bằng cách lấy phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩamác-lênin vận dụng trong kinh tế tài chính làm phương pháp luận nghiên cứuđồng thời, luận văn cũng sử dụng cá
Trang 1MỞ ĐẦU
Nền kinh tế nước ta hiện nay vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa có sự điều tiết vĩ mô của nhà nước Để thực hiện chức năng điềutiết vĩ mô nền kinh tế, nhà nước đã sử dụng nhiều công cụ khác nhau như: luậtpháp, nsnn, hành chính nhà nước…Trong đó ngân sách Nhà nước (NSNN), mộtcông cụ tài chính đang ngày càng được coi trọng và hoàn thiện Nó đóng vai trò
là công cụ điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế xã hội, định hướng phát triển sản xuất,điều tiết thị trường, bình ổn giá cả, điều chỉnh đời sống xã hội
Để thực hiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và mở rộng hội nhập kinh
tế, quốc tế đòi hỏi sự đổi mới phương thức quản lý kinh tế, xã hội và cải cáchhành chính Phân cấp ngân sách nhà nước là một trong những vấn đề cần đượcquan tâm trong cải cách hành chính nhà nước Trong đó phân cấp nguồn thunhiệm vụ chi ngân sách nhà nước là một nội dung quan trọng, xuyên suốt quátrình quản lý ngân sách nhà nước, quyết định đến vấn đề thực hiện mục tiêu vàhiệu quả tạo lập và sử dụng ngân sách nhà nước Xu hướng tăng cường phân cấpđược thể hiện rõ trong quá trình cải cách tài chính công trong những năm gần đâyđánh dấu bằng sự ra đời của Luật ngân sách nhà nước được Quốc hội nước Cộnghoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 20 tháng
03 năm 1996, tiếp theo đó là Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ngânsách nhà nước (năm 1998) và Luật ngân sách nhà nước năm 2002
Cơ chế phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi NSNN của TP Hà Nội được xâydựng dựa trên cơ sở quy định của Luật ngân sách nhà nước về phân cấp và tìnhhình thực tế của địa phương.Tuy nhiên việc thực thi phân cấp ngân sách nhànước trên thực tế còn nhiều vướng mắc và còn không ít hạn chế, những vấn đềcần điều chỉnh và hoàn thiện dần từng bước trong công tác phân cấp nguồn thu,
Trang 2nhiệm vụ chi NSNN Xuất phát từ đòi hỏi đó sau quá trình học tập nghiên cứu tạihọc viện tài chính, trong thời gian thực tập tại sở Tài chính Hà Nội, em càng nhậnthấy và mong muốn tìm hiểu rõ hơn nữa về vấn đề mang tính thời sự này Do đó,
em mạnh dạn chọn đề tài “phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi NSNN trên địa bàn TP Hà Nội - thực trạng và giải pháp” để nghiên cứu và làm luận văn tốt
nghiệp
1.Mục đích nghiên cứu
Nhằm hệ thống hoá những lý luận cơ bản cần thiết về phân cấp nguồn thu,nhiệm vụ chi ngân sách nhà nước làm cơ sở cho việc đánh giá thực trạng vàthông qua thực tiễn để làm sáng tỏ những cái được và chưa được trong cơ chếphân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi ngân sách nhà nước của thành phố Hà Nội
Từ đó tìm hiểu nguyên nhân và đề xuất các quan điểm giải pháp về phân cấpđáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội trong thời kỳ đổi mới, phát huy tối đahiệu quả của NSNN trong việc điều chỉnh nền kinh tế của thành phố Hà Nội theonhững mục tiêu đã đặt ra
2 Đối tượng nghiên cứu: Luận văn chỉ đi sâu nghiên cứu vấn đề phân cấp
nguồn thu và nhiệm vụ chi giữa các cấp chính quyền địa phương TP Hà Nội, vìđây luôn là vấn đề phức tạp nhất, khó khăn nhất, gây nhiều sự bất đồng nhấttrong quá trình xây dựng và triển khai các đề án phân cấp quản lý ngân sách
3 Phạm vi nghiên cứu: Về thời gian, đề tài tập trung khảo sát, đánh giá cơ
chế phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi cho các cấp ngân sách của thành phố HàNội trong giai đoạn 2007- 2010 và đề xuất giải pháp cho giai đoạn 2015 vànhững năm tiếp theo
4 Phương pháp luận nghiên cứu: Luận văn tiếp cận mục đích nghiên cứu
Trang 3bằng cách lấy phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩamác-lênin vận dụng trong kinh tế tài chính làm phương pháp luận nghiên cứuđồng thời, luận văn cũng sử dụng các phương pháp so sánh, bảng biểu và phântích số liệu các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan làm công cụ.
* Kết cấu của đề tài: Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của
luận văn được trình bày trong ba chương:
Chương I: Lý luận chung về ngân sách nhà nước và phân cấp quản lý NSNN
Chương II: Thực trạng phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi trên địa bàn Hà Nội trong thời gian qua.
Chương III: Định hướng đổi mới và một số giải pháp hoàn thiện công tác phân cấp quản lý NSNN trên địa bàn Hà Nội trong thời gian tới.
Trang 4Ngân sách nhà nước là phạm trù kinh tế mang tính chất lịch sử NSNN ra đời
và tồn tại gắn liền với sự xuất hiện của nhà nước và sự tồn tại phát triển của kinh
tế hàng hoá tiền tệ Nhà nước ra đời tất yếu kéo theo nhu cầu tập trung nguồn lựctài chính vào trong tay nhà nước để làm phương tiện vật chất trang trải cho cácchi phí nuôi sống bộ máy nhà nước và thực hiện các chức năng kinh tế, xã hộicủa nhà nước Đây là điều kiện cần để ngân sách nhà nước ra đời Sự phát triểnmạnh mẽ của quan hệ hàng hóa- tiền tệ là điều kiện đủ để NSNN ra đời, bởi vìquan hệ hàng hóa- tiền tệ phát triển sẽ tập trung các nguồn thu, dự toán thu chiđược giá trị hóa và diễn ra nhanh hơn, phong phú và linh hoạt hơn Vậy NSNN làngân sách của nhà nước, hay nhà nước là chủ thể của ngân sách đó
Thuật ngữ "Ngân sách nhà nước" được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh
tế, xã hội mọi quốc gia Song quan niệm về ngân sách nhà nước lại chưa thốngnhất, người ta đã đưa ra nhiều định nghĩa về ngân sách nhà nước tùy theo cáctrường phái và các lĩnh vực nghiên cứu
Theo các nhà nghiên cứu kinh tế cổ điển: “ NSNN là một văn kiện tài chính
mô tả các khoản thu, chi của Chính phủ được thiết lập hằng năm”
Các nhà kinh tế Nga hiện đại lại quan niệm: Ngân sách nhà nước là bảng liệt
kê các khoản thu, chi bằng tiền trong một giai đoạn nhất định của quốc giathường là một năm
Trang 5Điều 1 của luật NSNN của Quốc hội khóa XI nước cộng hòa XHCN Việt
Nam thông qua kỳ họp thứ hai, năm 2002 cũng khẳng định: “ NSNN là toàn bộ các khoản thu , chi của Nhà nước được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”
Với khái niệm trên ta có thể hiểu:
NSNN là kế hoạch tài chính cơ bản hay rõ hơn là bản dự toán thu, chi tàichính của nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định
NSNN giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống tài chính
NSNN là quỹ tiền tệ của nhà nước hay gọi là quỹ ngân sách phục vụ việcthực hiện các chức năng của nhà nước
NSNN gắn liền với hoạt động thu chi của nhà nước
Xét về bản chất, đứng sau các hoạt động thu, chi là mối quan hệ kinh tế giữanhà nước và các chủ thể kinh tế, xã hội Nói cách khác, NSNN phản ánh mốiquan hệ kinh tế giữa nhà nước với các chủ thể trong phân phối tổng sản phẩm xãhội, thông qua việc tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước, chuyểndịch một bộ phận thu nhập bằng tiền của các chủ thể đó thành thu nhập của nhànước và nhà nước chuyển dịch thu nhập đó đến các chủ thể được thực hiện đểthực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước
1.1.2 Tổ chức hệ thống NSNN
Hệ thống NSNN được hiểu là tổng thể các cấp ngân sách có mối quan hệ hữu
cơ với nhau trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thu, chi của mỗi cấp ngân sách.Việc xây dựng hệ thống ngân sách nhà nước ở nước ta hiện nay dựa trênnhững nguyên tắc cơ bản sau:
Trang 6 Nguyên tắc 1: Đảm bảo tính thống nhất của nền tài chính quốc gia Đây làmột đòi hỏi có tính nguyên tắc trong tổ chức hệ thống NSNN, là điều kiệnquan trọng để đưa hoạt động thu, chi ngân sách nhà nước ở các cấp đi vào nềnếp, theo đúng quỹ đạo quản lý kinh tế tài chính của ngân sách, tạo nên mốiliên hệ gắn bó hữu cơ giữa các cấp ngân sách nhà nước làm cho hoạt độngngân sách phù hợp với sự vận động của các phạm trù kinh tế tài chính khác.
