Các doanh nghiệp khu vực này đã giải quyết việc làm cho khoảng 35vạn lao động trực tiếp, và khoảng 1 triệu lao động gián tiếp khác Kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư của Malaysia chủ yếu tập
Trang 1Vai trò của vốn
Theo quan điểm của khoa học kinh tế chính chị: vốn được hiểu là tưbản bất biết gồm tất cả các yếu tố ban đầu được đầu tư cho một quá trìnhsản xuất là nhà sưởng,là tư liệu sản xuất, là máy móc công nghệ
vốn có các vai trò:
- xác định quy mô của đơn vị sản xuât, quy mô quá trình sản xuất
- đóng góp vào giá trị sản phẩm được sản xuất một phần giá trị của
nó trong quá trình sản xuất
- trong quá trình sản xuât, cùng với hằng hóa vốn tham gia vào quátrình tạo ra giá trị thặng dư
- trong quá trình liên tục của nhiều quá trình sản xuât vốn thể hiệnvai trò như một hàng hóa
Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không những đã gópphần mở rộng thị trường ngoài nước, nâng cao năng lực xúât khẩu củaViệt Nam mà còn thúc đẩy phát triển thị trường trong nước và các hoạtđộng dịch vụ khác Đó là hoạt động kinh doanh khách sạn, dịch vụ, tưvấn, công nghệ Kim ngạch xuất khẩu khu vực này tăng trưởng năm saucao hơn năm trước Năm 1997, xuất khẩu đạt 1,79 tỷ Usd, năm 1998 tăng10% so với năm trước, năm 1999 tăng 30% và năm 2000 ước tăngkhoảng 28% Ước tính giai đoạn 1996-2000 kim ngạch xuất khẩu khuvực này đạt trên 10,5 tỷ Usd
Trong số 10 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của việt Nam, sản phẩmcủa các doanh nghiệp thuộc khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỷtrọng đáng kể, chẳng hạn như giày dép chiếm 42%, dệt may chiếm 25%
và hàng điện tử, linh kiện, máy vi tính chiếm 84%
Đặc biệt các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã tạo nênnhiều ngành nghề, nhiều sản phẩm mới, góp phần tăng năng lực ngànhcông nghiệp Việt Nam Các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài chiếm 100%
về khai thác dầu, sản xuất ôtô, máy biến thế 250-1.000 Kva, máy giặt, tủlạnh, điều hoà, máy thu băng, đầu video, nguyên liệu nhựa, sợi Pe và Pes;chiếm 50% sản lượng vải; 45% sản phẩm may và 35% về giày dép
Cũng qua đầu tư nước ngoài, nhiều công nghệ mới được nhập vàoViệt Nam, nhất là trong các lĩnh vực viễn thông, dầu khí, điện tử, tin học,sản xuất ôtô, sợi vải cao cấp Các doanh nghiệp này cũng đã đem lạinhững mô hình quản lý tiến tiến cùng phương thức kinh doanh hiện đại,điều này đã thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước đổi mới công nghệ,
Trang 2nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo sự cạnh tranh lành mạnh giữa cácdoanh nghiệp, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Tỷ lệ đóng góp của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài trong tổng sảnphẩm quốc nội tăng dần qua các năm, từ 3,6% năm 1993, lên 10,3% năm
1999, dự kiến năm 2000 chiếm khoảng 10,4%
Các doanh nghiệp khu vực này đã giải quyết việc làm cho khoảng 35vạn lao động trực tiếp, và khoảng 1 triệu lao động gián tiếp khác
Kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư của Malaysia chủ yếu tập trung vào:
•Xây dựng hệ thống chính trị ổn định và đoàn kết dân tộc;
•Hệ thống giáo dục vững mạnh;
•Hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại;
•Có kế hoạch phát triển kinh tế ngắn hạn và dài hạn với mục tiêu rõràng;
•Có chương trình khuyến khích đầu tư tích cực cho cả người đầu tưtrong và ngoài nước
VAI TRÒ CỦA VỐN SẢN XUẤT VÀ VỐN ĐẦU TƯ VỚI TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
Phân tích mô hình Harrod - Domar
Trong hệ thống lý thuyết tăng trưởng kinh tế vào cuối những năm 30 đãxuất hiện một học thuyết kinh tế mới, đó là học thuyết kinh tế của J.Maynard Keynes Khác với tư tưởng của các nhà kinh tế học cổ điển vàtân cổ điển, Keynes cho rằng, nền kinh tế có thể đạt tới và duy trì sự cânbằng dưới mức sản lượng tiềm năng Tuy nhiên, ông cũng nhận thấy xuhướng phát triển của nền kinh tế là đưa mức sản lượng thực tế càng vềgần mức sản lượng tiềm năng càng tốt Để có được sự chuyển dịch nàythì đầu tư đóng vai trò quyết định
Khi nghiên cứu mô hình kinh tế do hai nhà kinh tế hoạc là Roy Harrod ởAnh và Evsay Domar ở Mỹ đồng thời đưa ra được dựa trên tư tưởng củaKeynes, chúng ta đã biết đến hệ số ICOR Mô hình này cho rằng, đầu racủa bất kỳ đơn vị kinh tế nào, dù là một công ty, một ngành hay toàn bộnền kinh tế sẽ phụ thuộc vào tổng số vốn đầu tư cho đơn vị đó
Nếu gọi đầu ra là Y và tốc độ tăng trưởng của đầu ra là g, có nghĩa là:
Trang 3Nếu gọi S là mức tích lũy của nền kinh tế thì tỷ lệ tích lũy (s) trong đầu tư
sẽ là:
