1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn tốt nghiệp: Phân tích báo cáo tài chính tại Công ty CP que hàn điện Việt Đức

86 400 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 834 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hội nhập và toàn cầu hóa là xu thế phát triển hiện nay trên thế giới. Nền kinh tế Việt Nam đang từng bước hội nhập kinh tế quốc tế, tích cực tham gia vào các tổ chức quốc tế và ký kết thành công nhiều hiệp định thương mại song phương và đa phương. Trong bối cảnh đó, mỗi doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì phải phát huy tối đa nội lực của mình, tức là phải không ngừng tích lũy tăng cường tiềm lực tài chính, tiềm lực kỹ thuật công nghệ và con người. Để đạt được kết quả kinh doanh cao nhất, các nhà quản trị doanh nghiệp và các đối tượng quan tâm (các nhà cung cấp, nhà đầu tư, các tổ chức tín dụng,…) cần có đủ thông tin và hiểu rõ doanh nghiệp nhằm đánh giá tình hình tài chính đã qua, đánh giá cân bằng tài chính, khả năng thanh toán, sinh lợi, rủi ro và dự đoán tình hình tài chính nhằm đề ra quyết định đúng đắn. Do đó, phân tích BCTC là công cụ đắc lực giúp doanh nghiệp đạt được kết quả kinh doanh cao.Qua tìm hiểu thực trạng phân tích báo cáo tài chính ở Công ty CP Que hàn điện Việt Đức, tôi nhận thấy việc phân tích BCTC chưa được chú trọng, nội dung phân tích còn sơ sài. Vì vậy, các thông tin tài chính do Công ty cung cấp chưa thu hút được các đối tượng quan tâm, chưa phát huy được vai trò là công cụ tài chính quan trọng của doanh nghiệp.Xuất phát từ những thực trạng đó, tôi đã lựa chọn đề tài “Phân tích báo cáo tài chính tại Công ty CP que hàn điện Việt Đức” cho luận văn của mình.

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng đề tài nghiên cứu này là do chính bản thân tôi thựchiện, có sự hỗ trợ của Thầy hướng dẫn khoa học Các dữ liệu được thu thập từnhững nguồn hợp pháp; nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trungthực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Hà Nội, ngày 3 tháng 4 năm 2011

Tác giả

Nguyễn Thị Thùy

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hội nhập và toàn cầu hóa là xu thế phát triển hiện nay trên thế giới Nền kinh

tế Việt Nam đang từng bước hội nhập kinh tế quốc tế, tích cực tham gia vào các tổchức quốc tế và ký kết thành công nhiều hiệp định thương mại song phương và đaphương Trong bối cảnh đó, mỗi doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì phảiphát huy tối đa nội lực của mình, tức là phải không ngừng tích lũy tăng cường tiềmlực tài chính, tiềm lực kỹ thuật công nghệ và con người Để đạt được kết quả kinhdoanh cao nhất, các nhà quản trị doanh nghiệp và các đối tượng quan tâm (các nhàcung cấp, nhà đầu tư, các tổ chức tín dụng,…) cần có đủ thông tin và hiểu rõ doanhnghiệp nhằm đánh giá tình hình tài chính đã qua, đánh giá cân bằng tài chính, khảnăng thanh toán, sinh lợi, rủi ro và dự đoán tình hình tài chính nhằm đề ra quyếtđịnh đúng đắn Do đó, phân tích BCTC là công cụ đắc lực giúp doanh nghiệp đạtđược kết quả kinh doanh cao

Qua tìm hiểu thực trạng phân tích báo cáo tài chính ở Công ty CP Que hànđiện Việt Đức, tôi nhận thấy việc phân tích BCTC chưa được chú trọng, nội dungphân tích còn sơ sài Vì vậy, các thông tin tài chính do Công ty cung cấp chưa thuhút được các đối tượng quan tâm, chưa phát huy được vai trò là công cụ tài chínhquan trọng của doanh nghiệp

Xuất phát từ những thực trạng đó, tôi đã lựa chọn đề tài “Phân tích báo cáo tài chính tại Công ty CP que hàn điện Việt Đức” cho luận văn của mình.

2 Mục đích nghiên cứu của luận văn

Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến vấn đề phân tích báo cáotài chính doanh nghiệp

Nội dung của luận văn tập trung xem xét thực trạng phân tích báo cáo tàichính của Công ty CP Que hàn điện Việt Đức để thấy được xu hướng biến động củacác chỉ tiêu tài chính, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện nội dung phântích tình hình tài chính phù hợp với đặc điểm hoạt động kinh doanh của công ty

Trang 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của phân tích báo cáo tài chính là hệ thống thông tin

kế toán đã được trình bày trên các báo cáo tài chính của doanh nghiệp

Phạm vi về không gian: Nghiên cứu tại Công ty CP que hàn điện Việt Đức Phạm vi về thời gian: Nghiên cứu từ năm 2007 đến năm 2009

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp phân tích báo cáo tài chính bao gồm hệ thống các công cụ vàbiện pháp nhằm tiếp cận, nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng, các mối quan hệ bêntrong và bên ngoài, các luồng dịch chuyển và biến đổi tình hình hoạt động tài chínhdoanh nghiệp, các chỉ tiêu tổng hợp, chỉ tiêu chi tiết, chỉ tiêu tổng quát chung và cácchỉ tiêu có tính chất đặc thù nhằm đánh giá toàn diện thực trạng hoạt động tài chínhcủa doanh nghiệp

Có nhiều phương pháp phân tích tài chính của doanh nghiệp như: phươngpháp chi tiết, phương pháp so sánh, phương pháp tỷ lệ, phương pháp loại trừ,phương pháp liên hệ,… Nhưng để thông tin phân tích mang tính tổng hợp và toàndiện, người ta có thể sử dụng tổng hợp các phương pháp khác nhau nhằm nghiêncứu các mối quan hệ tài chính trong doanh nghiệp

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Luận văn hệ thống hóa cơ sở lý luận về phân tích báo cáo tài chính trongdoanh nghiệp nhằm tạo ra những cơ sở khoa học để vận dụng phân tích BCTC tạiCông ty CP que hàn điện Việt Đức, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm hoànthiện phân tích BCTC tại công ty

Với ý nghĩa đó, luận văn được xây dựng với kết cấu như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận về phân tích báo cáo tài chính trong doanh nghiệpChương 2: Thực trạng phân tích báo cáo tài chính tại Công ty Cổ phần quehàn điện Việt Đức

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện phân tích báo cáo tài chính tại Công ty CPque hàn điện Việt Đức

Trang 4

Chương 1:

LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH TRONG CÁC DOANH NGHIỆP

1.1 Bản chất và vai trò phân tích Báo cáo tài chính

1.1.1 Bản chất của phân tích báo cáo tài chính

Theo Chuẩn mực kế toán quốc tế số I (IASI) thì Báo cáo tài chính cung cấpthông tin về tình hình tài chính, kết quả hoạt động tài chính, cũng như lưu chuyểntiền tệ của doanh nghiệp và đó là các thông tin có ích cho việc ra các quyết địnhkinh tế

Phân tích Báo cáo tài chính là quá trình xem xét, kiểm tra, đối chiếu và sosánh số liệu về tài chính trong kỳ hiện tại với các kỳ kinh doanh đã qua Thông quaviệc phân tích báo cáo tài chính sẽ cung cấp cho người sử dụng thông tin có thểđánh giá tiềm năng, hiệu quả kinh doanh cũng như những rủi ro về tài chính trongtương lai của doanh nghiệp

Vậy, Phân tích Báo cáo tài chính thực chất là phân tích các chỉ tiêu tài chínhtrên hệ thống báo cáo hoặc các chỉ tiêu tài chính mà nguồn thông tin từ hệ thốngbáo cáo nhằm đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp, cung cấp thông tin chomọi đối tượng có nhu cầu theo những mục tiêu khác nhau

Bản chất của phân tích Báo cáo tài chính là xác định những nguyên nhân ảnhhưởng tới kết quả và hiệu quả kinh doanh của các tổ chức hoạt động Bởi vậy, mốiquan tâm hàng đầu của các nhà quản trị là không ngừng nâng cao kết quả và hiệuquả kinh doanh bằng mọi công cụ hữu hiệu Do đó, phân tích báo cáo tài chính đượcxem là một công cụ không thể thiếu được đối với các nhà quản trị khác nhau trongtổng thể nền kinh tế

1.1.2 Vai trò của phân tích báo cáo tài chính

Phân tích Báo cáo tài chính của doanh nghiệp là một công việc có ý nghĩacực kỳ quan trọng trong công tác quản trị doanh nghiệp Nó không chỉ có ý nghĩa

Trang 5

đối với bản thân doanh nghiệp, mà còn cần thiết cho các chủ thể quản lý khác cóliên quan đến doanh nghiệp Phân tích báo cáo tài chính của doanh nghiệp sẽ giúpcho nhà quản lý khắc phục được những thiếu sót, phát huy những mặt tích cực và

dự đoán được tình hình phát triển của doanh nghiệp trong tương lai Trên cơ sở đó,nhà quản lý đề ra những giải pháp hữu hiệu nhằm lựa chọn quyết định phương ántối ưu cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; hoặc là những quyếtđịnh của các nhà đầu tư, các chủ nợ, các cổ đông tương lai của doanh nghiệp

Báo cáo tài chính cung cấp những thông tin giúp cho việc phân tích tình hìnhtài sản, tình hình nguồn vốn, tình hình và kết quả sản xuất kinh doanh trong mộtthời kỳ nhất định, phân tích thực trạng tài chính của doanh nghiệp, như: phân tíchtình hình biến động về quy mô và cơ cấu tài sản, nguồn vốn, về tình hình thanh toán

và khả năng thanh toán, tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với ngân sách nhà nước,tình hình phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp

Các chỉ tiêu, các số liệu trên báo cáo tài chính là những cơ sở quan trọng đểtính ra các chỉ tiêu kinh tế khác, giúp cho việc đánh giá và phân tích hiệu quả sửdụng vốn, hiệu quả của các quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Đồngthời, cũng là những căn cứ quan trọng để đánh giá thực trạng tài chính của doanhnghiệp

Phân tích báo cáo tài chính nhằm cung cấp những thông tin cần thiết, giúpcác đối tượng sử dụng thông tin đánh giá khách quan về sức mạnh tài chính củadoanh nghiệp, khả năng sinh lời và triển vọng phát triển sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp Bởi vậy, phân tích báo cáo tài chính là mối quan tâm của nhiều đốitượng sử dụng thông tin khác nhau, như: các nhà quản lý, các cổ đông hiện tại vàtương lai, các nhà đầu tư, các nhà cho vay, nhà cung cấp, các chủ nợ, khách hàng,người lao động, nhà nước, nhà quản lý cấp trên, Mỗi đối tượng lại quan tâm theonhững góc độ và với những mục đích khác nhau Vì vậy, phân tích báo cáo tài chínhđối với mỗi đối tượng khác nhau sẽ đáp ứng các vấn đề chuyên môn khác nhau:

- Đối với nhà quản lý: phân tích báo cáo tài chính nhằm tạo ra những chu kỳđều đặn để đánh giá hoạt động quản lý trong giai đoạn đã qua, việc thực hiện cân

Trang 6

bằng tài chính, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán, rủi ro tài chính trong doanhnghiệp; Hướng các quyết định của nhà quản lý theo chiều hướng phù hợp với tìnhhình thực tế của doanh nghiệp, và là cơ sở cho những dự đoán tài chính, là công cụ

