1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Những yếu tố đảm bảo việt nam sớm vượt khỏi ngưỡng các nước có thu nhập thấp

38 364 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 471,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung của “vượt ngưỡng nước đang phát triển có thu nhập thấp” Trong số những cách phân loại các nước nêu trên, nếu căn cứ một cách có hệ thống vào mức thu nhập bình quân đầu người để

Trang 1

1 Thế nào là vượt khỏi ngưỡng nước đang phát triển có thu nhập thấp

1.1 Khái quát về cách thức phân loại các nước

Hiện nay, một số tổ chức quốc tế tiến hành phân loại các nước theo cách thức khác nhau dựa trên các tiêu chí khác nhau, trong đó có tiêu chí thu nhập bình quân đầu người Dưới đây là các cách phân loại của một số tổ chức tiêu biểu

- Thứ nhất, cách phân loại của Ngân hàng Thế giới (WB):

Cách phân loại này bao gồm các nước đang phát triển và các nước phát triển Dựa vào mức thu nhập bình quân đầu người, Ngân hàng Thế giới phân chia thành bốn nhóm nước, bao gồm: (1) Nước có thu nhập thấp, với mức thu nhập bình quân đầu người từ 905 USD/năm trở xuống; (2) Nước có thu nhập trung bình thấp, với mức thu nhập bình quân đầu người từ 906 USD đến 3.595 USD/năm; (3) Nước có thu nhập trung bình cao, với mức thu nhập bình quân đầu người từ 3.596 USD đến 11.115 USD/năm; và (4) Nước có thu nhập cao, với mức thu nhập bình quân đầu người từ 11.116 USD/năm trở lên

- Thứ hai, cách phân loại của Liên hợp quốc (UN):

Theo cách phân loại của Liên hợp quốc, có bốn mức đánh giá nền kinh tế dựa theo thu nhập bình quân đầu người Theo đó, thu nhập bình quân dưới 765 USD/người/năm là nước có thu nhập thấp; từ 765 USD đến dưới 3.000 USD/người/năm là nước có thu nhập trung bình thấp; từ 3.000 USD đến 9.100 USD/người/năm là nước có thu nhập trung bình cao và trên 9.100 USD/người/năm

là nước có thu nhập cao (mức này thay đổi tuỳ theo tình hình phát triển kinh tế toàn cầu, nếu tính đến thời giá hiện nay thì ngưỡng nước đang phát triển có thu nhập thấp

là 875 USD/người/năm)

Ngoài ra, Liên hợp quốc còn có một cách phân loại nữa áp dụng cho các nước thuộc Thế giới thứ ba (đang phát triển) Sự phân loại này dựa trên cơ sở thu nhập bình quân đầu người GNP và có ba loại chính, bao gồm: (1) Các nước kém phát

Trang 2

triển nhất; (2) Các nước đang phát triển (không xuất khẩu dầu mỏ); và (3) Tổ chức các nước xuất khẩu dầu lửa (OPEC)

- Cách phân loại của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP):

Cách phân loại của UNDP dựa trên cơ sở Chỉ số Phát triển Con người (HDI) chứ không phải là tiêu chí thu nhập bình quân đầu người HDI là một thước đo phát triển bên cạnh thu nhập bình quân đầu người, nó cũng kết hợp với tuổi thọ, tỷ lệ sinh

đẻ và kiến thức, tỷ lệ biết chữ trung bình và số năm tới trường Có ba nhóm nước được phân loại dựa trên tiêu chí này, bao gồm: (1) Các nước phát triển con người cao, với HDI lớn hơn hoặc bằng 80; (2) Các nước phát triển con người trung bình, với HDI lớn hơn hoặc bằng 51 và nhỏ hơn hoặc bằng 79; và (3) Các nước phát triển con người thấp, với HDI nhỏ hơn hoặc bằng 50

- Cách phân loại của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD):

OECD đưa ra một cách phân loại khác về các nước thế giới thứ ba và bao gồm cả các nước không nằm trong hệ thống Liên hợp quốc Phân loại này gồm có: (1) Các nước thu nhập thấp; (2) Các nước có thu nhập trung bình; (3) Các nước công nghiệp mới; và (4) Các nước thuộc OECD

1.2 Nội dung của “vượt ngưỡng nước đang phát triển có thu nhập thấp”

Trong số những cách phân loại các nước nêu trên, nếu căn cứ một cách có hệ thống vào mức thu nhập bình quân đầu người để phân loại các nước, thì cách phân loại thứ nhất của Liên hợp quốc và cách phân loại của Ngân hàng Thế giới sẽ được lựa chọn Theo đó, một quốc gia muốn vượt ngưỡng nước đang phát triển có thu nhập thấp thì nước ấy phải có thu nhập bình quân đầu người (GDP bình quân đầu người) cao hơn giới hạn thu nhập bị xếp vào nhóm nước có thu nhập thấp Cụ thể là, nếu căn cứ vào cách phân loại của Liên hợp quốc, thì một nước sẽ vượt qua ngưỡng nước đang phát triển có thu nhập thấp khi GDP bình quân đầu người của nước ấy cao hơn 875 USD/năm (theo thời giá hiện nay) Còn nếu căn cứ vào cách phân loại của Ngân hàng Thế giới, thì nước ấy phải có mức GDP bình quân đầu người tối thiểu 906 USD/năm thì mới được coi là vượt qua ngưỡng nước đang phát triển có thu nhập thấp

Tóm lại, việc đánh giá phân loại các nước chỉ đơn thuần dựa vào mức thu nhập bình quân đầu người hàng năm là khá đơn giản Người ta chỉ cần căn cứ vào các ngưỡng thu nhập để phân loại các nước do các tổ chức phân loại đưa ra theo thời giá, so sánh các ngưỡng ấy với mức thu nhập bình quân đầu người của các nước là

có thể xếp loại nước ấy thuộc nhóm nào Hiện nay, cách phân loại này đang được áp dụng phổ biến trên thế giới

Trang 3

2 Nghịch lý của chỉ số GDP bình quân đầu người (viết tắt là GDP/người)

Chỉ số GDP bình quân đầu người của một nước được tính bằng cách lấy tổng sản phẩm quốc nội (GDP) chia cho số dân của nước ấy cho một năm nhất định Chỉ

số này thường được sử dụng để đánh giá mức độ thu nhập của người dân ở các nước Nó phản ánh những biến đổi về mặt tăng trưởng kinh tế, là bộ phận cấu thành của một số chỉ số tổng hợp khác Tuy nhiên, mặc dù hiện nay nhiều nước vẫn dùng chỉ số GDP/người, nhưng nhìn chung nó có nhiều nhược điểm và chưa phản ánh sát đúng tình hình kinh tế của một nước Cụ thể hơn, chỉ số GDP bình quân đầu người không thể phản ánh một cách chân thực mức thu nhập của người dân ở mỗi nước

Có một số lý do chủ yếu sau đây:

- Thứ nhất, chỉ số GDP/người không phản ánh được sự khác biệt về sức mua tương đương của các đồng tiền do tác động của cơ chế tỷ giá hối đoái, thuế… do vậy không phản ánh chân thực thu nhập thực tế của người dân ở mỗi nước Thí dụ, năm 2005 Việt Nam có mức GDP/người đạt 639 USD, còn Singapore có mức GDP/người đạt 25.000 USD- tức là Singapore cao gấp 39 lần so với Việt Nam xét trên danh nghĩa Tuy nhiên, nếu xét tới sức mua tương đương của đồng tiền, thì mức GDP/người của Việt Nam năm 2005 đạt 3.025 USD, trong khi đó mức GDP/người của Singapore đạt 28.370 USD- chỉ cao gấp 9,4 lần so với Việt Nam Rõ ràng ở đây

có sự chênh lệch rất lớn (39 so với 9,4), và người ta thừa nhận rộng rãi rằng chỉ số GDP/người có tính tới sức mua tương đương (PPP) phản ánh chân thực hơn mức thu nhập thực tế của người dân ở mỗi nước Điều đó cho thấy những nhược điểm rõ ràng của chỉ số GDP/người danh nghĩa

- Thứ hai, chỉ số GDP/người, thậm chí đã tính tới sức mua tương đương, mới chỉ phản ánh mặt số lượng bình quân của thu nhập của người dân ở mỗi nước, trong khi chưa thể phản ánh được tính chất phân phối thu nhập giữa các bộ phận dân cư trong xã hội Hay nói cách khác, nó chưa phản ánh được mức độ phân hoá giàu– nghèo ở một nước Khi xem xét sâu hơn chỉ số GDP/người của một nước, người ta thường đặt câu hỏi: Liệu có bao nhiêu phần trăm dân số nước đó có mức thu nhập bình quân ngang bằng hoặc cao hơn mức GDP bình quân đầu người của cả nước? Nếu tỷ lệ là cao, thì chỉ số GDP/người mới phản ánh chân thực mức thu nhập và đời sống dân cư của nước đó Còn nếu tỷ lệ là thấp, rõ ràng chỉ số GDP/người chỉ là một cách thống kê che đậy một trong những vấn đề hết sức bức xúc của bất kỳ xã hội nào, đó là tình trạng bất bình đẳng thu nhập và phân hoá giàu- nghèo trong xã hội

- Ngoài ra, chỉ số GDP/người không thể phản ánh được nhiều mặt thuộc về

chất lượng của tăng trưởng và phát triển kinh tế như: cơ cấu kinh tế; năng suất, hiệu quả, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế; sự ổn định của các cân đối vĩ mô; sự bền

Trang 4

vững về tài nguyên, môi trường; sự gắn kết và lành mạnh xã hội… Trong khi đó, đây là những yếu tố không thể thiếu để đảm bảo một nền kinh tế đạt được tăng trưởng và phát triển bền vững, thực sự vượt qua ngưỡng nước đang phát triển có thu nhập thấp

Những lý do trên cho thấy rằng, để vượt ngưỡng nước đang phát triển có thu nhập thấp một cách đích thực, một nước không chỉ phải đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng GDP để mức GDP bình quân đầu người vượt qua các ngưỡng đã định, mà còn phải đạt được một loạt các yếu tố đi kèm khác (những yếu tố này sẽ được trình bày rõ hơn trong các phần sau)

3 Những kiểu vượt ngưỡng khác nhau

Do những nhược điểm của chỉ số GDP bình quân đầu người, cho nên có nhiều vấn đề được đặt ra xoay quanh sự vượt ngưỡng của các quốc gia, hình thành nên hai kiểu vượt ngưỡng cơ bản trái ngược nhau: (1) Vượt ngưỡng giả; và (2) Vượt ngưỡng đích thực và bền vững Vượt ngưỡng giả diễn ra khi sự vượt ngưỡng ấy là không đích thực và không bền vững Có thể sự vượt ngưỡng ấy là phiến diện, với mức GDP bình quân đầu người vượt qua ngưỡng nước đang phát triển có thu nhập thấp, nhưng đi kèm theo đó là sự bất ổn kinh tế vĩ mô, năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế thấp, bất bình đẳng xã hội tăng cao,… Sự vượt ngưỡng giả cũng có thể là sự vượt ngưỡng rất mong manh, dễ trồi lên, thụt xuống do tính chất không ổn định của tăng trưởng kinh tế Những năm kinh tế tăng trưởng cao sẽ đảm bảo cho mức GDP bình quân đầu người vượt qua ngưỡng nước đang phát triển có thu nhập thấp, nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau khi tăng trưởng kinh tế sụt giảm sẽ không đảm bảo cho mức GDP/người vượt qua ngưỡng thu nhập này, khi đó nước ấy lại rơi vào nhóm nước có thu nhập thấp Vượt ngưỡng giả cũng có thể xảy

ra trong trường hợp sự vượt ngưỡng gây nguy hại cả trước mắt và trong tương lai Điều này xảy ra khi một nước chạy theo tăng trưởng kinh tế bằng mọi giá để nâng cao thu nhập bình quân đầu người mà coi nhẹ những yếu tố khác dẫn đến bất ổn các cân đối vĩ mô, tham nhũng cao, phá vỡ gắn kết xã hội, cạn kiệt nguồn tài nguyên, tàn phá môi trường, gia tăng bất bình đẳng,…

Trái với vượt ngưỡng giả, sự vượt ngưỡng đích thực và bền vững không chỉ hàm ý một sự tăng trưởng kinh tế cao và bền vững để đảm bảo người dân có một mức thu nhập cao và ổn định Đi kèm theo tăng trưởng cao và bền vững là hàng loạt những yếu tố quan trọng khác như: tiết kiệm và đầu tư có hiệu quả, duy trì bình đẳng thu nhập giữa các nhóm dân cư để tạo ra gắn kết xã hội, nhà nước và toàn dân đầu tư mạnh vào giáo dục để nâng cao dân trí, vận dụng khoa học - công nghệ, diệt trừ tham nhũng, xây dựng một bộ máy nhà nước trong sạch, có hiệu lực, phát triển

Trang 5

khu vực doanh nghiệp năng động, có năng lực cạnh tranh để duy trì tăng trưởng và phát triển

Có những thí dụ thú vị và nhiều bài học xoay quanh sự vượt ngưỡng của các quốc gia Một trong những hình ảnh gần đây thường được các nhà kinh tế nói tới là

“cái bẫy thu nhập trung bình”, hàm ý tình trạng của một số nước sau khi đã thoạt được ngưỡng nước đang phát triển có thu nhập thấp (GDP bình quân đầu người khoảng dưới 1.000 USD/năm) rất lâu không vươn lên được ngưỡng 10.000 USD của nước giàu Trong số những nước nghèo, có một số nước đã thoát nghèo và trở thành những “con hổ” châu Á, có thu nhập trung bình Song, một số nước như Philippin, Inđônêsia và cả Thái Lan, Malaysia đều chỉ loanh quanh ở mức thu nhập bình quân dưới 10.000 USD/người Từ những nước thu nhập trung bình này, có rất ít nền kinh

tế tiếp tục tăng trưởng bền vững để trở thành những nền kinh tế có thu nhập cao trên 10.000 USD/người và trở thành “con rồng” như Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore

Thực tế trên gợi ý rằng, một nước sau khi vượt qua ngưỡng nước đang phát triển có thu nhập thấp, thì cần phải nỗ lực vượt qua cái “bẫy thu nhập trung bình” Muốn vậy nước ấy phải tìm mọi cách để đảm bảo sự vượt ngưỡng của mình là đích thực và bền vững

Trang 6

B NHỮNG YẾU TỐ ĐẢM BẢO VIỆT NAM SỚM VƯỢT NGƯỠNG NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN CÓ THU NHẬP THẤP

1 Thực trạng thu nhập trong phát triển hiện nay của Việt Nam

1.1 Những thành tựu

Một trong những thành tựu quan trọng nhất của quá trình đổi mới ở Việt Nam

là luôn đạt và duy trì được tốc độ tăng trưởng GDP cao hàng đầu trong khu vực và

cả trên thế giới Đây là một yếu tố cơ bản để đảm bảo Việt Nam có thể sớm vượt ngưỡng nước đang phát triển có thu nhập thấp Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong giai đoạn 1990-2007, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm của Việt Nam đạt 7,5%, trong đó năm cao nhất đạt 9,5% (1995) và năm thấp nhất đạt 4,8% (1999) (Hình 1)

Hình 1 Tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam, giai đoạn 1990-2007

Đơn vị: %

5.1

5.8

8.7 8.1 8.8 9.5 9.3

Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2008)

Trong giai đoạn 1990- 2007, sự sụt giảm tăng trưởng GDP trong các năm

1997, 1998 là do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu Á Tuy nhiên, kể từ năm 2000 đến nay tốc độ tăng trưởng GDP luôn được duy trì ở mức khá cao, ổn định và vững chắc Xu thế này nhiều khả năng sẽ tiếp tục trong những năm tới

Trang 7

Tốc độ tăng trưởng GDP cao hơn đáng kể so với tốc độ gia tăng dân số trong nhiều năm liên tục là nhân tố chủ yếu khiến mức GDP bình quân đầu người của Việt Nam tăng cao gấp nhiều lần trong giai đoạn 1990- 2007 Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, GDP bình quân đầu người năm 2007 của Việt Nam đạt 835 USD, cao gấp hơn 7 lần so với mức GDP bình quân đầu người năm 1990 (Hình 2)

Hình 2 Mức thu nhập GDP bình quân đầu người của Việt Nam, giai đoạn 1990-2007

Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2008)

Với tốc độ tăng trưởng GDP khá vững chắc hiện nay, năm 2008 nền kinh tế Việt Nam có thể đạt mức tăng trưởng 8,5-9% như kế hoạch đã đề ra, khi đó GDP bình quân đầu người sẽ đạt 960 USD Nếu kịch bản này xảy ra, thì kết thúc năm

2008 lần đầu tiên mức GDP bình quân đầu người của Việt Nam vượt ngưỡng thu nhập bình quân của nước đang phát triển có thu nhập thấp Năm 2009, dự báo mức GDP bình quân đầu người của Việt Nam sẽ đạt 1.060 USD, khi đó Việt Nam sẽ hoàn toàn vượt ngưỡng nước đang phát triển có thu nhập thấp

Bên cạnh tăng trưởng kinh tế, công tác xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam trong mấy thập kỷ qua cũng đạt được những thành tựu quan trọng Trước khi tiến hành công cuộc đổi mới, tỷ lệ các hộ nghèo ở Việt Nam rất cao, lên đến 70% Bước vào

Trang 8

thời kỳ đổi mới, công tác xoá đói giảm nghèo đã được Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành và toàn xã hội đặc biệt quan tâm, kết quả là tỷ lệ hộ nghèo trên cả nước đã giảm khá nhanh chóng Việt Nam được cộng đồng quốc tế công nhận là nước có tốc

độ giảm nghèo nhanh trên thế giới và là một trong những nước đi đầu trong thực hiện mục tiêu giảm 50% số người nghèo vào năm 2015

Trong giai đoạn 1991- 2000, cả nước giảm được trên 2 triệu hộ nghèo đói Tỷ

lệ hộ nghèo đói giảm nhanh từ trên 30% vào năm 1992 xuống còn 10% vào năm

2000, bình quân mỗi năm giảm 250.000 hộ Riêng trong giai đoạn 1996- 2000, mỗi năm giảm 300.000 hộ nghèo đói Trong giai đoạn 2001-2004, xét theo các chuẩn nghèo mới, cả nước giảm được hơn 970.000 hộ nghèo, làm cho tỷ lệ hộ nghèo giảm

từ 17,18% năm 2001 xuống còn 8,30% năm 2004 Đến năm 2005, Chính phủ ban hành chuẩn nghèo mới, nên số hộ xếp vào diện nghèo tăng lên so với năm 2004 Số

hộ nghèo năm 2005 là gần 3,9 triệu hộ, chiếm 21,85% tổng số hộ trên toàn quốc Tuy nhiên, trong giai đoạn 2005-2007, số hộ nghèo tiếp tục giảm mạnh, ước tính mỗi năm có khoảng 340.000 hộ thoát nghèo, đưa tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 18% năm 2006 và 14% năm 2007 (Bảng 1)

Bảng 1 Tỷ lệ hộ nghèo toàn quốc giai đoạn 1992-2007

Năm Số hộ nghèo (1000 hộ) Tỷ lệ hộ nghèo (%)

Trang 9

Việc thay đổi chuẩn nghèo quốc gia qua các giai đoạn tạo ra những đột biến

về tỷ lệ hộ nghèo ở thời điểm tính theo chuẩn nghèo mới, do vậy phần nào gây khó khăn cho việc đánh giá thành tựu xoá đói giảm nghèo trong khoảng thời gian dài Tuy nhiên, xét tổng thể, công tác xoá đói giảm nghèo trong gần 20 năm qua đã được thừa nhận rộng khắp là đạt được nhiều thành tựu rất đáng khích lệ Tính theo chuẩn nghèo quốc tế thì thấy rằng quá trình giảm nghèo ở Việt Nam là khá vững chắc khi mức chi tiêu bình quân đầu người liên tục gia tăng và tỷ lệ dân số sống dưới mức 1 USD/ngày và 2 USD/ngày (tính theo ngang giá sức mua- PPP) liên tục giảm theo thời gian Năm 2005, tỷ lệ dân số sống dưới mức 1 USD/ngày và dưới mức 2 USD/ngày của Việt Nam tương ứng là 8% và 51,2%, giảm tương ứng 79% và 42,8% so với năm 1990 (Hình 3)