Vì tiết kiệm là nguồn đầu tư của đầu tư, nên về mặt lý thuyết đầu tư luônbằng tiết kiệm (St = It), do đó cũng có thể viết:
Mục đích của đầu tư là để tạo ra vốn sản xuất, nên It = Kt Nếu gọi k là tỷ
số gia tăng giữa vốn và sản lượng (còn gọi là hệ số ICOR), ta có:
Do đó chúng ta có:
Hệ số ICOR nói lên rằng, vốn sản xuất được tạo ra bằng đầu tư dưới dạngnhà mày, trang thiết bị là yếu tố cơ bản của tăng trưởng, các khoản tiếtkiệm của dân cư và các công ty chính là nguồn gốc cơ bản của vốn đầutư
Cần lưu ý là tỷ số gia tăng vốn – sản lượng chỉ đo năng lực sản xuất củaphần vốn tăng thêm, nó khác với tỷ số trung bình vốn – đầu ra phản ánhnăng lực của toàn bộ vốn sản xuất
Trang 4Tác động của vốn đầu tư và vốn sản xuất đến tăng trưởng kinh tế
Đầu tư là bộ phận lớn và hay thay đổi trong chi tiêu Do đó những thayđổi trong đầu tư có thể tác động lớn đối với tổng cầu và do đó tác độngtới sản lượng và công ăn, việc làm Khi đầu tư tằng lên, có nghĩa là nhucầu về chi tiêu để mua sắm máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, vật liệuxây dựng … tăng lên Sự thay đổi này làm cho đường tổng cầu dịchchuyển Trong hình 7.1 mô tả khi đường tổng cầu dịch chuyển từ AD0đến AD1 làm cho mức sản lượng tăng từ Y0 đến Y1 và mức giá cũngbiến động từ P0 đến P1
Đầu tư sẽ dẫn đến tăng vốn sản xuất, nghĩa là có thêm các nhà máy, thiết
bị, phương tiện vận tải mới được đưa vào sản xuất, làm tăng khả năng sảnxuất của nền kinh tế Sự thay đổi này tác động đến tổng cung Trong hình7.2 mô tả khi vốn sản xuất tăng sẽ làm cho đường tổng cung dịch chuyển
từ AS0 đến AS1 làm cho mức sản lượng tăng từ Y0 đến Y1 và mức giágiảm từ P0 đến P1
Điều cần lưu ý là sự tác động của vốn đầu tư và vốn sản xuất đến tăngtrưởng kinh tế không phải là quá trình riêng lẻ mà nó là sự kết hợp, đanxen lẫn nhau, tác động liên tục vào nền kinh tế
Ngày nay vốn đầu tư và vốn sản sản xuất được coi là yếu tố quantrọng của quá trình sản xuất Vốn sản xuất vừa là yếu tố đầu vào, vừa là
Trang 5sản phẩm đầu ra của quá trình sản xuất Vốn đầu tư không chỉ là cơ sở đểtạo ra vốn sản xuất, tăng năng lực sản xuất của các doanh nghiệp và củanền kinh tế, mà còn là điều kiện để nâng cao trình độ khoa học – côngnghệ, góp phần đáng kể vào việc đầu tư theo chiều sâu, hiện đại hóa quátrình sản xuất Việc tăng vốn đầu tư cũng góp phần vào việc giải quyếtcông ăn, việc làm cho người lao động khi mở ra các công trình xây dựng
và mở rộng quy mô sản xuất Cuối cùng, cơ cấu sử dụng vốn đầu tư làđiều kiện quan trọng tác động vào việc chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế đấtnước
Trong tiến trình đi lên để trở thành một nước công nghiệp, một trong những khó khăn mà chúng ta gặp phải là nhu cầu vốn.
Các nhà nghiên cứu kinh tế đều đã nhận định rằng, tăng trưởng côngnghiệp có quan hệ chặt chẽ với khả năng huy động vốn của cả nền kinh
tế Tăng trưởng công nghiệp vừa là nguyên nhân vừa là kết quả của tích
tụ và tập trung vốn Để làm rõ hơn vấn đề này, loạt bài viết sau đây sẽđưa tới người đọc cái nhìn tổng quan hơn
Phần I: Vai trò của vốn trong nền kinh tế.
Vốn trong nước hình thành từ tích lũy nội địa( bao gồm tiết kiệmcủa chính phủ và tiết kiệm của người dân); nó có tính ổn định và chủđộng hơn so với vốn nước ngoài Đây là yếu tố then chốt quyết định tính
ổn định của tăng trưởng kinh tế Một nền kinh tế huy động được nhiều
Trang 6vốn trong nước đưa vào đầu tư sẽ an toàn hơn đồng thời tránh bị lệ thuộc
so với vốn nước ngoài
Tất nhiên nói như vậy không có nghĩa là chúng ta xem nhẹ nguồnvốn nước ngoài Do khởi đầu của chúng ta thấp, chúng ta cần dựa vàovốn đầu tư nước ngoài Vốn nước ngoài có vai trò tạo kích thích cho sảnxuất trong nước phát triển Nhưng dù là viện trợ phát triển chính thức(ODA) hay đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thì đều là phải hoàn trả vớilãi suất nặng nhẹ khác nhau Vì thế, để phát triển ổn định và lâu dài cầnphải huy động tối đa nguồn vốn trong nước, muốn vậy cần có chính sáchkhuyến khích tiết kiệm toàn dân
Trong từng thời kì cụ thể, để việc tích lũy vốn cao có hiệu quả, cầnphaỉ tính toán được mức tích lũy hợp lý Không phải cứ tích lũy càng caocàng tốt, vì tích lũy quá cao đồng nghĩa với giảm tiêu dùng, vô hìnhchung làm giảm sức mua, làm cho sản xuất không phát triển được Theokinh nghiệm của nhiều nước cho thấy, mức hợp lý đối với tích lũy củaViệt Nam nên là 30%GDP
Bên cạnh đó, việc sử dụng hợp lý có hiệu quả số tích lũy đó cũng rấtquan trọng Để đo lường hiệu quả sử dụng vốn ta sử dụng hệ số ICOR
Hệ số này cho biết một đồng sản lượng( tăng trưởng) cần bao nhiêu đồngvốn đầu tư Theo các chuyên gia, với các nước đang phát triển như ViệtNam, hệ số này nên dao động từ 2.5 đến 3, và mức tăng trưởng bình quân
