1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ, THƯƠNG MẠI TẠI TOÀ ÁN

28 2,6K 20
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Tiễn Giải Quyết Tranh Chấp Kinh Tế, Thương Mại Tại Toà Án
Tác giả Hoàng Văn Hùng
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Thương Mại
Thể loại Chuyên Đề Thực Tập
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 130,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ, THƯƠNG MẠI TẠI TOÀ ÁN

Trang 1

SINH VIÊN: HOÀNG VĂN HÙNG

LỚP: KINH TẾ 28F

ĐỊA ĐIỂM THỰC TẬP (TOÀ KINH TẾ _ TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ)

NĂM 2007

Trang 2

PHẦN I: LỜI NÓI ĐẦU

PHẦN II : THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ, THƯƠNG

MẠI TẠI TOÀ KINH TẾ-TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ 12.1 Vài nét khái quát về tranh chấp kinh tế, thương mại và giải

quyết Tranh chấp Kinh tế, Thương mại tại Toà án 2

2.2 Khái niệm, ý nghĩa và ưu nhược điểm của phương

thức giải quyết tranh chấp tại Toà án 3

2.3 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh tế, thương

mại của Toà kinh tế 4

PHẦN III : QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP

KINH TẾ, THƯƠNG MẠI TẠI TOÀ KINH TẾ- TOÀ ÁN NHÂN

DÂN TỈNH PHÚ THỌ 5

3.1 Giới thiệu về Toà kinh tế-Toà án nhân dân Tỉnh

Phú Thọ 6

3.2 Thực tiễn qua gần 10 năm xét xử của Toà

kinh tế_Toà án nhân dân Tỉnh Phú Thọ 7

PHẦN IV : NHỮNG VẤN ĐỀ VƯỚNG MẮC TRONG

GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP KINH TẾ, THƯƠNG MẠI

TẠI TOÀ KINH TẾ-TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ 8

4.1 Vấn đề nhận dạng tranh chấp kinh tế, thương mại

với yêu cầu về kinh doanh, thương mại tại Toà án 9

4.2 Vấn đề xác định thẩm quyền xét xử của

Toà Kinh tế trong giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại 10

4.3 Vấn đề áp dụng chế tài khi vi phạm không thực

hiện Hợp đồng và chế tài buộc bồi thường thiệt hại 11

PHẦN V: NHỮNG GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC VÀ NHỮNG

KIẾN NGHỊ NHẰM THỰC THI TỐT CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT

CÁC VỤ VIỆC TRANH CHẤP KINH TẾ, THƯƠNG MẠI TẠI

TOÀ KINH TẾ- TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ 12

Trang 3

5.1 Những giải pháp khắc phục những thiếu sót,

tồn tại trong thực tiễn giải quyết các tranh chấp kinh tế

tại Toà kinh tế 13

5.2 Một số kiến nghị nhằm thực thi hiệu quả công tác giải

quyếtcác tranh chấp kinh tế, thương mại

tại Toà kinh tế 14

PHẦN VI: KẾT LUẬN 15

Trang 4

PHẦN I LỜI NÓI ĐẦU

Trong điều kiện kinh tế ngày càng phát triển, các tranh chấp về kinhdoanh, thương mại ngày càng đa dạng và phức tạp Mặt khác khi nước ta đãgia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) Nhiều quan hệ kinh tế cũngmang những diện mạo sắc thái mới Tương ứng với sự đa dạng phong phú củacác quan hệ này, các tranh chấp kinh tế ngày càng muôn hình muôn vẻ và với

số lượng lớn Ở Việt Nam các đương sự thường lựa chọ hình thức giải quyếttranh chấp kinh tế bằng Toà án như một giải pháp cuối cùng để bảo vệ cóhiệu quả các quyền và lợi ích của mình khi thất bại trong việc sử dụng cơ chếthương lượng, hoà giải Chính vì vậy, Toà án có vai trò vô cùng quan trọng.Hơn nữa, trong Nhà nước pháp quyền hoạt động xét xử của Toà án phải đảmbảo công minh, nhanh chóng, chính xác và kịp thời tránh tình trạng tồn đọng

