Trong quá trình ấy việc huy động và sử dụng vốn đầu tư của nhà nước có một ý nghĩa quan trọng.Đầu tư công đóng vai trò tạo nên những nền tảng vật chất – kĩ thuật quan trọng cho đất nước,
Trang 1MỤC LỤC
Lời Nói Đầu………
Chương I: Những vấn đề lí luận chung về đầu tư công……….
1.1 Bản chất và khái niệm đầu tư công………
1.2 Nguồn vốn đầu tư của khu vực công………
1.2.1 Khái niệm 1.2.2 Các nguồn huy động vốn đầu tư công 1.2.2.1 Vốn từ ngân sách nhà nước 1.2.2.2 Vốn tín dụng do nhà nước bảo lãnh 1.2.2.3 Vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước 1.2.2.4 Vốn đầu tư sản xuất của các doanh nghiệp nhà nước 1.3 Đặc điểm và vai trò của đầu tư công trong phát triển kinh tế xã hội 1.3.2 Đặc điểm 1.3.1 Vai trò Chương II)Thực trạng đầu tư công của Việt Nam giai đoạn 2000-2012 2.1 Tổng quan về tình hình kinh tế Việt Nam 2.2 Tổng vốn đầu tư công của Việt Nam 2.3 Quy mô và cơ cấu đầu tư công
2.3.1 Nhìn nhận từ góc độ thành phần kinh tế
2.3.1.1 Vốn đầu tư ở Việt Nam
2.3.1.2 Quy mô của đầu tư và đầu tư công
2.3.1.3 Cơ cấu đầu tư công
2.3.2 Nhìn nhận từ góc độ ngành và lĩnh vực đầu tư
Trang 22.3.2.1 Quy mô và cơ cấu vốn đầu tư công phân theo ngành 2.3.2.2 Cơ cấu vốn đầu tư công phân theo lĩnh vực đầu tư 2.4 Đánh giá hiệu quả đầu tư công tại Việt Nam
2.4.1 Hiệu quả đầu tư công
2.4.2 Hạn chế và nguyên nhân của đầu tư công trong thời gian qua
2.4.2.1 Hạn chế
2.4.2.2 Nguyên nhân
Chương III)Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư công ở Việt Nam
3.1 Định hướng của nhà nước đối với hoạt động đầu tư công
3.2 Giải pháp để nâng cao hiệu quả đầu tư công
KẾT LUẬN………
Trang 3THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU
QUẢ ĐẦU TƯ CÔNG Ở VIỆT NAM
LỜI MỞ ĐẦU
Công cuộc đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế đã mang lại nhiều thành tựu cho tăng trưởng kinh tế của Việt Nam Trong quá trình ấy việc huy động và sử dụng vốn đầu tư của nhà nước có một ý nghĩa quan trọng.Đầu tư công đóng vai trò tạo nên những nền tảng vật chất – kĩ thuật quan trọng cho đất nước, thúc đẩy phát triển không những về kinh tế mà cả trong lĩnh vực văn hóa xã hội Đồng thời đầu tư công cũng là động lực quan trọng đối với một số ngành và vùng trọng điểm, thúc đẩy thực hiện các chính sách phúc lợi xã hội, an ninh quốc phòng Đầu tư công sẽ phát huy hết vai trò quan trọng của mình nếu định hướng đầu tư của nhà nước là đúng đắn, hợp lí Còn nếu nhà nước đầu tư dàn trải, không mang lại hiệu quả thiết thực thì sẽ gây tổn thất lớn cho cả nhà nước và toàn xã hội, tăng áp lực nặng nề cho nền tài chính công Như vậy, nhiệm vụ của Chính phủ mỗi nước là đầu tư làm sao cho đồng vốn của mình thực sự hiệu quả, chất lượng, đóng góp cho nền kinh tế quốc dân, thúc đẩy sự tăng trưởng về mọi mặt của đất nước Ngày 24/02/2011, Chính phủ ban hành Nghị quyết 11/NQ – CP về những giải pháp ổn định nền kinh tế vĩ mô, trong đó có một giải pháp quan trọng được nhắc đến đó là cắt giảm đầu tư công Một vài câu hỏi đặt ra là: Vậy, thực trạng đầu tư công hiện nay ở Việt Nam trong những năm trở lại đây như thế nào? có thực sự mang lại hiệu quả như mong muốn hay không?còn những tồn tại gì cần phải khắc phục và Chính phủ nên khắc phục nó như thế nào?
