Bảng 12.1: Thu nhập xuất khẩu của các nước đang phát triển có ít nhất từ 40% là xuất khẩu từ 1 đến 2 sản phẩm nông nghiệp hoặc khoáng sảnBurkina Faso Bông Sierra Leone Đá quý Sudan Bông
Trang 1CHƯƠNG I HỌC THUYẾT THƯƠNG MẠI VÀ KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN
I THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ: MỘT SỐ NÉT CHÍNH
1 TỔNG QUAN
Thương mại quốc tế đóng vai trò quan trọng nhưng không phải là vai trò quyết định trong quá trìnhphát triển của các nước đang phát triển Ở khắp các nước Châu Phi, châu Á, Trung Đông và Mỹ La Tinh, giá trịxuất khẩu các sản phẩm thô chiếm một tỷ lệ đáng kể trong tổng sản phẩm quốc dân của mỗi nước Ở một vàinước có quy mô xuất khẩu nhỏ hơn, tỷ trọng giá trị xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp và các sản phẩm thôkhác như: Cà phê, cacao, bông, đường, dầu cọ, bô xít, đồng… chiếm trong GNP cũng đến 25% hoặc còn nhiềuhơn Trong một số trường hợp đặc biệt như các nước sản xuất dầu ở vùng Vịnh và một vài nước khác, giá trịxuất khẩu dầu thô và và các sản phẩm dầu tinh chế chiếm hơn 70% thu nhập quốc dân cuả các nước này Khônggiống như những nước sản xuất dầu và những nước Công nghiệp mới (NICs) như Hàn Quốc, Đài Loan,Singapore, hầu hết các nước đang phát triển đều có phần lớn nguồn thu từ xuất khẩu từ những sản phẩm thô phikhoáng sản Đây là vấn đề đặc biệt nghiêm trọng ở khu vực cận Sahara Châu Phi Vì thị trường và giá cả củanhững sản phẩm xuất khẩu này thường không ổn định, do đó việc xuất khẩu sản phẩm thô luôn đi kèm vớinhững rủi ro mà không một quốc gia nào mong muốn gặp phải Đây cũng là một vấn đề quan trọng bởi vì giá cảcủa sản phẩm thô đang có xu hướng giảm xuống
Ở một vài nước châu Phi ngày nay, tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu hàng chế biến vẫn chỉ đạt 3% hoặc íthơn trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của các nước này như: Benin, Mali, Niger, Sudan và Uganda(Trong đó không có nước nào thu được nhiều hơn 1% kim ngạch xuất khẩu thông qua xuất khẩu nhiêu liệu hóathạch vào năm 1999) Năm 1999 ở Negeria, xuất khẩu nhiên liệu từ hóa thạch chiếm 99% kim ngạch xuất khẩucủa nước này trong khi kim ngạch xuất khẩu hàng chế biến chỉ chếm 1% Thực vậy, có khoảng 35 nước đangphát triển có ít nhất 2/5 thu nhập từ xuất khẩu từ xuất khẩu 1 hoặc 2 sản phẩm nông nghiệp hoặc khoáng sản(Minh họa bảng 12.1)
Cùng với việc phụ thuộc vào xuất khẩu, các nước đang phát triển còn phụ thuộc nhiều hơn vào nhậpkhẩu nguyên vật liệu, máy móc, vốn, tư liệu sản xuất và sản phẩm tiêu dùng để phục vụ cho quá trình mở rộngsản xuất và thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng của người dân trong nước Ở hầu hết các nước đang pháttriển, nhu cầu nhập khẩu ngày một tăng lên đã vượt khả năng đáp ứng từ xuất khẩu Điều này đã gây ra tìnhtrạng thâm hụt thường xuyên trong cán cân thanh toán quốc tế với phần còn lại của thế giới Trong khi sự thâmhụt trong cán cân vãng lai (chi tiêu cho nhập khẩu vượt quá thu nhập từ việc xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ)thường vượt cả phần bù đắp từ thặng dư của cán cân tài khoản vốn (những khoản thu từ vay mượn và đầu tư của
cá nhân và tổ chức nước ngoài lớn hơn các khoản trả nợ tính cả vốn lẫn lại cho những khoản vay và đầu tư trướcđó), thì trong những năm gần đây, gánh nặng nợ của việc phải trả sớm hơn dự tính những khoản vay và đầu tưtrước đó đã khiến cho vấn đề thâm hụt ngày càng trầm trọng Ở một số nước đang phát triển, sự thâm hụtnghiêm trọng trong tài khoản vãng lai và tài khoản vốn đã dẫn đến giảm sút nhanh chóng nguồn dự trữ ngoại tệ,giá trị đồng tiền không ổn định và giảm sút tăng trưởng kinh tế
Trang 2Bảng 12.1: Thu nhập xuất khẩu của các nước đang phát triển có ít nhất từ 40% là xuất khẩu từ 1 đến 2 sản phẩm nông nghiệp hoặc khoáng sản
Burkina Faso ( Bông)
Sierra Leone (Đá quý)
Sudan (Bông và rau)
Uganda (Cà phê)
Myama (Gỗ và rau)Fiji ( Đường)Maldive (Cá)Papua New Guinea ( Vàng và quặng kim loại)
Solomon Island ( Gỗ)Tonga (Rau)
Belize ( Đường)Chile (
Costa Rica ( Cà phê và trái cây)
Cu ba ( Đường)Dominica (Quặng và trái cây)Guadeloup (Đường và trái cây)Guyana ( Vàng và đường)Honduras (Trái cây và cà phê)Panama (Dầu thực vật và bông)Saint Luica (Trái cây)
Nguồn: Sarah Anderson, John Cavanah, Thea Lee và Barbara Ehrenreich, Hướng tầm nhìn đến nền
Trong thập kỉ 80 và 90, sự kết hợp giữa tăng thâm hụt thương mại, gia tăng nợ nước ngoài, việc rút ồ ạt
ra nước ngoài của các luồng tài chính quốc tế và giảm dự trữ ngoại tệ đã buộc các nước đang phát triển phảithực hiện các biện pháp thắt chặt tài khóa và tiền tệ (thường là do yêu cầu của Quỹ tiền tệ Quốc tế), những biệnpháp sẽ khiến nền kinh tế tăng trưởng chậm, làm trầm trọng thêm vấn đề nghèo đói và thất nghiệp Ý nghĩachính xác của những khái niệm khác nhau về nền kinh tế quốc tế sẽ được giải thích rõ hơn trong phần sau củachương này và trong hai chương tiếp theo Trong phần này vấn đề chỉ đơn giản là sự thâm hụt thường xuyêntrong cán cân thanh toán quốc tế (điều này dường như là không thể giải quyết được trong trường hợp các nướcđang phát triển không những thiếu khả năng giải quyết các vấn đề tài chính của nước mình mà còn rất dễ bị tổnthương với những biến động của kinh tế toàn cầu) sẽ cản trở một cách đáng kể những nỗ lực phát triển kinh tế
Trang 3Nó cũng làm thu hẹp giới hạn khả năng của quốc gia nghèo trong việc quyết định và theo đuổi những chiến lượcphát triển kinh tế hiệu quả.
Tài chính và thương mại quốc tế không nên chỉ được hiểu đơn thuần là dòng chảy hàng hóa và nguồnvốn giữa các nước trên thế giới Bằng việc mở cửa nền kinh tế và xã hội để tham gia các giao dịch thương mạitoàn cầu và hướng tới phần còn lại của thế giới, các nước đang phát triển không chỉ thu hút được hàng hóa, dịch
vụ và nguồn tài chính quốc tế mà còn phải chấp nhận cả những ảnh hưởng có lợi và bất lợi đối với sự phát triểncủa việc chuyển giao công nghệ sản xuất, thói quen tiêu dùng,cấu trúc thể chế; hệ thống giáo dục, y tế và xã hội;
và những quan niệm về giá trị đạo đức và phong cách sống của các nước phát triển Tác động của những thayđổi về công nghệ, kinh tế, văn hóa, xã hội tới quá trình phát triển có thể theo chiều hướng tốt hoặc xấu Điều nàyphụ thuộc rất nhiều vào nền tảng chính trị, xã hội và cấu trúc thể chế của các nước tiếp nhận và những mục tiêu
ưu tiên trong phát triển kinh tế của các nước này Không biết chính sách hướng ra thị trường quốc tế và thúc đẩyxuất khẩu một cách tích cực và chủ động có phải là biện pháp tốt nhất đối với các nước LDC hay không, nhưngviệc theo đuổi chính sách hướng nội và thay thế sản phẩm nhập khẩu với mục đích bảo hộ mậu dịch và văn hóaquốc gia, hay việc đồng thời theo đuổi cả hai chính sách hướng nội và hướng ngoại không thể được coi là cácchính sách ưu tiên Từng quốc gia phải đánh giá tình trạng hiện tại và triển vọng tương lai của quốc gia mìnhtrong cộng đồng thế giới trong mối quan hệ với các mục tiêu phát triển cụ thể Làm được điều này các quốc giamới xác định được những lợi ích và những rủi ro của mình khi tham gia vào thương mại toàn cầu
Nhưng thật không may, rất nhiều nước nghèo và nhỏ (chiếm quá nửa các nước đang phát triển) có rất ít
sự lựa chọn trong việc có hướng ngoại hay không? Tuy nhiên, chúng ta sẽ thấy đối với các nước nhỏ đang pháttriển thì chiến lược hướng ngoại rất có triển vọng thành công, có thể hướng ngoại nhưng là hướng tới hợp tácthương mại với các quốc gia đang phát triển khác, như là thành viên của một nhóm quốc gia đang cố gắng hộinhập kinh tế và kết hợp những mục tiêu phát triển chung Tham gia vào nền kinh tế thế giới là tất yếu, nhưngcũng có nhiều cơ hội cho sự lựa chọn các chính sách phù hợp để thúc đẩy kinh tế phát triển
Việc nghiên cứu vấn đề tài chính và thương mại quốc tế là một trong những nghiên cứu lâu đời và gâynhiều tranh cãi nhất của kinh tế học Nó được nghiên cứu từ thế kỷ 16 và khi chủ nghĩa trọng thương của Châu
Âu vẫn đang còn say mê vàng của Tây Ban Nha Nó được tiếp tục phát triển ở thế kỉ 18 và 19 khi tăng trưởngkinh tế hiện đại được thúc đẩy bởi hoạt động thương mại quốc tế Những nhà kinh tế học nổi tiếng như AdamSmith, David Ricardo và John Stuart Mill đã đưa ra những khái niệm và bản chất cơ bản của thương mại quốc tếcòn tồn tại cho đến tận ngày nay Ngày nay, những nghiên cứu sâu về thương mại quốc tế vẫn còn tiếp tục,không chỉ vì vẫn còn những tranh luận giữa những người ủng hộ và những người phủ nhận vai trò của thươngmại quốc tế đối với phát triển kinh tế, mà còn vì những phương tiện vận tải và thông tin liên lạc hiện đại đãkhiến thế giới trở nên nhỏ hẹp Những nguyên nhân này cùng với một số lý do khác đã được đề cập khiếnchúng ta phải xem xét tầm quan trọng của thương mại quốc tế và những vấn đề còn tranh luận trong phân tích
và hoạch định chính sách kinh tế
5 CÂU HỎI CƠ BẢN VỀ THƯƠNG MẠI VÀ PHÁT TRIỂN
Với mục đích thảo luận các vấn đề liên quan, chương này tập trung vào các lý thuyết truyền thống vàhiện đại của thương mại quốc tế trong khung cảnh 5 chủ đề hoặc câu hỏi liên quan cụ thể đến các quốc gia đangphát triển
Trang 41 Thương mại quốc tế ảnh hưởng như thế nào đến tốc độ tăng, cơ cấu và đặc điểm tăng trưởng kinh tếcủa các nước đang phát triển? Đây là một tranh luận truyền thống về “Thương mại là động cơ của tăng trưởng”,được xét trong mục tiêu phát triển hiện đại.
2 Thương mại đã phân chia lại thu nhập và sự giàu có giữa các nước như thế nào? Có phải thương mại
có ảnh hưởng đến sự công bằng và bất công ở phạm vi trong nước và quốc tế không? Theo cách hiểu khác, làmthế nào để phân chia giữa lợi ích và thiệt hại, ai là người được hưởng lợi?
3 Với điều kiện nào thương mại có thể giúp các nước đang phát triển đạt được mục tiêu phát triển?
4 Liệu các nước đang phát triển có thể tự quyết định được khối lượng hàng hóa tham gia thương mạikhông?
5 Dựa vào kinh nghiệm trong quá khứ và nhận định về tương lai thì các nước đang phát triển nên theođuổi chính sách hướng ngoại (thương mại tự do hơn, mở rộng hơn các luồng nhân lực, vốn, ý tưởng và côngnghệ…) hay chính sách hướng nội (bảo hộ lợi ích dân tộc) hoặc theo đuổi chính sách kết hợp cả hai, ví dụ trongkhuôn khổ hợp tác kinh tế khu vực Ưu điểm và nhược điểm của mỗi chiến lược thương mại đối với phát triển làgì?
Rõ ràng những câu trả lời hay gợi ý trả lời cho những vấn đề trên sẽ không giống nhau cho tất cả cácnước trên thế giới Toàn bộ nền tảng của thương mại quốc tế dựa trên thực tế đó là mỗi nước sẽ có sự khác nhau
về mức độ sẵn có của các nguồn lực , về trình độ công nghệ, các mục tiêu ưu tiên và khả năng tăng trưởng vàphát triển Các nước đang phát triển cũng không nằm ngoài quy luật này Một số nước mặc dù dân số đôngnhưng lại thiếu lao động có trình độ chuyên môn và nguồn tài nguyên thiên nhiên, trong khi một số nước khácmặc dù quy mô dân số nhỏ nhưng có tài nguyên thiên nhiên phong phú Phần còn lại chiếm đại đa số là nhữngnước nhỏ với sự yếu kém về kinh tế, do đó không có đủ nguồn tài nguyên và nguyên vật liệu để có thể đáp ứngđược cho chiến lược phát triển kinh tế xã hội của nước đó Loại trừ những quốc gia giàu có nhờ dầu lửa ở Trungđông và một vài quốc gia nổi tiếng về nguồn khoáng sản lớn, phần lớn các quốc gia đang phát triển này đều phảiđối mặt với những vấn đề và cách thức lựa chọn giống nhau trong quan hệ quốc tế với các quốc gia phát triển vàvới các nước khác Bởi vậy, mặc dù ở đây chúng ta đang cố gắng trình bày những đặc điểm khái quát về nhữngtriển vọng và các chính sách thương mại của các nước đang phát triển, nhưng việc có được những mục tiêu toàndiện sẽ đòi hỏi phải loại bỏ ra các yếu tố riêng biệt của mỗi nền kinh tế Tuy nhiên, xét một cách tổng thể, lợi íchcủa hoạt động này lớn hơn so với chi phí khi theo đuổi các chính sách chung
Do vậy, chúng ta bắt đầu với một tóm tắt thống kê về hoạt động và cơ cấu thương mại của các nướcLDC trong những năm gần đây Kết quả này được trình bày sau phần trình bày một cách đơn giản về học thuyếtthương mại quốc tế tân cổ điển và tác động của nó đối với tính hiệu quả, công bằng, ổn định và tăng trưởng (4khái niệm kinh tế cơ bản liên quan đến vấn đề chính của các câu hỏi ở trên) Sau đó chúng ta đưa ra một phêphán đối với học thuyết tự do thương mại dựa trên kinh nghiệm và thực tế hiện tại của thế giới Giống như thịtrường tự do, tự do thương mại cũng có nhiều giả thiết, trong đó có giả thiết khuyến khích hiệu quả không đổitrong hoạt động của nền kinh tế và nguồn tài nguyên được phân bổ có hiệu quả Và cũng tương tự như thịtrường tự do và điều kiện cạnh tranh hoàn hảo, tự do thương mại tồn tại trong lý thuyết nhiều hơn là trong thực
tế khi ngày nay các nước đang phát triển đều tồn tại thị trường không hoàn hảo và không có sự công bằng trongquan hệ thương mại quốc tế Bởi vậy, chúng ta sẽ thảo luận qua về những mô hình thương mại hiện tại, bao gồm
Trang 5cả mô hình trao đổi thương mại Bắc – Nam là mô hình tập trung những vấn đề của thế giới thực như sự cạnhtranh không hoàn hảo, thương mại bất bình đẳng và những tác động của sự tăng trưởng năng động trong nguồnlao động và công nghệ
Trong chương 13 và 14 chúng ta sẽ nghiên cứu vài điều về cán cân thanh toán quốc tế của các nước,xem xét qua một số vấn đề về tài chính quốc tế, phân tích sâu về cuộc khủng hoảng nợ và đưa ra các chính sáchthương mại (thuế quan, trợ cấp, hạn ngạch, điều chỉnh tỷ giá hối đoái…) mà các nước LDC có thể áp dụng trongbối cảnh vẫn còn những trạnh luận xoay quanh những lợi ích tương đối của việc thúc đẩy xuất khẩu so với thaythế nhập khẩu Một ví dụ nổi bật về lợi ích của thương mại quốc tế đã được minh họa ở phần kết luận củachương thông qua nghiên cứu nền kinh tế của Đài Loan
2 TẦM QUAN TRỌNG CỦA XUẤT KHẨU ĐỐI VỚI CÁC QUỐC GIA ĐANG PHÁT TRIỂN
Mặc dù số liệu tổng thể về khối lượng và giá trị xuất khẩu của các nước LDC là các chỉ số quan trọngthể hiện mô hình thương mại của nhóm nước này nhưng các số liệu thống kê tổng hợp đã không thể hiện đượcvai trò của xuất khẩu đối với phúc lợi kinh tế của từng quốc gia Bảng 12.2 đã cung cấp bức tranh toàn cảnh vềvai trò của xuất khẩu hàng hóa đối với các quốc gia có diện tích và dân số khác nhau Ở cuối bảng đã thêm 3quốc gia phát triển điển hình để so sánh
Nhìn chung, các quốc gia đang phát triển phụ thuộc vào thương mại nhiều hơn các quốc gia phát triển.Trong bảng 12.2 ở cột 1 đã chỉ rõ, việc các quốc gia có quy mô lớn hơn thì phụ thuộc ít hơn vào thương mại sovới các quốc gia nhỏ là điều hoàn toàn dễ hiểu, và nếu hai nước có cùng quy mô, thì các nước đang phát triển cókhuynh hướng dành phần nhiều hơn trong kết quả sản xuất của mình để xuất khẩu so với các quốc gia phát triển.Chúng ta có thể thấy các nước lớn như Brazil và Ấn Độ với nền kinh tế mở có khuynh hướng ít phụ thuộc vàothương mại quôc tế hơn tính theo thu nhập quốc dân, so với các nước có quy mô nhỏ hơn ở Châu Phi và Đông
Á Trong cùng một nhóm về quy mô đất nước, các nước kém phát triển sẽ phụ thuộc vào thương mại quốc tếnhiều hơn tính theo tỷ trọng so với thu nhập quốc dân so với các nước phát triển Điều này được minh chứng rõràng trong trường hợp của Nhật Bản với xuất khẩu chỉ chiếm khoảng 10% GDP, trong khi đó các nước đôngdân như Bangladesh, Indonesia, Nigeria xuất khẩu chiểm tỷ lệ khá cao trong GDP
Việc giá trị xuất khẩu của các nước đang phát triển chiếm tỷ lệ cao trong GDP một phần có thể do giá
cả hàng hóa dịch vụ phi thương mại ở nước phát triển cao hơn so với các nước đang phát triển Tuy nhiên, lý docòn lại giải thích việc các nước đang phát triển phụ thuộc nhiều vào thương mại trong quan hệ kinh tế quốc tế,bởi vì khi hầu hết các hàng hóa được đem ra trao đổi thì sẽ có rất ít sự khác biệt về mặt giá cả giữa các nước.Hơn nữa, cơ cấu xuất khẩu của các nước đang phát triển kém phong phú hơn so với các nước phát triển
Trong khi tổng giá trị xuất khẩu và tỷ lệ của hàng hóa công nghiệp trong hàng xuất khẩu có xu hướngtăng ở một số nước đang phát triển, và một số nước xuất khẩu quan trọng mới nổi lên như Trung Quốc thì chúng
ta cũng cần phải nghiên cứu xu hướng này Một số nước công nghiệp mới (NICs) vẫn được coi là giữ vị tríthống trị trong các nước xuất khẩu đang phát triển, ví dụ năm 2000 một mình Hàn Quốc xuất khẩu nhiều hơn tất
cả các nước Nam Á và cận Saharan Châu phi cộng lại Năm 2000 Hàn Quốc và Đài Loan cũng xuất khẩu hànghóa đã qua chế biến nhiều hơn so toàn bộ khu vực Mỹ La Tinh, vùng Carribe, Trung Đông, Bắc Phi, Nam Á vàcận Saharan Châu Phi cộng lại Nhưng Hồng Kông và Singapore thậm chí còn xuất khẩu nhiều hơn Hàn Quốc
và Đài Loan
Trang 6Bảng 12.2 Tỷ lệ xuất khẩu trong GDP và tỷ trọng của sản phẩm thô và hàng công nghiệp chiếm trong tổng giá trị hàng hóa xuất khẩu của các nước, năm 2000.
trong GDP % Sản phẩm thô
% Hàng công nghiệp
Các nước đang phát triển
ĐỘ CO DÃN CỦA CẦU VÀ THU NHẬP TỪ XUẤT KHẨU KHÔNG ỔN ĐỊNH.
