1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

“Phát triển cụm công nghiệp trong tiến trình đô thị hóa ở huyện điện bàn tỉnh quảng nam”

73 487 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 191,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đó là thành quả của quá trình vượt qua mọi khó khăn, thách thức, là sự cố gắng của lãnh đạo và nhân dân trong huyện, đặc biệt là thu hút được các nguồn lực đầu tư và pháttriển, triển kha

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việc quy hoạch, đầu tư xây dựng CCN là chủ trương lớn nhằm tạo động lựcchuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động nông thôn Nó đã làm thay đổi bộ mặt nông thônViệt Nam theo hướng công nghiệp hóa đi liền với đô thị hóa Do đó trong thời gian qua ởcác vùng nông thôn đã có hàng trăm CCN được xây dựng và phát triển Trong quá trìnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước như hiện nay thì vấn đề phát triển các CCN giữvai trò quan trọng góp phần thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theohướng tiến bộ, thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nôngthôn, giải quyết tốt, có hiệu quả đồng bộ vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân trongquá trình phát triển kinh tế – xã hội, sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệpvào năm 2020

Trong giai đoạn (2006 - 2010) Đảng và Nhà Nước ta những mục tiêu và nhiệm vụchủ yếu là: “ Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế tri thức, tạonền tảng đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vàonăm 2020” “Giải phóng và phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, phát huy mọi tiềmnăng và nguồn lực tạo bước đột phá về xây dựng kết cấu hạ tầng và chuyển dịch cơ cấukinh tế, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh, tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế, sớm đưanước ta ra khỏi tình trạng của nước đang phát triển có thu nhập thấp”

Hiện nay quá trình CNH, HĐH gắn liền với quá trình đô thị hóa đang diễn ra vớitốc độ ngày càng nhanh và bền vững, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nângcao chất lượng và hiệu quả, năng lực và sức cạnh tranh của nền kinh tế giữ vai trò quantrọng trong toàn bộ chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến 2020 Phát triển nhanh hơnCN-XD cần chú ý mối quan hệ gắn kết hữu cơ giữa phát triển CN-XD với phát triển dịch

vụ, phát triển đô thị và phát triển về nông nghiệp hàng hóa bền vững Đại hội X xác định:

“Hoàn chỉnh quy hoạch phát triển các khu, cụm, điểm công nghiệp trên cả nước; hình thành các vùng công nghiệp trọng điểm; gắn việc phát triển sản xuất với bảo đảm các điều kiện sinh hoạt cho người lao động”.

Trang 2

Theo thống kê của Bộ Công thương, đến năm 2011, các địa phương trong cả nước

đã quy hoạch phát triển 1.872 CCN với tổng diện tích 76.520 ha Trong đó, 918 CCN đã

đi vào hoạt động với tổng diện tích 40.597 ha Hiện nay, diện tích đã sử dụng và cho thuêtrong các CCN cả nước là 7.510 ha, chiếm 26,4% tổng diện tích các CCN đã hoạt động

Huyện Điện Bàn nằm trong vùng kinh tế trọng điểm bắc Quảng Nam, có hệ thốnggiao thông huyết mạch của cả nước đi qua như quốc lộ 1A, đường sắt Bắc - Nam, tiệmcận với TP Đà Nẵng - trung tâm kinh tế khu vực miền Trung; là điểm nối hai di sản Vănhóa thế giới Hội An - Mỹ Sơn, huyện Điện Bàn đã nhanh chóng biến lợi thế so sánhthành cơ hội thu hút đầu tư, hình thành các khu, CCN, khu du lịch, khu đô thị mới, khudân cư mới

Theo Báo cáo chính trị tại Đại hội Đại biểu Đảng bộ Huyện Điện Bàn lần thứ XXI đã

khẳng định: “Mục tiêu xây dựng Điện Bàn cơ bản thành huyện công nghiệp do Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XX đề ra cơ bản đã hoàn thành, tạo được nền tảng vật chất, tinh thần hết sức quan trọng cho sự phát triển của huyện trong những năm đến” Đó là thành quả của quá trình vượt qua mọi khó khăn, thách thức, là sự cố gắng của

lãnh đạo và nhân dân trong huyện, đặc biệt là thu hút được các nguồn lực đầu tư và pháttriển, triển khai nhiều chương trình KT-XH mở hướng đột phá để thúc đẩy sản xuất pháttriển, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, đảm bảo giữ vững ổn định chính trị,tăng cường sức mạnh quốc phòng địa phương, đưa Điện Bàn chuyển sang một giai đoạnphát triển mới, tiến đến xây dựng huyện thành thị xã vào năm 2015 Đây là định hướng,

là mục tiêu số một được đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXI cân nhắc, thảo luận kỹ và điđến quyết tâm cao, xem đây là thời cơ, vận hội mới của địa phương mình

Để đạt được mục tiêu ấy, nghị quyết đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXI đã đề ra

9 chỉ tiêu phấn đấu từ nay đến năm 2015 Trong đó có tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuấttoàn nền kinh tế trong 5 năm 2010-2015 phải tăng cho được từ 20- 22%/năm, trong đócông nghiệp 20-22%,dịch vụ tăng 22-23%, nông nghiệp tăng 3,5- 4% Cơ cấu kinh tế đếnnăm 2015 với công nghiệp – xây dựng cơ bản chiếm 76%, dịch vụ 20%, nông nghiệp 4

%, thu nhập đầu người đạt 40 – 42 triệu đồng/ năm, giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn dưới4%

Trang 3

Trong bối cảnh đó, phát triển các CCN ngày càng đóng vai trò quan trọng trongphát triển công nghiệp và thúc đẩy nhanh quá trình đô thị hóa trên địa bàn huyện Đếncuối năm 2011 toàn huyện đã quy hoạch và đưa vào hoạt động 11 CCN và các CCN nàycũng đang trên đà phát triển góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, xâydựng không gian đô thị trên địa bàn huyện theo hướng đô thị hóa Tuy nhiên bên cácthành tựu cơ bản CCN huyện cũng tồn tại những hạn chế như: quy hoach thiếu đồng bô,nguồn lao động chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển, ô nhiễm môi trường…

Vì vậy việc đánh giá thực trạng phát triển của các CCN trên địa bàn huyện có ýnghĩa hết sực quan trọng Đó là cơ sở để xây dựng định hướng phát triển CCN trong thờigian tới Với ý nghĩa đó, tôi chọn đề tài: “Phát triển Cụm công nghiệp trong tiến trình đôthị hóa ở huyện Điện Bàn tỉnh Quảng Nam” làm khóa luận tốt nghiệp của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong thời gian qua đã có một số công trình nghiên cứu khoa học, các chuyên đề, luận ánnghiên cứu về vấn đề phát triển CCN gắn với tiến trình đô thị hóa; về đô thị hóa nôngnghiệp, nông thôn; về phát triển các CCN ở Việt Nam và ở một số địa phương khác

Nhìn chung, các công trình khoa học của các tác giả nghiên cứu quá trình xâydựng và phát triển của các CCN ở Việt Nam là rất phong phú và phản ánh nhiều góc độkhác nhau Các công trình đã khẳng định yêu cầu khách quan và tính cấp thiết phải xâydựng mô hình kinh tế CCN ở Việt Nam và một số địa phương khác; đồng thời các đề tài

đã phản ánh khá rõ nét thực trạng cũng như đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quảxây dựng, phát triển CCN ở Việt Nam và ở các địa phương Tuy nhiên, các nghiên cứunày mới tập trung nghiên cứu những vấn đề chung trên phạm vi tổng thể cả nước, hoặctrên một địa bàn, một vùng, một tỉnh khác Đến nay, ở Huyện Điện Bàn chưa có côngtrình khoa học nào dưới góc độ kinh tế chính trị nghiên cứu về vấn đề phát triển các CCNtrong tiến trình đô thị hóa trên địa bàn huyện

Chính vì vậy mà tôi chọn đề tài nghiên cứu phát triển các CCN trong tiến trình đôthị hóa theo hướng tiếp cận của kinh tế chính trị trên địa bàn huyện Điện Bàn Đề tài là sựnghiên cứu những nguyên lý chung về CCN và đô thị hóa từ đó vận dụng vào việc pháttriển CCN gắn với đô thị hóa ở địa bàn huyện Điện Bàn

Trang 4

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

* Mục đích của đề tài

Nghiên cứu các vấn đề lý luận về phát triển CCN, phân tích thực trạng về pháttriển CCN trong tiến trình đô thị hóa ở huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam trong giai đoạnhiện nay Trên cơ sở lý luận và thực tiễn đề tài đưa ra phương hướng và các giải pháp chủyếu nhằm phát triển CCN trong tiến trình đô thị hóa ở huyện Điện Bàn trong thời giantới

* Nhiệm vụ của đề tài

- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về việc phát triển CCN trongviệc thực hiện quá trình đô thị hóa

- Phân tích thực trạng phát triển CCN trong tiến trình đô thị hóa trên địa bàn huyệnĐiện Bàn, tỉnh Quảng Nam trong giai đoạn 2007 - 2011

- Nghiên cứu, đề xuất phương hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm góp phầnđẩy nhanh khả năng phát triển CCN trong tiến trình đô thị hóa ở địa bàn huyện trong thờigian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

* Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu về vai trò và tác động của phát triển

CCN trong tiến trình đô thị hóa

+ CCN Thương Tín 1 (xã Điện Nam Đông)

+ CCN Thương Tín 2 (xã Điện Nam Đông)

+ CCN An Lưu (xã Điện Nam Đông)

+ CCN Cẩm Sơn (xã Điện Tiến)

+ CCN Vân Ly (xã Điện Quang)

+ CCN Bồ Mưng (xã Điện Thắng Bắc)

Trang 5

+ CCN An Dương (xã Điện Nam Đông và Điện Dương).