ít nhất trên 8% một năm Thực tế ICOR của chúng ta xấp xỉ 5, cho thấychúng ta đang sử dụng lãng phí vốn đầu tư rất lớn
Ngoài vốn tiền tệ ra, chúng ta đang có một lượng vốn quí hơn cả làcon người Với dân số trên 80 triệu với tỷ lệ trong độ tuổi lao động cao,chi phí thấp thì đây là một lợi thế rất lớn của chúng ta.Tuy nhiên trình độtay nghề còn tháp lại là một điểm yếu khi so sánh với các nước kháctrong khu vực Vì vậy cần chú trọng đầu tư vào giáo dục đào tạo để cóđược một đội ngũ lao động lành nghề thì mới có thể sử dụng có hiệu quảvốn con người, nâng cao khả năng cạnh tranh trong thu hút đầu tư
1 Xem xét ở mức độ Vĩ Mô
a Đtư ↑ vừa tác động đến AS & AD của nền KT
- Tác động đến AD: để tạo ra sp cho xh, trước hết cần đtư.Đtư là 1yếu tố chiếm tỉ trọng lớn trong AD của toàn bộ nền KT, thường chiếm từ24-28% trong cơ cấu AD của tất cả các nc trên TG Đvới AD, tác độngcủa đtư thể hiện rõ trong ngắn hạn Khi AS chưa kịp thay đổi, gia tăngđtư (I) làm cho AD tăng ( nếu có ytố # k đổi)
Trang 7(vẽ Đthị)
- Tăng đtư- đường AD dịch chuyển AD'- kéo theo sản lượng tăng từQQo→Q1, giá cả & các ytố đầu vào của đtư tăng từ Po → P1 Điểm cânbăng dịch chuyển từ Eo→E1
- Tác động đến AS của nền kt.Khi thành quả của đtư phát huy tácdụng, các năng lực ới đi vào hđ, làm cho AS, đặc biệt là AS dài hạntăng.Đường cung dịch từ AS→ AS1, kéo theo sản lượng tăng từ Q1→Q2,giá bắt đầu giảm từ P1→P2 Sản lượng tăng,gái cả giảm cho phép tăngtiêu dung
b Đtư ↑ đã tác động 2 mặt đến sự ổn định của nền kt
- Có nghĩa là mỗi sự thay đổi của đtư đều cùng 1 lúc vừa tạo ra sự
ổn định của nền kt, đồng thời vừa là yếu tố phá vỡ sự ổn định của nền KT
- Tác động tiêu cực: tăng đtư→cầu đvào ↑ →giá cả ↑→lạm phát
- Tác động tích cực: Tăng đtư→↑ sx ngành,lĩnh vực đtư nếu cơ cấuphân bổ hợp lý→ tác động đến tăng trưởng chung của nền kt→tác độngđến việc tạo công ăn việc làm cho ng lđộng→ nâng cao đsống ng lđộng
c Đtư ↑ tác động đến việc tăng cường KH-CN của 1 quốc gia
- Đtư đã tạo ra đc các công nghệ nội sinh & ngoại sinh Áp dụngcông nghệ mới →↑ công nghiệp→mới có sự tăng trưởng→tích lũy →↑KH-CN
- Để phản ánh sự tác động của đtư đến trình độ ↑ của KH-CN, có thể
◦ Tỷ trọng vốn đtư cho các công trình mũi nhọn, trọng điểm Các côngtrình trọng điểm, mũi nhọn thường là các công trình đtư lớn, công nghệhiện đại, mang t/c đtư mồi, tạo tiền đề để đtư ↑ các công trình khác.Chỉtiêu này càng lớn cho thấy mức độ tập trung của công nghệ & gián tiếpphản ánh mức độ hiện đại của CN
d Đtư ↑ tác động đến sự tăng trưởng kt của 1 quốc gia
- Đtư vừa tác động đến tốc độ tăng trưởng vừa tác động đến chấtlượng tăng trưởng.Tăng quy mô vốn đtư hợp lý là những nhân tố q.trọng
Trang 8góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư, tăng năng suất nhân tố tổng hợp, tácđộng đến việc chuyển dịch cơ cấu tài chính theo xu hướng CNH-HĐH,nâng cao sức cạnh tranh của nền kt do đó, nâng cao chất lượng tăngtrưởng
- Biểu hiện tập trung của mqh jữa đtư ↑ với tăng trưởng kt thể hiện ở
(công thức)
→ Hệ số ICOR cao hay thấp chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố
◦1: do thay đổi cơ cấu đtư ngành Cơ cấu đtư ngành thay đổi ảnhhưởng đến hệ số ICOR từng ngành Do đó tác động đến hệ số ICORchung
◦2: Sự ↑ của KH-CN có ảnh hưởng 2 mặt đến hệ số ICOR Gia tăngđtư cho KHCN, sẽ tao ra nhiều ngành mới, công nghệ mới, làm máy móc
hđ hq hơn, năng suất cao hơn, kq đtư ↑ lên.Như vậy, hệ số ICOR tăng haygiảm phụ thuộc vào xu hướng nào chiếm ưu thế
◦3: Do sự thay đổi cơ chế c.sách & p2 tổ chức q.lý.Cơ chế c/sáchphù hợp, đtư có hq hơn làm cho ICOR giảm & ngược lại
- Nếu hệ số ICOR = const thì ▲GDP hoàn toàn phụ thuộc vào vốnđtư
e Tác động của đtư đến sự chuyển dịch cơ cấu KT của 1 quốc gia
- Cơ cấu kt là cơ cấu của toàn thể các ytố cấu thành nền kt theo kgian, theo lĩnh vực, the chủ thể,nó liên hệ chặt chẽ tác động qua lại vớinhau trong những đk kt-xh nhất định được thể hiện cả vể mặt số lượnglẫn chất lượng, phù hợp với các mtiêu đã xđ của nền kt
- Vốn & tỷ trọng vốn đtư phân bố cho các ngành & các vùng lãnhthổ # nhau sẽ mang lại hq # nhau & dẫn đến sự ↑ của chúng # nhau Điềunày đã gây ảnh hưởng trực tiếp đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế theongành & vùng lãnh thổ
- Đvới các t.phần KT thong qua các c.sách đtư hợp lý, thong qua cácđịnh hướng đtư đúng tác dộng đến sự chuyển dịch cơ cấu các tp kt
2 Xem xét trên góc độ vi mô
Đtư đã q.định sự ra đời, sự tôn tại & ↑ của các cơ sở này, vì đtư↑ tạo
