Nhưng trong trường hợp này comonome tạo ra nhóm keton hoặc có sẵn trong mạch chính hoặc là ta tự gắn nó vào mạch chính.Cả hai cacbon monooxit và vinyl keton sẽ tạo ra “liên kết yếu” và
Trang 1 BIẾN TÍNH POLYME TRUYỀN THỐNG
ĐỂ TĂNG KHẢ NĂNG PHSH
Trang 2 Do olygome và polyme với mạch chính chỉ chứa liên kết cacbon –cacbon (loại trừ loại
có nhóm cực tính cồng kềnh ở mạch chính như PVA) cho thấy ít có phản ứng xúc tác phân hủy bằng enzym, đặc biệt khi KLPT của chúng lớn.
Trang 3 Có nhiều cách để đưa “liên kết yếu” vào mạch
chính của những polyme này Những “liên kết
yếu” được thiết kế cho phép kiểm soát sự phân hủy của polyme kỵ nước KLPT lớn thành
polyme KLPT thấp hơn, để sau đó vi sinh tiêu
hoá thông qua quá trình phân hủy sinh học
Trong cách này đặc biệt nhấn mạnh đến chế tạo polyme phân hủy sinh học bằng 2 phương pháp biến tính Đó là đưa nhóm chức vào mạch chính, đặc biệt là nhóm este dễ bị phá vỡ bằng thủy
phân hoá học và đưa nhóm chức vào mạch chính
để có thể xảy ra phản ứng cắt mạch quang hoá, đặc trưng là nhóm cacbonyl.
Trang 4 Một phương pháp đặc biệt thông minh đưa nhóm este vào vinyl polyme bao gồm cả polystren và
polyetylen là tiến hành phản ứng đồng trùng hợp các monome vinyl tương ứng (ví dụ : stiren) với một monome đặc biệt theo cơ chế gốc tự do hay
mở vòng để tạo ra nhóm este trong mạch chính.
Các monome exetal vòng thế bằng metylen và
octo este có thể tham gia vào phản ứng đồng
trùng hợp gốc tự do như vậy.
Trang 5 Một hướng khác, tổng hợp copolyme phân hủy quang cũng sử dụng phản ứng đồng trùng hợp gốc tự do Nhưng trong trường hợp này
comonome tạo ra nhóm keton hoặc có sẵn trong mạch chính hoặc là ta tự gắn nó vào mạch
chính.Cả hai cacbon monooxit và vinyl keton sẽ tạo ra “liên kết yếu” và cả hai comonme này đã được dùng hiệu quả ở lượng nhỏ để điều chế
copolyme hữu ích với các monome dạng vinyl
khác nhau (đặc biệt đối với polystryren R =
C6H5 và polyetylen R = H).
Trang 7 Trong tất cả các lọai polyme đi từ dầu mỏ, những polyme như PVA, PVC được xem là
có nhiều khả năng nhất trong việc biến tính
Trang 8 Nếu xét trên khía cạnh độ bền vật liệu thì
sự kết hợp giữa polyme PHSH với một số
sợi gia cương , như sợi thủy tinh chẳng hạn,
sẽ cho ta một vật liệu mới có độ bền cao
hơn.Ví dụ sau đây chứng minh điều đó:
Trang 9□-Độ bền uốn ■-ứng suất đàn hồi.
Polyme
Trang 10 Đối với các polyme riêng rẽ như tinh bột
hay polylactide, độ bền uốn và ứng suất đàn hồi thường không bằng nhau và có độ
chênh lệch từ vài phần trăm đến gần 50% Nhưng khi có sự kết hợp với sợi thủy tinh gia cường để tạo thành dạng polyme mới
GFRP (Glass-Fibre-Reinforced-Polyme) thì
độ bền uốn và ứng suất đàn hồi của các
polyme PHSH nói trên đạt cực đại (100%).
