1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tình huống hành vi cướp đoạt tài sản người khác

13 1,7K 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tình Huống Hành Vi Cướp Đoạt Tài Sản Người Khác
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Hình Sự
Thể loại Bài Tập
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 111 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

tình huống hành vi cướp đoạt tài sản người khác

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Khi xã hội ngày càng phát triển, đời sống con người ngày càng một nâng cao thì kéo theo đó những tệ nạn xã hội cũng có xu hướng gia tăng nhất là các tội phạm xâm phạm tới quan hệ sở hữu Để có biện pháp đấu tranh loại tội này

có hiệu quả trước tiên thì ta phải hiểu rõ dấu hiệu pháp lý của từng loại tội, phải phân biệt được tội này với tội kia Có như vậy mới định tội danh và định khung hình phạt được chính xác Nói như vậy nhưng trên thực tế có nhiều vụ án để định tội cho thật chính xác là điều không phải dễ dàng, do đó mà vẫn tồn tại nhiều vụ án oan sai, nhiều vụ bỏ lọt tội phạm Tình huống sau đây cũng có thể được coi là một ví dụ:

Trên đường đi uống rượu về, H và Q phát hiện ra chị B cùng với hai người bạn đang say rượu nằm mê mệt bên lề đường Thấy chị B đeo nhiều

nữ trang bằng vàng, H và Q lấy đi toàn bộ tài sản trị giá 10 triệu đồng Gần sáng khi cơn say đã hết chị B tỉnh giấc mới biết mình bị mất tài sản và

đi báo công an Về vụ án này có các ý kiến sau đây về tội danh của H và Q:

a H và Q phạm tội cướp tài sản;

b H và Q phạm tội công nhiên chiếm đoạt tài sản;

c H và Q phạm tội trộm cắp tài sản.

Anh (chị) hãy xác định ý kiến nào đúng, ý kiến nào sai và giải thích rõ tại sao?

d.Giả thiết rằng ngoài việc chiếm đoạt tài sản H và Q còn có hành vi giao cấu với chị B thì bị chị này phát hiện và kêu cứu, sợ bị lộ H và Q đã bóp cổ làm chị B chết thì H và Q có phải chịu TNHS về hành vi của mình không? Nếu có thì tội danh cho hành vi của H và Q là gì? Căn cứ pháp lý?

Trang 2

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1 – Xác định ý kiến nào đúng, ý kiến nào sai và giải thích rõ tại sao?

Sở dĩ vụ án này có 3 quan điểm khác nhau vì 3 tội của 3 quan điểm này

có những đặc điểm chung như: Đây là các tội có tính chất chiếm đoạt, được thực hiện do cố ý và gây ra thiệt hại về tài sản…Tuy nhiên do không hiểu rõ được vụ án và các đặc trưng của từng tội cụ thể nên cũng dễ sai lầm khi định tội Theo quan điểm của cá nhân em thì các quan điểm: H, Q phạm tội cướp tài sản; H, Q phạm tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là không chính xác, mà với tình huống được mô tả ở trong bài tập trên phải định tội mà H và Q đã thực hiện

làtrộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 138 BLHS vì:

a H và Q phạm tội cướp tài sản. ( quan điểm này sai) vi:

Theo quy định tại điều 133-BLHS 1999 thì tội cướp tài sản là hành vi

“dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đọat tài sản”

Ngay trong điều luật đã quy định rõ hành vi khách quan của tội này bao gồm 3 hành vi, đó là:

- Hành vi dựng vũ lực: dùng sức mạnh vật chất (có hoặc không có công

cụ, phương tiện phạm tội) tác động vào người khác nhằm đè bẹp hoặc làm tê liệt sự chống cự của người này chống lại việc chiếm đoạt

- Hành vi đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc: là trường hợp người phạm tội bằng lời nói hoặc bằng cử chỉ (hoặc cả hai) doạ sẽ dùng vũ lực ngay tức khắc nếu chống cự lại việc chiếm đoạt Dấu hiệu “ngay tức khắc”vừa dùng để chỉ sự nhanh chóng về mắt thời gian ( sẽ xẩy ran gay lập tức) vừa dùng để chỉ

sự mãnh liệt của hành vi đe dọa Sự đe dọa này khiến cho nạn nhân thấy rằng

Trang 3

vũ lực sẽ xẩy ra ngay, họ không có hoặc khó có điều kiện tránh khỏi, sự đe dọa này làm cho ý chí của người bị đe dọa bị tê liệt

- Hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được ( ví du như hành vi đầu độc, hành vi dung thuốc gây mê…) Tuy không phải là hành vi dùng vũ lực hay đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc nhưng

có khả năng đè bẹp hoặc làm tê liệt sự kháng cự làm cho người bị tấn công không thể ngăn cản được việc chiếm đoạt

Chỉ cần người phạm tội có 1 trong 3 hành vi kể trên thì tội cướp tài sản

đã hoàn thành chứ không cần quan tâm tới người phạm tội có chiếm đoạt được tài sản hay không

Căn cư vào dâu hiệu về mặt khách quan như đã trình bày ở trên đối chiếu vào tình huống này ta thấy hành vi của H, Q không phải là hành vi dùng vũ lực, cũng không phải là hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc và càng không phải là hành vi làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống

cự được Việc chị B lâm vào tình trạng không thể chống cự được hoàn toàn không phải là do hành vi của H và Q gây ra ( có nghĩa là kết quả của việc chị B mất khả năng nhận thực và không biểu lộ được ý chí không có mối quan hệ

nhân quả với hành vi của H, Q) Tình trạng “chị B cùng với hai người bạn đang

say rượu nằm mê mệt bên lề đường” - lâm vào tình trạng không thể chống cự

được, đã xảy ra trước khi H và Q đến, có nghĩa là H và Q không “dùng thủ đoạn khác” mà chỉ lợi dụng hoàn cảnh đó để chiếm đoạt mà thôi

Như vậy, trong trường hợp này chúng ta hoàn toàn có thể khẳng đinh H,

Q không phạm tội cướp tài sản vì về măt khách quan không có dâu hiệu của những hành vi trong tội cướp tài sản Có nghĩa là không thỏa mạn các dấu hiệu trong cấu thành tội phạm cướp tài sản

Trang 4

b H và Q phạm tội công nhiên chiếm đoạt tài sản. (quan điểm này cũng không chính xác) vì:

Tại Điều 137 - BLHS 1999, tuy tội công nhiên chiếm đoạt tài sản không

được mô tả, nhưng qua thực tiển xét xử chúng ta có thể hiểu: Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là hành vi lợi dụng chủ tài sản không có điều kiện ngăn cản công nhiên chiếm đoạt tài sản của họ Do đặc điểm riêng của tội công

nhien chiếm đoạt tài sản, nên người phạm tội chỉ có hành vi khách quan duy nhất là hành vi chiếm đoạt, nhưng chiếm đoạt bằng hình thức công khai, với thủ đoạn lợi dụng sơ hở của người quản lý tài sản hoặc lợi dụng vào hoàn cảnh khách quan khác như thiên tai, hỏa hoạn, chiến tranh Tính chất công khai, trắng trợn tuy không phải là hành vi khách quan nhưng lại là một đặc điểm cơ bản đối với tội công nhiên chiếm đoạt tài sản Công nhiên chiếm đoạt tài sản trước hết là công nhiên với chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản, sau đó là công nhiên với mọi người xung quanh.Tính chất công khai của hành vi thể hiện

ở chỗ người phạm tội không giấu diếm hành vi phạm tội của mình, và gần như đồng thời lúc người phạm tội chiếm đoạt được tài sản, chủ tài sản cũng biết được rằng tài sản của mình đã bị mất Có nghĩa là để cấu thành tội công nhiên chiếm đoạt tài sàn thì hành vi chiếm đoạt của người phạm tội phải có tính chất công khai tức là hành vi đó phải xẩy ra trong hoàn cảnh người chủ tài sản không

có điều kiện ngăn cản – biết có hành vi chiếm đoạt mà không làm gì được vì đã rơi vào hoàn cảnh không có điều kiện ngăn cản

Quay trở lại với tình huống trong vụ án, vì “đang say rượu nằm mê mệt

bên lề đường” nên chị B không hề hay biết hành vi của H và Q và tất nhiên

không có điều kiện ngăn cản (vì đã rơi vào hoàn cảnh không có điều kiện ngăn cản) Do đó hành vi của H và Q là hành vi mang tính chất lén lút chứ không

thỏa mãn dấu hiệu công khai trước chủ tài sản, vì vậy hành vi của H, Q không cấu thành tội công nhiên chiếm đoạt tài sản.