+ CCN Đông Khương (xã Điện Phương)

+ CCN Bích Bắc (xã Điện Hòa)

- Về thời gian: giai đoạn 2007-2011

- Về nội dung nghiên cứu: khảo sát thực tế, nghiên cứu thực trạng phát triển củacác CCN trong tiến trình đô thị hóa, đề xuất phương hướng và những giải pháp phát triểnCCN trên địa bàn huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam trong thời gian tới

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử: nghiên cứu, phân tích vấn

đề một cách khoa học, khách quan

- Phương pháp thu thập thông tin:

+ Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: thu thập tài liệu, số liệu báo cáo từ phòngKinh Tế và Hạ Tầng huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, tra cứu các thông tin từ sách,báo, tạp chí, Internet…

+ Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp: phát phiếu điều tra ngẫu nhiên của 11doanh nghiệp thuộc 11 CCN trên địa bàn huyện

- Phương pháp tổng hợp và xử lí số liệu: dựa trên các số liệu sơ cấp và thứ cấpthiết lập các bảng biểu phản ánh một cách khoa học các số liệu đã thu thập được để thuậntiện cho việc phân tích, đánh giá, so sánh Sử dụng máy tính, phần mềm Excel, Word đểtính toán, so sánh, thể hiện số liệu

6 Đóng góp của đề tài

Đề tài đã góp phần làm sáng tỏ các vấn đề sau:

- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển CCN trong tiến trình đôthị hóa

- Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển CCN và tác động của nó trong quá trình

đô thị hóa ở huyện Điện Bàn, đồng thời chỉ ra những mặt tích cực và hạn chế

- Đề xuất phương hướng và những giải pháp chủ yếu có tính khả thi nhằm thúc đẩy

sự phát triển các CCN theo hướng tác động tích cực đến quá trình đô thị hóa trên địa bànhuyện

Trang 6

7 Ý nghĩa của đề tài

- Làm cơ sở lý luận và thực tiễn giúp cho các phòng, ban chức năng huyện Điện Bàn xâydựng phương hướng, chính sách và đưa ra các giải pháp phù hợp để phát triển các CCNtrong tiến trình đô thị hóa trên địa bàn huyện

- Đề tài còn là nguồn tài liệu tham khảo bổ ích cho những tổ chức, cá nhân quan tâmnghiên cứu vấn đề này, nhất là đối với sinh viên nghành Kinh Tế và Kinh Tế-Chính Trị

8 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung đềtài gồm có 3 chương:

Chương1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phát triển cụm công nghiệp trong

tiến trình đô thị hóa

Chương 2: Thực trạng phát triển cụm công nghiệp trong tiến trình đô thị hóa ở

huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam

Chương 3: Phương hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển cụm công

nghiệp gắn với quá trình đô thị hóa ở huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam

Trang 7

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN CỤM CÔNG NGHIỆP TRONG TIẾN TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA

1.1 Lý luận chung về cụm công nghiệp

1.1.1 Khái niệm về cụm công nghiệp

Khái niệm về CCN “district industriel” xuất hiện vào cuối thế kỷ 19 do Mashallđưa ra khi ông nghiên cứu về sự tập trung sản xuất công nghiệp ở miền Bắc nước Anh.Sau đó các nhà khoa học, nhà nghiên cứu và chính phủ trên thế giới đã đưa ra nhiều kháiniệm CCN với các cách tiếp cận khác nhau phù hợp với điều kiện mỗi vùng nhằm tìmkiếm các lợi thế cạnh tranh bên ngoài để hỗ trợ công nghiệp vùng và địa phương trongphát triển kinh tế Hiện nay trên thế giới có một số định nghĩa về CCN như sau:

Theo G.Becattini thì CCN là một thực thể xã hội-lãnh thổ đặc trưng bởi sự có mặthoạt động của một cộng đồng người và quần thể doanh nghiệp trong một không gian địa

Ở Việt Nam, trong quá trình phát triển của đất nước thì nội dung về phát triểnCCN được sử dụng bắt đầu từ khi có quyết định 132/2000/QĐ-TTG ngày 24/11/2000 của

Trang 8

thủ tướng chính phủ về một số nghành nông thôn nhưng đến 2009 trong quyết định số105/2009/QĐ-TTG ban hành 19/8/2009 của Thủ Tướng Chính Phủ về ban hành quy chếquản lý CCN mới nêu lên một cách rõ ràng quan niệm về CCN ở nước ta Theo quyếtđịnh này thì “cụm công nghiệp là khu vực tập trung các doanh nghiệp, cơ sở sản xuấtcông nghiệp-tiểu thủ công nghiệp, cơ sở sản xuất công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp; córanh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống; được đầu tư xây dựng chủ yếunhằm di dời, sắp xếp, thu hút các cơ sở sản xuất, các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các cánhân, hộ gia đình ở địa phương vào đầu tư sản xuất, kinh doanh; do Ủy ban nhân dân cáctỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh)quyết định thành lập Cụm công nghiệp hoạt động theo Quy chế này và các quy định củapháp luật liên quan.

Cụm công nghiệp có quy mô diện tích không quá 50 (năm mươi) ha Trường hợpcần thiết phải mở rộng cụm công nghiệp hiện có thì tổng diện tích sau khi mở rộng cũngkhông vượt quá 75 (bẩy mươi lăm) ha.” (theo Quyết định số 105/2009/QĐ-TTg của ThủTướng Chính Phủ về ban hành quy chế quản lý cụm công nghiệp)

Đối với nước ta thì loại hình CCN được xem như là một hình thức tổ chức sảnxuất công nghiệp theo lãnh thổ, nó ra đời và gắn liền với quá trình CNH, HĐH và đô thịhóa nông thôn

Mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau về CCN nhưng nói chung quan niệm vềCCN thể hiện như sau:

Thứ nhất, CCN là địa điểm tập trung sản xuất kinh doanh và dịch vụ phục vụ công

nghiệp của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tách biệt với khu dân cư, có hệ thống các côngtrình hạ tầng kỹ thuật chung được xây dựng toàn bộ, đảm bảo các điều kiện để sản xuất

an toàn và bền vững

Thứ hai, CCN có thể nằm trong địa bàn một hoặc một số huyện do ủy ban nhân

dân tỉnh quyết định; khi lập quy hoạch xây dựng CCN phải đảm bảo kết nối đồng bộ giữacác công trình kỹ thuật hạ tầng trong và ngoài hàng rào, đảm bảo hiệu quả sử dụng đất và

có hệ thống hạ tầng xã hội tương ứng

Trang 9

Thứ ba, doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh trong CCN là doanh nghiệp, hợp tác

xã, tổ hợp tác được thành lập một cách hợp pháp; cá nhân hộ gia đình đăng ký kinhdoanh theo quy định của pháp luật, thực hiện đầu tư sản xuất, kinh doanh và các dịch vụphục vụ sản xuất, kinh doanh trong CCN [6]

1.1.2 Vai trò của cụm công nghiệp trong phát triển kinh tế-xã hội

Việc thành lập CCN có vai trò rất lớn đối với sự phát triển kinh tế-xã hội của địaphương, đặc biệt là đối với sự phát triển nghành công nghiệp của địa phương Phát triểnCCN sẽ tạo cơ sở để đẩy nhanh tiến trình đô thị hóa ở nông thôn hiện nay Khi xây dựng

và phát triển một CCN thì đồng thời nó cho phép tổ chức lại cơ cấu lại kinh tế vùng lãnhthổ, bố trí dân cư, bảo vệ môi trường, nâng cao mức sống nhân dân, phát triển kết cấu hạtầng kỹ thuật sản xuất và xã hội cho khu vực

1.1.2.1 Huy động vốn đầu tư phát triển

Sự hình thành và phát triển của các CCN đều gắn liền với mục tiêu phát triển

KT-XH, gắn liền với kế hoạch phát triển của địa phương Thực tiễn đã khẳng định vai tròquan trọng của việc thu hút vốn đầu tư vào phát triển kinh tế Mỗi thành phần kinh tế đềuxem mục tiêu thu hút vốn đầu tư để phát triển theo quy hoạch là mục tiêu quan trọng nhấtcủa mình

Đối với sự phát triển của CCN cũng không ngoại lệ Với tính chất là “vùng lãnhthổ” hoạt động trong môi trường đầu tư chung, CCN ngày càng đóng vai trò là công cụhữu hiệu nhằm thu hút vốn đầu tư, để mở mang hoạt động sản xuất kinh doanh cho các

hộ gia đình và các doanh nghiệp sản xuất nhỏ

Thông thường các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh trong CCN là doanh nghiệpsản xuất nhỏ, các hộ gia đình vì vậy vấn đề mặt bằng và vốn sản xuất luôn là hai vấn đềluôn bức xúc nhất Đây chính là cái vòng lẩn quẩn của sản xuất nhỏ, các doanh nghiệp,

hộ sản xuất không có điều kiện vốn để mở rộng sản xuất, tập trung vào phát triển các sảnphẩm thì lại cần vốn lớn Việc phát triển CCN chính là để giải quyết vấn đề này Cácdoanh nghiệp tham gia vào CCN sẽ có điều kiện để tập trung vốn cho phát triển kinh tế

1.1.2.2 Giải quyết việc làm

Trang 10

Việc xây dựng và phát triển các CCN tạo ngày càng nhiều chỗ làm việc góp phầnđẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động từ lao động nông nghiệp sang lao độngcông nghiệp, đẩy nhanh quá trình biến đổi cơ cấu dân số nông thôn theo hướng đô thịhóa.

Thực tế cho thấy đối với xã hội nông thôn muốn đẩy nhanh tiến trình đô thị hóa thìphát triển các CCN luôn là lựa chọn đúng đắn để thực hiện chiến lược lâu dài về giảiquyết các vấn đề về lao động nông thôn Nơi mà có một lượng lao động nhàn rỗi rất lớn

Đô thị hóa là quá trình có sự tăng lên một cách nhanh chóng của dân nhập cư.Chính vì vậy việc phát triển CCN sẽ tạo điều kiện thu hút các nguồn lao động từ địaphương khác đến, nên vừa có thể phát triển kinh tế vừa có thể đẩy nhanh tiến trình đô thịhóa

1.1.2.3 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Phát triển CCN sẽ tạo được địa bàn hoạt động và thực hiện chiến lược phát triểnlâu dài ở địa phương Thông thường các CCN thường được xây dựng theo quy hoạchphát triển tổng thể về kinh tế xã hội tại những địa điểm quy hoạch phát triển thành đô thị,khu dân cư Chính điều này sẽ tạo môi trường thuận lợi cho các nhà chính sách hoạchđịnh chiến lược phát triển lâu dài cho địa phương

Xây dựng CCN nhằm tạo ra năng lực sản xuất mới cho nền kinh tế, thu hút laođộng, tạo ra mới liên hết giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước thông qua các hợpđồng gia công, cung cấp nguyên liệu Khu vực kinh tế này mà phát triển sẽ dẫn dắt cácnghành công nghiệp phụ trợ, các dịch vụ cần thiết từ dịch vụ công nghiệp, tài chính, ngânhàng, cung cấp nguyên liệu đến dịch vụ dân sinh phục vụ lao động trong các CCN Đồngthời, sẽ thu hút lao động di cư đến các vùng có CCN hình thành nên các đô thị, thành phốcông nghiệp và đẩy nhanh tiến trình đô thị hóa

1.1.2.4 Thúc đẩy ứng dụng khoa học-công nghệ

Phát triển CCN cùng với nó là quá trình ứng dụng các thành tựu khoa học côngnghệ tiên tiến và học tập kinh nghiệm quản lý của các công ty tư bản nước ngoài

Với vai trò này sẽ giúp cho nền kinh tế không bị tụt hậu, đặc biệt là tụt hậu trongsản xuất công nghiệp và tăng sức cạnh tranh hàng xuất khẩu trên thị trường thế giới Hầu

Trang 11

hết các nước đang phát triển đều muốn mau chóng phát triển khoa học công nghệ củamình, nâng cao trình độ quản lý kinh tế của đất nước Xây dựng CCN trong thời kỳ này

sẽ tao điều kiện áp dụng khoa học-công nghệ, học tập kinh nghiệm quản lý tiên tiến trênthế giới Đối với các doanh nghiệp trong CCN, đây là yêu cầu tất yếu, cần thiết và có lợikhi mà họ phát triển trong điều kiện ít vốn, trình độ lạc hậu

Ngoài ra sự phát triển của CCN sẽ là cầu nối giữa nền kinh tế tế thế giới, thúc đẩy

sự phát triển, phát huy tác dụng làm cầu nối lan tỏa và dẫn dắt nền kinh tế phát triển

1.1.2.5 Góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế

Ở nước ta kế hoạch phát triển CCN thường đi kèm với các chính sách ưu đãi đầu

tư và các công trình hạ tầng sẵn có phục vụ thực hiện dự án Vì vậy, các nhà đầu tư khiđầu tư vào các CCN này thường được hưởng ưu đãi về thuế, chi phí…và hưởng các lợiích từ các công trình hạ tầng