Trang 4Chương I: Những vấn đề lí luận chung về đầu tư công
1.1 Bản chất và khái niệm đầu tư công
Trước hết, ta phải hiểu là khái niệm “đầu tư công” chỉ bắt đầu xuất hiện trong cơ chế thị trường Trước Đổi mới, nền kinh tế Việt Nam vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, trong quản lý và thống kê kinh tế lúc đó chỉ sử dụng khái niệm “đầu tư xây dựng cơ bản của Nhà nước” (do chủ yếu tổng đầu tư xã hội là đầu tư của Nhà nước) Từ khi chuyển sang cơ chế thị trường, cơ cấu đầu tư toàn xã hội có sự thay đổi rõ rệt Cùng với đó là sự xuất hiện của ba khái niệm: “đầu tư của khu vực Nhà nước”, “đầu tư của khu vực ngoài nhà nước” và “đầu tư trực tiếp của nước ngoài” nhằm đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế thị trường ở nước ta Và “đầu tư của khu vực Nhà nước” chính là “đầu tư công” như hiện nay chúng ta vẫn gọi.
Để hiểu được bản chất của “đầu tư công” trước hết ta phải hiểu bản chất của “đầu tư” Theo lý thuyết kinh tế học thì “đầu tư” chính là quá trình
“tích lũy tư bản” (gia tăng tư bản nhằm tăng năng lực sản xuất vật chất trong tương lai) Theo đó thì “đầu tư” được biểu hiện ra thông qua việc thống kê chỉ tiêu “tổng tích lũy tài sản” theo thời gian.
Trên thực tế, tùy thuộc vào mục đích thì sử dụng chỉ tiêu “tổng tích lũy tài sản” trong một số trường hợp không hẳn đã phù hợp Vì vậy, người ta còn sử dụng một chỉ tiêu nữa là chỉ tiêu “vốn đầu tư” “Vốn đầu tư” được dùng trong thống kê kinh tế, để phản ánh số lượng tiền (hoặc giá trị tài sản quy đổi ra tiền) bỏ ra trong một khoảng thời gian nhất định của một chủ thể nhằm mục đích tăng cường năng lực sản xuất kinh doanh Khái niệm “đầu tư” và “vốn đầu tư” đều đi đến một mục đích là nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh, song trong bản thân hai khái niệm đã có sự khác biệt rõ rệt Khái niệm “đầu tư” xuất phát từ việc “tích lũy tư bản”, lấy thước đo là giá trị, còn khái niệm “vốn đầu tư” lại lấy thước đo là tiền, tức là được đánh giá thông qua giá trị trao đổi Thực tế cũng cho thấy “vốn đầu tư” sau một thời gian đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh thì kết quả không hoàn toàn trùng khớp với chỉ tiêu “tổng tích lũy tài sản” của “đầu tư”; bởi trong quá trình chủ
Trang 5đầu tư bỏ tiền vốn ra thì không phải tất cả giá trị của nó đều đi vào phục vụ mục đích sản xuất kinh doanh, nó còn chịu tác động của rất nhiều yếu tố như điều kiện tự nhiên, khoảng cách địa lý, chi phí trung gian, thuế quan, hạn ngạch, lạm phát, các cú sốc kinh tế,…
Ở Việt Nam, trong thống kê kinh tế chúng ta thường sử dụng chỉ tiêu
“vốn đầu tư” để phân tích và đánh giá đầu tư (khác với trong thống kê quốc
tế người ta sử dụng chỉ tiêu “tổng tích lũy tài sản”) Về bản chất, không tồn tại khái niệm “vốn đầu tư” này song chỉ tiêu “vốn đầu tư” thì vẫn được sử dụng khi phản ánh tình hình bỏ vốn đầu tư trong thực tế.
Trở lại với khái niệm về “đầu tư công”, theo lý thuyết kinh tế học,
“đầu tư công” là việc đầu tư để nâng cao năng lực sản xuất, cung ứng hàng hóa công cộng và chi tiêu chính phủ (các khoản chi của Chính phủ để cung ứng hàng hóa công cộng như: xây dựng đường xá, trường học, dịch vụ phòng và chữa bệnh, đảm bảo anh ninh, quốc phòng,…).
Theo cách hiểu về “vốn đầu tư” như trên, khái niệm “đầu tư công” lại
được hiểu là việc sử dụng vốn Nhà nước để đầu tư không nhằm mục đích
thu lợi nhuận vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội Song ở Việt Nam khái niệm này lại chưa bao quát được hết chủ thể của đầu
tư công Bởi trong đầu tư của khu vực Nhà nước còn có một bộ phận là doanh nghiệp có vốn Nhà nước (doanh nghiệp Nhà nước hay doanh nghiệp quốc doanh) hoạt động không dựa trên nguyên tắc phi lợi nhuận Nhưng bộ phận này cũng không thể đưa vào đầu tư của khu vực kinh tế ngoài nhà nước (đầu tư tư nhân) bởi nó là tài sản thuộc sở hữu Nhà nước Như vậy tức là,
dưới góc độ mục đích hướng tới của đầu tư công thì không thể xếp đầu tư của doanh nghiệp Nhà nước vào đầu tư của khu vực Nhà nước; song dưới góc độ sở hữu có thể “gộp” bộ phận doanh nghiệp Nhà nước vào đầu tư của khu vực Nhà nước nhằm tiện lợi cho quá trình quản lý và thống kê kinh tế.
