1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích thực trạng tình hình thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2009

45 813 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích Thực Trạng Tình Hình Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam Năm 2009
Tác giả Đỗ Thị Dung
Người hướng dẫn T.S Nguyễn Minh Tuấn
Trường học Trường Đại Học Công Nghiệp TP HCM
Chuyên ngành Quản Trị Kinh Doanh
Thể loại Chuyên đề
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 476,01 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích thực trạng tình hình thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2009

Trang 1

TR ƯỜ NG ĐẠ I H Ọ C CÔNG NGHI Ệ P TP HCM

Chuyên Đề Môn Học: QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH

Đề tài: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

NĂM 2009

GVHD : T.S NGUY Ễ N MINH TU Ấ N SVTH : ĐỖ THỊ DUNG

MSSV : 06141531

Trang 2

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ MÔN HỌC “QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH” 1

1.1 Khái niệm về “Quản trị tài chính” và một số khái niệm khác có liên quan đến vấn đề Tài chính 1

1.1.1 Khái niệm về “Quản trị tài chính” 1

1.1.2 Một số khái niệm khác có liên quan đến vấn đề Tài chính 1

1.2 Khái niệm về “Thị trường Tài chính” và phân loại “Thị trường Tài chính” 2

1.2.1 Khái niệm về “Thị trường Tài chính” 2

1.2.2 Phân loại “Thị trường Tài chính” 2

1.3 Vai trò của nhà “Quản trị tài chính” 2

1.3.1 Nhà “Quản trị tài chính” là ai? 2

1.3.2 Vai trò của nhà “Quản trị tài chính” 3

1.4 Tầm quan trọng của “Quản trị tài chính” 4

Chương 2: PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM NĂM 2009 5

2.1 Khái niệm về thị trường chứng khoán và phân loại thị trường chứng khoán 5

2.1.1 Khái niệm 5

2.1.2 Phân loại 5

2.2 Phân tích tình hình thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2009 6

2.2.1 Những tác động ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán năm 2009 6

2.2.2 Tình hình thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2009 9

2.2.2.1 Một số đặc điểm của TTCK năm 2009 9

2.2.2.2 Tình hình thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2009 12

2.2.2.3 Một số thành tựu của TTCK Việt Nam năm 2009 17

2.2.2.4 Những hạn chế của thị trường chứng khoán Việt Nam 19

2.2.3 Xu hướng năm 2010 20

2.3 Một số giải pháp 23

2.2.1 Về phía Nhà nước và Chính phủ 23

2.2.2 Về phía Nhà đầu tư 28

2.2.3 Về phía các công ty chứng khoán, các nhà phát hành 28

Chương 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ VỀ MÔN HỌC “QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH” 30

3.1 Nhận xét 30

3.2 Đánh giá 30

KẾT LUẬN

Phụ lục

Tài liệu tham khảo

Trang 4

Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, có rất nhiều cơ hội cho các doanhnghiệp Việt Nam nói riêng cũng như các doanh nghiệp và các nhà đầu tư ở cácnước trên thế giới nói chung Bên cạnh những cơ hội có được là những thách thứckhông thể tránh khỏi Trong bối cảnh đó, các doanh nghiệp Việt Nam làm thế nào

để giữ vững được thị trường trong nước và phát triển ra thị trường nước ngoài làmột vấn đề rất được quan tâm Theo các chuyên gia kinh tế hàng đầu thì chìa khóacủa vấn đề này chính là phát triển nguồn nhân lực Tuy nhiên, vấn đề về Tài chính

và các nhân tố liên quan đến Tài chính cũng rất quan trọng Do đó em chọn môn

học “Quản trị Tài Chính” để làm tài liệu cho bài chuyên đề môn học với đề tài:

“PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM NĂM 2009”.

Đây là một đề tài hay nhưng do thời gian hạn chế và kiến thức của bản thânchưa được tốt, đặc biệt là kinh nghiệm thực tế nên trong quá trình làm bài khótránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được sự đánh giá góp ý của của quýthầy cô bài viết của em được hoàn chỉnh hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

SVTH

Đỗ Thị Dung

Trang 5

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ MÔN HỌC “QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH”

1.1 Khái niệm về “Quản trị tài chính” và một số khái niệm khác có liên quan

đến vấn đề Tài chính

1.1.1 Khái niệm về “Quản trị tài chính”

“Quản trị tài chính” có nhiều khái niệm khác nhau:

“Quản trị tài chính” là một môn khoa học quản trị nghiên cứu các mối quan

hệ tài chính phát sinh trong quá trình sản xuất – kinh doanh của một doanh nghiệphay một tổ chức

“Quản trị tài chính” là quản trị nguồn vốn (tiền mặt và vốn tài sản) và cácquan hệ tài chính phát sinh (khoản phải thu, khoản phải trả), nhằm tối đa hóa lợinhuận của doanh nghiệp

1.1.2 Một số khái niệm khác có liên quan đến vấn đề Tài chính

Tài sản thực: bao gồm

Tài sản hữu hình: là những tư liệu lao động chủ yếu có hình thái vật chất

thỏa mãn các tiêu chuẩn của tài sản hữu hình Nó tham gia vào chu kỳ kinh doanhnhưng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu như: nhà xưởng, vật kiến trúc,máy móc thiết bị, đất đai…

Tài sản vô hình: là những tài sản không có hình thái vật chất, nó thể hiện

một lượng giá trị đã được đầu tư thỏa mãn các tiêu chuẩn của tài sản vô hình Nótham gia vào chu kỳ kinh doanh nhiều như: chi phí quyền sử dụng đất, chi phíquyền phát hành, bằng phát minh, bằng sáng chế, bản quyền tác giả, thươnghiệu,…

Tài sản thuê tài chính: là những tài sản nà doanh nghiệp thuê của công ty

cho thuê tài chính Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được quyền mua lại tài sản