Đối với nhà đầu tư thì mục đích cao nhất là thu được lợi nhuận tối đa do đó khiđầu tư vào CCN họ sẽ có cơ hội hạ thấp đến mức tối đa chi phí sản xuất, giảm giá thành,nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng được các nhu cầu thị trường, nâng cao hiệu quảkinh tế cho doanh nghiệp cũng như toàn xã hội

1.1.3 Tác động của phát triển CCN trong phát triển kinh tế xã hội

1.1.3.1 Những tác động tích cực của phát triển CCN trong phát triển kinh tế

xã hội

Quá trình phát triển CCN có tác động tích cực đến các hoạt động kinh tế, xã hội vàmôi trường của địa phương và khu vực Điều đó được thấy rõ trên các mặt sau:

Thứ nhất, CCN tạo dựng các tiền đề cần thiết cho vấn đề phát triển kinh tế, trang

bị cơ sở vật chất cho CNXH như vốn tích lũy, đào tạo đội ngũ cán bộ khoa hoc-kỹ thuật,công nhân lành nghề và cán bộ quản lý kinh doanh; phát triển kết cấu hạ tầng và nâng caonăng lực lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của Nhà Nước

Với việc tạo dựng các tiền đề nói trên, phát triển CCN đã tạo điều kiện tốt hơn đểphát triển công nghiệp nhanh và bền vững Đây được xem là một giải pháp đồng bộ,mang tính toàn diện giải quyết dồng thời các yêu cầu về vốn, lao động, KH-CN, trình độquản lý nhằm giải quyết các vấn đề khó khăn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ

Trang 12

Thứ hai, phát triển CCN có tác động đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

theo hướng tích cực, giúp hình thành các ngành kinh tế mũi nhọn phù hợp với điều kiệncủa địa phương

Sự ra đời và phát triển của các CCN trong thời gian qua đã thúc đẩy chuyển dịch

cơ cấu kinh tế theo hướng tăng dần tỷ trọng CN-DV, giảm dần tỷ trọng NN Đây chính là

xu hướng chuyển dịch theo hướng CNH, HĐH và quá trình đô thị hóa

Bên cạnh đó, đối với cơ cấu theo thành phần sở hữu thì phát triển CCN làm tăng tỷtrọng thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, trong đó đầu tư nước ngoài là một nguồn lựcphát triển kinh tế đáng kể phù hợp với xu thế của nền kinh tế thị trường

Với các dự án đầu tư nước ngoài này thì các CCN có cơ hội tiếp nhận các dâychuyền sản xuất với công nghệ tiên tiến, hiện đại theo chuẩn mực quốc tế Điều này đãgiúp cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ đẩy nhanh sản xuất, giúp địa phương phát huyđược lợi thế so sánh góp phần phát triển và đa dạng hóa cơ cấu nghành nghề công nghiệp

và giúp Việt Nam tiếp thu, xây dựng các nghành kinh tế mũi nhọn, mang tính đột phá.Đây cũng là nhân tố quan trọng góp phần để nước ta chuyển dịch cơ cấu kinh tế theohướng đô thị hóa và hội nhập nền kinh tế khu vực và thế giới

Thứ ba, phát triển CCN trong thời kỳ này cũng góp phần đẩy nhanh quá trình đô

thị hóa

Quá trình phát triển CCN trong thời gian qua đã cho thấy, CCN làm cho tiến trình

đô thị hóa diễn ra nhanh chóng và mạnh mẽ hơn Bởi vì:

Một là phát triển CCN sẽ làm cho cơ sở hạ tầng trong và ngoài CCN được đầu tư

xây dựng và nâng cấp một cách đáng kể, từ đó hình thành nên các thị tứ, thị trấn, cácthành phố sầm uất với hệ thống điện, nước, giao thông phát triển, công trình phúc lợi hiệnđại

Hai là CCN phát triển sẽ đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ

cấu kinh tế theo hướng hiện đại

Ba là phát triển CCN làm cho một lượng lao động lớn di chuyển từ khu vực NN

sang khu vực CN-DV phục vụ cả trong và bên ngoài các CCN Các CCN phát triển kéo

Trang 13

theo cơ cấu lao động biến đổi Lực lượng lao động trong nghành CN tăng lên, dẫn đếnnâng cao tỷ lệ công nhân và dân cư thành thị.

Thứ tư, trong quá trình xây dựng và phát triển hệ thống các CCN thì hệ thống

chính sách ngày càng phù hợp và hoàn thiện hơn Bởi để phát triển CCN thì Nhà nướcphải đưa ra các chính sách tăng cường sức hút các nguồn lực cho phát triển Ngoài ra, đâychính là nơi thực hiện kiểm nghiệm tính đúng đắn của các cơ chế, chính sách của Đảng

và Nhà Nước Ví dụ như: cơ chế “mở cửa tại cỗ”, các chính sách về hoàn thiện thủ tục hảiquan, kiểm quan, hoạt động tài chính…

Thứ năm, phát triển CCN đồng thời sẽ kích thích phát triển các loại hình dịch vụ

trong và ngoài CCN Sự phát triển của CCN tạo điều kiện cho sự xuất hiện các loại hìnhdịch vụ như điện, nước, dịch vụ ngân hàng-tài chính, xử lý chất thải, dịch vụ kho bãi vàcác dịch vụ cung ứng đảm bảo đời sống cho người lao động tại CCN Và đây sẽ là điềukiện tất yếu khách quan để thúc đẩy CCN ngày càng phát triển

Thứ sáu, phát triển CCN tạo điều kiện giải quyết các vấn đề về môi trường.

Phát triển CCN tạo điều kiện di dời các cơ sở sản xuất, các doanh nghiệp ra khỏicộng đồng dân cư Đặc biệt là việc di dời và tập trung các các đợn vị TTCN, nghề truyềnthống ra khỏi các làng nghề đúc đồng tới các khu tập trung Điều đó giúp địa phương dễdàng thu gom chất thải và xử lý đúng cách tránh ô nhiễm môi trường Đồng thời mỗiCCN được xây dựng đều có hệ thống xử lý chất thải bảo vệ môi trường đây là điều kiệncho sự hình thành nên các đô thị theo hướng bền vững

1.1.3.2 Những tác động tiêu cực của phát triển CCN

Thứ nhất, phát triển CCN có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng của tăng

trưởng kinh tế

Điều này xảy ra khi mà các nguồn lực bị khai thác không phát huy hiệu quả mànguyên nhân là do sự phát triển một cách ồ ạt của các CCN, quy hoạch thiếu đồng bộ,thiếu tầm nhìn chiến lược, buông lỏng công tác quản lý dẫn đến sự phân hóa giữa trong

và ngoài CCN về mọi mặt, sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các CCN…

Khi khai thác và sử dụng các tài nguyên có lợi thế của địa phương không hợp lý,làm xáo trộn tình hình kinh tế-xã hội của địa phương Đặc biệt đối tượng chịu ảnh hưởng

Trang 14

nhiều nhất là những người khó khăn, nông dân mất đất sản xuất, thất nghiệp, thiếu trìnhđộ…Điều này sẽ gây ảnh hưởng tới an ninh lương thực và các vấn đề xã hội khác.

Thứ hai, phát triển CCN sẽ ảnh hưởng tới vấn đề di dân, an ninh, trật tự xã hội ở

nhiều vùng kinh tế Khi mà CCN được xây dựng lên sẽ thu hút một lượng lớn lao động từkhắp nơi di dân đến tạo thành một luồng di dân lớn Chính điều này sẽ kéo theo hàng loạtcác vấn đề xã hội đảm bảo cuộc sống như điện, đường, trường, trạm…và cũng nảy sinhnhiều tệ nạn xã hội như ma túy, mại dâm, trộm cắp…

Thứ ba, phát triển CCN sẽ ảnh hưởng tới ô nhiễm môi trường

Về cơ bản khi mà tập trung quá nhiều doanh nghiệp với nhiều loại hình sản xuấtkhác nhau thì cho dù CCN tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết và kiểm soát các tácđộng xấu về môi trường thì nó vẫn gây ra một tác động nhất định đến môi trường Thực

tế tại nhiều CCN nước thải, khói và chất rắn đã gây ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm đất,không khí đối với vùng kinh tế đó, ảnh hưởng đến đời sống nhân dân, gây tổn hại về kinh

tế và gây bức xúc về mặt xã hội

Do vậy đòi hỏi Nhà Nước và các cấp, các nghành có những chính sách cũng như

tổ chức tốt việc phòng chống ô nhiễm, nếu không sẽ gây ra những tác động tiêu cực đếnđời sống, sức khỏe của người dân sống trong khu vực có CCN

1.2 Lý luận về đô thị hóa

1.2.1 Quan niệm về đô thị hóa

Đô thị hóa là xu thế tất yếu của mọi quốc gia trên con đường phát triển Nhữngnăm cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, ở những mức độ khác nhau và với những sắc tháikhác nhau, làn sóng đô thị hóa tiếp tục lan rộng như là một quá trình kinh tế-xã hội toànthế giới-quá trình mở rộng thành phố, tập trung dân cư, thay đổi các mối quan hệ xã hội;

mở rộng giao dịch, phát triển lối sống và văn hóa đô thị Vì vậy, quá trình đô thị hóađược xem như là một vấn đề quan trọng mang tính chất thời đại mà các quốc gia trên thếgiới đều tập trung nghiên cứu

Theo tiến sỹ Guoming Wen (Trung Quốc), đô thị hóa là một quá trình chuyển đổimang tính lịch sử tư liệu sản xuất và lối sống con người từ nông thôn vào thành phố.Thường quá trình này được nhìn nhận như là sự di cư của nông dân nông thôn đến các đô

Trang 15

thị và quá trình tiếp tục của bản thân các đô thị Ông cũng cho rằng trong thực tế đô thịhóa là một quá trình phức tạp hơn nhiều bởi tiến trình này đã bộc lộ không ít dấu hiệu củatình trạng quá nóng và những vấn đề tìm ẩn, như áp lực gia tăng với việc làm và an ninh

xã hội, tình trạng bong bóng xà phòng trong lĩnh vực bất động sản buộc chính phủ TrungQuốc phải hãm phanh xu hướng này thông qua việc xem xét một cách cẩn trọng và từngbước kiểm soát đối với quá trình đô thị hóa [8]

Theo tiến sỹ Jung Duk (Hàn Quốc) cho rằng đô thị hóa là sự gia tăng dân số chủyếu từ nông thôn ra thành thị mà trước đây, thế hệ trẻ rời bỏ nông thôn với mục đích tìmkiếm việc làm, cơ hội giáp dục và những thú vui, tiện nghi nơi đô thị, trong giai đoạn banđầu công nghiệp hóa (1967-1975) [8]

Ở Việt Nam quá trình đô thị hóa tuy diễn ra khá sớm, ngay từ thời trung đại với sựhình thành một số đô thị phong kiến, song do nhiều nguyên nhân khác nhau mà quá trình

đó diễn ra chậm chạp, mức độ phát triển dân cư thành thị thấp

Thập kỷ cuối thế kỷ XX mở ra bước phát triển mới của đô thị hóa ở Việt Nam với

sự kiện Quốc Hội Việt Nam ban hành Luật Doanh Nghiệp (2000), luật đất đai (2003),luật đầu tư (2005), Chính phủ ban hành về Nghị định về Quy chế KCN, KCX (1997)…đãlàm cho nguồn vốn đầu tư trong nước và quốc tế tăng lên, gắn theo đó là sự ra đời ồ ạtcủa các KCN, CCN, đô thị mới và kết cấu hạ tầng ngày càng được cải thiện ở cả thành thị

và nông thôn

Ở nước ta đô thị hóa được xem là quá trình phát triển, mở rộng mạng lưới đô thị,gắn với quá trình tăng trưởng và phát triển về không gian, dân số đô thị và tăng trưởngkinh tế theo hướng phi nông nghiệp, nó được tính theo tỷ lệ phần trăm giữa số dân đô thịhay diện tích đô thị trên tổng số dân hay diện tích của một vùng hay khu vực (gọi là mức

độ đô thị hóa) hoặc được tính theo tỷ lệ gia tăng của hai yếu tố đó theo thời gian (tốc độ

đô thị hóa)

Như vậy có nhiều khái niệm khác nhau về đô thị hóa nhưng giữa các khái niệmđều thống nhất ở chỗ:

Một là sự tăng lên của dân cư thành thị Sự tăng lên này theo các dòng chính: sự

tăng dân số tự nhiên của dân cư đô thị, dòng di cư từ nông thôn ra thành thị và điều chỉnh

Trang 16

về biên giới lãnh thổ hành chính của đô thị Ba dòng này có vai trò và vị trí khác nhautheo từng giai đoạn lịch sử cụ thể.