Trang 5

c H và Q phạm tội trộm cắp tài sản. (quan điểm này là hoàn

toàn chính xác)

Điều 133-BLHS 1999 quy định: Tội trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản đang có chủ và thuộc một trong các trường hợp sau:

- Tài sản chiếm đoạt có giá trị từ 500.000 đồng trở lên

- Nếu dưới 500.000 đồng mà:

+ Gây hậu quả nghiêm trọng

+ Hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt mà còn vi phạm

+ Hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

Tài sản H, Q đã chiếm đoạt là 10 triệu đồng thõa mãn giá trị của khoản 1 điều 138 BLHS

Dấu hiệu của tội trộm cắp tài sản gồm: dấu hiệu hành vi chiếm đoạt, dấu hiệu lén lút và dấu hiệu tài sản đang có chủ

Theo đề bài, chị B mang nữ trang bên mình như vậy tất nhiên tài sản này đang thuộc về quyền sở hữu của chị B

Dấu hiệu chiếm đoạt trong CTTP tội trộm cắp tài sản được hiểu là chiếm đoạt được, tội này chỉ coi là hoàn thành khi người phạm tội đã chiếm đoạt được tài sản

- Nếu vật chiếm đoạt gọn nhỏ thì coi đã chiếm đoạt được khi người phạm tội đã giấu được tài sản trong người

Trang 6

- Nếu vật chiếm đoạt không thuộc loại nói trên thì coi chiếm đoạt được khi đã mang được tài sản ra khỏi khu vực bảo quản

- Nếu vật chiếm đoạt là tài sản để ở những nơi không hình thành khu vực bảo quản riêng thì coi là đã chiếm đoạt được khi đã dịch chuyển tài sản ra khỏi vị trí ban đầu

Tản sản mà H và Q đã chiếm đoạt thuộc loại vật nhỏ gọn và “chị B tỉnh giấc

mới biết mình bị mất tài sản và đi báo công an”, có nghĩa là H và Q đã chiếm

đoạt được tài sản

Dấu hiệu lén lút ở đây, nghĩa là người phạm tội lén lút (bí mật) lấy tài sản

mà chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản không biết mình bị lấy tài sản, chỉ sau khi mất họ mới biết bị mất tài sản Hành vi chiếm đoạt được coi là lén lút nếu được thực hiện bằng hình thức mà hình thức đó có khả năng không cho phép chủ tài sản biết có hành vi chiếm đoạt khi hành vi này xảy ra Hình thức đó có thể là lợi dụng sơ hở, mất cảnh giác của người quản lý tài sản không trông giữ cẩn thận hoặc lợi dụng vào hoàn cảnh khách quan khác nhằm tiếp cận tài sản để thực hiện hành vi chiếm đoạt mà người quản lý tài sản không biết

Tuy nhiên lén lút không phải là đặc trưng duy nhất của tội trộm cắp tài sản mà trong nhiều trường hợp người phạm tội cũng lén lút để thực hiện mục đích khác như lẻn vào nhà người khác để đặt mìn nhằm giết hại những người trong gia đình của họ, lẻn vào phòng ngủ của phụ nữ để thực hiện việc hiếp dâm…vì vậy khi nói đến trộm cắp tài sản thì không thể không đi kèm với hành

vi chiếm đoạt tài sản, nếu lén lút mà không chiếm đoạt tài sản thì không phải là trộm cắp tài sản

Nếu chị B biết mà không thể làm được gì thì mới là công nhiên chiếm

đoạt tài sản Đằng này, khi H và Q phát hiện ra chị B “đang say rượu nằm mê

mệt bên lề đường”, chúng mới lấy đi tài sản trên người chị Lúc này chị B đã

không còn khả năng nhận thức và điều khiển được hành vi, rõ ràng chị B không

Trang 7

thể biết hành vi của H và Q Như vậy H và Q đã lợi dụng sự sơ hở của chị B để chiếm đoạt tài sản, do đó hành vi của H và Q đã thỏa mãn dấu hiệu lén lút trong CTTP của tội trộm cắp tài sản

Như vậy, định tội cho H và Q tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 138 BLHS 1999 là hoàn toàn chính xác và có cơ sở

2 – d Giả thiết rằng ngoài việc chiếm đoạt tài sản H và Q còn có hành vi giao cấu với chị B thì bị chị này phát hiện và kêu cứu, sợ bị lộ H và Q đã bóp cổ làm chị B chết thì H và Q có phải chịu TNHS về hành vi của mình không? Nếu có thì tội danh cho hành vi của H và Q là gì? Căn cứ pháp lý?

