ việc
Công tác giải quyết tranh chấp đất đai ở cơ sở có ý nghĩa rất to lớn tạo điều kiện gi p các bên đạt được thỏa thuận, tự nguyện giải quyết với nhau; làm tăng cường sức mạnh cộng đồng, giữ gìn đoàn kết nội bộ nhân dân; giữ gìn các truyền thống văn hóa dân tộc trong môi trường hiện đại hóa; phòng ngừa, hạn chế vi phạm pháp luật; thay thế việc kiện tụng bằng việc thỏa thuận, gi p tiết kiệm thời gian, tiền bạc của Nhà nước và nhân dân cho việc giải quyết tranh chấp đất đai
Quan điểm của Đảng ta là lấy hòa giải làm phương châm giải quyết các tranh chấp, xích mích, mâu thuẫn xảy ra trong nội bộ nhân dân Vì vậy, khi việc tranh chấp, xích mích, mâu thuẫn của nhân dân đưa đến chính quyền cấp cơ sở thì cách giải quyết chủ yếu là hòa giải
Về quan điểm công tác hòa giải ở cơ sở, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã từng nhắc nhở cán bộ xử lý tại lớp huấn luyện tư pháp toàn quốc năm 1950 là:
“Các cô, các ch xét xử đ ng là tốt nhưng nếu không xét xử thì càng tốt hơn”
Trang 99
Qua đó, Người cũng đã có ý muốn nhắc nhở ch ng ta là phải hết sức ch trọng đến công tác hòa giải, gi p cho mọi người sống hòa thuận, đoàn kết với nhau, cùng nhau giải quyết hết các vụ tranh chấp, bất đồng để khỏi phải đưa đến xét
xử ở các cơ quan thẩm quyền
1.3.2 Qu n iểm ủ Nh nư
Thực hiện tư tưởng chỉ đạo của Đảng khi tiến hành hoạt động công tác giải quyết tranh chấp đất đai phải tuân thủ một cách đầy đủ, toàn diện và nghiêm t c, phải phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đạo đức xã hội và phong tục, tập quán tốt đẹp của nhân dân Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật để làm cơ sở cho việc giải quyết tranh chấp đất đai ở cơ sở như:
- Hiến pháp năm 1992 (Sửa đổi năm 2001) quy định tại Điều 127: “ cơ
sở thành lập các tổ chức thích hợp của nhân dân để giải quyết những việc vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong nhân dân theo quy định của pháp luật”
- uật Dân sự năm 2005 đã quy định tại Điều 12 về nguyên tắc hòa giải:
“Trong quan hệ dân sự, việc hòa giải giữa các bên phù hợp với quy định của pháp luật được khuyến khích hông ai được dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực trong giải quyết các tranh chấp dân sự”
- uật Đất đai được Quốc hội thông qua ngày 26/11/2003 quy định tại Điều 135 “Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến y ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp y ban nhân dân xã, phường, thị trấn có trách nhiệm phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác
để hòa giải tranh chấp đất đai ”
- Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành uật Đất đai năm 2003
- Nghị định số 38/2011/NĐ-CP ngày 26/05/11 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều quy định về thủ tục hành chính của Nghị định số
Trang 1010
181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004, Nghị định số 149/2004/NĐ-CP ngày 27 tháng 7 năm 2004 và Nghị định số 160/2005/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2005
- Nghị định số 105/2009/NĐ-CP ngày 11/11/2009 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
- Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất
- Nghị định 123/2007/NĐ-CP ngày 27/7/2007 của Chính phủ về sửa đổi,
bổ sung Nghị định 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất
- Thông tư số 145/2007/TT-BTC ngày 065/12/2007 của Bộ Tài Hướng dẫn thực hiện Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ
