1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

tieu luan SP: chuan bi tamli cho tre khiem thinh 6 tuoi vao lop 1

32 520 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 283,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích - Ý nghĩa của đề tài: Từ việc nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc chuẩn bị tâm lí sẵnsàng vào trương tiểu học cho trẻ nói chung, cho trẻ khuyết tật thính giác nói riê

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn cô giáo: Thạc sĩ Nguyễn Thị Thu - Khoa tiểu họcTrường Đại học Sư phạm Huế, quý thầy cô giảng dạy lớp Đại học khoá 24 tạiQuảng Trị, các cô giáo và học sinh trường Khuyết tật Quảng Trị đã tạo điều kiệnthuận lợi để tôi hoàn thành tiểu luận nghiệp vụ sư phạm

Do thời gian và khả năng có hạn không sao tránh khỏi thiếu sót rất mongđược sự đóng góp của thầy cô và các bạn

Trần Kim Hoà

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Mục đích - Ý nghĩa của đề tài 3

2 Lịch sử vấn đề 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

3.1 Đối tượng 5

3.2 Phạm vi nghiên cứu 6

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 6

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Cấu trúc tiểu luận 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1.Các khái niệm 7

1.1.1.Tâm lí là gì 7

1.1.2.Tâm lí sẵn sàng đến trường tiểu học 7

1.2.Vì sao cần chuẩn bị sẵn sàng vào trường tiểu học cho trẻ mẫu giáo 7

1.3.Các yêu cầu về mặt tâm lí người học sịnh lớp một cần phải có 8

1.4 Đặc điểm tâm lí của trẻ mẫu giáo lớn 9

1.5 Đặc điểm tâm lí của trẻ khiếm thính 5-6 tuổi 10

1.5.1 Khái niệm về Khuyết tật thính giác ( hearing impairment ) 10

1.5.2 Trẻ khuyết tật thính giác - đắc trưng tâm sinh lý và cuộc sống xã hội 11

1.5.3 Những đặc điểm cảm giác, tri giác của trẻ khuyết tật thính giác 12

1.5.4 Một số đặc điểm của khuyết tật thính giác 13

1.5.5 Một số đặc điểm tưởng tượng ở trẻ khuyết tật thính giác 14

1.5.6 Một số đặc điểm tư duy ở trẻ khuyết tật thính giác 15

1.5.7 Ngôn ngữ của trẻ khuyết tật thính giác 16

CHƯƠNG 2: CHUẨN BỊ TÂM LÍ SẴN SÀNG ĐỂ TRẺ KHIẾM THÍNH VÀO TRƯỜNG TIỂU HỌC - TRƯỜNG TRẺ EM KHUYẾT TẬT QUẢNG TRỊ 2.1 Đặc điểm, tình hình của Trường Trẻ Em Khuyết Tật Quảng trị 18

2.1.1 Tầm quan trọng của việc chăm sóc- giáo dục trẻ khuyết tật 18

2.1.2 Thực trạng tổ chức hoạt động chăm sóc-giáo dục trẻ khuyết tật tỉnh Quảng Trị 18

2.2 Chuẩn bị tâm lí sẵn sàng cho trẻ khiếm thính vào học lớp một ở trường Trẻ Em Khuyết Tật Quảng Trị 22

2.2.1 Đánh giá chung 22

2.2.2 Các việc làm cụ thể 22

2.2.2.1 Tư vấn và can thiềp sớm cho trẻ khiếm thính ở trường Trẻ Em Khuyết Tật Quảng Trị 22

Trang 3

2.2.2.2 Lập kế hoạch giáo dục cá nhân 23

2.2.2.3 Định hướng giáo dục hòa nhập cho trẻ khiếm thính ở trường Trẻ Em Khuyết Tật Quảng Trị 23

2.2.2.4.Công tác tiền hoà nhập ở Trường Trẻ Em Khuyết Tật Quảng trị 24

2.2.2.5 Chuẩn bị cho trẻ thích ứng với cuộc sống ở trường tiểu học Trường Trẻ Em Khuyết Tật Quảng trị 24

2.2.2.6 Chuẩn bị cho trẻ thích ứng với hoạt động học tập 25

2.2.2.7.Giúp trẻ hiểu biết về môi trường gần gũi xung quanh 28

2.3 Kiến nghị 30

KẾT LUẬN 31

TÀI LIỆU THAM KHẢO 32

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Mục đích - Ý nghĩa của đề tài:

Từ việc nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc chuẩn bị tâm lí sẵnsàng vào trương tiểu học cho trẻ nói chung, cho trẻ khuyết tật thính giác nói riêngnhằm phát huy tổi đa tiềm năng của trẻ góp phần nâng cao hiệu quả tổ chức giáodục trong nhà trường tiểu hoc.Chúng tôi đề xuất một số biện pháp để trẻ khuyết tậtthính giác lứa tuổi mẫu giáo lớn có được tâm lí sẵn sàng vào học ở Trường Trẻ EmKhuyết Tật Quảng Trị

2 Lịch sử vấn đề:

Trẻ em là một bộ phận dân cư tồn tại khách quan trong xã hội loài người, kể

cả người khuyết tật Tồn tại trong xã hội văn minh ngày nay trong tất cả các quốcgia trên thế giới đều quan tâm đến vấn đề này Công ước của liên hợp quốc vềquyền trẻ em là một ví dụ tiêu biểu Đây là văn bản quốc tế về trẻ em khá toàn diện

và hoàn hảo, mang tính pháp lí cao Tính đến 1 – 7- 1998 đã có 191 quốc gia phêchuẩn hoặc tham gia công ước 96 Căn cứ vào trình độ phát triển, phong tục tậpquán, mỗi quốc gia có cách giải quyết riêng vấn đề về người khuyết tật để đảm bảo

Minh vĩ đại có một câu nói nổi tiếng: “ Tàn mà không phế”., đó cũng chính là thái

độ của Đảng, chính phủ và nhân dân Việt Nam đối với bộ phận người tàn tật

Việt Nam là một nước có số lượng người khuyết tật nói chung và trẻ em bị khuyếttật nói riêng khá lớn và đa dạng Theo số liệu điều tra sơ bộ có khoảng gần 5 triệungười khuyết tật, chiếm 5% dân số trong đó trẻ em dưới 15 tuổi bị khuyết tật chiếm