Trang 6Từ đó ta có khái niệm về “đầu tư công” như sau: Đầu tư công là việc
sử dụng nguồn vốn Nhà nước vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội không nhằm mục đích kinh doanh (trừ lĩnh vực đầu tư của các Doanh nghiệp có vốn Nhà nước), trong đó lĩnh vực đầu tư công gồm:
1 Chương trình mục tiêu, dự án phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật, kinh tế, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh; các dự án đầu tư không có điều kiện xã hội hoá thuộc các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, y tế, khoa học, giáo dục, đào tạo và các lĩnh vực khác;
2 Chương trình mục tiêu, dự án phục vụ hoạt động của các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, kể
cả việc mua sắm, sửa chữa tài sản cố định bằng vốn sự nghiệp;
3 Các dự án đầu tư của cộng đồng dân cư, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp được hỗ trợ từ vốn nhà nước theo quy định của pháp luật;
-4 Chương trình mục tiêu, dự án đầu tư công khác theo quyết định của Chính phủ.
Ở Việt Nam, trong thống kê hiện nay quy định bốn bộ phận cấu thành của đầu tư công bao gồm:
(1) Đầu tư từ ngân sách (phân bổ cho các Bộ ngành Trung ương và phân cho các địa phương);
(2) Đầu tư theo các chương trình hỗ trợ có mục tiêu;
(3) Tín dụng đầu tư của Nhà nước (vốn cho vay) có mức độ ưu đãi nhất định;
(4) Đầu tư của các doanh nghiệp Nhà nước
Trang 71.2 Nguồn vốn đầu tư của khu vực công
Hoạt động đầu tư công là hoạt động đầu tư không sinh lời nên chỉ có nhà nước đầu tư do đó nguồn vốn đầu tư công chính là nguồn vốn nhà nước.
1.2.1 Khái niệm:
Vốn Nhà nước bao gồm vốn ngân sách nhà nước, vốn tín dụng do nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước, vốn đầu tư sản xuất của các doanh nghiệp nhà nước và các vốn khác do nhà nước quản lý.
1.2.2 Các nguồn huy động vốn đầu tư công:
1.2.2.1 Vốn từ ngân sách nhà nước:
Vốn ngân sách nhà nước được hình thành từ nhiều nguồn thu khác nhau như thuế, phí và lệ phí, bán hay cho thuê các tài sản thuộc sở hữu của nhà nước Đây chính là nguồn chi của ngân sách nhà nước cho đầu tư Nguồn vốn này giữ một vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia Nó thường được sử dụng cho các dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, hỗ trợ các dự án đầu tư vào lĩnh vực cần tham gia của nhà nước Thông qua hoạt động chi Ngân sách, Nhà nước sẽ cung phí đầu tư cho cơ sở kết cấu hạ tầng, hình thành các doanh nghiệp thuộc các ngành then chốt trên cơ sở đó tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triển các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế (có thể thấy rõ nhất tầm quan trọng của điện lực, viễn thông, hàng không đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp)
Bên cạnh đó, việc cấp vốn hình thành các doanh nghiệp Nhà nước là một trong những biện pháp căn bản để chống độc quyền và giữ cho thị trường khỏi rơi vào tình trạng cạnh tranh không hoàn hảo Và trong những điều kiện cụ thể, nguồn kinh phí trong ngân sách cũng có thể được sử dụng
Trang 8để hỗ trợ cho sự phát triển của các doanh nghiệp, đảm bảo tính ổn định về cơ cấu hoặc chuẩn bị cho việc chuyển sang cơ cấu mới hợp lý hơn Nguồn vốn
từ ngân sách nhà nước sẽ chi cho các khoản trợ giúp trực tiếp dành cho những người có thu nhập thấp, thất nghiệp hay có hoàn cảnh đặc biệt như chi về trợ cấp xã hội, trợ cấp gián tiếp dưới hình thức trợ giá cho các mặt hàng thiết yếu, các khoản chi phí để thực hiện chính sách dân số, chính sách việc làm, chống mù chữ, hỗ trợ đồng bào lũ lụt Đối với các hoạt động quốc phòng và an ninh quốc gia thì ngân sách nhà nước là nguồn cung chủ yếu không thể thiếu.