Nguyên tắc 2: Tổ chức hệ thống NSNN phải quán triệt nguyên tắc tập trungdân chủ đảm bảo cho các cấp ngân sách hoạt động một cách đồng bộ, có hệthống, phát huy vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương, mở rộng quyền dânchủ của ngân sách các cấp chính quyền địa phương
Ở nước ta với mô hình Nhà nước thống nhất nên hệ thống ngân sách được tổ chức theo hai cấp: Ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương Theo đó hệ thống NSNN ta đã được thiết lập theo mô hình dưới đây:
NS huyện(Quận,TX)
NS cấp tỉnhNSĐP
Trang 71.2 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÂN CẤP QUẢN LÝ NSNN
1.2.1 Khái niệm và nội dung phân cấp quản lý NSNN
1.2.1.1 Khái niệm phân cấp quản lý NSNN:
Phân cấp quản lý NSNN là một nội dung quan trọng của phân cấp tài khóa gắnliền với chủ thể Nhà nước, chịu tác động của quyền lực nhà nước Việc hìnhthành hệ thống NSNN gồm nhiều là một tất yếu khách quan
Phân cấp quản lý ngân sách là quá trình Nhà nước trung ương phân giaonhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm nhất định cho chính quyền địa phương tronghoạt động quản lý ngân sách
Hay có thể hiểu phân cấp quản lý NSNN là việc phân định phạm vi tráchnhiệm, quyền hạn của các cấp chính quyền nhà nước từ trung ương tới các địaphương trong quá trình tổ chức tạo lập và sử dụng ngân sách nhà nước phục vụcho việc thực thi chức năng nhiệm vụ của nhà nước
1.2.1.2 Nội dung phân cấp quản lý NSNN
Nói tới phân cấp quản lý NSNN không chỉ nói tới nội dung phân giao nguồnthu, nhiệm vụ chi Đó chỉ là một phần mang nghĩa trực diện trong các nội dungrộng lớn của phân cấp quản lý NSNN Thực chất phân cấp quản lý NSNN là giảiquyết mối quan hệ giữa các cấp chính quyền trong việc quản lý, sử dụng NSNNbao gồm 3 nội dung cơ bản:
Thứ nhất: Giải quyết mối quan hệ vật chất trong trong việc ban hành các chính
sách chế độ quản lý NSNN Với nội dung này đòi hỏi phải xác định rõ cơ quanNhà nước nào có thẩm quyền ra các chế độ, chính sách, định mức, tiêu chuẩnthu,chi;đó là những tiêu chuẩn, chế độ nào? Và quyền hạn của mỗi cấp đến đâu
Trang 8Thứ hai: Giải quyết mối quan hệ vật chất trong quá trình phân giao nguồn thu,
nhiệm vụ chi và cân đối ngân sách
Đây là vấn đề phức tạp, khó khăn và gây nhiều bất đồng nhất trong quá trìnhxây dựng và triển khai các đề án phân cấp quản lý ngân sách Sự khó khăn nàybắt nguồn từ sự phát triển không đồng đều giữa các địa phương, sự khác biệt vềđiều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội giữa các vùng miền trong cả nước, đồng thờiquan hệ này có bản chất bắt nguồn từ quan hệ lợi ích
Thứ ba: Giải quyết mối quan hệ giữa các cấp về quản lý chu trình NSNN bao
gồm việc lập, chấp hành và quyết toán ngân sách sao cho đảm bảo việc lập vàquyết toán ngân sách sao cho vừa nâng cao trách nhiệm quản lý của nhà nướctrung ương vừa phát huy tính năng động, sáng tạo của các cấp chính quyền địaphương
Như vậy việc thực hiện phân cấp quản lý NSNN chính là việc giải quyết tốtcác mối quan hệ bên trong hoạt động quản lý, điều hành NSNN Mặc dù cónhững nguyên tắc nhất định cho việc tiến hành phân cấp quản lý nhà nước song ởmỗi quốc gia và trong mỗi thời kỳ phát triển của nền kinh tế, những nội dungphân cấp đều có sự thay đổi cho phù hợp bởi vì cơ chế phân cấp quản lý ngânsách nhà nước luôn chịu ảnh hưởng bởi sự tác động của rất nhiều nhân tố Cónhư vậy thì phân cấp quản lý NSNN mới thực sự trở thành một phương tiện hữuhiệu giúp Nhà nước quản lý hiệu quả nền tài chính quốc gia
1.2.2 Vai trò của phân cấp quản lý NSNN:
1.2.2.1 Đối với quản lý hành chính nhà nước:
Phân cấp quản lý hành chính là việc phân chia quyền hạn để thực hiện cácnhiệm vụ công tới các cơ quan nhà nước ở các cấp như vậy, thông qua quá trình
Trang 9phân cấp hành chính, công tác kế hoạch, quy hoạch, quản lý điều hành và mộtphần tài trợ cho cơ sở hạ tầng và cung cấp các dịch vụ công sẽ được chuyển giao
từ cấp trung ương xuống các cơ quan hành chính địa phương
Việc phân cấp quản lý ngân sách nhà nước là công cụ cần thiết khách quan đểphục vụ cho việc phân cấp quản lý hành chính, có tác động quan trọng đến hiệuquả của quản lý hành chính từ trung ương đến địa phương
1.2.2.2 Đối với quản lý kinh tế- xã hội
Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước gắn các hoạt động của ngân sách nhànước với các hoạt động kinh tế xã hội Giữa phân cấp quản lý NSNN và phân cấpquản lý kinh tế – xã hội có mối quan hệ gắn bó hữu cơ, tác động qua lại với nhau.khi phân cấp quản lý ngân sách phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế xã hội,đúng đắn và hợp lý không chỉ đảm bảo phương tiện tài chính cho việc duy trìphát triển hoạt động của các cấp chính quyền nhà nước từ trung ương đến các địaphương mà còn tạo điều kiện phát huy được các lợi thế nhiều mặt của từng vùng,địa phương trong cả nước Nó cho phép quản lý và kế hoạch hoá ngân sách nhànước tốt hơn, điều chỉnh mối quan hệ giữa các cấp chính quyền cũng như mốiquan hệ giữa các cấp ngân sách được tốt hơn để phát huy vai trò là công cụ điềuchỉnh vĩ mô nền kinh tế
Phân cấp NSNN là phương tiện quan trọng để nhà tăng cường tính dân chủ,linh hoạt, hiệu quả và tự chịu trách nhiệm của các cấp chính quyền trong việccung cấp các hàng hoá dịch vụ công cộng Đồng thời phân cấp quản lý NSNNcòn là phương tiện để nhà nước điều hòa, phân phối lại nguồn lực giữa các địaphương với nhau nhằm đảm bảo sự phát triển tương đối đồng đều, cân đối vàgiảm bớt những bất công thông qua cơ chế phân cấp trong phân cấp quản lý ngânsách nhà nước cũng như cơ cấu của các chương trình, mục tiêu, dự án
Trang 10Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước phù hợp có ý nghĩa quan trọng trongviệc đảm bảo hiệu quả quản lý ngân sách quốc gia, thực hiện tiết kiệm nguồn lực.Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước còn có ảnh hưởng quan trọng đến đời sốngcủa cộng đồng dân cư trong nước, là nhân tố tác động nhạy cảm đến các vấn đềthuộc về chính sách xã hội.
Như vậy, phân cấp quản lý NSNN có vai trò hết sức toàn diện đối với cả quản
lý hành chính nhà nước và quản ký kinh tế xã hội Theo đó tất yếu là phải phângiao nhiệm vụ và quyền hạn của chính quyền nhà nước các cấp đối với các vấn
đề thuộc về ngân sách nhà nước
1.2.3 Sự cần thiết của phân cấp quản lý NSNN
Giả thiết, Nhà nước chỉ có một ngân sách suy nhất, ngân sách này do chínhquyền trung ương toàn quyền quản lý và quyết định sử dụng Mọi quản lý, điềuhành ngân sách tập trung cao độ mọi quyền lực vào chính quyền trung ương Giảthiết phủ nhận sự tồn tại độc lập của ngân sách địa phương
Lợi thế của cách quản lý này là cho phép tập trung toàn bộ nguồn thu vào taynhà nước trung ương để bố trí chi tiêu cho hợp lý, công bằng, đồng đều giữa cácvùng, miền, ngành nghề, chống biểu hiện cục bộ địa phương Tuy nhiễn dễ dàng
để nhận thấy phương án này tạo tư tưởng ỷ lại, thụ động trông chờ vào trungương và đặc biệt là nguồn lực vốn có hạn của xã hội có thể bị sử dụng lãng phí
Do đó trên thực tế các nhà nước đều thực hiện phân cấp quản lý ngân sách ở mức
độ nhất định cho chính quyền địa phương
Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước được coi là yêu cầu khách quan, bởimỗi quốc gia đều có những vùng lãnh thổ khác nhau Việc phân chia dân cư theođơn vị hành chính lãnh thổ, hình thành các cấp hành chính là đặc trưng của Nhànước Do đó, để quốc gia phát triển, cần thiết phải phân cấp quản lý ngân sách
Trang 11nhà nước, vừa đáp ứng yêu cầu thực hiện chức năng nhiệm vụ của Nhà nước, vừatạo quyền tự chủ cho các cấp chính quyền địa phương
Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước cho các cấp chính quyền là giải phápvừa động viên được các nguồn thu tiềm tàng, vừa tạo cơ chế để các nguồn tàichính được sử dụng tiết kiệm, hiệu quả Nguồn thu ngân sách là có hạn, trong khinhu cầu chi tiêu thì lớn, do vậy phân cấp quản lý ngân sách đòi hỏi phải thực hiệnđúng theo các quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước
1.2.4 Nguyên tắc phân cấp quản lý ngân sách nhà nước.
Để thực hiện được yêu cầu trên đây, cơ chế phân cấp quản lý ngân sách phảiđược xây dựng trên cơ sở quán triệt các nguyên tắc cơ bản, cụ thể là:
* Nguyên tắc thứ nhất: phân cấp quản lý NSNN phải phù hợp với phân cấp quản
lý về kinh tế xã hội, quốc phòng an ninh, phù hợp với tổ chức bộ máy hành chínhđồng thời phải dựa trên cơ sở chức năng nhiệm vụ của các cấp chính quyền nhànước
Trong quản lý nhà nước về kinh tế- xã hội, một nguyên tắc quan trọng đó làphải kết hợp giữa quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ Quá trình phâncấp quản lý ngân sách nhà nước còn cần phải chú ý đến quan hệ đó
Quản lý theo ngành đòi hỏi phải nhận thức một cách thống nhất sự triển từtrung ương tới địa phương trong một ngành nào đó Không phân biệt một cáchmáy móc về kinh tế trung ương và kinh tế địa phương và cho rằng có cơ cấu kinh
tế trung ương riêng, cơ cấu kinh tế địa phương riêng dẫn đến những quyết định đingược lại cơ cấu kinh tế thống nhất có tính chiến lược của quốc gia
Quản lý theo lãnh thổ đảm bảo sự phát triển tổng thể các ngành, các lĩnh vực,các mặt hoạt động chính trị - khoa học, văn hoá - xã hội trên một đơn vị hành
Trang 12chính lãnh thổ nhằm thực hiện sự quản lý toàn diện và khai thác tối đa, có hiệuquả cao nhất mọi tiềm năng trên lãnh thổ, không phân biệt ngành, thành phầnkinh tế - xã hội, cấp nhà nước quản lý trực tiếp.
Tuân thủ nguyên tắc này tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết mối quan
hệ vật chất giữa các cấp chính quyền, xác định rõ nguồn thu, quy định nhiệm vụchi cho mỗi cấp, gắn kết trách nhiệm và quyền lợi từng cấp ngân sách
* Nguyên tắc thứ hai: Đảm bảo vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương và
đồng thời tạo vị trí độc lập của ngân sách địa phương trong hệ thống ngân sáchnhà nước thống nhất
Trong nền kinh tế thị trường, nhà nước ngoài các nhiệm vụ quan trọng như quốcphòng an ninh, ngoại giao, còn có nhiệm vụ không kém phần quan trọng là tổ chứcquản lý, điều tiết quản lý mọi hoạt động kinh tế thực hiện các kinh tế vĩ mô
Ngân sách nhà nước là công cụ quan trọng phục vụ cho việc thực hiện chứcnăng, nhiệm vụ đó Lúc này vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương được thểhiện ở chỗ:
+ Là trung tâm huy động GDP hay GNP chủ yếu vào ngân sách, đây là nguồnthu lớn nhất của nhà nước để bảo toàn chức năng nhiệm vụ của nhà nước về đốinội, đối ngoại nói chung và chiến lược ổn định tăng trưởng kinh tế xã hội nóiriêng
Ở nước ta, NSTW tập trung khoảng 3/4 tổng thu ngân sách, với qui mô lớnnhư vậy khiến cho NSTW đóng vai trò trung tâm điều phối GDP và GNP trong
cả nước, nhờ đó nhà nước mới có thể thực hiện chức năng của mình trên mọilĩnh vực đời sống xã hội và có điều kiện để giúp đỡ NSĐP trong cả nước
+ Là trung tâm điều hoà hoạt động ngân sách các cấp NSTW trên thực tế
Trang 13được coi là ngân sách của cả nước đảm đương kinh phí cho các khoản chi cótính chất huyết mạch của quốc gia.
Do đó trong phân cấp nguồn thu nhiệm vụ chi đối với NSTW cần phải quántriệt nguyên tắc này Nhưng tăng cường vai trò chủ đạo của NSTW hoàn toànkhông mâu thuẫn với việc nâng cao vị trí độc lập của NSĐP trong quản lý vàđiều hành ngân sách của mình Tạo cho địa phương sự độc lập tương đối là việclàm hết sức cần thiết vì suy cho cùng thì phần lớn các nguồn lực tài chính củanhà nước có được là nhờ vào đóng góp bắt buộc của công dân (thông qua cácphương thức khác nhau, trực tiếp hay gián tiếp) Phân cấp, trao quyền cho địaphương về ngân sách một cách hợp lý sẽ giúp cho địa phương có thể chủ động vàtích cực phát huy trách nhiệm trong việc xây dựng, phát triển địa phương, đápứng được yêu cầu nguyện vọng của dân
NSĐP chỉ chịu sự ràng buộc vào cấp trên ở những vấn đề có tính nguyên tắclớn để không ảnh hưởng đến cân bằng tổng thể Như vậy, nên tránh sự can thiệpquá sâu của chính quyền cấp trung ương vào vấn đề xây dựng và quyết định ngânsách của cấp địa phương Nói như vậy không có nghĩa là chính quyền địa phươngthoát ly khỏi sự chỉ đạo của nhà nước trung ương, ngân sách địa phương thoátkhỏi hệ thống ngân sách nhà nước Trong bất kỳ trường hợp nào cũng phải đảmbảo sự thống nhất của hệ thống ngân sách nhà nước: Loại chế độ, chính sách, tiêuchuẩn định mức về thu, chi ngân sách nhà nước nhất thiết phải thi hành thốngnhất trong cả nước để đảm bảo công bằng thì trung ương ban hành; loại nào cóthể cho địa phương vận dụng thì trung ương ban hành khung; loại nào chỉ thựchiện do đặc điểm riêng có ở địa phương thì giao địa phương ban hành
Trang 14* Nguyên tắc thứ ba: Phân cấp quản lý ngân sách phải đảm bảo công bằng
Công bằng trong phân cấp được đặt ra bởi vì giữa các địa phương trong mộtquốc gia có những đặc điểm tự nhiên, xã hội và trình độ phát triển kinh tế khácnhau, nếu một cơ chế phân cấp như nhau được áp dụng cho tất cả các địa phươngthì sẽ dẫn đến những bất công bằng và tạo ra khoảng cách chênh lệch ngày cànglớn giữa các địa phương về phát triển kinh tế - xã hội Những vùng đô thị có thểngày càng phát triển hiện đại nhanh chóng, còn những vùng nông thôn, miền núi
có nguy cơ tụt hậu do thiếu nguồn lực đầu tư
Phải căn cứ vào yêu cầu cân đối chung trong cả nước và đồng thời tránh tìnhtrạng do kết quả phân cấp mà một số địa phương được lợi, một số địa phươngkhác bị thiệt Nhiệm vụ của nhà nước là phải điều hoà được hệ thống ngân sáchnhà nước, việc xây dựng một cơ chế phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ giữa trungương và địa phương là công cụ chủ yếu để thực hiện việc điều hoà đó Nhà nướcđóng vai trò là người điều phối thông qua NSTW
Nguyên tắc này rất khó thực hiện vì sự khác nhau rất lớn giữa các địa phương
về nhiều mặt Để khắc phục, phải kết hợp các nguyên tắc trên, đặc biệt là nguyêntắc đảm bảo vai trò chủ đạo của NSTW
1.2.5 Những nhân tố ảnh hưởng đến cơ chế phân cấp quản lý ngân sách nhà nước:
1.2.5.1 Cơ chế phân cấp quản lý ngân sách nhà nước chịu ảnh hưởng của cấu trúc bộ máy nhà nước.
Bất cứ một nhà nước nào cũng có một trật tự nhất định về việc thành lập vàmối quan hệ giữa các cơ quan cấu thành nhà nước, có cách thức phân chia lãnh
Trang 15thổ thành các đơn vị hành chính nhất định và có phương pháp thực hiện quyềnlực riêng.
Yếu tố có tác động trực tiếp đến phân cấp quản lý nói chung và phân cấp quản
lý ngân sách nhà nước nói riêng là hình thức cấu trúc nhà nước Hình thức cấutrúc nhà nước quyết định đến việc tổ chức bộ máy nhà nước ở các cấp độ khácnhau, mỗi cấp độ gắn kết với một địa bàn lãnh thổ và phạm vi quản lý nhất định
và thường đòi hỏi có phương tiện tài chính để thực thi các chức năng, nhiệm vụcủa cấp mình Rõ ràng điều đó sẽ chi phối đến quá trình tổ chức và phân chiatrách nhiệm và quyền hạn về quản lý ngân sách nhà nước
1.2.5.2 Cơ chế phân cấp quản lý ngân sách nhà nước chịu ảnh hưởng bởi tính chất và mức độ phân cấp về quản lý hành chính - kinh tế - xã hội giữa các cấp chính quyền.
Việc tổ chức bộ máy nhà nước theo các đơn vị hành chính lãnh thổ nảy sinhyêu cầu hình thành những cấp ngân sách nhà nước tương ứng với từng cấp hànhchính đó Tuy nhiên đây mới chỉ là điều kiện cần, bởi vì có nhiều cách khác nhautrong việc chuyển giao một bộ phận trong tổng thể các nguồn tài chính cho việcthực hiện các nhiệm vụ của mỗi đơn vị hành chính Những cách thức chuyển giao
đó không thể diễn ra một cách tuỳ tiện mà nó phụ thuộc vào mức độ phân cấp vềquản lý hành chính - kinh tế - xã hội giữa các cấp chính quyền nhà nước
1.2.5.3 Cơ chế phân cấp quản lý ngân sách nhà nước còn chịu ảnh hưởng bởi đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của các đơn vị hành chính lãnh thổ.