Kế thừa truyền thống nhân ái tốt đẹp của dân tộc Việt Nam “ thương ngườinhư thể thương thân”, đảng và nhà nước ta luôn quan tâm đến những người thiệtthòi trong xã hội nhất là đối với trẻ em Trong đó điều kiện đất nước còn gặp nhiềukhó khăn kinh tế chậm phát triển, chúng ta đã từng bước xây dựng, thực hiện chínhsách và biện pháp nhằm giúp đỡ người khuyết tật nói chung, nhất là giúp đỡ về vậtchất, tinh thần cho trẻ em bị khuyết tật Giúp trẻ vượt qua khó khăn do bị khuyếttật để hoà nhập vào cuộc sống cộng đồng xã hội Quốc hội nước cộng hoà xã hộichủ nghĩa Việt Nam đã ban hành pháp lệnh về người tàn tật và ký lệnh công bốngày 8-8-1998 Chính phủ đã ban hành nghị định số 55/1999/NĐ-CP ngày 10-7-

1999, quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số pháp lệnh về người tàn tật

 3

Việt Nam là nước thứ hai trên thế giới kí công ước về quyền trẻ em Luậtbảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em, luật phổ cập giáo dục tiểu học được ban hànhvào năm 1991và nhiều hoạt động khác vì trẻ em đã thể hiện mối quan tâm đặc biệt

Trang 5

của nhà nước và xã hội ta đến sự nghiệp chăm lo thế hệ trẻ, trong đó bao gồm cảtrẻ em khuyết tật  4

tuy nhiên, đối với Việt Nam giáo dục đặc biệt là một lĩnh vực vẫn còn mới mẻ cả

về lí luận và thực tiễn Về mặt nhận thức, nhiều người còn coi giáo dục trẻ khuyếttật là vấn đề nhân đạo đơn thuần hoặc đề cao khía cạnh nhân đạo và xem nhẹ khíacạnh khoa học Điều này không sai bởi giáo dụẩttẻ khuyết tật mang đậm tính nhânđạo khi nhìn ở góc độ xã hội Đã đến lúc phải đặt vấn đề nghiên cứu và xem xétgiáo dục đặc biệt trên góc độ khoa học Đề tài này sẽ nghiên cứu một trong nhữngvấn đề giáo dục đặc biệt ở góc độ khoa học giáo dục

Chuẩn bị tâm lí sẵn sàng cho trẻ khuyết tật vào các trường học đang là một

xu hướng phổ biến trên thế giới nói chung và đặc biệt đang triển khai ở một sốnước có hệ thống giáo dục đặc biệt phát triển Tuy nhiên đây chưa phải là một giảipháp tốt nhất và duy nhất để giải quyết vấn đề học tập cho trẻ khuyết tật Trên thếgiới đã có nhiều nghiên cứu và thử nghiệm có hiệu quả về giáo dục trẻ khuyết tậtsong vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề cần phải xem xét và lí giải Đây là vấn đề cònmới mẻ dối với giáo dục Việt Nam Chúng ta sẽ phát triển giáo dục trẻ khuyết tậttheo hướng nào? Trong báo cáo định hướng phát triển giáo dục cho trẻ khuyết tậttại hội nghị tổng kết 5 năm thực hiện nghị định 26/CP , Bộ GD- ĐT đã quyết địnhgiáo dục hoà nhập là hướng phát triển chính Nếu lấy giáo dục hoà nhập là biệnpháp cơ bản để giải quyết vấn đề giáo dục cho trẻ khuyết tật ở Việt Nam thì phảibiết tổ chức tốt tâm lí sănn sàng cho trẻ trước khi đến trường

Trong lịch sử phát triển của giáo dục trẻ khuyết tật trên thế giới, giáo dụccho nhóm trẻ khuyết tật thính giác luôn luôn tiên phong đi đầu trong các thửnghiệm giáo dục và cũng là lĩnh vực phát triển mạnh nhất so với các lĩnh vực giáodục cho các nhóm trẻ khuyết tật khác Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế này.Giáo dục trẻ khuyết tật nói chung và giáo dục hoà nhập cho trẻ khuyết tật thínhgiác nói riêng của Việt Nam có thể đi sau nhiều nước nhưng điều đó không thể cảntrở chúng ta có những bước phát triển nhảy vọt nếu chúng ta biết tổng kết và kếthừa những thành tựu đã có, rút kinh nghiệm qua những thất bại trong quá khứ vàhiện tại để tìm được con đường phát triển một cách tối ưu trong điều kiện của riêngmình Với quan niệm như vậy thì giáo dục hoà nhập cho trẻ khuyết tật trong cáctrường tiểu học có khả năng phát triển về lí luận cũng như về thực tiễn Nếu mụcđích của hoà nhập mang đậm màu sắc nhân đạo thì các biện pháp tổ chức để hoànhập có hiệu quả là vấn đề mang tính hệ thống khoa học cần được nghiên cứu kĩ.Trong phạm vi đề tài này chỉ giới hạn nghiên cứu các biện pháp tổ chức tâm lí chotrẻ khuyết tật thính giác ở độ tuổi mẫu giáo Vấn đề này vừa đáp ứng nhu cầu cấpthiết trong thực tiễn giáo dục cho trẻ khuyết tật hiện nay, vừa góp một phần nhỏ về

lí thuyết giáo dục hoà nhập ở Việt Nam, làm cơ sở để phát triển các biện pháp phùhợp trong các nhóm trẻ khuyết tật khác

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Trang 6

3.1 Đối tượng :

Một số biện pháp chuẩn bị tâm lí sẵn sàng cho trẻ khuyết tật thính giác dưới

6 tuổi vào học tại Trường Trẻ Em Khuyết Tật Quảng Trị

3.2 Phạm vi nghiên cứu:

Các vấn đề cơ bản của đề tài được khảo sát chủ yếu ở :

- Đề tài chỉ nghiên cứu những biện pháp tâm lí của trẻ khuyết tật thính giác độ tuổimầm non(5-6 tuổi) ngoài xã hội và tại trường trẻ em khuyết tật Quảng Trị

-Giáo viên, phụ huynh và học sinh Trường Trẻ Em Khuyết Tật Quảng Trị Nhằmphát triển ngôn ngữ cho trẻ chuẩn bị tốt cho trẻ vào học lớp 1 trường

4 Nhiệm vụ nghiên cứu :

4.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận của vấn đề chuẩn bị tâm lí sẵn sàng cho trẻkhuyết tật thính giác đến trường tiểu học

4.2 Tìm hiểu thực trạng của việc chuẩn bị tâm lí sẵn sàng cho trẻ khuyết tậtthính giác 5 -6 tuổi đến trường Trẻ Em Khuyết Tật Quảng Trị

4.3 Đề xuất một số biện pháp chuẩn bị tâm lí sẵn sàng cho trẻ khiếm thínhvào học ở Trường Trẻ Em Khuyết Tật Quảng Trị

