1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát biểu miệng nghệ thuật thuyết phục con người bằng lời nói trực tiếp

61 5,1K 16

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 481,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với trên 10 vạn báo cáo viên, tuyên truyền viên được tổ chức thành một hệ thống trong Đảng, chính quyền và các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế, từ Trung ương đến cơ sở, những

Trang 1

CHƯƠNG IPHÁT BIỂU MIỆNG - NGHỆ THUẬT THUYẾT PHỤC CON NGƯỜI

BẰNG LỜI NÓI TRỰC TIẾP

I PHÁT BIỂU MIỆNG VÀ CÁC LOẠI HÌNH PHÁT BIỂU MIỆNG

1 Phát biểu miệng

a Khái niệm phát biểu miệng

Hiện nay, trên các sách báo và trong các công trình nghiên cứu đang có nhiều quan niệm khác nhau về phát biểu miệng Tuy nhiên, đa số các nhà nghiên cứu cho rằng phát biểu miệng là phương thức truyền thông tin từ người này đến người khác hoặc nhóm người khác bằng lời nói trực tiếp

b Khái niệm nghệ thuật phát biểu miệng

Theo E.A Nôgin, nghệ thuật phát biểu miệng là khả năng vận dụng thành thạo, sáng tạo một tập hợp những thao tác chuẩn bị và tiến hành phát biểu trước công chúng nhằm mục đích thông tin kiến thức, thuyết phục, cảm hoá, tạo ra niềm tin và thôi thúc hành động của người nghe1

Ngoài khái niệm phát biểu miệng, trên các sách báo và trong thực tế chúng ta còn bắt gặp một số khái niệm gần nghĩa có liên quan như: hùng biện, tuyên truyền miệng, truyền thông bằng lời nói trực tiếp

- Thuật hùng biện (hay khoa tu từ học) là một phương thức truyền thông bằng lời nói trực tiếp, xuất hiện sớm nhất trong lịch sử truyền thông

Nó gần nghĩa với khái niệm phát biểu miệng

Theo Lưu Chí Trung, hùng biện là khả năng dùng lời nói với lập luận chặt chẽ, cách diễn giải phù hợp để thuyết phục người nghe, làm cho họ nắm được, hiểu và tin để có định hướng, sẵn sàng hành động có ý đồ của người nói2

- Tuyên truyền miệng là một phương thức truyền thông bằng lời nói trực tiếp nhằm mục đích nâng cao nhận thức, củng cố niềm tin và cổ vũ hành

1 Xem F.A Nôgin: Nghệ thuật phát biểu miệng, NXB SGK Mác - Lênin, Hà Nội, 1984, tr31

2 Lưu Chí Trung: Phương pháp hùn biện, NXB Thanh niên, Hà Nội 2000, tr15

Trang 2

động của người nghe Tuyên truyền miệng cũng là một phương thức truyền thông bằng lời nói trực tiếp nhưng xuất hiện muôn hơn và xuất hiện đồng thời với khái niệm tuyên truyền, với việc truyền bá hệ tư tưởng.

- Truyền thông bằng lời nói trực tiếp là một phương thức truyền thông

và chia sẻ thông tin từ người này đến người khác hoặc đến nhóm người khác,

từ nhóm này đến nhóm người khác Đây là khái niệm có nội hàm rộng nhất trong các khái niệm nêu trên

Như vậy, các khái niệm nêu trên có nội dung gần như nhau, tuy mức độ rộng, hẹp có khác đôi chút Chúng đều là những khái niệm để chỉ quá trình truyền thông bằng lời nói trực tiếp, nhưng phương thức, mục đích khác nhau, xuất hiện và được sử dụng trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể

2 Các thể loại phát biểu miệng

Tuỳ theo tính chất của mối quan hệ qua lại giữa người nói và người nghe trong quá trình giao tiếp mà người ta chia các thể loại phát biểu miệng thành hai nhóm: Thể loại độc thoại và thể loại đối thoại

Độc thoại bao gồm các loại hình sau:

- Bài giảng: Là sự trình bày một cách cơ bản, có hệ thống, có chứng minh, lập luận rõ ràng về một vấn đề với mục đích giáo dục rõ rệt

Bài giảng có đặc trưng chủ yếu là tính cơ bản, tính hệ thống, tính khoa học, tính tư tưởng và tính đảng Bài giảng thường được kết cấu chi tiết, nội

Trang 3

dung được chia thành các mục, tiểu mục, được chứng minh, lập luận bằng các luận cứ, luận chứng.

- Báo cáo chuyên đề: Là sự trình bày có hệ thống và chuyên sâu về một vấn đề lý luận và thực tiễn quan trọng, cấp thiết nào đó

Khác với bài giảng, báo cáo chuyên đề phải mang tính chuyên sâu, nội dung đề cập hẹp hơn nhưng sâu hơn, có nhiều điểm mới trong nội dung, phương pháp tiếp cận, phương pháp trình bày

- Thông tin chính trị: là thể loại nhằm thông báo kịp thời cho người nghe về các sự kiện của đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội trong nước và quốc tế với mục đích hình thành, phát triển quan điểm, thái độ, cách nhìn nhận, đánh giá ở người nghe đối với sự kiện, vấn đề đó

Ngoài chức năng giải thích, thông báo thông tin, thể loại này rất coi trọng chức năng phân tích, bình luận, đánh giá, nhất là đối với những thông tin người nghe đã biết qua các nguồn thông tin khác

- Tổng thuật các sự kiện: Là thể loại được áp dụng để thông báo ngắn gọn cho người nghe về một số sự kiện, hiện tượng của đời sống chính trị, xã hội được tổng hợp lại thành một đề tài

Đặc trưng của bài tổng thuật là phải có bình luận, đánh giá, nêu rõ quan điểm của chủ thể đối với các sự kiện, hiện tượng được tổng thuật

Hai thể loại thông tin chính trị và tổng thuật các sự kiện ở nước ta thường gọi chung là nói chuyện thời sự Hiện nay là thể loại nói chuyện thời

sự phát triển khá rộng rãi ở nước ta và là thể loại được sử dụng rộng rãi trong công tác tuyên truyền miệng Với trên 10 vạn báo cáo viên, tuyên truyền viên được tổ chức thành một hệ thống trong Đảng, chính quyền và các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế, từ Trung ương đến cơ sở, những người làm công tác tuyên truyền miệng từng ngày, từng giờ đưa tiếng nói của Đảng và Nhà nước đến với mọi tầng lớp nhân dân

- Kể chuyện: Là thể loại được sử dụng để trình bày một số sự việc, sự kiện diễn ra trong thực tế hoặc rút ra từ kinh nghiệm cuộc sống Chẳng hạn,

Trang 4

kể chuyện về người tốt, việc tốt; về gương anh hùng, chiến sĩ thi đua; về kinh nghiệm bản thân

Đặc trưng của kể chuyện là sự kiện, hiện tượng được trình bày có hình tượng Bằng lời kể sinh động, hấp dẫn người kể chuyện có thể thu hút sự chú

ý của người nghe

Kể chuyện có sự truyền cảm đặc biệt do tính chất "Nhân cách" của nó

Kể chuyện có ưu thế là vừa tác động vào lý trí, vừa tác động vào tình cảm của người nghe nên hiệu quả thông tin, tuyên truyền cao Tuy nhiên, loại hình này cũng có những hạn chế nhất định, khó biểu đạt chính xác, sâu sắc các khái niệm như bài giảng Nó phù hợp hơn với đối tượng là thiếu niên, người cao tuổi, có trình độ học vấn còn thấp

- Báo cáo tổng kết: Thông báo về kết quả công tác, những bài học kinh nghiệm của một tổ chức, một tập thể lao động trong một thời kỳ nhất định và trình bày phương hướng, nhiệm vụ của thời kỳ mới Báo cáo tổng kết khi trình bày trước hội nghị mang những đặc trưng của một bài phát biểu

- Bài nói chuyện chính trị: Là bài phát biểu của cán bộ Đảng, chính quyền về những vấn đề chính trị - xã hội cấp thiết, về những vấn đề quan trọng trong chủ trương, chính sách đối nội, đối ngoại của Đảng và Nhà nước nhằm nâng cao nhận thức và hướng dẫn tư tưởng cho quần chúng Đây là loại hình phát biểu miệng thường được sử dụng trong các cuộc gặp gỡ giữa cán bộ Đảng và Nhà nước với các ngành, các cấp trong các cuộc Hội nghị quan trọng

- Phát biểu tại các cuộc mính tinh (diễn văn): Là bài phát biểu đề cậpd đến các vấn đề, các sự kiện chính trị đã hoặc đang diễn ra nhằm tập trung sự chú ý của đông đảo người nghe về vấn đề, sự kiện ấy, định hướng dư luận xã hội về vấn đề, sự kiện ấy

Đặc trưng của bài diễn văn là ngắn gọn, rõ ràng, có sức truyền cảm lớn, mang tính động viên, cổ vũ hành động rất cao

Trang 5

- Giới thiệu nghị quyết:Là bài trình bày nghị quyết nhằm giải thích, phân tích nội dung, cơ sở lý luận, thực tiễn của các quan điểm lớn trong cá nghị quyết của cấp ủy Đảng, những giải pháp thực hiện nghị quyết