đã thuê hoặc tiếp tục thuê theo các điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng thuê tàichính

Trang 6

Tài sản tài chính: bao gồm các loại chứng khoán ( cổ phiếu, trái phiếu),

các loại thương phiếu, tín phiếu, phiếu hẹn thanh toán được doanh nghiệp đầu tưbằng vốn nhàn rỗi của mình Các loại tài sản này thường được giao dịch trên thịtrường tài chính

1.2 Khái niệm về “Thị trường Tài chính” và phân loại “Thị trường Tài

chính”

1.2.1 Khái niệm về “Thị trường Tài chính”

“Thị trườngTài chính” là nơi giao dịch các loại vốn ngắn hạn hay mua –

bán các loại tài sản tài chính hay các chứng khoán dài hạn

1.2.2 Phân loại “Thị trường Tài chính”

“Thị trường Tài chính” được phân thành hai loại:

Thị trường tiền tệ: là thị trường chuyên giao dịch các loại vốn ngắn hạn và

các loại tài sản tài chính có thời hạn dưới một năm

Thị trường tiền tệ bao gồm: thị trường hối đoái (chuyên giao dịch các loạingoại tệ), thị trường cho vay ngắn hạn và thị trường liên ngân hang

Thị trường vốn: là thị trường chuyên giao dịch các loại vốn trung và dài

hạn (có thời hạn trên một năm)

Thị trường vốn bao gồm: thị trường cầm cố bất động sản, thị trường chứngkhoán, thị trường tín dụng thuê mua

1.3 Vai trò của nhà “Quản trị tài chính”

1.3.1 Nhà “Quản trị tài chính” là ai?

Nhà “Quản trị tài chính” – họ có thể là:

Trưởng phòng Tài chính: là người có trách nhiệm trực tiếp với vốn được

tài trợ, quản trị tiền mặt của công ty, có mối quan hệ với các ngân hàng và cácđịnh chế tài chính khác, đảm bảo cho doanh nghiệp thực hiện được nghĩa vụ của

nó đối với các chủ đầu tư nắm giữ cổ phiếu của công ty trong tay

Trang 7

Kế toán trưởng: là người có chức năng kiểm soát ngân quỹ, kế toán và

kiểm toán của công ty

Giám đốc Tài chính: ở những công ty lớn thường có them một giám đốc

tài chính để kiểm soát mọi công việc của phòng tài vụ và phòng kế toán Giám đốctài chính phải nắm được toàn bộ tình hình tài chính của công ty để ra các quyếtđịnh chính sách và kế hoạch tài chính của công ty Giám đốc tài chính có tráchnhiệm quản lý chung, nghiêm ngặt trong việc phát hành chứng khoán

1.3.2 Vai trò của nhà “Quản trị tài chính”

Nhà “Quản trị tài chính” có bốn vai trò sau:

Thứ nhất: Lập dự toán và kế hoạch tài chính: Nhà “Quản trị tài chính”

cần hợp tác với các nhà quản trị khác để lên kế hoạch và dự toán chi phí cho cáctình huống tương lai của doanh nghiệp

Thứ hai: Quyết định đầu tư và tài trợ: Khi doanh nghiệp thành công sẽ đòi

hỏi phải đầu tư thêm tài sản, thiết bị máy móc và nguồn dự trữ Nhà “Quản trị tài chính” cần quyết định các loại tài sản có và các phương pháp tài trợ tốt nhất cho

đầu tư

Thứ ba: Kiểm soát mọi hoạt động: Nhà “Quản trị tài chính” cần hợp tác

với các nhà quản trị khác để đảm bảo cho hoạt động của doanh nghiệp có hiệuquả Mọi quyết định đều có liên quan đến vấn đề tài chính vì thế cần được tínhtoán cho đầy đủ

Thứ tư: Quan hệ với thị trường vốn: Nhà “Quản trị tài chính” có quan hệ

mật thiết với thị trường tiền tệ và thị trường vốn vì mỗi doanh nghiệp đều ảnhhưởng bởi thị trường tài chính chung – nơi có thể tìm kiếm được nguồn vốn, nơi

mà cổ phiếu của công ty đang được giao dịch, nơi mà các nhà đầu tư có thể tìmkiếm được các cơ hội đầu tư

Trang 8

1.4 Tầm quan trọng của “Quản trị tài chính”

“Quản trị tài chính” có tầm quan trọng rất lớn đối với mỗi doanh nghiệp hay tổ chức “Quản trị tài chính” có trách nhiệm trực tiếp đối với mọi hoạt động

sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Vì thế hiện nay các doanh nghiệp đều tậptrung nhiều vào các kế hoạch tài chính Do đó cũng làm tăng thêm tầm quan trọngcủa bộ phận Tài chính trong Doanh nghiệp

Như vậy “Quản trị tài chính” rất cần thiết và cũng rất quan trọng đối với

không chỉ riêng các Doanh nghiệp mà là đối với mọi hình thức kinh doanh kể cảngân hàng và các tổ chức tài chính cũng như các ngành công nghiệp Và tùy thuộc

vào từng lĩnh vực mà nhà “Quản trị tài chính” có thể sử dụng những kiến thức

về Tài chính liên quan đạt được mục tiêu của Doanh nghiệp

Trang 9

Chương 2: PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

VIỆT NAM NĂM 2009 2.1 Khái niệm về thị trường chứng khoán và phân loại thị trường chứng khoán

2.1.1 Khái niệm

Thị trường chứng khoán (thị trường vốn dài hạn) là nơi mua – bán các

loại chứng khoán (trái phiếu hay cổ phiếu)