về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất và Nghị định số 123/2007/NĐ-CP ngày 27/7/2007 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 188/2004/NĐ-CP
- Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
- Thông tư 151/2010/TT-BTC ngày 27/09/2010 của Bộ Tài chính Hướng dẫn áp dụng các loại thuế và các khoản nộp ngân sách nhà nước đối với quỹ phát triển đất quy định tại Điều 34 Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng
8 năm 2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
- Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất
- Nghị định số 44/2008/NĐ-CP ngày 09/04/2008 của Chính phủ Về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất
Trang 1111
- Nghị định 120/2010/NĐ-CP ngày 30/12/2010 của Chính phủ về sửa đổi,
bổ sung một số điều của Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất
- Thông tư số 117/2004/TT-BTC ngày 07/12/2004 của Bộ Tài chính Hướng dẫn thực hiện Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm
2004 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất
- Thông tư số 70/2006/TT-BTC ngày 02/08/2006 của Bộ Tài chính Hướng dẫn sửa đổi, bổ sung Thông tư số 117/2004/TT-BTC ngày 7/12/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất
- Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định
bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai
- Thông tư số 06/2007/TT-BTNMT ngày 02/07/2007 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường Hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/05/2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai
- Nghị định số 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 của Chính phủ về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
- Nghị định số 142/2005/NĐ-CP ngày 14/11/2005 của Chính phủ về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước
- Nghị định 121/2010/NĐ-CP ngày 30/12/2010 của Chính phủ về sửa đổi,
bổ sung một số điều của Nghị định số 142/2005/NĐ-CP ngày 14/11/2005 của Chính phủ về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước
Trang 12cổ phần
- Thông tư liên tịch số 01/2003/TT T-BTNMT-BNV ngày 15/7/2003 của
Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của cơ quan chuyên môn gi p y ban nhân dân về quản
lý tài nguyên và môi trường ở địa phương
- Quyết định số 25/2010/QĐ-UBND, ngày 29/4/2010 của UBND tỉnh n iang về việc ban hành Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh n iang
- Quyết định số 39/2009/QĐ-UBND, ngày 10/9/2009 của UBND tỉnh n iang về việc ban hành Quy chế quản lý đất công trên địa bàn tỉnh n iang
- Quyết định số 45/2011/QĐ-UBND, ngày 30/9/2011 của UBND tỉnh n iang về việc ban hành quy định về đơn giản hóa các thủ tục hành chính trong quản lý quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất trên địa bàn tỉnh n iang
- Quyết định số 21/2012/QĐ-UBND ngày 06/8/2012 của UBND tỉnh n iang quy định giải quyết tranh chấp đất đai trên địa bàn tỉnh n iang
Trang 13tư phát triển kinh tế chủ yếu trên các lĩnh vực: Thương mại, dịch vụ và các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp à phường nội ô thành phố ong Xuyên nên được cấp trên quan tâm nhiều cho việc đầu tư xây dựng, nâng cấp cơ sở hạ tầng, góp phần đẩy nhanh tốc độ thị hóa làm cho bộ mặt phường ngày càng khang trang