án, giải quyết án kéo dài, dễ gây phiền hà, mệt mỏi cho các bên đương sự Dovậy, việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn về giải quyết tranh chấp kinh tế,thương mại tại Toà án được nhiều người quan tâm Đồng thời việc giải quyếttranh chấp này còn góp phần đảm bảo quyền và lợi ích của đương sự, đảmbảo môi trường kinh doanh lành mạnh và an ninh quốc gia Xuất phát từ vịtrí, vai trò và ý nghĩa của phương thức giải quyết tranh chấp kinh tế, thươngmại tại Toà án Vì lẽ đó, em xin chọn chuyên đề này

Trang 5

PHẦN II THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ, THƯƠNG MẠI TẠI TOÀ KINH TẾ-TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

2.1 Khái niệm về tranh chấp kinh tế, thương mại và việc giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại tại Toà án

Giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại hiện nay đòi hỏi phải cónhững hình thức, thủ tục đa dạng, linh hoạt, trong khuôn khổ pháp luật kinh

tế, dựa trên sự tôn trọng quyền định đoạt của đương sự, bảo đảm thời gian,bảo đảm bí mật kinh doanh và uy tín của của các bên đương sự, phù hợp vớithông lệ và tập quán quốc tế

Ngày 01/07/1994 trọng tài kinh tế chấm dứt hoạt động Toà kinh tế, mộtToà chuyên trách của Toà án nhân dân đã được ra đời, có chức năng giảiquyết và xét xử các vụ án kinh tế Pháp luật nội dung trong thời gian qua ởnước ta đã có nhiều bước tiến đáng kể theo hướng văn minh, hiện đại Việcxác định một vụ việc tranh chấp về kinh tế, thương mại và việc xác định thẩmquyền giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại tại Toà án có ý nghĩa vôcùng quan trọng trong việc thụ lý, chuẩn bị hồ sơ và giải quyết tranh chấpcũng như việc thi hành quyết định, bản án của Toà án Vậy như thế nào làmột tranh chấp kinh tế, thương mại, đây là một vấn đề còn có nhiều quanđiểm, chúng ta cùng tìm hiểu nó

a.Khái niệm tranh chấp kinh tế

Trong quá trình giải quyết tranh chấp, một trong những công việc đầutiên mà Toà án cần làm là xem xét tranh chấp đó có thuộc thẩm quyền củamình hay không, và việc xác định thế nào là tranh chấp kinh tế có ảnh hưởnglớn đến thẩm quyền của Toà án trong việc giải quyết các tranh chấp này Trênthực tế, “tranh chấp kinh tế” có nhiều cách hiểu, nhưng trong khoa học pháp

lý, khái niệm “tranh chấp kinh tế” có thể được tiếp cận ở nhiều góc độ khácnhau như: từ góc độ pháp luật nội dung, từ góc độ pháp luật tố tụng

Trong khoa học pháp lý Việt Nam, thuật ngữ “Tranh chấp kinh tế” được

sử dụng khá phổ biến Tuy nhiên, bên cạnh thuật ngữ này còn có các thuật

Trang 6

ngữ khác như “Tranh chấp thương mại”, “Tranh chấp hợp đồng kinh tế” Cóquan điểm cho rằng, tranh chấp kinh tế trong kinh doanh phần nào có sự khácbiệt với tranh chấp kinh tế nói chung Bởi lẽ, khái niệm “kinh tế” cũng như