Trang 11Những phát triển mới về chất dẻo sinh học làm từ tinh bột
Sản phẩm lai đầu tiên trên thị trường loại này là
Biopropylen CP Bio-PP-50 - một hỗn hợp của
polypropylen homopolyme trộn với 50% tinh bột và
một hỗn hợp của chất dẻo hóa hoặc phụ gia
Biopropylen có độ cứng, bền và chịu nhiệt cao hơn so với PP nhưng lại có độ giãn và bền cơ học kém hơn
Không giống như các polyme sinh học khác,
Biopropylen không cần phải sấy khô Biopropylen và PP nguyên chất có giá tương đương nhau, tuy nhiên tỉ
trọng cao hơn 16% của Biopropylen sẽ làm tăng chi phí trong quá trình sử dụng Biopropylen có thể được dùng cho nhiều ứng dụng khác nhau, tùy thuộc vào tỉ lệ tinh bột được dùng và tỉ lệ này có thể thay đổi đặc tính và giá của vật liệu tạo ra Biopropylen có thể được sản
xuất với bất kỳ một loại polyme PP nào và nhiều loại
tinh bột khác nhau như tinh bột ngô, sắn, lúa mì, khoai tây
Trang 12 Sản phẩm này được sử dụng nhằm vào các loại hàng hóa dùng lâu bền hơn là sử dụng làm bao bì dễ phân hủy Biopropylen cũng được quan tâm cho lĩnh vực chế tạo ôtô, đồng thời nó cũng được nhắm đến mục đích
sản xuất đồ dùng gia đình, các sản phẩm tiêu dùng, đồ chơi, điện gia dụng, vỏ điện thoại và các thiết bị máy tính, các sản phẩm y khoa, bao bì đóng gói mỹ phẩm, các loại đĩa CD/DVD, đồ nội thất và các sản phẩm cho ngành xây dựng
Biopropylen được thử nghiệm nhiều phương pháp gia công khác nhau như ép đùn, đúc khuôn nóng, ép
khuôn, thổi thành màng mỏng, v.v Biopropylen có màu mờ đục và có thể được phối trộn với PP tiêu chuẩn hoặc tạo màu Hiện nay, Biopropylen đang được thử
nghiệm về khả năng phân hủy sinh học và khả năng
làm phân compost từ các phế thải chứa Bipropylen đã qua sử dụng Chất dẻo này cũng đã trải qua các kiểm nghiệm về độc tố ở Mỹ, Canađa và Đông Âu Hiện nay, Cereplast cũng đang chờ FDA chấp thuận cho sử dụng sản phẩm này.
Trang 13Biến tính PVC:
Đối với PVC, là một polyme truyền thống
không PHSH ngay, có thể biến tính nó để
tạo ra những hệ polyme mới mà vẫn đảm
bảo tính chất của vật liệu nhưng dễ phân
hủy để chuyển sang giai đọan phân hủy sinh học với thời gian nhanh hơn khi chưa biến tính Một số ví dụ về biến tính PVC được
giới thiệu sau đây:
Trang 14PVC–n-propyl xanthate (PVC–n PX) khởi đầu với 3–14
nhóm xanthate trên một phân tử được tổng hợp từ PVC
và potassium n-propyl xanthate Phản ứng xẩy ra ở vùng nhiệt độ 30 đến 45 oC Polyme PVC–nPX tạo thành chứa trong nó chỉ 0,01% phần có liên kết C-O-C và C=O, nhưng
đó là điểm khởi đầu cho quá trình bẻ gãy sinh học hoặc
hóa học
Trang 15PVC – SR (N,N-diethyldithiocarbamate) cũng được tạo thành từ việc cho PVC tác dụng với sodium N,N- diethyldithiocarbamate (NaSR) trong dung môi
butanol
Trang 16Hoặc với santhate:
Trang 17Có thể tạo thành block copolyme bao gồm PVC và
PEG(polyethyleneglycol) bằng cách sử dụng nhóm azo
(ACVC) kết hợp với PEG Nhóm ACVC được tổng hợp từ 4,40-azobis-4-cyanovaleric acid chloride với PEG để tạo thành nhóm MACV Tiến hành copolyme hóa nhóm ACVC với VC
để tạo thành blok polyme PVC-PEG có nhóm chức C-O-C và
C=O trong mạch
Trang 18 Một số ý tưởng mới trong việc sử dụng các phức
hệ của kim lọai chuyển tiếp để kết hợp với VC:
Trong phản ứng này, monome VC được gắn với phức hệ và hình thành mối liên hệ Zr–Cl và propylene Kết quả là atactic
poly(propylene) với khối lượng phân tử thấp (khỏang 500) được
hình thành.
Trang 19Bọt polyuretan
Bọt xốp polyurêtan mềm được dùng để nhồi các ghế
sofa và đệm, còn bọt polyurêtan cứng được sử dụng để sản xuất các tấm ngăn trong các công trình xây dựng
Hai loại bọt này chiếm phần lớn thị trường bọt
polyurêtan.