Ở nước ta việc giới thiệu nghị quyết của Đảng, nhất là nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương Đảng có hai hình thức: Thông báo nhanh về kết quả của Đại hội hay Hội nghị và quán triệt sâu nội dung nghị quyết

b Đối thoại

Đối thoại là nói chuyện qua lại giữa hai hay nhiều người với nhau Khác với độc thoại là nói chuyện một mình, là một người nói còn những người khác nghe, đóng vai "người đối thoại im lặng" Trong đối thoại, tất cả những người tham gia đều vừa là người nói, vừa là người nghe, vừa là chủ thể, vừa là đối tượng Đối thoại thường có sức thuyết phục cao trong phát biểu tuyên truyền mà các loại hình độc thoại không có được

Đối thoại có các loại hình cơ bản sau:

- Toạ đàm: Là hình thức thảo luận tập thể về một số vấn đề nào đó nhằm đi tới thống nhất trong nhận thức và hành động Toạ đàm được sử dụng rộng rãi trong hệ thống trường Đảng, trường đoàn thể, trong các tổ chức chính trị - xã hội Thảo luận được tiến hành trong các nhóm nhỏ (khoảng dưới 30 người) thì hiệu quả cao Toạ đàm cần có người chủ trì Trong toạ đàm, người chủ trì khuyến khích mọi người phát biểu, bày tỏ quan điểm, ý kiến của mình, đồng thời định hướng quá trình trao đổi, hướng dẫn người tham gia tập trung

ý kiến vào nội dung chính và cuối cùng tổng kết các ý kiến để thống nhất nhận thức của người tham gia

- Tranh luận: là một dạng đối thoại có tổ chức diễn ra dưới hình thức đấu lý giữa những người tham gia Điều kiện để tiến hành tranh luận là vấn đề được đưa ra tranh luận nhưng chưa có quan điểm chung, thống nhất Như vậy, tranh luận chính là thảo luận về vấn đề còn đang tranh cãi nhằm hiểu sâu hơn

về vấn đề đó, giúp những người tham gia có khả năng tự đi đến kết luận, tự đi đến chân lý bằng năng lực tư duy, sự hiểu biết và kỹ xảo tranh luận của mình

Trang 6

- Hỏi - Đáp: Là một hình thức của đối thoại và là hình thức được sử dụng phổ biến trong tuyên truyền miệng nhằm giải thích kịp thời, rõ ràng một vấn đề nào đó đang thu hút sự quan tâm của dư luận Trong hình thức hỏi -d đáp, công chúng thường nêu vấn đề dưới dạng các câu hỏi, còn người có trách nhiệm thì trả lời theo yêu cầu các câu hỏi mà công chúng nêu ra.

Từ những quan niệm trên về độc thoại và đối thoại và về các hình thức khác nhau của đối thoại, có thể rút ra ý nghĩa thực tiễn là:

- Độc thoại có thể chuyển hoá thành một trong các hình thức đối thoại nếu "người đối thoại im lặng" trong cuộc thoại tham gia đối thoại Vì vậy, trong thực tế có thể không cần thiết phải tổ chức riêng từng loại, nếu chủ thể của độc thoại chủ động tạo ra tình huống đối thoại, biết khêu gợi và kích thích tính tích cực tranh luận ở đối tượng, biết tạo tiền đề để một cuộc độc thoại chuyển thành cuộc đối thoại cởi mở, dân chủ, bình đẳng

- Trong đối thoại, các vai thoại (người nói - người nghe, chủ thể - đối tượng) chuyển hoá lẫn nhau Chủ thể đối thoại không chỉ là một người Có thể

là một nhóm người này đối thoại với nhóm người kia một cách có tổ chức dưới dự điều khiển của người có trách nhiệm

Thể loại phát biểu miệng rất đa dạng, phong phú Trong thực tế cần căn

cứ vào đặc điểm đối tượng, nội dung để lựa chọn thể loại phát biểu miệng phù hợp Đồng thời có thể kết hợp nhiều thể loại với nhau trong một buổi phát biểu để đạt hiệu quả cao nhất

II NHỮNG ƯU THẾ VÀ HẠN CHẾ CỦA PHÁT BIỂU MIỆNG

1 Ưu thế của phát biểu miệng

a Ưu thế của ngôn ngữ nói

Ngôn ngữ là một trong những yếu tố quyết định quá trình phát triển của loài người và sự phát triển của mỗi cá nhân Nhờ ngôn ngữ mà con người thiết lập được các mối quan hệ với nhau và mối quan hệ giữa con người với

xã hội, thực hiện sự trao đổi, giao lưu ý nghĩ, tình cảm, kinh nghiệm Nói cách khác, con người thiết lập sự giao tiếp với nhau bằng ngôn ngữ

Trang 7

Ngôn ngữ có ba chức năng: Chức năng chỉ nghĩa, chức năng thông báo

và chức năng điều khiển, điều chỉnh.Chức năng chỉ nghĩa là quá trình dùng một từ, một câu để chỉ một nghĩa nào đó, tức là quá trình gắn từ đó, câu đó với một sự việc, hiện tượng Chức năng thông báo là chức năng truyền đạt nội dung thông tin, sự biểu cảm từ người này với người kia hoặc tự mình nói với lòng mình Chức năng điều khiển, điều chỉnh là chức năng thiết lập và giải quyết các hoạt động, trong đó có hoạt động trí tuệ Trong phát biểu miệng cần

sử dụng linh hoạt các chức năng này của ngôn ngữ

Ngôn ngữ có nhiều dạng hoạt động: ngôn ngữ bên ngoài, ngôn ngữ bên trong và ngôn ngữ thầm Ngôn ngữ bên ngoài là ngôn ngữ chủ yếu hướng vào người khác, nhằm mục đích giao tiếp, truyền đạt, tiếp thu Ngôn ngữ bên trong gồm hai loại: ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết

Ngôn ngữ nói là thứ ngôn ngữ có trước và được biểu hiện bằng âm thanh, được tiếp thu bằng cơ quan thính giác Có hai loại ngôn ngữ nói là ngôn ngữ đối thoại Ngôn ngữ đối thoại có đặc điểm là tính chất tình huống, liên quan chặt chẽ với hoàn cảnh đối thoại, cấu trúc không chặt chẽ, câu nói thường được rút gọn do có sự hỗ trợ của cử chỉ, điệu bộ, ánh mắt, nụ cười ngôn ngữ độc thoại là ngôn ngữ của người nói cho những người khác nghe.Sử dụng ngôn ngữ độc thoại đòi hỏi phải chuẩn bị kỹ càng, chu đáo, lời nói phải trong sáng, chính xác, dễ hiểu và có khả năng truyền cảm

So với các phương tiện thông tin khác, ngôn ngữ nói có ưu thế là mang tính phổ biến trong giao tiếp xã hội Theo một số tài liệu nghiên cứu, hiện nay 2/3 lượng thông tin mà con người thu nhận được hàng ngày là nhờ giao tiếp bằng lời nói Trên thế giới, hiện tại có gần 3000 ngôn ngữ, nhưng chỉ có khoảng một trăm được ghi bằng chữ viết Cho nên, bằng công cụ là lời nói, phát biểu miệng có khả năng truyền đạt thông tin đến mọi đối tượng, kể cả đối tượng không biết chữ, không có khả năng tiếp thu thông tin bằng chữ viết

Ngôn ngữ là vỏ vật chất của tư duy, là hiện thực trực tiếp của tư tưởng Cho nên, bằng ngôn ngữ nói, người phát biểu có thể trình bày vấn đề một

Trang 8

cách hệ thống; diễn đạt các quan điểm, tư tưởng, phạm trù, quy luật một cách

rõ ràng, chính xác, cụ thể, sát với trình độ nhận thức, trình độ tư duy của người nghe, trong khi các phương tiện âm thanh khác, ánh sáng, điệu bộ, cử chỉ không thể diễn đạt rõ ràng được

Lời nói có ưu thế là sử dụng linh hoạt, hiệu quả thông tin cao Lời nói

có thể sử dụng trong mọi hoàn cảnh, điều kiện giao tiếp: trong phòng ở, nơi làm việc, trên giảng đường, câu lạc bộ, trong giờ giải lao hay trong cuộc họp, nơi công cộng, lúc trao đổi toạ đàm, với một người hoặc với nhiều người

Do đó, việc tổ chức một buổi phát biểu đơn giản, ít tốn kém kinh phí, không cần nhiều đến thiết bị, phương tiện kỹ thuật

Trong phát biểu miệng, người nói có thể sử dụng các thuật ngữ, thành ngữ quen thuộc, các câu châm ngôn, cách ngôn để biểu đạt một cách ngắn gọn, dễ hiểu về vấn đề, tức là có thể trình bày cô đọng và chính xác về sự vật, hiện tượng mà không cần phải nhiều lời