ra cơ sở vật chất cho các DN hđ, xd nhà xưởng, lắp đặt máy móc thiết bị
Nó q.định sự tồn tại và p.triển của DN vì: trong q.trình hđ sx kd các thiết
bị sẽ bị hao mòn Do đó phải đtư vào các thiết bị, đtư cho đội ngũ lđ đihọc, mở rộng cơ sở hạ tầng→ do đó mới có thể tổn tại và ↑
Trang 10Vai trò của lao động
Có ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất là sức lao động, đốitượng lao động và tư liệu lao động
-Sức lao động: là tổng hợp thể lực và trí lực của con người được sửdụng trong quá trình lao động Sức lao động mới chỉ là khả năng của laođộng còn lao động là sự tiêu dùng sức lao động trong thực hiện
-Đối tượng lao động: là bộ phận của giới tự nhiên mà lao động củacon người tác động vào nhằm biến đổi nó theo mục đích của mình Đốitượng lao động có hai loại Loại thứ nhất có sẵn trong tự nhiên như cáckhoáng sản, đất, đá, thủy sản Các đối tượng lao động loại này liên quanđến các ngành công nghiệp khai thác Loại thứ hai đã qua chế biến nghĩa
là đã có sự tác động của lao động trước đó, ví dụ như thép phôi, sợi dệt,bông Loại này là đối tượng lao động của các ngành công nghiệp chếbiến
-Tư liệu lao động: là một vật hay các vật làm nhiệm vụ truyền dẫn
sự tác động của con người lên đối tượng lao động, nhằm biến đổi đốitượng lao động thành sản phẩm đáp ứng nhu cầu của con người Tư liệulao động lại gồm bộ phận trực tiếp tác động vào đối tượng lao động theomục đích của con người, tức là công cụ lao động, như các máy móc đểsản xuất), và bộ phận trực tiếp hay gián tiếp cho quá trình sản xuất nhưnhà xưởng, kho, sân bay, đường xá, phương tiện giao thông Trong tư liệulao động, công cụ lao động giữ vai trò quyết định đến năng suất lao động
và chất lượng sản phẩm
Vì vậy, trong mối quan hệ sản xuất thì lao động là yếu tố quyết định.Không có lao động thì sẽ không có thể cải tiến hay biến đổi được đốitượng lao động, cũng như không thể tạo ra được tư liệu lao động để dùnglàm công cụ phục vụ lại cho người lao động.Nhưng riêng ở Vn thì không coi trọng lao động Bằng chứng là họ xuấtkhẩu và đẩy người lao động ra nước ngoài làm việc hết rồi, có còn đâu đểphục vụ xã hội và phát triển kinh tế nữa Ở Vn thì người lãnh đạo và quản
lý thì nhiều Vn chỉ cần phát triển ngành quản lý mà thôi Nhưng quản lý
ai và quản lý cái gì thì đố bạn biết đấy
Có 3 yếu tố quyết định sự phát triển kinh tế là lao động, vốn (tưbản), và kỹ thuật Cả 3 yếu tố này đều không thể thiếu nhưng tùy trình độphát triển và điều kiện đặc thù mà thứ tự các yếu tố có sự thay đổi Ởnhững nước phát triển, pp sản xuất không dùng nhiều lao động, thay vào
Trang 11đó là vốn và kỹ thuật (thâm dụng tư bản) Ngược lại ở những nước cònnghèo và kém phát triển như VN lao động là yếu tố quan trọng nhất
Có một đặc điểm khác là các nước phát triển phải đối mặt với tìnhtrạng lão hóa dân số, do vậy họ phải đối diện với nguy cơ thiếu lao động,ngược lại ở VN lại đối diện với tình trạng thừa lao động (phổ thông,không phải lao động có tay nghề cao) Mỗi năm có đến hơn 1 triệu ngườigia nhập thị trường lao động VN Ta giải quyết tình trạng này bằng cáchxuất khẩu lao động
Mặc dù yếu tố tiền lương chỉ chiếm 5-10% tổng chi phí làm ra sảnphẩm, nhiều công ty nước ngoài vẫn đến VN đầu tư do bị thu hút bởi yếu
tố nhân công rẻ Đây cũng chính là lợi thế của VN trong cạnh tranh trênthị trường xuất khẩu Tuy chất lượng thua sút các hàng hóa nước ngoài,giá rẻ là một trong những ưu thế giúp chúng ta gia tăng xuất khẩu mộtcách mạnh mẽ Giá rẻ đó được đóng góp chủ yếu bởi tiền lương thấp Dân số VN trẻ, điều này đặc biệt có ý nghĩa ở hai lĩnh vực: tiêu dùng
và sản xuất Vì dân số trẻ nên nhu cầu mua sắm hàng hóa có triển vọngtăng mạnh, đồng thời lĩnh vực sản xuất có nguồn cung lao động dồi dào
Vn sẽ không phải lo thiếu lao động sản xuất trong hàng thập niên
Trang 12Vai trò của tài nguyên
Tài nguyên thiên nhiên và của cải xã hội
ThienNhien.Net - Với những quốc gia nghèo, nguồn lực tri thức còn hạn chế, chưa sở hữu những bản quyền công nghệ tiên tiến, nội lực tài chính hạn hẹp, tài nguyên thiên nhiên trở thành một trong những chỗ dựa quan trọng trong cuộc đua tăng trưởng kinh tế Dựa vào khai thác tài nguyên để tạo động lực phát triển có thể hiểu được
ở tầm ngắn hạn Tuy nhiên, liệu những quốc gia như Việt Nam có thể đạt đến mục tiêu “phát triển bền vững” về dài hạn hay không khi phải phụ thuộc quá nhiều vào tài nguyên? Có những lựa chọn nào cho phát triển nếu muốn bảo đảm nguyên tắc “bảo vệ thiên nhiên” trong hành trình phát triển bền vững? Hay mục tiêu “phát triển bền vững” là quá xa vời đối với những quốc gia giàu tài nguyên nhưng nền kinh tế còn nghèo nàn?