Còn có 2 loại bọt polyurêtan khác có các ứng dụng đặc biệt đó là bọt vi xốp được sử dụng để chế tạo vô lăng ô
tô hoặc lót bên trong mũ phòng hộ thể thao và bọt đàn hồi được sử dụng để chế tạo đế của các loại giày, kể cả giày thể thao.
Tuy cả 4 loại bọt polyurêtan này có các tính chất vật lý khác nhau nhưng đều được tạo ra bằng cách thực hiện các phản ứng trùng hợp gồm điol (hoặc rượu đa chức), điisoxyanat và nước.
Trang 20 Các phản ứng điisoxyanat với điol hoặc rượu đa chức tạo thành polyme urêtan Các phản ứng
của nước với một số nhóm isoxyanat tạo ra khí cacbon đioxit và các bọt khí được giữ lại trong khối phản ứng lỏng nhớt trong quá trình trùng hợp, nở ra và bị giữ lại bên trong khối lỏng hóa rắn
động bề mặt để đẩy mạnh các phản ứng và
kiểm soát quá trình tạo bọt Các chất phụ gia khác như chất ổn định, chất tạo màu, chất hãm cháy và chất diệt nấm có thể được bổ sung để tạo các tính năng đặc biệt Các chất tạo bọt hỗ trợ như hyđroflocacbon, cacbon đioxit dạng
lỏng và axeton cũng là các chất điển hình được
sử dụng Cuối cùng, chủng loại và khối lượng
nguyên liệu sử dụng trong quá trình sản xuất
sẽ định hướng đặc tính của thành phẩm
Trang 21 Bọt mềm là loại bọt có lỗ rò, được tạo
thành bởi các bọt khí bị vỡ Không khí có thể đi qua bọt dễ dàng nên làm cho bọt mềm, dẻo và đàn hồi Trong bọt cứng,
hầu hết các lỗ đều kín, vì vậy bọt cứng
hơn và ít đàn hồi Việc kiểm soát tỉ lệ các
lỗ hở với các lỗ kín trong quá trình sản
xuất là một trong những biện pháp được dùng để điều khiển các tính chất của bọt.
Trang 22 Ngoài ra, bọt polyurêtan cũng có trong một số ứng dụng đặc biệt, ví dụ bọt cứng được sử dụng
để cách ly thùng nhiên liệu bên ngoài trên tàu con thoi Sau thảm họa Tàu vũ trụ Columbia
năm 2003, các kỹ sư của Cơ quan Hàng không
và Vũ trụ Quốc gia Mỹ (NASA) đã xác định tai nạn liên quan đến miếng bọt vỡ của thùng
nhiên liệu của tàu
dụng cụ tránh thai, máy lọc nước, trên mặt
trước của các loa âm thanh nổi, v.v
đã được tái chế thành lót thảm, điều này giảm tải cho các bãi chôn lấp và góp phần bảo vệ
môi trường
Trang 23để chuyển hóa glucoza thành
hyđroxybutyrat, sau đó trùng hợp để tạo
ra PHB Theo phương pháp tổng hợp này sản phẩm tạo ra thường bị giòn, do đó
khả năng sử dụng bị hạn chế.