để kiểm tra, kiểm soát hoạt động quản lý trong doanh nghiệp

- Đối với các nhà đầu tư: đó là những cổ đông, các cá nhân hoặc đơn vị giaovốn của mình cho doanh nghiệp quản lý Thu nhập của các nhà đầu tư là tiền lờiđược chia và thặng dư giá trị của vốn Các đối tượng này quan tâm trực tiếp đếnnhững tính toán về giá trị của doanh nghiệp dựa vào việc nghiên cứu các báo biểutài chính, khả năng sing lời, phân tích rủi ro trong kinh doanh,

- Đối với người cho vay: người cho vay của các doanh nghiệp có thể là cácngân hàng, các doanh nghiệp khác Khi cho vay, họ phải biết chắc được khả nănghoàn trả tiền vay Thu nhập của họ là lãi suất tiền vay Do đó, những đối tượng này

sử dụng công cụ phân tích báo cáo tài chính để đánh giá mức độ đảm bảo khả năngtrả nợ của khách hàng Tuy nhiên, phân tích với những khoản cho vay dài hạn vànhững khoản cho vay ngắn hạn có những nét khác nhau Đối với những khoản chovay ngắn hạn người cho vay đặc biệt quan tâm đến khả năng thanh toán ngay củadoanh nghiệp Đối với các khoản vay dài hạn, người cho vay phải tin chắc khả nănghoàn trả và khả năng sinh lời của doanh nghiệp

- Đối với cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan thuế, cơ quan kiểm toán nhànước: phân tích báo cáo tài chính giúp cho cơ quan quản lý nhà nước có cơ sở vàcăn cứ để hoạch địch các chính sách về quản lý tài chính, chống độc quyền và bánphá giá, , giúp cho cơ quan thuế và cơ quan kiểm toán nhà nước đánh giá thựctrạng tài chính của công ty và trách nhiệm nộp thuế cho ngân sách nhà nước

- Đối với những người hưởng lương trong doanh nghiệp: đây là những người

có nguồn thu nhập chính và thường xuyên là tiền thưởng được trả Khoản thu nhậpnày phụ thuộc rất lớn vào kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Vì vậy,phân tích báo cáo tài chính giúp họ định hướng việc làm ổn định, trên cơ sở đó yêntâm làm việc, cống hiến cho doanh nghiệp

Trang 7

Từ những vấn đề trên cho thấy: Phân tích Báo cáo tài chính là công cụ hữuích được dùng để xác định giá trị kinh tế, để đánh giá các mặt mạnh, các mặt yếucủa một doanh nghiệp, tìm ra nguyên nhân khách quan, chủ quan, giúp cho từng đốitượng lựa chọn và đưa ra những quyết định phù hợp với mục đích mà họ quan tâm.

1.2 Cơ sở dữ liệu và phương pháp phân tích BCTC doanh nghiệp

1.2.1 Cơ sở dữ liệu phân tích báo cáo tài chính

Báo cáo tài chính là hệ thống báo cáo được lập theo chuẩn mực và chế độ kếtoán hiện hành phản ánh các thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu của đơn vị Mộtbáo cáo tài chính đầy đủ bao gồm: Bảng cân đối kế toán; Báo cáo kết quả kinhdoanh; Báo cáo lưu chuyển tiền tệ; Thuyết minh báo cáo tài chính và Báo cáo vềtình hình biến động vốn chủ sở hữu Tuy nhiên, hệ thống báo cáo tài chính của ViệtNam hiện nay chưa tách riêng báo cáo về tình hình biến động vốn chủ sở hữu màgộp nội dung này vào trong thuyết minh báo cáo tài chính

Các báo cáo sử dụng trong phân tích phải có tính liên tục và thống nhất vềmặt thời gian để đảm bảo tính so sánh được, đồng thời phải là báo cáo lập ở cấp caonhất để đảm bảo thông tin trình bày trong các báo cáo là những thông tin phản ánhtổng quát, toàn diện tình hình tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu ở thời điểmlập báo cáo tài chính, tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh trong kỳ báo cáocủa toàn đơn vị Cụ thể, đối với các khách thể phân tích là công ty mẹ và tập đoàn,báo cáo tài chính sử dụng để phân tích là các báo cáo tài chính hợp nhất, gồm bảngcân đối kế toán hợp nhất, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh hợp nhất, báo cáolưu chuyển tiền tệ hợp nhất và bản thuyết minh báo cáo tài chính hợp nhất; còn vớikhách thể phân tích là các đơn vị kế toán trực thuộc hoặc Tổng công ty nhà nướcthành lập và hoạt động theo mô hình không có công ty con, cần thu thập báo cáo tàichính tổng hợp, gồm Bảng cân đối kế toán tổng hợp, báo cáo kết quả kinh doanhtổng hợp, cáo cáo lưu chuyển tiền tệ tổng hợp và bản thuyết minh báo cáo tài chínhtổng hợp

Trang 8

Theo Chuẩn mực Kế toán quốc tế số 27, Báo cáo tài chính hợp nhất hay báocáo tài chính tổng hợp là báo cáo trong đó tổng hợp toàn bộ vốn đầu tư trong cáccông ty con (công ty thành viên) Nội dung trình bày ở các báo cáo như sau:

* Bảng cân đối kế toán

Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính chủ yếu phản ánh tổng quáttình hình tài sản của doanh nghiệp theo giá trị ghi sổ của tài sản và nguồn hìnhthành tài sản tại một thời điểm nhất định Bảng cân đối kế toán có ý nghĩa rất quantrọng trong công tác quản lý doanh nghiệp Khi xem xét bảng cân đối kế toán đượclập tại một thời điểm nào đó, người đọc thu được thông tin về toàn bộ giá trị tài sảnhiện có của doanh nghiệp theo cơ cấu của tài sản, nguồn vốn và cơ cấu nguồn vốnhình thành các tài sản tại thời điểm đó; khi so sánh bảng cân đối kế toán được lập tạicác thời điểm liên tục, người đọc thu được thông tin về sự biến động tài sản vànguồn vốn của doanh nghiệp Như vậy, người phân tích tài chính sử dụng Bảng cânđối kế toán làm cơ sở cho việc tính toán các chỉ tiêu phân tích như chỉ tiêu về khảnăng thanh toán, chỉ tiêu về tình hình đảm bảo nguồn vốn cho sản xuất kinh doanh,cấu trúc tài chính, từ đó đưa ra nhận xét, đánh giá về khái quát tình hình tài chínhcủa doanh nghiệp cũng như phân tích tình hình sử dụng vốn, khả năng huy độngnguồn vốn vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Bảng cân đối kế toán được kết cấu dưới dạng bảng cân đối số dư các tàikhoản kế toán và xắp xếp trật tự các chỉ tiêu theo yêu cầu quản lý Bảng cân đối kếtoán được chia làm hai phần (có thể kết cấu theo kiểu hai bên hoặc một bên) là phần

“tài sản” và phần “nguồn vốn”

- Phần tài sản: phản ánh toàn bộ giá trị tài sản hiện có tại thời điểm lập báocáo thuộc quyền quản lý và sử dụng của doanh nghiệp Về mặt kinh tế, phần tài sảnphản ánh quy mô và kết cấu các tài sản của doanh nghiệp đang tồn tại dưới mọihình thức hữu hình và vô hình Về mặt pháp lý, số lượng của các chỉ tiêu bên phầntài sản thể hiện số vốn đang thuộc quyền quản lý và sử dụng của doanh nghiệp

- Phần Nguồn vốn: phản ánh những nguồn vốn mà doanh nghiệp quản lý vàđang sử dụng vào thời điểm lập báo cáo Về mặt kinh tế, khi xem xét phần nguồn

Trang 9

vốn các nhà quản lý có thể thấy được thực trạng tài chính của doanh nghiệp đangquản lý và sử dụng, tiềm lực và khả năng tài chính cũng như mức độ độc lập trongkinh doanh của doanh nghiệp Về mặt pháp lý, thể hiện trách nhiệm pháp lý củadoanh nghiệp đối với số vốn được hình thành từ những nguồn khác nhau.

* Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là một báo cáo tài chính phản ánh tómlược các khoản doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp cho mộtnăm kế toán nhất định, bao gồm kết quả hoạt động kinh doanh (hoạt động bán hàng

và cung cấp dịch vụ, hoạt động tài chính) và hoạt động khác

Số liệu trên báo cáo này cung cấp những thông tin tổng hợp nhất về tình hình

và kết quả sử dụng các tiềm năng về vốn, lao động kỹ thuật và kinh nghiệm quản lýcủa doanh nghiệp

Các chỉ tiêu trình bày trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh gồm doanhthu bán hàng và cung cấp dịch vụ, các khoản giảm trừ doanh thu, doanh thu thuần

về bán hàng và cung cấp dịch vụ, giá vốn hàng bán, lợi nhuận gộp về bán hàng vàcung cấp dịch vụ, doanh thu hoạt động tài chính, chi phí tài chính (trong đó có chiphí lãi vay), chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp, lợi nhuận thuần từ hoạtđộng kinh doanh, thu nhập khác, chi phí khác, lợi nhuận khác, tổng lợi nhuận kếtoán trước thuế, chi phí thuế TNDN hiện hành, chi phí thuế TNDN hoãn lại, lợinhuận sau thuế TNDN và lãi cơ bản trên cổ phiếu

Các chỉ tiêu nêu trên trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh làm cơ sởcho việc tính toán các chỉ tiêu về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt làhiệu quả sử dụng vốn

* Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

Lưu chuyển tiền tệ là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh việc hình thành

và sử dụng lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp Thông tin vềlưu chuyển tiền tệ của doanh nghiệp cung cấp cho người sử dụng thông tin có cơ sở

để đánh giá khả năng tạo ra các khoản tiền và việc sử dụng những khoản tiền đã tạo

ra đó trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Trang 10

Chuẩn mực kế toán quốc tế số 07 đã nêu rõ: Báo cáo lưu chuyển tiền tệ khiđược sử dụng kết hợp với các báo cáo tài chính khác, cung cấp thông tin cho phépngười sử dụng đánh giá được sự thay đổi của tài sản thuần của đơn vị, cấu trúc tàichính (bao gồm khả năng thanh toán) và khả năng tác động tới dòng tiền.

Cũng theo chuẩn mực này, báo cáo lưu chuyển tiền tệ phản ánh các luồngtiền trong suốt kỳ báo cáo và phân loại theo nội dung hoạt động là hoạt động là hoạtđộng kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính Việc phân chia theo nộidung hoạt động cho phép người sử dụng đánh giá được tác động của những nộidung hoạt động đó đến vị trí tài chính của doanh nghiệp và quy mô của các khoảntiền và tương đương tiền

Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam, có hai phương pháp lập báo cáo lưuchuyển tiền tệ: phương pháp gián tiếp và phương pháp trực tiếp Hai phương phápnày chỉ khác nhau trong phần I “Lưu chuyển tiền từ hoạt động sản xuất – kinhdoanh”, còn phần II “Lưu chuyển tiền từ hoạt động đầu tư” và phần III “Lưu chuyểntiền từ hoạt động tài chính” thì giống nhau

Theo phương pháp trực tiếp, báo cáo lưu chuyển tiền tệ được lập bằng cáchxác định và phân tích trực tiếp các khoản thực thu, thực chi bằng tiền theo từng nộidung thu, chi trên các sổ kế toán tổng hơp và chi tiết của doanh nghiệp

Theo phương pháp gián tiếp, báo cáo lưu chuyển tiền tệ được lập bằng cáchđiều chỉnh lợi nhuận trước thuế TNDN của hoạt động sản xuất kinh doanh khỏi ảnhhưởng của các khoản mục không phải bằng tiền, các thay đổi trong kỳ của hàng tồnkho, các khoản phải thu, phải trả từ hoạt động kinh doanh và các khoản mà ảnhhưởng về tiền của chúng thuộc hoạt động đầu tư Sau đó, luồng tiền từ hoạt độngđầu tư được tiếp tục điều chỉnh với sự thay đổi vốn lưu động, chi phí trả trước dàihạn và các khoản thu, chi khác từ hoạt động kinh doanh

* Thuyết minh báo cáo tài chính

Bản thuyết minh báo cáo tài chính là một bộ phận hợp thành không thể táchrời của báo cáo tài chính doanh nghiệp dùng để mô tả mang tính tường thuật hoặcphân tích chi tiết các thông tin số liệu đã được trình bày trong bảng cân đối kế toán,

Trang 11

báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ cũng như cácthông tin cần thiết khác giúp cho việc trình bày trung thực, hợp lý báo cáo tài chính.