“Quan hệ kinh tế” thông thường được hiểu rộng hơn khái niệm “Kinh doanh”,

“Quan hệ kinh doanh” Kinh doanh chỉ là hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận vàmang tính nghề nghiệp như sản xuất, buôn bán, dịch vụ v.v… Trong khi đó,kinh tế có sự bao hàm cả yếu tố quản lý và yếu tố chính trị khác Chính vìvậy, việc giải quyết tranh chấp trong kinh doanh cũng có những nét đặc thù

so với giải quyết tranh chấp kinh tế

Khác với quan điểm trên, một số tác giả lại đồng nghĩa “Tranh chấpkinh tế” với “tranh chấp kinh doanh” hoặc cho rằng “Tranh chấp kinh tế” làtranh chấp phát sinh từ vi phạm hợp đồng kinh tế

Dưới góc độ pháp luật nội dung, “Tranh chấp kinh tế” là những tranhchấp phát sinh từ các quan hệ kinh tế được điều chỉnh bởi pháp luật kinh tế.Tuy nhiên với khái niệm “Tranh chấp kinh tế” như vậy khó có thể cho phépphân biệt được với các loại tranh chấp với các loại tài sản khác như tranhchấp Dân sự, Thương mại vì nội hàm của nó quá rộng

Dưới góc độ pháp luật tố tụng hiện hành ở Việt Nam hiện nay, tranhchấp Kinh tế (hay tranh chấp Thương mại) bao gồm những tranh chấp phátsinh trong nội bộ Công ty, trong hoạt động kinh doanh v.v… Có thể nói cáchtiếp cận này có phạm vi nội hàm hẹp nên không thể bao quát hết các tranhchấp đã và đang phát sinh trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay

Trên thế giới, khái niệm “Tranh chấp kinh tế” không được thể hiệntrong pháp luật nội dung cũng như pháp luật hình thức và không có sự phânbiệt giữa “Tranh chấp kinh tế” và “Tranh chấp dân sự” Có chăng chỉ là có sựphân biệt giữa “Tranh chấp Thương mại” và “Tranh chấp Dân sự”

Theo quan điểm của em, “Tranh chấp kinh tế” hay “Tranh chấp thươngmại”cần được hiểu là những mâu thuẫn (Bất đồng hay xung đột) về quyền vànghĩa vụ giữa các bên trong quá trình hoạt động Thương Mại (Giáo trình luậtthương mại –Tập 2 –Trường Đại học luật Hà Nội)

Trang 7

“Tranh chấp kinh tế” là hệ quả phát sinh từ các quan hệ kinh tế – cácquan hệ có tính chất tài sản với mục đích kinh doanh, kiếm lời Tính chất, đặcđiểm của các tranh chấp kinh tế bị chi phối bởi tính chất nội dung của cácquan hệ kinh tế Hay nói cách khác, cơ sở phát sinh của các tranh chấp kinh tế

là các hoạt động kinh tế giữa các chủ thể Khi tham gia các quan hệ kinh tế,các chủ thể đều hướng tới một mục đích cao nhất là lợi nhuận, lợi ích kinh tế

Do vậy, sự vi phạm về quyền và nghĩa vụ của các bên sẽ dẫn tới hệ quả làmột bên nào đó đã bị gây thiệt hại về quyền lợi kinh tế, theo đó tranh chấpkinh tế sẽ phát sinh Các tranh chấp kinh tế có thể phát sinh trong cả quá trìnhsản xuất và tái sản xuất xã hội, từ khâu đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩmhoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời Các tranhchấp này thường ảnh hưởng đến không những quyền lợi của các bên tranhchấp mà còn ảnh hưởng đến sản xuất, kinh doanh của cả cộng đồng Đâychính là tính phản ứng dây chuyền của tranh chấp kinh tế, và do vậy nếu cókhông được giải quyết một cách khoa học, nghiêm minh, kịp thời, chính xác

và đúng pháp luật, bảo đảm quyền lợi của các bên trong quan hệ tranh chấpthì có thể ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của nền kinh tế đất nước