Thị trường chứng khoán (TTCK) được hình thành, phát triển trong nhữngđiều kiện hoàn cảnh cụ thể Đó là nền kinh tế thị trường với những quy luật vốn cócủa nó Tại đó cơ hội kinh doanh, khả năng chuyển đổi mới hình thành và tồn tại.Đối với nền kinh tế tập trung không thực hiện được những hoạt động này Trên thếgiới, thị trường chứng khoán ra đời cách đây hơn 400 năm Hình thức và địa điểmban đầu rất thô sơ, bột phát, tản mạn, khó xác minh Mốc thời gian đánh dấu thịtrường hoạt động đồng bộ, với đủ loại hình giao dịch như ngày nay được ghi vàođầu thế kỷ 17 tại Amsterdam (Hà Lan) Công ty cổ phần đầu tiên thành lập, pháthành cổ phiếu vào ngày 20 tháng 3 năm 1602 Ít lâu sau người ra phát kiến ra tráiphiếu quốc gia và các loại trái khoán, giấy ghi nợ rất phong phú

2.1.2 Phân loại

Thị trường chứng khoán được phân thành hai loại: thị trường sơ cấp và

thị trường thứ cấp

của các công ty

Khi công ty phát hành cổ phiếu mới, các cổ phiếu này sẽ được đem bán trênthị trường sơ cấp (bán lần đầu trước công chúng) Nếu công ty muốn tăng vốnbằng cách phát hành thêm cổ phiếu thì những cổ phiếu này cũng phải được đembán ở thị trường sơ cấp (bán lần thứ hai)

Trang 10

Thị trường thứ cấp: là thị trường mua bán các loại chứng khoán

đang tồn tại giữa các nhà đầu tư

2.2 Phân tích tình hình thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2009

2.2.1 Những tác động ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán năm 2009

và tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước

Thị trường chứng khoán phục hồi trong thời gian qua là do yếu tố thúc đẩy

chủ yếu đến từ nguồn tiền khá lớn của hệ thống ngân hàng Với chính sách nới

lỏng tiền tệ, duy trì lãi suất cơ bản ở mức thấp (7%/năm) kể từ đầu năm để kíchthích tăng trưởng kinh tế, tăng trưởng tín dụng đến hết tháng 11 đã là 34,5%, vượtmốc 30% do Ngân hàng Nhà nước đề ra Tương quan giữa tăng trưởng tín dụng và

đà phục hồi của thị trường chứng khoán được thể hiện khá rõ nét khi tỷ lệ tươngquan giữa hai chỉ số này lên tới 94% trong thời gian qua Thị trường bắt đầu códấu hiệu điều chỉnh giảm khi tăng trưởng tín dụng tăng chậm lại và tín dụng đượckiểm soát chặt chẽ hơn kể từ cuối tháng 10 Với nhận định lãi suất cơ bản có khảnăng tiếp tục tăng vào đầu năm sau và chính sách tiền tệ sẽ từng bước thắt chặthơn để kiểm soát nguy cơ lạm phát, chúng tôi cho rằng, thị trường chứng khoán sẽchịu nhiều tác động từ chính sách tiền tệ

Trong giai đoạn hiện tại, những tín hiệu quan trọng để nhận biết những thayđổi trên thị trường trong thời gian tới bao gồm: lãi suất liên ngân hàng, lãi suất huyđộng, tỷ giá liên ngân hàng và tỷ giá trên thị trường tự do Một khi lãi suất bình ổn

và tỷ giá trở lại cân bằng, các rủi ro về thay đổi chính sách sẽ giảm bớt Tuy vậy,yếu tố hỗ trợ thị trường chứng khoán sẽ là kết quả kinh doanh quý IV/2009 củacác doanh nghiệp và dòng tiền từ các nhà đầu tư nước ngoài trong thời gian tới khinhững dự án cải cách của Chính phủ được thực hiện Để nâng cao tính hấp dẫn củathị trường vốn trong nước, Chính phủ đã nâng tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước

Trang 11

ngoài tại các công ty đại chúng tối đa từ 30% lên 49% vốn điều lệ (Quyết định55/2009/QĐ-TTg) Đối với các quỹ thành viên, sẽ không hạn chế tỷ lệ sở hữu củanhà đầu tư nước ngoài và cho phép thành lập quỹ thành viên tới 100% vốn nướcngoài.

Do vậy, những vấn đề nội tại của thị trường chứng khoán nằm ở rủi ro vềchính sách Và nếu thanh khoản tiếp tục ở mức yếu và chưa có nhiều cải thiện, thịtrường chưa thể bứt phá mạnh

TTCK luôn luôn chịu tác động từ chính sách tiền tệ Điều này không chỉđúng với TTCK Việt Nam mà còn đúng với tất cả các TTCK trên thế giới Tuynhiên, Việt Nam có những đặc thù riêng khiến TTCK chịu biến động rất mạnh từchính sách tiền tệ

Năm 2009, các doanh nghiệp niêm yết đã được hưởng lợi nhiều từ chínhsách hỗ trợ lãi suất 4% của chính phủ Theo đó, chi phí lãi vay/EBIT của 122doanh nghiệp niêm yết tại HOSE đã giảm từ 15,9% trong quý I/2009 xuống còn8,5% vào quý III/2009 Sở dĩ, các doanh nghiệp niêm yết được hưởng lợi từ chínhsách hỗ trợ lãi suất 4% là do cơ cấu nợ vay ngắn hạn chiếm tỷ trọng 50% trongtổng nợ vay có lãi Bên cạnh đó, những nhóm ngành có giá trị vốn hóa lớn và dẫndắt thị trường như ngân hàng hay bất động sản đều nhạy cảm với chính sách tiền

tệ Ngành ngân hàng đương nhiên chịu ảnh hưởng theo chính sách tiền tệ, vì nó tácđộng trực tiếp đến môi trường kinh doanh của ngành Trong khi đó, ngành bấtđộng sản bị tác động mạnh do cơ cấu nợ vay của ngành này khá lớn

Theo thống kê, ngành bất động sản có đòn bẩy tài chính chiếm tỷ trọng53,3% trong tổng tài sản Trong đó, nợ vay có lãi chiếm 55% tổng nợ Bên cạnh

đó, phần lớn người mua trên thị trường cũng sử dụng đến đòn bẩy tài chính do bấtđộng sản có giá trị lớn so với thu nhập của người dân Việt Nam Do đó, một sự

Trang 12

thắt chặt tín dụng tác động đồng thời lên cả người mua và người bán trên thịtrường bất động sản.