Tài nguyên của mỗi quốc gia vốn là “của trời cho” Có những quốcgia may mắn hơn những quốc gia khác khi được sinh sống trên nhữngvùng đất giàu có tài nguyên Thế nhưng không phải quốc gia nào cónhiều tài nguyên cũng trở nên giàu có
Tài nguyên thiên nhiên là dạng hàng hóa đặc biệt bởi chúng khôngphải đi qua quá trình sản xuất Nếu được quản lý tốt, tài nguyên sẽ sảnsinh lợi tức Với nhiều quốc gia, khoản lợi tức này đóng góp rất lớn vàonguồn tài chính phục vụ phát triển đất nước Song bên cạnh đó cũng cónhững quốc gia sống dựa vào việc bán rẻ tài nguyên và bị kìm hãm trong
“lời nguyền tài nguyên”
Tài nguyên và tài sản quốc gia
Tài sản quốc gia bao gồm tài nguyên thiên nhiên, của cải tích lũy từcác hoạt động sản xuất và nguồn vốn con người
Điều 17, Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam(1992, sửa đổi 2001) ghi rõ: “Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tàinguyên trong lòng đất, nguồn lợi vùng biển, thềm lục địa và vùng trời…đều thuộc sở hữu toàn dân”
Tài nguyên thiên nhiên, do đó, phải được quản lý và sử dụng đểphục vụ lợi ích của đất nước và nhân dân Tài nguyên không dành đểphục vụ mục đích của cá nhân hoặc một nhóm lợi ích nào
Kiểm soát nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng là nền tảng trong vấn
đề bảo vệ chủ quyền của mỗi quốc gia Chính bản thân mỗi quốc gia và
Trang 13người dân của họ phải xây dựng các hệ thống quản lý tài nguyên nhằmđảm bảo nguồn của cải này phục vụ cho lợi ích phát triển và ổn định củachính họ (Shankleman 2006)
Ở các đất nước có thu nhập thấp, vốn thiên nhiên chiếm tỉ trọng rấtlớn trong cơ cấu giá trị tài sản quốc gia Ngược lại, ở các nước phát triển,vốn vô hình (nhân lực, tri thức, công nghệ….) chiếm tỉ trọng chủ yếu.Theo tính toán, vốn thiên nhiên chiếm khoảng 27% tổng giá trị tài sảnquốc gia của Việt Nam – cùng nhóm các nước thu nhập thấp theo phânloại của Ngân hàng Thế giới (Hồng, Hải et al 2008)
Khai thác tài nguyên - Chuyển đổi loại hình của cải
Nguyên lý đơn giản của sự phát triển là tích lũy của cải Nếu đầu tưkhông tạo ra khoản thặng dư tích lũy, các quốc gia không thể thoát khỏitình trạng đói nghèo
Điều khác biệt trong đầu tư vào khai thác tài nguyên ở chỗ đâykhông phải là hoạt động sản xuất mà là hoạt động chuyển đổi loại hìnhcủa cải Của cải sau khi chuyển đổi phải được bảo toàn giá trị và sinh lời.Nếu không, chẳng khác gì bán tài sản để phục vụ chi tiêu Khi đó, hoạtđộng khai thác lại làm đất nước nghèo đi chứ không hề giàu lên nhưmong đợi
Khi chính phủ bắt đầu sử dụng nguồn thu từ tài nguyên thì một loạtvấn đề mới sẽ nảy sinh Bởi một số loại tài nguyên như dầu mỏ vàkhoáng sản là không thể tái tạo được, việc sử dụng nguồn thu từ bán cácloại hàng hóa này cho chi tiêu nên được hiểu là tiêu dùng bằng vốn hơn làtiêu dùng bằng thu nhập Trong mỗi thời kỳ nhất định, nếu tất cả nguồn
Trang 14thu từ tài nguyên được đem ra chi tiêu hết thì tổng giá trị nguồn vốn củaquốc gia đó nhất định bị giảm xuống (Humphreys, Sachs et al 2007) Tài nguyên dưới lòng đất có thể chuyển hóa thành vàng, cơ sở hạtầng, tiền, hoặc các loại hình tài sản khác trên mặt đất Chiến lược thườngđược áp dụng để tối ưu hóa việc sử dụng nguồn thu từ tài nguyên làchuyển hầu hết doanh thu thành tài sản dạng tiền, đầu tư vào nhiều loạichứng khoán khác nhau Lãi thu về sẽ được xem như thu nhập có thể sửdụng
Với bối cảnh các chương trình khai thác tài nguyên ở Việt Nam, cácnhà hoạch định chính sách cần xác định rõ quy trình chuyển đổi tài sản tàinguyên sang dạng tài sản khác và hoạt động đầu tư sinh lời từ dạng tàisản chuyển đổi đó Liệu Chính phủ có bảo đảm bảo toàn và gia tăng tàisản hay sẽ làm tài sản bị “ăn mòn” do không kiểm soát được quá trìnhchuyển đổi này?
Tăng trưởng kinh tế dựa vào tài nguyên?
Tăng trưởng kinh tế nếu dựa phần lớn vào khai thác quá mức tàinguyên thiên nhiên sẽ không thể giúp Việt Nam đạt được mục tiêu pháttriển bền vững đã đề ra Như đánh giá của Ngân hàng Thế giới: “Tăngtrưởng chỉ là ảo nếu dựa vào khai thác quá mức tài nguyên đất đai và khaithác cạn kiệt các nguồn tài nguyên ngư nghiệp và lâm nghiệp” (Hamiltonand World Bank 2006)
Khai thác tài nguyên thực chất không làm gia tăng của cải mà chỉđơn thuần chuyển đổi từ dạng này sang dạng khác Tài sản thực sự chỉtăng lên khi dạng của cải chuyển đổi từ tài nguyên sinh lời Nếu nguồnthu từ tài nguyên được sử dụng để chi tiêu thì rõ ràng tài sản quốc gia bịgiảm xuống Như vậy, trong trường hợp đó lý thuyết khai thác tài nguyênphục vụ tăng trưởng kinh tế là không đúng đắn
Bản thân nhiều quốc gia dầu mỏ đã và đang chuyển nguồn doanh thu
từ khai thác sang các quỹ đầu tư nhằm chuyển hóa thành các dạng tài sảnkhác Những tài sản này thông qua đầu tư vào các ngành sản xuất và dịch
vụ ngoài khai thác tài nguyên, đầu tư nước ngoài, thị trường chứng khoánv.v… sẽ sinh sôi nảy nở, bảo toàn và phát triển nguồn vốn, gia tăng củacải quốc gia
Cơm chưa ăn, gạo hãy còn
Việt Nam có nguồn tài nguyên khoáng sản dồi dào hiện vẫn chưakhai thác nhiều Các loại khoáng sản được khai thác chủ yếu vẫn là dầu
mỏ, khí đốt và than, chiếm tỉ trọng 90% sản lượng ngành khai thác mỏ và
Trang 15khai thác đá Những nguồn tài nguyên chưa khai thác là tài sản dự trữ,mang lại lợi thế về dài hạn cho đất nước và các thế hệ tương lai
Khoáng sản (chủ yếu là dầu mỏ, khí thiên nhiên và than) chiếm đến40% tỉ trọng trong tổng giá trị tài nguyên thiên nhiên Đóng góp củakhoáng sản có xu hướng tăng trong thời gian vừa qua do giá cả thị trườngcủa các tài nguyên này tăng và sản lượng khai thác nâng lên do có đầu tưsâu vào hoạt động thăm dò để phát hiện thêm nhiều mỏ mới Tuy nhiên,khó có thể đảm bảo tiềm năng kinh tế của nguồn tài nguyên này do sựbiến động của giá cả thị trường cũng như chi phí khai thác (Hồng, Hải et
al 2008)
Chuyển đổi tài sản tiềm năng thành các loại tài sản hữu hình hoặc vôhình khác (như tri thức, công nghệ, giáo dục) chỉ tối ưu khi chúng ta cókhả năng làm chủ công nghệ và trao đổi được với mức giá cao nhất trênthị trường Trong hiện trạng thế giới ngày càng đói tài nguyên, rõ ràngcàng giữ gìn và quản lý tốt, chúng ta càng có lợi thế hơn so với các quốcgia khác về lâu dài Chính vì thế, nhiều cường quốc đã và đang “khóa”kho tài sản của mình và chuyển hướng sang khai thác tài nguyên của cácquốc gia khác
Cũng có người cho rằng nếu không khai thác thì tài nguyên vẫn mãinằm dưới lòng đất và cũng không có giá trị gì Thực ra, cách tư duy nàykhá phổ biến do người ta thường quy đổi giá trị tài nguyên bằng giá trịkinh tế trực tiếp Cách nghĩ giản đơn này không tính đến giá trị tích lũycủa tài nguyên và các dịch vụ sinh thái mà bản thân tài nguyên mang lại
Lựa chọn khác?