Hình 3 Tỷ lệ nghèo của Việt Nam tính theo chuẩn quốc tế, giai đoạn 1990- 2007

Tỷ lệ dân số sống dưới 1 USD PPP/ngày

Tỷ lệ dân số sống dưới 2 USD PPP/ngày Chi tiêu bình quân đầu người

Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2008)

Mục tiêu quốc gia về xoá đói giảm nghèo giai đoạn 2006-2010 của Việt Nam

là phấn đấu giảm tỷ lệ hộ nghèo từ mức gần 22% năm 2005 xuống còn 10- 11%

Trang 10

năm 2010 (trong 5 năm giảm 50% số hộ nghèo) Với đà thành tựu đã đạt được, Việt

Nam hoàn toàn có thể đạt mục tiêu trước thời hạn

1.2 Những tồn tại, hạn chế

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được nêu trên, quá trình gia tăng thu nhập

trong phát triển của Việt Nam vẫn còn không ít tồn tại, hạn chế Đánh giá khái quát,

những tồn tại, hạn chế thể hiện ở một số khía cạnh sau đây:

- Thứ nhất, tính chất tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong những năm qua

còn nghiêng về chiều rộng hơn là chiều sâu Tăng trưởng đạt được chủ yếu do gia

tăng về lượng các yếu tố đầu vào như vốn đầu tư, số lượng lao động, trong khi chất

lượng, hiệu quả đầu tư còn thấp, trình độ công nghệ lạc hậu và chất lượng lao động

còn nhiều hạn chế

Hiện nay, tăng trưởng kinh tế ở nước ta chủ yếu do đóng góp của yếu tố vốn

và lao động, đóng góp của các nhân tố năng suất tổng hợp (TFP) có tăng, nhưng còn

rất thấp nếu so với các nước đang phát triển ở châu Á Đóng góp của TFP vào tăng

trưởng trong giai đoạn từ năm 2003 đến nay chỉ đạt 28,2% (Bảng 2), thấp hơn nhiều

so với các con số 39,96% và 40,78% tương ứng của Hàn Quốc và Ấn Độ trong thời

Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2007)

Hiệu quả đầu tư thấp, cơ cấu đầu tư còn chưa hợp lý, quản lý đầu tư còn nhiều

thất thoát, kém hiệu quả, thể hiện qua hệ số ICOR còn khá cao Hệ số ICOR trung

bình của nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2001-2005 là 5,16, giảm xuống còn 5 năm

2006 và 4,76 năm 2007 Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, nếu so sánh với các

nước trong khu vực ở giai đoạn tăng trưởng nhanh thì hệ số ICOR của Việt Nam cao

hơn đáng kể (Bảng 3)

Trang 11

Bảng 3 So sánh ICOR của Việt Nam với các nước trong thời kỳ tăng

trưởng nhanh

Nước Thời kỳ tăng

trưởng nhanh

Tỷ lệ đầu tư (% GDP)

Tỷ lệ tăng trưởng (%)

Hệ số ICOR

2006 40,0 8,17 5,00 Việt Nam

Nguồn: Đại học Kinh tế Quốc dân (2007) và Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2007)

Trình độ lao động của Việt Nam rất thấp, đến năm 2005 tỷ lệ lao động qua

đào tạo của cả nước mới đạt 25%, hệ quả là năng suất lao động của Việt Nam thấp

hơn đáng kể so với các nước trong khu vực (Bảng 4)

Bảng 4 So sánh về năng suất lao động của Việt Nam với các nước trong

Nguồn: Đại học Kinh tế Quốc dân (2006)

Trình độ công nghệ trong nền kinh tế Việt Nam cũng rất thấp, lạc hậu 3-4 thế

hệ so với những nước công nghiệp phát triển, đứng thứ 92 trong số 117 nước được

Trang 12

điều tra (WEF, 2005-2006) Nếu dựa vào “tiêu chuẩn công nghệ” của Tổ chức Phát

triển Công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO) về: những ngành công nghệ cao, công

nghệ trung bình và công nghệ thấp sẽ cho thấy bức tranh so sánh về trình độ công

nghệ sản xuất của Việt Nam so với các nước trong khu vực (Bảng 5)

Bảng 5 Trình độ phát triển công nghệ của Việt Nam và các nước trong

Nguồn: Đại học Kinh tế Quốc dân (2006)

Thực tế trên đe doạ tính bền vững của tăng trưởng và phát triển trong cả hiện

tại và tương lai Nó làm nảy sinh và gia tăng mâu thuẫn giữa tốc độ tăng trưởng (số

lượng) và chất lượng, hiệu quả tăng trưởng mà chúng ta chưa thể giải quyết một

cách có hiệu quả

- Thứ hai, tuy mặt bằng thu nhập của người dân Việt Nam tăng lên theo đà

tăng trưởng kinh tế nhưng sự bất bình đẳng về thu nhập giữa các vùng miền, giữa

các tầng lớp dân cư có xu hướng ngày càng gia tăng Xét tới cả ba phương pháp

đánh giá mức chênh lệch giàu nghèo ở nước ta thì đều cho kết quả là chênh lệch

giàu nghèo có xu hướng ngày càng tăng lên

Phương pháp thứ nhất là tính hệ số chênh lệch về thu nhập giữa nhóm hộ giàu

và nhóm hộ nghèo Tổng số hộ được chia thành 5 nhóm với số hộ bằng nhau (mỗi

nhóm có số hộ bằng 20% tổng số hộ), theo mức thu nhập bình quân đầu người

(nhóm 1 là nhóm nghèo, nhóm 2 là nhóm dưới trung bình, nhóm 3 là nhóm trung

bình, nhóm 4 là nhóm khá, nhóm 5 là nhóm giàu) Hệ số chênh lệch giàu, nghèo

được tính bằng cách chia thu nhập bình quân đầu người của nhóm 5 cho nhóm 1

Các chỉ số thống kê cho thấy, hệ số chênh lệch giữa nhóm giàu và nhóm nghèo qua

các năm ở nước ta như sau: năm 1990 là 4,1 lần, năm 1991 là 4,2 lần, năm 1993 là

6,2 lần, năm 1994 là 6,5 lần, năm 1995 là 7,0 lần, năm 1996 là 7,3 lần, năm 1999 là

7,6 lần, năm 2002 là 8,1 lần và năm 2004 là 8,4 lần Hệ số chênh lệch ở khu vực

Trang 13

thành thị cao hơn ở nông thôn (năm 2004 là 8,1 lần so với 6,4 lần) Theo vùng lãnh thổ chênh lệch cao nhất là ở Đông Nam bộ (8,7 lần), tiếp đến là Tây Nguyên (7,6 lần), Đông Bắc (7 lần)

Phương pháp thứ hai là tính tỷ trọng tổng thu nhập của 40% số hộ có thu nhập thấp nhất (tức là nhóm 1 và nhóm 2) chiếm trong tổng thu nhập của tất cả 5 nhóm