Vấn đề cần giải đáp ở đây là tại sao thu nhập của hoạt động xuất khẩu ở hầu hết các nước đang pháttriển kém hơn so với các nước phát triển Điều này liên quan đến tính co dãn của đường cầu Phần lớn nhữngnghiên cứu thống kê về nhu cầu đối với các hàng hóa khác nhau đã chỉ ra rằng, độ co dãn của cầu các sản phẩmthô theo thu nhập là tương đối nhỏ: có nghĩa là tỷ lệ phần trăm tăng lên về lượng cầu nhập khẩu các sản phẩmthô (chủ yếu từ các nước giàu) nhỏ hơn so với phần trăm tăng GNP của các nước này Ngược lại, độ co giãn
Trang 7theo thu nhập của dầu thô, một số nguyên vật liệu và các sản phẩm chế biến lại tương đối cao Ví dụ, người tatính toán được rằng với 1% tăng thêm trong thu nhập của nước phát triển thì lượng nhập khẩu thực phẩm tăngkhoảng 0,6%, nguyên liệu thô là sản phẩm của nông nghiệp như cao su, dầu thực vật tăng 0,5%, nhưng nhữngsản phẩn dầu lửa và nhiên liệu khác tăng khoảng 2,4% và hàng hóa chế biến tăng khoảng 1,9% Bởi vậy, khi thunhập của những nước giàu tăng lên thì nhu cầu của họ về lương thực thực phẩm và nguyên liệu thô từ các nướcđang phát triển tăng lên rất chậm, trái lại nhu cầu của các nước đang phát triển về hàng sản xuất công nghiệp củacác nước phát triển tăng lên rất nhanh.
Nguyên nhân cơ bản lý giải cho việc độ co dãn của cầu đối với thu nhập ít là do xu hướng giảm theothời gian của giá cả các sản phẩm thô Thêm vào đó, do độ co dãn của cầu sản phẩm thô theo giá có có xuhướng bằng không (không co dãn), nên khi có bất kì sự dịch chuyển nào của đường cung hay đường cầu cũngtạo ra thay đổi lên xuống của giá cả Kết hợp hai tính chất co dãn này của cầu sản phẩm thô có thể lý giải đượctính không ổn định trong thu nhập của các nước xuất khẩu và điều này sẽ dẫn tới tốc độ tăng trưởng của cácnước đang phát triển là thấp và khó có thể dự đoán trước
Trong khi hầu hết các nước đều tập trung vào xuất khẩu hàng hóa, thì tỷ trọng của xuất khẩu dịch vụthương mại thường tăng lên rất chậm trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả các nước phát triển và đang pháttriển Trước dây, các dịch vụ thương mại xuất khẩu thường chỉ tập trung vào các dịch vụ kỹ thuật cao như tưvấn quản lý và đầu tư ngân hàng, thì bây giờ, xây dựng và hoạt động có kĩ năng thấp cũng được xuất khẩunhiều
HỆ SỐ TRAO ĐỔI HÀNG HÓA VÀ LUẬN ĐIỂM CỦA PREBISH – SINGER
Sự thay đổi tương đối trong các mức giá cả của các loại hàng hóa khác nhau đã dẫn chúng ta đến mộtkhía cạnh quan trọng liên quan đến việc định lượng các vấn đề thương mại mà các nước đang phát triển phải đốimặt Tổng giá trị xuất khẩu không chỉ phụ thuộc vào khối lượng xuất khẩu hàng hóa mà còn phụ thuộc vào giá
cả của chúng Nếu giá cả hàng hóa xuất khẩu giảm sút thì phải xuất khẩu với khối lượng lớn hơn để giữ ổn địnhthu nhập từ xuất khẩu Tương tự, đứng về phía nhập khẩu cũng như vậy, tổng chi tiêu ngoại hối phụ thuộc vào
cả khối lượng và giá cả hàng hóa nhập khẩu
Rõ ràng, nếu giá cả hàng hóa xuất khẩu giảm xuống so với giá cả cả hàng hóa nhập khẩu, nước đó sẽphải xuất khẩu nhiều hơn và tiêu dùng nhiều hơn các nguồn lực khan hiếm để có thể đảm bảo khối lượng nhậpkhẩu như các năm trước đó Nói cách khác, chi phí thực hay chi phí cơ hội xã hội của một đơn vị hàng hóa nhậpkhẩu của một nước sẽ tăng khi giá cả hàng xuất khẩu giảm tương đối so với giá cả của hàng nhập khẩu
Các nhà kinh tế học đã đưa ra một thuật ngữ biểu thị cho mối quan hệ hoặc tỷ lệ giữa giá cả của mộtđơn vị hàng hóa xuất khẩu tiêu biểu và giá cả của một đơn vị hàng hóa nhập khẩu tiêu biểu Tỷ lệ này được gọi
là hệ số trao đổi hàng hóa ,và nó được diễn đạt bằng Px/Pm trng đó Px và Pm biểu thị lần lượt cho chỉ số giá hàngxuất khẩu và hàng nhập khẩu tính trong cùng một khoảng thời gian (ví dụ 1985=100) Hệ số trao đổi hàng hóa
sẽgiảm nếu Px/Pm giảm, nghĩa là giá cả hàng hóa xuất khẩu giảm tương đối so với giá cả hàng hóa nhập khẩutrong khi thậm chí cả hai mức giá đều tăng Số liệu thống kê chỉ ra rằng, giá cả sản phẩm thô có xu hướng giảm
so với giá cả hàng công nghiệp Kết quả là, nếu tính trung bình, hệ số trao đổi thương mại của các nước đangphát triển ngày càng xấu đi trong khi hệ số này của các nước phát triển ngày càng được cải thiện Ví dụ, những
Trang 8nghiên cứu thực nghiệm gần đây đã chỉ ra rằng từ những năm 1900, giá của sản phẩm thô đã giảm bình quân là0,6% một năm so với hàng công nghiệp Hình 12.1 chỉ ra việc sút giảm liên tục giá cả tương đối của các sảnphẩm thô không phải dầu mỏ.
Lý thuyết chính dùng để lý giải hình 12.1 được biết đến là luận văn của Prebish – Singer, sau hai nhàkinh tế học của sự phát triển nổi tiếng đã tìm ra ngụ ý của xu hướng này trong những năm của thập niên 50 Họcho rằng hệ số trao đổi hàng hóa của các nước xuất khẩu sản phẩm thô sẽ tiếp tục giảm do hệ số co dãn của cầutheo giá và theo thu nhập đều thấp Điều này là hệ quả của một thời gian dài có sự dịch chuyển thu nhập từ cácnước nghèo sang các nước giàu do việc theo đuổi chính sách thay thế sản phẩm nhập khẩu (đọc chương 13)
Hình12.1 Hệ số trao đổi hàng hóa của sản phẩm không phải dầu lửa
Giá cả của dầu thô, mặc dù có sự tăng nhanh trong những năm 70, nhưng thực tế không thể hiện một
xu thế rõ rệt nào trong thế kỷ trước Năm 2000, giá thực tế của dầu gần như bằng với mức giá của sản phẩm nàyvào năm 1990 Hàng hóa không phải dầu lửa lại có thực tế khác: Giá trung bình của năm 2000 chỉ bằng 1/3 sovới ở thế kỉ trước Và trong thập kỉ 90 hệ số trao đổi hàng hóa của sản phẩm thô phi dầu mỏ so với hàng hóacông nghiệp ở mức thấp trong vòng 90 năm
Hình 12.2 Các nước đang phát triển : Vị trí hàng hóa xuất khẩu giai đoạn 1965 – 1998
Trang 9Nguồn: Theo IMF và WB, lối vào thị trường cho hàng hóa xuất khẩu của các nước đang phát triển,
Vì những xu hướng này mà trong những thập kỷ trở lại đây, các nước đang phát triển đã cố gắng hếtsức để chuyển cơ cấu hàng xuất khẩu của mình sang các sản phẩm chế biến Sau sự khởi đầu chậm chạp và tốnkém, những cố gắng này đã tạo ra sự thay đổi lớn trong cơ cấu hàng xuất khẩu của các nước đang phát triển, đặcbiệt đối với những nước có thu nhập trung bình Dẫn đầu là những “con hổ” Đông Á như: Hàn Quốc, Đài Loan,Hồng Kông và Singapore, theo sau còn có rất nhiều nước khác ở Châu Á bao gồm: Trung Quốc, Ấn Độ, tỷ trọngcủa các hàng công nghiệp trong tổng kim ngạch xuất khẩu đã tăng lên (hình 12.2) Tỷ trọng này tăng một cách
ổn định từ 26% năm 1970 lên đến 28% năm 1980, lên 54% năm 1990 và đạt 66% vào năm 2000 Thậm chí ởvùng cận Saharan Châu Phi tỷ trọng hàng công nghiệp đã tăng lên gấp đôi trong vòng một thập kỷ qua và naychiếm khoảng 30% tổng kim ngạch xuất khẩu so với khoảng 8% vào năm 1970 (xem hình 12.3)
Hình 12.3 Vị trí hàng hóa xuất khẩu của liên vùng Saharan Châu Phi
Nguồn: Theo IMF và WB, lối vào thị trường cho hàng hóa xuất khẩu của các nước đang phát triển., Http://www.imf.org/external/np/madc/eng/042701 ngày 27 tháng 4 năm 2001, được phép tái bản.
Nhưng đáng tiếc, sự thay đổi trong cấu trúc hàng xuất khẩu không mang lại nhiều lợi ích như mongmuốn cho các nước đang phát triển Bởi vì giá cả tương đối của các hàng công nghiệp cũng khác nhau: trongvòng 1/4 thế kỉ trở lại đây, giá cả những hàng công nghiệp cơ bản do các nước nghèo xuất khẩu giảm tương đối
so với sản phẩm công nghệ tiên tiến xuất khẩu của những nước giầu Giá cả hàng dệt may giảm nhiều nhất tiếptheo là hàng điện tử dân dụng
Trang 10Sử dụng các phương pháp khác, Liên hợp quốc đã tính được rằng giá cả của các sản phẩm công nghiệpxuất khẩu của các nước đang phát triển đã giảm sút khoảng 3,5% /năm trong những năm 1980, hoặc khoảng30% trong suốt thập niên đó Trong một nghiên cứu chi tiết, Alf Maizels khám phá ra rằng hệ số trao đổi thươngmại của các sản phẩm chế biến ở các nước đang phát triển so với của Mỹ đã giảm trong giai đoạn từ 1981 –
1997 Hàng dệt may có sự giảm giá nhanh chóng vào cuối thập niên 90
Với nhìn nhận tổng quan về những vấn đề thương mại quốc tế của các nước đang phát triển, chúng ta
sẽ xem xét các lý thuyết khác về vai trò của thương mại đối với phát triển kinh tế
3 LÝ THUYẾT THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ CỔ ĐIỂN
Một trong những hoạt động cơ bản của con người trên thế giới là tiến hành giao dịch và trao đổi vớinhau Ngay cả ở những ngôi làng xa xôi hẻo lánh của Châu Phi, người dân cũng thường xuyên tới chợ để traođổi hàng hóa, đôi khi để lấy tiền nhưng thường là để lấy các hàng hóa khác thông qua hình thức hàng đổi hàng.Một giao dịch là sự trao đổi hai chiều – cho đi và nhận lại một cách tương ứng.Tại một ngôi làng ở Châu Phi,phụ nữ có thể đổi lương thực như bột mỳ lấy quần áo hoặc đổi một món đồ trang sức đơn giản lấy bình gốm Tất
cả các giao dịch trên đều thông qua giá cả Ví dụ: nếu 20 cân bột mỳ đổi lấy 1mét vải, điều đó có nghĩa là giángầm định (hệ số trao đổi thương mại) của 1 mét vải là 20 cân bột mỳ Nếu 20 cân bột mỳ có thể đổi một bìnhgốm nhỏ, thì 1 bình gốm nhỏ sẽ đổi được 1 mét vải Hệ thống giá cả đã được xác lập
3.1 LỢI THẾ SO SÁNH
Tại sao con người lại tiến hành buôn bán? Về cơ bản, bởi vì nó mang lại lợi nhuận Mỗi người khácnhau sẽ chiếm hữu những khả năng và nguồn lực khác nhau và có nhu cầu tiêu dùng các loại hàng hóa với tỷ lệkhác nhau Sự khác nhau trong sở thích cùng với các khả năng vật chất và tài chính khác nhau đã mở ra cơ hộikiếm lời từ trao đổi buôn bán Người ta sẽ có lợi nhuận khi bán những thứ họ có một khối lượng lớn hơn tươngđối so với những thứ họ có nhu cầu Trên thực tế, vì ngay cả những người có cuộc sống đơn giản nhất thì họ vàgia đình họ cũng không thể tự sản xuất được hết tất cả các hàng hóa và dịch vụ cần thiết cho cuộc sống, do đócách thức có lợi hơn đó là họ cố gắng mở rộng các hoạt động phù hợp nhất với họ hoặc họ có lợi thế so sánh vềnăng lực hay nguồn lực tự nhiên Vì thế họ có thể tiến hành trao đổi phần thặng dư của những hàng hóa do mìnhsản xuất để lấy những hàng hóa do người khác sản xuất Do đó hiện tượng chuyên môn hóa dựa trên lợi thế sosánh đã ngày càng phát triển ngay cả ở những nền kinh tế tự cung tự cấp
Những nguyên tắc chuyên môn hóa và lợi thế so sánh đó đã được các nhà kinh tế học áp dụng để tiếnhành trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia với nhau Để trả lời cho câu hỏi yếu tố nào quyết định những hàng hóanào sẽ được mang ra trao đổi thương mại và tại sao một số nước sản xuất những hàng hóa này trong khi đó một
số nước khác lại sản xuất những hàng hóa khác, các nhà kinh tế học ngay từ thời của Adam Smith có câu trả lờixác đáng dựa trên sự khác biệt trong chi phí sản xuất và giá cả của các loại hàng hóa khác nhau giữa các nước.Các quốc gia cũng tương tự như mỗi người cũng chỉ chuyên môn hóa vào một số hoạt động sản xuất nhất định
mà nước đó có lợi thế Các nước sẽ chuyên môn hóa sản xuất những mặt hàng mang lại lợi ích lớn nhất cho họ
Nhưng tại sao trong thương mại quốc tế, chi phí sản xuất giữa các nước lại khác nhau? Ví dụ: làm thếnào để Dức sản xuất ra máy ảnh, đồ điện tử và ô tô rẻ hơn Kenya? Và trao đổi những hàng hóa công nghiệp đóvới Kenya để lấy những sản phẩm từ nông nghiệp tương đối rẻ như trái cây, rau, cà phê và chè? Một lần nữa,
Trang 11câu trả lời cùng tìm thấy ở sự khác biệt trong cấu trúc chi phí và giá cả giữa các nước trên thế giới Một số sảnphẩm (hàng công nghiệp) sản xuất tại Đức rẻ hơn và có thể mang lại lợi ích khi xuất khẩu sang các nước khácnhư Kenya Trong khi một số sản phẩm khác (các sản phẩm nông nghiệp) có thể sản xuất với chi phí thấp hơntương đối ở Kenya và do đó được xuất khẩu sang Đức để đổi lấy các sản phẩm của Đức sản xuất.
Sự khác biệt về giá cả và chi phí tương đối là cơ sở của lý thuyết thương mại quốc tế Nguyên tắc củalợi thế so sánh chỉ ra rằng, trong các điều kiện cạnh tranh, một nước sẽ chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩunhững mặt hàng mà nước đó có khả năng sản xuất với chi phí so sánh thấp nhất Đức có thể sản xuất máy ảnh
và ô tô cũng như rau và hoa quả với chi phí sản xuất thấp hơn so với Kenya (có lợi thế tuyệt đối so với Kenya)nhưng vì sự khác biệt về chi phí sản xuất giữa hai nước đối với hàng công nghiệp lớn hơn so với hàng nông sản,
do đó, Đức có lợi thế để chuyên môn hóa sản xuất sản phẩm công nghiệp để đổi lấy sản phẩm nông nghiệp từKenya Mặc dù Đức có lợi thế tuyệt đối trong chi phí sản xuất ở cả tất cả các mặt hàng nhưng đối với hàng hóacông nghiệp thì có lợi thế so sánh hơn Trái lại, Kenya đều bất lợi tuyệt đối so với Đức ở tất cả các mặt hàng vìchi phí sản xuất cao hơn, nhưng nước này vẫn thu được lợi ích từ việc tham gia thương mại quốc tế vì nó có lợithế so sánh trong sản xuất những sản phẩm nông nghiệp (hay nói một cách khác Kenya bất lợi tuyệt đối ít hơntrong sản phẩm nông nghiệp) Vì có lợi thế so sánh khác nhau nên các giữa các nước vẫn có lợi từ thương mạiquốc tế thậm chí ngay cả giữa hai đối tác không tương xứng nhất