1.2.2.2 Vốn tín dụng do nhà nước bảo lãnh:
Vốn tín dụng do nhà nước bảo lãnh là một hình thức nhà nước bảo lãnh trả nợ cho các khoản tín dụng của các dự án đầu tư quan trọng gắn liền với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội
Nguồn vốn tín dụng do nhà nước bảo lãnh đặc biệt quan trọng trong trường hợp các dự án được xây dựng với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn, của các vùng miền, hoặc lĩnh vực quan trọng Những
dự án này thường yêu cầu nguồn tài chính to lớn, thời gian sử dụng vốn dài, nhưng khả năng thu hồi vốn không chắc chắn hoặc không thể thu hồi vốn Trong khi đó, khả năng chi cho đầu tư phát triển từ nguồn ngân sách nhà nước vẫn còn hạn chế Để giải quyết vấn đề vốn cho những dự án này, nhà nước có thể bảo lãnh trả nợ cho các khoản tín dụng đó.
1.2.2.3 Vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước:
Vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước là một hình thức quá độ chuyển từ phương thức cấp phát vốn ngân sách sang phương thức tín dụng đối với các dự án có khả năng thu hồi vốn trực tiếp Tín dụng nhà nước về thực chất có thể coi như một khoản chi của ngân sách nhà nước, vì cho vay
Trang 9theo lãi suất ưu đãi, tức lãi suất cho vay thường thấp hơn lãi suất trên thị trường tín dụng, nên Nhà nước phải dành ra một phần ngân sách trợ cấp bù lãi suất.
Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước có tác dụng tích cực trong việc giảm đáng kể bao cấp vốn trực tiếp của nhà nước về chi ngân sách nhà nước trong điều kiện ngân sách còn hạn hẹp, đồng thời nâng cao hơn nữa trách nhiệm của người sử dụng vốn Vì cơ chế của tín dụng là đi vay có hoàn trả kèm lãi suất, nên dưới áp lực này buộc các đối tượng vay vốn phải tăng cường hạch toán kinh tế, giám sát chặt chẽ việc sử dụng các khoản vay
để bảo đảm khả năng thanh toán nợ
Ngoài ra, nguồn vốn này còn có 1 vai trò đáng kể trong việc phục
vụ công tác quản lý và điều tiết kinh tê vĩ mô: không chỉ thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế mà còn thực hiện cả mục tiêu phát triển xã hội Khả năng điều tiết nền kinh tế của Nhà nước sẽ ngày càng được cải thiện khi các khoản vay được hoàn trả thay vì việc cấp phát không hoàn lại như trước đây, cho nên đầu tư của Nhà nước vào các ngành then chốt, các vùng trọng điểm, các vùng khó khăn tăng lên sẽ góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế, xã hội của toàn bộ nền kinh tế
1.2.2.4 Vốn đầu tư sản xuất của các doanh nghiệp nhà nước:
Nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước chủ yếu bao gồm từ khấu hao tài sản cố định và thu nhập giữ lại tại doanh nghiệp nhà nước Theo Bộ kế hoạch đầu tư, nguồn vốn của Doanh nghiệp nhà nước tự đầu tư chiếm khoảng 14 – 15% tổng vốn đầu tư toàn xã hội
Vai trò chủ yếu của nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước
là đầu tư chiều sâu, mở rộng sản xuất, đổi mới thiết bị, hiện đại hóa dây chuyền công nghệ của doanh nghiệp Hoạt động của doanh nghiệp góp phần giải phóng và phát triển sức sản xuất, huy động và phát huy nội lực vào phát
Trang 10triển kinh tế xã hội, góp phần quyết định vào phục hồi trưởng kinh tế, tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng thu ngân sách và tham gia giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội như: tạo việc làm, xoá đói giảm nghèo, chống lạm phát
1.3 Đặc điểm và vai trò của đầu tư công trong phát triển kinh tế xã hội
1.3.1 Vai trò:
Như đã nói ở trên, đầu tư công có nghĩa là nhà nước sử dụng nguồn vốn thuộc sở hữu của mình để tiến hành đầu tư nhằm đạt được các mục tiêu nhất định Vậy một câu hỏi được đặt ra là: Tại sao nhà nước lại phải dùng đến nguồn vốn của mình mà không để cho khu vực tư nhân thực hiện các chương trình, dự án đó, có khả năng sẽ đạt hiệu quả cao hơn trong đầu tư? Bởi trong thực tiễn đời sống kinh tế xã hội, có nhiều lĩnh vực, nhiều dự án
mà tư nhân không đủ khả năng hoặc đủ khả năng mà không muốn thực hiện.
Ví dụ như các dự án xây dựng công trình cầu, đường, các công trình công cộng; đầu tư phát triển cho vùng miền núi, dân tộc thiểu số, Bởi đó đều là những dự án phải bỏ nhiều vốn đầu tư ban đầu, thời gian thu hồi vốn lâu, hoặc khả năng thu hồi được vốn là không cao.