Những thông tin trình bày trên bản thuyết minh báo cáo tài chính gồm thôngtin về đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp, kỳ kế toán, đơn vị tiền tệ sử dụngtrong kế toán, chuẩn mực và chế độ kế toán áp dụng, các chính sách kế toán ápdụng…, thông tin bổ sung cho các khoản mục trình bày trong bảng cân đối kế toán,thông tin bổ sung cho các khoản mục trình bày trong báo cáo kết quả kinh doanh,thông tin bổ sung cho các khoản mục trình bày trong báo cáo lưu chuyển tiền tệ vàcác thông tin khác

1.2.2 Các phương pháp phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp

Phương pháp phân tích báo cáo tài chính bao gồm hệ thống các công cụ vàbiện pháp nhằm tiếp cận, nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng, các mối quan hệ bêntrong và bên ngoài, các luồng dịch chuyển và biến đổi tình hình hoạt động tài chínhdoanh nghiệp, các chỉ tiêu tổng hợp, chỉ tiêu chi tiết, chỉ tiêu tổng quát chung và cácchỉ tiêu có tính chất đặc thù nhằm đánh giá toàn diện thực trạng hoạt động tài chínhcủa doanh nghiệp

Có nhiều phương pháp phân tích tài chính của doanh nghiệp như: phươngpháp chi tiết, phương pháp so sánh, phương pháp tỷ lệ, phương pháp loại trừ,phương pháp liên hệ,… Nhưng để thông tin phân tích mang tính tổng hợp và toàndiện, người ta có thể sử dụng tổng hợp các phương pháp khác nhau nhằm nghiêncứu các mối quan hệ tài chính trong doanh nghiệp

Trang 12

- Xác định số gốc để so sánh: việc xác định số gốc để so sánh là tuỳ thuộcvào mục đích cụ thể của phân tích Gốc so sánh thường được chọn là gốc về mặtthời gian và không gian:

+ Về mặt thời gian: có thể lựa chọn kỳ kế hoạch, kỳ trước, cùng kỳ này nămtrước hay lựa chọn các điểm thời gian (năm, tháng, tuần, ngày cụ thể) để làm gốc sosánh

+ Về mặt không gian: có thể lựa chọn tổng thể hay lựa chọn các bộ phận củacùng tổng thể, lựa chọn các đơn vị khác có cùng điều kiện tương đương… để làmgốc so sánh

Trong phân tích, các trị số kỳ trước, kế hoạch, hoặc cùng kỳ năm trước gọichung là kỳ gốc; thời kỳ chọn để phân tích gọi là kỳ phân tích

- Điều kiện so sánh: Để đảm bảo tính chất so sánh được của chỉ tiêu qua thờigian, cần đảm bảo thoả mãn các điều kiện so sánh sau đây:

+ Phải đảm bảo sự thống nhất về nội dung kinh tế của chỉ tiêu

+ Phải đảm bảo sự thống nhất về phương pháp tính các chỉ tiêu

+ Phải đảm bảo sự thống nhất về đơn vị tính các chỉ tiêu (kể cả hiện vật, giátrị và thời gian)

Khi so sánh mức đạt được trên các chỉ tiêu ở các đơn vị khác nhau, ngoài cácđiều kiện đã nêu, cần đảm bảo điều kiện khác như: cùng phương hướng kinh doanh,điều kiện kinh doanh tương tự như nhau

- Ngoài ra, cần xác định mục tiêu so sánh trong phân tích các báo cáo tàichính Mục tiêu so sánh trong phân tích là nhằm xác định mức biến động tuyệt đối

và mức biến động tương đối cùng xu hướng biến động của chỉ tiêu phân tích (năngsuất tăng, giá thành giảm)

+ Mức biến động tuyệt đối là kết quả so sánh trị số của chỉ tiêu giữa hai kỳ

Kỳ thực tế với kỳ kế hoạch, hoặc kỳ thực tế với kỳ kinh doanh trước,…

+ Mức biến động tương đối là kết quả so sánh trị số của chỉ tiêu ở kỳ này vớitrị số của chỉ tiêu ở kỳ gốc, nhưng đã được điều chỉnh theo một hệ số của chỉ tiêu cóliên quan, mà chỉ tiêu liên quan này quyết định quy mô của chỉ tiêu phân tích

Trang 13

Nội dung so sánh:

- So sánh giữa số thực tế kỳ phân tích với số thực tế của kỳ kinh doanh trướcnhằm xác định rõ xu hướng thay đổi về tình hình hoạt động tài chính của doanhnghiệp

- So sánh giữa số thực tế kỳ phân tích với số kỳ kế hoạch nhằm xác định mứcphân đấu hoàn thành nhiệm vụ kế hoạch trong mọi mặt của hoạt động tài chính củadoanh nghiệp

- So sánh giữa số liệu của doanh nghiệp với số liệu trung bình tiên tiến củangành nhằm đánh giá tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tốthay xấu, khả quan hay không khả quan

Quá trình phân tích theo phương pháp so sánh có thể thực hiện bằng ba hìnhthức: so sánh theo chiều ngang, so sánh theo chiều dọc, so sánh xác định xu hướng

và tính chất liên hệ giữa các chỉ tiêu

1.2.2.2 Phương pháp loại trừ

Loại trừ là một phương pháp nhằm xác định mức độ ảnh hưởng lần lượt từngnhân tố đến chỉ tiêu phân tích và được thực hiện bằng cách: khi xác định sự ảnhhưởng của nhân tố này thì phải loại trừ ảnh hưởng của các nhân tố khác

Để xác định được mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến kết quả của cáchoạt động tài chính, phương pháp loại trừ thường bao gồm hai dạng: phương phápthay thế liên hoàn và phương pháp số chênh lệch

- Phương pháp thay thế liên hoàn được sử dụng chủ yếu trong trường hợp cácnhân tố có quan hệ với chỉ tiêu phân tích được biểu diễn dưới dạng biểu thức đại số.Bởi vậy, khi xét ảnh hưởng của nhân tố này cần phải lần lượt thay thế các chỉ tiêu ở

kỳ gốc bằng các chỉ tiêu ở kỳ phân tích theo một trình tự nhất định sắp xếp nhân tố,khi nhân tố chưa thay đổi thì trị số vẫn giữ nguyên ở kỳ gốc, khi nhân tố đã thay đổithì trị số chuyển sang kỳ phân tích

Phương pháp thay thế liên hoàn có hạn chế là khi nghiên cứu sự thay đổi củamột nhân tố không liên hệ với các nhân tố khác Nhưng thực tế trong quá trình kinhdoanh thì sự thay đổi của nhân tố này kéo theo sự thay đổi của nhân tố khác

Trang 14

- Phương pháp số chênh lệch là trường hợp đặc biệt của phương pháp thaythế liên hoàn Phương pháp này được sử dụng khi các nhân tố có quan hệ với chỉtiêu phân tích được biểu diễn dưới dạng tích; các nhân tố được sắp xếp theo thứ tựnhân tố số lượng rồi đến nhân tố chất lượng Khi phân tích sự ảnh hưởng của mộtnhân tố ta lấy phần chênh lệch của nhân tố đó nhân với trị số các nhân tố khác, nhân

tố chưa thay đổi trị số giữ nguyên ở kỳ gốc, nhân tố đã thay đổi trị số chuyển sang

kỳ phân tích, cứ như thế cho đến hết

1.2.2.3 Phương pháp liên hệ cân đối

Cơ sở của phương pháp liên hệ cân đối là sự cân bằng về lượng giữa hai mặtcủa các yếu tố và quá trình kinh doanh Dựa vào nguyên lý của sự cân bằng vềlượng giữa hai mặt của các yếu tố và quá trình kinh doanh, người ta có thể xây dựngphương pháp phân tích mà trong đó, các chỉ tiêu nhân tố có quan hệ với chỉ tiêuphân tích được biểu hiện dưới dạng là tổng số hoặc hiệu số Bởi vậy, để xác định sựảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến chỉ tiêu phân tích chỉ cần xácđịnh mức chênh lệch của từng nhân tố giữa hai kỳ (thực tế so với kế hoạch, hoặcthực tế so với các kỳ kinh doanh trước), giữa các nhân tố mang tính chất độc lập

1.2.2.4 Một số phương pháp khác

* Phương pháp phân tích tài chính Dupont:

Trong phân tích tài chính, người ta thường vận dụng mô hình Dupont đểphân tích mối liên hệ giữa các chỉ tiêu tài chính Chính nhờ sự phân tích mối liênkết giữa các chỉ tiêu mà người ta có thể phát hiện ra những nhân tố đã ảnh hưởngđến chỉ tiêu phân tích theo một trình tự logic chặt chẽ Chẳng hạn, vận dụng môhình Dupont phân tích hiệu quả kinh doanh trong mối liên hệ giữa các yếu tố đầuvào và kết quả đầu ra của doanh nghiệp trong một kỳ kinh doanh nhất định

* Phương pháp đồ thị:

Đây là phương pháp dùng đồ thị để minh họa các kết quả tài chính đã tínhtoán được trong quá trình phân tích Khác với các phương pháp trên, phương phápnày cho người quan sát một cái nhìn trực quan, thể hiện một cách rõ ràng, mạch lạcdiễn biến của các đối tượng nghiên cứu qua từng thời kỳ Trên cơ sở đó, các nhà

Trang 15

phân tích dễ dàng phân tích các chỉ tiêu tài chính để tìm ra mức độ ảnh hưởng cũngnhư nguyên nhân của sự biến đổi của các chỉ tiêu đó.