5 Phương pháp nghiên cứu :

-Phương pháp nghiên cứu tài liệu: sưu tầm, phân tích và tổng hợp các tài liệu

để tìm hiểu cơ sở lý luận của các yếu tố có liên quan đến đề tài

-Phương pháp quan sát: Tổ chức điều tra, so sánh, theo dõi và ghi chép tiếntrình phát triển của trẻ khiếm thính về các hoạt động cũng như kết quả thực trạng

- Phương pháp phỏng vấn: Trao đổi, phát hiện và can thiệp sớm, hướng dẫnphụ huynh có trẻ khuyết tật thính giác độ tuổi mầm non đề ra các giải pháp thựchiện và rút ra những bài học kinh nghiệm

- Phương pháp thực nghiệm: Tìm hiểu và chọn lọc những nghiên cứu líthuyết và thực tiễnđã được thực hiện để đánh giá những gì đã được kiểm nghiệm

và khẳng định, những gì cần được chắt lọc và bổ sung cho quá trình phát triển củatrẻ

6 Cấu trúc tiểu luận:

Ngoài phần mở đầu và kết luận, tiểu luận gồm có 2 chương

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN

Chương 2: CHUẨN BỊ TÂM LÍ SẴN SÀNG ĐỂ TRẺ KHIẾM THÍNH VÀO TRƯỜNG TIỂU HỌC - TRƯỜNG TRẺ EM KHUYẾT TẬT QUẢNG TRỊ

Trang 7

CHƯƠNG 1:

CƠ SỞ LÍ LUẬN1.1.Các khái niệm:

1.1.1.Tâm lí là gì?

Trong cuộc sống hàng ngày , có rất nhiều người đã sử dụng thuật ngữ tâmlí.Theo từ điển tiếng Việt (1988) thì tâm lí là ý nghĩ , tình cảm , làm thành đờisống nội tâm của con người

Lí luận và thực tiễn cũng đã chứng tỏ rằng tâm lí người là sự phản ánh hiệnthực khách quan, là chức năng của não,là kinh nghiệm xã hội lịch sử biến thành cáiriêng của mỗi người.Tâm lí người có bản chất xã hội và mang tính lịch sử

Tâm lí người là sản phẩm của hoạt động và giao tiếp thông qua các mối quan hệ và

xã hội Tâm lí mỗi cá nhân là kết quả của quá trình lĩnh hội,tiếp thu vốn kinhnghiệm xã hội của người đó Giáo dục là yếu tố giữ vai trò chủ đạo hoạt động củacon người trong xã hội có tính quyết định

Tóm lại: Tâm lí người có nguồn gốc xã hội, vì thế muốn hiểu tâm lí ngườithì cần phải nghiên cứu môi trường xã hội, nền văn hoá xã hội, các quan hệ xã hộitrong đó con người sống và hoạt động Để phát triển tâm lí thì cần phải tổ chức cóhiệu quả hoạt đông dạy học và giáo dục, đặc biệt là các hoạt động chủ đạo ở từnggiai đoạn lứa tuổi

1.1.2.Tâm lí sẵn sàng đến trường tiểu học

Sẵn sàng là trạng thái chủ động trong hành động có hiệu quả cao do đã được chuẩn

bị đầy đủ từ trước Tâm lí sẵn sàng vào trường tiểu học nghĩa là tâm thế, trạng tháitâm lí tích cực, chủ động, tự tin tham gia vào hoạt động học tập ở trừơng tiểu học

1.2.Vì sao cần chuẩn bị sẵn sàng vào trường tiểu học cho trẻ mẫu giáo?

Đến 6 tuổi , bất cứ một em bé nào phát triển bình thường đều có thể đi họcđược Đối với trẻ em việc đến trường phổ thông được coi như một bước ngoặt quantrọng cả cuộc đời Có nhiều người ví việc trẻ vào lớp một cũng giống như cá chépvượt vũ môn Có nhiều em vượt qua được dễ dàng song cũng có nhiều em “trầy da,tróc vảy”, có em không vượt qua được Đó là việc trẻ được chuyển qua một lốisống mới với những hoạt động mới dươi một vị trí xã hội mới với những mối quan

hệ mới : một người học sinh thực thụ

Có thể so sánh sự phát triển của trẻ từ mẫu giáo chuyển sang lớp một nhưsau:

- Vui chơi tuỳ thích

- Hoạt động chủ đạo là vui chơi

- Hình thái tư duy trực quan hình tượng

- Học tập bắt buộc

- Hoạt động chủ đạo là hoạt động

- Hình thái tư duy trừu tượng

Trang 8

- Động cơ hoạt động vui chơi nằm

ngay trong quá trình

- Động cơ hoạt động học tập nằm ở kếtquả : chiếm lĩnh tri thức khoa học

Ở mỗi giai đoạn phát triển, con người có một dạng hoạt động chủ đạo Hoạtđộng này gây ra sự phát triển về chất và chi phối các dạng hoạt động khác Mỗidạng hoạt động chủ đạo đòi hỏi các yêu cầu về mặt sinh lí và tâm lí đi kèm Đốivới trẻ năm tuổi hoạt động vui chơi đang giữ vai trò chủ đạo Chơi là một hoạtđộng mang tính chất thoải mái, không bắt buộc Trong khi chơi trẻ hoàn toàn được

tự do, tuỳ theo tình huống mà có thể chơi trò chơi này hay trò chơi khác, thích thìchơi, không thích thì thôi, chứ không thể ép buộc được Khi đã vào lớp một tiểuhọc, trẻ phải làm nhiệm vụ một người học sinh Hoạt động chủ đạo bây giờ là họctập, mà hoạt động mang tính chất bắt buộc, có tổ chức chặt chẽ, có mục đích, có kếhoạch Sự khác nhau về hai dạng hoạt động này đòi hỏi trẻ phải có sự thích ứngvững chắc với dạng hoạt động mới, lúc đó bản thân trẻ mới có thể đạt được kết quảtốt đẹp

Đến trường tiểu học, trẻ còn phải hoà nhập những quan hệ xã hội mới vớinhững người xung quanh, với bạn bè, với những người khác, đặc biệt là thầy côgiáo Trước đây ở trường mẫu giáo “cô là mẹ và các cháu là con”, trẻ được sốngtrong không khí gia đình thì giờ đây trẻ được sống trong một khung cảnh trườnghọc với bao mối quan hệ mới, khác về thể chất: mối quan hệ của trẻ với cô giáo,thầy giáo đầy tính xã hội và trách nhiệm Ngay cả mối quan hệ với bạn bây giờcũng khác trước, không còn sự tham gia của cô giáo khi trẻ vui vẻ hay xung đột màthay vào đó là tự điều chỉnh hành vi của bản thân khi cùng học, cùng chơi với bạn

Có thể thấy, nếu không chuẩn bị cho trẻ thích ứng được thì không những việc họctập không đạt kết quả mà cuộc sống của trẻ cũng sẽ trở nên nặng nề Nhiều trườnghợp trẻ bị rơi vào tình trạng khủng hoảng, gây nhiều bất lợi cho những chặngđường phát triển tiếp theo Có cháu sợ đi học, có cháu đến trường chỉ là sự bắtbuộc hoặc chỉ là quấy phá nghịch ngợm Nhữn biểu hiện đó không những mang lạinỗi vất vả cho giáo viên tiểu học, các bậc cha mẹ mà còn ảnh hưởng đến tương laicủa trẻ

1.3.Các yêu cầu về mặt tâm lí người học sịnh lớp một cần phải có:

Mục tiêu giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về mặt đạo đức, trí tuệ ,thể chất, thẩm

mĩ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở.