3.2 MỨC ĐỘ SẴN CÓ TƯƠNG ĐỐI CÁC YẾU TỐ NGUỒN LỰC VÀ SỰ CHUYÊN MÔN HÓA QUỐC TẾ: MÔ HÌNH TÂN CỔ ĐIỂN.
Lý thuyết cổ điển về tự do thương mại dựa trên lợi thế so sánh là một mô hình tĩnh dựa hoàn toàn vàomột yếu tố nguồn lực (chi phí lao động) và việc chuyên môn hóa sâu để lý giải lợi ích của thương mại quốc tế
Mô hình thương mại từ thế kỷ 19 do David Ricardo cùng John Stuart Mill đưa ra này đã được điều chỉnh và lýgiải rõ ràng hơn vào thế kỷ 20 bởi hai nhà kinh tế học người Thụy Điển là Eli Hecksher và Bertil Ohlin Môhình này xem xét sự khác biệt giữa các nước về tất cả các yếu tố của quá trình sản xuất (chủ yếu là đất đai, laođộng và vốn) Lý thuyết thương mại tân cổ điển Hecksher – Ohlin về mức độ sẵn có của các yếu tố sản xuất chophép chúng ta có thể lý giải một cách rõ ràng về tác động của tăng trưởng kinh tế đối với thương mại và tácđộng của thương mại lên cơ cấu kinh tế quốc gia cũng như sự khác biệt trong chi phí của các yếu tố sản xuất
Tuy nhiên, không giống như mô hình cổ điển dựa trên chi phí sản xuất để lý giải cơ sở của thương mạiquốc tế là sự khác biệt giữa các nước trong năng suất lao động của các hàng hóa, lý thuyết H – O bác bỏ cơ sởnày vì cho rằng tất cả các nước đều có khả năng tương tự nhau về trình độ công nghệ để sản xuất các loại hànghóa Giá cả của các yếu tố sản xuất trong nước là như nhau, tất cả các nước sẽ có cùng phương pháp sản xuất và
do vậy sẽ có cùng tỷ lệ giá sản xuất nội địa và năng suất nhân tố sản xuất Do đó cơ sở cho hoạt động thươngmại không phải vì năng suất lao động của các loại hàng hóa khác nhau giữa các nước mà vì các nước có mức độsẵn có của nguồn lực sản xuất khác nhau Sự khác biệt tương đối trong mức độ sẵn có của các nguồn lực sẽ tạo
ra sự khác biệt tương đối về giá của các yếu tố, (ví dụ lao động sẽ rẻ tương đối với những nước có nguồn laođộng dồi dào) và đồng thời cũng tạo sự khác biệt đối với tỷ lệ giá hàng hóa nội địa và sự kết hợp các yếu tốtrong quá trình sản xuất Những nước có lao động rẻ sẽ lợi thế về chi phí sản xuất và giá hơn những nước có giálao động tương đối đắt trong sản xuất hàng hóa sử dụng nhiểu lao động (ví dụ sản phẩm thô) Do đó, các nướcnày sẽ tập trung sản xuất những sản phẩm có hàm lượng lao động cao để xuất khẩu nhằm đổi lại những sảnphẩm nhập khẩu có hàm lượng vốn cao
Trang 12Trái lại, các nước có nhiều vốn sẽ có lợi thế về chi phí và giá cả trong sản xuất hàng hóa công nghiệp,những hàng hóa cần nhiều vốn hơn so với lao động Họ sẽ có lợi nhuận trong việc chuyên môn hóa sản xuất vàxuất khẩu những mặt hàng sử dụng nhiều vốn để đổi lại nhập khẩu những mặt hàng có hàm lượng lao động từnhững nước dồi dào về lao động Vì thế thương mại đóng vai trò cầu nối giúp các quốc gia chuyên môn hóa sảnxuất các mặt hàng sử dụng nhiều nhất yếu tố sẵn có trong nước
Tóm lại, lý thuyết thương mại về mức độ sẵn có của các nguồn lực dựa trên hai định đề chính:
1.Những sản phẩm khác nhau đòi hỏi các yếu tố sản xuất khác nhau Ví dụ, sản phẩm nông nghiệp đòihỏi nhiều lao động trên một đơn vị tư bản hơn so với sản phẩm công nghiệp- những sản phẩm sẽ đòi hỏi nhiềuvốn so với một đơn vị lao động hơn phần lớn những sản phẩm thô Tỷ lệ các yếu tố sản xuất được sử dụng đểsản xuất những hàng hóa khác nhau sẽ phụ thuộc vào tương quan giá cả của chúng Tuy nhiên, cho dù giá củacác yếu tố là bao nhiêu thì học thuyết thương mại về mức độ sẵn có của các nguồn lực giả thiết rằng có một sốsản phẩm sử dụng tương đối nhiều vốn trong khi một số sản phẩm khác lại sử dụng tương đối nhiều lao động
Và đặc điểm này của các sản phẩm hàng hóa là như nhau giữa Ấn Độ và Mỹ, sản phẩm thô có khuynh hướng sửdụng nhiều lao động hơn so với hàng sản xuất công nghiệp thứ cấp ở cả Ấn Độ và Mỹ
2 Các nước có mức độ sẵn có về các yếu tố nguồn lực khác nhau Một vài nước, như Mỹ có khốilượng vốn lớn trên một đơn vị lao động và được coi là nước dồi dào vốn Những nước khác, như Ấn Độ, Hi Lạphoặc Colombia, có ít vốn và nhiều lao động được coi là nước dồi dào lao động Nhìn chung, các nước phát triểndồi dào về nguồn vốn (và có thể cộng thêm sự dồi dào về lao động có tay nghề) trong khi phần lớn các nướcđang phát triển tương đối dồi dào nguồn lao động
Lý thuyết lợi thế nguồn lực mở rộng thêm rằng các nước dồi dào về vốn sẽ có xu hướng chuyên mônhóa sản xuất những sản phẩm như: ô tô, máy bay, thông tin điện tử và máy tính – những sản phẩn sử dụng nhiềuvốn trong sản xuất Họ sẽ xuất khẩu những sản phẩm này để đổi lấy những sản phẩm sử dụng nhiều lao động đểsản xuất như thực phẩm, nguyên liệu thô, và khoáng sản những sản phẩm được sản xuất hiệu quả ở những nước
có lợi thế về lao động và đất đai
Lý thuyết này, với vị trí ưu thế trong các lý thuyết về thương mại và phát triển, đã khuyến khích cácnước đang phát triển tập trung vào xuất khẩu những sản phẩm sử dụng nhiều lao động và đất đai Lý thuyết chỉ
ra rằng, việc trao đổi những sản phẩm thô lấy các hàng hóa chế biến, vẫn được coi là sản phẩm của các nướcphát triển, đã khiến cho các nước đang phát triển có thể đánh giá được lợi ích tiềm tàng của thương mại tự dovới các nước giàu có khác trên thế giới Học thuyết tự do thương mại này đã từng được sử dụng phục vụ cho lợiích chính trị của những nước đế quốc trong việc tìm kiếm nguồn nguyên liệu thô để đáp ứng nhu cầu mở rộngsản xuất và tìm kiếm thị trường đầu ra cho hàng hóa công nghiệp của mình
Cơ chế mà theo đó lợi ích của hoạt động thương mại được chuyển giao vượt ra ngoài biên giới quốc giatheo cách tiếp cận của lý thuyết lợi thế nguồn lực cũng hoàn toàn tương tự như cách tiếp cận của lý thuyết cổđiển về chi phí sản xuất Tuy nhiên, theo cách tiếp cận của lý thuyết lợi thế nguồn lực, việc kết hợp các yếu tốkhác nhau cho những hàng hóa sản xuất khác nhau được giả thiết là nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuấtđược xác định trong những điều kiện của cầu nội địa Ví dụ, xem xét trường hợp của hai nước, sản xuất hai loạihàng hóa Giả sử một nước là nước phát triển và một nước là nước đang phát triển, và hai loại hàng hóa đượcsản xuất ở hai nước là hàng nông sản và hàng công nghiệp
Trang 14Sự khác nhau tương đối về chi phí sản xuất và giá cả tại A và A ( khác nhau trong độ dốc của đườnggiới hạn khả năng sản xuất)làm tăng khả năng thu lợi từ hoạt động thương mại Trong mô hình cổ điển về chiphí lao động, tỷ lệ giá quốc tế trong điều kiện tự do thương mại Pa Pm sẽ nằm trong khoảng (Pa/Pm)T và(Pa/Pm)R tương ứng là tỷ lệ giá nội địa của các nước đang phát triển và các nước phát triển Đường Pa Pm
trong cả hai hình 12.4 biểu thị tỷ lệ giá chung của thế giới Đối với các nước đang phát triển đường Pa Pm dốchơn có nghĩa là các nước này sẽ có nhiều hàng công nghiệp hơn khi đổi một đơn vị hàng nông sản so với khikhông có thương mại, nói cách khác, giá cả quốc tế của hàng hóa nông nghiệp so với hàng hóa sản xuất côngnghiệp cao hơn so với tỷ lệ giá nội địa của hai loại hàng hóa này ở các nước đang phát triển Do đó các nướcđang phát triển sẽ chuyển nguồn lực ra khỏi khu vực sản xuất hàng công nghiệp có chi phí đắt hơn và chuyênmôn hóa vào sản xuất hàng nông sản Với điều kiện cạnh tranh hoàn hảo, các nước đang phát triển sẽ sản xuấttại B trên đường giới hạn khả năng sản xuất, nơi mà chi phí sản xuất tương đối (chi phí cơ hội) bằng với giá cảthế giới Các nước đang phát triển thực hiện thương mại dọc Pa Pmdọc theo đường giá quốc tế, xuất khẩu sản
phẩm nông nghiệp là BD để đổi lấy nhập khẩu sản phẩm sản xuất công nghiệp DC và đạt đến tiêu dùng cuốicùng tai điểm C, tiêu dùng nhiều hơn với cả hai hàng hóa so với trước khi giao dịch thương mại Ví dụ cụ thể:giả định rằng giá cả quốc tế của tự do thương mại, Pa Pmlà 2 đến 1 Nói cách khác, một đơn vị hàng hóa nôngnghiệp bán ra tại mức giá gấp hai lần một đơn vị hàng hóa sản xuất công nghiệp, có nghĩa là một đơn vị hànghóa nông nghiệp của các nước đang phát triển xuất khẩu sang các nước phát triển có thể nhập khẩu được hai đơn
vị sản phẩm hàng hóa công nghiệp Đường giá quốc tế dốc minh họa cho hệ số trao đổi hàng hóa này Nếu cácnước đang phát triển xuất khẩu ở BD sản phẩm nông nghiệp (30 đơn vị) nó sẽ nhập được từ các nước phát triển(60 đơn vị)hàng hóa công nghiệp Tương tự, đối với các nước phát triển, tỷ lệ giá quốc tế mới, có nghĩa đổi sảnphẩm công nghiệp lấy được nhiều sản phẩm nông nghiệp hơn so với mức giá trong nước Bằng đồ thị, đườnggiá quốc tế dốc ít hơn so với đường minh họa tỷ lệ giá trong nước (hình 12.4b) Các nước phát triển sẽ phân bổlại nguồn vốn dồi dào của mình để sản xuất nhiều hàng công nghiệp hơn và sản xuất ít hàng nông nghiệp, tạiđiểm B’nơi giá hàng hóa trong nước bằng với giá quốc tế Các nước này sẽ đổi B’D’ (bằng với DC) hàng hóacông nghiệp, để lấy D’C’ (bằng với BD) sản phẩm nông nghiệp của các nước đang phát triển Các nước pháttriển sẽ dịch chuyển ra ngoài đường khả năng sản xuất và kết thúc tiêu dùng tại C’ (hình 12.4b) Thương mại cânbằng, giá trị của xuất khẩu bằng với giá trị nhập khẩu ở cả hai khu vực Thêm vào đó, điều này cũng dẫn đếntăng tiêu dùng hai hàng hóa ở cả hai khu vực, điều này đã được so sánh giữa tự do thương mại ở điểm C và C’
và không có thương mại tại điểm A và A’ (hình 12.4)
Những kết luận chủ yếu của lý thuyết tự do thương mại tân cổ điển là tất cả các quốc gia đều có lợi từthương mại và tổng sản phẩm đầu ra của thế giới tăng lên Tuy nhiên, các nhà kinh tế học còn rút ra được một sốkết luận khác từ hai kết luận chính ở trên Thứ nhất, với việc tăng chi phí cơ hội kết hợp với sự dịch chuyểnnguồn lực sản xuất giữa các hàng hóa có nhu cầu sử dụng các yếu tố sản xuất khác nhau, các nước sẽ không tiếnhành chuyên môn hóa hoàn toàn như thuyết lợi thế so sánh cổ điển đã chỉ ra Các nước sẽ chuyên môn hóa sảnxuất các sản phẩm sử dụng nguồn lực sẵn có của nước mình Họ sẽ bù đắp lại nguồn lực khan hiếm thông quaviệc nhập khẩu các sản phẩm sử dụng nhiều yếu tố khan hiếm của nước mình Nhưng việc tăng chi phí sản xuấttrong nước dẫn đến giá nội địa vượt quá giá cả quốc tế sẽ ngăn cản hoàn toàn chuyên môn hóa
Thứ hai, với công nghệ sản xuất giống nhau trên toàn thế giới, sự cân bằng tỷ lệ giá nội địa với giáquốc tế sẽ có khuynh hướng cân bằng giá của các nhân tố giữa các nước tham gia thương mại Ví dụ, tiền lươngtăng ở các đang nước phát triển tương đối sẵn có về lao động là kết quả của việc sử dụng nhiều lao động để sản
Trang 15xuất thêm sản phẩm nông nghiệp Nhưng giá của yếu tố khan hiếm là vốn sẽ giảm bởi vì giảm sản xuất hàngcông nghiệp sử dụng nhiều vốn Trong các nước phát triển, giá của nguồn vốn dồi dào sẽ tăng tương đối so vớilao động khan hiếm vì các nước này sử dụng nhiều vốn hơn cho sản xuất hàng công nghiệp và sử dụng ít laođộng hơn cho sản xuất hàng nông nghiệp.
Học thuyết tân cổ điển về mức độ sẵn có của các yếu tố nguồn lực đã dự đoán rằng tiền lương quốc tếthực tế và chi phí vốn sẽ dần tiến tới cân bằng Trong những năm gần đây, những công nhân sản xuất có trình độcao ở các nước phát triển lo rằng: tự do thươnng mại và cạnh tranh toàn cầu mạnh mẽ sẽ làm giảm mức lươngcủa họ xuống bằng mức lương ở các nước đang phát triển Tuy nhiên, trên thực tế, trừ các nước công nghiệpmới ở Châu Á, khoảng cách lương của công nhân giữa các nước đang phát triển và các nước phát triển vẫn cònrất lớn
Thứ ba, trong các nước, lý thuyết về mức độ sẵn của các yếu tố nguồn lực dự đoán rằng lợi nhuận củanhững người sở hữu các yếu tố sẵn có sẽ tăng tương đối so với lợi nhuận của những người sở hữu các nguồn tàinguyên khan hiếm vì các yếu tố sẵn có được sử dụng nhiều hơn Ở các nước đang phát triển, điều này có nghĩa
là tăng phân phối thu nhập quốc dân cho người lao động Trong trường hợp không có thương mại, phần củangười lao động sẽ ít hơn Như vậy, thương mại có khuynh hướng thúc đẩy phân phối công bằng hơn trong thunhập trong nước
Cuối cùng, với việc cho phép các nước có thể vượt ra ngoài đường giới hạn khả năng sản xuất và đảmbảo vốn cũng như tiêu dùng hàng hóa từ các nước khác, thương mại được coi là yếu tố thúc đẩy tăng trưởngkinh tế Nếu các nước phát triển có lợi thế so sánh trong sản xuất hàng hóa có kĩ năng và vốn cao, trao đổithương mại sẽ làm giảm giá cả của những trang thiết bị và máy móc, thúc đẩy đầu tư và tăng trưởng cho cácnước đang phát triển Kinh nghiệm của Đài Loan đã chỉ ra rằng các nước đang phát triển học tập được kinhnghiệm của các nước phát triển để sản xuất những sản phẩm có kĩ năng kết hợp Thương mại quốc tế cũng chophép một quốc gia có được các nguyên vật liệu và những sản phẩm khác (công nghệ mới, ý tưởng, trithức…)mà nước đó tương đối khan hiếm với giá rẻ hơn sản xuất trong nước Như vậy, nó có thể tạo điều kiệncho cho các nước đang phát triển có khả năng sản xuất và phát triển các sản phẩm công nghiệp
II LÝ THUYẾT THƯƠNG MẠI VÀ PHÁT TRIỂN: NHỮNG TRANH LUẬN CỔ ĐIỂN.
Bây giờ chúng ta tóm tắt những lý giải mang tính lý thuyết cho 5 câu hỏi cơ bản về thương mại và pháttriển được rút ra từ mô hình tân cổ điển về tự do thương mại
1 Thương mại là một nhân tố quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Thương mại mở rộng khả năngtiêu dùng, tăng sản lượng đầu ra, tạo khả năng tiếp cận nguồn tài nguyên khan hiếm và thị trường quốc tế rộnglớn cho sản phẩm sản xuất trong nước, mà nếu thiếu các yếu tố này các quốc gia nghèo không thể có tăngtrưởng
2 Thương mại có khuynh hướng thúc đẩy sự công bằng trong nước và quốc tế thông qua việc cân bằnggiá các yếu tố sản xuất, tăng thu nhập thực tế của các nước và sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên sẵn có trongnước cũng như trên thế giới (ví dụ, tăng tiền lương tương đối ở các nước có nguồn lao động dồi dào và giảm tiềnlương ở các nước khan hiếm nguồn lao động)
Trang 163 Thương mại giúp các nước đạt được mục tiêu phát triển bằng cách thúc đẩy những khu vực mà mỗinước có lợi thế so sánh, theo khía cạnh hiệu quả lao động hoặc sự sẵn có các yếu tố sản xuất Thương mại cũngcho phép các nước tận dụng được lợi thế về quy mô của nền kinh tế.
4 Trong thương mại quốc tế, giá quốc tế và chi phí sản xuất quyết định các quốc gia sẽ tham giathương mại như thế nào để có thể tối đa hóa được lợi ích Các quốc gia nên tuân thủ nguyên tắc về lợi thế sosánh và không nên can thiệp vào thị trường tự do
5 Cuối cùng, cần có những chính sách hướng ra thị trường quốc tế để thúc đẩy tăng trưởng và pháttriển Trong tất cả các trường hợp, việc theo đuổi chính sách hướng nội một phần hay hoàn toàn sẽ ngăn cản nềnkinh tế tham gia vào thị trường thương mại tự do toàn cầu
1 MỘT VÀI LUẬN ĐIỂM PHÊ PHÁN LÝ THUYẾT TỰ DO THƯƠNG MẠI TRUYỀN THỐNG TRONG ĐIỀU KIỆN CỦA CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN.
Các kết luận của thuyết thương mại cổ điển được rút ra từ những giả thiết cả rõ ràng và ẩn ý đối lập màtrong rất nhiều trường hợp thường đối lập với thực tế các mối quan hệ kinh tế quốc tế đương đại Do đó lýthuyết này thường dẫn đến các kết luận mâu thuẫn với cả kinh nghiệm lịch sử và hiện tại trong thương mại củanhiều quốc gia đang phát triển Điều này không phủ nhận lợi ích tiềm năng của tự do thương mại, nhưng phảithừa nhận thực tế đó là thương mại tự do luôn gặp rào cản là những chính sách bảo hộ của các quốc gia và chínhsách giá quốc tế không cạnh tranh
Đâu là giả thiết chính và quan trọng trong lý thuyết thương mại truyền thống về mức độ sẵn có các yếu
tố sản xuất Các giả thiết này không mang tính thực tế như thế nào Khi có đánh giá thực tế hơn về cơ chế thựccủa các mối quan hệ kinh tế và chính trị quốc tế thì sẽ dẫn tới viễn cảnh nào cho hoạt động thương mại và tàichính của các nước đang phát triển?
Sáu giả thiết của mô hình thương mại tân cổ điển cần phải được xem xét kỹ lưỡng:
1.Tất cả các nguồn lực của sản xuất là hữu hạn về số và chất lượng giữa các quốc gia Chúng được sửdụng hết và không có biến động trên phạm vi quốc tế về các nhân tố sản xuất
2 Công nghệ sản xuất cố định (mô hình cổ điển) hoặc tương tự và tự do chuyển đổi giữa các quốc gia(mô hình H - O) Thêm vào đó, tính lan tỏa của công nghệ mang lại lợi ích cho tất cả Thị hiếu của người tiêudùng là cố định và độc lập với ảnh hưởng của nguời sản xuất (tồn tại quyền tiêu dùng quốc tế)
3 Trong các quốc gia, nhân tố sản xuất tự do di chuyển giữa các lĩnh vực sản xuất, và tổng thể hoạtđộng của nền kinh tế là cạnh tranh hoàn hảo Không có sự rủi ro và không chắc chắn
4 Chính phủ của các quốc gia không có vai trò trong các mối quan hệ kinh tế quốc tế.; thương mạithực hiện giữa những nhà sản xuất riêng lẻ nhằm mục đích tối thiểu hóa chi phí và tối đa hóa lợi nhuận Giáquốc tế được thiết lập thông qua cung và cầu
5 Mỗi quốc gia, tại một thời điểm nào đó, đều đạt sự cân bằng cán cân thương mại, và tất cả các nềnkinh tế đều có thể thay đổi được mức giá cả quốc tế với một biên độ nhỏ
6 Lợi ích của thương mại đến được với mỗi người dân của quốc gia đó
Trang 17Chúng ta có thể phê phán từng giả định ở hoàn cảnh của các nước đang phát triển trong hệ thống kinh
tế thế giới hiện nay Một số phê phán này là cơ sở cho việc hình thành những lý thuyết thương mại quốc tế khác,
lý thuyết thương mại và phát triển phi tân cổ điển, bao gồm những mô hình “tạo lối thoát cho sự dư thừa”, môhình cơ cấu và mô hình thương mại Bắc – Nam
2 CÁC NGUỒN LỰC CỐ ĐỊNH, TOÀN DỤNG NHÂN CÔNG VÀ SỰ ỔN ĐỊNH QUỐC TẾ
VỂ VỐN VÀ LAO ĐỘNG CÓ TRÌNH ĐỘ
THƯƠNG MẠI VÀ CÁC NGUỒN LỰC TĂNG TRƯỞNG: MÔ HÌNH THƯƠNG MẠI BẤT BÌNH ĐẲNG BẮC – NAM.