1.3 Nội dung phân tích BCTC doanh nghiệp

1.3.1 Phân tích cấu trúc tài chính

Cấu trúc tài chính phản ánh cơ cấu tài sản, cơ cấu nguồn vốn và mối quan hệcân bằng cấu trúc tài sản và cấu trúc nguồn vốn của doanh nghiệp Phân tích cấutrúc tài chính là phân tích khái quát tình hình đầu tư và huy động vốn của doanhnghiệp, chỉ ra các phương thức tài trợ tài sản để làm rõ những dấu hiệu về cân bằngtài chính

a) Phân tích cơ cấu tài sản

- Phân tích cơ cấu tài sản cho thấy mức độ biến động của từng loại tài sảntrong tổng tài sản, trên cơ sở đó, nhận ra khoản mục nào có sự biến động lớn để tậptrung phân tích và tìm nguyên nhân

Phân tích cơ cấu tài sản của doanh nghiệp được thực hiện bằng cách tính ra

và so sánh tình hình biến động giữa kỳ phân tích với kỳ gốc về tỷ trọng của từng bộphận tài sản chiếm trong tổng số tài sản Tỷ trọng của từng bộ phận tài sản chiếmtrong tổng số tài sản được xác định như sau [10, tr.84] :

Tỷ trọng của từng Giá trị của từng bộ phận tài sản

bộ phận tài sản = x 100% (1.1)

Tổng tài sản

Bên cạnh việc so sánh sự biến động trên tổng số tài sản cũng như từng loạitài sản (tài sản ngắn hạn, tài sản dài hạn, tiền và các khoản tương đương tiền, cáckhoản đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu ngắn hạn, hàng tồn kho, tài sảnngắn hạn khác, các khoản phải thu dài hạn, ) giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc, cácnhà phân tích còn phải xem xét tỷ trọng từng loại tài sản chiếm trong tổng số và xuhướng biến động của chúng theo thời gian để thấy được mức độ hợp lý của việcphân bổ

Khi phân tích cơ cấu tài sản cần lưu ý những điểm sau:

- Về tiền và các khoản tương đương tiền:

Trang 16

“Tiền và các khoản tương đương tiền” là chỉ tiêu mang tính thời điểm, khixem xét cần liên hệ với tình hình biến động của chỉ tiêu “ Hệ số khả năng thanhtoán nợ ngắn hạn của tiền và các khoản tương đương tiền” Đồng thời căn cứ vàonhu cầu thực tế về tiền của doanh nghiệp trong từng giai đoạn để nhận xét Khoảnmục này có thể tăng (hoặc giảm) không phải do ứ đọng (hay thiếu tiền) mà có thể

do doanh nghiệp đang có kế hoạch tập trung tiền để đầu tư mua sắm vật tư, tài sản,

… hay do doanh nghiệp vừa đầu tư vào một số lĩnh vực kinh doanh, …

- Về đầu tư tài chính:

Đầu tư tài chính là một hoạt động quan trọng của doanh nghiệp trong nềnkinh tế thị trường nhằm phát huy hết mọi tiềm năng sẵn có cũng như những lợi thếcủa doanh nghiệp để nâng cao hiệu quả kinh doanh, khẳng định vị thế của doanhnghiệp Đầu tư tài chính trong doanh nghiệp bao gồm nhiều loại, nhưng chủ yếu làcác hoạt động đầu tư góp vốn (đầu tư vào công ty con, đầu tư liên doanh,…) và đầu

tư chứng khoán ngắn hạn, dài hạn

Khi xem xét khoản đầu tư tài chính cần liên hệ với chính sách đầu tư củadoanh nghiệp cũng như môi trường đầu tư trong từng thời kỳ; bởi vì không phảidoanh nghiệp nào cũng có điều kiện đầu tư tài chính Hơn nữa, môi trường đầu tưcũng ảnh hưởng nhiều đến tỷ trọng của khoản đầu tư này

- Về các khoản phải thu:

Các khoản phải thu của doanh nghiệp gồm nhiều loại, trong đó chủ yếu làcác khoản phải thu người mua và tiền đặt trước cho người bán Đây là số vốn (tàisản) của doanh nghiệp nhưng bị người mua và người bán chiếm dụng Khoản phảithu này tăng (hoặc giảm do nhiều nguyên nhân khác nhau Nên, khi xem xét nộidung này cần liên hệ với phương thức tiêu thụ (bán buôn, bán lẻ), với chính sách tíndụng bán hàng (tín dụng ngắn hạn, tín dụng dài hạn), với chính sách thanh toán tiềnhàng (chiết khấu thanh toán), với khả năng quản lý nợ cũng như năng lực tài chínhcủa khách hàng,… để nhận xét

- Về hàng tồn kho:

Trang 17

Khi xem xét tỷ trọng hàng tồn kho chiếm trong tổng số tài sản cần liên hệ vớingành nghề và lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp, với chính sách dự trữ với tínhthời vụ của kinh doanh và chu kỳ sống của sản phẩm, hàng hoá Trong các doanhnghiệp kinh doanh thương mại, tỷ trọng hàng tồn kho thường lớn hơn do đối tượngkinh doanh của các doanh nghiệp này là hàng hoá; ngược lại trong các doanhnghiệp kinh doanh dịch vụ (như khách sạn, giải trí, ), tỷ trọng hàng tồn kho thườngchiếm tỷ trọng thấp Đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh mang tính thời

vụ, vào những thời điểm nhất định trong năm, tỷ trọng hàng tồn kho thường rất cao

do yêu cầu dự trữ thời vụ; song vào những thời điểm khác, lượng hàng tồn kho lạiquá thấp Ngoài ra, khi phân tích tỷ trọng hàng tồn kho cần xem xét trong mốitương quan với tăng trưởng của doanh nghiệp

- Về tài sản cố định:

Tỷ trọng TSCĐ chiếm trong tổng số tài sản phụ thuộc vào nhiều yếu tố như:ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh; chính sách đầu tư; chu kỳ kinh doanh vàphương pháp khấu hao mà doanh nghiệp áp dụng

Do vậy, khi xem xét tỷ trọng của TSCĐ chiếm trong tổng số tài sản, ngoàiviệc liên hệ với ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp thì nhà phântích cần liên hệ với tình hình đầu tư, với chu kỳ kinh doanh và phương pháp khấuhao để rút ra nhận xét thích hợp Đồng thời, cần phải xem xét tỷ trọng của từng bộphận TSCĐ chiếm trong tổng số tài sản Đặc biệt, cần chú trọng đến một số bộ phậnTSCĐ vô hình như: nhãn hiệu hàng hoá, quyền phát hành, bản quyền, bằng sángchế, vì giá trị các bộ phận này thường có xu hướng gia tăng trong nền kinh tế thịtrường

- Về bất động sản đầu tư:

Bất động sản đầu tư trong doanh nghiệp bao gồm quyền sử dụng đất, nhàhoặc một phần của nhà hoặc cả nhà và đất, cơ sở hạ tầng Khi xem xét tỷ trọng củabất động sản đầu tư chiếm trong tổng số tài sản cần liên hệ với các chính sách vàchủ trương về kinh doanh bất động sản của doanh nghiệp cũng như hiệu quả kinhdoanh lĩnh vực này để đánh giá

Trang 18

b) Phân tích cơ cấu nguồn vốn

Để tiến hành hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp cần xác định nhu cầu đầu

tư, tiến hành tạo lập, tìm kiếm, tổ chức và huy động vốn Doanh nghiệp có thể huyđộng vốn từ nhiều nguồn khác nhau; trong đó có thể quy về hai nguồn chính là vốnchủ sở hữu và nợ phải trả

Vốn chủ sở hữu là số vốn của các chủ sở hữu, các nhà đầu tư đóng góp banđầu và bổ sung thêm trong quá trình kinh doanh Ngoài ra, vốn chủ sở hữu còn baogồm một số khoản khác phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh như: chênhlệch tỷ giá hối đoái, chênh lệch đánh giá lại tài sản, lợi nhuận sau thuế chưa phânphối, các quỹ doanh nghiệp, Vốn chủ sở hữu không phải là các khoản nợ nêndoanh nghiệp không phải cam kết thanh toán

Nợ phải trả phản ánh số vốn mà doanh nghiệp đi chiếm dụng trong quá trìnhhoạt động kinh doanh Do đó, doanh nghiệp phải cam kết thanh toán và có tráchnhiệm thanh toán Nợ phải trả cũng bao gồm nhiều loại khác nhau; trong đó, phântheo thời gian thanh toán được áp dụng phổ biến Theo cách này, toàn bộ nợ phải trảcủa doanh nghiệp được chia thành nợ phải trả ngắn hạn (là các khoản nợ mà doanhnghiệp có trách nhiệm phải thanh toán trong vòng một năm hay một chu kỳ kinhdoanh) và nợ phải trả dài hạn (là các khoản nợ mà doanh nghiệp có trách nhiệmphải thanh toán ngoài một năm hay một chu kỳ kinh doanh)

Qua phân tích cơ cấu nguồn vốn, các nhà quản lý nắm được cơ cấu vốn huyđộng, biết được trách nhiệm của doanh nghiệp đối với các nhà cho vay, nhà cungcấp, người lao động, ngân sách nhà nước, về số tài sản tài trợ bằng nguồn vốn của

họ Đồng thời, các nhà quản lý cũng nắm được mức độ độc lập về tài chính cũngnhư xu hướng biến động của cơ cấu nguồn vốn huy động

Phân tích cơ cấu nguồn vốn cũng tiến hành tương tự như phân tích cơ cấu tàisản Trước hết, cần tính ra và so sánh tình hình biến động giữa kỳ phân tích với kỳgốc về tỷ trọng của từng bộ phận nguồn vốn chiếm trong tổng số nguồn vốn[10, tr.85]:

Trang 19

Tỷ trọng của từng Giá trị của từng bộ phận nguồn vốn

bộ phận nguồn vốn = x 100% (1.2)

Tổng số nguồn vốn

Bên cạnh việc so sánh sự biến động trên tổng số nguồn vốn cũng như từngloại nguồn vốn (vốn chủ sở hữu, nợ phải trả) giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc, cácnhà phân tích còn phải xem xét tỷ trọng từng loại nguồn vốn trong tổng số và xuhướng biến động của chúng theo thời gian để thấy được mức độ hợp lý và độ antoàn trong việc huy động vốn của doanh nghiệp

Qua việc xem xét cơ cấu nguồn vốn và sự biến động về cơ cấu nguồn vốncủa nhiều kỳ kinh doanh, gắn với điều kiện kinh doanh cụ thể, nhà quản lý sẽ cóquyết định huy động nguồn vốn nào với mức độ bao nhiêu là hợp lý, đảm bảo hiệuquả kinh doanh cao nhất

Nếu nguồn vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng cao trong tổng số nguồn vốn thìdoanh nghiệp có đủ khả năng tự đảm bảo về mặt tài chính và mức độ độc lập củadoanh nghiệp đối với chủ nợ (ngân hàng, nhà cung cấp, ) là cao và ngược lại

c) Phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn [10, tr.87]:

Để phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn các nhà phân tíchthường so sánh các chỉ tiêu:

- Hệ số nợ so với tài sản:

Nợ phải trả

Hệ số nợ so với tài sản = (1.3) Tài sản

Chỉ tiêu này phản ánh mức độ tài trợ tài sản của doanh nghiệp bằng cáckhoản nợ Trị số của chỉ tiêu càng cao chứng tỏ mức độ phụ thuộc của doanh nghiệpvào chủ nợ càng lớn, mức độ độc lập về mặt tài chính càng thấp

- Hệ số tài sản so với vốn CSH:

Tài sản

Hệ số tài sản so với vốn chủ sở hữu = (1.4) Vốn chủ sở hữu

Trang 20

Chỉ tiêu này phản ánh mức độ đầu tư tài sản của doanh nghiệp bằng vốn chủ

sở hữu Trị số của chỉ tiêu này nếu càng lớn hơn 1, chứng tỏ mức độ độc lập về tàichính của doanh nghiệp càng giảm dần vì tài sản của doanh nghiệp được tài trợ chỉmột phần bằng vốn chủ sở hữu và ngược lại

1.3.2 Phân tích tình hình đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh

Phân tích tình hình đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh chính là việc xemxét mối quan hệ cân đối giữa tài sản và nguồn hình thành tài sản của doanh nghiệphay chính là việc phân tích cân bằng tài chính của doanh nghiệp

Xem xét trên góc độ ổn định về nguồn tài trợ tài sản, toàn bộ tài trợ tài sản(nguồn vốn) của doanh nghiệp được chia thành nguồn tài trợ thường xuyên vànguồn tài trợ tạm thời Nguồn tài trợ thường xuyên là nguồn tài trợ mà doanhnghiệp được sử dụng thường xuyên, ổn định và lâu dài vào hoạt động kinh doanhgồm vốn chủ sở hữu và vốn vay, vốn thanh toán dài hạn, trung hạn Nguồn tài trợtạm thời là nguồn tài trợ mà doanh nghiệp tạm thời sử dụng vào hoạt động kinhdoanh trong một thời gian ngắn, bao gồm: các khoản vay ngắn hạn, nợ ngắn hạn,các khoản chiếm dụng bất hợp pháp của người bán, người mua, người lao động,

Dưới góc độ này, cân bằng tài chính được thể hiện qua đẳng thức [7, tr.202]:Tài sản

ngắn hạn + Tài sảndài hạn = Nguồn tàitrợ thường

Trang 21

đủ nhu cầu về tài sản thì doanh nghiệp cần phải có biện pháp huy động và sử dụngphù hợp Tiếp theo, cần tiến hành xem xét tình hình biến động của bản thân nguồntài trợ trên tổng số cũng như từng loại giữa cuối kỳ so với đầu kỳ và dựa vào sựbiến động của bản thân từng nguồn tài trợ để rút ra nhận xét.