Tỷ trọng này của nước ta năm 1995 là 21,1%, năm 1996 là 21%, năm 1999 là 18,7%, năm 2002 là 18%, năm 2004 là 17,4% Tỷ trọng này có xu hướng ngày càng giảm đi cho thấy chênh lệch thu nhập ngày càng tăng lên

Phương pháp thứ ba là tính hệ số GINI1 Các chỉ số thống kê của Việt Nam cho thấy, hệ số GINI năm 1994 là 0,350, năm 1995 là 0,357, năm 1996 là 0,362, năm

1999 là 0,390, năm 2002 là 0,420, năm 2004 là 0,423 Hệ số GINI ngày càng tăng cho thấy sự bất bình đẳng về thu nhập giữa các nhóm dân cư có xu hướng tăng lên

Bất bình đẳng thu nhập gia tăng cho thấy rằng thành quả của tăng trưởng đã không được phân bổ đồng đều giữa các tầng lớp dân cư Thực tế này đặt ra câu hỏi:

Có bao nhiêu phần trăm dân số Việt Nam có thu nhập ít nhất là ngang bằng với mức thu nhập bình quân đầu người? Nếu tỷ lệ này là cao thì việc vượt ngưỡng nước đang phát triển có thu nhập thấp mới thực sự có ý nghĩa

- Thứ ba, ở Việt Nam trong những năm qua, cùng với tăng trưởng kinh tế thì

cũng nảy sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc, ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng, ảnh hưởng xấu trực tiếp đến chất lượng cuộc sống của người dân Các tệ nạn

xã hội như mại dâm, nghiện hút ma tuý, nhiễm HIV/AIDS, có xu hướng gia tăng, diễn biến phức tạp, tỷ lệ các trường hợp tái phạm cao, cho dù các ngành, các cấp đã thực hiện nhiều biện pháp phòng và chống Sự phát triển của tệ nạn xã hội không chỉ ảnh hưởng tiêu cực đến nguồn nhân lực, mà còn ảnh hưởng đến môi trường xã hội

và làm gia tăng chi phí của xã hội cho việc phòng, chống tệ nạn cũng như giải quyết hậu quả của nó Tình trạng khai thác khoáng sản quá mức, phá rừng, xói mòn đất, ô nhiễm các nguồn nước, ô nhiễm không khí, ô nhiễm môi trường công nghiệp, đô thị

và nông thôn, thiên tai thường xuyên với tần suất cao và diễn biến phức tạp, sự suy giảm các nguồn tài nguyên đa dạng sinh học, tình trạng ô nhiễm xuyên biên giới, đang là một thực tế nghiêm trọng ngày càng phổ biến ở nước ta Điều đáng ngại là những người nghèo lại chính là những người phải gánh chịu hậu quả nặng nề nhất của tình trạng ô nhiễm và tàn phá môi trường Ngoài ra, trong xã hội cũng nảy sinh

1 Hệ số này nhận giá trị từ 0 đến 1, càng tiến gần đến 0 là tiến đến sự bình đẳng cao, càng tiến gần đến 1 thì sự bất bình đẳng càng cao.

Trang 14

nhiều mặt trái liên quan đến văn hoá, thuần phong, mỹ tục, chuẩn mực văn hoá và đạo đức của dân tộc bị xâm hại phổ biến, gây trở lực đáng kể đối với sự phát triển

Tóm lại, những hạn chế nêu trên cho thấy rằng vẫn còn không ít rủi ro có khả

năng ảnh hưởng đến sự vượt ngưỡng nước đang phát triển có thu nhập thấp của Việt Nam một cách đích thực và bền vững Cụ thể hơn, chúng ta có thể nhận thấy khá rõ những dấu hiệu ảnh hưởng này từ bối cảnh kinh tế của năm 2007 Bên cạnh những con số kinh tế đầy ấn tượng của năm 2007 là những con số và hiện tượng gây quan ngại và rất đáng lưu tâm (Hộp 1)

Hộp 1 Hai mặt của những chỉ số kinh tế ấn tượng năm 2007

Năm 2007 được coi là năm của những chỉ số kinh tế đầy ấn tượng như tăng trưởng GDP đạt xấp xỉ 8,5% - mức cao nhất trong 11 năm qua; hay thu nhập bình quân đầu người được nâng lên 835 USD/người/năm; thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI đạt mức cao kỉ lục 20,3 tỉ USD

Tuy nhiên, những con số này, dù ấn tượng đến mấy, cũng chỉ là những chữ số được ghép lại với nhau Quan trọng hơn cả là chúng có tác động như thế nào đến đời sống của các tầng lớp nhân dân

Xe hơi giờ không còn là thứ phương tiện xa xỉ với nhiều người thành phố, tại những trung tâm mua sắm, siêu thị lớn đông nghẹt người Tốc độ tăng trưởng GDP cao 8,5% năm 2007 phần nào được thể hiện qua sức mua ngày Tết ở những siêu thị lớn này

Nhưng chợ cóc, chợ truyền thống mới là nơi sắm Tết của đa số người dân, kể

cả dân thành phố So với một năm trước, thì mớ rau, cân thịt trong chợ đều đã tăng giá gấp rưỡi, gấp đôi Lương tăng, thu nhập tăng Nhưng tốc độ trượt giá hơn chục phần trăm trong năm 2007 đã làm cho sự tăng thu nhập đó giảm giá trị

Trong những ngày giáp Tết, sân golf Chí Linh vẫn đông khách Gậy golf và sân golf giờ đã quen thuộc hơn cày cuốc và đồng ruộng với những nhân viên sân golf, dù họ xuất phát từ nhà nông Sân golf mọc lên, ruộng hết, nhưng đó lại là cơ hội tốt để hàng trăm dân địa phương chuyển đổi nghề nghiệp với thu nhập mỗi tháng bằng cả năm làm nông

Chị Nguyễn Hải Hạt, nhân viên sân golf Chí Linh, Hải Dương cho biết:

"Trung bình một tháng từ 2 triệu trở lên đến 4 triệu So với nhà nông cao hơn rất là nhiều Chưa bao giờ nhà nông có thể nghĩ tới một mức thu nhập cao như thế"

Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI năm 2007 đạt mức cao kỉ lục 20,3 tỉ USD là niềm hy vọng để có thêm nhiều dự án sân golf, khu công nghiệp, nhà máy, tạo

Trang 15

thêm nhiều công ăn việc làm Nhưng giữa hy vọng và thực tế là một khoảng cách

Xây nhà trọ cho công nhân thuê là nghề "phát" nhất của thôn Tứ Thông sau khi nhường hết đất nông nghiệp cho khu công nghiệp Đại An Nhưng đại bộ phận người dân lại không thể có việc trong khu công nghiệp vì không trong "độ tuổi lý tưởng để làm công nhân" Ngày giáp Tết, thôn vẫn vắng bóng người đi làm xa