Do đó, việc đầu tư của nhà nước để đảm bảo các nhu cầu tối thiểu của cộng đồng được đáp ứng, giữ vững ổn định xã hội, tránh tình trạng bất công bằng, bất bình đẳng trong xã hội
Vai trò của đầu tư công được thể hiện trên ba khía cạnh quan trọng sau:
Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế dựa trên việc đầu tư cho các công trình
hạ tầng, cơ sở vật chất - kỹ thuật tối thiểu chung cho xã hội Đây cũng đồng thời tạo những điều kiện thiết yếu cho các thành phần kinh tế ngoài nhà nước đầu tư và phát triển Ngoài ra, đầu tư công giúp cho có cơ hội được tập
Trang 11trung nguồn lực cao, hoặc Trung ương có thể điều tiết được một cách hợp lý các nguồn đầu tư, tránh tình trạng cục bộ, địa phương, nơi thừa nơi thiếu.
Góp phần làm giảm khoảng cách giàu nghèo, giảm bất bình đằng, bất công trong xã hội bằng các chương trình, dự án kinh tế hỗ trợ các vùng khó khăn, vùng sâu vùng xa, các dân tộc thiểu số (chương trình 134, 135 của Chính phủ, các chương trình xóa đói giảm nghèo, ), nâng cao và ổn định đời sống người dân.
Đảm bảo ổn định và không ngừng tăng cường quốc phòng, an ninh Các công trình, dự án về an ninh quốc phòng đều không mang lại hiệu quả kinh tế trước mắt nên khu vực tư nhân không thể và cũng không muốn đầu
tư vào lĩnh vực này Nhưng đó lại là cơ sở quan trọng của đất nước để bảo
vệ Tổ quốc, giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia.
1.3.2 Đặc điểm:
Đầu tư công có các đặc điểm cơ bản sau:
Chủ thể bỏ vốn đầu tư, kinh doanh là Nhà nước Nhà nước có thể đầu
tư toàn bộ vốn hoặc chỉ đầu tư một phần vốn cùng các chủ đầu tư khác để thực hiện các dự án đầu tư Là chủ thể đặc biệt trong xã hội, Nhà nước không trực tiếp thực hiện vai trò của chủ đầu tư mà hoạt động đầu tư của Nhà nước thực hiện thông qua các cơ quan chức năng Do không trực tiếp thực hiện đầu tư, kinh doanh, sự giám sát về quá trình đầu tư kinh doanh và thu hồi vốn đầu tư thường có điểm khác biệt nhất định so với các nhà đầu tư khác Điều này lý giải nguy cơ thất thoát, sử dụng không đúng mục đích của việc đầu tư và sự đa dạng tương đối của các chủ thể thay mặt Nhà nước quản
lý, kinh doanh, giám sát vốn đầu tư của Nhà nước.
Mục đích đầu tư luôn gắn với việc thực hiện các chức năng, vai trò của Nhà nước Bất kì chủ thể nào có vốn, khi có nhu cầu đầu tư, đều hướng tới
Trang 12mục tiêu định trước của mình Với tư cách là chủ thể quản lý xã hội, Nhà nước thực hiện đầu tư cũng không nằm ngoài mục tiêu chung, đó là yêu cầu
cơ bản, nhiệm vụ chủ yếu của Nhà nước phải được thực hiện đầy đủ và toàn diện Điều đó có nghĩa hoạt động đầu tư, sử dụng vốn của Nhà nước luôn gắn với nhiệm vụ cụ thể, vai trò định hướng nền kinh tế của quốc gia trong từng giai đoạn Nhiệm vụ này không nằm ngoài mục tiêu chính sách phát triển kinh tế xã hôi, chính sách đầu tư, chính sách tài chính tiền tệ quốc gia.
Nguồn vốn Nhà nước đầu tư luôn gắn với phần đóng góp của nhân dân Nguồn tài chính do Nhà nước quản lý và sử dụng có thể hình thành trên
cơ sở các khoản thu không có trách nhiệm hoàn trả hoặc các khoản thu có tính hoàn trả Về lý thuyết cũng như thực tế, nhà nước của bất kỳ quốc gia nào chỉ có thể hoạt động vì lợi ích của chính quốc gia đó nếu không có sự phụ thuộc vào nguồn tài chính bên ngoài Nói khác đi, nguồn vật chất hình thành nên năng lực tài chính quốc gia chỉ có thể được hình thành từ tổng giá trị hàng hóa dịch vụ xã hội (GDP hoặc GNP), do nhân dân tạo ra và đóng góp một phần cho nhà nước Đặc điểm này cũng đặt ra yêu cầu phải sử dụng
có hiệu quả, tiết kiệm đối với nguồn vốn vì lợi ích của dân chúng.