Đây là một nhân tố có tính đặc thù mà ngay từ khi tổ chức cấu trúc chínhquyền nhà nước theo đơn vị lãnh thổ đã phải quan tâm Tính đặc thù đó thườngđược biểu hiện ở những đặc điểm tự nhiên như địa hình đặc biệt, vùng có tàinguyên, có địa thế đặc biệt hay có điệu kiện xã hội đặc biệt Những đơn vị lãnh
Trang 16thổ này có thể là một đối tượng đặc biệt của cơ chế phân cấp dẫn tới những nộidung phân cấp đặc thù Hiện nay, trước những diễn biến phức tạp trên thế giới vềtình trạng xung đột sắc tộc, tôn giáo; những điểm nóng về chính trị, xã hội buộccác nhà nước phải nghĩ đến việc trao quyền rộng rãi hơn về ngân sách cho nhữngđơn vị lãnh thổ địa phương Nguồn lực tài chính trên mỗi vùng, lãnh thổ cũng ảnhhưởng rất lớn đến phương pháp, mức độ phân cấp quản lý NSNN cho chínhquyền vùng lãnh thổ đó Bởi đi đôi với việc phân cấp quản lý NSNN cho chínhquyền luôn phải gắn liền với việc xem xét khả năng nguồn lực tài chính đảm bảothực thi nhiệm vụ trong phân cấp quản lý NSNN.
Những nhân tố kể trên có tác động một cách trực tiếp đến quá trình hoạch địnhchính sách phân cấp quản lý ngân sách nhà nước
1.2.5.4 Cơ chế phân cấp quản lý ngân sách nhà nước chịu ảnh hưởng bởi tính chất cung cấp hàng hoá công cộng.
Trong quản lý hành chính nhà nước, chính quyền nhà nước các cấp vừa phảiđảm bảo chức năng quản lý vừa phải đảm bảo chức năng cung cấp các dịch vụcông cộng cho xã hội Phần lớn các hàng hoá công cộng đều được cung cấp bởichính quyền nhà nước ở trung ương và địa phương Muốn việc cung cấp thực sự
có hiệu quả đáp ứng được yêu cầu của của công dân thì cần thiết phải có sự phângiao trách nhiệm giữa NSTW và các chính quyền địa phương trong quá trìnhthực hiện nhiệm vụ này Điều kiện vật chất kèm theo chính là vấn đề ngân sáchnhà nước Đối với các hàng hoá, dịch vụ công cộng mà khi cung cấp đòi hỏi mộtlượng vốn lớn, khả năng quản lý cao như: an ninh, quốc phòng … thường dochính quyền nhà nước tư đảm nhiệm Đối với các hàng hoá, dịch vụ công cộngmang tính phổ cập( giáo dục, y tế, văn hoá … ) thường do chính quyền địaphương đảm nhiệm Đây được coi là tiền đề để phân định nguồn thu nhiệm vụ
Trang 17chi giữ chính quyền các cấp trong cả nước Như vậy, vấn đề sản xuất hay cungcấp hàng hoá công cộng bằng nguồn của nhà nước ít nhất cũng dẫn đến việc phânchia nguồn lực này cho các đối tượng được phép sử dụng ở những phạm vi khácnhau
1.3 PHÂN CẤP QUẢN LÝ NSNN THEO LUẬT NSNN
1.3.1 Khái quát cơ chế phân cấp quản lý NSNN trước khi thực hiện Luật NSNN năm 2002.
* Thời kỳ trước khi có Luật NSNN.
Ở nước ta, ngay khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà, nền tài chínhViệt Nam ra đời, thì đã có sự phân cấp quản lý ngân sách nhà nước Với sắc lệnh
số 73/SL-CTN ngày 8/9/1945 của Chủ tịch nước đã trao quyền quyết định mứcthu thuế nhà nước cho các khu và cho phép chính quyền các khu sử dụng nguồnthuế để bảo đảm chi cho bộ máy và đóng góp cho trung ương để nuôi quân đánhgiặc Tuy nhiên trong điều kiện kháng chiến khốc liệt chưa cho phép xây dựng hệthống tài chính hoàn chỉnh, mãi đến năm 1967 chế độ phân cấp quản lý ngânsách nhà nước mới bắt đầu đầy đủ Từ đó đến nay, quá trình phân cấp ngân sáchnhà nước lần lượt thực hiện qua các giai đoạn sau:
- Từ năm 1967 đến năm 1983: Việc phân cấp quản lý ngân sách nhà nước thựchiện theo Nghị quyết số 108/ Chính phủ ngày 13/5/1978 của Hội đồng Chínhphủ Việc thu, chi ngân sách nhà nước tập trung vào ngân sách trung ương, phâncấp quản lý ngân sách nhà nước chủ yếu mới đến cấp tỉnh và chính quyền địaphương chỉ có nhiệm vụ chi
- Từ năm 1983 đến năm 1986: Việc phân cấp quản lý ngân sách nhà nước thựchiện theo Nghị quyết số 138/HĐBT ngày 19/11/1983 của Hội đồng Bộ trưởng về
Trang 18cải tiến chế độ phân cấp quản lý ngân sách địa phương; theo đó chính quyền địaphương được phân cấp nhiều nguồn thu hơn có giao ổn định một số nguồn thu,nhiệm vụ chi cho địa phương và tỷ lệ điều tiết một số nguồn thu Cơ chế phâncấp này phù hợp với các đặc điểm của chế độ quản lý và tình hình kinh tế - xã hộitrong thời kỳ này và đã khuyến khích được các cấp chính quyền địa phương chủđộng khai thác, bồi dưỡng nguồn thu từ tiềm năng sẵn có, tổ chức và điều hànhngân sách trên địa bàn, đẩy mạnh sản xuất kinh doanh, tăng hàng hoá cho tiêudùng
- Từ năm 1986 đến năm 1996: Việc phân cấp quản lý NSNN được tiếp tục cảitiến theo Nghị quyết số 186/HĐBT ngày 27/11/1989 của Hội đồng Bộ trưởng,theo đó mở rộng hơn và xác định rõ trách nhiệm của chính quyền các cấp trongquản lý ngân sách nhà nước, một số khoản chi lớn bắt đầu được giao cho địaphương Tuy nhiên vẫn chưa khắc phục được nhược điểm là trung ương cân đốingân sách thay địa phương, nghĩa là ngân sách trung ương bù chênh lệch giữa thu
và chi địa phương, dẫn đến hạn chế sự năng động, tích cực của địa phương
Vậy những năm chưa có luật NSNN, việc lập, chấp hành, quyết toán, kiểm traNSNN được thực hiện theo các văn bản dưới luật, tính pháp lý chưa cao Nộidung, phạm vi về chu trình NSNN còn chứa đựng nhiều yếu tố bao cấp, lồngghép, chồng chéo giữa các cấp NS Do đó, thường dẫn đến tình trạng co kéo, ỷlại đối phó giữa các cấp NS Việc ban hành luật NSNN là sự cần thiết khách quannhằm khắc phục những nhược điểm yếu kém nêu trên đảm bảo thúc đẩy nền kinh
tế phát triển trên cơ sở thực hiện đúng pháp luật đi đôi với việc củng cố kỷ luậttài chính, đề cao vai trò trách nhiệm quyền hạn của các cấp, các ngành, các tổchức cá nhân trong quá trình chấp hành nsnn, tạo ra môi trường mới cho hoạtđộng điều hành NS của chính phủ
Trang 19* Thời kỳ từ năm 1996 đến 2002.