Ở những thị trường phát triển, doanh nghiệp chủ yếu tài trợ nợ thông quaviệc phát hành trái phiếu trên thị trường hơn là việc dựa dẫm vào nguồn vốn vayngân hàng Chính đặc trưng này mà những thay đổi trong chính sách tiền tệ tácđộng trực tiếp lên hoạt động của các doanh nghiệp trong nền kinh tế và trongTTCK Một điều cần đáng quan tâm chính là việc sử dụng nợ vay của các doanhnghiệp Việt Nam chỉ dựa vào một nguồn tài trợ là ngân hàng, nên chỉ cần nhữngđộng thái hạn chế cho vay của hệ thống ngân hàng thì ngay lập tức tác động đếnnguồn vốn hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp

Cái gì dựa trên tâm lý thì khi tâm lý thay đổi (tâm lý vốn là thứ dễ thay đổinhất) sẽ thay đổi theo Mà tâm lí của các nhà đầu tư đang dẫn dắt thị trường Tâm

lý thua lỗ của những nhà đầu tư thuộc “cửa dưới” đã tạo ra phản ứng dè chừngnhất định Khi hào hứng thì các nhà đầu tư có thể làm dậy lên làn sóng ảo cho thịtrường chứng khoán

TTCK thế giới với những tác động tiêu cực khi mà hàng loạt các sàn chứngkhoán hàng đầu thế giới phải “nghiêng ngả” bởi cơn bão khủng hoảng kinh tế, tàichính của những nền kinh tế hàng đầu Thế giới như Mỹ, Nhật… Và do đó hàngloạt các TTCK nhỏ ở nhiều quốc gia đang phát triển cũng bị ảnh hưởng tiêu cựctheo, Việt Nam cũng không ngoại lệ Thận trọng và dè chừng là tâm lý chung củagiới đầu tư chứng khoán quốc tế nói chung và Việt Nam nói riêng

Trang 13

2.2.2 Tình hình thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2009

2.2.2.1 Một số đặc điểm của TTCK năm 2009

Năm 2009 chứng kiến sự đổi ngôi của CTCK trong cuộc chiến giànhgiật thị phần, nhiều CTCK mới ra đời nhưng đã lọt vào Top 10 thị phần môi giớinhư Kim Eng, VIS Phân tích của báo chí cho thấy việc một số CTCK vươn lên vịtrí dẫn đầu, một phần cũng từ nguyên nhân các công ty này cho sử dụng đòn bẩy,khiến giá trị giao dịch tăng vọt Tuy nhiên, đây cũng chính là nguyên nhân khiếnthị trường sau đó điều chỉnh giảm mạnh gần 30% trong những tháng cuối năm và

áp lực khiến UBCK, Bộ Tài chính phải tăng cường kiểm soát

Mặc dù tốc tăng trưởng tín dụng mạnh nhất vào thời điểm tháng 3 đếntháng 6, nhưng có vẻ như dòng tiền chảy vào TTCK lại diễn ra chậm hơn, khoảng

3 tháng sau đó, từ tháng 9 đến tháng 10 Thời gian này, các CTCK, đặc biệt là cácđơn vị có ngân hàng mẹ đứng sau đã tăng cường hỗ trợ mạnh mẽ công cụ đòn bẩytài chính cho NĐT

Các đợt sóng này chủ yếu xuất hiện trong tháng 9 và 10, là thời kỳ khốilượng giao dịch kỷ lục do yếu tố đòn bẩy Lý do là các CTCK cho khách hàng VIPbán trước ngày T+4, điều nay đã tạo ra những đợt sóng siêu ngắn trên thị trường,khi mức lời đạt kỳ vọng từ 5 - 10% từ một đến hai ngày đã tạo ra những áp lựcchốt lời

Trang 14

Chính sách tiền tệ nới lỏng đầu năm sang thắt chặt vào những tháng cuối năm

Chính sách nới lỏng được mở ra mạnh, đặc biệt là trong giai đoạn từ tháng

3 đến tháng 6 khi các ngân hàng bắt đầu giải ngân gói kích cầu hỗ trợ lãi suất củaChính phủ Trung bình tăng trưởng dư nợ tín dụng trong các tháng giai đoạn này là3,54%/tháng và dư nợ cho vay chứng khoán và bất động sản cũng tăng vọt Tuynhiên, trước lo ngại lạm phát sẽ tăng mạnh lại thì bắt đầu tư nửa cuối năm 2009,Chính phủ đã bắt đầu có những chính sách nhằm thu hẹp dư nợ tín dụng bằng cácvăn bản yêu cầu các NHTM kiềm chế dư nợ tín dụng, hạn chế tối đa cho vay kinhdoanh chứng khoán và bất động sản, và động thái cuối cùng của NHNN là tăng lãisuất cơ bản từ 7% lên 8% kể từ ngày 01/12