Chương II)Thực trạng đầu tư công của Việt Nam giai đoạn
2000-2012
2.1 Tổng quan về tình hình kinh tế Việt Nam
Sau gần 30 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được tăng trưởng kinh tế (GDP) ở mức khácao và duy trì trong một khoảng thời gian dài Đã có nhiều công trình nghiên cứu về đónggóp của các nhân tố đến tăng trưởng GDP Việt Nam, và rút ra rằng giai đoạn 1993-1997,đóng góp của các yếu tố lao động, vốn và năng suất các nhân tố tổng hợp vào GDP lầnlượt là 16%, 69%, 15%; giai đoạn 1998- 2002 là 20%, 57,4%, 22,6% Giai đoạn 2003-
2009 nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng chủ yếu dựa vào vốn (52,72%), lao động(19,07%) và năng suất nhân tố tổng hợp TFP (28,20%) Qua đó thấy rằng, mô hình tăngtrưởng kinh tế với tốc độ cao nhờ chủ yếu vào vốn đầu tư, trong đó có đầu tư công đã
Trang 13được bắt đầu kể từ năm 2000 đến nay Bài viết tập trung phân tích thực trạng đầu tư côngcủa Việt Nam từ năm 2000-2012, đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm tái cơ cấu đầu
tư công tại Việt Nam
Sau đổi mới năm 1985, giai đoạn 1986-1991, tăng trưởng GDP đạt mức xấp xỉ 4%/năm.Giai đoạn từ 1991-1995, GDP tăng gấp đôi đạt 8,2%, thời kỳ 5 năm tiếp theo (1996-2000) đạt 7%/ năm, từ 2001-2006 đạt khoảng 7,5%/năm, từ 2007- 2009 đạt 7%/năm
Từ năm 2009 đến nay, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, tăng trưởngGDP trung bình của Việt Nam đạt khoảng 5,75%/năm Sự tăng trưởng GDP ấn tượngtrong thời gian dài chủ yếu là nhờ sự đóng góp của nguồn vốn đầu tư
Đầu tư công tại Việt Nam giai đoạn 2000-2012
Xét về khối lượng vốn đầu tư, từ năm 2000 đến 2011 tổng nguồn vốn đầu tư toàn xã hộităng liên tục qua các năm Theo số liệu của Tổng cục Thống kê công bố, tính theo giá sosánh năm 1994, tổng vốn đầu tư trong xã hội tăng từ 115,109 nghìn tỷ đồng năm 2000 lên362,845 nghìn tỷ năm 2011, gấp 3,15 lần Trong đó, khu vực có vốn ngoài nhà nước tăngnhanh nhất, năm 2011 gấp 4,64 lần năm 2000 Tiếp theo lần lượt là khu vực có vốn nướcngoài (tăng 4,6 lần) và kinh tế Nhà nước (KTNN- tăng 2,13 lần)
Mặc dù từ năm 2007- 2008, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu vàlạm phát cao ở trong nước, Chính phủ đã thực hiện chính sách kiềm chế lạm phát: Chínhsách tiền tệ thắt chặt, nâng cao hiệu quả chi tiêu công, nhưng vốn đầu tư Nhà nước chỉgiảm 3.307 tỷ đồng (tính theo giá so sánh nám 1994), một con số giảm khá khiêm tốn Năm 2009, nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế trong nước, Chính phủ thực hiện chính sáchtài khóa mở rộng khiến vốn đầu tư khu vực KTNN tăng mạnh thêm 44.491 tỷ đồng, gấphơn 10 lần so với con số 3.307 khi cắt giảm năm 2008 Từ cuối năm 2010 đến hết 2011,khi thực hiện chính sách kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô với trọng tâm chínhsách tiền tệ thắt chặt, giảm đầu tư công thì vốn đầu tư khu vực KTNN lại chi giảm 22.578
Trang 14Số liệu của Tổng cục Thống kê cho thấy, ở các giai đoạn Chính phủ thực hiện cắt giảmđầu tư công, tỷ trọng tổng đầu tư toàn xã hội của khu vực Nhà nước có giảm xuống,nhường chỗ cho khu vực tư nhân Nhưng ngược lại, ở giai đoạn nền kinh tế thực thi chínhsách kích cầu đầu tư, vốn đầu tư công lại chiếm tỷ trọng lớn hơn.