Xuất phát từ thực tiễn trên, luật NSNN ( thông qua ngày 20/3/1996 tại kỳ họpthứ 9, quốc hội khoá IX, có hiệu lực thi hành từ 1/1/1997 ) ra đời đã thực hiệnvai trò dẫn đường cho các hoạt động ns Trên cơ sở Luật ngân sách nhà nước,Chính phủ đã có Nghị định 87/CP ngày 19/12/1996 quy định chi tiết việc phâncấp, lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước Luật NSNN được sửa đổi,
bổ sung một số điều tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khoá X ngày 20/5/1998 Nghịđịnh 51/1998/NĐ-Chính phủ ngày 18/7/1998 bổ sung một số điều của Nghị định87/CP, Bộ Tài chính có Thông tư 103/1998/TT-BTC hướng dẫn việc phân cấp,lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước Luật NSNN có hiệu lực thihành chính thức từ 01/01/1997 Luật NSNN 1996 là quy định rõ ràng cụ thể nộidung phân cấp quản lý NSNN bao gồm:
Trên cơ sở phân công nguồn thu, nhiệm vụ chi cho mỗi cấp ( gồm chi thườngxuyên và chi đầu tư phát triển ) luật NSNN quy định cụ thể nguồn thu cho mỗicấp gồm: thuế, phí, lệ phí được tập trung 100% cho cấp mình và các khoản thuthuế, phí, lệ phí phân chia theo tỷ lệ % phân chia giữa các cấp Luật NSNN cònquy định cụ thể tỷ lệ điều tiết cho các cấp NS Tỷ lệ điều tiết này được giao ổnđịnh từ 3 đến 5 năm Về số bổ sung từ NS cấp trên cho NS cấp dưới để cân đốithu chi NS đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ kinh tế xã hội được giao được xácđịnh trên cơ sở tính toán các nguồn thu, nhiệm vụ chi dựa trên các tiêu thức: Dân
số, đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của từng vùng có tính đến sự ưutiên cho vùng sâu vùng xa, vùng dân cư, vùng dân tộc thiểu số, căn cứ cách mạng
… Số bổ sung này cũng được quy định ổn định từ 3 đến 5 năm
Sau 5 năm tổ chức thực hiện Luật, luật NSNN 1996 chứng tỏ luật đã tác động
to lớn và quan trọng tới việc củng cố kỷ luật tài chính, thực hiện các chủ trương
Trang 20phát triển kinh tế xã hội và ổn định kế hoạch chi tiêu NS trên phạm vi cả nướccũng như từng khu vực, từng lĩnh vực, việc quản lý và điều hành ngân sách nhànước đã có nhiều tiến bộ Thu ngân sách nhà nước tăng khá (bình quân trên 10%năm), không những đảm bảo đủ chi thường xuyên, mà còn tăng tích luỹ cho đầu
tư phát triển và trả nợ Cơ cấu ngân sách nhà nước đã có bước chuyển biến tíchcực, chi đầu tư phát triển từ 25% tổng chi ngân sách nhà nước năm 1997 tăngtrên 29% năm 2001 và 2002 Từ năm 1997 - 2002, chi đầu tư phát triển tăng bìnhquân 18%/năm (gấp đôi tốc độ tăng chi thường xuyên) và đạt 6,84 so GDP,chiếm 23,7% tổng mức đầu tư toàn xã hội Chi ngân sách từng bước được cơ cấulại, trong đó tốc độ tăng chi để thực hiện các nhiệm vụ trọng yếu đạt cao như: chikhoa học công nghệ và môi trường bình quân tăng 21,8%/năm, chi giáo dục đàotạo tăng 18,2%/năm, chi y tế tăng 8,6%/năm, chi đảm bảo xã hội tăng 8,3%/năm;tập trung ngân sách thực hiện nhiệm vụ phát triển nông nghiệp nông thôn, thựchiện các chương trình xoá đói giảm nghèo; tăng dự trữ tài chính ở cả trung ương
và 61 tỉnh, thành phố; đảm bảo dự phòng để chủ động phòng chống và khắc phụchậu quả thiên tai Thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ trả nợ đến hạn và đã cơ bản cơcấu lại các khoản nợ nước ngoài Dư nợ Chính phủ, dư nợ Quốc gia ở mức hợp
lý, góp phần tạo ổn định kinh tế vĩ mô
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, hoạt động của ngân sách nhà nước từ
1996 - 2002 cũng còn bộc lộ một số hạn chế, cụ thể là:
Về hoạt động ngân sách nhà nước: Thu ngân sách nhà nước mới chỉ đáp ứng
được nhu cầu chi tối thiểu, tình trạng thất thu còn lớn, nhất là khu vực kinh tếcông thương nghiệp dịch vụ ngoài quốc doanh và hoạt động xuất nhập khẩu Chingân sách nhà nước còn phân tán, dàn trải; lãng phí ở cả chi xây dựng cơ bản vàchi thường xuyên; hiệu quả còn thấp
Trang 21Về cơ chế quản lý ngân sách nhà nước: Quy định về thẩm quyền, trách nhiệm
và mối quan hệ của Quốc hội, Chính phủ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dântrong quyết định ngân sách còn bất cập Thủ tục hành chính trong việc cấp phát,thanh toán chi ngân sách còn phức tạp, phải qua nhiều khâu trung gian không cầnthiết Những quy định về thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, công khai ngân sách cònchưa đầy đủ
Những tồn tại trên đây có phần do những khó khăn nội tại của nền kinh tế, cóphần do hạn chế của công tác tổ chức điều hành ngân sách nhà nước trong quátrình triển khai thực hiện, có phần từ những thay đổi về điều kiện kinh tế xã hội
mà thời điểm lịch sử mới đặt ra khiến nhiều qui định trong luật trở lên lỗi thời.Song cũng có phần do hạn chế của bản thân Luật Ngân sách nhà nước 1996 Đểkhắc phục những hạn chế của Luật và đáp ứng yêu cầu mới trong công tác quản
lý tài chính, ngân sách, việc sửa đổi Luật Ngân sách nhà nước 1996 là hết sức
cần thiết
1.3.2 Phân cấp quản lý NSNN theo Luật NSNN năm 2002 đến nay:
Xuất phát từ những hạn chế của luật NSNN năm 1996 và những sửa đổi bổsung tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa X năm 1998, chính phủ nhận thấy một sốnội dung trong luật cần được cải thiện và yêu cầu có một bộ luật mới, hoàn chỉnh
là cần thiết và cấp bách Do đó năm 2002, một luật NSNN mới đã được thôngqua, cho phép thực hiện tính liên tục trong hệ thống phân cấp
Tư tưởng chủ đạo của Luật NSNN năm 2002 tập trung đẩy mạnh phân cấpquản lý tài chính - ngân sách, phát huy tính năng động, tự chủ, tự chịu tráchnhiệm của các cấp chính quyền địa phương Bên cạnh việc kế thừa các ưu điểmcủa luật NSNN năm 1996, luật mới cũng thể hiện nhiều sự cải thiện và đổi mớinhất là trong cơ chế phân cấp quản lý NSNN
Trang 22- Cơ chế phân cấp theo Luật ngân sách nhà nước năm 2002 đã đẩy mạnh phâncấp quyền quyết định chế độ, tiêu chuẩn, định mức theo hướng: Loại nào nhấtthiết phải thi hành thống nhất trong cả nước để đảm bảo công bằng, bình đẳng thìtrung ương ban hành; Loại nào có thể cho địa phương vận dụng thì trung ươngban hành khung; loại nào chỉ thực hiện do đặc điểm riêng có ở địa phương thìgiao Hội đồng nhân dân cấp tỉnh ban hành (Điều này đã được thể hiện cụ thểtrong Điều 10 Nghị định số 60/2003/NĐ-CP)
- Phân cấp nguồn thu nhiệm vụ chi của các cấp ngân sách từ trung ương đếnđịa phương được qui định từ điều 30 đến điều 36 Đây là nội dung quan trọngnhất của phân cấp quản lý ngân sách nhà nước
+ Đối với phân cấp nguồn thu, sự khác nhau cơ bản giữa luật NSNN 96 và luậtNSNN 2002 là trong luật NSNN năm 1996 nêu qui định cụ thể nhiệm vụ thu cho
4 cấp chính quyền thì luật NSNN năm 2002 cho phép chính quyền tỉnh đượcquyền giao nhiệm vụ thu cho các huyện, xã Đi đôi với phân cấp nguồn thu, đểkhuyến khích địa phương phấn đấu thu vượt dự toán, còn thực hiện chính sáchthưởng đối với các địa phương có số thu vượt dự toán được giao và cao hơn mứcthu năm trước; áp dụng với khoản thu phân chia giữa ngân sách trung ương vàngân sách địa phương, nếu vượt phần ngân sách trung ương được hưởng thì trungương sẽ thưởng cho ngân sách địa phương Tỷ lệ thưởng hàng năm do Thủ tướngChính phủ quy định
Luật NSNN năm 2002 không nêu rõ tỷ lệ phân chia nguồn thu giữa NSTW vàNSĐP mà giao cho Ủy ban thường vụ quốc hội quyết định ổn định từ 3 đến 5năm Luật mới cũng đưa thêm thuế tiêu thụ đặc biệt thu từ hàng hoá dịch vụtrong nước và phí xăng dầu vào danh mục thuế phân chia HĐND cấp tỉnh đượcquyết định tỷ lệ phân chia các khoản thu giữa các cấp ngân sách địa phương
Trang 23+ Đối với phân cấp nhiệm vụ chi, luật NSNN năm 2002 về cơ bản không thayđổi việc giao nhiệm vụ chi giữa chính quyền trung ương và chính quyền địaphương tuy nhiên luật mới đã thay đổi hoàn toàn cách thức tiếp cận chi tiêu công
ở việt nam đối với các địa phương Về cơ bản, Luật cho phép cấp tỉnh được phâncấp nhiệm vụ chi cho các huyện, xã trực thuộc
Luật mới củng cố việc cấp trên khi giao nhiệm vụ chi của mình cho cấp dướithực hiện thì phải chuyển nguồn kinh phí để cấp dưới thực hiện điều này đã cótrong luật NSNN năm 1996 nhưng được bổ sung bằng quyền tự chủ của cấp tỉnhtrong việc phân giao nhiệm vụ chi cho chính quyền cấp dưới Ngoài ra luậtNSNN năm 2002 qui định rõ khi ban hành chính sách mới làm tăng chi thì cơquan ban hành chính sách phải đồng thời có giải pháp đảm bảo nguồn tài chínhtài trợ phù hợp với khả năng của ngân sách từng cấp
- Phân cấp trong lập và duyệt quyết toán ngân sách nhà nước: Điểm mới làthời gian phê chuẩn quyết toán ngân sách các cấp được quy định dài hơn so vớitrước đây để các cơ quan có điều kiện tổng hợp báo cáo, thẩm định các báo cáoquyết toán
- Phân cấp thẩm quyền ban hành chính sách, chế độ quản lý các nguồn thu tàichính: Miễn giảm thuế chỉ được xem xét trong một số trường hợp cụ thể đượcquy định rõ trong Luật thuế và phải được Thủ tướng Chính phủ quyết định, Chủtịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh không có quyền miễn giảm thuế trừ các trườnghợp được Luật cho phép
- Trong lĩnh vực thanh tra, kiểm tra tài chính đã tiến hành phân cấp thanh trađến cấp huyện và kiểm tra đến cấp xã
* Luật ngân sách nhà nước năm 2002 đã phát huy những tác dụng tích cực đếnđời sống kinh tế xã hội và nền tài chính quốc gia:
Trang 24Đặc điểm nổi bật nhất của luật NS mới là các cấp chính quyền, các cơ quan cóthẩm quyền được tăng thêm quyền hạn và trách nhiệm
Đồng thời tăng cường tính tự chủ và minh bạch cho các cấp chính quyền trongquá trình thực hiện ngân sách
Luật NS đã nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình về tài chính ở cấpđịa phương
* Tóm lại: Phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi NSNN là tất yếu khách quan.