Với giả thiết như đã nêu trên thì H và Q phải chịu TNHS về hành vi cuả mình với hai tội danh nữa là tội hiếp dâm (theo điêu 111) và tội giết người theo điều 93 BLHS năm 1999

Thứ nhất, theo quy định tại Điều 111 BLHS 1999 thì hành vi của H, Q cấu thành tội hiếp dâm: “ Hiếp dâm là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ đươc của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu với nạn nhân trái ý muốn của họ.”

* Theo quy định Điều 111 BLHS 1999, tội hiếp dâm có những căn cứ pháp lý sau:

- Khách thể của tội phạm: là xâm phạm quan hệ nhân than - quyền được tôn trọng về nhân phẩm, danh dự Cụ thể là quyền được tự do về quan hệ tình dục của người phụ nữ

- Mặt khách quan của tội phạm:

+ Hành vi khách quan của tội phạm này là hành vi giao cấu với người phụ

nữ, trái ý muốn của họ, bằng thủ đoạn dùng vũ lực (dùng sức mạnh đè bẹp sự

Trang 8

phản kháng của nạn nhân như xô ngã, vật, giữ… ), đe dọa dùng vũ lực (uy hiếp

về mặt tinh thần: dọa giết, dọa gây thương tích…), lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân( lợi dụng khi nạn nhân ốm, bị bại liệt ) hoặc dùng thủ đoạn khác (có thể là lợi dụng người phụ nữ đang trong tình trạng không có khả năng biểu lộ ý chí: nạn nhân bị tâm thần, bị say rượu, hoặc có thể tình trạng trên do người phạm tội tự mình tạo ra: cho nạn nhân uống rượu… )

Cấu thành tội hiếp dâm không đòi hỏi người phạm tội phải có hành vi giao cấu với nạn nhân Nếu người phạm tội dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực để giao cấu nhưng chưa giao cấu được với nạn nhân vì lý do khách quan thì người này vẫn phạm tội hiếp dâm nhưng ở giai đoạn phạm tội chưa đạt Hành vi giao cấu của người phạm tội phải trái ý muốn của nạn nhân, nghĩa là người phụ nữ không chấp nhận sự giao cấu Trường hợp hành vi giao cấu xảy ra không có ý muốn của người phụ nữ vì họ đang trong tình trạng không biểu lộ ý chí được coi cũng là “hành vi giao cấu trái ý muốn”

+ Hậu quả: tội hiếp dâm có cấu thành hình thức nên hậu quả cũng như mối quan hệ nhân quả không phải là yếu tố bắt buộc trong cấu thành này Nó chỉ có

ý nghĩa trong việc đánh giá mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội

và từ đó có ý nghĩa trong việc quyết định hình phạt Công cụ, phương tiện, địa điểm phạm tội giúp việc quyết định hình phạt được chính xác hơn

- Mặt chủ quan của tội phạm: Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý Người phạm tội biết hành vi giao cấu của mình là trái ý muốn của người phụ nữ nhưng vẫn mong muốn thực hiện hành vi đó bằng mọi thủ đoạn (dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân ) Động cơ

và mục đích không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm này

- Chủ thể của tội phạm: Người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ 14 tuổi trở lên (nếu phạm tội ở khoản 2, khoản 3, khoản 4 điều 111) hoặc 16 tuổi trở lên (nếu phạm tội ở khoản 1) có thể trở thành chủ thể của tội này Tuy nhiên chủ thể của tội hiếp dâm là chủ thể đặc biệt Người thực hiện hành vi phạm tội này chỉ có thể là nam giới Nữ giới có thể tham gia trong vụ đồng phạm hiếp

Trang 9

dâm với vai trò là người xúi giục, người giúp sức hoặc người thực hành.