Ngày 28-12 chỉ số VN-Index đã có phiên điều chỉnh giảm điểm nhẹ vớimức giảm 2,51 điểm (tương đương giảm 0,50%) còn 492,57 điểm Tổng khốilượng giao dịch toàn thị trường cũng giảm còn khoảng 50 triệu đơn vị, với giá trịgiao dịch đạt hơn 2.000 tỉ đồng Đây là phiên điều chỉnh giảm đầu tiên của tuầnnày Tuần trước, VN-Index đã có trọn vẹn một tuần tăng điểm Trong khi có nhiều

mã tăng trần trong các ngành thực phẩm, địa ốc, cao su như DRC, KSH, MCV,ITA, VNM, DIC thì ngược lại cổ phiếu ngành ngân hàng phiên này quay đầugiảm, trong đó STB giảm 600 đồng còn 24.200 đồng/CP, VCB giảm 1.000 đồngcòn 46.000 đồng/CP, EIB giảm 400 đồng còn 24.300 đồng/CP, CTG giảm 100đồng còn 29.300 đồng/CP Toàn thị trường có 68 mã tăng giá, 94 mã giảm giá và

38 mã đứng giá tham chiếu

Trong phiên này nhóm cổ phiếu nhỏ như DIC, HLA, ITC, LSS, SC5, TS4 được tranh mua với khối lượng lớn Theo các chuyên gia chứng khoán, nhận địnhcác tổ chức đầu tư đang tăng mua vào nhóm này ngoài việc tận dụng mua vào các

cổ phiếu giá thấp thì cũng nhằm cố gắng làm tăng giá trị danh mục đầu tư

Trang 15

Tại sàn Hà Nội, chỉ số HNX-Index điều chỉnh giảm nhẹ 0,19 điểm (tươngđương giảm 0,12%) còn mức 161,78 điểm Tổng khối lượng giao dịch đạt 26,6triệu cổ phiếu; tương ứng tổng giá trị giao dịch là 889,3 tỷ đồng Thị trường phiênhôm nay có sự điều chỉnh nhẹ nhưng các chuyên gia thị trường tin rằng nhân tốquan trọng giúp thị trường tiếp tục đi lên sẽ là đợt tham gia mạnh mẽ của các nhàđầu tư cá nhân trong nước.

Theo Công ty chứng khoán SaigonBank Berjaya, sự lạc quan cho thị trường

là do các yếu tố sau:

- Thị trường đã tăng hơn 11% so với tuần trước đó nhưng tính cho toàn bộquý 4-2009 thì VN-Index đã mất hơn 24% trong khi các thị trường chứng khoántrên thế giới tăng trung bình 10% Như vậy, thị trường chứng khoán Việt Namđang có mức tăng thấp hơn so với thị trường chứng khoán chung Với mức P/E (là

hệ số giữa thị giá một cổ phiếu và thu nhập mà nó mang lại) năm 2010 là 11 vàtăng trưởng EPS (thu nhập trên mỗi cổ phần) ước tính 15% thì thị trường chứngkhoán Việt Nam sẽ trở thành điểm chú ý đối với các nhà đầu tư tổ chức quốc tế,cũng như tự bản thân thị trường đang tạo ra sự đảm bảo về mặt giá trị của nó

- Nhiều kỳ vọng cho sự tăng điểm mạnh của thị trường chứng khoán trongquý 1-2010, đặc biệt là thời gian trước tết âm lịch như: khi đa số ngân hàngthương mại tuyên bố sẽ cho vay trở lại, cộng với lượng tiền lớn của dân cư đượcgiải phóng từ thị trường vàng, bất động sản và từ lượng kiều hối tăng mạnh vàothời điểm trước tết âm lịch

- Các công ty lớn đang tăng cường sử dụng nghiệp vụ mua cổ phiếu quỹ,ngoài lý do các công ty này cho rằng giá cổ phiếu hiện nay của họ thấp hơn giá trịthực và như vậy thì cũng không ngoại trừ các công ty này muốn nâng cao giáchứng khoán để làm hài lòng các cổ đông lớn của họ Ngoài ra, thông tin về lợi

Trang 16

nhuận vượt kế hoạch và làn sóng chia cổ tức trước ngày 31-12-2009 sẽ tạo nên sựsôi động cho thị trường chứng khoán thời điểm cuối năm.

2.2.2.2 Tình hình thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2009

Năm 2009 thị trường chứng khoán Việt Nam đã để lại những dấu ấn quantrọng trong lịch sử 9 năm phát triển của TTCK Những kỷ lục mới, cột mốc quantrọng đã lần lượt được thiết lập: phiên giao dịch ngày 24-2, VN-Index đã rơixuống mức đáy 235,5 điểm; HNX-Index lùi về dưới mốc 100 điểm khi xuống mứcthấp nhất trong lịch sử là 78,06 điểm Tuy nhiên, bước sang tháng 3-2009, các nhàđầu tư (NĐT) đã lấy lại được niềm tin khi TTCK có một tháng tăng điểm ấn tượngnhất kể từ tháng 11-2008: VN-Index không chỉ khởi sắc về điểm số mà khối lượnggiao dịch cũng tăng mạnh Tính đến hết ngày 30-6, VN-Index đã tăng 132,67 điểm(42,03%), HNX-Index tăng 44,57 điểm (42,66%) so với thời điểm kết thúc năm

2008 Đây là một bước tiến dài của TTCK trong nước khi VN-Index đã đạt tốc độtăng lớn thứ 8 trong tổng số 89 chỉ số chứng khoán quan trọng trên thế giới khităng được 46% so với thời điểm đầu năm 2009 Kỷ lục về khối lượng giao dịch tạisàn HOSE được thiết lập vào ngày 10-6 với 101.774.520 cổ phiếu và chứng chỉquỹ được chuyển nhượng, con số tương tự tại HNX là 56.522.170 cổ phiếu

Từ tháng 8 đến tháng 10, TTCK lại tiếp tục đợt tăng giá thứ hai đầy mạnh

mẽ với nhiều kỷ lục về giá trị và khối lượng giao dịch kỷ lục được xác lập Ngày22-10, TTCK vươn tới đỉnh điểm của đợt sóng thứ 2 là mức 624,10 điểm Đâycũng là mức cao nhất của thị trường sau 394 phiên giao dịch kể từ ngày 14-3-