Phát biểu miệng có thể vận động, khai thác các yếu tố cận ngôn ngữ, cá biện pháp tu từ để tạo sức truyền cảm cho bài nói Tính truyền cảm là đặc trưng riêng có của ngôn ngữ nói Sức mạnh của lời nói trước hết là ở sự lắng đọng của tình cảm, là khả năng truyền đạt những sắc thái tinh tế của ý nghĩa

và tình cảm mà ngôn ngữ viết không có được Trong thời cổ đại, ở Hy Lạp, người ta đã dựng tượng vị thần Mercure miệng ngậm dây xiềng vàng biểu thị cho sức mạnh của lời nói Mercure được coi là vị thần hộ mệnh cho nhà hùng biện Nhờ yếu tố truyền cảm của lời nói mà người nghe có thể bỏ qua những thông tin nhiều khác như tiếng ồn, sự nóng nực và các tác động khác của môi trường, tập trung chú ý cho việc tiếp nhận thông tin Tính truyền cảm của lời nói tác động đặc biệt mạnh mẽ tới xúc cảm của người nghe, khơi dậy ở họ những tình cảm cao thượng, kích thích sự khao khát vươn tới chiếm lĩnh những trí thức mới, tích cực, sáng tạo trong hành động Chính vì vậy mà V.I Lênin đã nói: "không có sự xúc cảm của con người thì xưa nay không có và không thể có sự tìm tòi chân lý"

Trang 9

Để tạo ra tính truyền cảm cho bài nói, có thể sử dụng các biện pháp tu

từ ngữ âm: các ẩn dụ, so sánh, các từ láy, điệp ngữ và các biện pháp tu từ cú pháp: câu ẩn chủ ngữ, câu hỏi tu từ, câu đảo đối, câu đối chọi, câu có bổ ngữ đứng ở trước Đồng thời, có thể sử dụng các yếu tố cận ngôn ngữ như ngữ điệu, trường độ, cao độ của tiếng nói, các yếu tố về thanh, sắc và kết hợp chúng với các yếu tố phi ngôn ngữ như cử chỉ, điệu bộ, nét mặt, nụ cười, ánh mắt

b Ưu thế trong việc sử dụng các yếu tố phi ngôn ngữ

Trong phát biểu miệng, người ta không chỉ sử dụng ngữ điệu của lời nói mà các nhà nghiên cứu gọi là "mã số ngôn ngữ" để tác động đến người nghe, thêm vào đó, người ta có thể sử dụng một phương tiện giao tiếp khác:

tư thế, cử chỉ, điệu bộ, nét mặt, nụ cười, ánh mắt, mà các nhà nghiên cứu gọi

là "mã số cảm giác vận động" Trong giao tiếp, sự biểu cảm qua phương tiện này không kém phần tác dụng tích cực so với ngôn ngữ, ngữ điệu Chúng ta là người bạn đường thường xuyên của nhau trong việc thể hiện tình cảm, thái độ của con người và trong việc thông tin Nếu như tất cả các phương tiện ngôn ngữ, cận ngôn ngữ, phi ngôn ngữ được sử dụng linh hoạt, bổ sung cho nhau sẽ làm cho bài phát biểu trở nên dễ hiểu hơn, lắng đọng hơn, tác động mạnh mẽ đến người nghe

Tư thế người phát biểu đàng hoàng, đĩnh đạc, tự nhiên, linh hoạt sẽ tạo

ra tình cảm mến phục, tin cậy khi tiếp thu thông tin Ngược lại, tư thế khúm núm hoặc ngạo mạn sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến thái độ của người nghe

Cử chỉ điệu bộ có tác động bổ sung cho lời nói, làm cho đối tượng hiểu

rõ hơn sắc thái của lời nói Cử chỉ, điệu bộ có thể tạo được ấn tượng mạnh ở đối tượng vào những nội dung quan trọng và có tác dụng mạnh mẽ nhất khi tiếp xúc lần đầu với người nghe hoặc khi có tình huống xuất hiện trong phát biểu miệng: thính giả đề nghị giải đáp, trả lời câu hỏi Khi bắt đầu nói chuyện,

cử chỉ, điệu bộ có tác dụng kích thích, thu hút sự chú ý Khi kết thúc bài phát

Trang 10

biểu, cử chỉ, điệu bộ có tác dụng tạo ra ấn tượng, tình cảm mến phục, mong muốn được tiếp tục nghe.

Sự vận động của đầu, tay, tư thế cũng biểu đạt thông tin trong phát biểu miệng Chẳng hạn, lắc đầu thể hiện sự không đồng ý, gật đầu thể hiện sự đồng

ý, tâm đắc; lắc đầu và bĩu môi thể hiện sự coi thường Trong giao tiếp, đầu hất

về phía sau thường thể hiện sự kiêu căng, ngạo mạn Cánh tay vận động có ý nghĩa hướng dẫn, chỉ bảo hoặc dơ cao chém mạnh vào không khí có tác dụng khẳng định dứt khoát vấn đề

Tư thế, tức là sự tương quan kết hợp giữa đầu, cổ, thân người và tay, chân biểu hiện tính cách, tâm trạng con người Đi trong tư thế ưỡn ngực về phía trước thể hiện sự ngạo mạn, kiêu căng Tư thế đứng thẳng đĩnh đạc, nghiêm trang thể hiện sự đàng hoàng, tính trung thực Tư thế khúm núm thể hiện sự sợ hãi, nếu lại xoa hai tay vào nhau thể hiện sự nhún nhường, ninh bợ

Nét mặt, ánh mặt của ảnh hưởng đến hiệu quả thông tin Những biểu hiện ở vùng trán, lông mày, mắt, miệng có thể tạo thành một biểu cảm Rướn lông mày biểu hiện sự ngạc nhiên; nhíu lông mày, môi mím chặt biểu hiện sự phẫn nộ; ánh mắt long sòng sọc thể hiện sự tức giận

Tư thế, cử chỉ, điệu bộ, nét mặt, nụ cười, ánh mắt có vai trò lớn trong việc biểu đạt, truyền thông tin Chúng hỗ trợ lời nói, làm tăng ý nghĩa của lời nói, biểu hiện cảm xúc, sắc thái tình cảm của người nói đối với nội dung,

do đó chúng góp phần nâng cao chất lượng phát biểu miệng

c Ưu thế của giao tiếp trực tiếp

Khi được trực tiếp nghe và nhìn một người diễn thuyết, nói chuyện bao giờ người nghe cũng tập trung sự chú ý hơn và cảm thấy dễ hiểu hơn khi nghe bằng ghi âm, radio Việc trực tiếp theo dõi một diễn giả trình bày, thính giả thường có cảm giác vấn đều nêu ra thật hơn, hay hơn, chính xác hơn Chính vì vậy mà dù hiện nay sách báo nhiều, các kênh thông tin rất đa dạng nhưng hàng ngày vẫn có hàng triệu học sinh đến trường nghe thầy giáo giảng bài, hàng vạn người đến các hội trường nghe cán bộ tuyên truyền nói chuyện

Trang 11

Khác với giao tiếp qua các phương tiện thông tin đại chúng, sự giao tiếp trực tiếp và sinh động trong phát biểu miệng dễ tạo cho người nghe cảm giác gần gũi thân mật Giao tiếp trực tiếp tạo lập không khí cởi mở, xây dựng mối quan hệ thân mật, sinh động với đối tượng Nhờ đó, người nói

có thể mang đến cho người nghe không chỉ nội dung của lời nói mà còn mang lại cho họ tình cảm, niềm tin Chính vì vậy, V.I Lênin đã viết "Ảnh hưởng cá nhân và những lời phát biểu tại các cuộc họp có ý nghĩa rất lớn Không có những cái đó thì không có hoạt động chính trị"

Một ưu thế không kém phần quan trọng của giao tiếp trực tiếp là n ối đúng đối tượng Nhờ nghiên cứu trước về đối tượng và nắm bắt thêm đặc điểm đối tượng thông qua giao tiếp trực tiếp, người nói có khả năng hiểu biết

rõ nhu cầu, tâm trạng của người nghe, đặt mình vào vị trí người nghe, trên cơ

sở đó xác định nội dung phải nói là gì và nói như thế nào, để lời nói của mình

đi vào tâm hồn người nghe nhanh hơn, hiệu quả hơn

Giao tiếp trực tiếp tạo điều kiện cho người nói khả năng vận dụng linh hoạt cách nói, trong những tình huống khác nhau, sử dụng cử chỉ, điệu bộ, điều chỉnh âm lượng phù hợp với đối tượng, với bối cảnh Trong giao tiếp trực tiếp, người nói hoàn toàn có khả năng kiểm soát được cách thức tiếp nhận thông tin của người nghe Nếu biết thường xuyên quan sát người nghe thì bất cứ lúc nào người nói cũng có thể thông qua kênh thông tin phản hồi, tức là căn cứ vào dáng vẻ bề ngoài, sự tập trung chú ý, hoặc những yếu tố khác trong hành vi của người nghe để phán đoán khả năng tiếp thu thông tin, thái độ đối với nội dung thông tin của người nghe Nhờ đó mà xác định cách

xử lý: thay đổi nội dung thông tin, chuyển sang cách nói khác, sử dụng cử chỉ, điệu bộ thích hợp hoặc một biện pháp, thủ thuật nào đó để thu hút sự chú ý của người nghe

Giao tiếp trực tiếp cho phép chuyển nhanh từ hình thức độc thoại sang đối thoại Người nghe có thể được bày tỏ tâm tư, nguyện vọng của mình; được hỏi và được trả lời những vấn đề mà mình quan tâm nhưng chưa được

Trang 12

giải thích hoặc trước đó giải thích chưa thấu đáo; được trao đổi, tranh luận với nhau về những vấn đề còn chưa thống nhất Chính vì vậy, nhiều người cho rằng phát biểu miệng, tuyên truyền miệng và nói chung là các hình thức truyền thông bằng lời nói trực tiếp là kênh thông tin mang tính dân chủ cao nhất.