Hai là, đô thị hóa mở rộng không gian đô thị, không gian kiến trúc Mở rộng

không gian đô thị là một tất yếu đối với các đô thị trên thế giới trong quá trình đô thị hóa

Đó cũng có thể là đô thị sát nhập vào đô thị hoặc đô thị hóa mở rộng ra ngoại thành hoặclân cận Mở rộng không gian đô thị cũng mang tính chất lịch sử, tùy quan niệm của mỗiquốc gia

1.2.2 Tính tất yếu của đô thị hóa

Ở bất kỳ quốc gia nào dù là nước phát triển hay đang phát triển, khi thực hiệnchuyển đổi từ nền kinh tế nông nghiệp sang công nghiệp, thực hiện chiến lược CNH,HĐH đều phải gắn liền với đô thị hóa Đây được xem như là một quy luật tất yếu của nềnkinh tế thế giới

Trong lịch sử cận đại thì đô thị hóa trước hết là hệ quả trực tiếp của quá trình CNHTBCN và sau này là kết quả của quá trình cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng hiện đại hóa:tăng tỷ trọng ngành CN-DV, giảm tỷ trọng ngành nông-lâm-ngư-nghiệp

Thực tiễn đã chứng minh nhiều quốc gia trên thế giới trước khi phát triển hiện đạinhư hiện nay đều tiến hành đô thị hóa để tạo ra kết cấu hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, kết cấu

hạ tầng xã hội vững chắc, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân

Như vậy đô thị hóa là một quá trình khách quan, phù hợp với đặc điểm tình hìnhchung của mỗi quốc gia và là một quá trình mang tính lịch sử toàn cầu và không thể đảongược của sự phát triển xã hội, là mục tiêu chung của nền văn minh thế giới

1.2.3 Đặc điểm của đô thị hóa

Đô thị hóa mang tính xã hội và lịch sử, là sự phát triển về quy mô, số lượng, nângcao vai trò của đô thị trong khu vực và hình thành các chùm đô thị

Đô thị hóa gắn liền với những biến đổi sâu sắc về kinh tế-xã hội của đô thị vànông thôn trên cơ sở phát triển công nghiệp, giao thông, vận tải, xây dựng, dịch vụ…dovậy đô thị hóa không thể tách rời chế độ kinh tế-xã hội

Trang 17

Đô thị hóa nông thôn là xu hướng bền vững có tính quy luật, là quá trình phát triểnnông thôn và phổ biến lối sống thành thị cho nông thôn Thực chất của quá trình này làtăng trưởng đô thị theo hướng bền vững.

Đô thị hóa ngoại vi là quá trình phát triển mạnh vùng ngoại vi của thành phố dokết quả phát triển công nghiệp, kết cấu hạ tầng…tạo ra các cụm đô thị nhằm đẩy nhanhquá trình đô thị hóa nông thôn

Đô thị hóa giả tạo là sự phát triển của thành phố do tăng quá mức dân cư đô thị vàdân cư từ các vùng khác tới đặc biệt là từ nông thôn…dẫn đến thất nghiệp, thiếu nhà ở,giảm chất lượng cuộc sống, ô nhiễm môi trường…

1.3 Mối quan hệ giữa phát triển CCN và quá trình đô thị hóa

1.3.1 Các nhân tố tác động đến việc phát triển CCN trong tiến trình đô thị hóa

Thứ nhất là sự phát triển của lực lượng sản xuất

Trong quá trình hình thành và phát triển CCN cũng như trong tiến trình đô thị hóaluôn luôn có sự tác động mạnh mẽ của sự phát triển của LLSX Đây là nhân tố cơ bảnnhất của phát triển kinh tế xã hội Bởi sự phát triển của LLSX với mức độ nhất định đãquy định sự vận động đi lên của xã hội, tạo ra sự chuyển tiếp từ phương thức sản xuất nàysang phương thức sản xuất khác quy định trình độ của từng yếu tố bên trong của phươngthức sản xuất đó

Biểu hiện của trình độ của LLSX là trình độ kỹ thuật và năng suất của tư liệu sảnxuất, ở trình độ lành nghề và tri thức chung của người lao động, ở trình độ phát triển củakhoa học công nghệ và khả năng ứng dụng chúng trong kỹ thuật và công nghệ sản xuất

Sự phát triển LLSX trong CCN về thực chất là quá trình chuyển giao phương thứcsản xuất, từ việc manh nhún, nhỏ lẻ sang sản xuất tập trung, có năng suất cao Và thưcchất của quá trình đô thị hóa chuyển từ xã hội nông thôn sang xã hội công nghiệp, chuyển

từ phương thức sản xuất nông nghiệp sang phương thức sản xuất phi nông nghiệp Vậykhi phát triển CCN trong tiến trình đô thị hóa thì vấn đề đặt ra ở đây là trình độ củaLLSX có theo kịp hay không, các yếu tố của LLSX có phát triển kịp để đáp ứng các yêucầu dặt ra hay không

Trang 18

Thứ hai, là sự phát triển của KH-CN

Trong những năm gần đây, sự phát triển của KH-CN diễn ra với tốc độ ngày càngnhanh, chu kỳ sống của một công nghệ ngày càng bị rút ngắn Đối với nước ta là mộtnước nông nghiệp sản xuất manh nhún, nhỏ lẻ, trình độ KH-CN lạc hậu, chưa có nền sảnxuất hiện đại Việc thực hiện tiến trình đô thị hóa đòi hỏi cần phải đẩy nhanh quá trìnhchuyển biến từ nền kinh tế nông nghiệp sang một nền kinh tế công nghiệp Điều này cóquan hệ mật thiết với sự phát triển KH-CN, bởi KH-CN là lực lượng sản xuất trực tiếp vàhàng đầu của nền kinh tế toàn cầu

Đối với CCN việc áp dụng các dây chuyền công nghệ mới với công suất lớn vàhiện đại sẽ tạo điều kiện phát triển sản xuất, nâng cao năng suất và đẩy nhanh quá trìnhtập trung sản xuất Và ngược lại việc phát triển các CCN sẽ tạo điều kiện thúc đẩy và đổimới công nghệ, đưa công nghệ vào phục vụ sản xuất Do vậy giữa KH-CN và CCN cómối quan hệ chặt chẽ tác động qua lại lẫn nhau cùng phát triển nhằm đẩy nhanh quá trình

đô thị hóa

Thứ ba là tính đa dạng của sản phẩm hàng hóa

Đối với nước ta khi thực hiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa từ một nền sản xuất nhỏ, lạc hậu thì quá trình nâng cao trình độ xã hội hóa sảnxuất là xu hướng tất yếu Vì vậy, để thực hiện quá trình xã hội hóa sản xuất đòi hỏi phảituân thủ các quy luật khách quan của nền sản xuất hàng hóa, đó là đẩy mạnh, phân cônglại lao động xã hội, đa dạng các hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế và các hình thức

tổ chức kinh tế

Đây chính là quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường mà việc thành lập vàphát triển CCN cần tuân theo để tránh chủ quan, áp đặt trong việc phát triển sản xuất Đểthực hiện điều này, trong các CCN cần phải đa dạng hóa các sản phẩm sản xuất, các hìnhthức mẫu mã sản phẩm và các hình thức sở hữu trong CCN Đến lượt nó, chính sự đadạng của các sản phẩm hàng hóa sẽ tác động tích cực thúc đẩy sự phát triển của CCN vàquá trình đô thị hóa

Thứ tư là vai trò của các cơ quan quản lý nhà nước với các chính sách vĩ mô.

Trang 19

Chính sách là một loại quyết định quản lý mà tầm ảnh hưởng của nó rộng lớn hơncác quyết định tác nghiệp, đó là những quyết định chung, hướng dẫn đối tượng quản lýthực hiện mục tiêu quản lý.

Để thực hiện mục tiêu phát triển CCN mỗi địa phương đều có các chính sách riêngcho việc xây dựng và phát triển các CCN Đó là các quyết định về công tác quy hoạchphát triển CCN, các quyết định về thu hút đầu tư, tạo lập môi trường phù hợp với pháttriển kinh tế của địa phương, đảm bảo sự phân bố hợp lý về lực LLSX, sử dụng có hiệuquả các nguồn lực tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh tế nhằm thực hiện chủtrương đô thị hóa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo mục tiêu đề ra

Trong quá trình xây dựng và phát triển CCN thì vai trò của Nhà Nước thể hiện ở

ba chức năng là hoạch định, điều hành và tham gia trực tiếp vào đó Mặc dù CCN có thể

do Nhà nước hoặc tư nhân sở hữu nhưng nó đều là đối tượng quản lý của Nhà nước Vaitrò này của Nhà nước được thực hiện trên cơ sở chiến lược kinh tế-xã hội chung và chiếnlược phát triển công nghiệp của đất nước, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả, quy mô vàtốc độ phát triển của các CCN trong tiến trình đô thị hóa ở các địa phương trên cả nước

Thứ năm, bên cạnh các yếu tố vĩ mô trên thì việc hình thành và phát triển CCN

còn chịu tác động của các yếu tố vi mô liên quan đến đơn vị kinh doanh hạ tầng và doanhnghiệp sản xuất, kinh doanh trong CCN Bao gồm:

Một, chất lượng dự án và tiến độ công tác đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng trong

CCN của đơn vị kinh doanh hạ tầng

Hai, trình độ công nghệ, lĩnh vực và quy mô, tiến độ triển khai các dự án sản xuất,

kinh doanh của các doanh nghiệp trong CCN

1.3.2 Sự cần thiết phải phát triển CCN trong tiến trình đô thị hóa

Sự cần thiết phải phát triển CCN trong tiến trình đô thị hóa là một yêu cầu kháchquan trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở nước ta hiện nay Đó là vì:

Thứ nhất đô thị hóa là kết quả tất yếu của sự phát triển KT-XH, nó diễn ra cùng

với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ.Nhịp độ của đô thị hóa phụ thuộc vào trình độ phát triển của KT-XH và đồng thời quátrình đô thị hóa cũng tác động trở lại quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế

Trang 20

Thứ hai phát triển CCN nhằm tạo đà tăng trưởng công nghiệp, tăng nguồn hàng

xuất khẩu, tạo việc làm, từng bước phát triển công nghiệp theo quy hoạch, tránh tự phát,phân tán, tiết kiệm đất, sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư phát triển hạ tầng, hạn chế ônhiễm môi trường Đồng thời thúc đẩy các cơ sở sản xuất dịch vụ cùng phát triển, làm cơ

sở cho việc phát triển đô thị công nghiệp, phân bố hợp lý LLSX và đẩy nhanh quá trìnhchuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng đô thị hóa

Như vậy giữa phát triển CCN và quá trình đô thị hóa có mối quan hệ biện chứngtác động qua lại lẫn nhau Điều này được thể hiện ở các mặt sau:

Một là phát triển CCN góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế, chuyển

dịch cơ cấu kinh tế theo hướng đô thị hóa, phát triển công nghiệp và dịch vụ Tăng trưởngkinh tế là điều kiện để hình thành các đô thị mới, cải thiện kết cấu hạ tầng, nâng cao đờisống nhân dân và nhất là tập trung dân cư từ đó hình thành nên quá trình đô thị hóa

Hai là quá trình đô thị hóa sẽ thúc đầy các CCN phát triển, được mở rộng và gia

tăng sản xuất Bởi khi mà quá trình đô thị hóa diễn ra sẽ kéo theo việc hình thành nhữngtrung tâm về khoa học công nghệ, vốn, nguồn nhân lực cho các địa phương, vùng và khuvực, tạo điều kiện cho CCN có thể tận dụng được các lợi thế sẵn có để tiếp tục phát triển

mở rộng

1.4 Kinh nghiệm phát triển cụm công nghiệp ở một số địa phương

1.4.1 Kinh nghiệm phát triển CCN của huyện Đại Lộc tỉnh Quảng Nam

Đại Lộc nằm về phía tây bắc Quảng Nam, cách trung tâm thành phố Đà Nẵng 25

km về phía tây nam, cách sân bay Chu Lai, cảng Kỳ Hà, khu kinh tế mở Chu Lai gần 120

km về phía nam, nằm trên trục hành lang kinh tế Đông-Tây, nối các tỉnh Tây Nguyên,của khẩu quốc tế Bờ Y-Kon Tum, Đắc Tà Oóc-Nam Giang về thành phố Đà Nẵng và cáctỉnh duyên hải miền Trung

Kể từ khi có chủ trương phân cấp quy hoạch, quản lý điều hành phát triển cácCCN của tỉnh Quảng Nam thì huyện Đại Lộc đã nhanh chóng quy hoạch mạng lưới cácCCN trên địa bàn và đây được xem là địa phương phát triển kinh tế-xã hội theo mô hìnhCCN thành công nhất ở Quảng Nam

Trang 21

Đến năm 2011 toàn huyện Đại Lộc có 18 CCN vừa và nhỏ, với tổng diện tích 875

ha, Đại Lộc đã tiến hành quy hoạch và phê duyệt chi tiết 12 CCN với quy mô 276 ha, thuhút được 36 dự án, với tổng vốn đăng ký là 3.630 tỷ đồng; trong đó có 2 sự án FDI(100% vốn nước ngoài) Hiện đã có 19 dự án đi vào sản xuất ổn định và hoạt động kháhiệu quả; 6 dự án đang đầu tư cơ sở hạ tầng, nhà xưởng; 3 dự án đang triển khai giảiphóng mặt bằng, 8 dự án thõa thuận địa điểm đầu tư

Tổng vốn đầu tư của 28 dự án đã thực hiện đến năm 2011 đạt 2.845 tỷ đồng chiếm74% tổng vốn đăng ký Đại Lộc đã và đang xúc tiến các hoạt động đầu tư vào các lĩnhvực như: xây dựng và kinh doanh khu du lịch cao cấp, khu vui chơi giải trí; đầu tư xâydựng và kinh doanh đô thị mới; các dự án thuộc lĩnh vực tài chính-ngân hàng…

Như vậy, với việc chọn triển khai đầu tư phát triển CCN của Đại Lộc trong nhữngnăm qua là chủ trương đúng đắn phù hợp với thực tiễn ở địa phương, từng bước giảiquyết việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và góp phần thay đổi diện mạo của Đại Lộcvốn trước đây là một huyện thuần nông Với thực tiễn hình thành và phát triển CCN trongnhững năm qua của huyện Đại Lộc những kinh nghiệm rút ra là:

Một là, coi trọng công tác quy hoạch phát triển các CCN Có sự phối hợp đồng bộ

giữa các cơ quan với nhau để đẩy nhanh tiến độ thành lập và xây dựng CCN Quy hoạchtổng thể và quy hoạch chi tiết các CCN trong từng giai đoạn mang tính ổn định cao, gắnquy hoạch CCN của địa phương với quy hoạch phát triển chung của tỉnh

Hai là, coi trọng việc thu hút đầu tư vào các CCN một cách hợp lý, đa dạng các

hình thức đầu tư vốn như từ ngân sách nhà nước, các nhà đầu tư trong và ngoài nước.Thực hiện các chính sách ưu đãi đối với các nhà đầu tư vào CCN như: công bố đầy đủcác thông tin để các nhà đầu tư nắm rõ; rút ngắn thời gian thực hiện và cải cách các thủtục hành chính, trợ giúp tốt nhất cho các nhà đầu tư yên tâm dầu tư vào CCN; hỗ trợ chiphí cho các nhà đầu tư…

Ba là, giải quyết các vấn đề liên quan đến việc thu hồi đất và giải quyết việc làm

cho người dân sau khi thu hồi đất Đưa nông dân vào làm việc trong các CCN, ưu tiêngiải quyết việc làm cho người dân địa phương

Trang 22

Bốn là huyện luôn gắn kết và giải quyết các vấn đề phát triển CCN với các mục

tiêu, kế hoạch phát triển KT-XH của huyện cũng như của tỉnh Giải quyết một cách hàihòa các mối quan hệ giữa phát triển CCN lợi ích của nhân dân, của địa phương và lợi íchcủa nhà đầu tư [3]

1.4.2 Kinh nghiệm phát triển CCN của tỉnh Thừa Thiên Huế

Thừa Thiên Huế là một tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm miền trung, phíaBắc giáp Quảng Trị, phía Nam giáp Đà Nẵng và Quảng Nam Thừa Thiên Huế nằm trêntrục hành lang kinh tế Đông Tây nối Thái Lan, Việt Nam, Lào theo đường số 9 Đây làlợi thế giúp cho tỉnh Thừa Thiên Huế thuận lợi trong giao lưu kinh tế, chính trị, văn hóavới các địa phương trong và ngoài nước

Đến năm 2011 toàn tỉnh đã phê duyệt quy hoạch tổng thể được 16 CCN và hiện đã

có 5 CCN đã được thành lập và trong đó có 3 cụm công nghiệp đã đi vào hoạt động vớidiện tích là 109,9 ha Đa số các CCN ở tỉnh này đều là CCN vừa và nhỏ tuy nhiên trong

đó vẫn có CCN Thủy Phương đã được xây dựng với quy mô lên đến 134,09 ha trong khiquy chế quản lý của Thủ Tướng chính phủ đã quy định CCN có quy mô diện tích khôngquá 75 ha

Tổng vốn đầu tư của CCN đến năm 2011 đạt 600,76 tỷ đồng trong đó chủ yếu làhoạt động sản xuất của các DN tư nhân, giải quyết việc làm cho hơn 2.300 lao động tạiđịa phương với mức lương tối thiểu là 2 triệu đồng/1 tháng/1 người

Với thực trạng phát triển như vậy thì bài học của Thừa Thiên Huế là:

Một là thực hiện tốt công tác quy hoạch và phát triển CCN, kết hợp gữa quy hoạch

phát triển CCN của cả nước với quy hoạch phát triển của tỉnh, giữa chỉ tiêu KT-XH của

cả nước với chỉ tiêu của tỉnh

Hai là đối với công tác xây dựng hạ tầng kỹ thuật và giải phóng mặt bằng thì tỉnh

đã ban hành các chính sách ưu đãi như:

Về hỗ trợ bồi thường, giải phóng mặt bằng đối với các dự án đầu tư xây dựng vàkết cấu hạ tầng trong các CCN, UBND tỉnh khuyến khích nhà đầu tư ứng trước kinh phíbồi thường để thực hiện dự án, sau đó khoản kinh phí này được trừ vào tiền sử dụng đất,tiền thuê đất nộp cho ngân sách nhà nước

Trang 23

Về xây dựng hạ tầng khu tái định cư cho người dân sau khi thu hồi đất, tỉnh hỗ trợđầu tư toàn bộ hạ tầng khu tái định cư Trong trường hợp nhà đầu tư đã ứng trước kinhphí để thực hiện xây dựng hạ tầng khu tái định cư thì được tỉnh hoàn trả ngay sau khithực hiện xong công tác tái định cư.

Tỉnh đã hỗ trợ các công trình kết cấu hạ tầng ngoài hàng rào cho các dự án đầu tưxây dựng, kinh doanh kết cấu hạ tầng KCN, CCN Về giao thông, tỉnh hỗ trợ xây dựngcông trình giao thông và công trình trên tuyến từ trục chính đến chân hàng rào dự án Cụthể, các dự án đầu tư vào huyện Nam Đông và A Lưới được hỗ trợ 100% giá trị dự toán,các dự án đầu tư vào địa bàn các huyện Hương Trà, Phú Vang, Quảng Điền, Phong Điền,Phú Lộc được hỗ trợ 60% giá trị dự toán ngay sau khi dự án triển khai hoàn thành côngtác xây lắp trên thực địa Về điện, nước, viễn thông phục vụ sản xuất, UBND tỉnh chỉ đạocác ngành đầu tư toàn bộ đến chân hàng rào dự án Đối với các công trình hạ tầng điệnphục vụ trong giai đoạn thi công dự án, nguồn kinh phí thực hiện do nhà đầu tư ứng trước

và được tỉnh hoàn trả 100% ngay sau khi dự án triển khai công tác xây lắp trên thực địa

UBND tỉnh giảm giá thuê đất cho các dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kếtcấu hạ tầng trong các KCN và CCN Các dự án này được thuê đất với mức đơn giá thấpnhất theo công bố giá đất hàng năm của UBND tỉnh và được miễn tiền thuê đất 11 năm

kể từ ngày hoàn thành, đưa dự án vào hoạt động

Với những chính sách ưu đãi đó, các hệ thống hạ tầng kỹ thuật như: đường giaothông, hệ thống điện, hệ thống cấp nước, viễn thông đến bên ngoài hàng rào các KCN,CCN đã được xây dựng tương đối hoàn chỉnh Tạo điều kiện để các CCN nhanh chóngđược thành lập và đi vào hoạt động

Ba là, với công tác thu hút đầu tư và cho thuê lại đất công nghiệp trong các CCN

thì tỉnh đã có các chính sách như sau:

Để thu hút đầu tư, UBND tỉnh Thừa Thiên Huế dã ban hành Quyết định số1130/2008/QĐ–UBND và Quyết định 1337/2009/QĐ–UBND Trong đó, tỉnh đã quyđịnh các chính sách ưu đãi cụ thể khi đầu tư vào các địa bàn có điều kiện kinh tế, xã hộikhó khăn và các CCN

Trang 24

Tỉnh đã giảm giá thuê đất so với giá đất do UBND tỉnh ban hành hàng năm chocác dự án đầu tư vào các CCN Cụ thể là so với giá đất do UBND tỉnh ban hành hàngnăm, đơn giá thuê đất một năm tại thành phố Huế được tính bằng 0.65%, đơn giá thuê đấtmột năm tại huyện Hương Thuỷ được tính bằng 0.50%, đơn giá thuê đất một năm thuộccác huyện: Phong Điền, Quảng Điền, Hương Trà, Phú Vang, Phú Lộc được tính bằng0.35% (đối với đất tại các xã) và 0.50% (đối với đất tại các thị trấn), đơn giá thuê đất mộtnăm thuộc các huyện: Nam Đông, A Lưới được tính bằng 0.25% (đối với đất tại các xã)

và 0.35% (đối với đất tại các thị trấn) Bên cạnh đó, tỉnh có chính sách ưu đãi về thuế thunhập doanh nghiệp

Như vậy, chính nhờ vào những chính sách ưu đãi như vậy mà số lượng các dự ánđầu tư vào các CCN trên địa bàn tỉnh ngày càng tăng

Bốn là, nhận thấy được vai trò quản lý Nhà nước đối với hoạt động của các CCN.