Ông Nguyễn Văn Vinh, Trưởng thôn Tứ Thông, xã Tứ Minh, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương cho biết: "Lứa tuổi 30 - 50 chiếm khoảng 40% dân số trong thôn Họ không vào Đại An được vì không có tay nghề, mà Đại An người ta cũng không tuyển lứa tuổi như thế Người ta cũng không đào tạo, mà không đào tạo thì sao mà vào được"

Đất rào bỏ không, đất công nghiệp chưa triển khai hạ tầng, vẫn còn nhiều khu đất được thu hồi cho các dự án FDI đang để không Trong 20,3 tỉ USD vốn FDI đăng kí năm 2007, mới chỉ có chưa đầy 1/3 được đưa vào thực hiện Giải ngân chậm, nhà máy chưa mọc lên, tức là cơ hội việc làm vẫn chưa thể có

Những chục tỉ USD FDI hay tốc độ tăng trưởng 8-9% mỗi năm là những con

số tăng trưởng kinh tế cực kỳ ấn tượng và đang góp phần làm cho đời sống người dân được cải thiện ít nhiều Nhưng sẽ còn ấn tượng hơn nếu tăng trưởng kinh tế cao

đi kèm với một tỷ lệ lạm phát hợp lý, nếu FDI được giải ngân cao hơn, tạo ra nhiều công ăn việc làm hơn Đó cũng là bài toán mà Chính phủ đã đặt ra và tập trung quyết liệt trong năm 2008 với một quyết tâm biến những chỉ số tăng trưởng kinh tế

ấn tượng thành những tăng trưởng cụ thể trong đời sống của người dân

Nguồn: Hanoimoi.com.vn, ngày 10/2/2008

2 Những yếu tố bảo đảm sớm vượt ngưỡng nước đang phát triển có thu

nhập thấp

2.1 Nhận thức và tư duy mới về phát triển đất nước

Để nước ta sớm vượt ngưỡng nước đang phát triển có thu nhập thấp một cách đích thực và bền vững, cần nhanh chóng có giải pháp giải quyết những hạn chế nêu trên đây Muốn vậy, trước hết cần có sự đổi mới nhận thức và tư duy về phát triển đất nước Cần bồi đắp tư duy chất lượng, phát triển bền vững, loại bỏ tư duy chạy theo thành tích có khi ảo, loại bỏ tư duy đang quá nặng về chiều rộng, theo thói quen

dễ dãi chậm đi vào chiều sâu, ngại khó Cốt lõi của tư duy mới về phát triển đất nước là giải quyết vấn đề tốc độ tăng trưởng phải trên nền tảng giải quyết vấn đề chất lượng tăng trưởng Theo đó, trong dài hạn, cần từ bỏ quan điểm phải đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh với mọi giá nhờ khai thác chiều rộng, nhờ tăng mạnh vốn

Trang 16

đầu tư và khai thác tài nguyên; chuyển dần sang tăng trưởng dựa vào hiệu quả và bền vững, tập trung nhiều hơn, quyết liệt hơn vào mục tiêu chất lượng dài hạn Cụ thể hơn, trong những năm tới, cần tập trung giải quyết một số vấn đề sau đây:

- Thứ nhất, nâng cao hiệu quả của các chỉ tiêu tăng trưởng: nâng cao chất

lượng nguồn nhân lực, trình độ khoa học công nghệ, tăng cường ảnh hưởng của yếu

tố TFP, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tăng năng suất lao động, hướng hoạt động của nền kinh tế theo các ngành, các lĩnh vực tạo ra nhiều giá trị gia tăng, giảm chi phí trung gian, chủ động sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm hàng hoá có dung lượng công nghệ cao trên cơ sở khai thác triệt để lợi thế của đất nước và thực hiện đồng bộ hoá quá trình khai thác và chế biến sản phẩm

- Thứ hai, phải có tầm nhìn dài hạn trong mục tiêu tăng trưởng kinh tế: các

nhà hoạch định chính sách cần chú trọng các chính sách tạo ra, duy trì và củng cố cơ

sở tăng trưởng dài hạn, như yếu tố vốn nhân lực, cở sở hạ tầng kinh tế - kỹ thuật, cơ cấu kinh tế hợp lý, cân đối Theo đó, có thể phải chấp nhận trong một số năm trước mắt nền kinh tế không đạt được tốc độ tăng trưởng cao như kỳ vọng, vì phải tập trung tạo lập và củng cố cơ sở tăng trưởng dài hạn, nhưng suốt cả giai đoạn sau đó

sẽ đạt được mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững

- Thứ ba, gắn tăng trưởng với việc tạo tác động lan toả tích cực đến các đối

tượng chịu ảnh hưởng, có nghĩa là duy trì một mục tiêu tăng trưởng hợp lý trong mối quan hệ ràng buộc với những điều kiện về tài nguyên môi trường và các vấn đề xã hội Một mặt, tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với đảm bảo sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên, nâng cao khả năng tái sinh tài nguyên, phòng chống ô nhiễm môi trường Mặt khác, quá trình tăng trưởng kinh tế phải được kiểm soát thường xuyên, chặt chẽ bởi các chỉ tiêu phát triển xã hội, trong đó trọng tâm là xoá đói giảm nghèo, công bằng xã hội, giải quyết việc làm, giáo dục, y tế, thể dục thể thao, văn hoá nghệ thuật

- Thứ tư, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế: cần có chính sách tạo

môi trường kinh doanh lành mạnh và năng động, bảo đảm sự phát triển đồng bộ các thị trường, phân định hợp lý vai trò của Nhà nước với thị trường, phân công và phối hợp chức năng tối ưu giữa các chủ thể thị trường mà quan trọng nhất là các thành phần và khu vực kinh tế, một hệ thống thuế đơn giản và có định hướng khuyến khích rõ ràng, một hệ thống ngân hàng thương mại hoạt động theo nguyên tắc không thiên vị xuất xứ thành phần của doanh nghiệp

2.2 Các yếu tố vĩ mô

2.2.1 Tạo lập thể chế đúng, tạo thuận lợi, tăng động lực, phát huy sức mạnh

và tiềm năng của nền kinh tế, của doanh nghiệp, của nhân dân

Trang 17

Trong hơn 20 năm đổi mới vừa qua, việc hình thành và từng bước hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN đã đạt nhiều thành tựu quan trọng và đóng góp có ý nghĩa quyết định vào quá trình phát triển đất nước Chúng ta đã thực hiện thành công quá trình chuyển đổi từ thể chế kinh tế kế hoạch hoá, tập trung quan liêu bao cấp sang thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN Hệ thống pháp luật, chính sách được đổi mới, tạo môi trường thuận lợi, thông thoáng cho các thành phần kinh tế thuộc nhiều hình thức sở hữu khác nhau cùng hoạt động trên cơ sở dân chủ,

tự do kinh doanh, bình đẳng trước pháp luật Quản lý nhà nước về kinh tế từng bước được đổi mới từ chỗ Nhà nước quản lý cụ thể các hoạt động kinh tế sang quản lý tổng thể nền kinh tế quốc dân, từ chỗ can thiệp trực tiếp sang can thiệp gián tiếp vào hoạt động sản xuất- kinh doanh thông qua các công cụ điều tiết vĩ mô của kinh tế thị trường Các loại thị trường được hình thành và từng bước phát triển đồng bộ, tạo thuận lợi cho việc lưu chuyển các yếu tố sản xuất, hàng hoá, dịch vụ ở thị trường trong nước, mở rộng ra khu vực và thế giới Nhiều chuyển biến tích cực đã được ghi nhận trong việc gắn kết các thành tựu của phát triển kinh tế với giải quyết các vấn