2.2 KHÁI NIỆM VÀ Ý NGHĨA, ƯU ĐIỂM VÀ NHƯỢC ĐIỂM CỦA PHƯƠNG THỨC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ, THƯƠNG MẠI TẠI TOÀ ÁN

a khái niệm

“Giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại” được hiểu là các hình thức,các phương pháp nhằm giải quyết các bất đồng về quyền và nghĩa vụ của cácchủ thể kinh doanh bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể có tranhchấp

b ý nghĩa của việc giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại

Đảm bảo việc giải quyết tranh chấp nhanh chóng kịp thời, chính xác,nghiêm minh, đúng pháp luật

Trang 8

Đảm bảo các cho các phán quyết của Toà án được thực thi một cáchnghiêm chỉnh đúng pháp luật Đồng thời, bảo đảm đến mức tối đa sự giánđoạn trong hoạt động kinh doanh của các chủ thể tranh chấp.

c Ưu điểm của phương thức giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mạitại Toà án

Có 4 phương thức giải quyết tranh chấp phổ biến: Thương lượng, Hoàgiải, Trọng tài, Toà án Trong đó giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại tạiToà án là phương thức quan trọng nhất Bởi vì, Toà án là một cơ quan Nhànước tiến hành theo một thủ tục tố tụng chặt chẽ, nhằm ra một bản án hayquyết định về vụ tranh chấp và đảm bảo thi hành bằng sức mạnh cưỡng chếcủa Nhà nước

d Nhược điểm của phương thức giải quyết tranh chấp kinh tế, thươngmại tại Toà án

Phương thức này mất nhiều thời gian (Từ sơ phúc tái giám đốc thẩm) và phải xét xử công khai Do đó, dễ bị lộ về bí quyết kinhdoanh, uy tín bị giảm sút)

2.3 THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ, THƯƠNG MẠI CỦA TOÀ KINH TẾ

Các vụ việc phát sinh từ hoạt động kinh doanh, thương mại đa dạng vàphức tạp Quyền lựa chọn của các đương sự trong vụ tranh chấp cũng rộnghơn, có thể thoả thuận với nhau lựa chọn con đường Toà án hoặc Trọngtài.Trong thực tiễn xét xử các vụ án tranh chấp kinh tế, thương mại Bướcđầu tiên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động tố tụng

là việc khởi kiện của nguyên đơn Sau khi nhận được đơn khởi kiện củanguyên đơn và các chứng cứ , tài liệu kèm theo thì Toà án phải vào sổ nhậnđơn và xem xét

Sau đó cơ quan Toà án phải xem xét về điều kiện thụ lý vụ án kinh tế,nếu nó thuộc thẩm quyền của Toà kinh tế thì Toà sẽ nhận đơn khởi kiện củanguyên đơn và thông báo cho người khởi kiện biết để họ nộp tiền tạm ứng ánphí Sau khi người khởi kiện nộp tiền tạm ứng án phí thì Toà án quyết định

Trang 9

nhận giải quyết vụ án và vào sổ thụ lý vụ án kinh tế để giải quyết Thời điểmthụ lý chính là mốc xác định các thời hạn tố tụng ràng buộc trách nhiệm vànghĩa vụ của Toà Sau khi thụ lý vụ án, Thẩm phán phải triệu tập đương sự

Toà án phải tuân thủ đúng các thời hạn luật định về chuẩn bị xét xử và

mở phiên Toà, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự Toà án

sẽ trả lại đơn kiện nếu tranh chấp đó thuộc một trong các trường hợp đượcquy định tại Điều 168 của BLTTDS năm 2004

Điểm khác biệt của BLTTDS so với Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ

án kinh tế là: Điều 12 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế dùngkhái niệm: “Tranh chấp về hợp đồng kinh tế”, còn BLTTDS năm 2004 dùngkhái niệm “Tranh chấp trong hoạt động kinh doanh, thương mại’’ TrongBLTTDS mới đã liệt kê các hành vi kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyềngiải quyết của Toà án đầy đủ hơn các quy định của Pháp lệnh