Giả thiết đầu tiên về thuộc tính ổn định của trao đổi quốc tế trong đó các nguồn lực đều cố định, được
sử dụng hoàn toàn và mang tính ổn định quốc tế với cùng một hàm sản xuất của cùng một loại sản phẩm – làtrung tâm của toàn bộ học thuyết thương mại và tài chính truyền thống Trên thực tế, nền kinh tế thế giới thayđổi nhanh chóng và các nhân tố sản xuất đều không cố định cả về số lượng và chất lượng Điều này không chỉ vìtích lũy vốn và nguồn nhân lực phát triển không ngừng mà còn vì thương mại sẽ vẫn luôn là một trong nhữngnhân tố chính của sự tăng trưởng không cân xứng các nguồn lực sản xuất ở mỗi quốc gia khác nhau Điều nàyđặc biệt đúng với đối với các nguồn lực có tính quyết định tới tăng trưởng và phát triển như: vốn vật chất, khảnăng quản lý, khoa học công nghệ, khả năng tiến hành nghiên cứu và triển khai về công nghệ, và việc nâng caotrình độ kĩ thuật cho lực lượng lao động
Do đó, điều này dẫn tới kết luận đó là sự sẵn có tương đối các nguồn lực và chi phí sản xuất tương đối
là không cố định mà luôn thay đổi Hơn nữa, chúng thường được xác định qua đặc điểm của quá trình chuyênmôn hóa quốc tế hơn là do những đặc điểm từ trong nước Trong bối cảnh thương mại bất bình đẳng giữa cácnước giàu và nước nghèo, điều này có nghĩa là bất kì sự không cân xứng ban đầu nào về mức độ sẵn có các yếu
tố sản xuất thì sẽ ngày càng không cân xứng qua hoạt động thương mại vì sự khác biệt về mức độ sẵn có củacác nguồn lực được coi là không đổi Đặc biệt nếu các nước giàu có (phía Bắc) nhờ vào điều kiện lịch sử được
ưu đãi nguồn vốn thiết yếu, nằng lực quản lý và lao động lành nghề, sẽ tiếp tục chuyên môn hóa sản xuất và sửdụng các nguồn lực này một cách triệt để tạo điều kiện cần thiết thúc đẩy kinh tế phát triển hơn nữa Trái lại, cácnước đang phát triển (phía Nam) lại thừa lao động phổ thông, với việc chuyên môn hóa sản xuất các sản phẩm
sử dụng lao động phổ thông là những sản phẩm có cầu và hệ số trao đổi thương mại theo xu hướng bất lợi, sẽkhiến các nước này rơi vào tình trạng luẩn quẩn và luôn có lợi thế so sánh về lao động không có trình độ và sảnxuất kém hiệu quả Điều này sẽ kìm hãm sự gia tăng nguồn vốn cần thiết, kinh nghiệm quản lý và trình độ kĩthuật Tính hiệu quả trong điều kiện tĩnh trở thành không hiệu quả trong điều kiện động, và quá trình tích lũy đikèm với hoạt động thương mại khi đặt trong quan hệ thương mại bất bình đẳng sẽ khiến quá trình phân phốimang lại lợi ích nhiều hơn cho những nước có nhiều nguồn lực và do đó các nước nghèo sẽ vẫn luôn trong tìnhtrạng kém phát triển về vốn vật chất và nguồn nhân lực và Một khẩu hiệu rất nổi tiếng ở các nước đang pháttriển đó là: “trừ một vài trường hợp, khoảng cách về công nghệ giữa các quốc gia đang phát triển và quốc giaphát triển sẽ ngày càng được nới rộng” Học thuyết thương mại quốc tế tân cổ điển với giả thiết về các hàm sảnxuất giống nhau cho các sản phẩm ở các quốc gia khác nhau đã bỏ qua vấn đề trên
Trong những năm gần đây, một số nhà kinh tế học đã thay đổi mô hình thương mại tĩnh tân cổ điểnbằng các mô hình động về thương mại và tăng trưởng trong đó nhấn mạnh quá trình tích lũy các yếu tố và pháttriển không đồng đều dựa theo các gợi ý ở đoạn trên Mô hình thương mại Bắc – Nam tập trung đặc biệt vào
Trang 18các mối quan hệ giữa các nước giàu với các nước nghèo, trong khi lý thuyết thương mại quốc tế truyền thốnggiả định áp dụng được cho tất cả các quốc gia Mô hình thương mại Bắc – Nam chỉ ra rằng sự dồi dào hơn vềnguồn vốn cho sản xuất ngay từ đầu ở các nước công nghiệp phát triển (phía Bắc) sẽ tạo điều kiện để các nướcnày xuất khẩu hàng công nghệ và thu được lợi nhuận cao hơn Điều này cùng với sự gia tăng sức mạnh độcquyền sẽ thúc đẩy tốc độ tăng trưởng cao hơn ở các nước này thông qua quá trình tích lũy vốn (theo mô hìnhtăng trưởng Harrod – Domar và mô hình về mức độ đóng góp của các yếu tố vào tăng trưởng đã thảo luận trongcác chương trước) Kết quả là, sự tăng trưởng nhanh chóng của các quốc gia phía Bắc sẽ gia tăng tích lũy lợi thếcạnh tranh so với các nước phương Nam tăng trưởng chậm hơn Nếu chúng ta tính thêm cả sự khác biệt trong độ
co dãn của cầu theo thu nhập (“hàng hóa tư bản” ở phía Bắc sẽ cao hơn “hàng hóa tiêu dùng” ở phía Nam) vàquá trình di chuyển vốn vào mô hình nghiên cứu (dòng vốn di chuyển từ các nước phía Nam đến các nước phíaBắc, như đã diễn ra trong thập kỷ 80 của thế kỷ 20) thì sẽ ngày càng bi quan hơn về tình trạng thương mại củacác nước đang phát triển
Không một quốc gia nào mong muốn nước mình tập trung chuyên môn hóa sản xuất sản phẩm sử dụnglao động phổ thông, trong khi để người nước ngoài thu lợi từ việc có trình độ lao động cao hơn, công nghệ tiêntiến hơn và nhiều vốn hơn Tuy nhiên, với việc theo đuổi lý thuyết về nguồn lực sẵn có, các nước kém phát triển
có thể kìm hãm nền kinh tế của nước mình trong một cơ cấu kinh tế nhằm tăng cường các nguồn lực sẵn có vớigiá trị thấp, và cản trở những mục tiêu phát triển trong dài hạn Một số nước, như bốn con rồng Châu Á (ĐàiLoan, Hàn Quốc, Singapore, và Hồng Kông) đã thành công trong việc chuyển đổi nền kinh tế của mình thôngqua các nỗ lực đáng kể để chuyển cơ cấu sản xuất từ sản xuất các sản phẩm sử dụng nhiều lao động phổ thông,sang sử dụng lao động có trình độ và cuối cùng là các sản phẩm cần nhiều vốn Các nước ở Châu Á khác, đángchú ý là Trung Quốc, cũng đang tiếp bước con đường này Tuy nhiên, đối với hầu hết các nước nghèo, khả năngchỉ thông qua hoạt động thương mại để thúc đẩy thay đổi cơ cấu kinh tế như các nước đi trước là hết sức xa vờinếu không áp dụng những chính sách phát triển hợp lý
Một ví dụ thú vị khác về các lý thuyết thương mại quốc tế mới, hậu tân cổ điển, được trình bày trongcuốn “Lợi thế cạnh tranh của các quốc gia” của Michael Porter Nền tảng lý thuyết này của Porter khác với lýthuyết tân cổ điển về mức độ sẵn có của các yếu tố sản xuất ở chỗ giả thiết có sự khác biệt trong chất lượng giữacác yếu tố sản xuất cơ bản các yếu tố sản xuất tiên tiến Ông cũng cho rằng lý thuyết thương mại truyền thốngchỉ mới dừng ở việc đánh giá các yếu tố sản xuất cơ bản như các nguồn lực vật chất kém phát triển và lực lượnglao động phổ thông Đối với các yếu tố sản xuất tiên tiến đã được chuyên môn hóa sâu, bao gồm cả những ngườilao động có trình độ chuyên môn cao và các nguồn tri thức như các viện nghiên cứu của chính phủ và tư nhân,các trường đại học lớn và các tổ chức công nghiệp hàng đầu thì lý thuyết truyền thống chưa đề cập tới Porterkết luận rằng
“Nhiệm vụ hàng đầu mà các quốc gia đang phát triển cần thực hiện là thoát khỏi hạn chế của các yếu tốmang lại lợi thế quốc gia… khi các nguồn tài nguyên thiên nhiên, lao động rẻ, các yếu tố vị trí và các yếu tốthuận lợi cơ bản khác chỉ mang lại rất ít và thường là không ổn định các khả năng xuất khẩu…và thường bị tổnthương với những biến động tỷ giá hối đoái và giá các yếu tố sản xuất Nhiều ngành công nghiệp như thế cũng
đã không phát triển khi các nền kinh tế phát triển giảm nhu cầu tiêu dùng nguồn lực tự nhiên và tăng như cầuđối với các sản phẩm nhân tạo Do đó việc xây dựng những các yếu tố sản xuất tiên tiến là ưu tiên hàng đầu.”
Trang 193 TÌNH TRẠNG THẤT NGHIỆP, KHÔNG SỬ DỤNG HẾT NGUỒN LỰC VÀ LÝ THUYẾT TẠO LỐI THOÁT CHO SỰ DƯ THỪA TRONG THƯƠNG MẠI.
Giả thuyết toàn dụng nhân công trong các mô hình thương mại cổ điển, cũng giống như mô hình cânbằng trong điều kiện cạnh tranh hoàn hảo của kinh tế học vi mô, đã bị vi phạm trong thực tế vì hiện tượng thấtnghiệp và bán thất nghiệp ở các quốc gia đang phát triển Từ thực trạng về hiện tượng thất nghiệp phổ biến ởcác nước đang phát triển có thể rút ra hai kết luận Kết luận thứ nhất là việc không sử dụng hết nguồn lực laođộng đã tạo ra cơ hội để mở rộng khả năng sản xuất và tổng thu nhập quốc dân với chi phí thực tế thấp và thậmchí bằng không thông qua việc sản xuất các sản phẩm xuất khẩu không có nhu cầu trong nước Điều này đượcbiết tới là lý thuyết tạo lối thoát cho sự dư thừa của thương mại quốc tế lý thuyết này được Adam Smith đề cậpđầu tiên, và gần đây được một nhà kinh tế học người Miến Điện tên là Hla Myint phát triển cho trường hợp cácnước đang phát triển
Theo lý thuyết này, sự mở cửa của thị trường thế giới cho các nước nông nghiệp nghèo nàn lạc hậukhông phải tạo cơ hội phân bổ lại các nguồn lực đã được sử dụng tối đa như trong học thuyết truyền thống màđưa vào sử dụng nguồn lao động và đất đai dư thừa trước đây để sản xuất nhiều hàng hơn nữa cho thị trườngxuất khẩu Theo quan điểm này, các nước nông nghiệp trước đây là thuộc địa và các nước có nền nông nghiệpnhỏ sản xuất hàng hóa đều có thể thực hiện được vì các nước này có nguồn lao động thất nghiệp và bán thấtnghiệp Dưới góc độ phân tích khả năng sản xuất, quan điểm tạo lối thoát cho sự dư thừa có thể được trình bàyqua sự dịch chuyển sản xuất từ điểm V đến đến điểm B trong hình 12.5, và thương mại mở rộng tiêu dùng cuốicùng từ V đến C
Chúng ta thấy rằng, trước khi có thương mại, các nguồn lực của các nước đang phát triển có nền kinh
tế đóng đều sử dụng dưới mức tiềm năng Sản xuất tại điểm V, nằm trong đường giới hạn khả năng sản xuất,
OX là sản phẩm thô và OY là sản phẩm công nghiệp được sản xuất và tiêu dùng Sự mở cửa hướng ra thị trườngnước ngoài (có thể do quá trình thuộc địa hóa) mang lại các động lực kinh tế để sử dụng các nguồn lực dư thừa(phần lớn là đất đai và lao động) và mở rộng sản xuất để xuất khẩu các sản phẩn thô từ OX đến OX’ tại điểm Btrên đường giới hạn khả năng sản xuất Với tỷ lệ giá cả quốc tế Pa/Pm , xuất khẩu X – X’(bằng với VB) sản phẩmthô để đổi lấy Y đến Y’ (bằng với VC) sản phẩm công nghiệp, kết quả là tiêu dùng cuối cùng tại điểm C với việctiêu dùng lượng sản phẩm thô (X) như trước đó nhưng tiêu dùng thêm lượng YY’ hàng hóa công nghiệp nhậpkhẩu
Hình 12.5 Lý thuyết lối thoát cho sự dư thừa của các nước đang phát triển
Trang 20Mô hình “lối thoát cho sự dư thừa” đã đưa ra cách thức phân tích mang tính thực tế hơn về hoạt động thươngmại quốc tế của các nước đang phát triển so với các lý thuyết cổ điển và tân cổ điển Tuy nhiên, trong ngắn hạn,các lợi ích này thường thuộc về các doanh nghiệp của “mẫu quốc” chứ không thuộc về các nước đang phát triển.
Và trong dài hạn, việc cơ cấu sản xuất ở các quốc gia đang phát triển hướng hoàn toàn tới xuất khẩu những sảnphẩm thô, trong rất nhiều trường hợp đã tạo ra tình trạng xuất khẩu chỉ bó hẹp trong một số sản phẩm và do đó
sẽ cản trở sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế hướng tới một nền kinh tế đa dạng hơn
4 SỰ CHUYỂN DỊCH NGUỒN LỰC QUỐC TẾ VÀ CÁC TẬP ĐOÀN ĐA QUỐC GIA
Nội dung thứ ba nêu trong giả định quan trọng đầu tiên của thuyết thương mại cổ điển – đó là không có
sự chuyển dịch quốc tế về các nhân tố sản xuất – là nội dung tiếp sau giả thiết về sự cạnh tranh hoàn hảo, là giảthiết phi thực tế nhất trong tất cả các giả thiết của lý thuyết thương mại cổ diển và tân cổ điển Vốn và lao động
có tay nghề luôn di chuyển giữa các quốc gia Sự tăng trưởng của các quốc gia phương Tây trong thế kỷ 19được lý giải phần lớn là do tác động của quá trình dịch chuyển vốn quốc tế Có lẽ sự phát triển nhanh chóngtrong các mối quan hệ kinh tế quốc tế trong suốt hai thập kỷ qua là do sự gia tăng mạnh mẽ về sức mạnh và tầmảnh hưởng của các tập đoàn đa quốc gia khổng lồ Các tập đoàn quốc tế này mang vốn, công nghệ và lao độnglành nghề, cùng với các hoạt động sản xuất đa dạng tới các nước đang phát triển đã khiến các lý thuyết thươngmại quốc tế vốn giản đơn trở nên phức tạp, đặc biệt liên quan đến quá trình phân phối lợi ích Các công ty như:IBM, Ford, Exxon, Philips, Sony, Hitachi, British Petroleum, Renault, Volkswagen và Coca cola đã quốc tế hóaquá trình sản xuất của mình khiến việc tính toán phân phối lợi ích của quá trình sản xuất quốc tế giữa các nhàđầu tư nước ngoài và các quốc gia trở nên đặc biệt khó khăn Chúng ta sẽ trở lại vấn đề quan trọng này ởchương 15, khi chúng ta tiến hành đánh giá ưu và nhược điểm của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Trong phầnnày, chúng ta chỉ nhận thấy rằng quá trình di chuyển quốc tế một cách mạnh mẽ của vốn và kĩ thuật đã đóng vaitrò quan trọng trong các mối quan hệ kinh tế quốc tế Việc bỏ qua sự tồn tại và tầm ảnh hưởng của việc dichuyển quốc tế các yếu tố nguồn lực tới nền kinh tế và cơ cấu kinh tế của các nước đang phát triển như trong lýthuyết thương mại cổ điển và tân cổ điển đã che mắt chúng ta về thực trạng của nền kinh tế thế giới đương đại.Thực tế, một trong hai sự trớ trêu của thập niên 80 là hiện tượng di chuyển luồng vốn hơn 250 tỷ USD từ cácnước đang phát triển sang các nước phát triển được coi là có lợi thế về vốn Mặc dù trong thập niên 90, một khốilượng vốn đã chảy vào các nước đang phát triển có thu nhập trung bình, nhưng các nước chậm phát triển hầunhư không nhận được ít nào trong dòng vốn này Sự trớ trêu thứ hai đó là do sự chậm phát triển của các nềnkinh tế và hạn chế về cơ hội tài chính, lao động lành nghề (nguồn lực có nhu cầu cao nhất đối với nước nghèo –theo Porter là yếu tố tiên tiến) đã di chuyển với số lượng lớn từ các nước phương Nam sang các nước phươngBắc Như ở các chương trước đề cập, hiện tượng chảy máu chất xám đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới các nềnkinh tế Châu Phi trong thập nhiên 80 và 90
5 CÔNG NGHỆ SẴN CÓ, CỐ ĐỊNH VÀ QUYỀN LỢI CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG
Cùng với nguồn vốn đang tăng lên nhanh chóng và được di chuyển khắp nơi trên thế giới nhằm tối đalợi nhuận cho các nhà đầu tư, sự thay đổi nhanh chóng về công nghệ (hầu hết ở phương Tây) đã ảnh hưởng rấtlớn đến các mối quan hệ thương mại trên thế giới Một trong những ví dụ rõ nét nhất về ảnh hưởng của sự thayđổi công nghệ ở các quốc gia phát triển tới lợi nhuận từ hoạt động xuất khẩu của các nước đang phát triển đó là
sự phát triển sản phẩn nhân tạo thay thế cho các sản phẩm thô truyền thống Trong vòng 4 thập kỉ qua, các sảnphẩm nhân tạo thay thế cho các hàng sản phẩm thô như cao su, hàng len, bông, sợi gai, sợi đay, da thú đã được
Trang 21sản xuất ngày càng nhiều Trong tất cả các trường hợp, thị phần các sản phẩm thô của các nước đang phát triểngiảm một cách đáng kể Ví dụ, trong giai đoạn từ 1950 đến 1980 tỷ trọng cao su tự nhiên trong tổng tiêu thụ củathế giới giảm từ 62% xuống còn 28%, tỷ lệ bông trong tổng tiêu thụ sợi giảm từ 41% xuống 29% Sự thay thế vềmặt công nghệ, cùng với độ co giãn của cầu theo giá và thu nhập của các sản phẩm thô là thấp, và sự gia tăngbảo hộ nông nghiệp của các nước phát triển đã giải thích tại sao việc theo đuổi không có phê phán lý thuyết lợithế so sánh có thể gây rủi ro và thường không mang lại thành công cho nhiều nước đang phát triển.
Tuy nhiên, xét theo khía cạnh khác, có luận điểm cho rằng việc các công nghệ mới do các nướcphương Tây phát triển có mặt ở tất cả mọi nơi trên thế giới đã khiến các nước công nghiệp hóa mới có cơ hội cóđược những công nghệ này Thông qua bước đầu tiên là bắt chước các sản phẩm được sáng chế ở nước ngoài,một số nước dang phát triển có đủ điều kiện về vốn con người (ví dụ các nước công nghiệp mới châu Á) có thể
đi theo chu kì sản phẩm của thương mại quốc tế Với việc áp dụng mức lương thấp hơn một cách tương đối, cácnước chuyển từ sản xuất các sản phẩm với công nghệ thấp sang công nghệ cao, thu hẹp khoảng cách về côngnghệ với các quốc gia đã tiến hành quá trình công nghiệp hóa trước đó
Giả định về thị hiếu và sở thích của người tiêu dùng trên thế giới có tính cố định và quyết định cơ cấusản xuất thông qua tín hiệu của thị trường là một giả thiết phi thực tế nữa của lý thuyết này Không chỉ có vốn
và công nghệ sản xuất được truyền bá khắp thế giới thông qua hoạt động của các tập đoàn đa quốc gia được trợgiúp và khuyến khích từ chính phủ của mình, mà sở thích và thị hiếu của người tiêu dùng thường được tạo nên
và kích thích thông qua chiến dịch quảng cáo của các công ty tài chính hùng mạnh chi phối thị trường nội địa.Bằng việc tạo ra nhu cầu nhập khẩu hàng hóa, các doanh ngiệp quốc tế chiém lĩnh thị trường nội địa có thể tạo
ra các điều kiện để gia tăng lợi nhuận Đây là nét đặc thù ở các nước đang phát triển, nơi bị hạn chế thông tin vàthông tin không hoàn hảo về cả phía sản xuất và tiêu dùng đã tạo nên trường hợp thị trường không hoàn hảo ởmức độ cao Ví dụ, người ta ước tính ở các nước đang phát triển, hơn 90% quảng cáo được tài trợ bởi các hãngnước ngoài kinh doanh trong thị trường nước đó Như đã đề cập trong các chương trước, người tiêu dùng hiệntại thường không có quyền lực tối thượng về bất cứ sản phẩm nào,chưa kể việc không biết được các công ty đaquốc gia sẽ sản xuất ra những hàng gì với số lượng bao nhiêu
6 SỰ CHUYỂN DỊCH CỦA CÁC YẾU TỐ TRONG NƯỚC VÀ “CẠNH TRANH HOÀN HẢO”: TĂNG LỢI NHUẬN, CẠNH TRANH KHÔNG HOÀN HẢO VÀ THỊ TRƯỜNG BỊ ĐIỀU TIẾT.