- Đầu tư tài chínhdài hạn

- Tài sản dài hạnkhác

Nguồn vốn chủ sở hữu

Nguồn tài trợ thường xuyên

Tổng số nguồn tài trợ

- Vay dài hạn;

- Nợ phải trả dài hạn;

- Vay trung hạn;

- Nợ phải trả trunghạn

- Đầu tư tài chínhngắn hạn;

- Phải thu ngắnhạn;

- Hàng tồn kho;

- Tài sản ngắn hạnkhác

- Vay ngắn hạn;

- Nợ phải trả ngắnhạn;

- Chiếm dụng bấthợp pháp

Nguồn tài trợ tạm thời (nợ ngắn hạn)

Sơ đồ 1.1: Cân bằng tài chính của Doanh nghiệp

Biến đổi cân bằng tài chính ở trên ta được [7, tr.203]:

Về thực chất, nguồn tài trợ tạm thời cũng chính là số nợ ngắn hạn phải trả

Do vậy, vế trái của đẳng thức trên cũng chính là chỉ tiêu “Vốn hoạt động thuần”.Vốn hoạt động thuần là chỉ tiêu phản ánh số vốn tối thiểu của doanh nghiệp được sửdụng để duy trì những hoạt động diễn ra thường xuyên tại doanh nghiệp Với số vốnhoạt động thuần này, doanh nghiệp có khả năng bảo đảm chi trả các khoản chi tiêu

Trang 22

mang tính chất thường xuyên cho các hoạt động diễn ra mà không cần phải vaymượn hay chiếm dụng bất kỳ một khoản nào khác.

Như vậy, vốn hoạt động thuần có thể tính theo 2 cách sau [7, tr.203 - 204]:

VVốn hoạt động thuần = Tài sản ngắn hạn - - Nợ ngắn hạn (1.7)

Với cách xác định trên, chỉ tiêu “Vốn hoạt động thuần” có thể có giá trị < 0hay >= 0 Cụ thể:

- Trường hợp Vốn hoạt động thuần < 0:

Vốn hoạt động thuần < 0 khi số tài sản dài hạn > nguồn tài trợ thường xuyênhay số nợ ngắn hạn > số tài sản ngắn hạn Khi đó, nguồn tài trợ thường xuyên củadoanh nghiệp không đủ để tài trợ cho tài sản dài hạn nên phần thiếu hụt doanhnghiệp phải sử dụng một phần nợ ngắn hạn để bù đắp Do đó, cân bằng tài chínhtrong trường hợp này đặt doanh nghiệp vào tình trạng chịu áp lực nặng nề về thanhtoán nợ ngắn hạn, cán cân thanh toán mất cân bằng (“cân bằng xấu”) Khi vốn hoạtđộng thuần càng nhỏ hơn 0, doanh nghiệp càng khó khăn trong thanh toán cáckhoản nợ ngắn hạn và nguy cơ phá sản luôn luôn rình rập

- Trường hợp Vốn hoạt động thuần bằng (=) 0:

Vốn hoạt động thuần bằng 0 xảy ra khi số tài sản dài hạn bằng nguồn tài trợthường xuyên hay số nợ ngắn hạn đúng bằng số tài sản ngắn hạn Khi đó, nguồn tài

Trang 23

trợ thường xuyên của doanh nghiệp vừa đủ để tài trợ cho tài sản dài hạn nên doanhnghiệp không phải sử dụng nợ ngắn hạn để bù đắp Vì vậy, cân bằng tài chính trongtrường hợp này tương đối bền vững; tuy nhiên tính ổn định vẫn chưa cao, nguy cơxẩy ra “cân bằng xấu” vẫn tiềm tàng.

- Trường hợp vốn hoạt động thuần > 0:

Vốn hoạt động thuần > 0 khi số tài sản dài hạn < nguồn tài trợ thường xuyênhay số nợ ngắn hạn < số tài sản ngắn hạn Trong trường hợp này, nguồn tài trợthường xuyên của doanh nghiệp không những được sử dụng để tài trợ cho tài sảndài hạn mà còn tài trợ một phần cho tài sản ngắn hạn Vì vậy, cân bằng tài chínhtrong trường hợp này được coi là “cân bằng tốt”, an toàn và bền vững Bởi vì, doanhnghiệp muốn hoạt động không bị gián đoạn thì cần thiết phải duy trì một mức vốnhoạt động thuần hợp lý để thỏa việc thanh toán các khoản nợ ngắn hạn và dự trữhàng tồn kho Vốn hoạt động thuần của doanh nghiệp càng lớn thì khả năng thanhtoán của doanh nghiệp càng cao Ngược lại, khi vốn hoạt động thuần giảm sút thìdoanh nghiệp mất dần khả năng thanh toán

Để có căn cứ đánh giá tính ổn định và bền vững của cân bằng tài chính, khiphân tích, các nhà phân tích cần xem xét sự biến động của vốn hoạt động thuầntrong nhiều năm liên tục Điều này vừa khắc phục được những sai lệch về số liệu dotính thời vụ hay tính chu kỳ trong kinh doanh của doanh nghiệp, lại vừa cho phép

dự đoán được tính ổn định và cân bằng tài chính trong tương lai

Ngoài các nội dung phân tích nói trên (phân tích cơ cấu tài sản, cơ cấu nguồnvốn, mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn và cân bằng tài chính), để có nhận xétxác đáng và chính xác về tình hình bảo đảm vốn khi phân tích tình hình bảo đảmvốn cho hoạt động kinh doanh, các nhà phân tích còn tính ra và so sánh các chỉ tiêusau [7, tr.206 - 207]:

- Hệ số tài trợ thường xuyên:

Nguồn tài trợ thường xuyên

Hệ số tài trợ thường xuyên = (1.9) Tổng nguồn vốn

Trang 24

Chỉ tiêu “Hệ số tài trợ thường xuyên” cho biết, so với tổng nguồn tài trợ tàisản của doanh nghiệp (nguồn vốn), nguồn tài trợ thường xuyên chiếm mấy phần.Trị số của chỉ tiêu này càng lớn, tính ổn định và cân bằng tài chính của doanhnghiệp càng cao và ngược lại.

- Hệ số tài trợ tạm thời:

Nguồn tài trợ tạm thời

Hệ số tài trợ tạm thời = (1.10) Tổng nguồn vốn

Chỉ tiêu “Hệ số tài trợ tạm thời” cho biết, so với tổng nguồn tài trợ tài sảncủa doanh nghiệp (nguồn vốn), nguồn tài trợ tạm thời chiếm mấy phần Trị số củachỉ tiêu này càng nhỏ, tính ổn định và cân bằng tài chính của doanh nghiệp càng cao

và ngược lại

- Hệ số vốn chủ sở hữu so với nguồn tài trợ thường xuyên:

Vốn chủ sỡ hữu

Hệ số vốn chủ sở hữu so với = (1.11) nguồn vốn thường xuyên Nguồn tài trợ thường xuyên

Chỉ tiêu này cho biết, trong tổng số nguồn tài trợ thường xuyên, số vốn chủ

sở hữu chiếm mấy phần Trị số của chỉ tiêu này càng lớn, tính tự chủ và độc lập vềtài chính của doanh nghiệp càng cao và ngược lại

- Hệ số giữa nguồn tài trợ thường xuyên so với tài sản dài hạn:

Nguồn vốn thường xuyên

Hệ số giữa nguồn vốn thường xuyên = (1.12)

so với tài sản dài hạn Tài sản dài hạn

Chỉ tiêu này cho biết, mức độ tài trợ tài sản dài hạn bằng nguồn vốn thườngxuyên (nguồn tài trợ thường xuyên) Trị số của chỉ tiêu này càng lớn hơn 1, tính ổnđịnh và bền vững về tài chính của doanh nghiệp càng cao và ngược lại, trị số của chỉtiêu này càng nhỏ hơn 1, doanh nghiệp càng bị áp lực nặng nề trong thanh toán nợngắn hạn, cân bằng tài chính trong tình trạng xấu, không ổn định

- Hệ số giữa tài sản ngắn hạn so với nợ ngắn hạn:

Trang 25

1.3.3 Phân tích tình hình công nợ và khả năng thanh toán

a) Phân tích tình hình công nợ của doanh nghiệp

Phân tích tình hình công nợ của doanh nghiệp là việc xem xét tình hình thanhtoán các khoản phải thu, các khoản phải trả của doanh nghiệp Qua đó, các nhà phântích có thể đánh giá được chất lượng và hiệu quả hoạt động tài chính Khi hoạt độngtài chính của doanh nghiệp tốt thì tình hình chiếm dụng vốn của nhau thấp, khảnăng thanh toán dồi dào Ngược lại, khi hoạt động tài chính kém dẫn đến tình trạngchiếm dụng vốn của nhau nhiều, các khoản phải thu, nợ phải trả sẽ dây dưa kéo dài

Về mặt tổng thể, khi phân tích tình hình công nợ, các nhà phân tích thường tính ra

và so sánh giữa kỳ phân tích với kỳ gốc các chỉ tiêu phản ánh các khoản phải thu,phải trả của doanh nghiệp

- Tỷ lệ các khoản nợ phải thu so với các khoản nợ phải trả (%) [10, tr.150]: Các khoản phải thu

Tỷ lệ phải thu so với = x 100 (1.14) phải trả Các khoản phải trả

Chỉ tiêu này phản ánh quan hệ giữa các khoản phải thu so với nợ phải trả củadoanh nghiệp Nếu tỷ lệ các khoản nợ phải thu so với nợ phải trả lớn hơn 100%,chứng tỏ vốn của doanh nghiệp bị chiếm dụng nhiều Ngược lại, chỉ tiêu này càngnhỏ 100%, chứng tỏ doanh nghiệp chiếm dụng vốn nhiều Thực tế cho thấy số đichiếm dụng lớn hơn hay nhỏ hơn đều phản ánh tình hình tài chính không lành mạnh

và đều ảnh hưởng đến uy tín, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

- Số vòng quay phải thu của khách hàng [10, tr.137]:

Trang 26

Doanh thu (hoặc doanh thu thuần)

Số vòng phải thu = (1.15) của khách hàng Số dư bình quân phải thu của khách hàng

Trong đó:

Số dư phải thu của khách hàng đầu kỳ và cuối kỳ

Số dư bình quân =

phải thu của khách hàng 2

Chỉ tiêu “Số vòng quay phải thu của khách hàng” cho biết trong kỳ phân tíchcác khoản phải thu quay được bao nhiêu vòng, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ doanhnghiệp thu hồi tiền hàng kịp thời, ít bị chiếm dụng vốn Tuy nhiên, nếu chỉ tiêu nàycao quá có thể phương thức thanh toán tiền của doanh nghiệp quá chặt chẽ, khi đó

sẽ ảnh hưởng đến khối lượng hàng tiêu thụ Chỉ tiêu này cho biết mức độ hợp lý cáckhoản phải thu đối với từng mặt hàng cụ thể của doanh nghiệp trên thị trường

Bên cạnh đó ta còn xác định thời gian của một vòng quay phải thu:

Thời gian của kỳ phân tích

Thời gian của 1 vòng quay = (1.16) phải thu của khách hàng Số vòng quay phải thu của khách hàng

Chỉ tiêu này càng ngắn chứng tỏ tốc độ thu hồi tiền hàng càng nhanh, doanhnghiệp ít bị chiếm dụng vốn Ngược lại thời gian của 1 vòng quay càng dài, chứng

tỏ tốc độ thu hồi tiền hàng càng chậm, số vốn doanh nghiệp bị chiếm dụng nhiều

- Số vòng quay phải trả người bán [10, tr.144 – 145]:

Số vòng quay phải trả người bán là chỉ tiêu phản ánh trong kỳ phân tích cáckhoản phải trả quay được bao nhiêu vòng Chỉ tiêu này được xác định như sau:

Giá vốn hàng bán

Số vòng quay = (1.17) phải trả người bán Số dư bình phải trả người bán

Trong đó:

Số dư bình quân phải trả người bán được tính như sau:

Số dư phải trả người bán đầu kỳ và cuối kỳ

Số dư bình quân =

phải trả người bán 2

Trang 27

Chỉ tiêu “Số vòng quay phải trả người bán” càng lớn chứng tỏ doanh nghiệpthanh toán tiền hàng kịp thời, ít đi chiếm dụng vốn, uy tín của doanh nghiệp đượcnâng cao Ngược lại, chỉ tiêu này càng thấp chứng tỏ tốc độ thanh toán tiền hàngcàng chậm, DN đi chiếm dụng vốn nhiều, ảnh hưởng đến uy tín của doanh nghiệp.

Chỉ tiêu này cũng thường phụ thuộc vào đặc điểm kinh doanh của các doanhnghiệp, ngành nghề kinh doanh và tính chất cụ thể của các yếu tố đầu vào mà doanhnghiệp cung ứng

Bên cạnh đó ta còn xác định thời gian của một vòng quay các khoản phải trả: Thời gian của kỳ phân tích

Thời gian của 1 vòng quay = (1.18) phải trả người bán Số vòng quay phải trả người bán

Thời gian 1 vòng quay phải trả người bán càng ngắn, chứng tỏ tốc độ thanhtoán tiền hàng càng nhanh, khả năng tài chính của doanh nghiệp dồi dào Nếu chỉtiêu này quá cao sẽ dẫn tới doanh nghiệp đi chiếm dụng vốn nhiều, công nợ sẽ dâydưa kéo dài, ảnh hưởng đến chất lượng tài chính và uy tín của doanh nghiệp

Ngoài việc phân tích các chỉ tiêu trên, khi phân tích tình hình công nợ phảithu, công nợ phải trả trong kỳ của doanh nghiệp, các nhà phân tích còn tiến hành sosánh các khoản nợ phải thu, nợ phải trả giữa cuối kỳ với đầu kỳ, chỉ tiêu tổng hợpcũng như các chỉ tiêu chi tiết và số tiền phải thu, phải trả quá hạn theo thời hạn để từ

đó nhận xét sự biến động của mỗi chỉ tiêu

b) Phân tích khả năng thanh toán

Khả năng thanh toán của doanh nghiệp cho biết năng lực tài chính trước mắt

và lâu dài của doanh nghiệp Do đó, khi phân tích khả năng thanh toán các nhà quản

lý đánh giá được sức mạnh tài chính hiện tại, tương lai cũng như dự đoán được tiềmlực trong thanh toán và an ninh tài chính của doanh nghiệp

Các nhà phân tích thường sử dụng những chỉ tiêu phản ánh khả năng thanhtoán chủ yếu sau:

Trang 28

Bảng 1.1: Chỉ tiêu phân tích khả năng thanh toán của Doanh nghiệp

1 Hệ số khả năng thanh

toán ngay Tiền và các khoản tươngđương tiền Khả năng thanh toán ngaycác khoản công nợ ngắn hạn

Nợ ngắn hạn

2 Hệ số khả năng thanh

toán nhanh Tài sản ngắn hạn – hàngtồn kho Mức độ thanh toán nhanhcủa các tài sản dễ chuyển đổi

thành tiền đối với các khoản

Tổng số nợ phải trả

5 Hệ số khả năng thanh

toán nợ dài hạn

Tài sản dài hạn Khả năng thanh toán nợ dài

hạn đối với toàn bộ giá trịthuần của TSCĐ và đầu tưdài hạn…

Nợ dài hạn

- Chỉ tiêu “Hệ số khả năng thanh toán ngay” cao thì chứng tỏ khả năng thanhtoán của doanh nghiệp dồi dào, tuy nhiên nếu chỉ tiêu này cao quá và kéo dài có thểdẫn tới vốn bằng tiền của doanh nghiệp nhàn rỗi, ứ đọng, dẫn đến hiệu quả sử dụngvốn thấp Nếu chỉ tiêu này quá thấp, kéo dài chứng tỏ doanh nghiệp không có đủkhả năng thanh toán các khoản công nợ ngắn hạn, dấu hiệu rủi ro tài chính xuấthiện, nguy cơ phá sản có thể xảy ra

- “Hệ số khả năng thanh toán nhanh”: Nếu chỉ tiêu này cao quá, kéo dài cũngkhông tốt, có thể dẫn tới hiệu quả sử dụng vốn giảm Chỉ tiêu này thấp quá, kéo dàicàng không tốt, xuất hiện rủi ro tài chính, nguy cơ phá sản có thể xảy ra

- “Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn”: Chỉ tiêu này càng cao khả năngthanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp càng tốt và ngược lại Chỉ tiêu này caochứng tỏ một bộ phận của tài sản ngắn hạn được đầu tư từ nguồn vốn ổn định, đây

là nhân tố làm tăng tính tự chủ trong hoạt động tài chính Nếu chỉ tiêu này thấp, kéodài có thể dẫn đến doanh nghiệp phụ thuộc tài chính, ảnh hưởng không tốt đến hoạtđộng kinh doanh

Trang 29

- “Hệ số khả năng thanh toán tổng quát” càng cao càng tốt, đó là nhân tốquan trọng hấp dẫn các tổ chức tín dụng cho vay tiền Khả năng thanh toán tổngquát quá thấp kéo dài có thể dẫn tới doanh nghiệp bị giải thể hoặc phá sản.

- “Hệ số khả năng thanh toán nợ dài hạn”: Chỉ tiêu này càng cao khả năngthanh toán dài hạn trong tương lai của doanh nghiệp càng tốt sẽ góp phần ổn địnhtình hình tài chính

1.3.4 Phân tích hiệu quả kinh doanh

Hiệu quả kinh doanh là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh trình độ sửdụng các nguồn vật lực, tài chính của doanh nghiệp để đạt hiệu quả cao nhất

Phân tích hiệu quả kinh doanh cần phải kết hợp nhiều chỉ tiêu hiệu quả ở các

bộ phận, các mặt của quá trình kinh doanh như chỉ tiêu hiệu quả sử dụng tài sản dàihạn, tài sản ngắn hạn, nguồn vốn chủ sở hữu, nguồn vốn vay, chi phí… Ta cũng cóthể phân tích từ chỉ tiêu tổng hợp đến chỉ tiêu chi tiết, từ đó khái quát hóa để đưa racác thông tin hữu ích là cơ sở đưa ra các quyết định phục vụ quá trình kinh doanh

Nội dung và các chỉ tiêu phân tích hiệu quả kinh doanh bao gồm:

a) Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản [10, tr.191]:

Hiệu quả kinh doanh của tài sản được tính toán bằng nhiều chỉ tiêu nhưngphổ biến là các chỉ tiêu sau:

- Số vòng quay của tổng tài sản:

Tổng doanh thu thuần

Số vòng quay của tổng tài sản = (1.19) Tài sản bình quân

Chỉ tiêu này cho biết trong một kỳ phân tích các tài sản quay được bao nhiêuvòng, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ các tài sản vận động nhanh, góp phần tăngdoanh thu và là điều kiện nâng cao lợi nhuận cho doanh nghiệp Nếu chỉ tiêu nàythấp, chứng tỏ các tài sản vận động chậm làm cho doanh thu của doanh nghiệpgiảm Tuy nhiên chỉ tiêu này phụ thuộc vào đặc điểm ngành nghề kinh doanh, đặcđiểm cụ thể của tài sản trong các doanh nghiệp

- Tỷ suất sinh lời của tài sản (ROA)

Trang 30

Khả năng tạo ra lợi nhuận sau thuế của tài sản mà doanh nghiệp sử dụng chohoạt động kinh doanh, chỉ tiêu này được tính như sau:

Lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp

Tỷ suất sinh lời = x 100 (1.20) của tài sản Tài sản bình quân

Chỉ tiêu này cho biết, trong một kỳ phân tích doanh nghiệp đầu tư một đồngtài sản thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp Chỉtiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp là tốt, gópphần nâng cao khả năng đầu tư của chủ doanh nghiệp

b) Phân tích hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu [10, tr.223]:

Các nhà đầu tư thường coi trọng chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn chủ sỡ hữu vì

họ quan tâm đến khả năng thu được lợi nhuận so với vốn mà họ bỏ ra để đầu tư, vớimục đích tăng cường kiểm soát và bảo toàn vốn phát triển

Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu, các nhà phân tích thường sửdụng các chỉ tiêu sau:

- Sức sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE):

Lợi nhuận sau thuế

Sức sinh lời của vốn chủ sở hữu = (1.21) Vốn chủ sở hữu bình quân

Chỉ tiêu này cho biết, cứ một đồng vốn chủ sở hữu tạo ra được bao nhiêuđồng lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp Chỉ tiêu này cao thường giúp chocác nhà quản trị có thể đi huy động vốn mới trên thị trường tài chính để tài trợ cho

sự tăng trưởng của doanh nghiệp Nếu chỉ tiêu này nhỏ và vốn chủ sở hữu dưới mứcvốn điều lệ thì hiệu quả kinh doanh thấp, doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việcthu hút vốn Tuy nhiên sức sinh lời của vốn chủ sở hữu cao không phải lúc nào cũngthuận lợi vì có thể là do ảnh hưởng của vốn chủ sở hữu nhỏ mà vốn chủ sở hữu càngnhỏ thì mức độ mạo hiểm càng lớn Do đó, khi phân tích chỉ tiêu này cần kết hợpvới cơ cấu của vốn chủ sở hữu trong từng doanh nghiệp cụ thể

Trang 31

Để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sức sinh lời của vốn chủ sở hữu ta

có thể biến đổi chỉ tiêu đó như sau:

Sức sinh lời của Số vòng quay Hệ số tài sản

Sức sinh lời của = x x so với vốn (1.22)vốn chủ sở hữu doanh thu thuần của tài sản chủ sở hữu

Nhìn vào quan hệ trên ta thấy muốn cải thiện khả năng sinh lời của vốn chủ

sở hữu có thể tác động vào 3 nhân tố hệ số tài sản so với vốn chủ sở hữu, số vòngquay của tài sản và vào sức sinh lời của doanh thu thuần Từ đó đưa ra các biệnpháp nhằm nâng cao hiệu quả của từng nhân tố góp phần tăng sức sinh lời của vốnchủ sở hữu

c) Phân tích hiệu quả sử sụng chi phí [10, tr.234 – 235]:

Chi phí trong kỳ của doanh nghiệp chi ra thường bao gồm: Giá vốn hàngbán, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí tài chính, chi phí khác

Đó là các khoản chi phí bỏ ra để thu lợi nhuận trong kỳ Để đánh giá hiệu quả sửdụng chi phí các nhà phân tích thường xác định các chỉ tiêu sau:

- Tỷ suất lợi nhuận so với giá vốn hàng bán

Lợi nhuận thuần từ HĐKD

Tỷ suất lợi nhuận so với = x 100 (1.23) giá vốn hàng bán Giá vốn hàng bán

Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích doanh nghiệp đầu tu 100 đồng giávốn hàng bán thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận Chỉ tiêu này càng cao chứng

tỏ mức lợi nhuận trong giá vốn hàng bán càng lớn, thể hiện các mặt hàng kinhdoanh lời nhất, do vậy doanh nghiệp càng đẩy mạnh khối lượng tiêu thụ

- Tỷ suất lợi nhuận so với chi phí bán hàng

Lợi nhuận thuần từ HĐKD

Tỷ suất lợi nhuận so với = x 100 (1.24) chi phí bán hàng Chi phí bán hàng

Trang 32

Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích doanh nghiệp đầu tư 100 đồng chiphí bán hàng thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏmức lợi nhuận trong chi phí bán hàng càng lớn, doanh nghiệp đã tiết kiệm được chiphí bán hàng.