-Về chủ thể của tranh chấp kinh doanh, Thương mại: Pháp lệnh thủ tụcgiải quyết các vụ án kinh tế quy định tranh chấp về hợp đồng kinh tế phátsinh giữa pháp nhân với pháp nhân, pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinhdoanh Còn BLTTDS quy định tranh chấp kinh doanh, thương mại giữa cánhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh Như vậy, các tranh chấp mà không có

sự tham gia của một bên là pháp nhân thì không được coi là tranh chấp kinh

tế và như vậy không được giải quyết theo Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ

án kinh tế

Pháp lệnh hợp đồng kinh tế quy định Hợp đồng kinh tế phải có mụcđích kinh doanh, còn Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế khôngquy định mục đích của các bên tranh chấp Do đó, khi xảy ra tranh chấp nếuthoả mãn về mặt chủ thể và hình thức của hợp đồng kinh tế thì được giảiquyết các tranh chấp kinh tế Trong BLTTDS quy định các chủ thể trong hoạtđộng kinh doanh thương mại phải có mục đích lợi nhuận Như vậy, điểm khácbiệt giữa pháp lệnh cũ và BLTTDS về giải quyết tranh chấp là Bộ luật coitrọng vấn đề mục đích của các chủ thể ,vấn đề về hình thức và chủ thể củaquan hệ tranh chấp

Trang 10

a Thẩm quyền của Toà án các cấp

Việc phân định thẩm quyền của Toà án các cấp dựa vào nhiều tiêu chí

để đảm bảo việc giải quyết được chính xác, đúng pháp luật Có thể căn cứ vàomức độ phức tạp của từng loại tranh chấp để phân định thuộc thẩm quyền giảiquyết của Toà án cấp huyện hay Toà án cấp tỉnh Pháp lệnh cũ quy định cáctranh chấp về quyền sở hữu công nghiệp (Điều 29 pháp lệnh bảo hộ quyền sởhữu công nghiệp) Còn Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế quyđịnh Toà án cấp huyện có thẩm quyền giải quyết các vụ án kinh tế có giángạch dưới 50.000.000 triệu đồng trừ trường hợp có nhân tố nước ngoài.Việc quy định giá ngạch tranh chấp để phân định thẩm quyền là không hợp

lý Bởi có rất nhiều vụ án có giá trị tranh chấp không lớn nhưng rất phức tạp.Bên cạnh đó cũng có rất nhiều vụ án tuy có giá trị tranh chấp rất lớn nhưngviệc giải quyết tranh chấp lại rất đơn giản Khắc phục hạn chế đó, BLTTDS

đã quy định dựa vào tính chất phức tạp của vụ việc để phân định thẩm quyền

Điều 29, Điều 35 của Bộ luật liệt kê các tranh chấp được giải quyết tại Toà án

huyện: Mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, phân phối, đại diên, đại lý, kýgửi, thuê, cho thuê, thuê mua, xây dựng, tư vấn, kỹ thuật; vận chuyển hànghoá, hành khách bằng đường sắt, đường bộ, đường thuỷ nội địa

Trong trường hợp các tranh chấp nêu trên sẽ thuộc thẩm quyền của Toà

án cấp tỉnh nếu có một trong các yếu tố:

- Có đương sự ở nước ngoài ;

- Có tài sản tranh chấp ở nước ngoài;

- Cần uỷ thác tư pháp, cơ quan lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài

Điều 29, Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự quy định các trường hợp thuộc thẩmquyền của Toà án nhân dân cấp tỉnh là các tranh chấp phát sinh trong hoạtđộng vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường biển, đường hàng không;mua bán cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác; đầu tư tài chính, ngânhàng; bảo hiểm; thăm dò, khai thác; các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ;chuyển giao công nghệ giữa các tổ chức, cá nhân với nhau và đều có mục