Trang 24 Hai nhà khoa học trong công trình Philip Morris
2006 Research Award đã triển khai nghiên cứu
hệ xúc tác mới trên cơ sở SiO2, cobalt và nitơ Nguyên liệu đầu sử dụng cho quá trình trùng
hợp này là propylenoxit và cacbon monoxit đầu năm 2006 Giáo sư Bernahrd Rieger thuộc
trường đại học Ulm và Tiến sĩ Gerrit Luinstra
thuộc Tập đoàn nghiên cứu BASF ở
Ludwigshafen (Đức) đã lần đầu tiên tiết lộ về
kỹ thuật này và cho biết phương pháp mới sẽ
kinh tế hơn những phương pháp tổng hợp trước đây
thu được có những đặc tính mong muốn và làm tăng khả năng ứng dụng của vật liệu này trong nhiều lĩnh vực khác nhau như làm màng mỏng trong nông nghiệp, túi đi chợ, hộp đựng sữa
chua, khay đựng thực phẩm, v.v và cả các bộ phận nội thất trong ô tô
Trang 25 Các nghiên cứu khoa học đã chứng minh PHB
và các copolyme của nó với polyhyđroxyvalerat (PHV) là các polyme nhiệt dẻo bán tinh thể có khả năng gia công nóng chảy Các polyme này được tạo ra bằng phương pháp lên men từ
nguồn nguyên liệu cacbonhyđrat có khả năng
tái tạo Chúng được xem như các polyme nhiệt dẻo thực thụ nhưng lại thu được từ công nghệ sinh học và cũng là vật liệu phân hủy sinh học
hủy dần dần trong môi trường khi chôn lấp
Copolyme trên có tiềm năng sử dụng hơn so với các homopolyme (PHB và PHV) do nó có tính chất tốt hơn Nhược điểm của cả copolyme và các homopolyme này là khả năng chịu hóa chất kém, chúng dễ dàng bị axit, kiềm và dung môi clo hóa tấn công
Trang 26Biến tính PE bằng CaCO3
đã làm cho các nhà gia công chất dẻo tăng nhu cầu sử dụng canxi cacbonat (CaCO3 - một loại chất độn thường được dùng để làm giảm giá
thành trong sản xuất sơn, giấy và gia công
chất dẻo) lên 10% Hiện tại, các nhà gia công chất dẻo đã sản xuất thành công các loại túi
đựng chất lượng cao chứa tới 15 - 20% CaCO3 Một số loại màng mỏng hoặc vật liệu dẻo trong một vài ứng dụng khác có thể chứa lên tới 30% chất độn này Ở châu Âu, các màng mỏng dùng
để bọc bơ có thể chứa tới 60% CaCO3 Công ty Ampacet có thể cung cấp các loại hỗn hợp
màng có chứa 70 - 80% CaCO3 dùng cho mục đích này
Trang 27 Ở Bắc Mỹ, chất độn CaCO3 dùng cho màng mỏng được lấy từ đá mable (một loại đá vôi), ở những khu vực
khác trên thế giới CaCO3 được sản xuất từ đá phấn
Các loại đá này đều có tính chất hóa học như nhau,
nhưng đá phấn và đá vôi là trẻ hơn về mặt địa chất và phải được xử lý hơi ẩm trước khi chuyển sang dạng
concentrat đối với các loại màng túi đựng, kích cỡ hạt chất độn CaCO3 sẽ là 1 - 2 micron và được bao bọc
(xử lý bề mặt) bằng 1,0 - 1,2% axit stearic Loại
concentrat này thích hợp để sản xuất ra loại màng kỵ nước Các loại màng nông nghiệp có thể sử dụng
CaCO3 có cỡ trung bình là 3 micron và không cần xử lý
bề mặt, do đó giảm được chi phí
CaCO3 có tác động đến độ bóng và độ sáng của túi
đựng Vì CaCO3 tạo tính mờ đục nên có thể sử dụng ít hơn trong các màng trong suốt tự nhiên so với trong những loại màng được tạo màu CaCO3 có thể được bổ sung nhiều hơn vào PE thấp áp (14 - 20%) so với PE cao áp (8 - 15%) và tạo ra các loại màng dày hơn.
Trang 28 CaCO3 có trọng lượng riêng là 2,71 g/cm3, cao gần gấp 3 lần của PE (có trọng lượng riêng
0,92 - 0,97 g/ cm3) Nhưng năng suất tuyến
tính khi kéo màng (mét/ giờ) cũng tăng vì
CaCO3 tăng sự truyền nhiệt Nó nhanh nóng và cũng nhanh nguội hơn PE CaCO3 có tính dẫn
nhiệt cao hơn 5 lần so với PE, vì vậy nhựa có
chứa CaCO3 và đóng rắn nhanh hơn nhựa
không độn Với ưu điểm trên, việc bổ sung 25% CaCO3 có thể làm tăng công suất gia công đối với một số PE thấp áp lên 50%
- 10% CaCO3 trong PE cao áp, có thể được làm giảm tới 25% TiO2 và cho phép tiết kiệm đáng
kể chi phí sản xuất
Trang 29Biến tính polystyrene
rãi làm bao bì thực phẩm do có chi phí thấp và tính cách điện Tuy nhiên, do áp lực về giảm tác động của rác thải bao bì đang buộc các nhà
máy chế biến thực phẩm phải tìm các vật liệu
thay thế thân môi trường hơn Các hộp PS
thường có thể mất hàng trăm năm để phân
hủy, kể cả đã được tăng tốc nhờ hóa chất phụ gia và các phương pháp khác Tuy nhiên, các
hóa chất và phương pháp này đều rất đắt và
cũng gây hại cho môi trường
Trang 30 Được biết, các nhà sản xuất trước đây đã cố gắng làm cho chất dẻo thân môi trường hơn bằng cách kết hợp chúng với xenlulô và tinh bột để vi khuẩn có thể phân hủy, hoặc thêm các polyme bắt sáng để phân huỷ
chúng dưới ánh sáng mặt trời Tuy nhiên, tất cả các
phương pháp này đều có các bất lợi nghiêm trọng Hiện nay, một nhóm các nhà khoa học thuộc Đại học Khoa học Công nghệ ở Trung Quốc đã phát triển một phương pháp mới gắn các hạt nhựa hấp thụ nước đường kính khoảng 5 micromet vào styren trước khi nó được
polyme hóa để tạo PS Khi loại PS này tiếp xúc với
nước, các hạt polyme nở ra, phá hủy cấu trúc polyme thành bột mà sau đó sẽ bị phân hủy sinh học Theo
nhóm nghiên cứu, bằng cách thay đổi tỉ lệ các thành
phần, họ cũng có thể điều khiển được tốc độ phân hủy Một nhân tố quan trọng là PS bọt rẻ hơn so với các vật liệu thường và vì vậy được các nhà sản xuất dễ dàng
chấp nhận.