UBND tỉnh Thừa Thiên Huế đã ban hành Quyết định số 09/2010/QĐ–UBND, ngày

10/3/2010 về việc ban hành Quy chế phối hợp quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế Quyết định này quy định một số nội dung hoạt

động phối hợp về quản lý nhà nước trong các KCN của tỉnh trên các lĩnh vực: đầu tư; quyhoạch và xây dựng; đất đai và bồi thường giải phóng mặt bằng; quản lý môi trường; khoahọc và công nghệ; lao động; an ninh trật tự, phòng cháy, chữa cháy; tài chính; thanh tra,kiểm tra giữa Ban Quản lý các KCN tỉnh với các cơ quan chuyên môn của UBND tỉnh vàUBND các huyện, thành phố Huế

Bên cạnh đó tỉnh đã thành lập các ban quản lý CCN theo chủ trương của bộ côngthương, đối với các CCN nhỏ thì huyện trực tiếp quản lý Chính điều này đã phân cấpquản lý cho các CCN đối với các nhà đầu tư, các doanh nghiệp hoạt động trực tiếp trongCCN, nhanh chóng giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quá trình hoạt động củaCCN[14]

1.4.3 Kinh nghiệm phát triển cụm công nghiệp của Nghệ An

Nghệ An là tỉnh nằm ở vùng Bắc Trung Bộ, với diện tích 16.470 km2, dân số hơnhơn 2,9 triệu người, là đầu mối trung tâm của vùng, nằm trên trục giao thông chính nốiliền Bắc - Nam, có hệ thống giao thông phát triển, đường bộ, đường sắt xuyên quốc gia;

Trang 25

có 3 tuyến quốc lộ sang nước bạn Lào: quốc lộ 46 nối với của khẩu Thanh Thủy, quốc lộ

7 nối với cửa khẩu Nậm Cắn, quốc lộ 48 nối với của khẩu Thông Thụ, có sân bay phục

vụ cho cả khu vực Bắc miền trung với 5 chuyến bay/ngày đi Thành phố Hồ Chí Minh, 2chuyến/ngày đi Hà Nội; Cảng biển Cửa Lò cách thành phố Vinh 14km, đã có 4 bến chotàu 1 vạn tấn ra vào Cảng nước sâu Cửa Lò đã được khởi công xây dựng cho tàu 3-5 vạntấn ra vào Cảng Đông Hồi đang chuẩn bị khởi công xây dựng phục vụ cho tàu 3-5 vạntấn Hệ thống giao thông tỉnh lộ, các tuyến đường lớn nối 3 vùng kinh tế trọng điểm đã vàđang được xây dựng, tạo thuận lợi cho phát triển các cụm công nghiệp và phát triển kinh

tế - xã hội của tỉnh

Đến năm 2011 toàn tỉnh Nghệ An có 14 CCN đã phê duyệt dự án đầu tư hạ tầng

kỹ thuật và đang hoạt động; có 10 CCN đã được phê duyệt dự án đầu tư hạ tầng kỹ thuật

và đang thực hiện đầu tư xây dựng Có 7 CCN đã lập quy hoạch chi tiết xây dựng vàđược phê duyệt

Đối với 14 CCN đang hoạt động: tổng diện tích quy hoạch là 185,8 ha, trong đó

diện tích giành cho sản xuất công nghiệp 141 ha, chiếm xấp xỉ 75%; Tổng số vốn đầu tưtheo dự án phê duyệt 544,2 tỷ đồng; đã thu hút 113 dự án đầu tư chủ yếu là các lĩnh vựcnhư chế biến khoáng sản, lâm sản, may dệt kim, gia công cơ khí, tái chế kim loại, tái chế

và sản xuất sản phẩm nhựa, sản xuất bao bì; loại hình doanh nghiệp và mức đầu tư chủyếu là quy mô nhỏ và vừa và tổng mức đầu tư các doanh nghiệp cụm công nghiệp đạt1.913 tỷ đồng, bình quân 15-20 tỷ đồng/doanh nghiệp

Năm 2011 giá trị sản xuất của các doanh nghiệp CCN đạt xấp xỉ 1.000 tỷ đồngchiếm 12 % giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh Thu ngân sách tại các doanh nghiệpcụm công nghiệp đạt khoảng 75 tỷ đồng

Những bài học kinh nghiệm rút ra từ thành công trong việc hình thành và pháttriển các CCN của tỉnh Nghệ An trong thời gian qua là:

Một là tỉnh Nghệ An đã sớm nhận thức được vai trò của CCN trong việc thu hút

đầu tư để phát triển công nghiệp, thúc đẩy phát triển kinh tế, đẩy nhanh quá trình đô thịhoá ở các huyện, thành phố, thị xã; tạo điều kiện khai thác các tiềm năng và các nguồn

Trang 26

lực sẵn có của từng địa phương Theo đó, tỉnh đã có các chủ trương phát triển CCN mộtcách mạnh mẽ và chặt chẽ.

Hai là để CCN phát triển theo đúng quy hoạch đã được phê duyệt, tỉnh đã sớm ban

hành chính sách hỗ trợ như: hỗ trợ kinh phí lập quy hoạch chi tiết từ 100 - 120 triệu đồng/cụm; bồi thường giải phóng mặt bằng 100 triệu đồng/ha; dầu tư hạ tầng kỹ thuật trongCCN 3 tỷ đồng/cụm… Với các chính sách như vậy đã tạo điều kiện cho các CCN hìnhthành và phát triển một cách nhanh chóng và hiệu quả

Ba là tỉnh luôn tăng cường công tác quản lý của các cơ quan quản lý Nhà Nước

đối với các hoạt động của CCN và các doanh nghiệp đã đầu tư sản xuất nhất là tập trungvào việc xử lý vi phạm đầu tư sai quy định, thiết kế; thường xuyên kiểm tra đánh giá việcbảo đảm môi trường; thực hiện hỗ trợ cho doanh nghiệp trong CCN [5]

1.4.4 Những bài học kinh nghiệm đối với huyện Điện Bàn tỉnh Quảng Nam trong phát triển CCN

Từ những thành công và bài học của các địa phương trên trong việc phát triểnCCN có thể rút ra bài học cho huyện Điện Bàn tỉnh Quảng Nam như sau:

Thứ nhất là ưu tiên xây dựng chiến lược phát triển CCN phải dựa trên cơ sở kế

hoạch phát triển KT-XH, chiến lược phát triển công nghiệp của địa phương, chiến lượcphát triển CCN phải gắn liền với việc nghiên cứu tổng hợp các điều kiện tự nhiên-xã hội

và chiến lược phát triển kinh tế chung Tùy từng thời kỳ mà có chiến lược phát triển phùhợp

Đồng thời với phát triển CCN phải đảm bảo sử dụng có hiệu quả các nguồn lực vàbảo vệ môi trường sinh thái Huyện phải có các chủ trương, chính sách cần thiết để thiếtlập môi trường chính trị ổn định, an toàn để các nhà đầu tư yên tâm khi đầu tư vào cácCCN

Thứ hai, đảm bảo các công tác phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật, cần phải trang bị

cho các CCN một hệ thống kết cấu hạ tầng tốt, thông tin liên lạc nhanh chóng; cung cấpđiện, nước ổn định giá cả hợp lý Phải xây dựng một hệ thống hỗ trợ cho hoạt động củaCCN như tài chính, dịch vụ vận tải…

Trang 27

Thứ ba, xây dựng và áp dụng các biện pháp ưu đãi kinh tế xuất phát từ lợi ích của

địa phương và lợi ích lâu dài của các nhà đầu tư Các biện pháp ưu đãi kinh tế áp dụng tạiCCN phải đảm bảo tính cạnh tranh cao đối với ngoài CCN; bình đẳng các bên cùng cólợi, được thể chế hóa về mặt pháp lý Đồng thời các biện pháp này cũng được điều chỉnhlinh hoạt để theo kịp những biến động, thay đổi tình hình chính trị, KT-XH Các ưu đãi

về kinh tế tuy hấp dẫn, tính cạnh tranh cao nhưng cũng cần phải đảm bảo tính ổn định lâudài để đảm bảo quyền lợi của nhà đầu tư

Thứ tư, phải cải cách chính sách quản lý thích hợp tạo thuận lợi cho nhà đầu tư.

Quản lý nhà nước đối với CCN phải được xây dựng phù hợp với thể chế, điều kiện vàhoàn cảnh của từng địa phương Xây dựng bộ máy quản lý phải gọn nhẹ, đơn giản, cóđầy đủ chức năng, quyền hạn để đưa ra các quyết định kịp thời trước nhũng yêu cầu củacác nhà đầu tư trong các hoạt động kinh tế, đồng thời có thể giám sát, quản lý có hiệu quảcác hoạt động kinh tế trong CCN

Thứ năm, phải thường xuyên thực hiện các chính sách về xúc tiến và vận động

đầu tư Đây là hoạt động nhằm giới thiệu môi trường đầu tư, hệ thống pháp luật, ưu đãi

và các điều kiện đầu tư vào CCN nhằm rút ngắn thời gian tìm hiểu, đi lại của nhà đầu tư

Trang 28

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CỤM CÔNG NGHIỆP Ở HUYỆN ĐIỆN BÀN TỈNH QUẢNG NAM

2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Điện Bàn tỉnh Quảng Nam 2.1.1 Điều kiện tự nhiên

2.1.1.1 Vị trí địa lý

Điện Bàn là một huyện đồng bằng ven biển, có diện tích tự nhiên 214,709 km2, có

vị trí địa lý-kinh tế đặc biệt quan trọng của tỉnh Quảng Nam và vùng kinh tế trọng điểmMiền Trung Với vị trí tại cửa ngõ phía Bắc của tỉnh Quảng Nam, (giáp ranh thành phố

Đà Nẵng và thành phố Hội An), là vùng giao thoa của các hoạt động kinh tế, thương mại

và du lịch tầm cỡ quốc gia, quốc tế thông qua hệ thống cảng Tiên Sa, sân bay quốc tế ĐàNẵng, hành lang giao thông Bắc-Nam, các khu công nghiệp tập trung, Đô thị mới ĐiệnNam-Điện Ngọc, hệ thống làng nghề phát triển và 2 di sản văn hoá thế giới là Hội An và

Mỹ Sơn Với những lợi thế chiến lược trên, trong thời gian qua Điện Bàn đã là điểm đếnquan trọng và hấp dẫn đối với khu vực đầu tư du lịch, công nghiệp và dịch vụ của tỉnh