Trang 11

đích lợi nhuận; tranh chấp giữa thành viên công ty với công ty, giữa các thànhviên công ty với nhau liên quan đến những vấn đề của công ty

b.Thẩm quyền theo lãnh thổ

Là việc xác định cụ thể Toà nào có thẩm quyền giải quyết sơ thẩm vụviệc dân sự Để bảo đảm cho việc giải quyết được nhanh chóng và đúng phápluật, nguyên tắc chọn Toà án nơi bị đơn cư trú hoặc có trụ sở hoặc nơi làmviệc của bị đơn

c Thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn

Để thuận lợi nhất cho nguyên đơn trong việc giải quyết vụ tranh chấpcũng như xác định thẩm quyền của Toà án cụ thể pháp luật giành cho nguyênđơn được quyền chọn Toà án để giải quyết vụ tranh chấp Theo Điều 36BLTTDS năm 2004, nguyên đơn được lựa chọn Toà án để giải quyết vụ tranhchấp về kinh doanh, thương mại

Trang 12

PHẦN III QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ, THƯƠNG MẠI TẠI TOÀ KINH TẾ- TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

3.1 GIỚI THIỆU VỀ TOÀ KINH TẾ-TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

Toà kinh tế- Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ được thành lập vào năm

1994 ( tỉnh Vĩnh Phú cũ) và được tách ra vào đầu năm 1997 Với vai trò làToà chuyên trách của Toà án Tỉnh, trong cơ cấu gồm có sáu thành viên thì có

-Tranh chấp về Hợp đồng mua bán hàng hoá 12 vụ chiếm 38.7% Tranhchấp này tăng mạnh từ năm 1998 đến 2006 (số liệu thống kê từ năm 1998-đến năm 2000)

-Tranh chấp về Hợp đồng xây dựng cơ bản là 14 vụ chiếm45.1%.Trong những năm qua tranh chấp liên quan đến Hợp đồng xây dưng cơbản tăng mạnh từ năm 1999 đến 2000 (số liệu thống kê từ năm 1999-2000)

-Tranh chấp về Hợp đồng xuất nhập khẩu uỷ thác là 2 vụ chiếm 6.4 %.(một vụ năm 2002 giữa công ty DAELIM-CORPORATION và công ty

Trang 13

TNHH TASCO-MATERIAL; và một vụ giữa Công ty xây dựng số 25 vàCông ty TNHH KOR-VIPACK)

-Về tranh chấp trong thành lập, hoạt động, giải thể Công ty có 1 vụ là

về việc tranh chấp giữa thành viên Công ty là bà Đào Thị Phương với Công ty

và Công ty cổ phần Hoà Thanh (chiếm tới 3,4%)

-Về tranh chấp liên quan đến Mua bán Cổ phiếu, Trái phiếu không có

vụ nào

-Về các tranh chấp kinh doanh thương mại khác không có vụ nào

 Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, em thấy về tranh chấp Hợp đồng kinh tế

là có số vụ cao nhất là 31 vụ, trong đó hoà giải được 8 vụ chiếm tới 25% đưa

ra xử là 23 vụ chiếm tới 71.8% Các vụ án được hoà giải đều được cơ quanToà án chấp nhận và dựa trên sự thoả thuận thuận tình của 2 bên Các vụ ánđược đưa ra xét xử thì trong đó xét xử sơ thẩm thì có những vụ án đã xét xử