Qua phân cấp nhằm quản lý ngân sách một cách hiệu quả, tiết kiệm, phát huy vaitrò và chức năng của NSNN với tư cách là phương tiện vật chất để đảm bảo cho
bộ máy Nhà nước hoạt động liên tục và hiệu quả, đồng thời là công cụ điều tiết vĩ
mô nền kinh tế - xã hội.Do vậy, để góp phần thúc đẩy kinh tế- xã hội, cần thiếtphải phân cấp quản lý ngân sách, mà yếu tố quan trọng là cơ chế phân cấp nguồnthu, nhiệm vụ chi NSNN Đây là giải pháp quan trọng để động viên được cácnguồn thu tiềm tàng, vừa tạo ra cơ chế để sử dụng các nguồn tài chính tiết kiệm,hiệu quả, đáp ứng yêu cầu thực hiện chức năng nhiệm vụ của Nhà nước, tạoquyền tự chủ cho các cấp chính quyền
Các nguyên tắc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi NSNN là phải bảo đảm sựtăng cường giữa hệ thống ngân sách với hệ thống hành chính, đảm bảo vai tròchủ đạo của ngân sách cấp trên, phát huy tính năng động sáng tạo của ngân sáchcấp dưới; đảm bảo tính thống nhất của nền tài chính quốc gia; bảo đảm tính côngbằng, hiệu quả, khách quan trong toàn hệ thống
Từ nhận thức như trên đã có cơ sở đề ra các nguyên tắc, các yêu cầu trong việcxây dựng cơ chế phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi NSNN trên địa bàn từng địaphương Từ đó ta đi xem xét thực trạng phân cấp quản lý NSNN trên địa bànthành phố Hà Nội giai đoạn từ năm 2004-2008
Trang 25Chương 2 THỰC TRẠNG PHÂN CẤP NGUỒN THU, NHIỆM VỤ CHI NSNN TRÊN ĐỊA BÀN TP HÀ NỘI TRONG NHỮNG NĂM QUA 2.1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ- XÃ HỘI VÀ CƠ CẤU CÁC CẤP NGÂN SÁCH TRÊN ĐỊA BÀN TP HÀ NỘI
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên TP Hà Nội
Hà Nội là Thủ đô của nước CHXCN Việt Nam, nằm trong vùng Trung tâmcủa đồng bằng châu thổ sông Hồng Sau đợt mở rộng địa giới hành chính vàotháng 8 năm 2008, thành phố có diện tích 3.324,92 km² với dân số khoảng6.232.940 người Thành phố tiếp giáp 8 tỉnh: phía Bắc giáp các tỉnh TháiNguyên, Vĩnh Phúc; phía Nam giáp các tỉnh Hà Nam, Hòa Bình; phía Đông giápcác tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh, Hưng Yên; phía Tây giáp các tỉnh Hòa Bình, PhúThọ Nhờ phù sa bồi đắp, ba phần tư diện tích tự nhiên của Hà Nội là đồng bằng,nằm ở hữu ngạn sông Đà, hai bên sông Hồng và chi lưu các con sông khác
Thuộc đồng bằng sông Hồng trù phú, Hà Nội đã sớm trở thành một trung tâmchính trị và tôn giáo ngay từ những buổi đầu của lịch sử Việt Nam Là nơi đặt trụ
sở các cơ quan lãnh đạo của Đảng và Nhà nước; trên 60% tổng số cán bộ có trình
độ thạc sỹ trở lên và phần lớn chuyên gia đầu ngành của cả nước đang công tác,nghiên cứu khoa học và giảng dạy ở Thủ đô Hà Nội ngày càng phát triển tiêubiểu cho văn hóa và truyền thống của dân tộc Việt Nam
Với những thuận tiện cả về đất đai và khí hậu, Hà Nội có truyền thống sảnxuất nông nghiệp từ lâu đời, đã cung cấp nhiều giống cây trồng, vật nuôi quí, cógiá trị kinh tế và nổi tiếng trong cả nước Đáng chú ý là các huyện ngoại thành đã
Trang 26hình thành các vành đai rau xanh, thực phẩm tươi sống (thịt, cá, sữa, trứng) phục
vụ cho nhu cầu đô thị hoá ngày một cao của thủ đô Hà Nội và dành một phần đểxuất khẩu Bên cạnh đó giới động vật cũng tương đối phong phú là động vật dướinước như cá, tôm, cua, ốc, kể cả cá trong đồng và ngoài sông
Hà Nội hiện có trên 4.000 di tích và danh thắng Du khách có dịp khám phánhiều công trình kiến trúc văn hóa - nghệ thuật xây dựng qua nhiều thế hệ, trongsuốt quá trình dựng nước và giữ nước Những danh thắng tự nhiên đẹp và quyếnrũ; những làng nghề thủ công tồn tại hàng trăm năm; những lễ hội truyền thống -sản phẩm văn hóa kết tinh nhiều giá trị tinh thần sẽ là những sản phẩm du lịchhấp dẫn
Với vị trí tự nhiên của mình Hà Nội đã góp phần xứng đáng trong công cuộcphát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và bảo vệ tổ quốc
2.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội của TP Hà Nội
Trước thềm Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, Thủ đô Hà Nộiđang có thêm tiềm năng, lợi thế để đổi mới và phát triển bền vững sau khi được
mở rộng gấp hơn 3 lần về diện tích và gấp đôi về dân số
1.Phát triển kinh tế
Trong hơn 20 năm đổi mới, kinh tế Thủ đô tăng trưởng liên tục với tốc độkhá cao, theo hướng bền vững Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Hà Nội tăngbình quân 11,12% giai đoạn 2001-2005 Những năm gần đây, kinh tế Thủ đô tiếptục duy trì tốc độ tăng trưởng khá GDP Hà Nội năm 2006 tăng 11,55%, năm
2007 tăng 12,08%, năm 2008 tăng 10,58%
Cơ cấu kinh tế của Hà Nội năm 2008 (sau khi mở rộng): ngành công nghiệpchiếm 41,28%, dịch vụ chiếm 52,17%, nông nghiệp chiếm 6,55% trong tổng
Trang 27GDP Cơ cấu nội ngành công nghiệp, dịch vụ chuyển dịch tích cực theo chiềusâu, nâng dần tỷ trọng các phân ngành có hàm lượng chất xám cao, giá trị giatăng lớn.08 tăng 2,68%.