đề xã hội Sự nghiệp giáo dục, đào tạo, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo dành được sự quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành và toàn xã hội

Trong những năm tới, việc tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường vẫn được coi là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu nhằm phát triển toàn diện và bền vững đất nước Mới đây (tháng 1/2008), Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá X) đã khẳng định tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN Hội nghị quyết định phải tiếp tục hoàn thiện thể chế về sở hữu, phát triển các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp và các tổ chức sản xuất - kinh doanh; hoàn thiện thể chế bảo đảm đồng bộ các yếu tố thị trường và phát triển đồng bộ các loại thị trường; gắn kết tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng về kinh tế, nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý kinh tế của Nhà nước, tăng cường sự tham gia của nhân dân, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội

Sự nghiệp hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN là quá trình lâu dài, đòi hỏi sự nỗ lực không ngừng từ phía Đảng, Nhà nước, sự tham gia tích cực, sự chung vai góp sức của toàn xã hội Trong những năm tới, để thực hiện thắng lợi sự nghiệp này, cần thực hiện một số định hướng giải pháp lớn sau đây:

- Thứ nhất, tiếp tục làm rõ nội hàm cơ bản của thể chế kinh tế thị trường định

hướng XHCN: đặc biệt một số vấn đề cơ bản liên quan đến bản chất của "kinh tế thị

Trang 18

trường định hướng XNCH" như: công cụ thực hiện kinh tế thị trường, các vấn đề liên quan đến sở hữu, vai trò của Nhà nước, cần sớm được làm sáng tỏ và được thể chế hóa

- Thứ hai, hoàn thiện khung pháp luật cho nền kinh tế thị trường định hướng

XHCN: đó là khung pháp luật về sở hữu ( trong đó có việc làm rõ nội hàm cụ thể của sở hữu toàn dân, sở hữu nhà nước và xác định rõ quyền của chủ sở hữu, quyền của người sử dụng, cơ chế quản lý tài sản thuộc sở hữu toàn dân, ); khung pháp luật bảo vệ quyền tự do kinh doanh, tạo lập môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng, phù hợp với cam kết quốc tế; xác định nguyên tắc và làm rõ giới hạn của sự can thiệp của Nhà nước bằng các biện pháp hành chính vào hoạt động của doanh nghiệp; xây dựng khung pháp luật về: hợp đồng mang tính thống nhất, giao dịch điện tử, tài chính công, thuế, tài nguyên và môi trường

- Thứ ba, nâng cao hiệu quả hoạt động của các chủ thể kinh tế thị trường:

Đối với chủ thể là Nhà nước, để hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước về kinh

tế, cần:

+ Cải cách mạnh hơn nữa tổ chức bộ máy hành chính thông qua việc từng bước điều chỉnh, khắc phục những chồng chéo, trùng lắp về chức năng, nhiệm vụ giữa chính quyền các cấp, cũng như các cơ quan đồng cấp, chuyển giao cho doanh nghiệp hoặc tổ chức xã hội dân sự thực hiện một số dịch vụ công không nhất thiết

do cơ quan hành chính nhà nước trực tiếp đảm nhiệm; cải tiến phương thức quản lý cũng như lề lối làm việc của cơ quan nhà nước các cấp,

+ Kiên quyết đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong tất cả các lĩnh vực, đặc biệt xóa bỏ những quy định không cần thiết về cấp phép, thanh tra, kiểm tra, giám định, kiểm dịch

+ Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức thông qua đổi mới công tác tuyển chọn, sử dụng, sa thải và quản lý cán bộ, đồng thời tăng cường các biện pháp giáo dục cán bộ về tinh thần trách nhiệm, ý thức tận tâm, tận tụy với công việc đi đôi với trả lương thỏa đáng (lương đủ cao và có các chế tài đi kèm để góp phần chống tham nhũng), thực hành kỷ luật nghiêm minh, nghiêm khắc

Đối với chủ thể là doanh nghiệp, cần tiến hành: đổi mới phương thức giám sát doanh nghiệp theo hướng nâng cao tính chủ động và tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp; hoàn thiện, sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước; hoàn thiện cơ chế hỗ trợ, hoạt động và cạnh tranh của doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế; mở rộng thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tăng cường năng lực thị trường cho các chủ thể kinh tế nông nghiệp và nông thôn,

Trang 19

Đối với các tổ chức xã hội dân sự - một bộ phận cấu thành quan trọng và ngày càng thể hiện vai trò không thể thiếu của nền kinh tế, cần có cơ chế khuyến khích,

hỗ trợ hoạt động cho các tổ chức này mạnh hơn nữa, đặc biệt là tạo điều kiện cho việc tham gia thực thi một số nhiệm vụ: cung cấp các dịch vụ công; thay thế Nhà nước trong việc thực hiện một số chức năng kinh tế - xã hội; thực hiện vai trò giám sát, giám định xã hội và phản biện chính sách; khuyến khích tham gia vào quá trình xây dựng và thực thi pháp luật,

- Thứ tư, hoàn thiện từng bước cơ chế thực thi thể chế kinh tế thị trường:

+ Bảo đảm lấy "tự do cạnh tranh thị trường" làm cơ chế chủ yếu cho việc vận hành nền kinh tế, tập trung vào các hướng điều chỉnh cấu trúc thị trường, điều chỉnh hành vi và giám sát các hành vi lạm dụng vị thế trên thị trường

+ Hoàn thiện việc phân cấp trong quản lý nhà nước về kinh tế, trong đó đặc biệt là xác định rõ những nhiệm vụ Nhà nước cần làm và những việc không nhất thiết phải thực hiện, phân định rõ các công việc địa phương có toàn quyền quyết định và những việc phải tham vấn ý kiến của Trung ương hoặc phải thực hiện theo quyết định của Trung ương Cần nghiên cứu kỹ để thực hiện cơ chế phân cấp khác nhau cho các địa bàn khác nhau tùy theo điều kiện và năng lực các cấp

+ Tăng cường khả năng phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc hoạch định, thực thi chính sách và cung cấp dịch vụ công Song song với việc phân định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan quản lý nhà nước, cần có các quy định, các chế tài bảo đảm nguyên tắc minh bạch, trách nhiệm giải trình, có sự tham gia của cộng đồng, làm rõ trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan và cá nhân