Xét về tỷ trọng cơ cấu vốn đầu tư theo khu vực kinh tế trong tổng nguồn vốn đầu tư toàn
xã hội thì khu vực KTNN vẫn chiếm tỷ trọng lớn Từ năm 2000- 2003, vốn đầu tư KTNNchiếm trên 50% tổng nguồn vốn trong xã hội, từ 59,1% xuống 52,9% Tuy nhiên, từ
2003- 2008 tỷ trọng này có xu hướng giảm dần, xuống gần 33,9% năm 2008, đứng sau kinh tế ngoài Nhà nước với 38,5% Từ 2009 đến nay, tỷ trọng này có xu hướng tăng trở lại khi khu vực KTNN chiếm 38,9% năm 2011, đứng vị trí đầu tiên tính theo giá so sánh năm 1994
Năm 2011, vốn đầu tư công tăng 114% so với 2006, thì khu vực kinh tế ngoài Nhà nước tăng 167% và khu vực cỏ vốn đầu tư nước ngoài tăng 217% Việc tỷ trọng vốn đầu tư KTNN giảm trong năm 2007 và 2008, một phần nhỏ vì vốn đẩu tư KTNN giảm nhẹ,
phần lớn do nguồn vốn từ khu vực kinh tế ngoài Nhà nước và khu vực có vốn đầu tư
nước ngoài tăng cao
Nhìn chung từ 2000- 2012, xu hướng tăng khối lượng vốn đầu tư khu vực KTNN vẫn là
xu hướng chủ đạo, tỷ trọng vốn đầu tư khu vực KTNN vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong vốn đầu tư toàn xã hội, từ năm 2009- 2012 thì gần như tỷ trọng này thay đổi rất ít
2.2 Tổng vốn đầu tư công của Việt Nam
Nguồn vốn đầu tư công bao gồm 3 nguồn: vốn ngân sách (gồm vốn từ nguồn thu trong
nước của ngân sách Nhà nước và vốn ngân sách đầu tư theo các chương trình hỗ trợ có
mục tiêu); vốn vay (gồm tín dụng đầu tư và vốn vay trong nước, ngoài nước để dùng cho đầu tư); vốn đầu tư của các doanh nghiệp Nhà nước.
Bảng 1 Vốn đầu tư của khu vực KTNN phân theo nguồn vốn
Vốn của các DNNN
và nguồn vốn khác
Năm
VốnNSNN
Vốnvay
Vốn của các DNNN và nguồn vốn khác
2000 43,6 31,1 25,3 2006 54,1 14,5 31,4
2001 44,7 28,2 27,1 2007 54,2 15,4 30,4
Trang 15Nguồn: Niên giám thông kê các năm, Tổng cục Thống kê.
Theo bảng 1, nguồn vốn NSNN đang chiếm tỷ trọng lớn nhất trong 3 nguồn vốn đầu tưcủa khu vực KTNN, từ 43,6% năm 2000 táng lên 64,3% năm 2009 Đến năm 2011,
nguồn vốn NSNN chiếm tỷ trọng ½ trong tổng vốn đầu tư của khu vực KTNN Vốn vay
có xu hướng giảm trong năm 2006-2009 với tỷ trọng gần 15%, tuy nhiên những năm gầnđây tỷ trọng nguồn vốn này đang có xu hướng tăng lên Đồng thời vốn đầu tư của cácdoanh nghiệp Nhà nước cũng đang có xu hướng giảm dần kể từ năm 2006 Trong cơ cấu nguồn vốn đầu tư công, vốn vay bao gồm tín dụng đầu tư của Nhà nước đểđầu tư vào các dự án thuộc lĩnh vực được ưu tiên, vốn vay trong nước và ngoài nước Từnăm 2009 đến nay, tỷ lệ vốn vay đang ngày càng tăng lên, làm tăng thêm quan ngại về áplực nợ công ngày càng gia tăng Theo số liệu của ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia, đikèm với tỷ lệ vốn vay ngày càng tăng thì tỷ lệ nợ công tăng nhanh từ 25% GDP năm
2007 lên 58,7% GDP năm 2011
Vì vậy, trước thực tế khủng hoảng nợ công đang nghiêm trọng tại Châu Âu, yêu cầu vềviệc thu hẹp khu vực doanh nghiệp Nhà nước, thu hẹp đối tượng và nâng cao chất lượngđầu tư công đang là những vấn đề cấp thiết
Phân bổ đầu tư công theo lĩnh vực, ngành nghề
Kể từ năm 2000, nguồn vốn đầu tư công tại Việt Nam được phân bổ trên hầu hết tất cảcác lĩnh vực, ngành nghề trong nền kinh tế Về cơ bản, điều này là hợp lý trong điều kiệnnước ta còn nghèo nên cần nâng cấp cơ sở hạ tầng, cải thiện các điều kiện xã hội, môitrường góp phần thực hiện mục tiêu phát triển bền vững đất nước Tuy nhiên, trong vấn
đề phân bổ đầu tư theo lĩnh vực còn một số vấn đề sau
- Nguồn vốn đầu tư công được phân bổ cho lĩnh vực kinh tế chiếm tỷ trọng lớntrong tổng nguồn vốn đầu tư Từ năm 2000- 2011, tỷ trọng này duy trì trongkhoảng thấp nhất 43,53% năm 2005 và cao nhất là 58,32% năm 2002 Từ năm2008- 2011, tỷ trọng này đang có xu thế tăng lên trong các năm Lĩnh vực xã hội
là lĩnh vực đầu tư phát triển các dịch vụ phúc lợi và phát triển con người chiếm tỷtrọng nhỏ hơn, từ 44% đến 48%
Trang 16Xét theo từng ngành, tốc độ tăng trong tổng nguồn vốn đầu tư Nhà nước rất thấp Tínhtheo giá so sánh năm 1994, tổng vốn đầu tư của khu vực KTNN năm 2011 tăng gấp 2,13lần so với năm 2000, trong đó các ngành khoa học và công nghệ tăng 1,76 lần, ngànhgiáo dục tăng 1,43 lần, ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,13 lần, đềutăng thấp hơn so với mức bình quân Trong khi đó, các ngành y tế tăng 2,32 lần, điện khíđốt, nước tăng 2,16 lần, xây dựng tăng 4,14 lần.