- Tỷ suất lợi nhuận so với chi phí quản lý doanh nghiệp

Lợi nhuận thuần từ HĐKD

Tỷ suất lợi nhuận so với = x 100 (1.25) chi phí quản lý DN Chi phí quản lý DN

Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích doanh nghiệp đầu tư 100 đồng chiphí quản lý doanh nghiệp thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận Chỉ tiêu này càngcao chứng tỏ mức lợi nhuận trong chi phí quản lý doanh nghiệp càng lớn, doanhnghiệp đã tiết kiệm được chi phí quản lý

- Tỷ suất lợi nhuận kế toán trước thuế so với tổng chi phí

Tỷ suất lợi nhuận Lợi nhận kế toán trước thuế

kế toán trước thuế so với = x 100 (1.26) tổng chi phí Tổng chi phí

Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích doanh nghiệp đầu tư 100 đồng chiphí thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận kế toán trước thuế Chỉ tiêu này càng caochứng tỏ mức lợi nhuận trong chi phí càng lớn, doanh nghiệp đã tiết kiệm được cáckhoản chi phí chi ra trong kỳ

1.3.5 Phân tích dấu hiệu rủi ro tài chính doanh nghiệp [7, tr.310 – 311]

Rủi ro tài chính (financial risk) là phần rủi ro mà các chủ sở hữu phải gánhchịu thêm do doanh nghiệp sử dụng các khoản nợ Rủi ro tài chính là các biến độngthêm của tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE) và lợi nhuận trên cổ phiếu(EPS) do doanh nghiệp sử dụng các khoản nợ vay

Để lượng hóa rủi ro tài chính ta sử dụng khái niệm độ lớn đòn bẩy tài chính.Đòn bẩy kinh doanh ảnh hưởng tới lợi nhuận trước thuế và lãi vay, còn đòn bẩy tàichính ảnh hưởng tới lợi nhuận sau thuế và lãi vay, hay lợi nhuận ròng sẵn có để chiacho các chủ sở hữu Như vậy, đòn bẩy tài chính kế tục đòn bẩy kinh doanh, phản

Trang 33

ánh những thay đổi của mức độ tiêu thụ ảnh hưởng tới lợi nhuận trên cổ phiếu Dovậy, đòn bẩy kinh doanh có thể còn được gọi là đòn bẩy giai đoạn một và đòn bẩytài chính được gọi là đòn bẩy giai đoạn hai.

Độ lớn của đòn bẩy tài chính (DFL) được định nghĩa là tỷ lệ % thay đổi củalợi nhuận sau thuế (EAT) hoặc lợi nhuận trên cổ phiếu (EPS) khi có một tỷ lệ %thay đổi của lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT)

% EAT % EPS EBIT

DEL = = = (1.27) %EBIT % EBIT EBIT - I

(I là chi phí lãi vay)

Từ công thức trên ta thấy độ lớn đòn bẩy tài chính sẽ bằng I nếu doanhnghiệp không sử dụng các khoản vay nợ, khi đó nếu EBIT tăng 100% thì EPS cũngtăng 100% Như vậy, 1 là giá trị tối thiểu của độ lớn đòn bẩy tài chính và khi đókhông có rủi ro tài chính Khi doanh nghiệp càng sử dụng nhiều nợ vay thì độ lớnđòn bẩy tài chính càng cao và có ý nghĩa là mức độ rủi ro tài chính càng lớn

Ngoài ra, rủi ro tài chính còn được phản ánh qua khả năng thanh toán cũngnhư tình hình quản lý hàng tồn kho và tình hình thu hồi và thanh toán công nợ ởdoanh nghiệp Phân tích rủi ro tài chính được tiến hành thông qua nghiên cứu biếnđộng của các chỉ tiêu phản ánh cấu trúc tài chính, tình hình và khả năng thanh toán,các tỷ số hoạt động

1.4 Tổ chức phân tích BCTC trong doanh nghiệp

Tổ chức phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp là việc thiết lập trình tựcác bước công việc cần tiến hành trong quá trình phân tích, vận dụng tổng hợp cácphương pháp phân tích để đánh giá đúng kết quả, chỉ rõ những sai lầm và kiến nghịbiện pháp khắc phục những thiếu sót trong hoạt động tài chính của doanh nghiệp

Việc phân tích báo cáo tài chính phải được tổ chức khoa học, hợp lý, phùhợp với đặc điểm kinh doanh, cơ chế hoạt động, cơ chế quản lý kinh tế - tài chính

Trang 34

của doanh nghiệp, phù hợp với mục tiêu quan tâm của từng đối tượng sử dụngthông tin.

1.4.1 Lập kế hoạch phân tích

Xây dựng chương trình phân tích là công việc đầu tiên của tổ chức phân tích

Do đó, chương trình phân tích được xây dựng càng tỉ mỉ và chi tiết bao nhiêu thì kếtquả của phân tích càng cao bấy nhiêu Khi xây dựng chương trình phân tích, cầnnêu rõ những vấn đề cơ bản sau:

- Xác định rõ mục tiêu phân tích: cung cấp những thông tin gì, cho đối tượng

sử dụng thông tin nào cần

- Xác định nội dung phân tích: nội dung phân tích cần được xác định rõnhững vấn đề cần được phân tích dựa trên mục tiêu phân tích đã đề ra

- Phạm vi phân tích: tuỳ theo yêu cầu và thực tiễn của các đối tượng sử dụngthông tin trên báo cáo tài chính để xác định nội dung và phạm vi phân tích phù hợp

- Thời gian ấn định trong chương trình phân tích: bao gồm thời gian chuẩn

bị, thời gian tiến hành phân tích và thời gian kết thúc phân tích để báo cáo kết quảphân tích cho các đối tượng sử dụng thông tin

- Sưu tầm và kiểm tra tài liệu

- Xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích

- Lựa chọn hệ thống phương pháp phân tích thích hợp

- Tổ chức lực lượng cán bộ và phương tiện thực hiện mục tiêu phân tích,trong đó cần phân công rõ trách nhiệm của từng người, từng bộ phận,…

- Tiến độ phận tích…

1.4.2 Trình tự phân tích

a) Sưu tầm tài liệu và xử lý số liệu

Để đạt được hiệu quả cao trong phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp,việc thu thập số liệu và xử lý số liệu trước hết cần đảm bảo đầy đủ ba yêu cầu:chính xác, toàn diện và khách quan

Trang 35

Những tài liệu làm căn cứ phân tích bao gồm: tất cả các số liệu trên hệ thốngbáo cáo tài chính (Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo lưuchuyển tiền tệ, thuyết minh báo cáo tài chính).

Những số liệu này không chỉ được thu thập ở kỳ thực tế, mà còn thu thập ởcác kỳ kế hoạch, kỳ kinh doanh trước hoặc nhiều kỳ kinh doanh trước để đánh giáchung tình hình hoàn thành kế hoạch, hoặc tốc độ tăng trưởng về tài chính củadoanh nghiệp Ngoài ra, còn phải thu thập thêm các báo cáo chi tiết về tài sản,nguồn hình thành tài sản, về doanh thu, về chi phí và lợi nhuận của từng loại hoạtđộng, từng đơn đặt hàng, từng nhóm sản phẩm hoặc từng loại sản phẩm…

Chất lượng phân tích phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng tài liệu thu thậpđược Bởi vậy, sau khi thu thập được đầy đủ tài liệu cần phải tiến hành kiểm tra độtin cậy của những số liệu Việc kiểm tra tài liệu thu thập được cần tiến hành trênnhiều mặt:

- Tính hợp pháp của tài liệu: trình tự lập có đúng với quy định hay không,người lập có đủ trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp hay không, và phải cóđầy đủ chữ ký và đóng dấu của cấp có thẩm quyền phê duyệt

- Nội dung và phương pháp phân tích các chỉ tiêu có đảm bảo đầy đủ được

sự thống nhất hay không

- Tính chính xác của việc tính và ghi các con số trên các bảng biểu

- Cách đánh giá đối với chỉ tiêu giá trị

Giai đoạn tiếp theo của quá trình thu thập và kiểm tra thông tin là xử lý cácthông tin đã thu thập được theo những mục đích nhất định, nhằm tính toán, so sánh,giải thích, đánh giá và xác định những nguyên nhân ảnh hưởng đến quá trình hoạtđộng tài chính của doanh nghiệp, phục vụ cho việc ra các quyết định cho các hoạtđộng sản xuất kinh doanh tiếp theo Đồng thời, cũng là căn cứ quan trọng phục vụcho việc dự báo, dự đoán tình hình hoạt động tài chính của doanh nghiệp trongtương lai

b) Tính toán, phân tích và dự đoán

Trang 36

Sau khi đã thu thập đầy đủ những tài liệu cần thiết, vận dụng các phươngpháp phân tích phù hợp, cần xác định hệ thống chỉ tiêu phân tích Vì, các chỉ tiêu là

sự biểu hiện bằng con số của quá trình và kết quả hoạt động trong sự thống nhấtgiữa mặt lượng và mặt chất Các chỉ tiêu tính ra có thể là số tuyệt đối, số bình quân,

số tương đối… Các chỉ tiêu này có thể so sánh với kế hoạch, các kỳ kinh doanhtrước, hoặc với các tiêu chuẩn định mức trong ngành