- Những yêu cầu phát triển về mặt tâm lí trẻ 6 tuổi

+ Trẻ có ý thức về hành vi của mình và của người khác, đồng thời biết đánhgiá đúng sai hành vi của mình hoặc của người khác ở mức độ thấp

+ Về phẩm chất trí tuệ: được hội tụ bởi toàn bộ tri thức, vốn kinh nghiệmcủa trẻ, bộc lộ qua hành vi thông minh của trẻ đối với đồ vật và mọi người xungquanh Vì vậy cần phải làm giàu vốn kinh nghiệm của trẻ và phát triển các phẩm

Trang 9

chất trí tuệ của trẻ Giáo viên tạo ra những tình huống kích thích sự phát triển củatrẻ bằng cách giao việc thử tài rồi hướng dẫn trẻ giải quyết.

+ Về mặt chú ý có chủ định: trẻ có khả năng chú ý có chủ định cao từ 50’, trẻ có khả năng phân phối chú ý 2-3 đối tượng cùng một lúc , tuy nhiên thờigian phân phối chú ý chưa bền vững Trẻ di chuyển chú ý khá nhanh từ đối tượngnày sang đối tượng khác Nhưng sự phân tán chú ý của trẻ còn mạnh Vì vậy giáoviên cần phải luyện tập sự chú ý cho trẻ qua các trò chơi

37-+ Về mặt ngôn ngữ: Trẻ sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ, trẻ đã nắm vữngngữ âm, ngữ điệu khi sử dụng tiếng mẹ đẻ, vốn từ của trẻ và cơ cấu ngữ pháp pháttriển Ngôn ngữ cuả trẻ có tính mạch lạc rõ ràng là trẻ trình bày một câu đủ chủ vị.Tính cá nhân đã bộc lộ qua sắc thái ngôn ngữ của trẻ, đồng thời tính địa phương,nền văn hoá địa phương của công đồng thể hiện rất rõ trong ngôn ngữ của trẻ

- Thiết lập mối quan hệ giao tiếp của trẻ 6 tuổi:

Trẻ thích có bạn cùng chơi, đây là nhu cầu giao tiếp đặc trưng ở lứa tuổi này.Trong mối quan hệ với người lớn, trẻ chờ đợi người lớn giao nhiệm vụ và hứng thúvới việc thực hiện công việc được giao, thích người lớn cho đi chơi Trẻ nhận biếtlỗi và sửa lỗi Trẻ biết yêu thương kính trọng ông bà, cha mẹ, cô giáo ( biết vânglời người lớn và làm theo lời dạy) và giúp bạn bè, em nhỏ hơn mình Trẻ biết nhậnxét sự khác biệt trong hành vi ứng xử của mọi người xung quanh Vì vậy cha mẹ

và cô giáo cần giải thích rõ ý nghĩa của những hành vi đúng sai để trẻ nhận thứcđựơc và có hành vi đúng; trẻ đã có nhu cầu quan tâm đến các quan hệ giữa cácthành viên trong gia đình và với mọi người xung quanh

- Có vốn tri thức nhất định về môi trường xung quanh

+ Trẻ làm quen vơi môi trường xã hội

Làm quen với những người gần gũi và cuộc sống xã hội, dạy trẻ biết gia đình mình

có những ai, trong lớp học có bạn trai, bạn gái, và bạn trai, bạn gái đều quý mếnnhau

Trẻ biết một số nghề nghiệp phổ thông; cho trẻ làm quen với một di tích lịch

sử, công trình xây dựng ở địa phương

Trẻ biết đồ vật do người lớn làm ra, cấu tạo của đồ vật phù hợp với ý nghĩa

sử dụng của con người

Cho trẻ làm quen với một số đồ dùng học tập của học sinh lớp 1

+ Cho trẻ làm quen với môi trương thiên nhiên:

Làm quen với thế giới thực vật: trẻ biết quá trình phát triển cây, hoa, quả vàlợi ích của cây xanh

Làm quen với thế giới động vật: trẻ so sánh, nhận xét sự giống và khácnhau (về cấu tạo, sinh sản, hình dáng, thức ăn, nơi sống)

Làm quen với một số hiên tượng thiên nhiên: trẻ biết đặc điểm của thời tiếtbốn mùa, thứ tự các mùa trong năm, mối liên hệ giữa thời tiết của mỗi mùa vớisinh hoạt của con người và sự phát triển của cây con, hoa quả

Trang 10

Dạy trẻ phân biệt được bầu trời ban ngày hay ban đêm.

1.4 Đặc điểm tâm lí của trẻ mẫu giáo lớn:

Độ tuổi mẫu giáo lớn là giai đoạn cuối cùng của trẻ em ở lứa tuổi”mầm non”

là lứa tuổi trước khi đến trường tiểu học, ở giai đoạn này, những cấu tạo tâm lí đặctrưng của con người đã được hình thành trước đây, đặc biệt là trong độ tuổi mẫugiáo nhỡ vẫn tiếp tục phát triển mạnh Với sự giáo dục của người lớn, những chứcnăng tâm lí đó sẽ được hoàn thiện một cách tốt đẹp về mọi phương diện của hoạtđộng tâm lí (nhận thức, tình cảm và ý chí) để hoàn thành việc xây dựng nhữngnhân cách ban đầu của con người

Ở tuổi mẫu giáo lớn, sự ý thức còn được thể hiện rõ trong sự phát triển giớitính của trẻ Ở lứa tuổi này trẻ không những nhận ra mình là trai hay gái mà cònbiết rõ ràng nếu mình là trai hay gái thì hành vi phải thể hiện như thế nào cho phùhợp với giới tính của mình Ở đây tấm gương của người lớn tác động rất mạnh đếntrẻ Những trẻ trai thường bắt chước những cử chỉ hành vi của đàn ông, còn trẻ gáithì bắt chước dáng điệu của đàn bà Hiện tượng phản ánh trong trò chơi rất rõ:contrai thường thích đóng vai công an, bộ đội, công nhân xây dựng, còn con gái thìthích đóng vai cô giáo, bán hàng