2008 Trong khoảng thời gian này, thanh khoản liên tục đạt kỷ lục trên cả hai sàn.Đối với sàn HOSE, phiên giao dịch ngày 23-10 được coi là "siêu thanh khoản" khilập kỷ lục cao nhất từ trước đến nay cả về khối lượng và giá trị giao dịch với hơn

136 triệu đơn vị được chuyển nhượng, tương ứng giá trị giao dịch lên đến 6,414nghìn tỷ đồng; sàn HNX đạt kỷ lục với hơn 67,23 triệu cổ phiếu được chuyểnnhượng cùng 3,04 nghìn tỷ đồng được giải ngân TTCK tăng trưởng mạnh mẽ,

Trang 17

nằm ngoài dự đoán của giới chuyên gia và trở thành điểm sáng ấn tượng khi có tốc

độ phục hồi nhanh nhất châu Á

Một dấu ấn khác của TTCK là sự phát triển mạnh mẽ về quy mô Tính đếntháng hết tháng 11-2009, đã có 430 cổ phiếu và chứng chỉ quỹ được niêm yết.Tổng giá trị vốn hóa thị trường lên tới hơn 669 nghìn tỷ đồng (39 tỷ USD), tươngđương 55% GDP của năm 2008 Mức vốn hóa này tăng gần gấp 3 lần so với thờiđiểm cuối năm 2008 Năm 2009 cũng đánh dấu sự lên sàn của hàng loạt doanhnghiệp (DN) lớn như Eximbank, Bảo Việt, Vietcombank và Vietinbank Sự gópmặt của các “đại gia” này đồng nghĩa với việc nguồn cung trên thị trường ngàycàng đa dạng hơn Trong đó, Vietcombank giao dịch 112,3 triệu cổ phiếu, là DN

có vốn hóa lớn nhất thị trường, với trên 56.000 tỷ đồng, gấp hơn 2 lần "quán quân"trước đó là ACB (28.000 tỷ đồng) Trong khi đó, Bảo Việt (BVH) niêm yết toàn

bộ 573 triệu cổ phiếu và Vietinbank có 121,2 triệu cổ phiếu Các “đại gia” này đềuchào sàn thành công, đáp ứng được mong đợi của NĐT Giá cổ phiếu các doanhnghiệp bảo hiểm và ngân hàng nhờ vậy đã tăng trong một thời gian khá dài và trởthành những cổ phiếu "nóng" trên thị trường

Ngày 24/6/2009, thị trường UPCoM chính thức được khai trương và đi vàohoạt động với sự tham gia thị trường của 10 doanh nghiệp Đến nay, sau 6 tháng đivào hoạt động, thị trường Upcom có 35 doanh nghiệp niêm yết với tổng giá trịđăng ký giao dịch là 3.208 tỷ đồng, mức vốn hóa thị trường đạt 4.326 tỷ đồng.UBCKNN đã tổng kết đánh giá lại thị trường UPCoM, trình Chính phủ và đề xuấtcác giải pháp cải thiện thị trường này

Tiếp sau đó, ngày 24/9/2009, thị trường giao dịch trái phiếu chính phủchuyên biệt cũng chính thức được khai trương và đi vào hoạt động, với hình thứcgiao dịch trái phiếu: thông thường (Outrigh) và mua bán lại (Repo) Hệ thống giaodịch trái phiếu chính phủ chuyên biệt vận hành giao dịch cho hơn 500 loại tráiphiếu, trị giá hơn 166 ngàn tỷ đồng, với sự tham gia của gần 30 thành viên là các

Trang 18

CtyCK và ngân hàng thương mại Phương thức giao dịch áp dụng là thỏa thuận.Đây không chỉ là một kênh dẫn vốn hiệu quả cho nền kinh tế mà còn tạo ra sự đadạng hóa các công cụ đầu tư trên thị trường vốn, cho phép các nhà đầu tư có thêmlựa chọn đầu tư ít rủi ro Với việc tái cấu trúc một bước các thị trường giao dịchtrên SGDCK là tiền đề cho việc tái cấu trúc cao hơn sau này đối với toàn bộ thịtrường.

Tiếp theo SGDCK Tp Hồ Chí Minh, thực hiện Quyết định số TTg ngày 2/1/2009 của Thủ tướng Chính phủ, ngày 24/6/2009, Trung tâm Giaodịch Chứng khoán Hà Nội (HASTC) chính thức chuyển đổi thành Sở Giao dịchChứng khoán Hà Nội (HNX) HASTC chuyển đổi mô hình hoạt động từ đơn vị sựnghiệp có thu sang công ty TNHH Nhà nước một thành viên, vốn điều lệ 1.000 tỷđồng

01/2009/QĐ-Ngày 29/7/2009, Trung tâm Lưu ký Chứng khoán chính thức chuyển đổithành Trung tâm Lưu ký Chứng khoán Việt Nam theo Quyết định số171/2008/QĐ-TTg ngày 18/12/2008, hoạt động theo mô hình công ty TNHH Nhànước một thành viên với mức vốn điều lệ 1.000 tỷ đồng

Sự chuyển đổi mô hình thành công của SGDCK Hà Nội và TTLKCK ViệtNam đánh dấu bước phát triển và trưởng thành vượt bậc của TTCK Việt Nam cả

về quy mô và cơ cấu thị trường sau gần 10 năm đi vào hoạt động, chuẩn bị chomột giai đoạn thị trường phát triển bậc cao mang tính chuyên nghiệp