Những thành tựu phát triển của Việt Nam trong những năm quachưa hẳn đã có thể trả lời được câu hỏi: Chúng ta hiện có đang đi trên conđường phát triển bền vững? Vốn thiên nhiên (chủ yếu từ tài nguyên đấtnông nghiệp và khoáng sản) vẫn còn chiếm tỉ trọng lớn, trong khi vốn conngười chưa được phát triển tương xứng với tiềm năng
Vậy có lựa chọn nào khác cho Việt Nam thực sự hướng đến pháttriển bền vững?
Để sử dụng hiệu quả tài nguyên của đất nước, chúng ta rất cần nângcao tỉ trọng vốn con người Tri thức và nguồn nhân lực tốt là yêu cầu cấpbách đáp ứng quản lý và áp dụng công nghệ tiên tiến trong khai thác, chếbiến tài nguyên Muốn nâng cao tỉ trọng vốn con người, nền giáo dục cầnchú trọng vào đào tạo thực hành và cải thiện kỹ năng của nguồn nhân lực,bớt lý thuyết và giáo điều Bên cạnh đó, nền khoa học cần chú trọng hơn
Trang 16đến những nghiên cứu, ứng dụng nhiên liệu và năng lượng mới để đápứng nhu cầu phát triển
Trong khi nguồn tài chính hiện rất dồi dào, khi các quốc gia khácđang có nhu cầu cho vay, chúng ta có thể sử dụng để đầu tư cho tương laithông qua chấn hưng giáo dục và phát triển khoa học như một chiến lượcphát triển bền vững
Giá trị của tài nguyên có thể được bảo toàn và nâng cao hơn nếuchúng ta có được những công nghệ tiên tiến Phụ thuộc công nghệ bênngoài sẽ dẫn đến chảy máu tài nguyên khi chúng ta không có cách nàokhác hơn xuất khẩu tài nguyên thô Theo số liệu năm 2006, trong khi dầuthô của Việt Nam chiếm 21% tổng giá trị xuất khẩu thì đổi lại dầu tinhluyện và sắt thép đã chiếm 21,4 % giá trị nhập khẩu
Trong nguồn vốn thiên nhiên, tài nguyên rừng – nguồn tài nguyên cóthể tái sinh – mới chỉ đóng góp 9% Giá trị tài nguyên gỗ và phi gỗ có thểđược tăng lên đáng kể mà không làm kiệt quệ rừng nếu có đầu tư thíchđáng vào cải thiện năng suất rừng sản xuất thông qua cải tiến công nghệ,quản lý và chính sách Hiện tại, đầu tư cho lâm nghiệp vẫn còn nhỏ bé vàchưa xứng với tiềm năng đất rừng
Nhưng hơn hết, để phát triển bền vững cần có triết lý phát triển khácvới hiện nay để mục tiêu “bền vững” là thực chất chứ không chỉ mangtính khẩu hiệu và trang trí Và có lẽ chúng ta sẽ cần đến một sự thay đổi
tư duy để có thể tính toán, quy đổi vốn thiên nhiên thành giá trị đúng đắnhơn Nguồn vốn thiên nhiên thực sự đang bị định giá quá thấp!
Nguồn lợi và vốn thiên nhiên
Tin đưa ngày: 15/04/2009
Thiên nhiên luôn đóng vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc sống, song
sự phát triển của loài người lại đang khiến thiên nhiên bị phá hủy hơn bao giờ hết Nghịch lý này khiến nguồn sống của con người bị đe dọa và tương lai của nhân loại trở nên thiếu bền vững Bài viết phân tích vấn đề dưới góc độ kinh tế học môi trường dưới đây sẽ giúp làm sáng tỏ nhiều điều
Khái niệm
Khái niệm Vốn thiên nhiên chỉ những nguồn tài nguyên hữu sinh, vô sinh cung cấp nguyên liệu phục vụ nền kinh tế nhân loại hoặc cung cấp những
Trang 17dịch vụ duy trì các chu trình địa-hóa-sinh và sự sống
Vốn thiên nhiên là các nguồn cung tài nguyên hoặc các dịch vụ có nguồn gốc từ thiên nhiên Rừng, các mỏ khoáng sản, nguồn lợi thủy sản và đất đai màu mỡ là một số ví dụ về nguồn vốn thiên nhiên Khả năng lọc không khí và làm sạch nước cũng là hai trong số nhiều dịch vụ sinh thái bắt nguồn từ thiên nhiên
Nguồn lợi thiên nhiên là lợi suất hàng năm từ những nguồn tài nguyên thiên nhiên như gỗ, quặng, thủy sản và thực vật tương ứng với các nguồn vốn đề cập ở trên Điểm giới hạn bền vững bị vượt qua khi nguồn lợi thiênnhiên bị sử dụng hết, khiến nguồn vốn thiên nhiên bị giảm năng suất trongkhi cần được duy trì để đảm bảo tiếp tục cung cấp lợi suất tự nhiên tương đương trong tương lai
Nguồn lợi thiên nhiên không đơn thuần là tài nguyên
Tài nguyên thiên nhiên không là nguồn lợi duy nhất do hệ sinh thái cung cấp Hệ sinh thái còn rất nhiều chức năng khác
Chẳng hạn, rừng không đơn giản chỉ cung cấp gỗ mà còn có tác dụng chống xói mòn đất, hấp thụ nước mưa và góp phần kiểm soát lũ Rừng cũng là môi trường sống của nhiều loài động, thực vật Những loài động thực vật này có thể là nguồn thức ăn hoặc thuốc chữa bệnh cho những loàikhác Rừng hấp thụ nguồn khí thải tự nhiên từ những sinh vật sống khác, chuyển hóa thành oxi, đồng thời lọc các-bon khỏi không khí, tác động đến
vi khí hậu của khu vực Rừng là nhân tố quan trong trọng chu trình tạo nước cũng như đem lại sự hài hòa thẩm mỹ và niềm hứng khởi về mặt tinh thần Hệ sinh thái rừng còn có chức năng duy trì sự sống cho môi trường rừng và các sinh vật sống trong nó
Các chức năng của hệ sinh thái là hình thái khác của nguồn lợi thiên nhiênbắt nguồn từ chính nguồn vốn thiên nhiên thuộc hệ sinh thái rừng - nơi cung cấp gỗ cho các mục đích kinh tế Các chức năng của hệ sinh thái mang lại giá trị đặc thù như vậy cho con người được gọi là các Dịch vụ sinh thái