Đối chiếu với tình huống trên ta thấy cả H và Q đều phạm tội hiếp dâm

Họ đều thực hiện hành vi giao cấu trái với ý muốn của chị B bằng thủ đoạn là lợi dụng lúc chị B say rượu không biết gì, không biểu lộ được ý chí của mình

để thực hiện hành vi giao cấu Chúng ta có thể làm rõ hành vi giao cấu của H, Q đối với chị là trái ý muốn bằng các tình tiết đó là: thủ đoạn lợi dụng chị B say rượu nằm mê mệt trên đường để giao cấu, cả H, Q đều không có mối quan hệ đặc biệt với chị B như là chồng, bạn trai và tình tiết chị B phát hiện và kêu cứu Cả hai đều là nam giới có năng lực TNHS, đều mong muốn thực hiện hành

vi giao cấu Bởi vậy việc định cho H, Q tội hiếp dâm là hoàn toàn chính xác và

có cơ sở Ngoài ra H và Q còn là đồng phạm vì về khách quan: cả H, Q đều thực hiện hành vi giao cấu với B, đều đóng vai trò là người thực hành trong vụ đồng phạm Về mặt chủ quan: cả H, Q đều biết hành vi của mình và hành vi của người khác là nguy hiểm nhưng vẫn mong muốn thực hiện hành vi phạm tội thể

hiện ở việc “phát hiện chị B đang say rượu nằm mê mệt bên lề đường” nên H

và Q “ có hành vi giao cấu với chị B ” Như vậy H, Q là đồng phạm không có

thông mưu trước

Mặt khác, H, Q sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự theo điểm c khoản 2

Điều 111 BLHS với tình tiết định khung tăng năng “nhiều người hiếp một

người” Nhiều người hiếp một người là trường hợp tất cả những người tham gia

đều có hành vi giao cấu với nạn nhân Cần làm rõ thêm việc không áp dụng tình

tiết “hiếp dâm có tổ chức” theo điểm a khoản 2 Điều 111 BLHS đối với H và Q

Họ chỉ phạm tội thuộc trường hợp có tổ chức khi có sự cấu kết chặt chẽ khi cùng thực hiện tội phạm Đằng này, H và Q không có sự bàn bạc chặt chẽ từ trước vì mục đích của chúng là trộm cắp tài sản của chị B

Do vậy, với hành vi giao cấu với chị B thì H và Q đã phạm tội hiếp dâm

vơi tình tiết định khung tăng nặng “nhiều người hiếp một người” theo điểm c

khoản 2 Điều 111 BLHS

Trang 10

Thứ hai, hành vi của H, Q còn phạm thêm tội giết người theo Điều 93 BLHS Theo quy định Điều 93 BLHS 1999, tội giết người có những căn cứ pháp lý sau:

- Khách thể:

Xâm hại quan hệ nhân thân - quyền sống của con người

- Mặt khách quan:

+ Hành vi khách quan:

Chị B đang còn sống và hành vi của H, Q là hành vi tước đoạt trái pháp luật tính mạng của chị B (bóp cổ đến chết)

+ Hậu quả và mối quan hệ nhân quả:

Hành vi của H, Q là nguyên nhân trực tiếp gây ra cái chết cho chị B Do

đó tội giết người của H, Q đã hoàn thành

- Mặt chủ quan:

Lỗi của H, Q là lỗi cố ý trực tiếp Cả hai nhận thức được hành vi bóp cổ của mình chắc chắn gây ra cái chết cho chị B nhưng cả hai đều mong muốn cho chị B chết nhằm mục đích che dấu tội phạm mà cả hai đã thực hiện trước đó

- Chủ thể: H, Q đã thõa mãn là nam giới, có năng lực TNHS và đạt đủ độ

tuổi (Tức nhiên là mặc nhiên thừa nhận)

Bên cạnh đó, hành vi của H, Q đã thõa mãn tình tiết định khung tăng

nặng “giết người để che giấu tội phạm khác” theo điểm g khoản 1 Điều 93

BLHS

Giết người để che dấu tội phạm khác là trường hợp trước khi giết người, người có hành vi giết người đã thực hiện một tội phạm và để che giấu tội phạm

đó nên người phạm tội đã giết người, đó thường là do nguyên nhân sau khi phạm một tội có nguy cơ bị lộ, người phạm tội cho rằng chỉ giết người thì tội phạm mà họ đã thực hiện mới không bị phát hiện Giữa hành vi giết người của người pham tội với tội phạm mà họ đã thực hiện có mối liên hệ với nhau, người

bị giết có thể là nhân chứng, có thể là người bị hại từ một tội phạm trước và cũng có thể là người cùng thực hiện tội phạm; đó cũng chính là động lực thúc

Ngày đăng: 05/04/2013, 10:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w