Bên cạnh những thuận lợi trên, việc phát triển đô thị, làm cho giá trị đất trên địa bàn phường ngày tăng thêm, cùng với diện tích sử dụng đất bình quân cho một người nhỏ, dẫn tới tình trạng “Tấc đất tấc vàng”, “Đất chật người đông” nên tình tranh chấp chấp nhà đất có chiều hướng gia tăng, ngày càng phức tạp và gay gắt
Từ đặc điểm tình hình trên, được sự lãnh đạo điều hành của Đảng ủy và
y ban nhân dân (UBND) phường Bình Đức, trong thời gian qua các vấn đề về khiếu kiện, tranh chấp đất đai trên địa bàn phường được hòa giải, giải quyết kịp thời, thấu tình đạt lý, đảm bảo giải quyết đ ng theo quy định của pháp luật, nên những vấn đề về an ninh trật tự, vệ sinh, môi trường, văn minh đô thị được đảm bảo, tạo được sự đoàn kết gắn bó trong nhân dân
Trang 14Ban Hòa giải phường Bình Đức được thành lập gồm 11 thành viên
- Chủ tịch UBND làm Trưởng ban hòa giải
- Cán bộ Tư pháp làm Phó Trưởng Ban thường trực
- Mời Chủ tịch y ban Mặt trận Tổ quốc làm Phó Trưởng ban
- Các thành viên bao gồm: Chi hội trưởng Chi hội uật gia, Trưởng ban Thanh tra nhân dân, Chủ tịch Hội phụ nữ, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh, Bí thư Phường đoàn, Trưởng Công an, cán bộ Văn phòng, Địa chính - Xây dựng, Đô thị - Môi trường - Giao thông
Tổ Hòa giải ở các khóm: có 06 tổ ở 06 khóm với 64 thành viên
- Trưởng khóm làm Tổ trưởng Tổ hòa giải
- Mời các thành viên tham gia: Chi hội trưởng Hội phụ nữ, Bí thư Chi đoàn thanh niên, Chi hội trưởng Hội cựu chiến binh
2 2 2 Tr nh tự thủ t hi thự hiện giải qu t tr nh h p t i
2.2.2.1.Tiếp nhận và xử lý đơn hư khiếu nại, ranh hấp đấ đai
Việc tiếp nhận và xử lý đơn thư khiếu nại, tranh chấp đất đai, do cán bộ Một cửa thuộc Văn phòng UBND phường tiếp nhận, theo quy định tại Điều 5 của Quy định tiếp công dân, giải quyết tranh chấp đất đai và giải quyết khiếu nại về đất đai, được ban hành kèm theo Quyết định số 21/2012/QĐ-UBND, ngày 06 tháng 8 năm 2012 của UBND tỉnh n iang, cụ thể như sau:
* Tiếp nhận hồ sơ:
Đơn tranh chấp đất đai phải thể hiện nội dung tranh chấp: Diện tích, vị trí đất tranh chấp; quá trình sử dụng đất; các tài liệu đính kèm nhằm chứng minh
Trang 15do tranh chấp và yêu cầu giải quyết của người tranh chấp
Đơn tranh chấp phải do người tranh chấp ký tên hoặc điểm chỉ
Các tài liệu đính kèm phải được đối chiếu bản chính và cán bộ tiếp nhận đơn ký xác nhận là “Đã xem bản chính”, trường hợp không có bản chính thì các bản sao phải có công chứng
Đối với loại đơn có nhiều yêu cầu như vừa tranh chấp đất đai vừa khiếu nại đất đai thì phải xác định rõ một trong hai nội dung để xác định thẩm quyền UBND các cấp chỉ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai theo Điều 136 uật Đất đai và UBND cấp xã chỉ có thẩm quyền hòa giải tranh chấp đất đai theo Điều 135 uật Đất đai
Người đứng đơn phải đủ tư cách pháp lý và đủ năng lực hành vi dân sự
* Xử lý đơn:
Đơn gửi trực tiếp hoặc đơn gửi qua đường bưu điện đủ điều kiện nhận đơn thì trong thời hạn 10 ngày làm việc, người có thẩm quyền giải quyết, cơ quan thụ lý giải quyết phải gửi thông báo thụ lý cho người tranh chấp, các cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan, phòng Tiếp công dân của UBND cùng cấp
và Thanh tra nhà nước cùng cấp biết
Người tranh chấp chưa cung cấp đầy đủ các tài liệu kèm theo như biên bản hoặc thông báo hòa giải không thành, bản sao các quyết định, thì cán bộ tiếp dân yêu cầu bổ sung đầy đủ, sau đó mới tiếp nhận đơn Việc yêu cầu người tranh chấp bổ sung tài liệu dù là nộp đơn trực tiếp hay gửi qua đường bưu điện thì chỉ hướng dẫn một lần bằng văn bản