Lứa tuổi mẫu giáo là thời kì bộc lộ nhạy cảm cao nhất đối với các hiện tượngngôn ngữ Điều đó khiến cho sự phát triển ngôn ngữ của trẻ đạt tốc độ khá nhanh

Từ những quá trình tâm lí không chủ định chuyển sang những quá trình tâm

lí có chủ định, chú ý có chủ định, ghi nhớ có chủ định Do sự xác định ý thức củabản thân được rõ ràng chuyển dần sang quá trình tâm lí mang tính chủ định cao,làm cho các hành động ý chí của trẻ ngày càng được bộc lộ rõ nét trong hoạt độngvui chơi và trong cuộc sống

Xuất hiện kiểu tư duy trực quan hình tượng mới là những yếu tố của tư duylôgic ở tuổi mẫu giáo lớn tư duy trực quan hình tượng phát triển mạnh đã giúp trẻgiải quyết một số bài toán thực tiễn

1.5 Đặc điểm tâm lí của trẻ khiếm thính 5-6 tuổi:

1.5.1 Khái niệm về Khuyết tật thính giác ( hearing impairment ):

Vào những năm 70, 80 các nhà chuyên môn thích dùng thuật ngữ “ khiếmthính” Vào những năm 90 những người điếc tự bác bỏ thuật ngữ “khiếm thính” và

họ thích dùng thuật ngữ “điếc” hơn

Khái niệm này chỉ sự mất hoặc giảm sút thính lực ở những mức độ khácnhau từ nhẹ tới nặng Có bốn mức độ mất thính lực, được chia ra như sau:

Trang 11

Theo khái niệm về khuyết tật thính giác như trên thì chúng ta có thể thấyrằng nhân tố chủ yếu quyết định các đặc điểm và đặc thù của khuyết tật thính giác

là sự mất thính giác Vì vậy chúng ta cần phải xem xét thính giác, cảm giác nghe

có ý nghĩa như thế nào đối với cuốc sống con người, cũng như sự mất sức nghe cóảnh hưởng như thế nào đến sự phát triển tâm lý

1.5.2 Trẻ khuyết tật thính giác - đắc trưng tâm sinh lý và cuộc sống xã hội:

Tật học ngày nay đã được tồn tại và phát triển thành một ngành khoa học Theoquan điểm tật học hiện đại, trẻ khuyết tật thính giác không phải ít phát triển hơn sovới trẻ em bình thường cùng tuổi mà phát triển theo cách khác Từ cách hiểu này,chúng ta có thể thấy rằng không thể lấy tâm lý của trẻ em khiếm thính bằng tâm lýcủa trẻ bình thường trừ đi phần khiếm khuyết của thính giác và ngôn ngữ Điều đómuốn nói ràng sự phát triển của trẻ em khuyết tật là không đơn giản qui về sốlượng Theo nghĩa đó trẻ có những đặc trưng về cấu tạo tâm lý và cơ thể bằng kiểuphát triển khác nhau Đương nhiên là có sự tương ứng giữa tính đa dạng với mức

độ phát triển khác nhau Giống như bước chuyển đổi từ tiếng bập bẹ sang lời nói

có sự biến đổi về chất từ dạng này sang dạng khác Cũng như ngôn ngữ của trẻkhiếm thính là những chức năng không giống với ngôn ngữ của trẻ bình thường vềchất lượng

Bác sỹ tâm thần người Áo,A Adler đã nhấn mạnh cảm giác về khuyết tậtcũng như cơ thể là kích thích thường xuyên đối với các nhân, làm cho cá nhân pháttriển tâm lý Nếu như ở một cơ thể nào đó do không hoàn hảo về hình thái học vàchức năng nên không thể hoàn thành các nhiệm vụ của mình một cách đầy đủ, thì

hệ thần kinh cấp cao và cơ cấu tâm lý của nó sẽ đặt ra nhiệm vụ bù đắp nhữngchức năng gặp khó khăn của cơ thể Chúng tạo ra sự đổi mới về tâm lý ở nhữngchức năng hay cơ quan kém và bị đe dọa này Trong khi tiếp xúc với môi trườngbên ngoài, mâu thuẫn xuất hiện do sự không phù hợp giữa những bộ phận bịkhuyêt tật với nhiệm vụ được đặt ra cho nó Điều đó dẫn tới việc khả năng bị bệnh

và có thể chết Mâu thuẫn này làm tăng khả năng và kích thích quá trình bù trừ Do

đó điểm khuyết tật trở thành điểm xuất phát và động lực chính cho sự phát triểntâm lý

Điều quan trọng nhất là bên cạnh khuyết tật về cơ thể còn xuất hiện sứcmạnh, xu hướng và mong muốn vượt qua được nó Đây chính là xu hướng tăngcường sự phát triển mà tật học trước đây không thừa nhận Hơn thế nữa những xuhướng này đã tạo ra sự đa dạng trong quá trình phát triển của trẻ khuyết tật Chúngtạo ra những hình thức phát triển sáng tạo, phong phú đôi khi gây ra sự ngạc nhiên

A Adler có cách nhìn lạc quan: Đứa trẻ muốn nghe tất cả, nếu như tai nó bị khiếmkhuyết, muốn nói nếu như nó gặp khó khăn trong việc thể hiện ngôn ngữ hay bị nóilắp

Học thuyết bù trừ trong sự phát triển tâm lý đã hé mở khả năng giáo dục trẻkhuyết tật và khuynh hướng nghiên cứu mới của tật học bù trừ có thể dẫn đến hai

Trang 12

kết quả đối lập: chiến thắng và thất bại kết quả phụ thuộc vào rất nhiều nguyênnhân: mưc độ bị khuyết tật, môi trường giáo dục, sự nổ lực, cố gắng và ý chí củabản thân trẻ khuyết tật v.v Đặc trưng tích cực ở trẻ khuyết tật trước hết khôngphải là sự giảm bớt chức năng này hay chức năng khác so với trẻ bình thường, màchính sự giảm bớt chức năng đã tạo ra trong cuộc sống những cấu tạo mới, lànhững phản ứng của nhân cách đối với khuyết tật, là sự bù trừ trong quá trình pháttriển nếu khiếm thính trong sự phát triển đạt được mức độ nào đó như trẻ bìnhthường thì nó đã đạt được điều này bằng cách khác, bằng những phương tiện khác.Đối với nhà giáo dục cần phải nắm được con đường phát triển riêng của trẻ khuyếttật chìa khóa mở ra tính đắc thù của sự phát triển ở đây chính là sự biến đổi từmiền âm của khuyết tật sang miền dương của tính bù trừ như là một quy luật.