Học thuyết thương mại cổ điển giả định rằng các quốc gia có thể điều chỉnh cơ cấu kinh tế của mìnhtheo các phán đoán về về sự thay đổi giá cả và thị trường quốc tế Việc di chuyển dọc theo đường giới hạn khảnăng sản xuất bao gồm sự tái phân bổ nguồn lực từ ngành này sang ngành khác có thể dễ dàng thực hiện trêngiấy tờ, nhưng theo lập luận này của các nhà cơ cấu, điều này trên thực tế lại hết sức khó khăn Điều này đặcbiệt đúng với các quốc gia đang phát triển nơi mà cơ cấu sản xuất rất cứng nhắc và các nhân tố dịch chuyểnthường hạn chế Một ví dụ cụ thể về vấn đề này là các đồn điền và các nông trang nhỏ sản xuất theo hướng hànghóa Trong nền kinh tế dần dần phụ thuộc vào xuất khẩu một số sản phẩm thô, thì toàn bộ kết cấu hạ tầng kinh
tế xã hội (đường bộ, đường sắt thông tin, sức mạnh địa phương, tín dụng và marketing…) có thể được sử dụng
để tạo thuận lợi cho việc di chuyển hàng hóa từ nơi sản xuất đến các kho hàng, tầu hàng ra thị trường nướcngoài Theo thời gian, sự tích lũy vốn đầu tư có thể sa lầy trong lĩnh vực hạ tầng kinh tế khiến chúng không dễdàng chuyển giao cho các hoạt động sản xuất ở các địa điểm khác nhau Vì vậy các nước đang phát triển càngphụ tnuộc vào xuất khẩu một số sản phẩm thô bao nhiêu, thì cơ cấu kinh tế của họ càng kém năng động và họ
Trang 22càng chịu thiệt thòi trên thị trường quốc tế Có thể mất nhiều năm để chuyển đổi từ nền kinh tế kém phát triểnchỉ có vài sản phẩm thô để xuất khẩu, sang nền kinh tế với cơ cấu kinh tế đa dạng hơn, đa ngành hơn Nói mộtcách khác, đây là phạm trù mang tính lịch sử.
Nhìn chung, các nhà cơ cấu học đã chỉ ra rằng tất cả các khía cạnh chính trị và thể chế tạo ra sự cứngnhắc mang tính cơ cấu, bao gồm sản phẩm có cung hoàn toàn không co dãn, thiếu sản phẩm trung gian, thịtrường tiền tệ lỏng lẻo, hạn chế trao đổi nước ngoài, giấy phép chính phủ, điều tiết nhập khẩu , các phương tiệnvận chuyển và phân phối nghèo nàn, khan hiểm nguồn lao động và quản lý lành nghề, thường cản trở khả năngcủa các nước đang phát triển đáp ứng một cách trơn tru nhất cách thức của lý thuyết thương mại tân cổ điển đểthay đổi các tín hiệu giá cả quóc tế
Vì thế quá trình điều chỉnh và tái phân bổ nguồn lực là cần thiết để kiếm lợi trong điều kiện kinh tế thếgiới luôn thay đổi là việc hết sức khó khăn đối với các nước đang phát triển và dễ dàng hơn đối với các nước ởBắc bán cầu Như vậy, các nước đang phát triển có thể mở rộng sản xuất các sản phẩm công nghiệp có giá thànhthấp, sử dụng nhiều lao động để xuất khẩu như: dệt may, giày da, các sản phẩm thể thao, túi xách, thực phẩmchế biến, tóc giả, thảm… thường bị các nước phát triển hạn chế thâm nhập vào thị trường nước mình thông quacác hàng rào thuế quan và phi thuế quan Theo ước tính của Liên hợp quốc năm 2001, các rào cản thưong mạigây thiệt hại cho các nước đang phát triển ít nhất 100 tỷ đôla hàng năm – chiếm 2% GNI của các nước đó Lý dothường được các nước phía Bắc đưa ra là sự cạnh tranh của các mặt hàng giá rẻ nước ngoài với mặt hàng côngnghiệp trong nước giá cao thường gây ra nạn thất nghiệp ở các nước phát triển, và do đó vấn đề điều chỉnh kinh
tế trong nước nghiêm trọng đến mức mà không thể cho phép nước ngoài cạnh tranh tự do như vậy Do vậy, giảđịnh về sự di chuyển của các yếu tố sản xuất trong nước tỏ ra chỉ có thể áp dụng một cách rất hạn chế ở ngay cảcác nước phát triển
Thêm vào đó, với giả thiết lợi nhuận cố định hay giảm dần theo quy mô (nghĩa là chi phí sản xuất cốđịnh hoặc tăng dần khi sản lượng tăng), lý thuyết thương mại dựa trên vào các yếu tố sẵn có và chi phí lao động
đã bỏ qua một trong những hiện tượng quan trọng nhất trong các mối quan hệ kinh tế quốc tế Đó là tác động lantràn và mở rộng thu nhập khiến cho lợi nhuận tăng theo quy mô và do đó giảm chi phí sản xuất Giảm dần chiphí sản xuất nghĩa là các công ty lớn đang tồn tại có thể định giá thấp hơn các công ty nhỏ hơn hoặc mới ra đời
để dành vị trí độc quyền trên thế giới Không phải là ngoại lệ, hiệu quả kinh tế nhờ quy mô tạo ra hiện tượngđộc quyền và độc quyền nhóm trong cung ứng một số loại hàng hóa trên thế giới (như đã diễn ra trên thị trườngtrong nước) Hơn nữa, quá trình chiếm lĩnh và lũng loạn thị trường là quá trình tất yếu diễn ra, các ngành côngnghiệp của các nước nghèo một khi đã tụt hậu thì sẽ không thể cạnh tranh được với các tập đoàn khổng lồ
Thêm vào đó, kiểm soát độc quyền và độc quyền nhóm đối với các hàng hóa trao đổi trên thị trườngquốc tế cùng với sự khác biệt của các sản phẩm, quá trình trao đổi trong nội bộ ngành, và quá trình sản xuấthướng ngoại, có nghĩa là mỗi tập đoàn lớn có thể điều chỉnh giá và lượng cung (và thông thường là cả cầu) thếgiới để phục vụ cho lợi ích riêng của họ Thay vì cạnh tranh, chúng ta thấy các hoạt động sản xuất liên doanh vàthỏa thuận độc quyền nhóm giữa những người mua và người bán khổng lồ là yếu tố phổ biến nhất quyết định giá
cả và số lượng trong nền kinh tế thế giới Xét trên góc độ các nước đang phát triển đang cố gắng đa dạng hóanền kinh tế và thúc đẩy công nghiệp xuất khẩu, hiện tượng lợi nhuận tăng dần và khác biệt hóa sản phẩm (cạnhtranh độc quyền) cùng với sức mạnh phi kinh tế của các tập đoàn đa quốc gia (ảnh hưởng chính trị của họ đốivới nhiều chính phủ) nghĩa là những nước đầu tiên tiến hành công nghiệp hóa (những quốc gia giàu có) có thể
Trang 23tận dụng hiểu quả kinh tế nhờ quy mô và tính khác biệt hóa của sản phẩm để duy trì vị trí thống trị của mìnhtrên thị trường thế giới Các lý thuyết gần đây với việc cố gắng xem xét vai trò quan trọng của hiện tượng cạnhtranh không hoàn hảo trong thương mại quốc tế, đã đưa ra một số kết luận trái ngược với học thuyết thương mại
tự do Ví dụ, như trong các mô hình tĩnh, chúng ta có thể xác định được làm thế nào các mối liên kết nội ngànhcủa các sản phẩm khác nhau được phát huy trong trường hợp bảo hộ thuế quan Trong một vài mô hình độngBắc – Nam với sản phẩm khác biệt hóa, và cạnh tranh không hoàn hảo, trong môi trường thương mại tự do, cácquốc gia giàu về vốn ở phía Bắc sẽ luôn luôn dẫn đầu về công nghệ và có xuất khẩu ròng từ những sản phẩmcông nghiệp khác biệt hóa
Hạn chế lớn thứ hai của giả định cạnh tranh hoàn hảo trong các mô hình thương mại đó là giả định đóloại bỏ tính rủi ro và bất ổn trong các thỏa thuận thương mại quốc tế Ngay cả khi chúng ta chấp nhận toàn bộcác giả định phi thực tế của các mô hình thương mại truyền thống như áp dụng ở các nước đang phát triển, cóthể việc tập trung vào sản xuất các sản phẩm thô để xuất khẩu sẽ không có lợi trong dài hạn do sự bất ổn mangtính lịch sử của thị trường thế giới về các sản phẩm thô xét tương quan với hàng hóa công nghiệp khác Như đãtrình bày, việc tập trung vào một hoặc hai sản phẩm thô xuất khẩu có thể phá hoại kế hoạch phát triển của cácnước đang phát triển khi khó dự đoán được thu nhập trao đổi với nước ngoài từ năm này sang năm khác Dovậy, việc áp dụng tư tưởng về lợi thế cạnh tranh tĩnh ngay cả trong thế giới ảo của thuyết thương mại truyềnthống có thể không phải là chiến lược phát triển tốt nhất trong dài hạn
7 SỰ VẮNG MẶT CỦA CHÍNH PHỦ QUỐC GIA TRONG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI.
Trong bối cảnh nền kinh tế trong nước, nhờ vào sự can thiệp của chính phủ, sự tồn tại vùng nghèo vàgiàu có, giữa ngành công nghhiệp phát triển và ngành trì trệ, và sự bất bình đẳng trong phân phối lợi ích củatăng trưởng kinh tế giữa các khu vực, có thể bị đẩy lùi hoặc được cải thiện ít nhất là trong lý thuyết Quá trìnhgia tăng bất bình đẳng giữa các vùng trong nước, khi các vùng “cực tăng trưởng” có thể được giàu lên trong khicác vùng khác trì trệ, có thể được chính phủ điều chỉnh thông qua luật pháp, thuế, các khoản chuyển nhượng, trợcấp, dịch vụ xã hội, các chương trình phát triển vùng và nhiều hơn nữa Nhưng vì không có một hệ thống điềuhành quốc tế nào có thể đóng vai trò trung gian giữa các nước do đó hiện tượng hưởng lợi nhiều hơn trongthương mại quốc tế dễ dàng trở thành một xu hướng tất yếu Hiện tượng này còn được tăng cường bởi sức mạnhkhông đồng đều của các chính phủ nhằm thúc đẩy và bảo vệ lợi ích quốc gia Sự thành công thần kỳ trong hoạtđộng xuất khẩu Nhật Bản và gần đây là Hàn Quốc và Đài Loan có vai trò hỗ trợ và khuyến khích không nhỏ từphía chính phủ thông qua các kế hoạch và chính sách thúc đẩy các ngành công nghiệp hướng vào xuất khẩu
Bằng việc tập trung vào các hành vi riêng lẻ của vô số các công ty cạnh tranh trong bối cảnh nhiềuhàng hóa khác nhau được sản xuất tại nhiều nước không có tên tuổi, lý thuyết thương mại truyền thống đã bỏqua vai trò của chính phủ trong các hoạt động thương mại quốc tế Các chính phủ không phải là người ngoàicuộc Hơn nữa, các chính phủ thường đóng vai trò thúc đẩy, với những chính sách can thiệp trong lĩnh vực côngnghiệp (dẫn đường cho thị trường thông qua chiến lược hợp tác kinh doanh để tăng thị phần xuất khẩu) nhằmthiết lập lợi thế cạnh tranh trước đây chưa có nhưng cần thiết trong bối cảnh hiện nay khi nhu cầu thế giới dựđoán sẽ tăng trong tương lai Lịch sử tăng trưởng công nghiệp của Nhật Bản trong giai đoạn những năm 50 đến
60 với bộ thương mại quốc tế và công nghiệp (MITI) nổi tiếng và gần đây là Đài Loan và Hàn Quốc được coi lànhững ví dụ về các chính sách công nghiệp Ông Ojimi – Thứ trưởng của MITI đã mô tả cơ chế của chính sách
Trang 24công nghiệp năng động như sau: Bộ thương mại quốc tế và công nghiệp Nhật Bản (MITI) quyết định thành lậpcác ngành công nghiệp sử dụng nhiều yếu tố vốn và công nghệ, đó là các ngành công nghiệp như thép, lọc dầu,hóa dầu, ôtô, máy bay, máy móc công nghiệp các loại, và điện tử bao gồm cả máy tính điện tử, trong khi cácngành công nghiệp được đánh giá là có lợi thế so sách về chi phí sản xuất thì không thích hợp đối với Nhật Bản.Dưới quan điểm tĩnh, ngắn hạn, việc khuyến khích các ngành công nghiệp này dường như mâu thuẫn với chủnghĩa kinh tế phù hợp Nhưng với tầm nhìn dài hạn, những chính sách này rõ ràng thúc đẩy các ngành côngnghiệp có độ co dãn của cầu theo thu nhập cao, đẩy nhanh tiến bộ công nghệ và năng suất lao động tăng lênnhanh chóng.
Các chính phủ có thể sử dụng nhiều công cụ của chính sách thương mại như thuế, hạn ngạch nhậpkhẩu, trợ cấp xuất khẩu và có thể tác động tới giá cả hàng hóa, và từ đó là tác động đến vị thế thương mại vớicác nước khác trên thế giới Hơn nữa khi chính phủ các nước phát triển theo đuổi chính sách kinh tế hạn chế đểgiải quyết vấn đề trong nước như lạm phát, thất nghiệp, thì các chính sách này có thể tác động xấu tới nền kinh
tế của các quốc gia nghèo
Tuy nhiêu, chiều tác động ngược lại thì không đúng, nhìn chung các chính sách kinh tế trong nước củacác nước đang phát triển không có ảnh hưởng đáng kể đến nền kinh tế của các nước giàu có Hơn nữa, chínhphủ của các quốc gia phát triển thường phối hợp thúc đẩy quyền lợi chung thông qua hợp tác thương mại và cáchoạt động kinh tế khác Mặc dù các hoạt động này không cố ý nhằm thúc đẩy lợi ích riêng của họ thông quanhững chi phí các nước nghèo phải chịu, song điều này lại thường là kết quả của các hoạt động đó
Vì vậy, lý giải của chúng tôi cho vấn đề đó hết sức đơn giản Các lý thuyết thương mại truyền thống đã
bỏ qua vai trò quan trọng của chính phủ các nước trong hoạt động kinh tế quốc tế Các chính phủ thường làmtrầm trọng thêm sự phân phối không công bằng các nguồn lực và thu nhập từ hoạt động thương mại bởi sựchênh lệch về quy mô và sức mạnh kinh tế giữa các nước Chính phủ các nước giàu có thể gây ảnh hưởng tớinền kinh tế thế giới qua các chính sách trong nước và quốc tế của mình Các nước đó có thể chống lại các sức épkinh tế từ các nước yếu hơn và có thể đóng vai trò “đồng minh” và thường liên kết với các tập đoàn đa quốc gia
để kiểm soát các điều khoản và điều kiện của thương mại quốc tế nhằm phục vụ cho lợi ích của quốc gia mình.Không có một tổ chức hay chính phủ thế giới nào bảo vệ và thúc đẩy lợi ích của các nước có nền kinh tế yếu(các nước đang phát triển) trong mối quan hệ quốc tế kiểu như thế này Lý thuyết thương mại đã không đề cậpđến ảnh hưởng lớn của các chính phủ Do vậy, các luận điểm của lý thuyết này bị suy yếu đi rất nhiều
8 CÂN BẰNG THƯƠNG MẠI VÀ SỰ ĐIỀU CHỈNH GIÁ CẢ QUỐC TẾ
Lý thuyết thương mại quốc tế, giống như mô hình tổng thể cạnh tranh hoàn hảo trong kinh tế học,không chỉ là mô hình toàn dụng nhân công mà còn là mô hình trong đó giá quốc tế và trong nước của các sảnphẩm và nguồn lực luôn điều chỉnh để phù hợp với các điều kiện cung và cầu Đặc biệt, hệ số trao đổi hàng hóa(tỷ lệ giá cả hàng hóa quốc tế) được điều chỉnh để cân bằng cung cầu đối với các sản phẩm có thể xuất khẩu vànhập khẩu của một nước để cân bằng cán cân thương mại, có nghĩa là giá trị của hàng xuất khẩu (số lượng nhânvới mức giá) luôn cân bằng với giá trị hàng nhập khẩu Với sự cân bằng cán cân thương mại và không có sự dichuyển vốn quốc tế, các vấn đề về cán cân thanh toán sẽ không bao giờ nảy sinh trong lý thuyết thương mạithuần túy Nhưng thực tế của nền kinh tế thế giới vào những năm 80 và 90, đặc biệt trong giai đoạn tăng vọt của
Trang 25giá dầu thế giới những năm 70, đã làm thâm hụt cán cân thanh toán và sụt giảm dự trữ ngoại tệ (hoặc xuất hiệnnhu cầu vay vốn nước ngoài để bù đắp thâm hụt hàng hóa) và đó là vấn đề mà các nước giàu và nghèo đều phảiquan tâm.
Đặc biệt ở các nước nghèo không sản xuất dầu, sự kết hợp giữa sự giảm sút trong hệ số trao đổi hànghóa và giảm cầu thế giới đối với các sản phẩm xuất khẩu của họ đã gây ra tình trạng thường xuyên thâm hụtthương mại Với việc giảm dần nguồn trợ giúp song phương và đa phương của nước ngoài và mối lo lắng ngàycàng tăng của các nước đang phát triển về các chi phí xã hội do đầu tư tư nhân nước ngoài gây ra (xem chương15), có nghĩa là những vấn đề nghiêm trọng của cán cân thanh toán đòi hỏi phải giảm hơn nữa thương mại tự do
9 THU NHẬP TỪ THƯƠNG MẠI MANG LẠI LỢI ÍCH CHO NGƯỜI DÂN NƯỚC ĐÓ
Giả định chính thứ sáu và là cuối cùng của thuyết thương mại truyền thống, rằng thương mại gia tănglợi ích cho người dân nước đó, là giả thiết mang tính ngụ ý nhiều hơn so với 5 giả định khác Giả định này hiếmkhi được nêu rõ, cũng không cần thiết phải nêu rõ nếu chúng ta chấp nhập giả định rằng các nhân tố không dichuyển trên phạm vi quốc tế Nhưng trước tính phi thực tế của giả định đó, chúng ta cần xem xét quan niệmngầm của giả định, hơn là chối từ, đó là nếu các quốc gia đang phát triển thu được lợi ích từ thương mại, thìchính người dân của quốc gia đó sẽ được hưởng lợi ích Vấn đề xoay quanh câu hỏi, ai sở hữu đất đai, vốn và kĩnăng được hưởng lợi từ thương mại Là người dân bản địa hay người nước ngoài? Nếu cả hai được hưởng thì tỷ
lệ phân chia như thế nào?