Có thể nói giao tiếp trực tiếp của phát biểu miệng tạo cho người nói và người nghe ưu thế mà người phát biểu trên vô tuyến truyền hình, trên đài phát thanh và khán thính giả của họ không thể có được

2 Một vài hạn chế của phát biểu miệng

Lời nói trong phát biểu miệng mang tính tuyến tính, tức là các tín hiệu ngôn ngữ xuất hiện lần lượt, liên tục, từ này nối từ kia theo thời gian Chính tính tuyến tính của lời nói tạo ra những hạn chế nhất định cho cả người nói và người nghe trong quá trình truyền đạt và lĩnh hội thông tin

Đối với người nói, nếu không làm chủ được lời nói, không biết tự kiềm chế khi xúc động mạnh và không may nhỡ lời thì không có khả năng sửa lại

"Câu nói như tên, không nên bắn bậy, đã lọt vào tai không tài nào rút ra được" (Lục Tài Tử) Đó là điều người nói cần luôn tâm niệm

Cũng do tính tuyến tính của lời nói mà người nghe chỉ có thể tiếp thu thông tin một cách tức thời, một lần và không có điều kiện quay lại với những điều chưa hiểu hoặc dừng lại đê nghiền ngẫm về những điều chưa hiểu

đó Bởi vì, nếu dừng lại suy nghĩ thì không nghe được những thông tin tiếp theo Để khắc phục hạn chế này, người nói phải rèn luyện khả năng làm chủ lời nói, sử dụng cách nói phổ thông, dễ hiểu; lựa chọn ngôn ngữ chính xác, đơn nghĩa; phải dừng lại giải thích kỹ hơn những nội dung trừu tượng, khó hiểu và phải nắm vững các thủ thuật thu hút và tái lập sự chú ý của người nghe

Trong hệ thống phát biểu miệng, người nói là một mắt khâu rất quan trọng, trạng thái của hệ thống phụ thuộc chủ yếu vào mắt khâu đó Nói cụ thể hơn, chất lượng, hiệu quả bài phát biểu hoàn toàn phụ thuộc vào phẩm chất và

Trang 13

năng lực của người nói Một chủ đề hay, được chuẩn bị tốt nhưng trình bày thiếu hấp dẫn, hoặc nội dung được chuẩn bị tốt, phương pháp trình bày hấp dẫn nhưng uy tín của người nói đối với người nghe không có thì trong mọi trường hợp trên hiệu quả bài phát biểu đều thấp.

Phạm vi tác động đến đối tượng, tốc độ truyền thông tin của phát biểu miệng thường hẹp hơn, chậm hơn so với các phương tiện thông tin đại chúng nhất là báo chí Khối lượng thông tin được chuyển tải trong một buổi nói chuyện tỉ lệ thuận với thời gian buổi nói chuyện đó diễn ra Muốn truyền đạt nhiều thông tin phải kéo dài thời gian buổi nói chuyện Điều đó mâu thuẫn với khả năng duy trì sự tập trung, chú ý liên tục, lâu dài ở người nghe trong suốt quá trình phát biểu

Trang 14

I SỰ XUẤT HIỆN CỦA KHOA HÙNG BIỆN TRONG THỜI CỔ ĐẠI HY LẠP, LA MÃ.

1 Sự ra đời của chữ viết

Chữ viết - một công cụ giao tiếp quan trọng vốn là một trong những thành tựu văn hoá lớn lao của nhân loại Lịch sử phát minh thành tựu này được diễn ra qua hai đợt nối tiếp nhau, tương ứng với hai phương thức văn tự khác nhau về mặt hình thái: văn tự tượng hình, thuần tuý mang tính biểu tượng hoặc thể hiện các âm thanh và văn tự chữ cái

Vào khoảng thiên niên kỷ thứ IV trước Công Nguyên, chữ viết ra đời tại Mosopotamie Lúc đầu là chữ viết tượng hình (e'critureide' ogaphique) ròi trở thành chữ viết chỉ âm (e'cruure phone'tique) Văn tự tượng hình thoạt đầu mang tính thuần tuý tượng hình, nghĩa là mỗi hình vẽ tượng trưng, thể hiện một vật Đến khoảng năm 3000 trước công nguyên, chữ tượng hình mang tính trừu tượng hơn Một số hình vẽ có thể gợi lên âm thanh của một từ mà không cần có mối liên quan trực tiếp về đường nét giữa từ ngữ đó với những hình vẽ tương ứng Do vậy sự phát triển của chữ viết có vẻ như đã tách dần khỏi hình

vẽ, khỏi sự thể hiện trực tiếp các vật Đồng thời sự phát triển của giao lưu

Trang 15

thương mại đòi hỏi phải trừu tượng hoá văn tự và dẫn đến sự ra đời của văn tự chữ cái.

Theo một số tài liệu nghiên cứu, sự phát minh ra chữ cái có nguồn gốc sâu xa từ người Pheniciens, thậm chí có thể còn trước đó, từ người Do Thái ở Syrie vào cuối thiên niên kỷ II và đầu thiên niên kỷ I trước Công nguyên Tuy nhiên hệ thống chữ cái đầu tiên này còn hạn chế, bởi chưa có nguyên âm, do

đó khi đọc dễ bị nhầm lẫn Đến giữa thế kỷ VIII và VI trước Công nguyên, tại

Hy Lạp, một hệ thống chữ cái bao gồm cả nguyên âm mới ra đời

Hệ thống chữ cái này có chức năng ghi lại ngôn ngữ nói và là một trong những sản phẩm của rất nhiều biến đổi xã hội diễn ra tại Hy Lạp từ khoảng

1100 trước Công nguyên trở về sau Chúng đóng vai trò là sự khởi đầu cho các hệ thống mẫu tự lớn xuất hiện tiếp theo, và cuối cùng là sự phổ biến của mẫu tự Latinh ở phương Tây Hệ thống chữ viết theo cách ghi âm này đã dẫn đến sự ra đời của sự đọc

Có thể nói, mọi hệ thống chữ viết đều bắt đầu từ hình vẽ Những loại chữ viết đầu tiên chỉ chú ý ghi lại nội dung ý nghĩa của từ ngữ chứ chưa quan tâm đến vỏ âm thanh của nó Những chữ như vậy gọi là chữ ghi ý hay chữ tượng hình Tuy nhiên chữ ghi ý không biểu thị hết ý nghĩa của từ và không

có tính đồng nhất Với sự phát triển của xã hội, trong đó có sự nhận thức sâu hơn về bản chất của ngôn ngữ, người cổ đại đã biết lợi dụng hiện tượng đồng

âm để mượn chữ này ghi lại chữ kia, trên cơ sở đó dùng những ký hiệu bổ sung (biểu đạt ý nghĩa của từ) ghép âm vào những chữ được "vay mượn" Đây

là một mốc lớn đánh dấu bước ngoặt quan trọng nhất trong tiến trình sáng chế chữ viết của nhân loại Tuy nhiên, loại chữ này còn gắn chặt với hình vẽ, nhiều chi tiết quá rườm rà Vì thế nhu cầu cải tiến chữ viết theo hướng đơn giản hơn đã được đặt ra Kết quả là hệ thống chữ cái ra đời, dù về mặt số lượng là có giới hạn, nhưng đã ghi lại một cách trung thực âm thanh của từ ngữ Từ thế kỷ VII trước Công nguyên đã ra đời hệ thống ký hiệu mẫu tự gồm

cả nguyên âm Rất nhiều hệ thống chữ cái địa phương xuất hiện và từ những

Trang 16

hệ thống đó hình thành hai hệ thống, hệ thống Đông và hệ thống Tây Do sự hùng mạnh của thành Athenes mà hệ thống Đông (còn gọi là hệ thống mẫu tự Ionien) được lựa chọn để ghi ngôn ngữ Attique.