Năm 2009 cũng để lại những ấn tượng mạnh mẽ về các dòng vốn vào - rathị trường Các chuyên gia đều lên tiếng khẳng định: một trong những nguyênnhân khiến thị trường "nóng" là do khối các công ty chứng khoán "tung" các đònbẩy tài chính hỗ trợ NĐT Khảo sát tại các công ty chứng khoán mới hay, kể từ khichứng khoán hồi phục, nhằm gia tăng lợi nhuận, hầu hết công ty chứng khoán đềuphối hợp với một hay một vài đối tác tài chính để hỗ trợ vốn cho các NĐT Tại

Trang 19

một số công ty chứng khoán, tỷ lệ sử dụng đòn bẩy có thể đạt 100-200% Hìnhthức hỗ trợ rất đa dạng và thông thoáng, NĐT vốn ít thì được cầm cố từ 40-70%giá trị tiền hay cổ phiếu trong tài khoản để mua tiếp cổ phiếu Hàng nghìn NĐT đãliên tiếp quay vòng đồng tiền bằng vay mượn nhằm gia tăng lợi nhuận khiến sứccầu được khuếch đại lớn gấp nhiều lần thực lực Nguồn lực từ các đòn bẩy tàichính đã khiến thị trường liên tiếp thiết lập các kỷ lục về thanh khoản nhưng kèmtheo đó là những nỗi lo ngày càng lớn dần Cuối tháng 6-2009, Ủy ban Chứngkhoán nhà nước (UB CKNN) đã phải lên tiếng yêu cầu các công ty chứng khoánthực hiện nghiêm túc các quy định, đồng thời ngừng ký các hợp đồng repo mới.Tác động từ văn bản của UB CKNN đã giúp giảm rủi ro trên TTCK nhờ hạn chếđược những dòng tiền ngắn hạn theo kiểu T +, từ đó NĐT bớt lo lắng với các dòngtiền nợ, làm cho tính ổn định của thị trường tăng lên.

Không ít chuyên gia đã bất ngờ trước diễn biến của TTCK trong năm qua.Tuy nhiên, xét về tốc độ tăng trưởng, TTCK Việt Nam năm 2009 được coi là cótốc độ tăng trưởng rất cao, tới 60-70%, nhưng xét một cách toàn diện lại có không

ít dấu hiệu bất ổn Trước hết, TTCK có dấu hiệu phục hồi nhưng không bền vững:Chỉ số VN-Index giảm mạnh 22% từ đỉnh 633,2 điểm ngày 23-10 xuống mốc490,6 điểm ngày 27-11 Khối lượng giao dịch từ tháng 11 đến hết năm sụt giảmmạnh so với hai tháng 9, 10 Càng về cuối năm, thanh khoản của thị trường càngtrở nên đáng lo ngại

Chính sách tài khóa, tiền tệ nới lỏng và gói kích thích kinh tế năm 2009 củaChính phủ là động lực chính để TTCK phục hồi Tuy nhiên, do những căng thẳngtrên thị trường ngoại hối, nguy cơ lạm phát và nợ Chính phủ gia tăng nên trong haitháng cuối năm 2009, chính sách tiền tệ bắt đầu có dấu hiệu thắt chặt Hơn nữa, từnửa cuối tháng 10-2009, Ngân hàng Nhà nước đã yêu cầu các ngân hàng phảichấm dứt cho vay chứng khoán Theo ước tính của các chuyên gia, có tới 20-50%dòng tiền trên TTCK đến từ nguồn vốn kích thích kinh tế (đòn bẩy tài chính) Cầu

Trang 20

trên TTCK đã chịu tác động mạnh từ những điều chỉnh trên và dẫn tới tính thanhkhoản của thị trường giảm sút Thực tế cho thấy, những tác động thực đến luồngtiền vào TTCK cũng như những tác động tâm lý thái quá đã khiến các chỉ sốchứng khoán rơi vào chu kỳ giảm điểm từ tháng 11 cho đến cuối năm Tính từđỉnh cao xác lập trong năm thì VN-Index đã mất khoảng 30% về điểm số Nhiềuthời điểm, NĐT lao vào xả hàng vì sợ "lịch sử lặp lại" - chứng khoán có thể sẽ lậpđáy như thời điểm đầu năm Trong báo cáo Vietnam Monitor mới ra về tình hìnhkinh tế và thị trường tài chính - chứng khoán của Việt Nam, Ngân hàng HSBCcũng cho rằng TTCK Việt Nam gần đây đã "hụt hơi" so với các thị trường ở châu

Á (hoạt động kém thứ hai trong quý IV ở khu vực châu Á)

Một vấn đề cần lưu ý nữa là giá cổ phiếu của TTCK Việt Nam đang ở mứccao so với các nước trong khu vực Theo một số chuyên gia, nếu giả định mứctăng trưởng EPS (thu nhập tính trên mỗi cổ phiếu) trong 12 tháng tới là 20% thì hệ

số P/E của 12 tháng tới sẽ là 19,1 lần Đây là mức P/E cao hơn hẳn các thị trườngcùng tầm với Việt Nam như Thái Lan (12 lần), Trung Quốc (14,7 lần), Inđônêxia(14,6 lần) và Philíppin (15 lần) Trong báo cáo mới nhất, HSBC tiếp tục khẳngđịnh chứng khoán Việt Nam đang đắt đỏ hơn so với các thị trường cùng khu vựckhác Đây là một trong những nguyên nhân khiến NĐT ngoại rút vốn khỏi thịtrường thời gian qua

Bên cạnh đó, sự biến động của TTCK, cũng như thị trường vàng, thị trườngngoại tệ ở Việt Nam, không theo một quy luật nào đã cho thấy những bất ổn củathị trường phát sinh từ chính những yếu tố nội tại Thị trường tài chính bị phânkhúc, chưa có sự minh bạch cũng như thông tin chưa được cập nhật chuẩn xác đếnNĐT, trong khi yếu tố tâm lý luôn bị chi phối nặng nề bởi các tin đồn Trên thịtrường vẫn có khoảng trống pháp lý cho đầu cơ, lũng đoạn