sơ thẩm đến phúc thẩm và rồi lại được xét xử lại kéo dài nhiều năm Tiêubiểu như vụ: về việc tranh chấp Hợp đồng mua bán trong hoạt động kinhdoanh thương mại giữa Công ty TNHH khai thác đá Hương Cần và công ty cổphần xây dựng Hùng Vương Với vụ án này Toà án cấp sơ thẩm đã tuyên tạibản án sơ thẩm số 01/2001/ KDTM-ST , ngày 31/05/2001 Thẩm phán- chủtoạ phiên toà ông Nguyễn Ngọc Triệu đã tuyên buộc Công ty Cổ phần XâyDựng Hùng Vương phải thanh toán cho Công ty TNHH Khai thác Đá HươngCần tiền nợ gốc là 304.000.000 đồng, tiền lãi chậm trả 1,5% /tháng tính đếnngày tuyên án sơ thẩm là 21 tháng 8 ngày , thành tiền là 96.236.000 đồng Tổng số tiền Công ty Cổ phần Xây Dựng Hùng Vương phải thanh toán trảCông ty TNHH khai thác Đá Hương Cần là 400.236.000 đồng Tại bản ánphúc thẩm của Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội bản án số 159/2001 KTPTngày 17/8/2001 với hội đồng xét xử thẩm phán- chủ toạ phiên toà Ông : TrầnĐình Dần đã tuyên quyết định buộc Công ty Cổ phần Xây dựng Hùng Vươngphải thanh toán cho Công ty TNHH thai thác Đá Hương Cần cả số tiền nợ gốc

là 304 triệu đồng lãi chậm trả 1.5%/tháng tính đến ngày tuyên án sơ thẩm là

21 tháng 8 ngày, thành tiền là 96.236.000 triệu đồng Tổng số tiền Công ty

Trang 14

Cổ phần Xây dựng Hùng Vương phải thanh toán cho Công ty TNHH khaithác Đá Hương Cần là : 400.236.000 đồng

Trong tranh chấp về Hợp đồng kinh tế thì tranh chấp về Hợp đồng xây dựng cơ bản và Hợp đồng mua bán hàng hoá có số lượng lớn(hợp đồng xây dựng cơ bản là 14 vụ chiếm 45,1%, Hợp đồng mua bán hànghoá :10 vụ chiếm 32,2%)

Còn số vụ về tranh chấp Hợp đồng vận chuyển hàng hoá là 4 vụ chiếm12,9%; tranh chấp về Hợp đồng xuất nhập khẩu uỷ thác là 2 vụ chiếm 6,4%.Tranh chấp các Hợp đồng có nhân tố Nước ngoài là :1 vụ chiếm 3,4 % Điều

đó cho chúng ta thấy rằng, các tranh chấp về Hợp đồng vận chuyển hàng hoá;tranh chấp về xuất nhập khẩu uỷ thác; tranh chấp các Hợp đồng có nhân tốNước Ngoài đều có số lượng ít

Tóm lại: các tranh chấp về Hợp đồng xây dựng cơ bản và Hợp đồngMua bán hàng hoá có tỷ lệ cao Đó là do sự phát triển của nền kinh tế thịtrường; các tổ chức kinh tế(Doanh nghiệp; Hợp tác xã; Công ty) bước vàokinh doanh Đây là quy luật tất yếu, dẫn đến các tổ chức kinh tế gặp nhiều sự

bỡ ngỡ; chưa hiểu biết nhiều về pháp luật Do đó, còn nhiều thủ tục chưađúng pháp luật về đầu tư kinh doanh

-Số vụ án còn lại từ năm này sang năm khác không nhiều (chỉ chiếm tới2%) Đặc biệt năm 2001 không có vụ án nào giải quyết

-Số vụ án Tạm đình chỉ có 2 vụ chiếm tới 6,4%

-Số vụ án còn lại không có

-Số vụ án có áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời 2 vụ chiếm tới 6,2%-Số vụ án có người bảo vệ có quyền và lợi ích của đương sự chiếm tới25%

C Quyết định của Toà án:

+ Di lý( chuyển vụ án lên Toà án có thẩm quyền) là 3 vụ chiếm tới 9,4%+ Tạm đình chỉ, đình chỉ 2 vụ chiếm tới 6,2%

+ Số vụ án hoà giải thành là 8 vụ chiếm tới 40%

+ Số vụ án đã xét xử 25 vụ chiếm tới 78,1%

Ngày đăng: 05/04/2013, 10:54

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w