Ngành nghề quan trọng của đất nước và là tiền đề cho sự phát triển bền vững như giáodục và đào tạo (chiếm 4,28% tổng tổng vốn đầu tư Nhà nước), khoa học công nghệ(chiếm 1,17% năm 2011) là những ngành chiếm tỷ trọng thấp trong nguồn vốn đầu tư.Tốc độ tăng trưởng thấp hơn của những ngành khoa học và công nghệ, giáo dục và đàotạo, nông lâm nghiệp và thủy sản so với các ngành khác cho thấy mục tiêu phát triển cácngành trọng điểm là nhân tố quan trọng để dịch chuyển đến mô hình kinh tế có năng lựcsản xuất cao, nguồn nhân lực có chất lượng tốt đã không được thực hiện
Ngược lại, những ngành có khả năng gây nhiều thiệt hại về môi trường lại tăng nhanh vàchiếm tỷ trọng lớn trong nguồn vốn đầu tư của Nhà nước Chẳng hạn như, ngành khaithác mỏ (tăng 1,33 lần) tuy có tốc độ tăng thấp hơn bình quân nhưng lại chiếm tỷ trọnglởn tổng nguồn vốn đầu tư, từ 6%- 9%
Phân bổ đầu tư công theo địa phương
Trang 17Vốn đầu tư của khu vực KTNN được phân bổ theo 2 cấp: Cấp trung ương và cấp địaphương Năm 2000 vốn đầu tư phân cho cấp trung ương và địa phương theo tỷ lệ 60/40.Nhưng tỷ lệ này đang có xu hướng giảm dần tỷ trọng vốn cấp trung ương, tăng tỷ trọngvốn cấp địa phương, số liệu năm 2011, tỷ trọng vốn trung ương/địa phương là 43,5/56,5 Việc các dự án, chương trình mục tiêu phát triển cấp trung ương và các dự án phát triểnngành có sự trùng lặp trên phạm vi địa lý các tỉnh thành nên rất khó để xác định chínhxác số vốn đầu tư Nhà Nước phân bổ cho từng tỉnh
Mặt khác, nhiều dự án được thực hiện và phân bổ vốn trong nhiều năm, do vậy hàng nămcũng khó có thể xác định số vốn được phân bổ về cấp tỉnh thành Tuy nhiên, nhìn chungviệc sừ dụng vốn đầu tư Nhà nước nhằm phảt triển các khu vực kinh tế trọng điểm, khuvực có điều kiện khó khăn vẫn chưa phát huy hiệu quá rõ rệt
2.3 Quy mô và cơ cấu của đầu tư công
2.3.1 Nhìn nhận từ góc độ thành phần kinh tế
2.3.1.1 Vốn đầu tư ở Việt Nam
Như chúng ta đã biết, để đánh giá về tình hình đầu tư ở Việt Nam chúng ta sử dụng khái niệm “vốn đầu tư” Vậy thì cần có một cái nhìn tổng quan về vốn đầu tư cũng như vị trí của vốn đầu tư công trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội
Chúng tôi sử dụng hình vẽ để minh họa cơ cấu vốn đầu tư toàn xã hội (phân theo
thành phần kinh tế) Tổng vốn đầu tư gồm 3 thành phần: vốn Nhà nước, vốn ngoài nhà
nước và vốn đầu tư nước ngoài Ở đây ta sẽ đi sâu vào phân tích thực trạng của vốn đầu
tư công (vốn Nhà nước hay vốn đầu tư của khu vực Nhà nước), trong đó có vốn ngân
sách Nhà nước; vốn vay; vốn của các doanh nghiệp Nhà nước và các nguồn vốn khác