Trang 18• Khai thác tài nguyên hủy hoại các chức năng sinh thái
Phân biệt các chức năng của tài nguyên và dịch vụ trong cùng một
hệ sinh thái là một điểm quan trọng giúp hiểu rõ mối quan hệ giữa quy mô tự nhiên của nền kinh tế và khả năng hỗ trợ cuộc sống của
hệ sinh thái
Cùng một hệ sinh thái sẽ đem lại các nguồn lợi thiên nhiên bao gồm
cả các nguồn tài nguyên và những dịch vụ sinh thái Tuy nhiên, thông thường chỉ có hoạt động khai thác tài nguyên, vốn mang lại khối lượng nguyên vật liệu lớn, mới được tính đến trong lý thuyết kinh tế và thực tiễn Từ cùng một khu rừng, gỗ sẽ có giá cả thị trường nhất định nhưng khả năng kiểm soát xói mòn hay điều hòa khí hậu thì không
Kết cục, đa số chính sách chỉ tập trung vào sản xuất gỗ hơn là toàn
bộ nguồn lợi thiên nhiên do các dịch vụ sinh thái mang lại Đó là những tổn thất nghiêm trọng và sâu rộng hơn trong dịch vụ sinh thái so với việc tài nguyên bị rút ruột, vốn đã là một mối đe dọa lớn đối với sự sống trên hành tinh
Vốn thiên nhiên có thể mất đi khi vốn tài chính phát triển
Trang 19Nguồn lợi thiên nhiên hoặc các dịch vụ đa dạng từ cùng một hệ sinhthái đều có những mức độ nhạy cảm khác nhau đối với sự can thiệp
từ bên ngoài Khi rừng bị mất đi một khối lượng gỗ nào đó thì các dịch vụ sinh thái như khả năng giữ nước và sự đa dạng sinh học củamôi trường sống sẽ bị ảnh hưởng theo các mức độ khác nhau
Có trường hợp sự xâm hại vượt qua ngưỡng giới hạn khiến một haynhiều dịch vụ sinh thái của rừng không thể tự phục hồi thậm chí trong khi vẫn tiếp tục bị khai thác Khi giới hạn bền vững bị vượt qua ở một mức độ nào đó, giá gỗ trên thị trường không biểu hiện hết được những tổn thất của các dịch vụ sinh thái Cả nguồn vốn và nguồn lợi thiên nhiên mà các dịch vụ sinh thái mang lại có thể bị tàn phá khi các nguồn lực tài chính tiếp tục phát triển, thậm chí chỉ trong một thời gian ngắn
Phá hủy các dịch vụ sinh thái là phá hủy sự bền vững
Giới hạn bền vững của một dịch vụ sinh thái bị phá vỡ khi mức độ khai thác tài nguyên khiến nguồn vốn thiên nhiên giảm khả năng cung cấp một nguồn lợi thiên nhiên tương tự trong tương lai như đã từng mang lại trong quá khứ
Bất kể quá trình trao đổi diễn ra với tiền bạc hay nguồn vốn thiên nhiên, khi tỉ lệ khai thác vượt quá khả năng phục hồi, lượng tài nguyên sẵn có cũng sẽ giảm dần về số không khiến tính bền vững
bị phá hủy
Tư duy về giới hạn bền vững buộc chúng ta tập trung nhiều hơn vàocác dịch vụ sinh thái và nguồn lợi thiên nhiên mà chúng đem lại, ít nhất là ngang bằng sự quan tâm dành cho bản thân các nguồn tài nguyên
Bởi nguồn vốn thiên nhiên bị loại ra khỏi các lý thuyết cũng như thực tiễn kinh tế, những nguồn hỗ trợ quan trọng của nguồn lợi thiên nhiên, vốn rất cần thiết cho sự phát triển bền vững, thường bị coi là không có giá trị trên thị trường và thường chịu lãng quên
Trang 20Cạnh tranh vốn thiên nhiên
Các chu trình trao đổi năng lượng và dinh dưỡng giữa những yếu tốhữu sinh và vô sinh của hành tinh đã tạo cho trái đất của chúng ta một khả năng độc đáo nhằm hỗ trợ những hình thái sống phức tạp Mọi sự sống trên trái đất phụ thuộc vào nguồn năng lượng mặt trời
và việc trao đổi vốn thiên nhiên trong những quy trình duy trì sự sống
Khi loài người tiến hóa, sinh sôi trên khắp địa cầu và nâng cao mức tiêu thụ nguyên vật liệu thông qua cải tiến công nghệ, con người bắtđầu cạnh tranh với các loài và các chu trình tự nhiên khác trong việc chiếm hữu nguồn vốn thiên nhiên có hạn Thành công của loài người trong cuộc cạnh tranh này đã dẫn con người đến chỗ đánh bạithế giới tự nhiên mà con người vẫn phụ thuộc
Tư duy về giới hạn bền vững sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về sự cânbằng cần thiết giữa mức tiêu dùng các nguồn vốn thiên nhiên của con người và việc sử dụng phần tài nguyên hạn chế còn lại của chính thiên nhiên
Nguồn vốn thiên nhiên nào là thiết yếu?
Việc sử dụng nguồn vốn thiên nhiên để sản xuất ra các hàng hóa và dịch vụ là thiết yếu đối với sự tồn tại và phồn vinh của loài người
Vì vậy, khai thác một vài nguồn vốn thiên nhiên cũng là một phần trong tổng thể hoạt động kinh tế Câu hỏi sống còn đặt ra là: “Bao nhiêu nguồn vốn thiên nhiên cần được bảo vệ để nguồn lợi thiên nhiên về cả hàng hóa và dịch vụ không bị suy giảm?” Hay nói khác: “Nguồn vốn thiên nhiên là thiết yếu đối với đời sống con người ở những khía cạnh nào và số lượng bao nhiêu?” Đây cũng là một cách khác để tiếp cận vấn đề giới hạn bền vững
Điều gì khiến chức năng hoặc dịch vụ sinh thái quan trọng?