Được xác định trong Chiến lược phát triển Vùng kinh tế trọng điểm Miền Trung,

huyện Điện Bàn nằm ở vị trí trung độ của vùng trọng điểm có vai trò truyền tải và kết nối các hoạt động kinh tế-văn hoá và xã hội giữa thành phố Đà Nẵng, thành phố Hội

An, giữa khu vực ven biển với các huyện phía Tây của Tỉnh, với chiến lược phát triểntrọng tâm là kinh tế biển; hình thành trung tâm du lịch biển mang tầm vóc quốc gia, quốc

tế, với khả năng hình thành hành lang thương mại quốc tế

2.1.1.2 Tài nguyên thiên nhiên

- Tài nguyên đất: Đất nông nghiệp 10.105,33 ha, chiếm 47,06%; đất phi nôngnghiệp 8.334,20 ha, chiếm 38,82%; đất chưa sử dụng còn 3.031,44 ha, chiếm 14,12%diện tích đất tự nhiên Khu vực vùng cát phía Đông ven biển là khu vực có địa hình tươngđối bằng phẳng cấu trúc địa chất bền vững thuận lợi cho việc xây dựng các công trình đôthị và công nghiệp

- Tài nguyên nước: Có hệ thống sông ngòi phong phú với các sông chính như ThuBồn, sông Yên, sông Vĩnh Điện, sông Bình Phước, sông Cổ Cò… cùng hệ thống hồ ao,mương máng cung cấp là nguồn nước mặt dồi dào phục vụ thuận lợi cho sản xuất và sinh

Trang 29

hoạt dân cư trên địa bàn toàn huyện Bên cạnh đó, có nguồn nước ngầm có trữ lượng khá

và phân bố tương đối đồng đều Chất lượng nước đảm bảo được yêu cầu trong sản xuất

và sinh hoạt

- Tài nguyên du lịch: Với hơn 8 km bờ biển đẹp với các bãi cát phẳng, sạch mịn;

có đồi Bồ Bồ với các khu rừng trồng; đồi cát, ao hồ; có sông Thu Bồn nên thơ với phongcảnh đồng quê trù phú hai bên bờ Bên cạnh đó, có các làng nghề truyền thống như đúcđồng, dệt chiếu, đan mây tre, chạm khắc gỗ mỹ nghệ; cùng với các di tích như tháp Bằng

An, giếng Nhà Nhì, Đài tưởng niệm Bồ Bồ… Tất cả lợi thế đó cho phép Điện Bàn pháttriển loại hình du lịch, nghỉ dưỡng, dã ngoại, du lịch sinh thái, tham quan làng nghề kếthợp với du lịch văn hóa, lịch sử

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

2.1.2.1 Nguồn nhân lực.

Năm 2010 dân số trung bình toàn huyện là 199.715 người, trong đó dân số đô thị

chiếm khoảng 7.964 (chỉ tính TT Vĩnh Điện) Số người trong độ tuổi lao động toàn huyện

là 121.290 người Lao động đang làm việc 113.530 người Trong đó nông lâm ngưnghiệp 46.177 người, chiếm tỉ lệ 40,67%; phi nông nghiệp 67.353 người ; chiếm tỉ lệ59,33% (Trong đó CN-XD 32.363 người- 28,5%; Dịch vụ 27.637 người – 24,34%) Laođộng được đào tạo có chứng nhận từ sơ cấp nghề trở lên là 13.994 người; trong đó tốtnghiệp Cao đẳng, Đại học 7.103 người (theo kết quả điều tra Dân số và nhà ở 1.4.2009)

Điện Bàn là một trong những huyện có đội ngũ cán bộ công chức, viên chức cótrình độ chuyên môn nghiệp vụ khá cơ bản Cán bộ từ phó, trưởng phòng huyện trở lên cótrình độ cao cấp, cử nhân chính trị đạt 70%; cao đẳng, đại học chuyên môn trở lên đạt77,2% Cán bộ chuyên trách và công chức cơ sở xã, thị trấn đạt 3 chuẩn chiếm 68,67%

Nhìn chung, nguồn nhân lực của huyện dồi dào, lao động trẻ, có trình độ học vấncao so với mức bình quân toàn tỉnh là yếu tố nội sinh quan trọng đối với sự phát triểnkinh tế - xã hội huyện

2.1.2.2 Tổng thu ngân sách và tăng trưởng kinh tế

Bảng 2.1: Tổng thu ngân sách trên địa bàn huyện qua các năm như sau:

(Đơn Vị tính: tỷ đồng)

Trang 30

2007 2008 2009 2010 2011 Tăng bình quân

2006-2010 (%)Tổng thu ngân

Ngoài ra với chỉ tiêu về quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế trên địa bàn huyệncho thấy khả năng đáp ứng nhu cầu phát triển CCN của huyện trong thời gian đến:

Bảng 2.2: Quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế trên địa bàn huyện Điện Bàn trong gia đoạn 2007-2011

Tốc độ tăngbình

quân(%)Tổng GTSX (Giá cố

Nguồn: Niên giám thống kê huyện Điện Bàn năm 2010 và báo cáo Kỳ họp thứ 3

của HĐND huyện Điện Bàn khóa X (12/2011)

Với bảng số liệu trên ta thấy rằng tốc độ tăng trưởng kinh tế trên địa bànhuyện thời kỳ 2007-2011 với tốc độ rất cao, nhất là nghành công nghiệp dịch vụ đã làmcho cơ cấu kinh tế huyện chuyển đổi theo hướng công nghiệp-dịch vụ-nông nghiệp

2.1.2.3 Kết cấu hạ tầng kỹ thuật.

Trang 31

Trong những năm qua, tổng vốn đầu tư xã hội trên địa bàn bình quân hàng nămlên đến hàng ngàn tỉ đồng (kể cả phục vụ cho công tác GPMB-TĐC) Riêng vốn ngânsách huyện đầu tư XDCB giai đoạn 2007-2011 là 184.529 triệu đồng Nhờ đó kết cấu hạtầng kỹ thuật trên địa bàn đã có những thay đổi căn bản, cụ thể như:

Đô thị mới Điện Nam-Điện Ngọc:

Đô thị mới Điện Nam – Điện Ngọc được Thủ tướng chính phủ phê duyệt quyhoạch chung (năm 1999) với diện tích 2.700 ha và bắt đầu triển khai xây dựng từ tháng 3năm 2003 Đến năm 2011, tổng số dự án đã đăng ký : 26 dự án (với diện tích 576,05 ha –chưa tính các dự án thuộc Khu CN) Trong đó có 17 dự án khu đô thị khai thác quỹ đất(465,78 ha); 4 dự án về giáo dục - đào tạo (45,24 ha); 2 dự án về Bệnh viện-Trung tâmĐiều dưỡng, trú đông (17,5 ha); 1 dự án về hạ tầng kỹ thuật giao thông (30 ha); 2 dự ánphục vụ du lịch, thương mại (17,53 ha)

Khu công nghiệp Điện Nam-Điện Ngọc:

Khu công nghiệp Điện Nam-Điện Ngọc là một hợp phần của Đô thị mới ĐiệnNam-Điện Ngọc, giai đoạn 1 (145ha) đã lấp đầy; giai đoạn II (245ha) cơ bản hoàn thànhđầu tư hạ tầng kỹ thuật Đã cấp 71 giấy phép đầu tư (26 dự án đầu tư mở rộng) với tổngvốn đăng ký trên 2.282 tỷ đồng và 119 triệu USD, số lao động đăng ký theo dự án là24.099 người

Thị trấn Vĩnh Điện và các thị tứ:

Thị trấn Vĩnh Điện đã có quy hoạch chung đô thị được được UBND tỉnh phêduyệt (2007) diện tích 205,8 ha Hiện nay các Khu phố chợ, Khu dân cư khối 3, khối 5,đường trung tâm hành chính đang được đầu tư xây dựng Các thị tứ Phong Thử, Bảo

An, Thanh Chiêm đã phê duyệt quy hoạch chi tiết và phát triển khá nhanh

Các cụm Công nghiệp- Thương mại và dịch vụ:

Toàn huyện đã có 11 cụm công nghiệp- thương mại và dịch vụ được phê duyệtquy hoạch chi tiết 1/500, với tổng diện tích 332 ha (Cụm CN Trảng Nhật 1-2, Cẩm Sơn,

An Lưu, Thương Tín 1-2, Nam Dương, Bồ Mưng, Vân Ly, Đông Khương, Bích Bắc).Trong đó hạ tầng kỹ thuật tại các cụm công nghiệp Trảng Nhật1- 2, An Lưu, Thương Tín

1, Cẩm Sơn, Vân Ly đã cơ bản hoàn thành và đưa vào hoạt động Tính đến nay, đã có 41

Trang 32

doanh nghiệp đăng ký và hoạt động sản xuất kinh doanh với tổng mức vốn đầu tư hơn1.200 tỷ đồng, trong đó 29 đơn vị đã đi vào sản xuất, 6 doanh nghiệp đang xúc tiến đầu

tư và 6 doanh nghiệp đang xây dựng

Các Khu du lịch:

Cùng với đường ĐT 603A hoàn thành, các Khu du lịch ven biển Điện Dương- ĐiệnNgọc, Bãi tắm Hà My, Khu du lịch sinh thái Bồ Bồ … đã có 15 dự án đầu tư du lịch vớitổng vốn đăng ký đầu tư 550 tỷ đồng và 1.132 triệu USD (cho 4 dự án nước ngoài và dự ánliên doanh)

Giao thông:

Toàn huyện có 51km đường thuỷ, 14,5km đường sắt, hệ thống giao thông đường

bộ khá hoàn chỉnh (18,5km quốc lộ, 56,8km tỉnh lộ, 20,8km huyện lộ, 661km GTNT đãnhựa hoá và bêtông hoá được 85%) là điều kiện thuận lợi cho phát triển KT-XH trên địabàn

Mạng lưới điện:

Điện Bàn là một trong những huyện có lưới điện khá phát triển của tỉnh QuảngNam với gần 300 trạm biến áp, công suất khoảng 111.730 KVA Các địa phương tronghuyện đều có lưới điện quốc gia phát triển khá hoàn chỉnh và 100% số hộ được sử dụngđiện

Bưu chính viễn thông:

Đã có 5 tổng đài điện tử, có bưu điện trung tâm huyện ở thị trấn Vĩnh Điện và 16bưu cục phân bố đều ở các xã, đáp ứng được nhu cầu thông tin liên lạc trong nước vàquốc tế

2.1.2.4 Văn hóa-xã hội

Điện Bàn được xem là vùng đất địa linh nhân kiệt Là quê hương của nhiều danhnhân, chí sĩ, nhà khoa học nổi tiếng như Hoàng Diệu, Trần Quý Cáp, Phan Khôi, Giáo sưHoàng Tụy Nơi đây còn được xem là một trong những chiếc nôi hình thành chữ quốcngữ Toàn huyện hiện nay có 4 di tích văn hóa, lịch sử cấp quốc gia, 31 di tích văn hóa,lịch sử cấp tỉnh Điện Bàn cũng là vùng đất giàu truyền thống cách mạng Trải qua hai

Trang 33

cuộc kháng chiến cứu nước, trên 15 ngàn liệt sĩ đã hy sinh, 5 ngàn thương binh và 1.600