2 Sự xuất hiện của khoa học hùng biện (hay khoa tu từ học) của người

Hy Lạp, La Mã cổ đại

Ngay từ khi mới ra đời, chữ viết đã được dùng làm kỹ thuật truyền thông Do đó, nó có vai trò trong việc biến đổi sâu sắc phương thức trao đổi thông tin và truyền bá tư tưởng Và nếu chữ viết góp phần thay đổi tận gốc các điều kiện của sản xuất trí tuệ, thì các hệ thống ghi vào trí nhớ mang tính truyền miệng cũng phát triển đến mức chưa từng thấy trong thời cổ đại Từ xa xưa khi chưa có phương tiện ghi lại hoạt động ngôn ngữ, con người đã dựa vào trí nhớ của mình để lưu trữ, tích luỹ kinh nghiệm Các bản trường ca nổi tiếng của nhân loại như các bài dân ca trong Kinh Thi của Trung Quốc, trường ca Iiiade của Odyssé của Hy Lạp cổ đại, Kinh Vêđa của Ấn độ cổ đại

là những ví dụ điển hình về sự lưu truyền theo hình thức trên Do đặc trưng này, truyền thông bằng miệng trên thực tế đã đóng vai trò quan trọng hơn so với chữ viết trong thời cổ đại

Sự xuất hiện của khoa tu từ học (hay khoa học hùng biện) vào thế kỷ V trước Công nguyên là sự phát triển tất yếu của kỹ thuật truyền thông, khi mà hình thức truyền thông bằng chữ viết không đáp ứng nổi nhu cầu trao đổi thông tin của con người, khi mà nền giáo dục còn chưa phát triển, người biết chữ còn rất ít Nhờ nghệ thuật hùng biện mà người ta giải quyết các tranh chấp, các cuộc chiến tranh thông qua hình thức thuyết phục chứ không cần dùng đến sức mạnh, kể cả sức mạnh bạo lực Mặt khác, do pháp lý Hy Lạp bấy giờ đòi hỏi các bên kiện cáo phải tự bảo vệ cho mình, phải đưa ra các lý

lẽ có sức thuyết phục Do mỗi công dân chưa đủ khả năng lập luận trước toà, trình độ pháp lý hoặc trình độ văn hoá của họ còn hạn chế, nên xuất hiện nghề viết đơn, nghề cãi thuê, mở đường cho bước tiến mới của khoa tu từ học

Trang 17

Nhà tu từ học đầu tiên của thế giới là Corax đã đưa ra ý tưởng cho rằng mọi bài nói phải được tổ chức thành những đoạn lớn nối tiếp nhau một cách

tự nhiên Quan niệm này đã đặt nền móng cho việc trình bày, lập luận của khoa hùng biện, của nghệ thuật phát biểu miệng về sau Theo ông, tính thuyết phục của bài nói là ở chỗ nó có khả năng lập luận một cách logic giữa các phần Các sự kiện thoạt đầu được trình bày theo kiểu "kể", sau đó được lập luận trong phần "chứng minh" và được kết luận bằng "đoạn kết" Tuy nhiên, cũng vào thời đó, một nhánh của tu từ học bị biến thành nguỵ biện Bởi vì các nhà nguỵ biện chỉ thừa nhận vai trò của ngôn ngữ, lý lẽ, họ không thừa nhận

có chân lý, mọi quan niệm chỉ mang tính tương đối Vì thế các khuôn mẫu ngôn từ được học thuộc lòng và sử dụng một cách máy móc trong khi hùng biện Vấn đề này đã bị Scrate và Platon lên án Các ông cho rằng mọi bài nói đều phải dựa vào chân lý Sau này, một học trò của Platon là Aristore cũng phê phán các nhà nguỵ biện, phục hồi giá trị cho khoa hùng biện Với ông, hùng biện không còn là công cụ thuết phục, mà là nghệ thuật "khám phá mọi thứ gì có sức thuyết phục chứa đựng trong một vụ việc" Aristote công bố bộ sách Tu từ học Bộ sách của ông sau đó được Barthes chia làm ba tập Tập I bàn về người nói (thai nghén các lý lẽ), tập II bàn về người nghe (những cảm xúc và lập luận tác động đến người nghe) và tập III phân tích các kiểu cách tu

từ và thứ tự các phần trong bài nói

Đến thế kỷ II trước Công Nguyên, nghệ thuật hùng biện bắt đầu phát triển ở Roma Nhà hùng biện điển hình của thời kỳ này là Ciceron Bằng các bài thuyết lý và diễn văn của mình ông đã chiến thắng Catilina và nhờ đó cũng đã đạt được vị trí cao trong xã hội lúc bấy giờ Cũng nhờ nghệ thuật hùng biện, giới lãnh đạo Roma đã tác động vào tình cảm, tâm lý clủa các nước láng giềng, lôi kéo, thuyết phục họ tự nguyện gia nhập vào hệ thống Roma

Từ thế kỷ thứ II, khoa hùng biện đã được đưa vào giảng dạy ở các trường học Trong điều kiện kỹ thuật truyền thông nói chung còn thấp, hùng

Trang 18

biện tiếp tục phát triển và chiếm phần đáng kể trong giáo dục Trong thời gian

từ thế kỷ II đến thế kỷ IV sau Công nguyên, hùng biện đã bao trùm và có vị trí đáng kể trong nền văn hoá và từ đó đi vào văn chương Bên cạnh những lời thuyết lý của các triết gia, những bài diễn văn của các nhà hùng biện, bắt đầu xuất hiện những buổi tuyên đọc văn chương cho công chúng thưởng thức Các văn sĩ, đôi khi cả vua chúa cũng đem văn chương của mình ra đọc Không chỉ thanh niên mà cả những người già cũng đến dự các buổi đọc văn

và tham gia tranh luận về những vấn đề văn chương Truyền thông bằng lời nói đã trở thành một phương tiện truyền bá văn hoá trong thời kỳ này

Như vậy, có thể thấy ở thời kỳ cổ đại, hùng biện đã ra đời và tồn tại như một thiết chế xã hội Các lý thuyết về tu từ học của Aristote, Cireron và Quintilien đã để lại những giá trị to lớn qua nhiều thế kỷ Nền văn hoá Roma

đã tạo ra một hình thức truyền thông mới là thuật hùng biện mà thời đại đó gọi là "lời nói dành cho người khác"

II SỰ PHÁT TRIỂN CỦA KHOA HÙNG BIỆN TRONG LỊCH SỬ TRUYỀN THÔNG Ở CÁC THỜI KỲ TIẾP THEO

Trải qua nhiều thế kỷ với nhiều biến cố lịch sử, các kỹ thuật truyền thông, công cụ truyền thông ngày càng phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ dưới nhiều hình thức đa dạng Thế nhưng, truyền thông bằng lời nói vẫn được quan tâm như một kỹ thuật truyền thông không thể thiếu Lời nói trở thành phương tiện duy nhất có thể truyền tải thông tin đến được với những người

mù chữ vẫn còn chiếm số đông ngay ở các đô thị lớn Nó trở thành công cụ hữu ích của Giáo hội trong việc thuyết phục các tín đồ sùng đạo, bằng tuyên truyền, thuyết giáo Ở thời kỳ này khi mà sự đối lập giữa Thiên chúa giáo và tin lành ngày càng gay gắt thì tuyên truyền miệng trở thành công cụ chủ yếu được sử dụng để lôi kéo dân chúng về mỗi bên Do bản chất của tình cảm ton giáo, trong các nhà thờ, phát biểu miệng đặt ra yêu cầu cao về tính lập luận của nội dung bài thuyết giáo Khi mâu thuẫn giữa cải cách tôn giáo và phản

Trang 19

cải cách ngày một trở nên gay gắt thì phương thức phát biểu miệng có vai trò ngày một tăng.

Ở Trung Hoa, nghệ thuật hùng biện cũng phát triển khá sớm và trở thành công cụ trong hoạt động quân sự, chính trị, ngoại giao Vào thời Xuân thu - Chiến quốc xuất hiện các nhà hùng biện, thuyết khách nổi tiếng như Tô Tần, Trương Nghi Vào thời Tam Quốc có Gia Cát Lượng Với tài thao lược của nhà quân sự, với đầu óc mẫn cảm, sáng suốt của nhà ngoại giao, với khẩu tài xuất chúng và khả năng phán đoán diễn biến tâm lý đối phương của một nhà hùng biện, Gia Cát Lượng đã thuyết phục tập đoàn Đông Ngô liên minh với tập đoàn Lưu Bị, nhờ đó liên quan Tôn Quyền - Lưu Bị đã giành thắng lợi trước Tào Tháo trong trận đại chiến Xích Bích Với thắng lợi này, Lưu Bị đã đứng vững và phát triên lực lượng, chiếm Kinh Châu, đoạt ích Châu, bình định Hán Trung, xây dựng nghiệp bá trên đất Thục, trong thế chân vạc của Trung Hoa lúc bấy giờ

Trong các cuộc cách mạng tư sản, phát biểu miệng cũng đã đóng vai trò

to lớn nhằm động viên, hô hào dân chúng tham gia cách mạng và truyền bá tư tưởng bình đẳng, tự do, bác ái của giai cấp tư sản đang lên Trong một số tác phẩm hội hoạ thời kỳ ấy, chúng ta có thể nhìn thấy hình ảnh các diễn giả, các chính trị gia đứng nói trước đám đông Nghệ thuật hùng biện và vai trò của nó

đã là đề tài, là nguồn cảm hứng cho các hoạ sĩ thời đó

Trong thời cận đại, sự quay lại của khoa hùng biện, diễn ra thông qua việc nghiên cứu các tác giả Latinh như Cieeron, Quintilien, nhờ đó đã kích thích nghệ thuật phát biểu miệng phát triển Các giáo sĩ dòng Tên (Jesuites) đóng vai trò to lớn trong việc phổ biến môn học này Từ thế kỷ XVI trở đi, ở Châu Âu, nhiều học đường được xây dựng để phục vụ cho việc giảng dạy các môn học nhân văn và hùng biện Latinh Và cũng giống như thời cổ đại, văn hoá, hùng biện, khả năng thuyết phục là những phẩm chất không thể thiếu của một nhà lãnh đạo Việc nắm vững và sử dụng có hiệu quả kỹ thuật truyền thông này đồng nghĩa với việc nắm được quyền lực trong tay