Trang 31 Ngoài ra, bọt PS mới còn phân hủy nhanh hơn và không
bị mất tính năng trong khi dùng Công ty Cascades của Canađa khẳng định các hộp đi từ bọt PS phân hủy
Bioxo của Công ty phân hủy trong 3 năm và không làm mất tính năng khi dùng làm vật liệu bao bì Bioxo dùng chất phụ gia dẻo phân hủy sinh học hoàn toàn (TDPAC)
do các nhà cung cấp chất phụ gia polyme của Canađa phát triển Nhà sản xuất cho biết, chất phụ gia này trộn với colophan sẽ hoạt động như một chất xúc tác làm
tăng quá trình phân hủy, không làm giảm tính năng
trong khi vật liệu được dùng làm bao bì Sau khi sử
dụng, bọt phân hủy do tiếp xúc với oxy, nhiệt và tia UV hoặc tác động cơ học thành bột mịn Một khi đã bị phân hủy, vi khuẩn và vi sinh vật có thể tiếp tục tác động
làm tiêu bột Quá trình phân hủy sẽ giải phóng cacbon đioxit Hiện nay, Bioxo đã được Mỹ và Canađa chấp
thuận để dùng làm bao bì đựng thực phẩm
Trang 32Sử dụng chất lỏng ion hóa để tái
chế polyme
là giải trùng hợp polyme thành các monome và
sử dụng các monome này làm nguyên liệu sản xuất polyme mới Nhưng phần lớn các phương pháp giải trùng hợp đã được phát triển đều đòi hỏi sử dụng nhiệt độ cao, sử dụng dung môi
chọn lọc hoặc phải có thiết bị cao áp chuyên
dụng Mới đây, các nhà khoa học Akio
Kamimura và Shigero Yamamoto tại Đại học
Tổng hợp Yamaguchi (Nhật Bản) đã sử dụng
các chất lỏng ion hóa làm dung môi và phát
hiện một phương pháp độc đáo để chuyển hóa các bao bì chất dẻo thành các nguyên liệu gốc
Trang 33 Quy trình giải trùng hợp của các nhà khoa học Nhật Bản vẫn đòi hỏi phải được thực hiện ở nhiệt độ cao, nhưng điều này không ảnh hưởng đến việc
sử dụng các chất lỏng ion hóa vì
chúng ít bay hơi ở những nhiệt độ
cao như vậy.
Trang 34 Trong một quy trình tương đối đơn giản, các
nhà khoa học đã đưa mẫu nylon 6, chất lỏng
ion hóa và chất xúc tác vào bình phản ứng rồi khuấy hỗn hợp khoảng 1 giờ trong môi trường khí nitơ ở nhiệt độ 300oC và áp suất khí quyển Quá trình giải trùng hợp đã dẫn đến việc hình thành các monome caprolactam của nylon, sau
đó các nhà khoa học thu được chất này bằng
cách chưng cất
bis (triflo - metylsulfon) - imit làm dung môi và N,N - dimetyl - aminopyridin làm chất xúc tác, các nhà khoa học đã đạt được hiệu suất thu hồi caprolactam cao nhất, đến 86%
ứng có thể tái chế 5 lần mà không làm giảm
đáng kể hiệu suất thu hồi monome