Các nguồn vốn đầu tư phát triển được thu hút ngày càng lớn Tổng đầu tưtoàn xã hội trên địa bàn năm 2006 đạt 41.900 tỷ đồng, tăng 18,6% so với năm2005; năm 2007 đạt 47.230 tỷ đồng, tăng 20,7% so với năm 2006; năm 2008 đạt97.697 tỷ đồng, tăng 19,3% so với năm 2007 (tính gộp cả Hà Nội cũ và Hà Tây).Đầu tư trực tiếp nước ngoài năm 2008 đạt khoảng 5 tỷ USD vốn đăng ký và tínhđến nay tổng số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào địa bàn Hà Nội đạt trên 20,5
tỷ USD, đứng thứ hai cả nước
Kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn có tốc độ tăng trưởng cao: năm 2006 tăng24,8%, năm 2007 tăng 22%, năm 2008 tăng 35,5% Giá trị kim ngạch xuất khẩutrên địa bàn Hà Nội năm 2008 đạt gần 7 tỷ USD, bằng 11% tổng kim ngạch xuấtkhẩu của cả nước
2 Xây dựng, quản lý và phát triển đô thị
Bộ mặt đô thị Hà Nội sau 20 năm đổi mới đã có thay đổi cơ bản theo hướngvăn minh, hiện đại Đến nay Hà Nội đã có 10 quận nội thành với dân số nội thịtrên 2,5 triệu người Không gian đô thị Hà Nội được mở rộng nhanh chóng đặcbiệt là sau khi Hà Tây được sát nhập vào Hà Nội Quản lý trật tự xây dựng đượctăng cường, tỷ lệ công trình xây dựng có phép đạt trên 90% Hiện tượng lấnchiếm đất công, sử dụng đất sai mục đích, xây dựng trái phép giảm.Cơ sở hạ tầng
đô thị được xây dựng ngày càng đồng bộ, đáp ứng yêu cầu phát triển
Mạng lưới giao thông đô thị được đầu tư ngày càng hoàn thiện Hà Nội cóthêm nhiều tuyến đường mới hoặc được mở rộng khang trang hơn, nhằm giải tỏaách tắc, tăng cường năng lực giao thông so với trước Mạng lưới giao thông đối
Trang 28ngoại của Hà Nội gồm đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng khôngđược đầu tư nâng cấp, từng bước đáp ứng nhu cầu vận tải và đi lại ngày càng caogiữa Hà Nội với các địa phương lân cận và với cả nước cũng như với quốc tế
3 Phát triển văn hoá - xã hội, xây dựng người Hà Nội thanh lịch văn minh
Các lĩnh vực văn hóa, xã hội của Hà Nội đã đạt được những kết quả tích cựctrên cơ sở gìn giữ bản sắc văn hiến Thăng Long và xây dựng nền văn hóa mớitiến cùng thời đại
Về hoạt động giáo dục, Hà Nội là địa phương đầu tiên của cả nước đã hoànthành phổ cập trung học cơ sở và đang tiến tới hoàn thành phổ cập trung học phổthông và tương đương Xã hội hóa giáo dục - đào tạo đạt kết quả khá, nhất là bậctrung học và đại học
Công cuộc đổi mới đã đưa lại sự phát triển cả bề rộng và chiều sâu cho ngành
y tế Thủ đô Hà Nội đã hình thành các cơ sở y tế chuyên khoa sâu, ứng dụng kỹthuật mới và công nghệ cao trong ngành y tế Chất lượng khám chữa bệnh, chămsóc sức khỏe cộng đồng của Hà Nội thuộc diện đứng hàng đầu cả nước
Với những thành tựu toàn diện trên các mặt kinh tế - xã hội, quản lý đô thị,
Hà Nội luôn bảo đảm giữ vững an ninh chính trị, ổn định trật tự xã hội, bảo đảm
an toàn tuyệt đối cho hoạt động của Đảng và Chính phủ trên địa bàn Thành phố.Những kết quả nêu trên là thành tựu tổng hợp của hơn 20 năm đổi mới Tuyvậy, cũng phải thấy rằng còn nhiều hạn chế và yếu kém đang đặt ra đối với Thủ
đô Hà Nội:
Thứ nhất, kinh tế tăng trưởng liên tục, song chưa tương xứng với tiềm năng
vị thế của Thủ đô Một số nguồn lực như nhân lực, đất đai, văn hoá, khoa học công nghệ… chưa được phát huy đúng tầm và sử dụng hiệu quả Cơ cấu kinh tế
Trang 29-đã có sự chuyển dịch tích cực song các ngành và lĩnh vực trình độ cao, chấtlượng cao chưa được đầu tư xứng tầm và phát triển theo yêu cầu Thị trường bấtđộng sản, thị trường tài chính - tiền tệ phát triển thiếu ổn định
Thứ hai, công tác quy hoạch đô thị còn chậm, chưa theo kịp yêu cầu phát
triển kinh tế - xã hội của Thành phố ; Tình trạng ùn tắc giao thông, úng ngậpchưa được khắc phục hiệu quả
Thứ ba, phát triển văn hoá - xã hội chưa tương xứng với phát triển kinh tế, vị
thế của Thủ đô ngàn năm văn hiến Kết quả thực hiện cải cách hành chính tuy cóchuyển biến nhưng còn nhiều hạn chế
Thứ tư, nhiều khó khăn, thách thức mới đặt ra khi mở rộng địa giới hành
chính Thủ đô Hà Nội: đảm bảo sự thống nhất, đồng bộ hệ thống cơ chế chínhsách phát triển trên toàn địa bàn Thành phố; phát triển đồng bộ, tạo sự liên thôngcủa hệ thống cơ sở hạ tầng trên toàn địa bàn Thành phố
2.2 PHÂN CẤP NGUỒN THU, NHIỆM VỤ CHI NSNN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI THỜI KỲ ỔN ĐỊNH NGÂN SÁCH 2007-2010 2.2.1 Quy định pháp lý trong phân cấp nguồn thu nhiệm vụ chi NSNN.
Căn cứ Luật Ngân sách Nhà nước số 01/2002/QH11 ngày 16/12/2002
Căn cứ Nghị định số 60/2003/TT-BTC ngày 06/6/2003 của Chính Phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật NSNN;
Căn cứ Thông tư số 59/2003/TT-BTC ngày 23/6/2003 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định 60/2003/NĐ-CP của Chính phủ
Tại Quyết định số 52/2008/QĐ-UBND ngày 16 tháng 12 năm 2008 của UBND Thành phố Hà Nội ban hành quy định về phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi và tỷ lệ phần trăm (%) phân chia nguồn thu giữa các cấp ngân sách thuộc thành phố Hà Nội giai đoạn 2009- 2010.
Trang 302.2.1.1 Phân cấp nguồn thu NSNN
* Ngân sách cấp thành phố:
1 Các khoản thu ngân sách Thành phố được hưởng 100%:
a) Thuế môn bài thu từ doanh nghiệp Nhà nước; doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài đóng trên địa bàn; các cơ sở kinh tế của cơ quan hành chính, sựnghiệp, Đảng, Đoàn thể, lực lượng vũ trang Thành phố;
b) Thuế tài nguyên từ doanh nghiệp Nhà nước; doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài (không kể thuế tài nguyên thu từ hoạt động dầu khí);
c) Tiền sử dụng đất
- Đấu giá đất các dự án do thành phố tổ chức thực hiện trên địa bàn 29 quận,huyện (kể cả dự án 1,03 ha đất sau Phủ Tây Hồ và khu đất 18,6 ha Phú Thượng –Tây Hồ);
- Đấu thầu các dự án sử dụng đất do Thành phố tổ chức mời thầu
- Khoản thu tiền sử dụng đất thuộc dự án của thành phố thuộc quận Ba Đìnhd) Tiền cho thuê mặt đất, mặt nước của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nướcngoài (không kể tiền thuê mặt nước từ hoạt động dầu khí);
e) Tiền cho thuê và bán nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước Tiền bán tài sản khácthuộc Thành phố quản lý
f) Thu từ hoạt động xổ số kiến thiết (Thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhậpdoanh nghiệp, thuế tiêu thụ đặc biệt và các khoản thu khác do Công ty TNHHNhà nước 1 thành viên, Xổ số kiến thiết Thủ đô nộp ngân sách);
g) Thu nhập từ vốn góp của ngân sách Thành phố, tiền thu hồi vốn của ngân
Trang 31sách Thành phố tại các cơ sở kinh tế, thu từ quỹ dự trữ tài chính của Thành phố;h) Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài trực tiếpcho Thành phố theo quy định của pháp luật;
i) Các khoản phí, lệ phí (phần nộp ngân sách theo quy định), do các cơ quan,đơn vị thuộc Thành phố thu, nộp (không kể phí xăng dầu, phí bảo vệ môi trườngđối với nước thải và lệ phí trước bạ);
k) Các khoản phạt, tịch thu theo quy định của pháp luật do người có thẩmquyền xử phạt
l) Huy động vốn để đầu tư xây dựng công trình kết cấu hạ tầng theo Nghịquyết HĐND Thành phố;
m) Đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước chongân sách thành phố
n) Tiền đền bù thiệt hại đối với đất giao cơ quan, đơn vị thuộc Thành phốquản lý, doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài;
o) Thu sự nghiệp, phần nộp ngân sách theo quy định của các đơn vị do Thànhphố quản lý
p) Thu kết dư ngân sách Thành phố, thu chuyển nguồn từ ngân sách Thànhphố năm trước sang ngân sách năm sau
q) Các khoản thu khác của ngân sách Thành phố theo quy định của pháp luật;r) Thu bổ sung từ ngân sách Trung ương
2 Các khoản thu ngân sách Thành phố hưởng theo tỷ lệ phần trăm (%) gồm:a) Thuế giá trị gia tăng (không kể thuế giá trị gia tăng thu từ hàng hóa nhậpkhẩu, từ hoạt động xổ số kiến thiết, từ hoạt động thăm dò khai thác dầu khí);