Ở đây cần lưu ý, tính đặc thù trong sự phát triển tâm lý, xã hội ở trẻ khuyếttật có giới hạn Vì mặt thăng bằng trong chức năng thích nghi mới được hình thànhnhằm đảm bảo sự cân bằng mới Sự bù trừ có thể tạo ra cho quá trình phát triển củatrẻ khuyết tật một sự cân bằng lại các chức năng tâm lý

Hành vi của trẻ khuyết tật thường xảy ra sau, không thể hiện ra ngay lập tức.Trẻ không trực tiếp cảm nhận được khuyết tật của mình Nó gặp phải khó khăn dokhuyết tật đưa lại Hậu quả trực tiếp từ khuyết tật là việc giảm vị trí xã hội của đứatrẻ Tất cả những liên hệ với con người, tất cả những thời điểm xác định chỗ đứngtrong xã hội, vai trò và xứ mệnh khi tham gia vào cuộc sống đều được sắp xếp lại.Nguyên nhân sinh học bẩm sinh tự thân không tác động trực tiếp mà gián tiếp,thông qua việc giảm bớt vị trí xã hội của đứa trẻ Vì thế ở Đức đã có những đề nghịnên đổi tên trường “đặc biệt” Vì tên trường này đã có những ảnh hưởng đến tâm lýphụ huynh và các em bị khuyết tật Học ở những trường này vô tình hay hữu ý đãđặt trẻ khuyết tật vào vị trí xã hội khó khăn Vị thế xã hội có ảnh hưởng đên sựphát triển tâm lý của trẻ em bình thường và cả những trẻ khuyết tật

Khuyết tật thính giác tạo ra sự phát triển không bình thường về mặt sinh học,

sự giám sát các chức năng riêng biệt, sự không đầy đủ hay thiếu hụt các bộ phận ítnhiều biến đốị phát triển trên nền tảng cơ sở mới, đương nhiên là theo dạng mới.Điếc như một khuyết tật cơ thể không phải là sự thiếu hụt gì quá nặng nề Nhưngkhuyết tật cả câm và điếc dẫn đến không có khả năng nói lại là điều nặng nề trong

sự phát triển văn hóa của đứa trẻ Tùy theo mức độ nặng hay nhẹ của khuyết tật mà

sự phát triển văn hóa của đứa trẻ cũng đạt tới các trình độ khác nhau tật học cũng

có những cách để giúp đỡ sự phát triển văn hóa của đứa trẻ khuyết tật

Do đó đẻ trẻ khuyết tật đạt được những gì như trẻ bình thường, rõ ràng cầnphải sử dụng những phương tiện đặc biệt Trẻ em khuyết tật được sống trong môitrường giàu lòng nhân ái lại được nuôi dạy khoa học thì sẽ có cuộc sông tâm lí bìnhthường

1.5.3 Những đặc điểm cảm giác, tri giác của trẻ khuyết tật thính giác:

Trang 13

Như ta đã biết, cảm giác, tri giác đều là nền tảng cảm xúc của nhận thứcchúng ta Chúng là những nguồn gốc cơ bản của những kiến thức mà chúng ta nhậnthức được ở thế giưói xung quanh Trong những cảm giác khác nhau thì cảm giácnghe và cảm giác nhìn có ý nghĩa chủ yếu chúng ta sống trong thế giới của âmthanh, của hình dạng và màu sắc Những nguồn thông tin như phát thanh truyềnhình, phim ảnh, sân khấu, âm nhạc, về nhiều mặt dựa trên cảm giác nghe Tấtnhiên cảm giác nhìn cũng đóng một vai trò quan trọng Nhưng mất sức nghe sẽ làmcho đứa trẻ mất khả năng tri giác bình thường những nguồn thông tin này Trongviệc tiếp nhận ngôn ngữ, cảm giác và tri giác có một vai trò đặc biệt quan trọng.Trên cơ sở này diễn ra sự phát triển các hình thái chủ động và bị động của lời nói.Nghe được tiếng nói của người xung quanh đứa trẻ bắt đầu bắt chước và bập bẹnhững từ đầu tiên Nhờ lời nói, đứa trẻ nhận được những thông tin cơ bản, lĩnh hộinhững kiến thức và kinh ngiệm mà người lớn truyền cho nó Sự phá hủy tri giác vềtiếng nói của người xung quanhtự nhiên sẽ kéo theo sự phá hủy quá trình hìnhthành ngôn ngữ tích cực Trẻ KTTG không thể tự mình lĩnh hội được ngôn ngữ.Trong thực tế, trẻ KTTG sẽ bị câm nếu nó không được phát hiện sớm những khókhăn về thính giác và được hỗ trợ bằng những phương pháp chuyên biệt trong việctiếp nhận ngôn ngữ.

Ngày nay trong giáo dục trẻ khiếm thính đang áp dụng rộng rãi những phươngtiện kỹ thuật khác nhau giúp phát triển và kích thích cảm giác thính giác còn lại.Những phương tiện này có thể chia thành những phương tiện nhìn, phương tiện âmthanh và những phương tiện sử dụng tính nhạy cảm xúc giác rung Ví dụ Máy trợthính những thiết bị khuyếch đại âm thanh, những máy rung biến đổi thành nhữngtín hiệu quang học, những máy rung biến đổi dao động âm thanh thành những daođộng điện do những bộ phận tích xúc giác- rung thu nhận

Ở trẻ khuyết tật thính giác, do thiếu cảm giác nghe hoặc cảm giác nghe bị pháhủy, nên cảm giác thị giác và cảm giác vận động có một vai trò đặc biệt quantrọng thị giác của trẻ khiếm thính trở thành chủ đạo và chủ yếu trong việc nhậnthức thế giới xung quanh và trong viếc tiếp nhận ngôn ngữ trẻ bình thường học nóichủ yếu dựa trên cảm giác nghe và vận động, còn tri giác thị giác đóng vai trò thứyếu điều này hoàn toàn ngược lại với trẻ khiếm thính Cùng với cảm giác vậnđộng, cảm giác tri giác thị giác trở thành nền tảng để hình thành tiếng nói Thậmchí trẻ khiếm thính có thể tiếp nhận ngôn ngữ chỉ dựa trên tri giác thị giác Rấtnhiều những nghiên cứu đã chứng minh rằng cảm giác và tri giác ở trẻ khiếm thínhkhông kém so với trẻ nghe được, thậm chí còn tích cức và tinh nhạy hơn Bởi vậy,trẻ khiếm thính thường để ý những chi tiết nhỏ của thế giới xung quanh mà trẻ bìnhthường không để ý đến Ví dụ:

- Phân biệt màu sắc: việc phân biệt những màu sắc gần giống nhau nhưxanh, tím, đỏ, da cam thì trẻ khiếm thính phân biệt tinh tế hơn so với trẻ bìnhthường

Trang 14

- Phân biệt người tiếp xúc: Trẻ khiếm thính có thể nhận thấy từng chi tiết vềkhuôn mặt, thân hình, cách ăn mặc, màu sắc và chất liệu của quần áo nhanh hơn sovới trẻ bình thường.