Ví dụ, chúng ta biết rằng việc xâm nhập vào nền kinh tế của các nước đang phát triển, như là mở rộngđồn điền, khai thác mỏ, người nước ngoài thường trả mức thuê quyền sử dụng đất rất thấp, mang vốn và laođộng lành nghề của mình từ nước ngoài vào, thuê nhân công địa phương có trình độ chuyên môn thấp với mứclương tối thiểu, và nói chung có ảnh hưởng rất nhỏ tới phần còn lại của nền kinh tế ngay cả khi họ tạo ra doanhthu xuất khẩu đáng kể Khi những công việc hầm mỏ và đồn điền dần dần biến mất, họ lại chuyển sang thay thếbằng “sản xuất hàng xuất khẩu” (lắp ráp máy tính cá nhân, giày thể thao và hàng đồ chơi…) và đó là kết quả củaviệc xâm nhập nền kinh tế của các tập đoàn đa quốc gia Vì vậy việc phân biệt giữa tổng sản phẩm quốc nội(GDP) là thước đo giá trị sản lượng được tạo ra trong phạm vi một lãnh thổ, và tổng thu nhập quốc dân (GNI) –
là thước đo thu nhập thực tế đạt được của người dân nước đó, là rất quan trọng Xét trên phương diện của ngànhxuất khẩu, hoặc những ngành khác trong nền kinh tế, có vốn nước ngoài thì thì tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
sẽ lớn hơn nhiều tổng thu nhập quốc dân (GNI) và do đó chỉ có rất ít lợi ích thương mại thuộc về người dân củacác nước đang phát triển Thậm chí, giá trị xuất khẩu có thể lớn hơn GNI, có nghĩa là thu nhập từ xuất khẩu củangười nước ngoài có thể vượt quá tổng giá trị thu nhập của quốc gia đó
Với sự gia tăng của các tập đoàn đa quốc gia và sự gia tăng phần vốn nước ngoài ở các công ty trongnước, thì số liệu thống kê thu nhập từ xuất khẩu của các nước đang phát triển (và cả GDP) có thể che đậy thực tế
là người dân các nước đang phát triển, đặc biệt những người có thu nhập thấp, có thể sẽ không được hưởng lợi
từ các nguồn thu từ xuất khẩu Thu nhập chính có được từ thương mại , thay vào đó, có thể thuộc về nước ngoài,
là những người thường chuyển phần lớn thu nhập về nước Hoạt động thương mại mà chúng ta đang thực hiện
có thể xem như thương mại giữa nước giàu và nước nghèo Nhưng thực tế, hoạt động thương mại đó lại đựocthực hiện giữa những nước giàu và những người dân của các nước ngoài khác đang hoạt động ở những nước
Trang 26đang phát triển Cho đến gần đây, những hoạt động khai thác mỏ và đồn điền đều có những nét đặc thù này.Quan trọng hơn, hầu hết các hoạt động hướng vào xuất khẩu của các nước nghèo gần đây che dấu một sự thật làphần lớn lợi ích từ xuất khẩu vẫn đang bị các doanh nghiệp nước ngoài chiếm mất Tóm lại, hoạt động xuấtkhẩu của các nước đang phát triển có thể là hư ảo trừ khi chúng ta phân tích các tính chất và cơ cấu của thu nhập
từ xuất khẩu để tìm ra ai là người sơ hữu và kiểm soát các yếu tố sản xuất được coi là kết quả của việc mở rộngxuất khẩu
10 MỘT VÀI KẾT LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ THƯƠNG MẠI: NHỮNG HẠN CHẾ CỦA LÝ THUYẾT.
Bây giờ chúng ta có thể đưa ra câu trả lời chung cho 5 câu hỏi đặt ra ở đầu chương Một lần nữa chúng
ta phải nhấn mạnh rằng kết luận của chúng ta đưa ra là chung chung và đặt trong bối cảnh đa dạng của các quốcgia đang phát triển Nhiều câu trả lời sẽ không có giá trị đối với một số nước cụ thể vào những thời điểm và giaiđoạn khác nhau Nhưng nhìn chung các kết luận này là sự thống nhất các lối suy luận kinh tế hiện nay, đặc biệt
là trong các nhà kinh tế học của các nước đang phát triển, về mối quan hệ giữa thương mại và phát triển, vì thuậtngữ thứ hai đã được định nghĩa thống nhất trong suốt cuốn sách này
Về tốc độ, cơ cấu và đặc điểm của tăng trưởng kinh tế, kết luận đầu tiên của chúng ta là thương mại cóthể là nhân tố kích thích quan trọng đến sự tăng trưởng kinh tế nhanh Điều này được chứng minh qua kinhnghiệm thành công của các nước như: Trung Quốc, Malaysia, Thái Lan, Braxin, Chi Lê, Đài Loan, Singapore vàHàn Quốc Việc tiếp cận thị trường của các nước phát triển (một nhân tố quan trọng cho các nước đang pháttriển muốn thúc đẩy xuất khẩu) có thể tạo ra kích thích quan trọng cho việc sử dụng tốt hơn nguồn vốn và laođộng nhàn rỗi Thu ngoại tệ nhiều hơn từ hoạt động xuất khẩu cũng tạo điều kiện cho các nước đang phát triển
có thể gia tăng các nguồn vốn vật chất và tài chính khan hiếm của mình Tóm lại, nơi nào có cơ hội tăng lợinhuận từ trao đổi thì ngoại thương sẽ cung cấp một động lực kích thích quan trọng để tăng trưởng kinh tế tổngthể theo như gợi ý của thuyết truyền thống
Nhưng, như chúng ta đã biết ở những chương trước, sự tăng trưởng nhanh chóng của sản phẩm quốcdân có thể có rất ít ảnh hưởng đối với phát triển Chiến lược tăng trưởng dựa vào xuất khẩu, đặc biệt khi ngườinước ngoài chiếm phần lớn thu nhập từ xuất khẩu, không những có thể đưa nền kinh tế đi theo hướng sai lệch(người dân địa phương không được đáp ứng những nhu cầu cơ bản) mà có thể còn làm trầm trọng thêm tính haimặt và bất bình đẳng trong quan hệ đối nội vào đối ngoại của quá trình tăng trưởng đó Do đó, thực tế tự dothương mại có thể mở rộng thu nhập từ xuất khẩu và ngay cả khi tăng sản lượng không có nghĩa đây là chiếnlược mong muốn để phát triển kinh tế xã hội Nó hoàn toàn phụ thuộc vào đặc điểm khu vực xuất khẩu, sự phânphối thu nhập và mối quan hệ của khu vực này với phần còn lại của nền kinh tế
Đối với khía cạnh ảnh hưởng tới phân phối của thương mại, rất công bằng khi nói rằng phần lớn thunhập dành cho các nước giàu và trong nội bộ các nước nghèo thì phân chia nhiều hơn cho những người nướcngoài và những người bản địa giàu có Điều này không nên hiểu là một lời buộc tội đối với bản chất tự nhiêncủa thương mại, mà nó chỉ nhằm phản ánh trật tự kinh tế, xã hội và thể chế không công bằng trên toàn thế giớikhi một số nước giàu và các công ty đa quốc gia của họ kiểm soát phần lớn nguồn lực của thế giới Kết luận củathuyết thương mại truyền thống cho rằng tự do thương mại sẽ có xu hướng cân bằng thu nhập, chỉ đơn thuần làtrên lý thuyết Tự do thương mại, giống như giáo dục ở mức cao hơn, có xu hướng tăng cường sự bất bình đẳnghiện có Nhưng nó còn tồi tệ hơn khi được thực hiện trên phạm vi quốc tế, nơi vắng mặt của chính phủ siêu quốc
Trang 27gia không mang tính cơ hội (ít nhất là tồn tại trong lý thuyết ở cấp quốc gia) trong việc phân chia lại thu nhậphoặc đầu tư để thúc đẩy phát triển ở những khu vực bất lợi Các nhân tố như sự tồn tại phổ biến của quy luật lợinhuận tăng dần theo quy mô, sự phân bổ không đồng đều tài sản và sức mạnh kinh tế giữa các nước, những ảnhhưởng ngày càng lớn của các tập đoàn đa quốc gia, sự kết hợp hiển nhiên giữa các chính phủ hùng mạnh và cácdoanh nghiệp khổng lồ của họ để kiểm soát giá cả quốc tế, mức độ sản xuất, và mô hình nhu cầu – tất cả cácnhân tố đó giả định không nằm trong thuyết thương mại truyền thống, đều rất quan trọng Kết hợp lại, chúng takết luận chung là các nước đang phát triển có lợi nhuận không cân xứng trong sự phân chia với các nước pháttriển.
Cho đến nay, rõ ràng là câu trả lời cho câu hỏi thứ ba – trong những điều kiện nào thương mại có thểgiúp các nước đang phát triển đạt được các mục tiêu phát triển của mình? chủ yếu nằm trong khả năng của cácnước đang phát triển (có thể là một nhóm) trong việc giành được các ưu đãi thương mại từ các nước phát triển,đặc biệt trong việc xóa bỏ rào cản đối với hàng hóa xuất khẩu thu hút nhiều lao động ở các nước đang phát triển
Do đó các đàm phán tại vòng đàm phám Uruguay về các thỏa hiệp cam kết chung về thương mại (GATT) nhằmgiảm các rào cản thuế quan là rất hữu ích nhưng chưa được khởi động hoàn toàn (xem chương 13) Thứ hai, xết
về khía cạnh các nước đang phát triển hướng tới xuất khẩu có thể sử dụng nguồn lực vốn khan hiếm một cáchhiệu quả trong khi sử dụng tối đa nguồn lao động dư thừa, sẽ quyết định mức đọ mà thu nhập từ xuất khẩu cólợi cho những người dân bình thường Việc kết nối giữa thu nhập từ xuất khẩu với các ngành khác của nền kinh
tế là quan trọng Ví dụ như thu nhập từ xuất khẩu của những nông trại nhỏ sẽ mở rộng nhu cầu đối với hàng giadụng sản xuất trong nước, trong khi thu nhập từ xuất khẩu của các ngành công nghiệp cần nhiều vốn thường tìmđường trở lại đối với các nước giàu dưới dạng thanh toán cho hàng xa xỉ nhập khẩu Cuối cùng, điều phụ thuộcnhiều nhất là các nước đang phát triển có thể gây ảnh hưởng và kiểm soát được các hoạt động của doang nghiệp
tư nhân nước ngoài ở mức độ nào Khả năng giải quyết hiệu quả giữa chính phủ các nước và các tập đoàn đaquốc gia trong việc bảo đảm phân chia thu nhập công bằng cho người dân bản địa là rất quan trọng
Câu trả lời cho câu hỏi thứ tư – Liệu các nước đang phát triển có thể quyết định khả năng thương mại –
có thể chỉ mang tính lý thuyết Đối với hầu hết các nước nghèo và nhỏ, phương án đóng cửa nền kinh tế, khôngtrao đổi thương mại với các nước khác rõ ràng là điều không khả thi Họ không chỉ thiếu nguồn tài nguyên, thịtrường để có thể tự cung tự cấp, mà sự tồn tại của họ đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất lương thực phụ thuộc vàokhả năng tìm kiếm nguồn lực và hàng hóa nước ngoài Khoảng 32 trong số các nước kém phát triển hàng nămđều dứng trước mối đe dọa về nạn đói nghiêm trọng và do đó sự hỗ trợ quốc tế không phải là một sự lựa chọn
mà là một sự cần thiết đối với các nước này Liệu tham gia thương mại hay duy trì nền kinh tế đóng không còn
là vấn đề chính mà các nước đang phát triển phải đương đầu Tất cả các nước đều trao đổi buôn bán NhưGraciella Chichilnisky và Geoffrey Heal đã đề cập, vấn đề thật sự ở đây là:
Liệu có nên mở rộng xuất khẩu và nếu vậy thì cần thúc đẩy mặt hàng xuất khẩu nào? Câu hỏi này thường dành cho cả các lĩnh vực sản xuất trong nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài của nền kinh tế… Học thuyết tân cổ điển đã đưa ra một số gợi ý cho sự lựa chọn chính sách này
Vấn đề này và vài vấn đề khác của chính sách thương mại sẽ được đề cập trong chương 13
Ngay cả đối với số lượng lớn các quốc gia đang phát triển, hệ thống kinh tế quốc tế, tuy bất bình đẳng
và có ảnh hưởng tới lợi ích phát triển lâu dài, nhưng vẫn là nguồn cung cấp vốn và các ký thuật khan hiếm cầnthiết Các điều kiện để có được nguồn lực phát triển này sẽ ảnh hưởng lớn tới tính chất của quá trình phát triển
Trang 28Như chương 13 đã chỉ ra, lợi ích lâu dài từ thương mại giữa bản thân các nước đang phát triển với nhau thôngqua việc tạo ra khối thương mại khu vực giống như khối thị trường chung hay cộng đồng chung châu Âu (EU)
có thể mang lại viễn cảnh tốt đẹp hơn về một chiến lược phát triển bình đẳng và đa dạng hơn là việc dựa hoànhoàn vào các mối quan hệ thương mại không công bằng mà mỗi nước hiện đang thiết lập với các nước pháttriển Cuối cùng, đối với một vài nước giàu tài nguyên khoáng sản và nguyên liệu thô, đặc biệt là những nước đãthiết lập được vị trí thương mại quốc tế hiệu quả chống lại các tập đoàn lớn đang mua sản phẩm xuất khẩu của
họ (ví dụ OPEC), thương mại đã và sẽ tiếp tục là nguồn tài chính thiết yếu của phát triển
Câu hỏi thứ 5 – Liệu chiến lược thương mại hướng ngoại hay hướng nội là tốt nhất cho quá trình pháttriển – đã không còn là một câu hỏi nữa Có thể, theo hướng tự do thương mại giữa các nước riêng lẻ hoặc là sựhợp tác giữa các nước đang phát triển với mức độ tự chủ tập thể cao hơn Lý do ở đây đó là “trong qua khứ,thương mại chưa được “tự do” mặc dù các ý tưởng tự do hóa thương mại của lý thuyết thương mại tân cổ điển làrất rõ Mặc dù một vài quốc gia công nghiệp mới đã thành công dưới cơ chế thương mại hiện có, hầu hết cóđược lợi ích ít hơn và tồn tại trong trạng thái phụ thuộc về kinh tế Sự tồn tại bất công bằng trong sức mạnh và
sự thịnh vượng quốc tế, việc theo đuổi các chính ách thương mại tự do và phân phối lợi ích thương mại côngbằng hơn chắc chắn sẽ bị phá vỡ bởi các nước giàu nhằm củng cố quyền lợi quốc gia hay cá nhân họ Do đó cácnước đang phát triển phải lựa chọn các mối quan hệ kinh tế với các nước phát triển Các nước này thận trọng khitham gia các thỏa thuận và liên doanh sản xuất mà qua đó họ có khả năng bị mất quyền kiểm soát Trong khi tậndụng cơ hội thu lợi từ thương mại với các nước trên thế giới, các nước đang phát triển nên tìm ra con đường để
mở rộng thị phần thương mại thế giới và mở rộng quan hệ kinh tế với các nước khác Ví dụ, bằng việc chia sẻnguồn lực, các nước nhỏ có thể giải quyết được những hạn chế về thị trường nhỏ lẻ và những nguồn lực quantrọng của mình trong khi vẫn giữ được mức độ tự chủ đáng kể về kinh tế trong việc theo đuổi các khát vọngphát triển của mình Trong khi nhiều nước đang phát triển khó có thể tự lực cánh sinh, thì một sự hợp tác kinh tế
và thương mại bình đẳng giã các nước có thể tốt hơn đối với mỗi nước muốn đi riêng lẻ trong một thế giớithương mại không bình bằng, có sự thống trị về công nghệ và mở rộng của thị trường không hoàn hảo” Theocách này, các nước nhỏ có cơ hội tốt hơn để đạt được kết quả giống như Trung Quốc đã làm trong những nămgần đây: lấy sức mạnh của thị trường rộng lớn để có thể thu hút được những nhà xuất khẩu và đầu tư nước ngoàitốt Do đó chiến lược này là một trong những nhân tố giúp Trung Quốc có được tốc độ tăng trưởng cao trongvòng 1/4 thế kỉ qua
Hình 12.6 Các nước đang phát triển: Phân chia xuất khẩu tới các nước đang phát triển khác
Trang 29Nguồn: Lối vào thị trường cho hàng xuất khẩu của các nước đang phát triển, Theo IMF và WB, ngày
27 tháng 4 năm 2001, vào trang Http://www.worlbank.org/economics/marketaccess.pdf Được phép tái bản
Mặc dù những tranh luận trên thường được phóng đại, nhưng nếu yếu tố chính trị trong mối liên kếtkhu vực được bỏ qua, thì dường như việc tăng cường hợp tác kinh tế khu vực ở các nước đang phát triển có giaiđoạn phát triển gần như ngang bằng là phương án thực tế và khả thi thay cho việc theo đuổi các mối quan hệthương mại riêng rẽ bất bình đẳng với các nước trên thé giới Do vậy các nước đang phát triển có thể giành đượclợi ích tiềm năng từ việc chuyên môn hóa và thương mại (giữa họ với nhau) trong khi giảm một cách đáng kểnhững tác động xấu của nền kinh tế thế giới và hệ thống thương mại hiện tại chịu sự chi phối của một nhóm cácnước giàu và tập đoàn kinh tế hùng mạnh Thực tế, qua biểu đồ 12.6, thu nhập từ xuất khẩu của các nước đangphát triển tới các nước đang phát triển khác tăng một cách đáng kể từ 17% đến gần 40% trong những năm 60.Các chính sách rõ ràng của các nước đang phát triển bao gồm khu vực tự do như các nước ASEAN ở Đông Nam
Á và Mercosur ở Nam Mỹ ít nhất cũng đang đi theo xu hướng này Đương nhiên trong suốt thời gian qua, xuhướng này cũng phản ánh những thành công trong quá trình phát triển của các nước đang phát triển ở Châu Á,nơi các nền kinh tế đang tăng trưởng nhanh hơn ở Bắc Mỹ và Châu Âu Thật không may, một lần nữa Châu Philại bị bỏ ra ngoài cuộc chơi Các trợ giúp phối hợp phát triển là cần thiết để giúp đỡ khu vực quan trọng này đạtđược vị thế mà nó có thể hưởng lợi từ thương mại quốc tế
Bây giờ chúng ta chuyển sang xem xét thuận lợi và khó khăn của chính sách thương mại đối với đangphát triển một cách chi tiết hơn
Trang 30Đó cũng là trường hợp chúng ta sẽ nghiên cứu trong phần này.
I CÁC CHIẾN LƯỢC THƯƠNG MẠI NHẰM PHÁT TRIỂN KINH TẾ: KHUYẾN KHÍCH XUẤT KHẨU VÀ THAY THẾ NHẬP KHẨU
Có một phương pháp hiệu quả và thuận tiện để tiếp cận các vấn đề phức tạp của các chính sách thươngmại nhằm phát triển là đưa ra các chính sách cụ thể lựa chọn chiến lược hướng nội hay hướng ngoại cho cácnước đang phát triển Nói theo cách của Paul Streeten, chính sách phát triển hướng ngoại không chỉ khuyếnkhích tự do mậu dịch mà còn khuyến khích cả việc tự do di chuyển vốn, công nhân, doanh nghiệp và sinh viên
… các công ty đa quốc gia và một hệ thống thông tin liên lạc mở Ngược lại, chính sách phát triển hướng nộichú trọng vào nhu cầu của các nước chậm phát triển để tạo ra cách phát triển riêng và để nắm giữ vận mệnh củachính mình Có nghĩa là các chính sách này nhằm khuyến khích người dân trong nước “học bằng cách làm”trong sản xuất phát triển công nghệ trong nước phù hợp với nguồn lực của đất nước Theo những người ủng hộchính sách thương mại hướng nội, tính tự chủ lớn hơn có thể đạt được khi “thắt chặt mậu dịch, sự di chuyển conngười và thông tin, và nếu anh tránh xa các công ty đa quốc gia, cùng với những sản phẩm và nhu cầu thươngmại bất lợi của họ thì cũng tránh được công nghệ bất lợi”
Kể từ năm 1950 những tranh cãi giữa hai trường phái này đã được trình bày trên các công trình nghiêncứu Đó là cuộc tranh cãi giữa một bên là các nhà mậu dich tự do, những người ủng hộ chiến lược công nghiệphoá thúc đẩy xuất khẩu ra bên ngoài, và một bên là những nhà bảo hộ, những người ủng hộ chiến lược hướngnội thay thế hàng nhập khẩu Phần thắng khi thì bên này lúc thì bên kia, các nhà ủng hộ thay thế nhập khẩuchiếm ưu thế vào những năm 50-60, các nhà khuyến khích xuất khẩu chiếm ưu thế vào cuối những năm 70, đặcbiệt là trong cuộc tranh luận giữa các nhà kinh tế phương Tây và NHTG vào những năm 80-90 Tuy nhiên,trong số rất nhiều những nhà kinh tế tại các nước đang phát triển và một số những người ủng hộ lý thuyết
Trang 31thương mại “mới” hoặc ‘chiến lược” tại các nước phát triển thì cơ sở lý thuyết của thay thế nhập khẩu và tính tựchủ vẫn rất chắc chắn trong những năm 90.