Trang 20

Do ảnh hưởng của sự phát triển của các môn học khoa học thực nghiệm

và sau này là của khoa học kỹ thuật, phương thức truyền thông cũng có sự thay đổi dần dần Đã hơn một lần người ta đặt câu hỏi: liệu việc trao đổi thông tin bằng lời nói có dần bị mất đi? Bằng thực tiễn lịch sử truyền thông có thể khẳng định chắc chắn rằng điều đó không bao giờ xảy ra Sự phát triển mạnh

mẽ của khoa hùng biện thời cổ đại, thế kỷ XVII và đến nay là một minh chứng hùng hồn cho sự khẳng định ấy Vai trò của các nhà hùng biện, của truyền thông bằng lời nói trực tiếp, của phát biểu miệng, của nghệ thuật diễn thuyết và các cuộc tranh luận là không thể thiếu được mỗi khi có biến cố quan trọng xảy ra kích thích sự quan tâm của dư luận

Vào đầu thế kỷ XVII một hình thức truyền thông mới ra đời mang tính chất đều đặn, đó là báo chí Những bài báo đầu tiên cũng được chuyển tải thông tin qua lời nói Báo được đọc và bình luận tại các quán rượu, các phòng khách và thường là chủ đề của các cuộc tranh luận Báo cũng được đọc trong những không gian rộng rãi ở các câu lạc bộ đọc, các cuộc mít tinh, các hội của thợ thuyền

Theo sau sự phát triển của báo chí là một loạt các phương tiện kỹ thuật khác ra đời như máy điện tín, điện thoại, vô tuyến truyền hình Song không

có hình thức nào loại bỏ hình thức nào mà ngược lại chúng cùng tồn tại và hỗ trợ nhau, trong đó môn hùng biện có sức sống lâu bền nhất Nghệ thuật hùng biện ra đời từ rất sớm khi con người mới biết đến khái niệm thông tin và trở thành cơ sở cho nghệ thuật phát biểu miệng Những phát minh kỹ thuật mới như việc chế tạo ra các máy ghi âm, tăng âm đã đem lại cho khoa hùng biện một tầm vóc mới Với bước phát triển đó nghệ thuật hùng biện luôn khẳng định được vị trí, vai trò của mình trong đời sống xã hội, đặc biệt là trong lĩnh vực chính trị Nó được xem là công cụ đắc lực nhất để thuyết phục, vận động con người của các chính trị gia mọi thời đại

III TRUYỀN THÔNG BẰNG LỜI NÓI TRỰC TIẾP TRONG LỊCH

SỬ TRUYỀN THÔNG VIỆT NAM

Trang 21

So với nhiều nước trên thế giới, truyền thông ở Việt Nam phát triển muộn hơn, song không phải vì thế mà kém phần đa dạng và phong phú Việc nghiên cứu những hình thức phong phú, đa dạng đó và cách thức truyền thông

có phần độc đáo của ông cha ta trong lịch sử, phát triển, vận dụng sáng tạo nó trong công tác tuyên truyền miệng hiện nay có ý nghĩa rất thiết thực

1 Các hình thức truyền thông bằng lời nói trong dân gian

Từ xa xưa người Việt Nam đã biết dựa vào trí nhớ và lời nói có vần điệu, dễ nghe, để tạo ra những luồng thông tin có sức sống lâu bền Bằng cách vận dụng ngôn ngữ, lối kết cấu, tác dụng ưu thế của âm thanh, tiết tấu và các hình tượng phong phú, người xưa đã cho ra đời một kho tàng ca dao, dân ca quý báu ngay trong cuộc sống cực nhọc của chính mình Trước khi được ghi thành văn bản chữ viết, kho tàng văn hoá dân gian của dân tộc được lưu ký trong trí nhớ và lưu truyền qua nhiều thế hệ bằng hình thức truyền miệng Dù chưa có một khái niệm đầy đủ về thông tin nhưng ở thời kỳ này truyền miệng qua ca dao, dân ca đã có một vai trò nhất định trong việc phản ánh xã hội và phổ biến các kinh nghiệm xã hội Hơn nữa, người dân còn biến nó thành vũ khí đấu tranh chống lại ách thống trị của bọn cường hào phong kiến

Không chỉ có ca dao, dân ca mà các câu truyện cổ, truyện thần thoại, các hình thức sân khấu cũng được ông cha ta vận dụng như một phương thức tuyên truyền Đại đa số các câu truyện cổ đều bao hàm nội dung đấu tranh giai cấp rõ rệt và phản ánh cuộc đấu tranh đó theo quan điểm của quần chúng nhân dân Cũng như ca dao, dân ca chúng được lưu truyền trong nhân dân dưới hình thức kể chuyện, truyền miệng

Nhận thức rõ vai trò của phương thức thông tin truyền miệng này, nhân dân ta đã không ngừng cải tiến, nâng cao tác dụng của nó, làm cho nó có sức hấp dẫn hơn Hình thức diễn kịch, ca kịch, hát chèo, hát tuồng, ra đời, lôi cuốn được đông đảo quần chúng Tính chất truyền miệng của thể loại này được thể hiện khá rõ qua lời hát có vần điệu dễ nhớ Các vở chèo, tuồng, cải lương, được truyền miệng qua không gian và thời gian đến với người dân

Trang 22

Dưới thời phong kiến, lác đác một số vở được ghi lại bằng chữ nôm, nhưng truyền miệng vẫn là chủ yếu vì không phải diễn viên nào cũng biết chữ Tính chất truyền miệng còn thể hiện cả trong diễn xuất, giữa diễn viên với nhau và giữa diễn viên với quần chúng Mỗi diễn viên không những thuộc vai mình

mà còn thuộc lời các vai khác, nên khi cần họ có thể đổi vai cho nhau, hoặc nhắc lời cho vai khác

Trong xã hội Việt Nam thời trước, khi chưa có các phương tiện thông tin khác thì truyền miệng là hình thức thông tin phát triển nhất Để phục vụ cho hình thức này, nâng cao hiệu quả của nó là sự ra đời của các công cụ hỗ trợ Chẳng hạn, ông cha ta đã biết chế tạo ra loa tay bằng mocau, bằng tre đan bằng vỏ quả bầu, bằng sắt để giúp tiếng nói được truyền đi xa hơn (cách thông tin, tuyên truyền này tồn tại ở nước ta cho đến thời gian gần đây, khi chiếc loa phóng thanh được sử dụng rộng rãi) Ngoài ra, nhiều công cụ khác như tù và, phèng, chiêng, khánh, mõ cũng được dùng để phát tín hiệu tập hợp mọi người đến nghe thông tin bằng miệng Người rao mõ là hình ảnh điển hình của kiểu thông tin bằng miệng sống động đã tồn tại qua nhiều thế

kỷ Phương tiện làm việc của họ là một chiếc mõ Sau khi đánh một hồi mõ,

"anh mõ" dõng dạc cất tiếng rao, thông báo cho cả làng, cả xóm biết tin tức, mệnh lệnh của nhà chức trách

Ở một xã hội mà phần lớn người dân không biết chữ thì truyền miệng kiểu này cố nhiên trở thành hình thức phổ biến Thông qua đó, dân làng biết được mệnh lệnh của cai tổng, lý trưởng, chiếu chỉ của vua, biết được tin tức trong và ngoài làng, biết được tình hình đất nước Đôi khi nhờ tiếng rao của

"anh mõ" triều đình huy động một lựcu lượng đông đảo nhân dân trong cả nước để chống giặc ngoại xâm, chống thiên tai Khi rao mõ, người ta thường kết hợp với âm thanh để truyền đi nhiều loại thông tin khác nhau Điều này cho thấy óc sáng tạo của nhân dân trong lĩnh vực truyền thông và xét từ góc

độ nào đó, là khía cạnh của sự phát triển

Trang 23

2 Nghệ thuật tuyền truyền miệng của một số nhân vật nổi tiếng trong lịch sử dân tộc Việt Nam.

Những chiến thắng lẫy lừng của ông cha ta trong các cuộc chiến đấu chống quân xâm lược phương Bắc, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ được xem là biểu hiện tuyệt vời của nghệ thuật quân sự, nghệ thuật động viên sức mạnh toàn dân bảo vệ Tổ quốc Trong những chiến công ấy có phần đóng góp đáng kể của nghệ thuật thu phục lòng dân, chinh phục con người bằng lời nói hay nghệ thuật tuyên truyền miệng Nghiên cứu lịch sử các cuộc chiến tranh nói trên, có thể thấy rõ các vị anh hùng dân tộc trong lịch sử Việt Nam

đã sử dụng rất tài tình nghệ thuật tuyên truyền miệng

Lý Thường Kiệt là một nhân vật điển hình trong số đó Với cương vị là Phụ Quốc Thái uý, trong cuộc kháng chiến chống xâm lược nhà Tống, vào lúc gay go nhất trên phòng tuyến sông Như Nguyệt, Lý Thường Kiệt đã làm một bài thơ thần bất hủ để khẳng định quyền độc lập, tự chủ thiêng liêng của dân tộc và cổ vũ tinh thần quyết chiến, quyết thắng của quân dân ta Bài thơ cũng

là lời cảnh cáo nghiêm khắc bọn kẻ thù xâm lược và nêu cao quyết tâm sắt đá trong việc bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước

Bài thơ ấy được Lý Thường Kiệt cho đọc trong một đêm khuya thanh vắng từ một miếu thờ để binh lính nghe Nhờ đó mà bài thơ càng có thêm sức mạnh, lay động lòng người, thức tỉnh tinh thần yêu nước và tinh thần dân tộc, khơi thêm sức mạnh ý chí và lòng tin vào chiến thắng của cuộc chiến đấu trong tâm hồn người dân đất Việt, đoàn kết muôn người như một, đồng lòng diệt giặc ngoại xâm, giữ vững bờ cõi Nội dung tư tưởng của bài thơ, cách chọn thời điểm và địa điểm đọc lời thơ đã chứng minh cho ý nghĩa, cho nghệ thuật sử dụng lời nói và các phương tiện trợ giúp tác động vào tâm lý, tâm linh của con người

Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn - nhà quân sự lỗi lạc của dân tộc ta

- cũng có cách sử dụng nghệ thuật tuyên truyền miệng độc đáo Sau thất bại lần thứ nhất, quân Nguyên mượn cớ đánh Chăm Pa hòng xâm lược nước ta

Trang 24

lần thứ hai Vua Trần đã cho triệu tập Hội nghị Bình Than để bàn việc kháng chiến Trong khi cả nước đang khẩn trương chuẩn bị cho cuộc kháng chiến, Trần Quốc Tuấn đã ra "Hịch tướng sĩ" và đọc trước ba quân Nội dung, lý lẽ, kết cấu của bài Hịch, âm điệu lời văn hùng hồn đầy sức thuyết phục của nó đã

có tác dụng khích lệ lòng người rất lớn Hiệu quả thu được từ Hội nghị Bình Than đã phản ánh chính xác điều đó Sau hội nghị, quân chủ lực của triều đình và dân binh địa phương, quân sĩ của các vương hầu tăng lên nhanh chóng Được động viên, khích lệ, các chiến sĩ thời Trần đã tự chích vào cánh tay hai chữ "Sát Thát" để biểu hiện lòng căm thù, ý chí quyết tâm và sự đồng lòng chống quân xâm lược Nguyên - Mông

Sau này, vua Trần còn tổ chức Hội nghị Diên Hồng để hỏi ý kiến các vị

bô lão về kế sách đánh giặc, nhằm khích lệ tinh thần đoàn kết chiến đấu của toàn dân tộc, thông qua diễn thuyết, trao đổi bằng lời nói trực tiếp Điều này cho thấy vua tôi nhà Trần rất hiểu sức mạnh của tuyên truyền miệng và biết cách sử dụng lời nói để thu phục con người, đặc biệt là biết tác động đông đảo nhân dân thông qua việc tác động đến tâm lý của những người có uy tín nhất trong xã hội

Người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ - Hoàng đế Quang Trung - cũng thể hiện tài năng kiệt xuất trong việc sử dụng nghệ thuật tuyên truyền, khích

lệ tinh thần tướng sĩ bằng lời hịch Năm 1789, khi tiến quân ra Bắc diệt quân xâm lược Mãn Thanh, đến phòng tuyến Tam Điệp - Biện Sơn, Quang Trung

đã mở tiệc khao quân, ăn tết trước, chờ "đến Thăng Long sẽ làm lễ hạ nêu, mừng chiến thắng" Sau tiệc khao quân, Quang Trung đã tổ chức lễ "Thệ sư" trong không khí hồ hởi, quyết chiến của toàn quân Giữa đêm giao thừa, Quang Trung đã đọc vang lời hịch:

Trang 25

Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ.

Cách làm này của Quang Trung khiến ta nghĩ đến một hình thức hùng biện mới - hùng biện quân sự mà hiệu quả của nó đã được một nhà nghiên cứu mô tả: "Huệ dứt lời, chư quân dạ ran như sấm, rung động cả hang núi, trời đất đổi màu Rồi chiêng trống đồng thời khua vang, quân lính gấp rút lên đường ra Bắc" Nửa đêm ngày mồng 3 tết, Quang Trung bao vây đồn Hạ Hồi Cùng sự tiến công bằng quân sự, ông còn cho quân sĩ bắc loa dụ địch ra hàng Hốt hoảng, bất ngờ khi nghe tiếng loa gọi hàng vang như sấm động, lũ giặc Thanh trong đồn Hạ Hồi bó tay xin hàng

Sức mạnh của tuyên truyền miệng cũng đã được Phan Bội Châu, người khởi xướng phong trào Đông Du khai thác vận dụng Tác phẩm "Bài ca chúc tết thanh niên" là một ví dụ cụ thể Tác phẩm là lời kêu gọi, lời hiệu triệu toàn thể thanh niên đứng lên cứu nước, xây dựng cuộc sống mới:

" Thưa các cô, các cậu, các anh

Đời đã mới, người càng nên đổi mới

Mở mắt ra thấy rõ ràng tân vận hội

Xúm vai vào xốc vác cựu giang sơn "

Qua bài thơ chứa đựng ý nghĩa tuyên truyền sâu sắc đó, Phan Bội Châu

đã góp phần thức tỉnh, khơi dậy ý thức dân tộc và ý chí đấu tranh giải phóng dân tộc trong thế hệ thanh niên Phan Chu Trinh có lần viết về Phan Bội Châu như sau: "Ba tấc lưỡi mà gươm mà súng Một ngòi bút mà trống mà chiêng"

Năm 1907, Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh cùng một số sĩ phu yêu nước khác đã tổ chức trường Đông Kinh nghĩa thục với mục đích giáo dục nâng cao lòng yêu nước và truyền bá tư tưởng học thuật mới, nếp sống văn minh tiến bộ, ý thức duy tân Đông Kinh nghĩa thục được tổ chức thành 4 ban công tác, trong đó có Ban cổ động mà nhiệm vụ của nó là tuyên truyền về tôn chỉ, mục đích và gây ảnh hưởng của trường trong quần chúng Hình thức hoạt động chủ yếu của Ban cổ động là tổ chức các buổi diễn thuyết và bình văn vào ngày mùng một và ngày rằm hàng tháng cho đối tượng là quan lại, binh

Trang 26

lính, viên chức hoặc nông dân ngoại thành Hà Nội Trong các buổi diễn thuyết, diễn giả nói chuyện về đề tài lịch sử để giáo dục truyền thống oanh liệt của dân tộc hoặc đề tài xây dựng nếp sống văn minh, kêu gọi mọi người bài trừ hủ tục, dùng hàng nội hoá, cắt tóc ngắn

Trong các buổi bình văn, diễn giả giới thiệu những bài thơ, bài văn có nội dung yêu nước và kêu gọi canh tân đất nước Nhiều bài rất được người nghe ưa thích và thu hút đông đảo đối tượng tham gia nghe và thảo luận Tính hấp dẫn và hiệu quả tuyên truyền của các buổi diễn thuyết, bình văn đó được phản ánh trong một bài thơ thời ấy như sau:

"Bủôi diễn thuyết, người đông như hội

Kỳ bình văn, khách tới như mưa

Trời hay ai chẳng ngâm nga

Trước còn thuận miệng, sau ra cảm lòng"

Do đáp ứng nhu cầu của nhân dân, Đông Kinh nghĩa thục nhanh chóng phát huy ảnh hưởng ra các địa phương, không chỉ ở Bắc Kỳ mà còn ở Trung

Kỳ và Nam Kỳ "Nghĩa thục" ở các địa phương tiếp tục sử dụng hình thức tuyên truyền như diễn thuyết, giảng giải, bình văn, thảo luận để giáo dục, nâng cao tinh thần yêu nước, cách mạng, truyền bá tư tưởng văn hoá và tư tưởng theo khuynh hướng dân tộc tư sản, thúc đẩy việc chấn hưng nền kinh tế dân tộc nhất là kinh tế tư sản dân tộc phát triển, thực hiện một cuộc vận động chính trị, chuẩn bị về tinh thần, tư tưởng cho cuộc đấu tranh cách mạng dân tộc và dân chủ trong thời đại mới

Về vai trò của các hình thức truyền miệng, của nghệ thuật phát biểu miệng, của truyền miệng đối với lịch sử Việt Nam, Tômita Kenfe - giáo sư trường Đại học Ngoại ngữ Osaka (Nhật Bản) - đã có một nhận xét khá độc đáo: "Vũ khí lợi hại nhất của cách mạng Việt Nam trong suốt 2000 năm là

"cái miệng" Với cái miệng, những câu chuyện kể, những khúc dân ca, những điệu hát của người Việt đã truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác ý chí của

Trang 27

nhân dân, động viên nhân dân giành thắng lợi to lớn trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước".