Trang 21

2.2.2.3 Một số thành tựu của TTCK Việt Nam năm 2009

Mặc dù trong tháng cuối năm, TTCK Việt Nam đã điều chỉnh giảm do tácđộng của chính sách thắt chặt tiền tệ nhưng nhìn chung với một chu kỳ tăng điểmkéo dài hơn 8 tháng trong những tháng giữa năm, thì năm 2009 là một năm tăngtrưởng rất ấn tượng của TTCK Việt Nam Nếu tính từ ngày 1/1/2009 đến31/12/2009 thì VN-Index đã tăng thêm 171,96 điểm, từ 312,49 điểm lên đến494,77 điểm, tương đương 58% Nếu tính từ đáy thấp nhất trong năm khi VN-Index ở mốc 234,66 điểm vào ngày 24/2/2009 và đỉnh cao nhất là 633,21 điểm vàongày 23/10/2009 thì VN-Index đã tăng 2,69 lần Tương tự, mức tăng trưởng trongnăm 2009 của HNX-Index là 60,9%; và nếu so từ đáy thấp nhất 78,06 điểm lênđỉnh cao nhất trong năm 218,38 điểm thì HNX-Index đã tăng 2,79 lần

Năm 2009 được coi là năm thành công của thị trường chứng khoán ViệtNam, nó thể hiện qua một số điểm sau:

Trước hết, mặc dù bị giảm điểm vào hai tháng đầu năm và hai tháng cuối

năm, nhưng tính chung cả năm vẫn tăng

Thứ hai, tốc độ tăng VN-index năm 2009 thuộc loại cao thứ ba trong 10

năm qua, chỉ thấp hơn tốc độ tăng của năm 2006 (tăng 144,5%) và năm 2000 (tăng106,83%); cao hơn các năm còn lại (năm 2004 tăng 43,3%, năm 2005 tăng 28,5%,năm 2007 tăng 23,3%, năm 2001 tăng 13,8%, năm 2008 giảm 66%, năm 2002giảm 22,1%, năm 2003 giảm 8,9%)

Thứ ba, tốc độ tăng của VN-index và HNX-Index thuộc loại cao so với tốc

độ tăng giá trên các kênh đầu tư khác: Giá tiêu dùng tăng 6,52%; lãi suất gửi tiếtkiệm khoảng 10,4%; giá vàng tăng 64,32%; giá USD tăng 10,703%; giá nhà ở vàvật liệu xây dựng tăng 12,58% Như vậy, tốc độ tăng của VN-index và HNX-Index chỉ thấp hơn tốc độ tăng của giá vàng

Trang 22

Thứ tư, giá trị giao dịch bình quân/phiên thuộc loại khá cao xét về hai mặt.

Một mặt, nhìn chung tăng lên qua các tháng trong năm 2009 (tháng một đạt 203,1

tỉ đồng, tháng hai 175,2 tỉ, tháng ba 382,2 tỉ, tháng tư 892,5 tỉ, tháng năm 1.511,8

tỉ, tháng sáu 1.951,9 tỉ, tháng bảy 1.199,4 tỉ, tháng tám 2.074,9 tỉ, tháng chín3.181,5 tỉ, tháng mười 3.835,5 tỉ, tháng mười một 2.428,8 tỉ, tháng mười hai đạt1.743,1 tỉ - bình quân năm 2009 đạt 1.634,4 tỉ đồng/phiên Mặt khác, năm 2009 đãcao hơn nhiều so với các con số tương ứng của các năm trước (năm 2000 chỉ có148,1 tỉ đồng, năm 2001 có 628 tỉ đồng, năm 2002 có 581,6 tỉ đồng năm 2007chỉ có 856,7 tỉ đồng, năm 2008 chỉ có 594,1 tỉ đồng) Tỷ lệ giá trị vốn hóa thịtrường so với GDP nếu năm 2008 giảm xuống mạnh (chỉ còn trên dưới 20%), nay

đã cao hơn gấp đôi (trên dưới 55%)

Thứ năm, tỷ trọng giá trị giao dịch của các nhà đầu tư (NĐT) nước ngoài

tiếp tục giảm xuống trong năm 2009 (nếu những năm trước đây, đặc biệt là 2007,

tỷ trọng giá trị giao dịch của các NĐT nước ngoài thường chiếm từ 25- 30%, năm

2008 giảm xuống chỉ còn dưới 20% và năm 2009 chỉ còn dưới 15%, thậm chí cóthời gian còn dưới 10%); giao dịch của NĐT nước ngoài, nếu trước đây tác độnglớn đến các NĐT trong nước cả về tâm lý lẫn nguồn lực và kỹ thuật, nên NĐTtrong nước thường mua/bán theo, thì nay tác động rất nhỏ, chủ yếu là về mặt tâm

lý NĐT nước ngoài nếu trước đây thường áp dụng chiến thuật đầu tư dài hạn, naycũng lướt sóng một cách điệu nghệ

Thứ sáu, NĐT mạnh lên nhờ có nhiều nguồn tiền Nguồn tiền tiết kiệm với

lãi suất cao trong năm trước nay đến kỳ đáo hạn được rút ra để đầu tư vào chứngkhoán Nguồn thuế thu nhập cá nhân được miễn Nguồn tiền bất động sản đượcđền bù giải phóng mặt bằng Nguồn tiền được các tổ chức, cá nhân với đòn bẩy tàichính đã được tận dụng triệt để (nhưng cũng chính đòn bẩy tài chính đã làm cholượng vốn ảo bị kích lên, làm cho sóng trên thị trường cao hơn, nhiều hơn)

Ngày đăng: 05/04/2013, 10:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w