+ Tạo lập các cơ chế hữu hiệu để mở rộng quyền tham gia, quyền giám sát thực hiện chính sách và quyền được thông tin của người dân, đặc biệt chú trọng nâng cao chất lượng, lưu lượng thông tin cho các chủ thể tham gia thị trường và thể chế hóa quyền được tham gia và cơ chế tham gia của người dân bằng việc sớm ban hành Luật Trưng cầu ý dân và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật này

2.2.2 Nâng cao năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế

Việc nâng cao năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự tăng trưởng và phát triển bền vững Bởi lẽ việc quan tâm đến những tiêu chí về chất lượng tăng trưởng này chính là cơ hội để đạt được mục tiêu tăng trưởng về số lượng Hơn nữa, việc nền kinh tế đạt được năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh cao sẽ có hiệu ứng tác động lan toả trực tiếp đến

Ngày đăng: 27/04/2015, 12:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. – (2007). Toàn cảnh Việt Nam 20 năm đất nước đổi mới. NXB Lao động- Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn cảnh Việt Nam 20 năm đất nước đổi mới
Tác giả:
Nhà XB: NXB Lao động- Xã hội
Năm: 2007
2. Ban Chỉ đạo Quốc gia thực hiện GPRGS (2004). Việt Nam: tăng trưởng và giảm nghèo. Báo cáo thường niên 2003-2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam: tăng trưởng và giảm nghèo
Tác giả: Ban Chỉ đạo Quốc gia thực hiện GPRGS
Năm: 2004
3. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2007). Bối cảnh trong nước, quốc tế và việc nghiên cứu xây dựng chiến lược 2011-2020. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bối cảnh trong nước, quốc tế và việc nghiên cứu xây dựng chiến lược 2011-2020
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Năm: 2007
4. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2007). Tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam: thành tựu, thách thức và giải pháp. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam: thành tựu, thách thức và giải pháp
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Năm: 2007
5. Đinh Văn Ân (2008). “Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường”. Báo Đầu tư, số Xuân Mậu tý Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường
Tác giả: Đinh Văn Ân
Năm: 2008
6. Hội nghị Nhóm tư vấn Các nhà Tài trợ Việt Nam (2007). Hướng đến tầm cao mới. Báo cáo Phát triển Việt Nam 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng đến tầm cao mới
Tác giả: Hội nghị Nhóm tư vấn Các nhà Tài trợ Việt Nam
Năm: 2007
7. Lê Việt Đức (2007). “Việt Nam: tiếp tục lộ trình cải cách và đẩy mạnh công nghiệp hoá: thành tựu và khó khăn nhìn từ năm 2007”. Tài liệu đánh máy Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam: tiếp tục lộ trình cải cách và đẩy mạnh công nghiệp hoá: thành tựu và khó khăn nhìn từ năm 2007
Tác giả: Lê Việt Đức
Năm: 2007
8. Lê Xuân Bá (2006). “Về xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam”. Tạp chí Cộng sản, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam
Tác giả: Lê Xuân Bá
Năm: 2006
9. Trường Đại học KTQD (2006). Tổng kết kinh tế Việt Nam 2001-2005: Lý luận và thực tiễn. NXB Đại học KTQD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết kinh tế Việt Nam 2001-2005: Lý luận và thực tiễn
Tác giả: Trường Đại học KTQD
Nhà XB: NXB Đại học KTQD
Năm: 2006
10. Trường Đại học KTQD (2007). Kinh tế Việt Nam năm 2006: Chất lượng tăng trưởng và hội nhập kinh tế quốc tế. NXB Đại học KTQD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Việt Nam năm 2006: Chất lượng tăng trưởng và hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Trường Đại học KTQD
Nhà XB: NXB Đại học KTQD
Năm: 2007
11. Viện Nghiên cứu QLKT Trung ương (2007). “Bảo vệ môi trường để phát triển bền vững”. Thông tin chuyên đề, số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ môi trường để phát triển bền vững
Tác giả: Viện Nghiên cứu QLKT Trung ương
Năm: 2007
12. Viện Nghiên cứu QLKT Trung ương (2007). “Đảm bảo an ninh năng lượng”. Thông tin chuyên đề, số 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảm bảo an ninh năng lượng
Tác giả: Viện Nghiên cứu QLKT Trung ương
Năm: 2007

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam, giai đoạn 1990-2007 - Những yếu tố đảm bảo việt nam sớm vượt khỏi ngưỡng các nước có thu nhập thấp
Hình 1. Tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam, giai đoạn 1990-2007 (Trang 6)
Hình 2. Mức thu nhập GDP bình quân đầu người của Việt Nam, giai  đoạn 1990-2007 - Những yếu tố đảm bảo việt nam sớm vượt khỏi ngưỡng các nước có thu nhập thấp
Hình 2. Mức thu nhập GDP bình quân đầu người của Việt Nam, giai đoạn 1990-2007 (Trang 7)
Bảng 1. Tỷ lệ hộ nghèo toàn quốc giai đoạn 1992-2007 - Những yếu tố đảm bảo việt nam sớm vượt khỏi ngưỡng các nước có thu nhập thấp
Bảng 1. Tỷ lệ hộ nghèo toàn quốc giai đoạn 1992-2007 (Trang 8)
Hình 3. Tỷ  lệ nghèo của Việt Nam tính theo chuẩn quốc tế, giai đoạn  1990- 2007 - Những yếu tố đảm bảo việt nam sớm vượt khỏi ngưỡng các nước có thu nhập thấp
Hình 3. Tỷ lệ nghèo của Việt Nam tính theo chuẩn quốc tế, giai đoạn 1990- 2007 (Trang 9)
Bảng 2. Mức đóng góp của TFP vào tăng trưởng, giai đoạn 1993-1997 - Những yếu tố đảm bảo việt nam sớm vượt khỏi ngưỡng các nước có thu nhập thấp
Bảng 2. Mức đóng góp của TFP vào tăng trưởng, giai đoạn 1993-1997 (Trang 10)
Bảng 3. So sánh ICOR của Việt Nam với các nước trong thời kỳ  tăng - Những yếu tố đảm bảo việt nam sớm vượt khỏi ngưỡng các nước có thu nhập thấp
Bảng 3. So sánh ICOR của Việt Nam với các nước trong thời kỳ tăng (Trang 11)
Bảng 4. So sánh về năng suất lao động của Việt Nam với các nước trong - Những yếu tố đảm bảo việt nam sớm vượt khỏi ngưỡng các nước có thu nhập thấp
Bảng 4. So sánh về năng suất lao động của Việt Nam với các nước trong (Trang 11)
Bảng 5. Trình độ phát triển công nghệ của Việt Nam và các nước trong - Những yếu tố đảm bảo việt nam sớm vượt khỏi ngưỡng các nước có thu nhập thấp
Bảng 5. Trình độ phát triển công nghệ của Việt Nam và các nước trong (Trang 12)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w