Có thể nói, các hình thức truyền thông bằng lời nói trực tiếp của dân tộc ta rất phong phú và độc đáo Nó là kho tàng vô tận và vô giá mà ông cha

để lại cho chúng ta

3 Tuyên truyền miệng trong lịch sử cách mạng Việt Nam

Kế tiếp truyền thống cha ông, những người cộng sản Việt Nam đã và đang sáng tạo và phát huy vai trò của tuyên truyền miệng trong hành động cách mạng của mình Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đầu tiên đã sử dụng tuyên truyền miệng để vận động thành lập Đảng, đối đáp trên diễn đàn quốc

tế cho cách mạng Việt Nam, đào tạo cán bộ, tiến tới thành lập Đảng

Ngay khi thành lập năm 1930, Đảng ta đã sử dụng tuyên truyền miệng trong công cuộc đấu tranh giành dân chủ, tự do, độc lập Những đội tuyên truyền nhỏ cùng các đội tự vệ đỏ với tấm lòng nồng nhiệt, khí thế cách mạng

và chiếc loa tay đã xâm nhập vào từng thôn xóm, từng nhà dân để vận động dân chúng đứng lên theo Đảng chống phong kiến, chống đế quốc

Sau cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, nhiều đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng, nhiều chiến sĩ cách mạng bị giặc Pháp bắt giam trong các nhà tù nhưng chính họ đã biến nhà tù thành trường học đào tạo cán bộ nòng cốt cho cách mạng Bằng vũ khí tuyên truyền miệng và kết hợp tuyên truyền miệng với làm thơ, ca hát, diễn kịch, dạy văn hoá các chiến sĩ cách mạng tiếp tục truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin trong nhà tù Nhiều bài thơ cách mạng, qua truyền miệng đã lan ra ngoài, đến với công chúng, giác ngộ tinh thần cách mạng của nhân dân

Trong thời kỳ chuẩn bị khởi nghĩa, các đội diễn thuyết xung phong thuyết trình về chủ trương, chính sách của Đảng, của Việt Minh trên khắp các ngả đường, trong các rạp hát, các nhà máy, hầm mỏ, chợ, các cuộc mít tinh diễu hành, vận động, cổ vũ các tầng lớp nhân dân: công nhân, nông dân, thanh niên, nhân sĩ, trí thức chuẩn bị giành chính quyền Không phải ngẫu nhiên

Trang 28

mà trong một tài liệu của kẻ thù khi viết về vai trò của tuyên truyền đối với cách mạng Việt Nam, đã thừa nhận: Sở dĩ trong cách mạng tháng Tám năm

1945, toàn dân Việt Nam nhất tề đứng dậy cùng một thời điểm ủng hộ Chính phủ Cụ Hồ là vì Cụ Hồ đã tận dụng được sức mạnh của đội quân tuyên truyền nhỏ lẻ đi khắp hang cùng ngõ hẻm để tuyên truyền những chủ trương của Việt Minh và kêu gọi dân chúng đứng dậy Trong lúc đó, Việt Minh không hề có báo chí, đài phát thanh, điện thoại Đó là một thành công của Việt Minh do

Cụ Hồ lãnh đạo1

Sau cách mạng Tháng Tám, công tác tuyên truyền của Đảng tập trung vào hai vấn đề chính là kháng chiến, kiến quốc mà trọng tâm là "chống giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm" Chính nhờ công tác tuyên truyền miệng mà các cuộc vận động của Đảng, Chính phủ đề xướng đã đến được với quần chúng nhân dân Nhiều phong trào "Tuần lễ vàng", "Nam tiến", "Hũ gạo nuôi quân", "Mùa đông binh sĩ", do Đảng và Bác Hồ phát động, nhờ tuyên truyền miệng, được nhân dân nhiệt liệt hưởng ứng

Vào thời điểm cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, công tác thông tin tuyên truyền miệng chiếm vị trí hàng đầu trong công tác cách mạng Tại mỗi cuộc họp, mục "nói chuyện thời sự" luôn được cán bộ, bộ đội và quần chúng nhân dân tham gia hưởng ứng Hoạt động này còn phát triển ở cả những vùng địch hậu, vùng sâu, vùng xa Các tin thắng trận, các gương chiến

sĩ anh hùng và những tội ác của giặc, những tình cảm quân dân được kịp thời chuyển tải đến công chúng Ở vùng sau lưng địch: các khu du kích, các vùng giáp ranh cũng có những đội tuyên truyền miệng nhằm chống lại các âm mưu bình định của địch Dùng quần chúng tuyên truyền quần chúng, tán phát truyền đơn, sách báo, tài liệu vạch rõ tội ác của địch đồng thời kết hợp với các trận đánh lớn là chủ trương tác chiến của ta Ở các khu căn cứ du kích, các hoạt động tuyên truyền được diễn ra công khai Nhiều cuộc họp họp, diễn thuyết được tổ chức thu hút đông đảo quần chúng nhân dân Ở những vùng

1 Theo cuốn: Công tác thông tin cổ động triển lãm, NXB VH, Hà Nội, 1997, tr 507.

Trang 29

tạm chiếm, hoạt động thông tin tuyên truyền rất khó khăn, nhưng các tuyên truyền viên đã cải trang len lỏi vào dân chủng để tuyên truyền, vận động từng người, từng nhóm làm cho dân tin tưởng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến.

Trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh thống nhất đất nước ở miền Nam, vai trò của thông tin tuyên truyền càng được đề cao Lúc này, công tác tuyên truyền miệng lại có sứ mệnh đặc biệt hơn: vừa vận động phong trào thi đua lao động sản xuất ở miền Bắc, vừa cổ vũ tinh thần đấu tranh chống Mỹ cứu nước ở miền Nam Tổ chức tuyên truyền miệng phát triển thành hệ thống từ Trung ương đến cơ sở và hoạt động theo phương hướng: "bằng các hình thức tuyên truyền nhẹ nhàng, có tính chất quần chúng rộng rãi" để "nhà nhà đều biết, người người đều nghe" và "làm cho mỗi người dân bất cứ ở lúc nào, ở đâu, cũng nhận rõ mình đang ở trong tình hình nào, phải làm gì theo đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước" Thông tư Liên Bộ số 590 - TT/VP ngày 13/9/1966 còn nêu rõ: ở các trường phải chú ý

sử dụng lực lượng giáo viên, học sinh và phấn đấu để mỗi trường học và một pháo đài, mỗi lớp học là một đội thông tin chống Mỹ, cứu nước

Sau khi chuyển quân tập kết, ở miền Nam các hoạt động tuyên truyền trong vùng nông thôn đều chuyển vào bí mật, tuyên truyền miệng trở thành phương thức hoạt động chính, đồng thời hướng dẫn quần chúng nghe đài Tiếng nói Việt Nam Chính vì thế mà tuyên truyền miệng giai đoạn này có chiều hướng phát triển dưới nhiều sắc thái linh hoạt khác nhau nhằm thu hút người nghe, không hoàn toàn chỉ dưới dạng diễn giải trực tiếp như trước đây

Sự phân chia máy móc các hình thức tuyên truyền không còn nữa, thay vào

đó là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tuyên truyền miệng, cổ động trực quan, văn nghệ cổ động Sự kết hợp ấy vừa thể hiện tính sâu sắc của tuyên truyền miệng, vừa kích thích sự quan tâm của quần chúng qua hình thức cổ động trực quan

Ở miền Bắc đội ngũ tuyên truyền miệng đã góp phần to lớn vào việc giáo dục và động viên cán bộ, đảng viên, nhân dân tích cực tham gia lao động

Trang 30

sản xuất, làm tròn nghĩa vụ của hậu phương đối với tiền tuyến lớn anh hùng, động viên hàng triệu thanh niên cầm súng ra mặt trận, bảo vệ quê hương.

Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, cả nước bước vào thời kỳ mới, thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội Trước những vấn đề mới mẻ và phức tạp đặt ra trong cuộc sống, mặc dù các phương tiện giao thông đại chúng ngày càng phát triển và đóng vai trò quan trọng trong việc truyền bá đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước nhưng Đảng ta vẫn hết sức coi trọng công tác tuyên truyền miệng Ngày 03/08/1977, Ban Bí thư trung ương Đảng khoá

IV đã ra Chỉ thị 14 - CTW về việc "Tổ chức đội ngũ báo cáo viên và tuyên truyền viên" Chỉ thị nêu rõ: Báo cáo viên, tuyên truyền viên là lực lượng tuyên truyền miệng có tổ chức của Đảng, là công cụ quan trọng hàng đầu, là đội quân chủ lực trong công tác tuyên truyền miệng, có nhiệm vụ tuyên truyền giáo dục, hướng dẫn tư tưởng, hành động cho cán bộ, đảng viên và nhân dân lao động theo đường lối, quan điểm của Đảng Tháng 2/1981, Nghị quyết của Ban Bí thư về "Những nhiệm vụ trước mắt của công tác tư tưởng"

đã xác định: "Tổ chức và kiện toàn đôi ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên của Đảng theo Chỉ thị 14 - CTTW nhằm bảo đảm truyền đạt nhanh chóng, chính xác và thống nhất những chủ trương, chính sách của trung ương tới tận đảng viên và quần chúng, tạo sự nhất trí cao trong toàn Đảng, toàn dân "Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Khoá V (6/1983), Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12/1986), thông báo 71 TB/TW của Bộ Chính trị (khoá VIII) và nhiều văn kiện khác của Đảng đều khẳng định vai trò quan trọng của tuyên truyền miệng

Hiện nay, Đảng ta đã tổ chức một mạng lưới báo cáo viên, tuyên truyền viên đều khắp ở các địa phương, ban, ngành với số lượng hàng vạn người Bằng phương pháp hoạt động của mình, các báo cáo viên, tuyên truyền viên

tổ chức các buổi thuyết trình, giảng bài, nói chuyện khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm hoạt động kinh tế, kể chuyện người tốt việc tốt, hội thảo, trao đổi, toạ đàm, tranh luận, hỏi - đáp, thực hiện đối thoại với dân, giải quyết thắc mắc

Ngày đăng: 26/04/2015, 20:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w