So sánh những bức tranh vẽ của trẻ khiếm thính với trẻ bình thường chúng tacũng thấy những bức tranh vẽ của trẻ khiếm thính có nội dung phong phú tỉ mĩ hơn

và đặc biệt là khi vẽ người, trẻ khiếm thính thường thể hiện đầy đủ hơn nhữngphần quan trọng của cơ thể người và rất chú ý đến sự cân xứng trong việc mô tảchúng so với trẻ bình thường nhưung chúng lại thường gặp khó khăn đối với nhữngbức tranh biểu thị mối quan hệ không gian

Ở trẻ khiếm thính, tri giác phân tích thường trội hơn tri giác tổng hợp mặc dùtất cả những khó khăn tâm lý và sự phức tạp của quá trình tri giác thị giác đối vớingôn ngữ nói, trẻ khiếm thính thường làm chúng ta ngạc nhiên bằng khả năng dùngthị giác tiếp nhận và phân biệt tinh tế những gì mà chúng ta thường nói với chúng.Ngoài ra cảm giác xúc giác và cảm giác vận động đóng vai trò quan trọng trongquá trình nhận thức của trẻ khiếm thính Cảm giác vận động báo hiệu cho chúng ta

về sự vận động của các bộ phận của cơ thể, mức độ căng của cơ cũng như sự vậnđộng của cơ quan ngôn ngữ Ở người bình thường có tồn tại mối liên hệ chặt chẽgiữa cơ quan thính giác và vận động Ở trẻ khiếm thính, sự mất thính lực không chỉảnh hưởng xấu đến sự vận động của bộ máy hô hấp vầ sự phối hợp các động táccủa cơ thể Vì vậy, trẻ khiếm thính thườngc vụng về không khéo léo, rất khó khănvới những kĩ năng lao động và thể thao đòi hỏi sự phối hợp tinh tế và sự thăngbằng của các động tác Điều này được giải thích là do bộ máy tiền đình cũng nhưnhững điểm cuối dây thần kinh của cơ quan vận động bị tổn thương

Cảm giác xúc giác – rung của trẻ khiếm thính là đặc thù và độc đáo nhất.Đây là phương tiện quan trọng trong tiếp nhận ngôn ngữ cho trẻ khiếm thính vậychúng ta đã biết gì về dạng cảm giác này ? Đầu thế kỉ XIX, E P Nauman đãnghiên cứu và chỉ ra những tính chất cơ bản của loại cảm giác này như sau :

- Những cảm giác xúc giác - rung về bản chất là những cảm giác sơ đẳng làmột bộ phận cấu thành của những dạng cảm giác khác

- Sức nghe bình thường hạn chế và kìm hãm sự phát triển và sự nhạy béncủa những cảm giác và xúc giác rung

- Về mặt tính chất, những cảm giác này gắn với những cảm giác vận động vànhững cảm giác về vị trí trong không gian

- Giữa cảm giác nghe và cảm giác xúc giác - rung tồn tại một mối liên hệchức năng  5

1.5.4 Một số đặc điểm của khuyết tật thính giác:

Ta biết rằng vào cuối năm đầu tiên của cuộc đời, trẻ đã bắt đầu ghi nhớ được

từ Tuy nhiên sự ghi nhớ này mang tính tự phát và không có chủ định Ở trẻ khuyếttật thính giác việc ghi nhận từ ngữ bắt đầu muộn hơn nhiều vì mất hẳn một khoảngthời gian dài ban đầu rất quan trọng tiếp nhận từ ngữ Thời gian phát hiện tật điếc

Trang 15

càng muộn thì việc thu nhận ngôn ngữ của trẻ càng bị trì hoãn Tất nhiên những từbiểu thị đồ vật và hiện tượng thu nhận bằng những cơ quan cảm thụ khác nhau,không được ghi nhớ với mức độ nhanh chóng và bền vững như nhau Một côngtrình nghiên cứu quá trình ghi nhớ ba dạng từ sau của học sinh điếc và học sinhnghe được:

- Những từ biểu thị đồvật và hiện tượng thu nhận bằng mắt

- Những từ biểu thị chất lượng của những đồ vật thu nhận nhờ cơ quan xúc giác.

Trong quá trình ghi nhớ tư liệu, trẻ khuyết tật thính giác ít sử dụng thủ thuật sosánh Nhưng bù lại, trẻ ghi nhớ tư liệu trực tiếp bằng thị giác tốt hơn trẻ nghe được

vì chúng có kinh nghiệm thị lực phong phú hơn

Với loại tư liệu khó biểu thị bằng lời, trẻ khuyết tật thính giác ghi nhớ kémhơn, nhưng khi chúng có thể sử dụng chữ viết để biểu thị thì mức độ ghi nhớ củachúng không thua kém gì so với trẻ nghe được Hơn nữa trẻ khuyết tật thính giáckhông chỉ sử dụng cách biểu thị bằng lời mà còn bằng cử chỉ điệu bộ Điều này

1.5.5 Một số đặc điểm tưởng tượng ở trẻ khuyết tật thính giác:

Như chúng ta đã biết, ngôn ngữ là nhân tố quan trọng nhất hình thành cáckhái niệm, là phương tiện phát triểntư duy trừu tượng điều tự nhiện là trong nhữngtrường hợp không có ngôn ngữ hay là ngôn ngữ phát triển muộn màng hay cónhững sai lệch sẽ làm hạn chếkhông chỉ quá trình hình thành tư duy mà có cả quátrình hình thành trí tưởng tượng nữa L.X Vưgốtxki, qua những công trình nghiêncứu tâm lý của mình đã chỉ ra rằng: người bị mất ngôn ngữ rất khó nhắc lại mộtcâu trong đó khẳng định điều gì đó trái với điều họ thấy, điều đó có trong lĩnh vựctri giác trực tiếp của họ

Cùng với sự mất hoặc khiếm khuyết về ngôn ngữ như là phương tiện hìnhthành khái niệm, ở những người này, mất luôn cả sự tưởng tượng biểu thị ở chỗ

Trang 16

con người không thể lãng quên tình huống cụ thể, thay đổi nó, cải biến nhữngthành tố riêng biệt của nó thoát khỏi ảnh hưởng của cái trực tiếp đã có Cùng vớiđiều đó là sự khó khăn hiểu được những ẩn dụ, những từ ở nghĩa bóng.