Về cơ bản, sự khác biệt giữa hai chiến lược phát triển liên quan đến thương mại này là những ngườitheo thuyết thay thế nhập khẩu (IS) tin rằng các nước chậm phát triển ban đầu nên thay thế một số hàng hoá tiêudùng nhập khẩu đơn giản bằng hàng hóa sản xuất trong nước (giai đoạn 1) và sau đó thay thế hoàn toàn trênphạm vi rộng các mặt hàng sản xuất phức tạp hơn (giai đoạn 2) – cùng với đó là bảo hộ bằng đánh thuế cao vàhạn ngạch nhập khẩu cho các mặt hàng này Về lâu dài, những người ủng hộ IS đề cập tới những lợi ích của việc
đa dạng hoá các ngành sản xuất trong nước (“tăng trưởng cân bằng”) và khả năng có thể xuất khẩu một số hànghoá trước đây được bảo hộ nhờ các lợi thế về quy mô, chi phí lao động thấp, và hiệu ứng ngoại hiện của việcvừa học vừa làm khiến cho giá trong nước trở nên cạnh tranh hơn so với giá quốc tế
Ngược lại, những người ủng hộ thuyết khuyến khích xuất khẩu (EP) cả sản phẩm thô và sản phẩm côngnghiệp đề cập tới những lợi ích về hiệu quả và tăng trưởng của tự do thương mại và cạnh tranh, tầm quan trọngcủa việc có được thị trường thế giới rộng lớn thay vì thị trường nhỏ trong nước, giá cả bị bóp méo và tác độngchi phí của bảo hộ, và những thành công rực rỡ của các nền kinh tế theo hướng xuất khẩu ở Đông Nam Á nhưHàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Hồng Kông Họ cho rằng các doanh nghiệp tại các nước này – hiện nay cảTrung Quốc – đã học được bài học lớn từ các công ty của Mỹ, Nhật và các nước khác mà nay đã là đối tác lâudài của họ
Trên thực tế, sự khác biệt giữa chiến lược thay thế nhập khẩu và khuyến khích xuất khẩu không rõ ràngnhư những người ủng hộ lập luận Hầu hết các quốc gia kém phát triển đã áp dụng cả hai chiến lược này ở mức
độ khác nhau trong cùng thời gian hoặc thời gian khác nhau Ví dụ, trong những năm 50 và 60, chiến lược côngnghiệp hoá hướng nội tại các nước Mỹ Latin rộng lớn và các quốc gia Châu Á như ChiLe, Peru, Argentina, Ấn
Độ, Pakistan, và Philippines mang nặng định hướng thay thế nhập khẩu Cuối những năm 60, vài nước lớn ởChâu Phi như Nigeria, Ethiopia, Ghana và Zambia bắt đầu theo đuổi chiến lược thay thế nhập khẩu, và một vàinước nhỏ hơn thuộc Châu Mỹ Latin và Châu Á cũng theo đuổi chiến lược này Tuy nhiên, giữa những năm 70,chiến lược khuyến khích xuất khẩu ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng Các nước áp dụng chiến lượckhuyến khích xuất khẩu đầu tiên là Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Hồng Kông Tiếp theo là Brazil, Chile,Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ - vốn là các nước đầu tiên theo đuổi chiến lược thay thế nhập khẩu Phải nhấn mạnh rằng,bốn nước áp dụng chiến lược xuất khẩu thành công ở Đông Á này cũng đã từng áp dụng chiến lược thay thếnhập khẩu có bảo hộ liên tục hoặc không liên tục một số ngành công nghiệp, do đó sẽ là không chính xác nếugọi họ là những nhà mậu dịch tự do mặc dù rõ ràng họ có hướng ngoại
Theo lập luận này, chúng ta có thể xem xét vấn đề khuyến khích xuất khẩu hướng ngoại trái với thaythế hàng nhập khẩu hướng nội một cách chi tiết hơn bằng cách phân chia thành 4 loại sau:
1 Chính sách hướng ngoại GĐ1: Khuyến khích xuất khẩu nguyên liệu thô và sản phẩm nôngnghiệp
2 Chính sách hướng ngoại GĐ2: Khuyến khích xuất khẩu hàng công nghiệp
3 Chính sách hướng nội GĐ1: Chủ yếu tự cung tự cấp sản phẩm nông nghiệp
4 Chính sách hướng nội GĐ2: Tự cung tự cấp hàng hoá công nghiệp bằng cách thay thế nhập khẩu
Trang 321 Khuyến khích xuất khẩu: Hướng ngoại và các rào cản thương mại
Chính sách khuyến khích xuất khẩu GĐ1 và GĐ2 tại các nước chậm phát triển được xem như là thành phầnchính trong bất kỳ một chiến lược phát triển dài hạn thực tế Những nước thuộc địa tại Châu Á và Châu Phi, vớinhững hầm mỏ và đồn điền thuộc về những ông chủ nước ngoài, là những ví dụ điển hình về các nước theochính sách hướng ngoại GĐ1 Một phần là do để đáp ứng cơ cấu nền kinh tế thuộc địa và một phần do kết quảcủa xu hướng công nghiệp hoá trong những năm 50 và 60 mà các nước mới giành độc lập cũng như các nướcchậm phát triển khác tập trung vào xản xuất hàng công nghiệp phục vụ nhu cầu thiết yếu trong nước (chiến lượchướng nội GĐ2) và sau đó là để xuất khẩu (chiến lược hướng ngoại GĐ2) Do đó chúng ta hãy xem xét mộtcách ngắn gọn về mức độ và hạn chế của chiến lược mở rộng xuất khẩu của các nước chậm phát triển, đầu tiên
là sản phẩm thô và sau đó là sản phẩm công nghiệp
Mở rộng xuất khẩu sản phẩm thô: nhu cầu hạn chế, thị trường không ổn định
Như chúng ta đã nghiên cứu trong chương 12, tại nhiều quốc gia chậm phát triển có thu nhập thấp,phần lớn nguồn thu từ xuất khẩu là từ các sản phẩm thô Ngoại trừ dầu mỏ và một vài khoáng sản thiết yếu, việcxuất khẩu các sản phẩm thô tăng trưởng rất chậm so với thương mại Thế giới Hơn thế nữa, tỷ trọng xuất khẩuloại hàng này của các nước chậm phát triển đang bị giảm trong vài thập kỉ qua Do thực phẩm và các sản phẩmnông nghiệp phi thực phẩm và các nguyên liệu thô chiếm gần 40% tổng doanh thu xuất khẩu của các nước chậmphát triển, và đối với nhiều nước nghèo đó là nguồn thu ngoại tệ chính nên chúng ta cần phải chỉ ra các nhân tốảnh hưởng tới cung và cầu các mặt hàng xuất khẩu thô
Xét về phía cầu, có ít nhất 5 nhân tố đang cản trở sự gia tăng nhanh các sản phẩm thô, đặc biệt là cácsản phẩm nông nghiệp xuất khẩu của các nước chậm phát triển sang các nước phát triển (vốn là thị trường chínhcủa họ) Thứ nhất, độ co dãn cầu theo thu nhập của các sản phẩm nông nghiệp và các nguyên liệu thô tương đốithấp so với nhiên liệu, khoáng sản và hàng công nghiệp Ví du, độ co giãn của cầu theo thu nhập của đường, cacao, chè, cà phê, chuối là nhỏ hơn 1, hầu hết ở mức 0,3 – 0,6 Điều này không chỉ làm cho nguồn thu xuất khẩukhông ổn định, mà còn có nghĩa là với tốc độ tăng thu nhập bình quân hiện tại của các nước phát triển chỉ có thểlàm gia tăng rất nhỏ một số sản phẩm xuất khẩu từ các nước chậm phát triển Tốc độ tăng trưởng cao chiếm ưuthế những năm 60 nhưng không được duy trì từ đó đến nay Thứ hai, tốc độ tăng dân số tại các nước phát triểnhiện nay ở mức hoặc gần mức thay thế vì thế việc mở rộng xuất khẩu từ nguồn này là rất ít hi vọng Thứ ba, độ
co dãn của cầu theo giá đối với hầu hết các hàng hoá thiết yếu là tương đối thấp Khi giá của các sản phẩm nôngnghiệp liên quan giảm, như chúng đã giảm trong gần 3 thập kỉ qua, độ co giãn thấp đồng nghĩa với tổng doanhthu của các nước xuất khẩu it đi Ví dụ, từ tháng 6/1980 đến tháng 6/1982, giá của đường giảm 78%, cao su37%, và đồng 35% Từ năm 1989 đến 1991, giá hàng hoá giảm khoảng 20% Giá thiếc thì quá thấp đến nỗingành luyện kim không còn có lãi và giá thực tế của chè, cà phê thấp hơn kể từ năm 1950 Giá hàng hoá phi dầu
mỏ giảm gần 40% từ năm 1957 đến 1998, trừ giai đoạn giữa những năm 70 Sự suy giảm này, đặc biệt là mức35% vào những năm 80-90, đã tác động rất nhiều tới các nước chậm phát triển Giá dầu mỏ cũng trong tìnhtrạng đó, đạt mức thấp trong vòng 13 năm tính đến năm 1999 trước khi tăng một chút vào năm 2001-2002
Có một cách thường được sử dụng rộng rãi để thay đổi xu hướng giá giảm của các sản phẩm thô so vớicác hàng hóa thương mại khác là xây dựng các thỏa thuận hàng hoá quốc tế Các thỏa thuận này đưa ra mức sảnlượng chung để ổn định giá thế giới và phân chia hạn ngạch cho các nước sản xuất các mặt hàng như cà phê,chè, đồng, chì và đường Để thực hiện một cách hiệu quả đòi hỏi phải có sự đồng thuận và hợp tác giữa các
Trang 33thành viên Thoả thuận về hàng hoá cũng có thể tạo ra sự bảo hộ lớn hơn đối với từng quốc gia xuất khẩu chốnglại sự cạnh tranh từ bên ngoài và sự gia tăng sản xuất trên thế giới Sự gia tăng cung này làm giảm giá và giảm
sự gia tăng thu nhập của tất cả các quốc gia Tóm lại, các thoả thuận về hàng hoá cố gắng đảm bảo cho các nướctham gia có được tỷ lệ cố định về thu nhập từ xuất khẩu ra thế giới và giá hàng hóa của họ trên thị trường quốc
tế ổn định hơn Đó cũng là lí do mà tại hội nghị quốc tế về thương mại và phát triển (UNCTAD) lần thứ tư tổchức vào tháng 5/1976 tại Nairobi, Kenya, đã thống nhất thành lập quỹ chung trị giá 11 tỷ USD để nhằm trợ giácho 19 mặt hàng thiết yếu (bao gồm đường, cà phê, chè, quặng bô xít, khoáng chất, sợi bông, thiếc, và dầu thựcvật) do các nước đang phát triển sản xuất Thật không may cho các nhà xuất khẩu thuộc các nước chậm pháttriển, có rất ít sự ủng hộ đối với đề xuất của UNCTAD, và hầu hết các thoả thuận hàng hoá phi dầu mỏ hoặc làkhông đạt được (như thiếc) hoặc là bị các nhà sản xuất không quan tâm đến (như cà phê và đường) Thậm chíngay trong cả phương án tốt nhất, các thoả thuận này cũng không hiệu quả cho các hàng hoá dễ hỏng Bạn hãythử tưởng tượng nếu cố gắng điều hành một “kho hàng đệm” cho sản phẩm chuối!
Nhân tố thứ tư và thứ năm ảnh hưởng tới sự gia tăng doanh thu xuất khẩu các sản phẩm thô trong dàihạn của các nước kém phát triển là sự phát triển của các sản phẩm thay thế nhân tạo và sự gia tăng bảo hộ nôngnghiệp của các nước phát triển Các sản phẩm thay thế nhân tạo như sợi cotton, cao su, sợi xidan, sợi gai, thuộc
da và gần đây là đồng (dùng làm cáp quang cho mạng viễn thông) vừa đóng vai trò như một chiếc phanh kìmhãm giá hàng hoá tăng cao hơn vừa có vai trò như một nguồn cạnh tranh trực tiếp trên thị trường xuất khẩu thếgiới Như chúng ta đã thấy trong phần trước, tỷ trọng xuất khẩu các sản phẩm nhân tạo trên thế giới đang tănglên trong khi tỷ trọng các sản phẩm có nguồn gốc từ thiên nhiên lại giảm xuống Trong trường hợp bảo hộ nôngnghiệp, dưới hình thức thuế, hạn ngạch, và các hàng rào phi thuế quan như các quy định về an toàn vệ sinh liênquan đến nhập khẩu thực phẩm và sinh vật, những tác động này có thể làm giảm doanh thu xuất khẩu của cácnước chậm phát triển Ví dụ như chính sách nông nghiệp chung của Liên minh Châu Âu có sự phân biệt đối xửnhiều hơn với hàng thực phẩm xuất khẩu từ các nước chậm phát triển là các chính sách thực hiện chỉ trong cácnước thành viên
Xét về cung, cũng có một số các nhân tố chống lại sự gia tăng nhanh chóng doanh thu xuất khẩu sảnphẩm thô Nhân tố quan trọng nhất là sự cứng nhắc về mặt cơ cấu trong hệ thống sản xuất nông nghiệp tại cácnước đang phát triển Trong chương 10, chúng ta đã thảo luận về những sự cứng nhắc này như các nguồn lựchạn chế; khí hậu khắc nghiệt; đất đai cằn cỗi; cơ cấu kinh tế, xã hội, nông nghiệp lạc hậu, phương thức khai thácđất không hiệu quả Với bất kỳ tình trạng cầu của thế giới về từng loại hàng hoá (và chắc chắn là khác nhau giữacác loại hàng hoá), xuất khẩu dự đoán là tăng rất ít khi cơ cấu kinh tế xã hội tại nông thôn vẫn là yếu tố cản trở
sự gia tăng cung thực tế vì những người nông dân không thích rủi ro Hơn thế nữa, tại các nước đang phát triển
có cơ cấu nông nghiệp hai hình thức rõ ràng (ví dụ như có các nông trại tập trung vốn lớn tồn tại bên cạnh hàngnghìn thửa ruộng nhỏ năng suất thấp của các hộ nông dân) thì sự gia tăng thu nhập xuất khẩu được phân bố rấtkhông đồng đều trong dân cư tại khu vực nông thôn Ngoài ra, các nhà tiểu nông còn bị bất lợi ở các nước mà tại
đó các cơ quan tiếp thị nông sản chỉ đóng vai trò là trung gian giữa nông dân và thị trường xuất khẩu (hầu hết là
ở Châu Phi) Các cơ quan tiếp thị luôn kiềm chế sự gia tăng xuất khẩu bằng cách ép nông dân bán sản phẩm củamình ở một mức giá cố định – thường là thấp hơn mức giá trên thị trường quốc tế Do đó họ làm mất đi độnglực tăng sản lượng Cuối cùng, chúng ta nên đề cập đến các tác động xấu từ các chính sách thương mại của cácnước phát triển (như hạn ngạch đường của Mỹ) và các chính sách viện trợ nước ngoài làm sụt giảm giá nông sản
Trang 34và kìm hãm sản xuất tại các nước kém phát triển Ví dụ, chính sách bán thịt bò có trợ giá của liên minh Châu Âusang các nước Tây Phi với cái vỏ viện trợ nước ngoài đã phá giá gia súc tại các nước này.
Do đó chúng ta có thể kết luận rằng việc thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm thô không thể thành công trừ khi
có sự tái cơ cấu kinh tế và xã hội trong khu vực nông thôn theo những đề xuất ở Chương 10 nhằm tăng năngsuất ngành nông nghiệp và phân phối những lợi ích thu được một cách rộng hơn Mục tiêu chủ yếu của chiếnlược phát triển nông thôn của các nước kém phát triển nào trước hết cũng phải cung cấp đủ lương thực chongười dân trong nước sau đó mới tính đến việc mở rộng xuất khẩu Nhưng để hoàn thành nhiệm vụ phát triểnkhó khăn này, các nước kém phát triển có thể phải thấy được những lợi ích tiềm năng về lợi thế cạnh tranh củamình trên thị trường sản phẩm thô thế giới chỉ khi họ: (1) hợp tác với các quốc gia khác, (2) được các nước pháttriển giúp đỡ hình thành và thực hiện các thỏa thuận hàng hóa quốc tế khả thi, (3) ngày càng tiếp cận được thịtrường các nước phát triển Thật không may, với cơ cấu cầu thế giới về sản phẩm thô, sự đe dọa của việc thiếulương thực trong nước và do đó, mong muốn tự cung tự cấp các sản phẩm nông nghiệp, xu hướng ngày càngphát triển của các sản phẩm thay thế nhân tạo, và bảo hộ nông nghiệp tại các nước phát triển chưa chắc sẽ giảmmột cách đáng kể, thì mức độ gia tăng xuất khẩu sản phẩm thô trong từng nước kém phát triển dường như sẽ bịhạn chế
Thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá công nghiệp: Một vài thành công, nhiều trở ngại
Sự gia tăng xuất khẩu sản phẩm công nghiệp của các nước chậm phát triển được khích lệ nhờ các thànhtích xuất khẩu ngoạn mục của các nước như Hàn Quốc, Singapore, Hồng Kông, Đài Loan, Mexico, Brazil, vàTrung Quốc trong 4 thập kỷ qua Ví dụ, tỷ lệ tăng tổng xuất khẩu của Đài Loan hàng năm là trên 20%, thậm chícủa Hàn Quốc còn tăng nhanh hơn Đối với cả hai nước, tỷ lệ tăng trưởng xuất khẩu này có được là nhờ đã tăngcác hàng hoá công nghiệp, chiếm hơn 80% thu ngoại tệ của cả hai nước Đối với thế giới đang phát triển nóichung, xuất khẩu hàng công nghiệp đã tăng từ 6% trong tổng xuất khẩu hàng hoá năm 1950 lên gần 64% năm
2000 Bất chấp sự tăng trưởng này, tỷ trọng của các nước chậm phát triển trong tổng thương mại hàng côngnghiệp thế giới vẫn rất nhỏ, cho dù đã tăng từ 7% năm 1965 lên 22% năm 1999, và phần lớn là xuất khẩu từ cácnước Đông Á
Thành công về xuất khẩu trong mấy thập kỉ gần đây, đặc biệt là 4 nước con hổ Châu Á, đã tạo ra tiền
đề cơ bản cho những lập luận của những người theo thuyết thị trường (xem chương 4) – cụ thể là các nhà kinh tếcủa NHTG và Quỹ Tiền tệ quốc tế IMF – rằng tăng trưởng kinh tế tại các nước chậm phát triển là do chấp nhậnlực lượng thị trường, giải phóng các doanh nghiệp, và mở cửa nền kinh tế trong khi giảm thiểu sự can thiệp củachính phủ Thật đáng tiếc, thực tế tại các nước Đông Á không ủng hộ quan điểm này và lý giải sự thành côngxuất khẩu của họ đã đạt được như thế nào Tại Hàn Quốc, Đài Loan và Singapore (cũng như Nhật Bản trướcđây) sản lượng và cơ cấu xuất khẩu không phải do thị trường mà phần lớn là kết quả của sự can thiệp có kếhoạch một cách cẩn trọng của chính phủ
Mặc dù có sự khác biệt kinh tế cơ bản với các sản phẩm thô, cản trở gia tăng hàng hóa công nghiệpcũng tương tự như vậy Tuy độ co dãn của cầu quốc tế đối với hàng hoá công nghiệp theo giá và thu nhập nhìnchung là cao hơn hàng hoá sản phẩm thô, nhưng chúng cũng chẳng giúp các nước đang phát triển là bao trongviệc mở rộng xuất khẩu Trong nhiều năm, các quốc gia phát triển tăng cường bảo hộ trước hàng công nghiệpxuất khẩu từ các đang phát triển – cũng là một phần kết quả trực tiếp của việc thâm nhập thành công các hàng
Trang 35hoá sử dụng nhiều lao động giá rẻ từ các nước như Đài Loan, Hồng Kông, Hàn Quốc trong suốt thập kỉ 60 và
70 Nhà kinh tế học Canada, Gerald Helleiner đã chỉ rõ:
Quan trọng nhất đối với những vấn đề về triển vọng xuất khẩu hàng công nghiệp của các nước kém phát triển là các rào cản do các nước phát triển dựng lên nhằm hạn chế sự xâm nhập của các mặt hàng này vào thị trường nước họ Thuế quan, hạn ngạch và các rào cản khác tại các thị trường giàu có là sự cản trở chính đối với việc xuất khẩu hàng công nghiệp ở quy mô lớn Cơ cấu thuế tại các nước giầu thường có xu hướng đưa
ra mức bảo hộ có hiệu quả cao nhất cho các nhà sản xuất trong rất nhiều ngành mà tại các nước nghèo các ngành này có lợi thế cạnh tranh nhất – ngành công nghiệp nhẹ sử dụng tương đối nhiều lao động không có kỹ năng như may mặc, da giầy, dệt thảm, hàng hoá thể thao, túi sách, chế biến thực phẩm, … Đó hoàn toàn là do các ngành này không có khả năng tự do cạch tranh, việc sử dụng nhiều lao động khôngcó kỹ năng đã khiến các doanh nghiệp tại các nước phát triển bất lợi do thu nhập của người lao động ở đây tương đối cao.