Các chỉ tiêu có thể được trình bày dưới dạng biểu mẫu, biểu đồ hay đồ thị,…qua đó có thể vận dụng các phương pháp thích hợp, giúp cho việc đánh giá sâu sắcthực trạng tài chính của doanh nghiệp Đồng thời cũng là cơ sở để dự báo, dự đoán

xu thế phát triển tài chính của doanh nghiệp

Một trong những mục tiêu rất cơ bản của phân tích báo cáo tài chính là dựđoán xu thế phát triển về tình hình tài chính của doanh nghiệp trong tương lai Đây

là một vấn đề mà chắc chắn mọi đối tượng sử dụng thông tin trên báo cáo tài chínhđều quan tâm Để tiến hành dự đoán, người ta có thể áp dụng nhiều phương pháp,như: dãy số biến động theo thời gian, phương pháp nội suy, phương pháp tươngquan và hồi quy bội,… Ngoài ra, còn phải phân tích các yếu tố khác, như: giá cả,thị trường, quan hệ cung cầu về sản phẩm hàng hoá của DN trên thị trường,…

c) Tổng hợp kết quả, rút ra kết luận

Phân tích báo cáo tài chính có thể được tiến hành trên từng báo cáo tài chínhhoặc phân tích các chỉ tiêu có mối liên hệ giữa các báo cáo tài chính… Nhưng, cuốigiai đoạn của quá trình phân tích cần phải tổng hợp lại, đưa ra một số chỉ tiêu tổnghợp để đánh giá chung toàn bộ hoạt động tài chính của DN hoặc phản ánh đúngtheo mục tiêu và nội dung phân tích đã được đề ra trong chương trình phân tích

Dựa vào những kết quả đã phân tích cần rút ra nhận xét, đánh giá, những ưuđiểm và những tồn tại, những thành tích đã đạt được, những yếu kém cần khắc phụctrong hoạt động tài chính doanh nghiệp

1.4.3 Hoàn thành công việc phân tích

- Lập báo cáo phân tích: sản phẩm cuối cùng của quá trình phân tích báo cáotài chính là báo cáo kết quả phân tích Báo cáo phân tích là bản tổng hợp những

Trang 37

đánh giá cơ bản cùng những tài liệu chọn lọc để minh hoạ, rút ra từ quá trình phântích Cuối bản báo cáo phân tích cần đề xuất những kiến nghị, những kiến nghị đềxuất phải rõ ràng, thiết thực và cụ thể kèm theo các điều kiện thực hiện để các kiếnnghị đó có thể thực hiện được, góp phần thúc đẩy quá trình phát triển sản xuất kinhdoanh, cũng như thúc đẩy tốc độ tăng trưởng của hoạt động tài chính doanh nghiệp.

- Hoàn thiện hồ sơ phân tích: sau khi đã hoàn thiện báo cáo phân tích hệthống báo cáo tài chính doanh nghiệp, một mặt cần cung cấp thông tin cho các đốitượng sử dụng, mặt khác phải hoàn thiện hồ sơ phân tích để đưa vào lưu trữ Tất cảcác báo biểu phân tích tổng hợp, chi tiết, các tài liệu thu thập được có liên quan đếnviệc phân tích báo cáo tài chính đều được hoàn chỉnh và lưu giữ tại doanh nghiệp

Trang 38

Chương 2:

THỰC TRẠNG PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN QUE HÀN ĐIỆN VIỆT ĐỨC

2.1 Tổng quan về Công ty CP que hàn điện Việt Đức

Tên công ty: Công ty CP que hàn điện Việt Đức

Tên giao dịch: Viet Duc Welding Electrode Company (Viwelco)

Địa chỉ: Nhị Khê - Thường Tín - Hà Nội

Cơ quan chủ quản: Tổng công ty hoá chất Việt Nam (Bộ công nghiệp)

Ngày thành lập: 28/03/1967

Ngành nghề kinh doanh: Công nghiệp sản xuất que hàn điện

2.1.1 Quá trình hình thành, phát triển và đặc điểm kinh doanh của Công ty

a) Quá trình hình thành, phát triển

* Ngày 28/03/1967, “Nhà máy que hàn điện” được thành lập theo quyết địnhQĐ1432- BCNND/KH6 của Bộ công nghiệp nặng tại Giáp Bát (Hà Nội) Năm

1972, nhà máy chuyển về Thường Tín – Hà Nội cho đến nay

Năm 1978 nhà máy được trang bị dây chuyền sản xuất của Cộng Hoà DânChủ Đức và được đổi tên thành nhà máy que hàn điện Việt Đức Lúc này nhà máy

đã có 6 dây chuyền công nghệ sản xuất que hàn điện hoàn chỉnh với công suất thiết

kế 7500 tấn/năm

Ngày 14/10/2003, theo quyết định số 166/2003/QĐ-BCN của Bộ trưởng bộcông nghiệp, công ty chuyển đổi hình thức doanh nghiệp từ công ty que hàn điệnViệt Đức thành công ty cổ phần que hàn điện Việt Đức với 51% vốn chủ sở hữuthuộc về nhà nước

Trong quá trình hoạt động công ty đã đạt nhiều thành tích và được nhà nướclần lượt tặng thưởng Huân chương lao động hạng 2, hạng 3 và cao quý nhất là Huânchương lao động hạng nhất vào năm 2002

Trang 39

* Tổ chức bộ máy quản lý của công ty cổ phần que hàn điện Việt Đức

Sơ đồ 2.1: Tổ chức bộ máy của công ty CP que hàn điện Việt - Đức:

Chú thích:

Quan hệ trực tuyến

Quan hệ chức năng

Nguồn: Phòng tổ chức – hành chính

- Đặc điểm bộ máy quản lý tại công ty CP que hàn điện Việt Đức

Như chúng ta thấy, bộ máy này được tổ chức theo kiểu trực tuyến chức năng.Người tối cao và duy nhất có quyền ra quyết định trong công ty là giám đốc với sự

Đại hội cổ đông

Hội đồng quản trị Ban kiểm soát

Phòng kếhoạchkinhdoanh

Phòngtài vụ

Phânxưởnglõi que

Phânxưởngdâyhàn

Phânxưởng

cơ điện

Trang 40

trợ giúp của phó giám đốc phụ trách kỹ thuật và bốn phòng cùng quản trị viên tạicác phân xưởng.

b) Đặc điểm kinh doanh

Hiện nay công ty có 2 phân xưởng sản xuất chính là phân xưởng cắt - Chấtbọc (PX CB) và phân xưởng ép, sấy (PX1) Ngoài ra, để phục vụ cho 2 PX trên có

PX cơ điện và ngành sản xuất phụ

* PX cắt Chất bọc là khâu đầu của quá trình sản xuất tiếp nhận nguyên vậtliệu theo kế hoạch sản xuất: được phân thành 2 loại chính như sau:

- Lõi que được vuốt xuống đường kính phù hợp, làm sạch bề mặt và uốn cắtthành từng đoạn thẳng theo quy định

- Thuốc bọc: từ các loại quặng được qua khâu xử lý, sấy tuyển, nghiền sàng

và cuối cùng được cân trộn theo đơn quy định

* PX1: là nơi tiếp nhận bán thành phẩm của phân xưởng cắt chất bọc gồm lõique và thuốc bọc sau đó có nhiệm vụ ép, sấy và bao gói nhập kho sản phẩm

- PX Cơ điện là phân xưởng chế tạo các chi tiết phụ tùng thay thế cho dâychuyền sản xuất

* Ngành sản xuất phụ: làm sản phẩm phục vụ cho dây chuyền chính như:silicát, hộp cát tông, túi PE, và gia công tận dụng phế liệu ở PX chính thải ra như lõique phế liệu dùng làm đinh

Nhìn chung các phân xưởng đều có bộ phận quản lý, phục vụ tại phân xưởnggồm: quản đốc phân xưởng- là người quản lý chung từng khâu sản xuất và giám sát

về mặt kỹ thuật, tiến độ sản xuất của phân xưởng

- Trưởng ca: Bao quát, đôn đốc và theo dõi công nhân cả về kỹ thuật và năngsuất lao động

Ngày đăng: 27/04/2015, 13:17

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1: Cân bằng tài chính của Doanh nghiệp - Luận văn tốt nghiệp: Phân tích báo cáo tài chính tại Công ty CP que hàn điện Việt Đức
Sơ đồ 1.1 Cân bằng tài chính của Doanh nghiệp (Trang 21)
Bảng 1.1: Chỉ tiêu phân tích khả năng thanh toán của Doanh nghiệp - Luận văn tốt nghiệp: Phân tích báo cáo tài chính tại Công ty CP que hàn điện Việt Đức
Bảng 1.1 Chỉ tiêu phân tích khả năng thanh toán của Doanh nghiệp (Trang 28)
Sơ đồ 2.1: Tổ chức bộ máy của công ty CP que hàn điện Việt - Đức: - Luận văn tốt nghiệp: Phân tích báo cáo tài chính tại Công ty CP que hàn điện Việt Đức
Sơ đồ 2.1 Tổ chức bộ máy của công ty CP que hàn điện Việt - Đức: (Trang 39)
Sơ đồ 2.2: Tổ chức bộ máy kế toán Công ty - Luận văn tốt nghiệp: Phân tích báo cáo tài chính tại Công ty CP que hàn điện Việt Đức
Sơ đồ 2.2 Tổ chức bộ máy kế toán Công ty (Trang 41)
Sơ đồ 2.3: Trình tự ghi sổ kế toán tại Công ty - Luận văn tốt nghiệp: Phân tích báo cáo tài chính tại Công ty CP que hàn điện Việt Đức
Sơ đồ 2.3 Trình tự ghi sổ kế toán tại Công ty (Trang 43)
Bảng 2.1: Phân tích cơ cấu tài sản Mã - Luận văn tốt nghiệp: Phân tích báo cáo tài chính tại Công ty CP que hàn điện Việt Đức
Bảng 2.1 Phân tích cơ cấu tài sản Mã (Trang 46)
Bảng 2.2: Phân tích cơ cấu nguồn vốn Mã - Luận văn tốt nghiệp: Phân tích báo cáo tài chính tại Công ty CP que hàn điện Việt Đức
Bảng 2.2 Phân tích cơ cấu nguồn vốn Mã (Trang 50)
Bảng 2.3: Phân tích tình hình đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh - Luận văn tốt nghiệp: Phân tích báo cáo tài chính tại Công ty CP que hàn điện Việt Đức
Bảng 2.3 Phân tích tình hình đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh (Trang 52)
Bảng 2.4: Phân tích khả năng thanh toán                    ĐVT: lần - Luận văn tốt nghiệp: Phân tích báo cáo tài chính tại Công ty CP que hàn điện Việt Đức
Bảng 2.4 Phân tích khả năng thanh toán ĐVT: lần (Trang 54)
Bảng 2.6: Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản - Luận văn tốt nghiệp: Phân tích báo cáo tài chính tại Công ty CP que hàn điện Việt Đức
Bảng 2.6 Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản (Trang 59)
Bảng 2.7: Phân tích hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu - Luận văn tốt nghiệp: Phân tích báo cáo tài chính tại Công ty CP que hàn điện Việt Đức
Bảng 2.7 Phân tích hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu (Trang 60)
Bảng 2.8: Phân tích hiệu quả sử dụng chi phí - Luận văn tốt nghiệp: Phân tích báo cáo tài chính tại Công ty CP que hàn điện Việt Đức
Bảng 2.8 Phân tích hiệu quả sử dụng chi phí (Trang 61)
Bảng 2.9: Cơ cấu chi phí sản xuất của Công ty TT - Luận văn tốt nghiệp: Phân tích báo cáo tài chính tại Công ty CP que hàn điện Việt Đức
Bảng 2.9 Cơ cấu chi phí sản xuất của Công ty TT (Trang 62)
Bảng 2.10: Các chỉ tiêu phân tích rủi ro tài chính - Luận văn tốt nghiệp: Phân tích báo cáo tài chính tại Công ty CP que hàn điện Việt Đức
Bảng 2.10 Các chỉ tiêu phân tích rủi ro tài chính (Trang 63)
Bảng 3.1: Tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty - Luận văn tốt nghiệp: Phân tích báo cáo tài chính tại Công ty CP que hàn điện Việt Đức
Bảng 3.1 Tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty (Trang 72)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w