Mẹ Việt Nam anh hùng được nhà nước phong tặng và truy tặng

Về giáo dục-đào tạo, toàn huyện có 71 trường, 44.000 học sinh các cấp; 1 trường

cao đẳng kinh tế kỹ thuật, 1 trường Trung cấp nghề Bắc Quảng Nam, 01 trường Trungcấp kinh tế kỹ thuật và 01 trung tâm hướng nghiệp dạy nghề của huyện Hàng năm đàotạo khoảng 3.000-3.500 lao động chuyên môn kỹ thuật thuộc nhiều chuyên ngành khácnhau

Về y tế, trên địa bàn huyện có 1 Bệnh viện đa khoa khu vực Quảng Nam, 1 bệnh

viện tư nhân Vĩnh Đức và 20 trạm y tế xã Tổng số giường bệnh là 599 giường, 409 cán

bộ y bác sĩ ( trong đó có 102 bác sĩ)

Thời gian qua, trên lĩnh vực văn hoá - xã hội đã đạt được kết quả quan trọng, đờisống văn hoá được tập trung xây dựng khá đồng bộ và có chiều sâu Các chương trìnhxoá đói giảm nghèo, cho vay giải quyết việc làm được chú trọng Công tác xã hội hoátrong giáo dục, y tế bước đầu đạt kết quả tốt Duy trì và giữ vững thành quả phổ cập bậctiểu học và THCS đúng độ tuổi; phổ cập giáo dục bậc trung học đang được đẩy mạnhthực hiện Chương trình xoá nhà tạm mang lại nhiều kết quả khả quan, đến năm 2009 cơbản hoàn thành chương trình xoá nhà tạm cho hộ nghèo diện chính sách xã hội Công tácđền ơn đáp nghĩa, chăm lo người có công được duy trì và nâng cao Tỉ lệ hộ nghèo giảmxuống còn 8,03%

2.1.2.6 An ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội

Công tác an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội luôn được giữ vững Các cuộcvận động lớn gắn với phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc đi vào chiều sâu.Thực hiện thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân được tăng cường Coi trọngxây dựng đảm bảo đủ số lượng, không ngừng nâng cao chất lượng, tăng cường khả năngsẵn sàng chiến đấu của các lực lượng vũ trang bao gồm cả lực lượng thường trực, dânquân tự vệ và dự bị động viên, công tác huấn luyện dự bị động viên và tuyển quân luônđạt 100% chỉ tiêu và đảm bảo chất lượng Hoạt động của các ngành nội chính được phốihợp có hiệu quả Nhìn chung công tác an ninh quốc phòng được giữ vững đã góp phầnthực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội của huyện

Trang 34

Như vậy với hệ thống các điều kiện tự nhên, kinh tế-xã hội như trên đã tạonên những điều kiện tiền đề và thời có thuận lợi cho việc phát triển CCN trên địa bànhuyện, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp-dịch vụ-nôngnghiệp, đẩy nhanh quá trình đô thị hóa và xây dựng Điện Bàn thành thị xã vào năm 2015.

2.2 tình hình xây dựng và phát triển các cụm công nghiệp trên địa bàn huyện Điện Bàn tỉnh Quảng Nam

2.2.1 Những thành tựu trong phát triển CCN ở huyện Điện Bàn tỉnh Quảng Nam trong giai đoạn hiện nay

2.2.1.1 Số lượng, quy mô và phân bố của các CCN

Sự hình thành và phát triển các CCN ở huyện Điện Bàn được bắt đầu từ khi cóquyết định số 40/2003 của UBND tỉnh Quảng Nam về ban hành cơ chế ưu đãi khuyếnkhích đầu tư và quản lý CCN trên địa bàn tỉnh Quảng Nam Với cơ chế này huyện đã kịpthời vận dụng và xem xét phát triển CCN như là khâu đột phá là động lực thúc đẩy côngnghiệp huyện phát triển

Ngày 24/10/2003 UBND tỉnh Quảng Nam đã ra quyết định số 4628/QĐ-UB vềviệc phê duyệt Đề án quy hoạch mạng lưới CCN trên địa bàn tỉnh Quảng Nam Theoquyết định này thì tỉnh Quảng Nam đã phê duyệt cho huyện Điện Bàn 33 CCN Sau đóthông qua công văn số 4984/BCT-CNĐP ngày 6/6/2011 của Bộ công thương về việc thõathuận, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch phát triển CCN tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2011-

2015 và quyết định số 2061/QD-UBND của UBND tỉnh Quảng Nam về phê duyệt quyhoạch điều chỉnh, bổ sung mạng lưới CCN trên dịa bàn tỉnh giai đoạn 2011-2015, UBNDhuyện đã điều chỉnh quy hoạch CCN xuống còn 21 CCN với diện tích tổng cộng là446,16ha đến năm 2015

Kết quả là đến tháng 2 năm 2012 toàn huyện đã quy hoạch và đưa vào hoạt động

11 CCN với diện tích đất quy hoạch sản xuất là 213,89 ha chiếm 64,43% tổng diện tíchđất đã quy hoạch cho sản xuất các CCN trên địa bàn huyện

Bảng 2.3: Thông tin về CCN của huyện Điện Bàn tỉnh Quảng Nam đến tháng

2 năm 2012

Quy hoạch đến 2015 Đang hoạt động đến tháng 2/2012

Trang 35

Số lượng Diện tích đất

quy hoạch (ha) Số lượng

Diện tích đấtquy hoạch (ha)

(Nguồn: theo quyết định số 2061/QD-UBND của UBND tỉnh Quảng Nam về phê duyệt quy hoạch điều chỉnh, bổ sung mạng lưới CCN trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2011-

2015, Phòng kinh tế và kết cấu hạ tầng huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.)

Về phân bố CCN thì Bảng 2.3 cho thấy đến tháng 2/2012 toàn huyện có 11 CCN

đã đi vào hoạt động phân bố rộng khắp trên địa bàn 7 xã với tổng diện tích đất QH là 332

Diệntích đấtQHSX(ha)

Diện tíchđất đã giaocho cácdoanhnghiệp (ha)

Trang 36

11 CCN-TM-DV Bích

(Nguồn: Phòng Kinh Tế và Kết Cấu Hạ Tầng Huyện Điện bàn, Tỉnh Quảng Nam)

Với tình hình phân bố các CCN trên địa bàn huyện như trên chúng ta thấy rằng,các CCN phát triển mạnh ở hai vùng:

Thứ nhất là tại 2 xã liền kề Điện Nam Đông và Điện Dương Đây là vùng kinh tế

sôi động nhất của toàn huyện với Khu công nghiệp Điện Nam-Điện Ngọc (xã Điện NamBắc-Điện Ngọc), khu đô thị mới Điện Nam-Điện Ngọc (Điện Ngọc-Điện Nam-ĐiệnDương) và các khu du lịch ven biển (Điện Dương)…Với vị trí như vậy thì sự phát triểncủa các CCN cùng với Khu công nghiệp, khu đô thị, khu du lịch ven biển trong khu vựcnày đã góp phần đẩy nhanh quá trình đô thị hóa khu vực Điện Ngọc-Điện Nam-ĐiệnDương, hình thành nên không gian đô thị các xã vùng cát Đây cũng là nhiệm vụ cần phảithực hiện của Huyện Điện Bàn để thực hiện mục tiêu “xây dựng Điện Bàn thành thị xãvào năm 2015”

Thứ hai là CCN phát triển mạnh dọc theo dường quốc lộ 1A bao gồm CCN Tràng

Nhật 1 (xã Điện Thắng Trung), CCN Tràng Nhật 2 (Điện hòa), CCN Bồ Mưng (ĐiệnThắng Bắc) (đã xây dựng) và CCN An Thanh (Điện Thắng Nam) (chưa xây dựng) Sựphát triển của các CCN này góp phần hình thành nên khu đô thị Phương-Thắng (dọc QL1A) bao gồm Điện Phương, Điện Minh, TT Vĩnh Điện, Điện An, Điện Thắng Đây làkhông gian đô thị có vai trò đặc biệt quan trọng của huyện Đây được xem là trung tâm

đô thị của toàn huyện

Với việc phân bố rộng khắp các CCN như vậy đã góp phần phát triển nền kinh tếcủa huyện một cách đồng đều giữa các khu vực, hình thành nên mối liên kết về khônggian đô thị mà huyện đang hướng tới một cách chặt chẽ từ Đông sang Tây, từ Bắc xuốngNam nhưm đảm bảo sựu phát triển bền vững về không gian và môi trường đô thị

Về quy mô, các CCN trên địa bàn huyện chủ yếu là các CCN vừa và nhỏ Trong đó

CCN có diện tích nhỏ nhất chỉ có 1,84 ha trong đó diện tích đất công nghiệp chiếm 100%

là CCN-TM-DV Bích Bắc ở xã Điện Hòa Và CCN có diện tích lớn nhất là CCN Trảng

Ngày đăng: 27/04/2015, 11:52

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2: Quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế trên địa bàn huyện Điện Bàn trong gia đoạn 2007-2011 - “Phát triển cụm công nghiệp trong tiến trình đô thị hóa ở huyện điện bàn tỉnh quảng nam”
Bảng 2.2 Quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế trên địa bàn huyện Điện Bàn trong gia đoạn 2007-2011 (Trang 30)
Bảng 2.4: Quy mô, phân bố các CCN đang hoạt động trên địa bàn Huyện Điện Bàn, Tỉnh Quảng Nam. - “Phát triển cụm công nghiệp trong tiến trình đô thị hóa ở huyện điện bàn tỉnh quảng nam”
Bảng 2.4 Quy mô, phân bố các CCN đang hoạt động trên địa bàn Huyện Điện Bàn, Tỉnh Quảng Nam (Trang 35)
Bảng 2.5: Tình hình thu hút vốn đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật ở các CCN trên địa bàn huyện Điện Bàn tỉnh Quảng Nam tính đến tháng 3 năm 2012 - “Phát triển cụm công nghiệp trong tiến trình đô thị hóa ở huyện điện bàn tỉnh quảng nam”
Bảng 2.5 Tình hình thu hút vốn đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật ở các CCN trên địa bàn huyện Điện Bàn tỉnh Quảng Nam tính đến tháng 3 năm 2012 (Trang 38)
Bảng 2.6: Số lượng và loại hình của các doanh nghiệp đầu tư vào các CCN trên địa bàn huyện Điện Bàn tính đến tháng 2/2012 - “Phát triển cụm công nghiệp trong tiến trình đô thị hóa ở huyện điện bàn tỉnh quảng nam”
Bảng 2.6 Số lượng và loại hình của các doanh nghiệp đầu tư vào các CCN trên địa bàn huyện Điện Bàn tính đến tháng 2/2012 (Trang 41)
Bảng 2.7: Kết quả sản xuất kinh doanh của các doanh nhiệp trong CCN - “Phát triển cụm công nghiệp trong tiến trình đô thị hóa ở huyện điện bàn tỉnh quảng nam”
Bảng 2.7 Kết quả sản xuất kinh doanh của các doanh nhiệp trong CCN (Trang 42)
Bảng 2.9: Tình hình giải quyết việc làm trong các CCN ở huyện Điện Bàn tính đến tháng 2/2012 - “Phát triển cụm công nghiệp trong tiến trình đô thị hóa ở huyện điện bàn tỉnh quảng nam”
Bảng 2.9 Tình hình giải quyết việc làm trong các CCN ở huyện Điện Bàn tính đến tháng 2/2012 (Trang 44)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w