Rào cản thương mại của các nước công nghiệp ngày càng nhiều Ví dụ, trong suốt những năm 1980, 20trong số 24 nước công nghiệp tăng bảo hộ chống lại hàng công nghiệp hoặc hàng qua chế biến của các nướcchậm phát triển Hơn nữa, tỷ lệ bảo hộ với hàng hóa nhập khẩu của các nước LDC còn cao hơn so với tỷ lệ bảo
hộ các hàng hóa nhập khầu từ các quốc gia phát triển Làm cho tình hình tồi tệ thêm là tình trạng gia tăng bảo hộcác sản phẩm công nghiệp chế biến của các nước phát triển (như đánh thuế vào ca cao chế biến cao gấp hai lần
ca cao thô, khiến việc nhập khẩu chocolate bị hạn chế, đường thô chỉ bị đánh thuế dưới 2% trong khi các sảnphẩm từ đường qua chế biến phải đối mặt với mức thuế 20%) Tiếp theo là các hàng rào phi thuế quan, giờ cũng
là phương tiện bảo hộ chính chống lại việc xuất khẩu hàng công nghiệp của các nước kém phát triển, ít nhấtcũng ảnh hưởng tới 1/3 số mặt hàng này Đáng kể nhất là Hiệp định đa sợi (MFA), có hiệu lực từ năm 2005, làmột thoả thuận hỗn hợp của hầu hết các hạn ngạch song phương đối với hàng hoá xuất khẩu từ các nước kémphát triển như sợi cotton, gỗ, và các sản phẩm sợi nhân tạo Chương trình phát triển Liên hợp quốc dự tính rằngMFA này đã khiến các nước đang phát triển thiệt hại 24 tỷ đô xuất khẩu hàng dệt may mỗi năm Nhìn chung,các rào cản thương mại của các nước phát triển khiến các nước đang phát triển mất ít nhất 40 tỷ đô mỗi nămtrong việc xuất khẩu và làm GNP của các nước này giảm hơn 3% Liệu người lao động được trả lương cao trongngành sản xuất tại các nước phát triển bị sa thải có tiếp tục cho phép tiếp nhận không hạn chế các sản phẩm sửdụng lao động chi phí thấp tại các nước kém phát triển không vẫn đang được xem xét Các quy định của tổ chứcthương mại Thế Giới WTO đã loại trừ được nhiều rào cản chính thức nhưng vẫn còn nhiều rào cản trá hình.Trong vài năm gần đây, các cuộc điều tra chống bán phá giá đã tăng một cách đáng kể và Mỹ là nước sử dụngbiện pháp bảo hộ này nhiều nhất Báo cáo của WTO năm 2001 đã cho thấy có thêm 272 vụ điều tra chống bánphá giá trong năm 2000, giảm so với 356 vụ năm 1999, nhưng báo cáo này cũng nhấn mạnh xu hướng gia tăngtrong vài năm gần đây Các vụ điều tra thuế cũng đang gia tăng Các hiệp định thương mại khu vực, bao gồmNAFTA và EU, cũng có thể bị ảnh hưởng của việc phân biệt đối xử đối với hàng xuất khẩu từ các nước đangphát triển không phải là thành viên
Cũng như trường hợp hàng nông nghiệp và sản phẩm thô khác, tình trạng xuất khẩu không ổn địnhkhông phải do việc giảm sự gia tăng sản xuất hàng công nghiệp để phục vụ nhu cầu trong nước của các nướcđang phát triển Phạm vi mang lại lợi ích thương mại khi trao đổi hàng công nghiệp giữa các nước đang pháttriển là rất lớn nếu như các nước này hội nhập kinh tế thế giới Có rất nhiều người tập trung phân tích triển vọngthương mại giữa các nước chậm phát triển với các nước phát triển (thương mại Bắc – Nam) và ít nghiên cứu lợi
Trang 36ích thương mại giữa các nước chậm phát triển với nhau (thương mại Nam – Nam) Mối quan hệ thương mạiNam - Nam về các sản phẩm khai khoáng và nông nghiệp tăng nhanh hơn các thương mại hàng công nghiệp(xem bảng 12.6), do đó vẫn còn cơ hội để gia tăng các hàng hóa công nghiệp.
2 Thay thế nhập khẩu: Hướng nội nhưng vẫn chú trọng ra bên ngoài
Trong suốt những năm 50 và 60, các nước đang phát triển chứng kiến sự suy giảm thị trường thế giới
về sản phẩm thô của họ và sự gia tăng thâm hụt tài khoản vãng lai Do đặt nhiều hi vọng vào phép màu của quátrình công nghiệp hoá cũng như luận cứ về hệ số trao đổi thương mại trong lý thuyết của Prebisch - Singer, cácnước này đã chuyển sang chiến lược phát triển công nghiệp đô thị thay thế nhập khẩu
Một số nước vẫn theo chiến lược này vì cả lí do kinh tế và chính trị, cho dù áp lực từ IMF và NHTG ápđặt chi phí cơ hội cao lên những nỗ lực như vậy Như chúng ta đã lưu ý trước đây, thay thế nhập khẩu đòi hỏi nỗlực thay thế hàng hoá đang được nhập khẩu, thường là hàng tiêu dùng công nghiệp, bằng các nguồn cung cấp vàsản xuất trong nước Đầu tiên chiến lược này sẽ áp đặt hàng rào thuế quan hoặc hạn ngạch vào những mặt hàngnhập khẩu nào đó, sau đó cố gắng xây dựng ngành công nghiệp trong nước để sản xuất những mặt hàng này –như đài, xe đạp hay các hàng điện tử dân dụng Đáng chú ý, chiến lược này bao gồm cả liên doanh với công tynước ngoài, một hình thức được khuyến khích để tạo ra những nhà máy núp sau hàng rào bảo hộ thuế quan và
có tất cả những ưu đãi về thuế và đầu tư Mặc dù chi phí sản xuất ban đầu có thể cao hơn so với giá nhập khẩutrước kia nhưng nguyên nhân kinh tế sâu sa trong việc thúc đẩy thành lập các nhà máy sản xuất thay thế hàngnhập khẩu hoặc là do các ngành này xét cho đến cùng có thể thu được lợi nhuận nhờ sản xuất quy mô lớn và chiphí thấp (gọi là bảo hộ thuế quan cho những ngành non trẻ) hoặc là để cải thiện cán cân thanh toán nhờ giảm bớtnhập khẩu hàng hoá tiêu dùng Thông thường là kết hợp cả hai lí do trên Cuối cùng, người ta hi vọng các ngànhnon trẻ này sẽ phát triển và sẽ có khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới Tiếp theo, nó có thể mang lạidoanh thu ngoại tệ thuần nhờ có giảm chi phí sản xuất trung bình Chúng ta hãy xem thuyết bảo hộ chứng minhquá trình này như thế nào
Thuế nhập khẩu, những ngành non trẻ và lý thuyết bảo hộ
Cách thức chính của chiến lược thay thế hàng nhập khẩu là tạo ra sự bảo hộ bằng thuế (đánh vào hàngnhập) hoặc hạn ngạch (hạn chế số lượng hàng nhập khẩu) giúp cho các ngành công nghiệp thay thế nhập khẩuhoạt động Lý do kinh tế chính cho việc bảo hộ này là những lập luận về các ngành công nghiệp non trẻ đã đềcập ở trên Như đã trình bày, bảo hộ thuế quan chống lại hàng nhập khẩu là cần thiết để cho phép các nhà sảnxuất trong nước có giá cao hơn, có đủ thời gian học cách kinh doanh và đạt được lợi ích kinh tế theo quy môtrong sản xuất và xuất khẩu bằng việc học thông qua làm, giúp giảm chi phí và giá cả Với thời gian và mức độbảo hộ vừa đủ, các ngành non trẻ này rồi cũng phát triển, cạnh tranh trực tiếp với các nhà sản xuất tại các nướcphát triển và đến lúc sẽ không cần bảo hộ nữa Tóm lại, như trường hợp của nhiều ngành thay thế nhập khẩuđược bảo hộ trước đó tại Hàn Quốc, Đài Loan, các nhà sản xuất trong các nước kém phát triển có khả năng sảnxuất không chỉ đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước mà không cần bảo hộ của thuế quan hay các trợ cấp củanhà nước mà còn xuất khẩu hàng hoá có chi phí thấp ra các nước khác Do đó, về lí thuyết đối với nhiều ngànhtại các nước kém phát triển chiến lược thay thế hàng nhập khẩu trở thành điều kiện tiên quyết cho chiến lược mởrộng xuất khẩu Vì lí do này, cùng với các lí do khác (mong muốn giảm phụ thuộc, giành quyền tự chủ nhiềuhơn, nhu cầu xây dựng nền tảng công nghiệp trong nước, và tăng doanh thu từ thuế), chiến lược thay thế hàngnhập khẩu được nhiều quốc gia kém phát triển theo đuổi
Trang 37Lý thuyết bảo hộ cơ bản là một vấn đề cũ và gây tranh cãi trong lĩnh vực thương mại quốc tế Việcchứng minh nó khá đơn giản Hãy xem Hình 13.1
Hình 13.1 Thay thế nhập khẩu và lý thuyết bảo hộ
là lượng tiêu thụ nhiều hơn trong khi các nhà sản xuất trong nước và các công nhân của họ rõ ràng là gặp khókhăn vì bị mất thị phần cho các nhà cung cấp nước ngoài có chi phí thấp hơn Vì thế, ở mức giá thế giới rẻ hơn,
P2, lượng cầu tăng từ Q1 lên Q3, khi đó lượng cung trong nước giảm từ Q1 đến Q2 Sự chênh lệch giữa số lượngnhà sản xuất trong nước sẵn sàng bán ở mức giá P2 (tức Q2) và số lượng người tiêu dùng muốn mua Q3 là phần
được nhập khẩu - đường ab trên hình 13.1
Đối mặt với khả năng giảm sản xuất và công ăn việc làm trong nước do thương mại tự do và mongmuốn có được sự bảo hộ ngành non trẻ, các nhà sản xuất tại các nước kém phát triển muốn nhờ vào trợ giúpthuế của nhà nước Ảnh hưởng của thuế quan (bằng mức t0) được chỉ ra ở Đồ thị 13.1 bên dưới Thuế khiến giácủa giầy dép trong nước tăng từ P2 lên Pt với Pt = P2 (1+t0) Người tiêu dùng trong nước phải trả mức giá cao
Trang 38hơn và lượng cầu giảm từ Q3 xuống Q5 các nhà sản xuất trong nước mở rộng sản xuất (và lao động) từ Q2 lên Q4.
Diện tích hình chữ nhật cdfe là tổng doanh thu từ thuế nhà nước thu được qua thuế nhập khẩu giầy dép.
Rõ ràng là thuế càng cao, giá trong nước càng cao (bằng giá quốc tế cộng thêm thuế nhập khẩu) Trongtrường hợp áp dụng chiến lược công nghiệp hóa bảo hộ ngành công nghiệp non trẻ cổ điển thuế có thể cao đếnmức làm cho giá của hàng nhập khẩu cao hơn P1, tới mức P3, tức là việc nhập khẩu hàng hoá bị cấm hoàn toàn
và các nhà sản xuất trong nước được phép hoạt động đằng sau bức tường thuế bảo hộ, các nhà sản xuất bánlượng hàng hóa tại Q1 và mức giá P1 Trong ngắn hạn, rõ ràng thuế bảo hộ cấm nhập khẩu có ảnh hưởng trừngphạt người tiêu dùng, đó là những người trên thực tế đang trợ cấp cho các nhà sản xuất trong nước và công nhâncủa họ thông qua việc trả giá hàng hóa cao và mua số lượng ít hơn Hoặc chúng ta có thể nói rằng thuế đã phânphối lại thu nhập từ người tiêu dùng sang người sản xuất Tuy nhiên, trong dài hạn, những người ủng hộ chiếnlược bảo hộ thay thế nhập khẩu cho các ngành mới của các nước kém phát triển lập luận rằng tất cả mọi ngườiđều có lợi khi các nhà sản xuất giày trong nước có được lợi ích do lợi thế kinh tế theo quy mô và kinh nghiệmsản xuất do đó cuối cùng thì giá trong nước cũng sẽ giảm xuống dưới giá P2 (giá thế giới) Sản xuất khi đó làcho cả thị trường trong và ngoài nước, người tiêu dùng trong nước cũng như các nhà sản xuất trong nước vàngười lao động đều có lợi, thuế quan bảo hộ có thể bị loại bỏ và nhà nước có thể thu thuế thu nhập cao hơn rấtnhiều từ các nhà sản xuất trong nước bù vào phần thuế bị mất Đây là lập luận logic và đầy tính thuyết phục của
lí thuyết này Nhưng trong thực tế nó hoạt động như thế nào?
Chiến lược công nghiệp hóa thay thế hàng nhập khẩu và những kết quả
Hầu hết các nhà quan sát đồng ý rằng chiến lược công nghiệp hóa thay thế hàng nhập khẩu phần lớn làkhông thành công Cụ thể là có năm kết quả không mong muốn Một là được núp sau bức tường bảo hộ thuếquan và tránh khỏi áp lực cạnh tranh, nhiều ngành thay thế nhập khẩu (cả sở hữu nhà nước và sở hữu tư nhân)vẫn hoạt động không hiệu quả và tốn kém Hai là, người hưởng lợi chính từ quá trình thay thế nhập khẩu lại làcác công ty nước ngoài có khả năng tồn tại sau bức tường thuế và tận dụng lợi ích của thuế và đầu tư Sau khigiảm lãi suất, lợi nhuận, chi phí thuê đất và chi phí quản lí, hầu hết các khoản thu này được chuyển ra nướcngoài, chỉ một phần nhỏ thuộc về các nhà công nghiệp trong nước đang liên doanh với các công ty nước ngoài
và những người hỗ trợ về kinh tế và chính trị
Ba là, hầu hết việc thay thế nhập khẩu thực hiện được do việc nhập khẩu tư liệu sản xuất và hàng hoátrung gian có sự hỗ trợ của nhà nước của các công ty trong và ngoài nước Đối với các công ty nước ngoài, phầnlớn là nhập từ công ty mẹ hay công ty “chị em” ở nước ngoài Có hai kết quả trực tiếp từ việc này Một mặt, cácngành cần nhiều vốn được thành lập, thường phục vụ thói quen tiêu dùng cho người giầu trong khi có rất ít ảnhhưởng tới việc làm Mặt khác, chẳng những không cải thiện được thực trạng cán cân thanh toán của các nướckém phát triển, không làm giảm nợ xấu, thay thế nhập khẩu một cách bừa bãi làm tình trạnh này tồi tệ hơn dolàm tăng nhu cầu nhập khẩu tư liệu sản xuất và sản phẩm trung gian trong khi như chúng ta đã thấy, phần lớn lợiích từ đó bị chuyển ra nước ngoài theo hình thức thanh toán chuyển khoản tư nhân
Hậu quả xấu thứ tư của chiến lược thay thế nhập khẩu là tác động của chúng lên việc xuất khẩu các sảnphẩm thô truyền thống Để khuyến khích sản xuất trong nước thông qua nhập khẩu tư liệu sản xuất và hàngtrung gian có giá rẻ, tỷ giá hối đoái (tỷ giá mà ngân hàng trung ương một quốc gia sẵn sàng trả để mua ngoại tệ)được định giá cao Điều này lại làm tăng giá hàng xuất khẩu và giảm giá hàng nhập khẩu tính theo đồng nội tệ
Ví dụ như tỷ giá trao đổi trên thị trường tự do giữa đồng Việt Nam Đồng và đồng Đô la Mỹ là 20/1 nhưng tỷ giá
Trang 39trao đổi chính thức là 10/1, tức là một mặt hàng có giá 10USD tại Mỹ được nhập khẩu vào Việt Nam có giá100VNĐ (không bao gồm chi phí vận chuyển và dịch vụ khác) Nếu tỷ giá trên thị trường tự do (tỷ giá được xácđịnh bởi cung cầu VNĐ và USD) được áp dụng thì giá của hàng hóa này là 200VNĐ Do đó, bằng cách định giá
tỷ giá hối đoái cao, các nước kém phát triển đã hạ giá hàng hóa nhập khẩu tính theo đồng nội tệ một cách hiệuquả Cùng lúc đó, giá hàng hoá xuất khẩu lại tăng, ví dụ, với tỷ giá hối đoái là 10/1, các nhà nhập khẩu Mỹ phảitrả 10cent cho sản phẩm 1VNĐ thay vì họ phải trả 5cent nếu tỷ lệ 20/1 theo thị trường tự do được áp dụng.Bảng 13.1 trình bày những tính toán mức độ định tỷ giá hối đoái cao tại 9 nước đang phát triển trong thập niên80; mức này nhìn chung đều giảm vào những năm 90
Bảng 13.1: Mức độ định giá cao tiền tệ tại một số nước đang phát triển, 1980-1989
Nước Tỷ lệ định giá cao Tỷ lệ định giá cao nhất trong suốt thời kì Nhóm nước có tỷ lệ thấp
Trang 40Cuối cùng, chiến lược thay thế nhập khẩu, vốn được hình thành cùng với ý tưởng khuyến khích cácngành non trẻ phát triển và tiến hành công nghiệp hóa một cách độc lập bằng cách tạo ra các mối liên hệ
“ngược” và “xuôi” với các lĩnh vực khác của nền kinh tế, đã luôn cản trở quá trình công nghiệp hóa Nhiềungành non trẻ chẳng bao giờ phát triển được, chấp nhận núp sau thuế bảo hộ và nhà nước miễn cưỡng yêu cầu
họ phải trở nên cạnh tranh hơn bằng cách giảm thuế Trên thực tế, chính phủ các nước kém phát triển thườngbảo hộ các ngành công nghiệp là doanh nghiệp nhà nước Hơn nữa, bằng việc tăng chi phí đầu vào đối với cácngành có mối quan hệ ngược (tức là các ngành sử dụng sản phẩm của các công ty được bảo hộ làm sản phẩmđầu vào hay trung gian trong quá trình sản xuất của mình, ví dụ như ngành in sử dụng giấy từ nhà máy sản xuấtgiấy được bảo hộ trong nước) và mua sản phẩm đầu vào từ các nguồn cung ngoài nước hơn là qua các mối quan
hệ xuôi từ các nhà cung cấp trong nước, các công ty thay thế nhập khẩu không hiệu quả có thể hạn chế quá trìnhcông nghiệp hóa hội nhập tự chủ đầy hi vọng này
Cơ cấu thuế và bảo hộ hiệu quả
Do các chính sách thay thế nhập khẩu dựa trên sự bảo hộ các ngành trong nước trước sự cạnh tranh củahàng hoá nhập khẩu thông qua việc sử dụng thuế và hạn ngạch, chúng ta cần phân tích vai trò và hạn chế củanhững công cụ chính sách thương mại này tại các quốc gia đang phát triển Như chúng ta đã phân tích, chínhphủ áp thuế và hạn ngạch vào hàng nhập khẩu vì rất nhiều lí do Chẳng hạn như tăng thuế nhập khẩu để tăng thungân sách Trên thực tế, với những khó khăn về quản lí và chính trị trong việc thu thuế thu nhập trong nước,thuế suất nhập khẩu cố định đánh vào hàng nhập khẩu thu tại một vài cảng biển hoặc các cửa khẩu là một trongnhững biện pháp rẻ nhất và hiệu quả nhất để tăng thu nhập cho nhà nước Tại nhiều nước đang phát triển thuếngoại thương là phần quan trọng của hệ thống tài chính chung Hạn ngạch nhập khẩu đối với hàng nhập khẩunhư ô tô và các mặt hàng xa xỉ khác, mặc dù khó quản lý và thường bị trì hoãn, không hiệu quả, tham nhũng(cấp giấy phép nhập khẩu), vẫn là một biện pháp hữu hiệu để hạn chế nhập khẩu những mặt hàng không khuyếnkhích tiêu dùng Thuế cũng vậy, có thể sử dụng để hạn chế nhập khẩu những mặt hàng không cần thiết (thường
là hàng tiêu dùng xa xỉ) Nhờ hạn chế nhập khẩu, cả thuế và hạn ngạch đều có thể cải thiện cán cân thanh toán.Cũng giống như định giá cao tỷ giá hối đoái chính thức, thuế thường được sử dụng để cải thiện tình trạngthương mại của một nước Tuy nhiên, đối với một quốc gia nhỏ không có khả năng tác động đến giá hàng xuấtnhập khẩu của mình trên thị trường quốc tế (chủ yếu là các nước đang phát triển) thì những lập luận về thuế(hoặc định giá thấp tỷ giá hối đoái) có ít giá trị Cuối cùng, như chúng ta thấy, thuế là một bộ phận không thểthiếu của chính sách công nghiệp hóa thay thệ nhập khẩu
Bất kỳ công cụ nào được sử dụng để hạn chế nhập khẩu, việc hạn chế đó luôn bảo vệ các doanh nghiệptrong nước trước sự cạnh tranh của nhà sản xuất từ các quốc gia khác Để đo mức độ bảo hộ, chúng ta cần phảihỏi xem việc hạn chế làm cho giá hàng nhập khẩu trong nước cao hơn giá quốc tế là bao nhiêu Có hai cách tínhtoán bảo hộ cơ bản: tỷ lệ bảo hộ danh nghĩa vả tỷ lệ bảo hộ thực tế
Tỷ lệ bảo hộ danh nghĩa cho thấy mức độ, tính theo phần trăm, giá hàng nhập khẩu trong nước cao hơn
so với giá hàng hóa đó khi không có bảo hộ Do đó tỷ lệ bảo hộ danh nghĩa (t) đề cập tới giá hàng hóa cuối cùng
và có thể xác định theo công thức sau: t= p'p−p
Trong đó p’ và p lần lượt là giá của sản phẩm nhập khẩu khi có và không có thuế.