Những đặc điểm tưởng tượng ở trẻ khuyết tật thính giác có sự thiếu hụt là do

sự hình thành ngôn ngữ chậm và tư duy trừu tượng hạn chế gây nên Mặc dù hìnhtượng thị giác của trẻ khiếm thính đạt nức độ cao và sống động, nhưng sự hìnhthành tư duy bằng khái niệm quá chậm, làm chúng rất khó thoát khỏi cái ý nghĩa cụthể, nghĩa đen của từ, điều đó làm khó khăn cho sự hình thành hình tượng mới Tưởng tượng tái tạo có một ý nghĩa đặc biệt trong hoạt dộng nhận thức củatrẻ khiếm thính Nhờ tưởng tượng tái tạo thế giới xung quanh được phản ánh trong

ý thức của trẻ rộng hơn, phong phú hơn Tầm hiểu biết của trẻ được mở rộng quagiới hạn kinh nghiệm cá nhân, đưa chúng tiếp xúc với kho tàng kinh nghiệm củaloài người  7

1.5.6 Một số đặc điểm tư duy ở trẻ khuyết tật thính giác:

Tư duy trực quan hành động chiếm ưu thế trong hoạt động nhận thức và hoạtđộng thực tế của trẻ khiếm thính cần thấy rằng sự tham gia của ngôn ngữ vào dạng

tư duy này là rất nhỏ Tuy nhiên sẽ không đúng nếu cho rằng cùng với tuổi tư duytrực quan hành động mất dần và được thay thế hoàn toàn bằng tư duy trừu tượng

Tư duy trực quan hành động tiếp tục có ý nghĩa để giải quyết nhiều nhiệm vụ tronghọc tập, trong lao động, trong cuộc sống theo suốt cuộc đời sau này Tư duy trựcquan hành động của trẻ khiếm thính có liên hệ trực tiếp với hoạt động, với tri giáccủa nó và thể hiện trong quá trình thao tác thực hành với vật thể khi đứa trẻ chiacắt, lắp đặt các bộ phận của vật thể được tri giác

Tư duy trực quan hình tượng được đặc trưng ở chỗ nó phụ thuộc vào tri giác.Kiểu tư duy này dựa trên tư liệu trực quan, cảm tính cụ thể và chính những hìnhảnh đã nảy sinh phản ánh những nét cụ thể, đơn nhất và cá biệt của sự vật Ở trẻkhuyết tật thính giác, trước thời gian tiếp nhận ngôn ngữ và cả trong quá trình thunhận ngôn ngữ còn có một thời gian dài dừng lại ở mức độ tư duy trực quan hìnhtượng nghĩa là chúng suy nghĩ không bằng lời mà bằng những hình tượng hìnhảnh sự diễn đạt bằng hình tượng được trẻ khuyết tật thính giác tri giác với nộidung sự vật theo nghĩa đen của nó Cách diễn đạt đó đã khơi dậy ở trẻ những biểutượng cụ thể, những hình ảnh đơn nhất gây khó khăn cho việc đi sâu vào ý nghĩakhái niệm của nó và việc nhận thức ý nghĩa khái quát của nó bởi vậy ta khôngngạc nhiên khi hỏi trẻ khiếm thính “ Bàn tay vàng là gì?” chúng trả lời “Làm bằngvàng” , “Tay màu vàng” trẻ khiếm thính chỉ thấy trong hình tượng đã nảy sinh củavật thể chỉ phản ánh có một dấu hiệu của nó Trẻ khuyết tật thính giác khó hiểuđược những ý nghĩa tiềm ẩn của ẩn dụ trong những câu thành ngữ

Tư duy trừu tượng đặc trưng ở chỗ nó diễn ra trong những khái niệm Khácvới hình tượng, khái niệm phản ánh những nét chung nhất, bản chất nhất của các

sự vật các hiện tượng của hiện thực Sự khiếm khuyết về ngôn ngữ, và ngay cả việc

Ngày đăng: 27/04/2015, 22:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ y tế (1997), Báo cáo tổng kết đánh giá 10 năm thực hiện chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng   2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết đánh giá 10 năm thực hiện chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng
Tác giả: Bộ y tế
Năm: 1997
2. Luật bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em (1998), NXB chính trị quốc gia Hà Nội   4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em
Nhà XB: NXB chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 1998
4. Pháp lệng về người tàn tật và các văn bản hướng dẫn thi hành (1991), NXB chính trị quốc gia Hà Nội   3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp lệng về người tàn tật và các văn bản hướng dẫn thi hành
Nhà XB: NXB chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 1991
5. V.A.Sinhiak; M.M.Nudenman (1999), Những đặc điểm của sự phát triển tâm lỉtẻ điếc ( sách dịch từ tiếng nga), NXB chính trị quốc gia Hà Nội   5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đặc điểm của sự phát triển tâm lỉtẻ điếc
Tác giả: V.A.Sinhiak, M.M.Nudenman
Nhà XB: NXB chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
7. V.A.Sinhiak; M.M.Nudenman (1999), Những đặc điểm của sự phát triển tâm lỉtẻ điếc ( sách dịch từ tiếng nga), NXB chính trị quốc gia Hà Nội   7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đặc điểm của sự phát triển tâm lỉtẻ điếc
Tác giả: V.A.Sinhiak, M.M.Nudenman
Nhà XB: NXB chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
8. V.A.Sinhiak; M.M.Nudenman (1999), Những đặc điểm của sự phát triển tâm lỉtẻ điếc ( sách dịch từ tiếng nga), NXB chính trị quốc gia Hà Nội   8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đặc điểm của sự phát triển tâm lỉtẻ điếc
Tác giả: V.A.Sinhiak, M.M.Nudenman
Nhà XB: NXB chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
3. Những quy tắc phổ biến về cơ hội bình đẵng cho người tàn tật của liên hiệp quốc (1998), NXB chính trị quốc gia Hà Nội   1 Khác
6. V.A.Sinhiak; M.M.Nudenman (1999), Những đặc điểm của sự phát triển tâm lỉtẻ điếc ( sách dịch từ tiếng nga), NXB chính trị quốc gia Hà Nội   6 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w