Có ba đặc điểm chính làm cho các chức năng hoặc dịch vụ sinh thái
Trang 21có tầm quan trọng rất lớn:
•
o Tính không thể thay thế: Không dịch vụ hoặc chức năng khác, tự nhiên hay nhân tạo, có thể thay thế những dịch vụ vàchức năng hiện tại (chẳng hạn như chức năng bảo vệ bức xạ mặt trời hay khả năng điều hòa khí hậu )
o Tính không thể phục hồi: nghĩa là nếu bị phá hủy ở một mức
độ nào đó, nó sẽ không thể phục hồi như nguyên trạng (mất cân bằng đa dạng sinh học, chất thải độc hại )
o Nguy cơ cao: những tổn thất của hệ sinh thái tiềm tàng một nguy cơ lớn đối với sự phồn vinh của loài người (khí hậu đã
có những biến động chưa từng thấy trong lịch sử nhân
loại…)
Trang 22Vai trò của công nghệ
I Vai trò của công nghệ
Một đặc điểm nổi bật của thế giới ngày nay là sự phân chia giàunghèo ngày càng lớn giữa các nước phát triển và đang phát triển Một sốnước đang phát triển ở Châu Á, đặc biệt là tại các nước Đông Nam Á đãvươn lên rút ngắn thời gian và đạt được sự tăng trưởng nhanh chóng,giảm khoảng cách giàu nghèo trong khuôn khổ của phát triển bền vữngbằng con đường công nghiệp hoá (CNH) Trong đó, vai trò thúc đẩy củacông nghệ đóng vai trò cốt lõi của mọi quá trình Vậy CNH là gì? Có thểhiểu Công nghiệp là tổng hợp các giải pháp cũng như công cụ để chuyểnđổi các nguồn tài nguyên thiên nhiên và sức lao động của con ngườithành sản phẩm hàng hoá và dịch vụ phục vụ cho nhu cầu của xã hội.Chính công nghệ là yếu tố quyết định mức độ hiệu quả trong việc sửdụng tài nguyên, làm nên sự thay đổi xã hội Lịch sử phát triển của xã hộiloài người đã chứng minh mối quan hệ biện chứng giữa công nghệ vàphát triển bằng việc tăng cường áp dụng công nghệ, xã hội loài người đãtừng bước chuyển dịch vị thế của mình từ thế giới tự nhiên sang thế giớinhân đạo… Công nghệ cũng chính là yếu tố quyết định sự thịnh vượnghay suy vong của một quốc gia
Trong xã hội hiện đại, vai trò của công nghệ ngày càng tăng lên Nó
đã và đang trở thành hàng hoá được chuyển giao trên thị trường và đượcbảo hộ bằng pháp luật Những tiến bộ như vũ bão của KH-CN trong haithập kỷ qua, đặc biệt là trong các lĩnh vực Công nghệ thông tin, côngnghệ sinh học, công nghệ Nano, tự động hoá đã làm đảo lộn tư duy vàchiến lược của nhiều nước Không ai còn có thể hoài nghi về vai trò củacông nghệ trong phát triển kinh tế toàn cầu và của mỗi quốc gia Trong xuthế ấy, bất kỳ quốc gia nào hay địa phương nào khi xây dựng chính sáchtrong chiến lược phát triển CNH cũng phải chú ý tới vai trò đặc biệt củacông nghệ và mối quan hệ mật thiết của chúng với cơ cấu kinh tế với môhình đầu tư và Thương mại Nội dung của CNH là sự biến đổi cơ cấu
kinh tế, đạt được năng suất cao và tăng trưởng nhanh, CNH trong hoàn
cảnh chính trị phát triển ổn định và hoà hợp CNH và biểu hiện của nótrong nhiều trường hợp không còn giống như trước mà có nhiều biểu hiệnmới Tuy nhiên, về bản chất của CNH vẫn không thay đổi và đặc điểmbao trùm là sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế với sự giảm của khu vực nông
Trang 23nghiệp, giảm tương đối phần công nghiệp với sự xuất hiện của nôngnghiệp và công nghiệp công nghệ cao và sự gia tăng của khu vực dịch vụ.
II Nước ta đang trong thời kỳ thúc đẩy mạnh mẽ quá trình CNH,
nhiều địa phương – trong đó có BR-VT những năm qua đã đạt đượcnhững thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế với sự tăng trưởng cao vàliên tục Các chỉ số của tổng sản phẩm (GDP) trên địa bàn theo ngành và
cơ cấu kinh tế trong gần 10 năm qua (theo giá hiện hành - triệu đồng) nhưsau:
2005Tổng số 17.425.597 tỷ trọng 118.804.08
2 Công nghiệp 13.219.00
Về cơ cấu sản phẩm (GDP do địa phương quản lý)
2005Tổng số 2.990.108 tỷ trọng 8.192.364 tỷ trọngCông nghiệp 822.314 29,66% 2.844.715 34,72%Dịch vụ 1.422.649 46,86% 3.343.824 40,82%Nông nghiệp 745.154 23,48% 2.003.825 24,46%Các chỉ số trên cho thấy gần 10 năm qua, trên địa bàn tỉnh BR-VT,
cơ cấu kinh tế theo ngành đã thể hiện rõ rệt mức độ CNH, trong đó tỷtrọng sản phẩm công nghiệp trong GDP tăng từ 75,86% (năm 1997) lên91,46% (năm 2005) Đặc biệt, tốc độ tăng trưởng cao của tất cả các lĩnhvực trong tổng sản phẩm GDP của tỉnh, trong đó cao nhất là lĩnh vựccông nghiệp đạt 6,25 lần, dịch vụ tăng 2 lần và nông nghiệp tăng 2,5 lần.Tuy nhiên, trong cơ cấu tổng sản phẩm do địa phương quản lý ở khu vựcnông nghiệp còn chiếm tỷ trọng lớn (23,48%) so với công nghiệp(29,66%) vào năm 1997 Sau gần 10 năm phấn đấu, tỷ trọng này là27,46% so với 34,72% (chưa có thay đổi lớn) còn tỷ trọng dịch vụ lại cóphần giảm khi năm 2005 chỉ số lĩnh vực này đạt được chỉ là 40,8% so với46,86% năm 1997