Trang 32b) Thuế thu nhập doanh nghiệp (không kể thuế thu nhập doanh nghiệp củacác đơn vị hạch toán toàn ngành, thuế thu nhập từ hoạt động xổ số kiến thiết, từhoạt động thăm dò khai thác dầu khí);
c) Thuế thu nhập cá nhân;
d) Thuế tiêu thụ đặc biệt từ hàng hóa, dịch vụ trong nước (không kể thuế tiêuthụ đặc biệt từ hoạt động xổ số kiến thiết);
e) Phí xăng dầu; lệ phí trước bạ ô tô
f) Phí bảo vệ môi trường đối với nước thải;
g) Tiền sử dụng đất:
- Đấu giá các dự án (trừ dự án nhỏ lẻ, xem kẹt không tiếp giáp đường phốcòn diện tích nhỏ hơn 5.000 m2) giao cấp huyện tổ chức đấu thầu (trừ huyện SócSơn);
- Đấu thầu các dự án sử dụng đất do cấp huyện mời thầu;
* Ngân sách cấp Quận, Huyện:
1 Các khoản thu ngân sách quận, huyện hưởng 100%:
a) Thuế môn bài thu từ các doanh nghiệp ngoài quốc doanh
b) Thuế tài nguyên từ các Doanh nghiệp ngoài quốc doanh và hộ sản xuất;c) Thu khác từ khu vực công thương nghiệp, dịch vụ ngoài quốc doanh;d) Thuế sử dụng đất nông nghiệp từ các nông trường, trạm trại nhà nướcquản lý;
e) Tiền sử dụng đất
- Đấu giá dự án đất nhỏ, lẻ xen kẹt nhỏ hơn 500 m2 không tiếp giáp với mặt
Trang 33đường phố giao cấp huyện tổ chức, thực hiện;
- Đấu giá đất các dự án do UBND huyện Sóc Sơn tổ chức thực hiện;
- Tiền sử dụng đất (không kể thu từ đấu giá, đấu thầu và các dự án giao đấttrên địa bàn Hà Tây cũ)
f) Tiền cho thuê mặt đất, mặt nước các doanh nghiệp nhà nước và khu vựcngoài quốc doanh;
j) Thu phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực do các đơn vị quận, huyệnphạt xử lý;
k) Đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân ở trong và ngoài nước trựctiếp cho quận, huyện
l) Thu do các đơn vị hành chính, sự nghiệp thuộc quận, huyện quản lý nộp m) Thu kết dư ngân sách quận, huyện;
n) Thu bổ sung ngân sách cấp trên;
o) Thu chuyển nguồn từ ngân sách quận, huyện năm trước sang ngân sáchnăm sau;
p) Tiền bán tài sản cấp huyện quản lý;
Trang 34q) Tiền đền bù thiệt hại đối với đất giao cơ quan, đơn vị thuộc cấp huyệnquản lý;
r) Các khoản thu khác của ngân sách quận, huyện theo quy định của phápluật
2 Các khoản thu của ngân sách quận, huyện hưởng theo tỷ lệ phần trăm (%):a) Thuế giá trị gia tăng thu từ doanh nghiệp ngoài quốc doanh, cá nhân hộkinh doanh (không kể thuế giá trị gia tăng hàng nhập khẩu);
b) Thuế thu nhập doanh nghiệp thu từ doanh nghiệp ngoài quốc doanh;
c) Thuế tiêu thụ đặc biệt hàng hóa, dịch vụ thu từ khu vực kinh tế ngoài quốcdoanh (không kể thuế TTĐB hàng nhập khẩu)
d) Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao ở khu vực công thươngnghiệp dịch vụ ngoài quốc doanh
e) Tiền sử dụng đất
- Đấu giá các dự án (trừ dự án nhỏ lẻ, xen kẹt không tiếp giáp đường phố códiện tích nhỏ hơn 5.000m2) giao cấp huyện tổ chức đấu giá (trừ huyện Sóc Sơn);
- Đấu thầu các dự án sử dụng đất do cấp huyện mời thầu;
- Giao đất các dự án có thu tiền sử dụng đất trên địa bàn Hà Tây cũ (Quyếtđịnh giao trước ngày 31/7/2008)
f) Thuế chuyển quyền sử dụng đất (trên địa bàn phường);
g) Lệ phí trước bạ nhà đất (trên địa bàn phường);
h) Lệ phí trước bạ ô tô
* Ngân sách cấp xã, phường, thị trấn:
Trang 351 Các khoản thu ngân sách xã, phường, thị trấn hưởng 100%:
a) Thuế môn bài thu từ cá nhân, hộ kinh doanh từ bậc 3 đến bậc 6 trên địabàn xã, phường, thị trấn (do Chi cục Thuế thu hoặc uỷ nhiệm cho xã, phường, thịtrấn thu);
b) Thuế nhà đất;
c) Thuế sử dụng đất nông nghiệp;
d) Các khoản thu phí, lệ phí (phần nộp ngân sách theo qui định) do xã,phường, thị trấn tổ chức thu và các khoản thu phí, lệ phí do cấp có thẩm quyềngiao cho xã, phường, thị trấn tổ chức thu theo qui định của pháp luật;
e) Phạt xử lý vi phạm hành chính trong các lĩnh vực theo Pháp lệnh xử lý viphạm hành chính (trừ thu từ các hoạt động chống buôn lậu và kinh doanh tráipháp luật);
f) Thu sự nghiệp, phần nộp ngân sách theo qui định từ các hoạt động sựnghiệp do xã, phường, thị trấn quản lý;
g) Thu từ sử dụng quỹ đất công, công ích và thu hoa lợi công sản khác;
h) Thu đền bù thiệt hại về đất công do xã, phường, thị trấn quản lý;
i) Đóng góp của các tổ chức, cá nhân:
+ Đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân cho xã, phường, thị trấn.+ Thu huy động đóng góp tự nguyện của nhân dân theo Nghị quyết của Hộiđồng nhân dân xã, phường, thị trấn để đầu tư xây dựng, nâng cấp, cải tạo côngtrình hạ tầng, phúc lợi công cộng do xã, phường, thị trấn quản lý (thực hiện theohình thức Nhà nước và nhân dân cùng làm)
Trang 36j) Thu về quản lý, sử dụng tài sản công do xã, phường, thị trấn quản lý: Chothuê tài sản không cần dùng, bán thanh lý tài sản v.v…
k) Viện trợ của các tổ chức và cá nhân ở nước ngoài trực tiếp cho xã,phường, thị trấn
l) Thu kết dư ngân sách;
m) Các khoản thu khác của ngân sách xã, phường, thị trấn theo qui định củapháp luật;
n) Thu bổ sung từ ngân sách cấp trên;
2 Các khoản thu ngân sách xã, phường, thị trấn được hưởng theo tỷ lệ % :a) Thuế giá trị gia tăng thu từ cá nhân và hộ kinh doanh có mức thuế môn bài
từ bậc 3 đến bậc 6 (đối với xã, thị trấn); từ bậc 4 đến bậc 6 (đối với phường); b) Thuế thu nhập doanh nghiệp thu từ cá nhân và hộ kinh doanh có mức thuếmôn bài từ bậc 3 đến bậc 6 (đối với xã, thị trấn); từ bậc 4 đến bậc 6 (đối vớiphường);
c) Thuế tiêu thụ đặc biệt hàng hoá, dịch vụ sản xuất trong nước của cá nhân
và hộ kinh doanh có mức thuế môn bài từ bậc 3 đến bậc 6;
d) Thuế chuyển quyền sử dụng đất;
Trang 37- Đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội không cókhả năng thu hồi vốn do cấp Thành phố quản lý, trong phạm vi ngân sách quậnhuyện được phân cấp và các dự án trọng điểm trên địa bàn;
- Đầu tư và hỗ trợ các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, các tổ chức tàichính của Thành phố theo qui định của pháp luật;
- Chi đầu tư phát triển các chương trình mục tiêu quốc gia do cấp Thành phốthực hiện;
- Các khoản chi đầu tư phát triển khác theo qui định của pháp luật
2 Chi thường xuyên:
- Các hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, dạy nghề, y tế, xã hội, văn hoáthông tin, nghệ thuật, phát thanh truyền hình, thể dục thể thao, khoa học, côngnghệ và môi trường do cấp Thành phố quản lý:
+ Giáo dục trung học phổ thông công lập, các trường chuyên biệt và sựnghiệp giáo dục khác do thành phố quản lý;
+ Giáo dục đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, đào tạo nghề và cáchình thức đào tạo khác;
Trang 38+ Bồi dưỡng, huấn luyện các huấn luyện viên, vận động viên các đội tuyểncấp Thành phố; hoạt động của các cơ sở thể dục, thể thao của Thành phố;
+ Nghiên cứu, thực hiện các chương trình, đề tài khoa học cấp Thành phố;ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ và các hoạt động khoa học, công nghệkhác;
+ Các sự nghiệp văn hoá, xã hội khác
- Các hoạt động sự nghiệp kinh tế do cấp Thành phố quản lý:
+ Sự nghiệp giao thông: duy tu, bảo dưỡng và sửa chữa cầu đường, lập biểnbáo, hạ tầng kỹ thuật vận tải các hành khách công cộng và các biện pháp bảo đảm
an toàn giao thông trên các tuyến đường, các công trình giao thông
+ Sự nghiệp nông nghiệp, thuỷ lợi, lâm nghiệp: duy tu bảo dưỡng các tuyến
đê, các công trình thủy lợi do cấp Thành phố quản lý; các trạm trại nông nghiệp,lâm nghiệp; công tác khuyến lâm, khuyến nông, khuyến ngư; bảo vệ, phòngchống cháy rừng;
+ Sự nghiệp thị chính: duy tu, bảo dưỡng hệ thống đèn chiếu sáng công cộng,giao thông đô thị, vỉa hè, hệ thống cấp nước, thoát nước, công tác duy trì vệ sinh
đô thị, công viên, cây xanh và các sự nghiệp thị chính khác;
+ Đo đạc, lập bản đồ, lưu trữ hồ sơ địa chính và các hoạt động sự nghiệp địachính khác; Điều tra cơ bản;
+ Các hoạt động sự nghiệp về môi trường;
+ Các sự nghiệp kinh tế khác…
- Các nhiệm vụ về quốc phòng, an ninh, bảo đảm trật tự an toàn xã hội
- Hoạt động của các cơ quan Nhà nước, cơ quan Đảng cộng sản Việt Nam: