Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của nhà máy xi măng An Giang
Trang 1ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
HỌ VÀ TÊN SINH VIÊN
NGUYỄN TRỌNG HIẾU
Đề Tài
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA
NHÀ MÁY XI MĂNG AN GIANG
Chuyên ngành: Quản Trị Kinh Doanh Nông Nghiệp
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Long xuyên, tháng 5 năm 2006
Trang 2ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Đề tài:
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA
NHÀ MÁY XI MĂNG AN GIANG
Chuyên ngành: Quản Trị Kinh Doanh Nông Nghiệp
Sinh viên thực hiện: NGUYỄN TRỌNG HIẾU
Lớp: ĐH3KN2 Mã Số SV: DKN021203
Giáo viên hướng dẫn: TRẦN MINH HẢI
Long xuyên, tháng 5 năm 2006
Trang 3LỜI CẢM TẠ
– –
Con người sống phải biết ước mơ và phải phấn đấu hết sức mình để thực hiện cho được ước mơ đó - lời dạy của thấy - người đã nâng cánh cho tôi trong suốt những năm phổ thông đã khắc sâu vào tâm trí tôi Đó cũng chính là hành trang vô cùng quí giá
mà tôi mang theo khi bước vào giảng đường Đại học để thực hiện ước mơ của mình
Sau bốn năm ngồi trên ghế giảng đường, miệt mài phấn đấu cùng với sự nhiệt tình giúp đỡ, lòng nhiệt huyết của quí thầy cô và biết bao người, tôi đã đi được một chặng đường vô cùng quan trọng để rèn luyện và ngày càng hoàn thiện bản thân – góp phần xây dựng quê hương và tổ quốc - tiến gần hơn ước mơ của mình Cái mốc quan trọng để đánh dấu một chặng đường mới đó chình là luận văn tốt nghiệp Sau ba tháng thực tập tại nhà máy xi măng An Giang Giang, tôi có điều kiện vận dụng những kiến thức mà mình đã học cọ sát, thâm nhập vào thực tế để có thể củng cố, mở rộng hiểu biết của mình Đến nay khóa luận đã hoàn thành, tôi xin chân thành cảm ơn
- Gia đình, người thân và bạn bè trước hết là ba, mẹ tôi nguồn cổ vũ tinh thần lớn nhất đã tạo mọi điều kiện, An Giang ủi tôi phấn đấu
- Ban Giám Hiệu nhà trường
- Các phòng khoa trước hết là khoa Kinh Tế - QTKD
- Giáo viên chủ nhiệm là cô Nguyễn Vũ Thùy Chi và cô Nguyễn Thị Ngọc Lan
và quí thầy cô trong bộ môn
- Ban Giám Đốc, công nhân viên nhà máy xi măng An Giang đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để có thể hoàn thành tốt nghĩa vụ của mình
- Đặc biệt cuối cùng tôi không biết nói gì hơn ngoài lời chân thành cảm ơn thầy
Trần Minh Hải - Giảng viên khoa Kinh Tế - QTKD người đã trực tiếp hường
dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận
Xin chân thành cảm ơn !
Long Xuên, tháng 5 năm 2006
Nguyễn Trọng Hiếu
Trang 4NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Long xuyên, ngày……tháng… năm 2006
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN
Trang 5
Long xuyên, ngày… tháng……năm 2006
Trang 7MỤC LỤC MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BIỂU BẢNG
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ VÀ SƠ ĐỒ
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CHƯƠNG I: MỞ ĐẦU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Nội dung nghiên cứu 2
1.4 Phương pháp nghiên cứu 3
1.5 Phạm vi nghiên cứu 3
CHƯƠNG II: LÝ LUẬN CHUNG- KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH 4
2.1 Khái niệm và vai trò của việc phân tích hoạt động kinh doanh 4
2.1.1 Khái niệm 4
2.1.2 Ý nghĩa và vai trò 4
2.1.3 Nhiệm vụ của việc phân tích hoạt động kinh doanh 5
2.2 Nội dung của việc phân tích hoạt động kinh doanh 6
2.2.1 Phân tích tình hình tiêu thụ sản phẩm hàng hoá của nhà máy 7
2.2.2 Phân tích tình hình cung ứng sản phẩm hàng hoá của nhà máy 7
2.2.3 Phân tích tình hình tài chính của nhà máy 8
2.3 Các tỷ số tài chính 8
2.3.1 Khả năng thanh toán nhanh 8
2.3.2 Khả năng thanh toán hiện thời 9
2.3.3 Tỷ số nợ 9
2.3.4 Kỳ thu tiền bình quân 10
2.3.5 Hiệu quả sử dụng tài sản cố định 10
2.3.6 Doanh lợi tiêu thụ 11
2.3.7 Vòng quay tồn kho 11
2.3.8 Vòng quay tổng tài sản 12
2.3.9 Doanh lợi tài sản 12
2.3.10 Tỷ lệ lãi gộp 12
CHƯƠNG III: GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NHÀ MÁY XI MĂNG AN GIANG 14
3.1 Khái quát quá trình hình thành và phát tiển của nhà máy 14
3.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy của nhà máy 16
3.2.1 Cơ cấu tổ chức 16
3.2.2 Tình hình cơ cấu nhân sự của nhà máy 19
3.2.3 Tình hình trả lương cho người lao động 20
3.3 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mục tiêu hoạt động của nhà máy 21
3.3.1 Chức năng 21
3.3.2 Nhiệm vụ 21
3.3.3 Quyền hạn 22
3.3.4 Mục tiêu hoạt động 22
3.4 Thuận lợi, khó khăn, nguy cơ và cơ hội của nhà máy 22
3.4.1 Thuận lợi 22
3.4.2 Khó khăn 22
3.4.3 Cơ hội 23
3.4.4 Nguy cơ 23
Trang 83.5 Thị trường tiêu thụ và phương thức kinh doanh 23
3.6 Kết quả kinh doanh của nhà máy trong 3 năm 24
CHƯƠNG IV: PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NHÀ MÁY XI MĂNG AN GIANG 26
4.1 Phân tích tình hình tiêu thụ của nhà máy xi măng An Giang 26
4.2 Phân tích tình hình cung ứng của nhà máy xi măng An Giang 29
4.2.1 Phân tích tình hình mua vào của nhà máy xi măng An Giang 29
4.2.2 Phân tích tình hình dự trữ của nhà máy xi măng An Giang 29
4.3 Phân tích tình hình biến động tài sản của nhà máy xi măng An Giang 31
4.3.1 Phân tích tình hình biến động tài sản của nhà máy 31
4.3.2 Phân tích tình hình biến động nguồn vốn của nhà máy 32
4.4 Phân tích tình hình và khả năng thanh toán của nhà máy 34
4.4.1 Phân tích các khoản phải thu 34
4.4.2 Phân tích các khoản phải trả 35
4.4.3 Phân tích các tỷ số tài chính 37
4.5 Phân tích kết quả và hiệu quả kinh doanh của nhà máy 39
CHƯƠNG V: CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH 44
5.1 Giải pháp về marketing 46
5.1.1 Giải pháp về chiến lược sản phẩm 46
5.1.2 Giải pháp về chiến lược giá 46
5.1.3 Giải pháp về chiến lược phân phối 47
5.1.4 Giải pháp về chiến lược chiêu thị 47
5.1.5 Giải pháp về con người 47
5.2 Giải pháp về nhân sự 48
5.3 Giải pháp về vốn và thanh toán 48
5.4 Giải pháp về công nghệ 48
CHƯƠNG VI: KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ 49
6.1 Kết luận 49
6.2 Kiến nghị 49
6.2.1 Về phía nhà nước 49
6.2.2 Về phía nhà máy 50
PHỤ LỤC 52 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1: Bảng tình hình lao động của nhà máy xi măng An Giang 19
Bảng 2: Bảng tình hình thu nhập của cán bộ công nhân viên của nhà máy xi măng An Giang 20
Bảng 3: Bảng doanh thu và lợi nhuận qua 3 năm (2003 – 2005) 24
Bảng 4: Bảng phân tích các tỷ số tài chính của nhà máy xi măng An Giang 37
Bảng 5: Bảng đánh giá thời gian giao hàng của khách hàng 39
Bảng 6: Bảng đánh giá phong cách phục vụ của nhân viên 40
Bảng 7: Bảng thực hiện các chương trình thu hút khách hàng 41
Bảng 8: Bảng phân tích ma trận SWOT 44
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ VÀ SƠ ĐỒ Biểu đồ 1: Biểu đồ doanh thu từ năm 2003 – 2005 25
Biểu đồ 2: Biểu đồ lợi nhuận sau thuế từ năm 2003 – 2005 25
Biểu đồ 3: Biểu đồ biểu hiện tình hình tiêu thụ của nhà máy xi măng An Giang từ năm 2003 – 2005 28
Biểu đồ 4:Biểu đồ biểu hiện tình hình gia công của nhà máy xi măng An Giang từ năm 2003 – 2005 28
Biểu đồ 5: Biểu đố thỏa mãn về thời gian giao hàng từ năm 2002 – 2004 40
Biểu đồ 6: Biểu đồ góp ý của khách hàng về phong cách phục vụ của nhân viên 41
Biểu đồ 7: Biểu đồ thực hiện các chương trình 42
Sơ đồ 1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của nhà máy xi măng An Giang 16
Sơ đồ 2: Sơ đồ bộ máy kế toán 18
PHỤ LỤC Phụ luc 1: Bảng kết quả hoạt động kinh doanh của nhà máy xi măng An Giang từ năm 2003 - 2005 a Phụ lục 2: Bảng cân đối kế toán của nhà máy xi măng An Giang c Phụ lục 3: Bảng phân tích tình hình tiêu thụ cảu nhà máy xi măng An Giang từ năm 2003- 2005 f Phụ lục 4: Bảng phân tích tình hình mua nguyên liệu đầu vào của nhà máy xi măng An Giang từ năm 2003 - 2005 g Phụ lục 5: Bảng phân tích tình hình dự trữ của nhà máy xi măng An Giang từ năm 2003 – 2005 h Phụ lục 6: Bảng phân tích tình hình biến động tài sản của nhà máy xi măng An Giang từ năm 2003 - 2005 i
Phụ lục 7: Bảng phân tích tình hình biến động nguồn vốn của nhà máy xi măng An
Giang từ năm 2003 – 2005 j
Phụ lục 8: Bảng phân tích các khoản phải thu của nhà máy xi măng An Giang từ năm
200 -2005 k
Phụ lục 9: Bảng phân tích các khoản phải trả của nhà máy xi măng An Giang từ năm
2003 - 2005 l
Phụ lục 10: Bảng phân tích hiệu quả và kết quả kinh doanh của nhà máy xi măng An
Giang từ năm 2003 - 2005 m
Trang 11ty và các xí nghiệp phải hết sức năng động, mạnh dạn cải tiến bộ máy hoạt động để phù hợp với đường lối chính sách của Đảng; đồng thời bắt kịp xu hướng chung của thời đại – xu hướng toàn cầu hóa.
Chính xu thế toàn cầu hóa làm cho việc hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế (đặc biệt là việc gia nhập tổ chức Thương Mại Thế Giới WTO và Khu Mậu Dịch Tự do Thương Mại AFTA) trở thành xu hướng tất yếu trong nền kinh tế của mỗi quốc gia Nếu không muốn tụt hậu so với các nước khác, tất nhiên Việt Nam cũng không ngoại lệ việc mở cửa thị trường trong nước và tham gia vào thị trường thế giới tạo nhiều cơ hội cho nền kinh tế các nước phát triển đặc biệt là các nước đang phát triển như nước ta; thị trường tiêu thụ được mở rộng, thu hút vốn đầu tư của nước ngoài, tiếp thu công nghệ mới; hiện đại; kinh nghiệm quản lý tiên tiến… Cơ chế thị trường này tạo nhiều yếu tố tích cực thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế ngày càng mạnh mẽ nhưng đồng thời cũng mang lại không ít những thách thức buộc các nền kinh tế phải đương đầu Đảng và nhà nước ta đã thấy được những thuận lợi nêu trên đồng thời cũng dự báo những nguy cơ ta
có thể gặp phải đó là: tụt hậu xa về kinh tế so với các nước khác trong khu vực và trên thế giới Từ đó đưa ra những chủ trương, chính sách phát triển cho phù hợp đó là phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản
lý của nhà nước, theo định hướng XHCN
Mặt khác, xu thế chung của nền kinh tế thế giới, việc mở cửa hội nhập làm cho
sự cạnh tranh giữa các nền kinh tế nói chung và của các doanh nghiệp nói riêng ngày càng gay gắt Do đó, để đạt hiệu quả cao nhất trong sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp phải nắm bắt kịp thời chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước, xác định đúng phương hướng, mục tiêu trong đầu tư kinh doanh, có biện pháp sử dụng hợp lý, tận dụng các điều kiện thuận lợi, tranh thủ nguồn lực và vật lực sẵn có đồng thời hạn chế tối đa những rủi ro do mặt trái của cơ chế thị trường mạng lại, có như thế mới có thể đứng vững trên thị trường trong giai đoạn hiện nay Vì vậy, việc đánh giá thường xuyên, phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh một cách toàn diện, khả năng khai thác tiềm năng sẵn có của mình như thế nào, hiệu quả của hoạt động đó ra sao là rất là cần thiết,
từ đó thấy được mình đã đạt được gì và chưa đạt được gì, đang ở trong cung đoạn nào của quá trình phát triển và đang ở vị trí nào trong quá trình thi đua cạnh tranh với các doanh nghiệp khác để có biện pháp phù hợp với điều kiện cụ thể của doanh nghiệp mình nhằm đạt hiệu quả sản xuất cao nhất
Trong tình hình chung như thế và trong suốt quá trình thực tập tại nhà máy xi măng An Giang, tôi nhận thấy làm thế nào để đạt hiệu quả cao trong sản xuất kinh doanh, để có thể đứng vững trên thị trường là một vấn đề sinh động và rất cần thiết đối với nhà máy xi măng An Giang nói riêng và của các doanh nghiệp nói chung Từ việc nắm bắt tình hình hoạt động sản xuất của nhà máy xi măng An Giang, tôi quyết định
chọn đề tài “MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH
Trang 12DOANH CỦA NHÀ MÁY XI MĂNG AN GIANG” coi đây là mục đích quan trọng
để phân tích các vấn đề gặp phải tại nhà máy xi măng An Giang Qua đó, đề xuất một số biện pháp thiết thực góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của nhà máy để
có thể tận dụng lợi thế sẵn có của nhà máy, hạn chế tối đa những ảnh hưởng tiêu cực, khắc phục những hạn chế đồng thời phù hợp với chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Phân tích hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp để từ đó đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh là rất cần thiết, nhằm hỗ trợ cho doanh nghiệp định hướng và quản lý hoạt động kinh doanh một cách hiệu quả nhằm đạt được mục tiêu đề
ra Ngoài ra, việc phân tích hoạt động kinh doanh nhằm nhận ra những nguy cơ và cơ hội ảnh hưởng đến quá trình tiêu thụ sản phẩm hàng hoá, cũng như phát hiện ra những điểm mạnh và điểm yếu của doanh nghiệp và có biện pháp khắc phục
Mặt khác, việc phân tích tình hình hoạt động kinh doanh nhằm: tìm hiểu tình hình tài chính và hiệu quả sử dụng vốn của nhà máy để biết rõ hơn nguồn tài chính của nhà máy như thế nào cũng như việc sử dụng nguồn vốn vào quá trình hoạt động kinh doanh của nhà máy trong những năm gần đây ra sao
Đồng thời, việc đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của nhà máy để biết được trong thời gian qua nhà máy đã đạt được những gì và chưa đạt được những gì Trên cơ sở tìm hiểu, phân tích và đánh giá tình hình hoạt động kinh doanh đó của nhà máy nhằm cùng với nhà máy đề ra biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh cũng như nâng cao chất lượng, đồng thời hạn chế các rủi ro có thể xảy ra trong quá trình hoạt động kinh doanh
1.3 Nội dung nghiên cứu
Ngoài chương mở đầu và chương kiến nghị - kết luận, nội dung của đề tài gồm 4 chương:
Chương II: Lý luận chung- khái quát chunh về hoạt động kinh doanh
Nội dung chủ yếu của chương này nhằm nêu lên khái niệm và ý nghĩa vai trò của việc phân tích hoạt động kinh doanh cũng như nhiệm vụ của việc phân tích hoạt động kinh doanh
Chương III: Giới thiệu sơ lược về nhà máy xi măng An Giang
Nội dung của chương này nhằm giới thiệu sơ lược về quá trình hình thành và phát triển của nhà máy xi măng An Giang, tìm hiểu tình hình nhân sự cũng như tình hình trả lương của nhà máy, chức năng nhiệm vụ của nhà máy Đồng thời nêu lên những thuận lợi, khó khăn cũng như cơ hội và nguy cơ và kết quả hoạt động kinh mà nhà máy đạt được trong 3 năm qua (năm 2003- 2005)
Chương IV: Phân tích tình hình hoạt động kinh doanh của nhà máy xi măng An Giang.
Chương này nhằm đi sâu để tìm hiểu chính xác hơn những nhân tố nào ảnh hưởng đến tình hình tiêu thụ sản phẩm hàng hoá, tình hình cung ứng sản phẩm hàng hoá, tình hình biến động tài sản và nguồn vốn của nhà máy, cũng như tìm hiểu tình hình
và khả năng thanh toán của nhà máy, nêu lên những nhân tố tác động đến kết quả hoạt động kinh doanh của nhà máy
Chương V: Các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh
Trang 13Trên cơ sở tìm hiểu và phân tích các nhân tố tác động đến quá trình hoạt động kinh doanh của nhà máy từ đó đưa một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh như: marrketing, nguồn vốn và nhân sự.
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập số liệu
Các loại dữ liệu sơ cấp bao gồm các báo cáo tài chính (bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, bảng cân đối kế toán) để phân tích tình hình hoạt động kinh doanh Dữ liệu chủ yếu được thu thập từ phòng kế hoạch kinh doanh và phòng kế toán
Các dữ liệu thứ cấp bao gồm: báo, tạp chí, Internet và các thông tin có liên quan đến lĩnh vực xi măng…
Phỏng vấn: phỏng vấn trực tiếp cán bộ quản lý và nhân viên tại nhà máy để
nắm bắt tình hình hoạt động của nhà máy cũng như quá trình hình thành và phát triển của nhà máy
Phương pháp xử lý số liệu: từ số liệu thu thập được, dùng phương pháp so sánh
để đánh giá tinh hình hoạt động của nhà máy qua từng năm; dùng phương pháp diễn dịch, quy nạp để đưa ra những nhận xét; dùng phương đồ thị, biểu đồ … để xử lý số liệu
1.5 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về tình hình hoạt động kinh doanh của nhà máy xi măng An Giang trong phạm vi các tỉnh ĐBSCL, miền Đông Nam Bộ và thị trường Campuchia từ
2003 đến 2005 có chiều hướng phát triển như thế nào, có những thuận lợi và khó khăn
ra sao dựa trên bảng cân đối kế toán và bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Mặt khác, do thời gian thực tập có hạn và sự hạn chế của tôi về tình hình thực tế kinh doanh ngoài thị trường của nhà máy như thế nào Chính vì vậy, bài viết của tôi không đi sâu vào phân tích chi tiết, không phân tích tất cả các nhân tố mà chỉ đánh giá
và phân tích một vài nhân tố có ảnh hưởng quan trọng đến tình hình hoạt động kinh doanh của nhà máy dựa trên các số liệu thu thập được từ nhà máy và những thông tin liên quan đến lĩnh vực xi măng Từ đó, đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả họat động kinh doanh cho nhà máy
Số liệu phân tích được giới hạn trong 3 năm từ 2003 đến 2005
Trang 14Vậy phân tích hoạt động kinh doanh là gì ?
Theo phó tiến sĩ Phạm Văn Được – Phân tích hoạt động kinh doanh – NXB Thống Kê năm 1996
“Phân tích hoạt động kinh doanh là quá trình nghiên cứu để đánh giá toàn bộ quá trình và kết quả hoạt động kinh doanh ở một doanh nghiệp nhằm làm rỏ chất lượng hoạt động kinh doanh và các nguồn tiềm năng cần được khai thác, trên cơ sở đó đề ra các phương án và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh ở một doanh nghiệp”.
Người ta phân biệt hoạt động kinh doanh như một hoạt động thực tiễn, vì phân tích hoạt động kinh doanh luôn đi trước quyết định và là cơ sở cho việc ra các quyết định kinh doanh Phân tích hoạt động kinh doanh như một ngành khoa học, nó nghiên cứu các phương pháp phân tích có hệ thống và tìm ra những giải pháp áp dụng chúng ở mỗi doanh nghiệp
Như vậy phân tích hoạt động kinh doanh là quá trình nhận thức và cải tạo hoạt động kinh doanh, một cách tự giác và có ý thức, phù hợp với điều kiện cụ thể và phù hợp với các yêu cầu của quy luật kinh tế khách quan, nhằm đem lại hiệu quả cao hơn cho doanh nghiệp
Do đó việc phân tích hoạt động kinh doanh nó mang nhiều ý nghĩa và vai trò quan trọng như sau:
- Phân tích hoạt động kinh doanh không những là công cụ để phát hiện những khả năng tiềm tàng trong hoạt động kinh doanh mà còn là công cụ để cải tiến cơ chế quản lý trong kinh doanh
- Phân tích hoạt động kinh doanh cho phép các nhà doanh nghiệp nhìn nhận đúng đắn về khả năng, sức mạnh cũng như những hạn chế trong doanh nghiệp của mình Chính trên cơ sở này doanh nghiệp sẽ xác định đúng đắn mục tiêu cùng các chiến lược kinh doanh có hiệu quả
Trang 15- Phân tích hoạt động kinh doanh là cơ sở quan trọng để ra các quyết định kinh doanh.
Phân tích quá trình nhận thức hoạt động kinh doanh là cơ sở cho việc ra quyết định đúng đắn trong chức năng quản lý, nhất là các chức năng kiểm tra đánh giá và điều hành hoạt động kinh doanh để đạt các mục tiêu kinh doanh
- Phân tích hoạt động kinh doanh là biện pháp quan trọng để phòng ngừa rủi ro
Vì vậy, tài liệu phân tích hoạt động kinh doanh không chỉ cần thiết cho các nhà quản trị ở bên trong doanh nghiệp mà còn cần thiết cho các đối tượng bên ngoài khác, khi họ có mối quan hệ về nguồn lợi với doanh nghiệp, vì thông qua phân tích họ mới có thể quyết định đúng đắn trong việc hợp tác đầu tư với doanh nghiệp nữa hay không và tiếp tục cho doanh nghiệp vay hay không
2.1.3 Nhiệm vụ của việc phân tích hoạt động kinh doanh
Để trở thành một công cụ quan trọng của quá trình nhận thức, hoạt động kinh doanh ở một doanh nghiệp và là cơ sở cho việc ra các quyết định kinh doanh đúng đắn, phân tích hoạt động kinh doanh có những nhiệm vụ như sau:
a) Kiểm tra và đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh thông qua các chỉ tiêu
kinh tế đã xây dựng:
Nhiệm vụ trước tiên của phân tích là đánh giá và kiểm tra khái quát giữa kết quả đạt được so với các mục tiêu kế hoạch, dự đoán, định mức… đã đặt ra để khẳng định tính đúng đắn và khoa học của chỉ tiêu đã xây dựng trên một số mặt chủ yếu của quá trình hoạt động kinh doanh
Ngoài quá trình đánh giá trên phân tích, cần xem xét đánh giá tình hình chấp hành các qui định, các thể lệ thanh toán trên cơ sở tôn trọng pháp luật của nhà nước ban hành và luật trong kinh doanh quốc tế
Thông qua quá trình kiểm tra đánh giá, người ta có được cơ sở là cơ sở định hướng để nghiên cứu sâu hơn ở các bước sau, nhằm làm rỏ các vấn đề mà nhà doanh nghiệp cần quan tâm
b) Xác định các nhân tố ảnh hưởng của các chỉ tiêu và tìm nguyên nhân gây nên
các mức độ ảnh hưởng đó
Biến động của các chỉ tiêu là do ảnh hưởng trực tiếp của các nhân tố gây nên, do
đó ta phải xác định trị số của các nhân tố và tìm ra nguyên nhân gây nên biến động của trị số nhân tố đó
Ví dụ: Khi căn cứ vào các khoản mục chi phí, xác định số của khoản mục nào là chủ yếu: nguyên liệu, lao động hay chi phí sản xuất chung ? Nếu là chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, thì do lượng của nguyên liệu hay giá của nguyên liệu Nếu là lượng nguyên liệu tăng lên thì là do khâu quản lý, do thiết bị cũ hay do tình hình định mức chưa hợp lý
c) Đề xuất các giải pháp nhằm khai thác tiềm năng và khắc phục những tồn tại
yếu kém của quá trình hoạt động kinh doanh
Phân tích hoạt động kinh doanh không chỉ đánh giá kết quả chung chung, mà cũng không chỉ dừng lại ở việc xác định nhân tố và tìm nguyên nhân, mà phải từ cơ sở
đó phát hiện các tiềm năng cần phải khai thác, những chổ còn tồn tại yếu kém nhằm đề xuất các giải pháp phát huy thế mạnh và khắc phục tồn tại ở doanh nghiệp của mình
Trang 16d) Xây dựng phương án kinh doanh căn cứ vào mục tiêu đã định.
Quá trình kiểm tra và đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh là để nhận biết tiến
độ thực hiện và những nguyên nhân sai lệch xảy ra, ngoài ra còn giúp cho doanh nghiệp phát hiện những thay đổi có thể xảy ra tiếp theo Nếu như kiểm tra và đánh giá đúng đắn, nó có tác dụng giúp cho doanh nghiệp điều chỉnh kế hoạch và đề ra các giải pháp tiến hành trong tương lai
Định kỳ doanh nghiệp phải tiến hành kiểm tra và đánh giá trên mọi khía cạnh hoạt động, đồng thời căn cứ vào các điều kiện tác động ở bên ngoài như môi trường kinh doanh hiện đại và tương lai để xác định vị trí của doanh nghiệp đang đứng ở đâu
và hướng đi đâu, các phương án xây dựng chiến lược kinh doanh có còn thích hợp nữa hay không ? nếu không phù hợp sẽ điều chỉnh kịp thời
2.2 Nội dung của việc phân tích hoạt động kinh doanh
Phân tích hoạt động kinh doanh là công cụ để cung cấp thông tin cho các nhà quản trị doanh nghiệp để điều hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Những thông tin này thường không có sẵn trong các báo cáo kế toán tài chính hoặc trong bất cứ tài liệu nào ở doanh nghiệp Do đó, để có những thông tin này ta phải thông qua quá trình phân tích
Nội dung của phân tích hoạt động kinh doanh là đánh giá hướng đến kết quả hoạt động kinh doanh, với sự tác động của các yếu tố ảnh hưởng và được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu kinh tế Kết quả hoạt động kinh doanh có thể là kết quả kinh doanh đã đạt được hoặc kết quả của các mục tiêu trong tương lai cần phải đạt được Kết quả hoạt động kinh doanh bao gồm tổng hợp của cả quá trình hình thành, do đó kết quả phải là riêng biệt và trong từng thời gian nhất định chứ không thể là kết quả chung chung Các quá trình hoạt động kinh doanh nhất là hoạt động theo cơ chế thị trường cần phải định hướng theo mục tiêu dự toán Quá trình định hướng trong hoạt đông kinh doanh được định lượng cụ thể thành các chỉ tiêu kinh tế và phân tích cần hướng đến các kết quả của các chỉ tiêu để đánh giá
Ví dụ: nghiên cứu chỉ tiêu doanh thu tiêu thụ sản phẩm của toàn bộ doanh nghiệp hay của một bộ phận doanh nghiệp, tiêu thụ năm qua hay kế hoạch dự toán năm tới, tiêu thụ của một loại sản phẩm hay bao gồm nhiều loại sản phẩm Hoặc nói đến lợi tức, là lợi tức trước khi trừ thuế hay sau khi trừ thuế, lợi tức của sáu tháng hay cả năm, lợi tức của tất cả các mặt hoạt động ở doanh nghiệp hay chỉ là hoạt động kinh doanh chính
Phân tích hoạt động kinh doanh không chỉ dừng lại ở đánh giá biến động của kết quả kinh doanh thông qua các chỉ tiêu kinh tế mà còn đi sâu xem xét các nhân tố ảnh hưởng tác động đến sự biến động của chỉ tiêu
Quá trình phân tích hoạt động kinh doanh cần định lượng tất cả các chỉ tiêu là biểu hiện kết quả hoạt động kinh doanh và các nhân tố ở những trị số xác định cùng với
độ biến động xác định
Vậy muốn phân tích hoạt động kinh doanh trước hết phải xây dựng các chỉ tiêu kinh tế, cùng với việc xác định mối quan hệ phụ thuộc của các nhân tố tác động đến chỉ tiêu, xây dựng mối liên hệ giữa các chỉ tiêu khác nhau để phản ánh được tính phức tạp
đa dạng của nội dung phân tích
Và nội dung chủ yếu của phân tích hoạt động kinh doanh bao gồm:
Trang 17- Phân tích các chỉ tiêu về kết quả kinh doanh như sau: sản lượng, doanh thu, tài chính, lợi nhuận…
- Các chỉ tiêu kết quả kinh doanh được phân tích trong mối quan hệ với các chỉ tiêu về điều kiện của quá trình sản xuất kinh doanh như: lao động, tiền vốn, vật tư, đất đai…
2.2.1 Phân tích tình hình tiêu thụ sản phẩm hàng hoá của nhà máy
Tiêu thụ là giai đoạn cuối cùng của vòng chu chuyển vốn ở doanh nghiệp Sản phẩm hàng hoá chỉ được coi là tiêu thụ khi doanh nghiệp đã nhận được tiền bán hàng
Trong nền kinh tế thị trường, khi sản xuất đã phát triển thì vấn đề quan trọng trước hết không phải là sản xuất mà là tiêu thụ sản phẩm hàng hoá, bởi vì:
- Có tiêu thụ được sản phẩm hàng hoá, doanh nghiệp mới thu hồi được vốn, mới
có quá trình sản xuất kinh doanh tiếp theo và như vậy sản xuất mới có thể ổn định và phát triển
- Sản phẩm hàng hoá có tiêu thụ được, mới xác định được kết quả tài chính cuối cùng của doanh nghiệp là lãi hay lỗ và lãi lỗ ở mức độ nào
- Phân tích tình hình tiêu thụ sản phẩm hàng hoá xác định được đúng đắn những nguyên nhân, tìm ra những biện pháp tích cực nhằm đưa quá trình tiêu thụ sản phẩm hàng hoá của doanh nghiệp đạt được mục tiêu là: tiêu thụ với khối lượng lớn sản phẩm hàng hoá, giá bán cao, thị trường ổn định và thu được lợi nhuận cao trong kinh doanh
- Doanh thu bán hàng, lợi nhuận của doanh nghiệp là cơ sở để tính ra các chỉ tiêu chất lượng, nhằm đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong từng thời kỳ hoạt động kinh doanh
Phân tích tình hình tiêu thụ sản phẩm hàng hoá của doanh nghiệp có những yêu cầu và nhiệm vụ sau:
+ Phân tích tình hình tiêu thụ sản phẩm hàng hoá của doanh nghiệp về khối lượng, mặt hàng, giá bán
+ Phân tích những nguyên nhân ảnh hưởng đến tình hình tiêu thụ sản phẩm hàng hoá của doanh nghiệp
+ Phân tích điểm hoà vốn trong tiêu thụ
+ Phân tích những nguyên nhân ảnh hưởng đến tình hình lợi nhuận
+ Phân tích các chỉ tiêu về tỷ suất lợi nhuận
2.2.2 Phân tích tình hình cung ứng sản phẩm hàng hoá của nhà máy
Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đòi hỏi phải có sức lao động, vật tư và tiền vốn, bởi vậy muốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành đều đặn và liên tục, phải thường xuyên đảm bảo cho nó các loại vật tư (đối với doanh nghiệp sản xuất) và tiền vốn để mua sản phẩm hàng hoá (đối với doanh ngiệp kinh doanh thương mại) về số lượng, kịp về thời gian, đúng về quy cách phẩm chất Đó là điều bắt buộc đối với tất cả các doanh nghiệp, mà nếu thiếu thì không thể có quá trình kinh doanh được
Để đáp ứng được yêu cầu trên, nhiệm vụ của việc phân tích tình hình cung ứng sản phẩm hàng hoá ở doanh nghiệp bao gồm: kiểm tra tình hình thực hiện cung ứng đầu
Trang 18vào của hàng hoá, đối chiếu với tình hình sản xuất kinh doanh và tình hình kho tàng để kịp thời báo cáo cho bộ phận thu mua có biện pháp khắc phục kịp thời.
2.2.3 Phân tích tình hình tài chính của nhà máy
Hoạt động tài chính trong doanh nghiệp bao gồm những nội dung cơ bản là: xác định nhu cầu về vốn kinh doanh của doanh nghiệp, tìm kiếm và huy động nguồn vốn để đáp ứng tốt nhất nhu cầu và sử dụng vốn hợp lý, đạt hiệu quả cao nhất Hoạt động tài chính đóng vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp và có ý nghĩa quyết định trong việc hình thành, tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Vai trò đó thể hiện ngay từ khi thành lập doanh nghiệp, trong việc thiết lập các
dự án đầu tư ban đầu, dự kiến hoạt động, gọi vốn đầu tư…
Bởi vậy để tiến hành sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải có một lượng vốn nhất định bao gồm: vốn cố định, vốn lưu động và các vốn chuyên dùng khác Nhiệm vụ của doanh nghiệp là phải tổ chức huy động và sử dụng vốn sao cho có hiệu quả nhất trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc tài chính, tín dụng và chấp hành luật pháp Việc thường xuyên tiến hành phân tích tình hình tài chính sẽ giúp cho các nhà quản lý doanh nghiệp và các cơ quan chủ quản cấp trên thấy rõ thực trạng hoạt động tài chính của doanh nghiệp, xác định đầy đủ và đúng đắn những nguyên nhân, mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến tình hình tài chính của doanh nghiệp, từ đó có những giải pháp hữu hiệu nhằm ổn định và tăng cường tình hình tài chính của doanh nghiệp
Để đạt được các mục tiêu chủ yếu trên, nhiệm vụ cơ bản của việc phân tích tình hình tài chính ở doanh nghiệp là:
+ Phân tích khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp
+ Phân tích mức độ đảm bảo nguồn vốn lưu động cho việc dự trữ tài sản lưu động thực tế doanh nghiệp
+ Phản ánh tình hình và khả năng thanh toán của doanh nghiệp
+ Phân tích hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
+ Phân tích khả năng sinh lời của doanh nghiệp
Do đó việc phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp là mối quan tâm của nhiều nhóm khác nhau, đối với các chủ doanh nghiệp và các nhà quản trị doanh nghiệp, mối quan tâm hàng đầu của họ là tìm kiếm lợi nhuận và khả năng trả nợ
Đối với các nhà đầu tư, mối quan tâm của họ là hướng vào các yếu tố như: sự rủi
ro, thời gian hoàn vốn, mức sinh lãi, khả năng thanh toán vốn… Vì vậy họ cần thông tin
về điều kiện tài chính, tình hình hoạt động và kết quả kinh doanh và các tiềm năng tăng trưởng của doanh nghiệp
Như vậy có thể nói, mục đích tối cao và quan trọng nhất của phân tích tình hình tài chính là giúp những người ra quyết định lựa chọn phương án kinh daonh tối ưu và đánh giá chính xác thực trạng, tiềm năng của doanh nghiệp
2.3 Các tỷ số tài chính
2.3.1 Khả năng thanh toán nhanh
Đây là chỉ tiêu đo lường khả năng trả nợ ngắn hạn bằng các tài khoản có tính thanh khoản cao
Tỷ số thanh toán nhanh tốt nhất trung bình là: 1 lần
Trang 19Được xác định bởi công thức sau:
Tài sản lưu động – Hàng tồn kho
Tỷ số thanh toán nhanh =
Nợ ngắn hạn
Đó là tỷ lệ của những tài sản lưu động có thể nhanh chóng chuyển đổi thành tiền mặt, bao gồm tất cả tài sản lưu động trừ hàng tồn kho bởi vì hàng tồn kho là tài sản cần phải có thời gian bán chúng và có khả năng mất giá cao- nghĩa là nó có khả năng thanh toán kém nhất
2.3.2 Khả năng thanh toán hiện thời
Chỉ tiêu này cho thấy khả năng trả nợ ngắn hạn của doanh nghiệp bằng chính tài sản ngắn hạn của mình Tỷ số này của doanh nghiệp tốt nhất nằm trong khoảng 1,5 lần đến 2,5 lần
Được xác định bởi công thức sau:
Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn
Tỷ số thanh toán hiện thời =
Vì vậy trong nhiều trường hợp tỷ số thanh toán hiện thời không phản ánh chính xác khả năng thanh toán của doanh nghiệp
Các nhân tố ảnh hưởng đến công thức được xác định như sau:
- Tổng nợ bao gồm toàn bộ các khoản nợ ngắn hạn và dài hạn của doanh nghiệp cho đến thời hạn lập báo cáo Nợ ngắn hạn như: các khoản phải trả, các khoản nợ tích lũy, các khoản vay ngắn hạn và các khoản nợ khác Nợ dài hạn: các khoản nợ vay dài hạn của ngân hàng, nợ do phát hành trái phiếu, do mua trả chậm
- Tổng tài sản là toàn bộ tài sản hiện cho đến thời điểm lập báo cáo, gồm tài sản lưu động và tài sản cố định
Trang 20Các chủ nợ thường thích một tỷ số nợ vừa phải, tỷ số nợ càng thấp thì món nợ càng được đảm bảo Doanh nghiệp sẽ dễ dàng huy động thêm vốn bằng cách đi vay.
Nhưng doanh nghiệp lại muốn tỷ số nợ cao, vì việc tăng lợi nhuận bằng cách tăng vốn tự có để đáp ứng nhu cầu hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sẽ làm giảm quyền kiểm soát của doanh nghiệp; còn việc tăng lợi nhuận bằng cách đi vay nợ để đáp ứng nhu cầu kinh doanh của doanh nghiệp sẽ không ảnh hưởng đến quyền kiểm soát của doanh nghiệp Và điều này làm hạn chế khả năng huy động thêm vốn cho doanh nghiệp một khi tỷ số nợ của doanh nghiệp quá cao
2.3.4 Kỳ thu tiền bình quân
Chỉ tiêu này phản ánh số ngày thu tiền bình quân từ khi ghi nhận doanh thu
Kỳ thu tiền bình quân tốt nhất trung bình là: 20 ngày
Được xác định bởi công thức sau:
Các khoản phải thu * 360
Kỳ thu tiền bình quân =
Doanh thu thuần
Các nhân tố ở công thức trên được xác định như sau:
- Các khoản phải thu là những hoá đơn bán hàng chưa thu tiền về do doanh nghiệp thực hiện chính sách bán chịu và các khoản tạm ứng chưa thanh toán, khoản trả trước cho người bán
- Doanh thu thuần là doanh số bán ra của doanh nghiệp trong năm sau khi trừ đi các khoản giảm trừ trong năm như: chiết khấu, giảm giá, hàng bị trả lại và thuế doanh thu…
Kỳ thu tiền bình quân cao hay thấp tuỳ thuộc vào chính sách bán chịu của doanh nghiệp Về nguyên tắc, tỷ số này càng thấp càng tốt, nếu kỳ thu tiền bình quân của doanh nghiệp thấp thì hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp đó cao do vốn ít bị chiếm dụng trong khâu thanh toán Nếu kỳ thu tiền bình quân của doanh nghiệp quá cao thì sức cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ giảm do các khoản phải thu quá lớn, điều đó có nghĩa chính sách bán chịu của doanh nghiệp là quá nhiều- điều mà thông thường chỉ doanh nghiệp có sức cạnh tranh kém mới thực hiện chính sách này để tiêu thụ hàng hoá Tuy nhiên, không thể chỉ dựa vào chỉ số kỳ thu tiền trong kỳ mà kết luận tính hiệu quả
về khả năng thu hồi vốn mà cần phải xem xét thêm các yếu tố khác như: đặc điểm ngành nghề kinh doanh, chiến lược phát triển, chính sách bán hàng của doanh nghiệp
2.3.5 Hiệu quả sử dụng tài sản cố định
Hiệu quả sử dụng vốn là chỉ tiêu được sử dụng để đo lường tính hiệu quả của việc sử dụng tài sản cố định trong kỳ của doanh nghiệp như thế nào
Hiệu quả sử dụng vốn cố định tốt nhất trung bình là: 3 - 4 lần
Được xác định bởi công thức sau:
Doanh thu thuần
Hiệu quả sử dụng tài sản cố định =
Tài sản cố định
Trang 21Tài sản cố định được xác định trên cơ sở giá trị còn lại của tài sản cố định( tài sản cố định thuần) đến thời lập báo cáo Nó được xác định căn cứ vào nguyên giá của tài sản cố định sau khi khấu trừ phần khấu hao tích luỹ đến thời điểm lập báo cáo.
Tỷ số này càng cao thì càng tốt Vì khi đó hiệu suất sử dụng tài sản cố định cao cho thấy công sử dụng tài sản cố định cao
Nếu hiệu suất sử dụng tài sản cố định của doanh nghiệp không cao thì doanh nghiệp cần xem lại nguyên nhân của việc sử dụng tài sản cố định không hiệu quả, thường là: đầu tư tài sản cố định quá mức cần thiết, tài sản cố định không sử dụng chiếm tỷ trọng lớn, tài sản cố định được sử dụng với công suất thấp hơn công suất thiết kế
2.3.6 Doanh lợi tiêu thụ
Chỉ tiêu này phản ánh mức sinh lời trên doanh thu, chúng ta nên kết hợp chỉ tiêu
nà với mức sinh lợi tức sau thuế của năm trước để so sánh
Doanh lợi tiêu thụ tốt nhất trung bình là: 5 %
Được xác định bởi công thức sau:
Lợi tức sau thuế
Doanh lợi tiêu thụ = x 100
Doanh thu thuần
Lợi tức sau thuế là phần lợi nhuận còn lại của doanh thu thuần sau khi đã khấu trừ phần chi phí và thuế thu nhập
Chỉ tiêu này cho thấy một đồng doanh thu tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận
Vì vậy, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp càng hoạt động hiệu quả Đây cũng là yếu tố để nhà đầu tư quyết định đầu tư vào doanh nghiệp hay không
Nếu chỉ tiêu này không cao có nghĩa là chi phí hoạt động của doanh nghiệp không hợp lý so với các doanh nghiệp cùng ngành Do đó, doanh nghiệp cần có biện pháp quản lý các loại chi phí nhằm giảm thấp nhất chi phí để gia tăng mức sinh lời
sở đáp ứng nhu cầu thị trường
Quy mô tồn kho của một doanh nghiệp có thể lớn nhưng cũng có thể nhỏ, điều
đó phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp và thời gian kinh doanh trong năm
Vòng quay tồn kho tốt nhất trung bình là: 9 lần
Được xác định bởi công thức sau:
Doanh thu thuần
Vòng quay tồn kho =
Tồn kho
Tồn kho là toàn bộ các loại tài sản như: nguyên vật liệu trong khâu dự trữ, chi phí sản xuất dở dang trong khâu sản xuất và thành phẩm trong khâu lưu thông
Trang 222.3.8 Vòng quay tổng tài sản
Chỉ tiêu này phản ánh hiệu suất sử dụng toàn bộ tài sản của doanh nghiệp, nghĩa
là trong một năm tài sản của doanh nghiệp quay được bao nhiêu lần
Vòng quay tổng tài sản tốt nhất trung bình là: 2 lần
Được xác định bởi công thức sau:
Doanh thu thuần
2.3.9 Doanh lợi tài sản
Chỉ tiêu này phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, phản ánh hiệu quả của các tài sản được đầu tư hay còn gọi là khả năng sinh lời của đầu tư
Doanh lợi tài sản tốt nhất trung bình là: 10 %
Được xác định bởi công thức sau:
Lợi nhuận sau thuế
Doanh lợi tài sản = x 100
Tổng tài sản
Doanh lợi tài sản của doanh nghiệp cao thể hiện sự sắp xếp, phân bổ và quản lý tài sản hợp lý và hiệu quả; cho thấy mức độ hiệu quả mà tổng tài sản của doanh nghiệp mang lại Đồng thời, cũng cho ta thấy hiệu quả của việc sử dụng các khoản lãi vay trong doanh nghiệp đang rất tốt, nó không làm giảm lợi tức sau thuế quá nhiều
Ngược lại, nếu chỉ tiêu này thấp có nghĩa là việc sử dụng tài sản của doanh nghiệp không tốt, tài sản của doanh nghiệp quá lớn trong khi lợi tức sau thuế không đổi, doanh nghiệp cần giảm lượng tài sản không cần thiết sử dụng và nâng cao năng suất sử dụng tài sản trong kỳ của doanh nghiệp Ngoài ra, chi phí lãi vay cũng là nguyên nhân làm giảm lợi tức sau thuế, dẫn đến làm giảm doanh lợi tài sản
Trang 23Lãi gộp được xác định là phần doanh thu thuần của doanh nghiệp còn lại sau khi trừ đi giá vốn hàng bán của doanh nghiệp.
Chỉ tiêu này của doanh nghiệp cao cho thấy doanh nghiệp đang có chi phí sản xuất sản phẩm ở mức hiệu quả nhất, không ảnh hưởng đến lãi gộp của doanh nghiệp
Nếu tỷ số lãi gộp của doanh nghiệp thấp thì doanh nghiệp phải xem lại chi phí sản xuất ra sản phẩm của doanh nghiệp có hiệu quả không so với các doanh nghiệp khác trong cùng ngành
Trang 24CHƯƠNG IIIGIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
CỦA NHÀ MÁY XI MĂNG AN GIANG
♥♥♥ ☺ ♥♥♥
3.1 Khái quát quá trình hình thành và phát tiển của nhà máy
Nhà máy xi măng An Giang là một trong những nhà máy thuộc doanh nghiệp nhà nước được thành lập sau ngày miền Nam giải phóng, được khởi công xây dựng từ tháng 11 năm 1978 và đưa vào sử dụng năm 1979 Nhà máy xi măng An Giang được đặt tại khu vực ấp Đông Thạnh, Xã Mỹ Thạnh, Thành Phố Long Xuyên, Tỉnh An Giang, với diện tích mặt bằng chiếm 9 ha nằm cạnh quốc lộ 91, cách trung tâm thành phố Long Xuyên khoảng 6 Km Hàng năm nhà máy đã góp phần rất lớn trong nền kinh
tế quốc dân, cung cấp xi măng cho các công trình dân dụng và công nghiệp, xây dựng
cơ bản trong tỉnh và các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long Sự ra đời của nhà máy xi măng là cần thiết để cung cấp nguyên vật liệu cho công trình xây dựng, khắc phục hậu quả chiến tranh gây ra, đồng thời phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hóa- hiện đại hóa
Từ khi thành lập nhà máy xi măng An Giang hoạt động sản xuất theo chỉ tiêu kế hoạch của tỉnh Từ nguồn tích lũy qua nhiều năm đến tháng 4 năm 1995, nhà máy có 4 máy nghiền( loại công suất 2 tấn/ giờ), ba dãy nhà kho chứa nguyên liệu và thành phẩm, mọt kho chứa phế liệu và sân phơi Tuy nhiên, đây cũng chỉ là loại máy móc cũ kỹ, hầu hết dây chuyền sản xuất thủ công là chính, chất lượng sản phẩm không đồng đều, hiệu quả kinh tế không cao Hằng năm, nhà máy nhận chỉ tiêu sản xuất xi măng ở trên giao, nguyên liệu tự do và chỉ sản xuất trên dưới 5.000 tấn xi măng loại mác thấp P 300( tương đương PC 20) tiêu thụ rất khó khăn Sản lượng tiêu thụ trong giai đoạn này chiếm 15% nhu cầu xây dựng cơ bản của tỉnh An Giang
Năm 1986, nhà máy hoạt động khá vất vả, khó khăn lớn nhất trong giai đoạn này
là nhà máy nằm trong bối cảnh cả nước tiến tới xóa bao cấp, sản xuất theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, sản xuất mang tính độc lập, tự chủ nên hoạtđộng của nhà máy rất bấp bênh Năm 1995, nền công nghiệp xi măng của tỉnh An Giang nằm trong tình trạng lạc hậu về công nghệ
Tháng 4 năm 1995, nhà máy xi măng được sáp nhập vào Công Ty Xây Lắp An Giang Trước yêu cầu của sự công nghiệp hóa- hiện đại hóa cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, thay đổi cách nhìn và cung cách làm ăn mới, lãnh đạo Công Ty Xây Lắp xin ý kiến tỉnh Ủy- thường trực Ủy Ban Nhân Dân tỉnh và được sự đồng ý, chỉ đạo cho nhà máy tiến hành lập dự án đầu tư xây dựng- lắp đặt dây chuyền nghiền hiện đại đầu tiên hoàn thành vào tháng 5 năm 1997 có công suất 100.000 tấn/năm, nhập thiết
bị Trung Quốc, tổng vốn đầu tư 7.300 triệu đồng Với công nghệ kỹ thuật cao, tự động hóa và định lượng hoàn toàn điều khiển bằng máy vi tính Cùng với sự nhiệt tình năng
nổ của tập thể cán bộ công nhân viên, nghiên cứu cải tiến kỹ thuật, áp dụng nhiều sáng kiến, thay đổi mẫu mã mới, tiết kiệm trong xây dựng, giảm chi phí đầu tư, hạ giá thành sản phẩm, quảng cáo thương hiệu,… Sau hơn 3 năm hoạt động sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao, nhà máy đã hoàn vốn đầu tư, đồng thời đã được Trung Tâm 3 cấp giấy chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn quốc gia vào cuối năm 1998
Nhà máy hoạt động hết công suất thiết kế nhưng cũng không đáp ứng đủ nhu cầu tiêu thụ của xã hội, nên đầu năm 2000 lãnh đạo Công Ty Xây Lắp đồng ý cho nhà máy tiếp tục đầu tư thêm dây chuyền thứ hai (công suất 100.000 tấn/năm), về thiết bị
Trang 25chỉ mua máy nghiền bi, máy phân li của Trung Quốc, một số thiết bị còn lại như gầu nâng, sàn quay, máy đóng bao vít tải, cân băng điện tử… nhà máy tự chế tạo và lắp đặt Rút kinh nghiệm từ dây chuyền trước có cải tiến máy phân ly, silô xi măng, bố trí dây chuyền hợp lý, nên giảm chi phí đầu tư công trình gần 2.000 triệu đồng, hoàn thành đưa vào sử dụng trước thời hạn một tháng (ngày 15/ 11/ 2000).
Phát huy hiệu quả sản xuất kinh doanh của hai dây chuyền, tháng 3 năm 2001 được sự chỉ đạo của Công Ty Xây Lắp, nhà máy tiếp tục đầu tư dây chuyền thứ 3 và thứ
tư với công nghệ thiết bị như hai dây chuyền nêu trên, cũng chỉ mua ống nghiền và máy phân ly còn các thiết bị khác do các cán bộ công nhân viên nhà máy tự chế tạo Nhờ có kinh nghiệm trong chế tạo và lắp đặt nên tiến độ xây dựng nhanh hơn, chi phí đầu tư giảm chỉ còn 4.500 triệu đồng (giảm 2.800 triệu đồng so với dây chuyền thứ nhất và giảm 500 triệu đồng so với dây chuyền thứ hai) Công trình đã đưa vào sử dụng tháng 2
và thánh 12 năm 2002 Nâng tổng công suất của nhà máy lên 400.000 tấn/năm
Từ tháng 7/2003 nhà máy có tung ra thị trường sản phảm xi măng chất lượng cao PCB 40, tháng 12/2003 nhà máy được Trung Tâm Chứng Nhận Phù Hợp Tiêu Chuẩn- QUACERT cấp dấu chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn TCVN 6260: 1997 số SP 314.03.16 ngày 23/12/2003 cho sản phẩm xi măng Pooclăng hỗn hợp PCB 40
Đến nay, sau hơn 3 năm áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo ISO 9001:2000 tại nhà máy Nhà máy đã được Trung Tâm Chứng Nhận Phù Hợp Tiêu Chuẩn – QUACERT cấp quyết định duy trì hiệu lực của giấy chứng nhận số: HT
280/1.05.16 ngày 22/2/2005 Chứng Nhận Hệ thống Quản Lý Chất Lượng của Nhà Máy
Xi Măng An Giang phù hợp theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2000, GCN: SP 154/01.05.16 cho sản phẩm PCB 30 và GCN: SP 314/1.05.16 cho sản phẩm PCB 40.
* Những thông tin chung về nhà máy xi măng An Giang
TÊN: NHÀ MÁY XI MĂNG AN GIANG
ĐỊA CHỈ: QUỐC LỘ 91 P MỸ THẠNH -TP LONG XUYÊN- TỈNH AN GIANGĐIỆN THOẠI: 076.834328-834496; FAX: 076.835982
LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP: DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ: CÁC TỈNH ĐBSCL VÀ MIỀN ĐÔNG NAM BỘ VÀ CAMPUCHIA
Trang 263.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy của nhà máy
3.2.1 Cơ cấu tổ chức
Sơ đồ 1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Nhà Máy Xi Măng An Giang
QUAN HỆ CHỈ ĐẠO – BÁO CÁO
QUAN HỆ ĐỐI CHIẾU
Bộ máy tổ chức của nhà máy hiện nay khá chặt chẽ, tổ chức theo cơ cấu trực tuyến chức năng Theo cơ cấu này, các bộ phận chức năng không có quyền ra lệnh trực tiếp cho các đơn vị sản xuất Các bộ phận chức năng chỉ tham gia tư vấn, giúp ban giáp đốc chuẩn bị tìm ra những giải pháp tối ưu cho những vấn đề phức tạp Quyền quyết định thuộc về người lãnh đạo cao nhất là Ban giám đốc nhà máy và mệnh lệnh được thực hiện theo đường thẳng từ trên xuống dưới hay trực tiếp ban giám đốc ra quyết định trực tiếp cho một người nào đó mà ban giám đốc thấy là cần thiết
Cơ cấu tổ chức của nhà máy được tổ chức theo hai cấp:
Cấp điều hành: Ban giám đốc
Cấp thừa hành: các phòng ban bao gồm: phòng tổ chức hành chính, phòng kế toán, phòng kế hoạch kinh doanh, phòng kiểm soát chất lượng, phân xưởng sản xuất, phân xưởng cơ điện, bộ phận công nghệ…
Cấp điều hành: gồm một giám đốc và 2 phó giám đốc
- Giám đốc nhà máy xi măng: là người đứng đầu và đại diện cho cán bộ công
nhân viên toàn nhà máy, hoạch định kế hoạch sản xuất kinh doanh, hệ thống quản lý
chất lượng đáp ứng các yêu cầu nêu trong tiêu chuẩn TCVN, ISO 9001:2000 Phân
công trách nhiệm quyền hạn và mối quan hệ của hệ thống quản lý cho cán bộ công nhân viên Thu nhận và cho cán bộ công nhân viên nghỉ việc theo chế độ chính sách nhà nước Chịu trách nhiệm về tất cả các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh trước công ty chủ quản và cấp trên
GIÁM ĐỐC
PHÓ GIÁM ĐỐC
KỸ THUẬT
TRƯỞNG PHÒNG KIỂM SOÁT CHẤT LƯƠNG
PHÓ GIÁM ĐỐC SẢN XUẤT
BỘ PHẬN CÔNG NHGỆ
TRƯỞNG PHÒNG KẾ HOẠCH- KINH DOANH
Trang 27- Trợ giúp cho giám đốc là các phó giám đốc và kế toán trưởng gồm:
và xây dựng mục tiêu chất lượng về tổ chức hành chánh hàng năm trên cơ sở chính sách
và mục tiêu chất lượng của nhà máy Quản lý toàn bộ hồ sơ, tài liệu về tổ chức và lao động Xây dựng kế hoạch tuyển dụng, đào tạo cán bộ công nhân viên Chăm lo đời sống cán bộ công nhân viên, phục vụ khách giao dịch với nhà máy
- Phòng kế hoạch kinh doanh.
Xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh hàng tháng, quý, năm Phân công điều động và kiểm tra việc lập kế hoạch sản xuất, kế hoạch tài vụ, tổ chức công tác cung ứng nguyên vật liệu, vật tư kỹ thuật cho sản xuất Theo dõi các hợp đồng kinh tế, tiêu thụ sản phẩm, thống kê cập nhật chứng từ Tham mưu cho ban giám đốc điều hành, phân công cung ứng vật tư, nguyên vật liệu đảm bảo chất lượng theo đúng quy định
Tham mưu cho ban giám đốc lập kế hoạch và tổ chức triển khai kế hoạch kinh doanh hàng tháng, quý, năm Lập mục tiêu chất lượng Phòng kinh doanh hàng năm trên
cơ sở chính sách và mục tiêu chất lượng của nhà máy Tổ chức tiếp thị- quảng cáo, điều tra nghiên cứu mở rộng thi trường Phối hợp với kế toán trưởng về quản lý công nợ bán hàng
- Phòng kế toán tài vụ.
Tổ chức công tác hạch toán kế toán, tài chính, thống kê lên bảng cân đối kế toán, theo dõi thu chi, chứng từ hợp đồng kinh tế, tiêu thụ sản phẩm Bộ máy kế toán được tổ chức tập trung, giúp công tác quản lý tài chính được quản lý chặt chẽ Hiện nay cơ cấu
bộ máy kế toán của nhà máy gồm:
+ Kế toán trưởng kiêm kế toán tổng hợp
+ Kế toán chi tiết
+ Kế toán thanh toán
+ Thủ quỹ
Hình thức sổ kế toán áp dụng cho nhà máy là hình thức nhật ký chung
Trang 28Sơ đồ 2: Sơ đồ bộ máy kế toán
QUAN HỆ CHỈ ĐẠO
QUAN HỆ ĐỐI CHIẾU
- Phòng kiểm soát chất lượng
Điều hành phân công và kiểm tra cán bộ công nhân viên phòng kiểm soát chất lượng thực hiện các hoạt động: lập mục tiêu chất lượng hàng năm trên cơ sở chính sách, mục tiêu chất lượng của nhà máy; lập kế hoạch và thực hiện kiểm định, hiệu chuẩn, kiểm tra….Phối hợp với phân xưởng sản xuất, phân xưởng cơ điện, kiểm tra – kiểm soát dây chuyền công nghệ theo PC Plan (quá trình sản xuất) Kiểm tra thử nghiệm xi măng thành phẩm trong suốt quá trình sản xuất theo QC Plan (chất lượng sản phẩm), nghiên cứu và thử nghiệm để tìm ra tỷ lệ phối liệu phù hợp đưa vào sản xuất Phối hợp với phòng kế hoạch kinh doanh để thăm dò ý kiến khách hàng về chất lượng sản phẩm, xử
lý các ý kiến thắc mắc, khiếu nại của khách hàng về sản phẩm, kiểm tra thử nghiệm nguyên vật liệu, vỏ bao , tấm lót, bi đạn … khi nhập kho, đánh giá nhà cung cấp, làm việc với đối tác thuê nhà máy gia công khi có yêu cầu
- Phân xưởng cơ điện.
Điều hành, phân công và kiểm tra cán bộ công nhân phân xưởng cơ điện thực hiện công tác: quản lý, xây dựng – theo dõi kế hoạch bảo trì, bảo dưỡng sửa chữa thiết bị; lập kế hoạch mua trang thiết bị, phụ tùng thay thế, gia công cấu kiện; lập kế hoạch
và trang bị bảo hộ lao động cho công nhân cơ – điện và nhân viên phân xưởng; lập kế hoạch an toàn lao động vệ sinh công nghiệp, phòng chống cháy nổ, an toàn lao động trong khi ngừng máy sửa chữa
- Bộ phận công nghệ
Điều hành, phân công cán bộ công nhân thực hiện việc quản lý, xây dựng theo dõi và có kế hoạch bảo trì sửa chữa, bảo dưỡng các dây chuyền sản xuất trong nhà máy, nghiên cứu, cải tiến và lắp đặt trang thiết bị hiện đại để phục vụ cho việc sản xuất nhằm tiết giảm chi phí Đề xuất cải tiến công nghệ, cải tiến hệ thống quản lý chất lượng tại phân xưởng cơ – điện
- Phân xưởng sản xuất
Lập mục tiêu chất lượng của phân xưởng sản xuất hàng năm trên cơ sở chính sách mục tiêu chất lượng của nhà máy Điều hành, phân công và kiểm tra cán bộ công nhân viên phân xưởng sản xuất thực hiện các hoạt động: quản lý tổ chức sản xuất; sản xuất sản phẩm xi măng PCB theo kế hoạch hàng tuần, hàng tháng; theo dõi, đề nghị cấp nguyên liệu sản xuất; lập các lệnh sản xuất, các lệnh đóng bao, phiếu… và biên bản bàn giao sản phẩm xi măng Phối hợp với phòng kiểm soát chất lượng kiểm soát quá trình
KẾ TOÁN TRƯỞNG
KẾ TOÁN THANH TOÁN
KẾ TOÁN CHI TIẾT
KẾ TOÁN
Trang 29sản xuất (PC Plan), kiểm soát chất lượng sản phẩm (QC Plan), kết hợp phân xưởng cơ – điện trong công tác bảo dưỡng, sữa chữa, kiểm soát tài liệu, hồ sơ… tại phân xưởng sản xuất, xử lý sản phẩm không phù hợp, khắc phục, phòng ngừa và cải tiến…
3.2.2 Tình hình cơ cấu nhân sự của nhà máy
Tổng số cán bộ công nhân viên của nhà máy tính đến ngày 32/12/2005 là 210 người, trong đó cán bộ quản lý là 32 người Số cán bộ công nhân viên có trình độ đại học là 29 người, trình độ cao đẳng là 2 người và số cán bộ còn lại là có trình độ cấp 2 và cấp 3
Bảng 1: Bảng Tình Hình lao động của nhà máy xi măng An Giang
Phòng kế hoạch kinh doanh
Phân xưởng sản xuất
Phân xưởng cơ điện
3145101415737
3135102214829
395132012931
(Nguồn: Phòng tổ chức hành chính của nhà máy xi măng An Giang)
Nhìn chung so với năm 2003 và năm 2004 thì năm 2005 tình hình nhân sự của nhà máy có sự thay đổi nhiều và giảm về số lượng Mặc dù trong những năm qua tình hình nhân sự của nhà máy có sự thay đổi như vậy mà vẫn đáp ứng được mục tiêu hoạt động kinh doanh chung của nhà máy chủ yếu là do những đặc điểm sau:
- Lãnh đạo nhà máy xi măng An Giang định hướng các hoạt động của nhà máy theo mục đích kinh doanh và các giá trị đã xác định như: thỏa mãn nhu cầu khách hàng, kịp thời trong cung ứng cho khách hàng đạt chất lượng cao Đồng thời lãnh đạo nhà máy xi măng An Giang cũng rất xem trọng việc theo dõi và xem xét lại các hoạt động
để có thể luôn chủ động phát hiện, điều chỉnh các điểm yếu và phát huy các điểm mạnh trong sản xuất kinh doanh
- Tổ chức bộ máy quản lý gọn nhẹ nhưng vẫn đảm bảo hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh
- Phân công công việc cho người lao động theo nguyên tắc “đúng người đúng
việc”.
- Mặc dù môi trường làm việc nhiều tiếng ồn và bụi nhưng nhà máy cũng đã thực hiện đầy đủ các chính sách cho người lao động như: bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y
tế, bảo hiểm tay nạn lao động và khám sức khỏe định kỳ cho người lao động
- Nhà máy có chế độ lương bổng và phụ cấp rất thỏa đáng
Trang 30- Nhà máy đã không ngừng cải thiện môi trường làm việc nhằm đảm bảo sức khỏe cho người lao động, luôn luôn quan tâm đến đời sống người lao động và gia đình của họ, luôn tạo môi trường làm việc an toàn, từng bước ổn định và nâng cao đời sống vật chất cho người lao động theo sản lượng tiêu thụ của nhà máy.
3.2.3 Tình hình trả lương cho người lao động
* Tình hình thu nhập của cán bộ- công nhân viên của nhà máy xi măng An Giang
Bảng 2: Bảng tình hình thu nhập của cán bộ công nhân viên của nhà máy xi măng
An Giang từ năm 2003 - 2005
ĐVT: đồng
(Nguồn: Phòng tổ chức hành chính của nhà náy xi măng An Giang)
Nhìn chung mức lương bình quân cũng như thu nhập bình quân của một cán bộ công nhân viên của nhà máy từ năm 2003 đến năm 2005 có xu hướng tăng giảm không đều đặt biệt là năm 2005 giảm xuống rất nhiều, nguyên nhân chủ yếu là do tình hình sản xuất của nhà máy gần đây gặp nhiều khó khăn và nhà máy không thực hiện sản xuất vào ban đêm giống như những năm trước đây nên cán bộ công nhân viên của nhà máy không được hưởng phần phụ cấp làm đêm Ngoài ra, tiền thưởng của cán bộ công nhân viên mặc dù trong năm 2004 có cao hơn năm 2003 nhưng đến năm 2005 thì số tiền thưởng cho cán bộ công nhân viên của nhà máy không còn nữa do nhà máy nhà máy áp dụng chính sách thắt chặt tài chính để tăng lợi nhuận nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển của nhà máy
* Hình thức trả lương cho người lao động.
- Bộ phận gián tiếp: nhà máy trả lương theo trình độ chuyên môn và chức vụ Lương được tính căn cứ vào hệ số lương, tính ứng với ngày công 24, tiền lương điều chỉnh tối thiểu và phụ cấp chức vụ
- Bộ phận trực tiếp: nhà máy trả lương theo số lượng sản phẩm Lương được tính căn cứ vào đơn giá khoán cho 4 dây chuyền, hệ số lương, phụ cấp trách nhiệm và tính ứng với ngày công 24 Ngoài ra, lương còn được tính căn cứ theo số giờ làm thêm trong nhà máy
5 Tiền lương bình quân (người/ tháng) 1.774.140 1.784.088 1.578.215
6 Thu nhập bình quân (người/tháng) 2.051.830 2.073.967 1.578.215
Trang 31- Khen thưởng định kỳ cho những cá nhân có thành tích xuất sắc trong quá trình sản xuất kinh doanh của nhà máy.
- Những cán bộ công nhân viên có thâm niên công tác đầy đủ 12 tháng thì hệ số lương được cộng thêm 0,01
- Công nhân viên có tay nghề cao thì được hưởng mức lương tương đương với mức lương của tổ phó (được xét 6 tháng 1 lần)
- Công nhân và nhân viên có bằng đại học vào làm việc sau một năm thì được cộng 0,05 vào hệ số lương, có bằng cao đẳng thì được công 0,03 vào hệ số lương (chỉ được cộng một lần)
- Khi thay đổi công việc thì được bảo lưu lương cũ một tháng (hoặc được hưởng mức lương của công việc cao hơn)
- Hổ trợ cho người lao động khi nghỉ việc (tùy theo thâm niên công việc)
3.3 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mục tiêu hoạt động của nhà máy
3.3.1 Chức năng
Nhà máy có chức năng vừa là đơn vị sản xuất, vừa là đơn vị phân phối
- Là đơn vị sản xuất, nhà máy sản xuất ra sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ cung cấp cho nhu cầu của thị trường nhằm tạo ra lợi nhuận
- Là một đơn vị phân phối, nhà máy bán ra thị trường những sản phẩm sản xuất được hoặc cung cấp dịch vụ, đổi lại nhà máy sẽ thu về tiền hoặc các hình thức thanh toán của khách hàng
3.3.2 Nhiệm vụ
- Nhiệm vụ của nhà máy xi măng An Giang là sản xuất và cung ứng sản phẩm xi măng cho thị trường khu vực các tỉnh phía Nam Đây là nhiệm vụ sản xuất kinh doanh
và nhiệm vụ chính trị mà UBND tỉnh An Giang giao cho nhà máy
- Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, nhà máy có nghĩa vụ đăng ký kinh doanh và kinh doanh đúng ngành nghề đã đăng ký
- Nhà máy phải chịu trách nhiệm trước Nhà Nước về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh và chịu trách nhiệm trước khách hàng, trước pháp luật về sản phẩm và dịch
vụ do nhà máy thực hiện
- Nhà máy phải xây đựng chiến lược phát triển kinh tế, kế hoạch sản xuất kinh doanh phù hợp với nhiệm vụ của UBND Tỉnh An Giang cũng như của công ty Xây Lắp
An Giang giao cho và phù hợp với nhu cầu của thị trường
- Nhà máy phải thực hiện chế độ báo cáo thống kê định kỳ theo qui định của Nhà Nước và báo cáo bất thường theo yêu cầu của đại diện chủ sở hữu
- Nhà máy chịu sự kiểm tra của đại diện chủ sở hữu, tuân thủ các qui định về thanh tra của các cơ quan tài chính
- Nhà máy có nghĩa vụ thực hiện đúng chế độ và các qui định về quản lý vốn, tài sản, kế toán, hạch toán, chế độ kiểm toán và các chế độ khác do Nhà Nước qui định
- Nhà máy có nghĩa vụ nộp thuế, các khoản phải nộp ngân sách Nhà Nước theo qui định của pháp luật
Trang 32- Nhà máy còn thực hiện các qui định của Nhà Nước về bảo vệ tài nguyên, môi trường, quốc phòng và an ninh quốc gia.
- Nhà máy có quyền mở rộng qui mô kinh doanh, thị trường xuất khẩu
- Nhà máy có quyền tổ chức bộ máy quản lý, kinh doanh phù hợp với mục tiêu
và nhiệm vụ của từng thời kỳ
3.3.4 Mục tiêu hoạt động
- Nhà máy xi măng An Giang là một doanh nghiệp của Nhà Nước, tổ chức kinh doanh theo hệ thống hạch toán kinh tế độc lập, tham gia vào kinh tế thị trường tạo ra lợi nhuận, bảo toàn được đông vốn, góp phần ổn định tình hình lưu động hàng hóa trên thị trường cả trong và ngoài nước, đảm bảo việc làm cho người lao động, cải thiện đời sống của cán bộ trong nhà máy
- Thông qua xuất nhập khẩu, nhà máy góp phần thúc đẩy nền kinh tế của tỉnh phát triển, thu về ngoại tệ đóng góp cho ngân sách Nhà Nước
- Hoàn thành tốt các chỉ tiêu kế hoạch của công ty xây lắp An Giang giao
- Đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm, phấn đấu sản xuất đạt 100 % công suất thiết kế
3.4 Thuận lợi, khó khăn, nguy cơ và cơ hội của nhà máy
3.4.1 Thuận lợi
- Công nghệ sản xuất tiên tiến, công suất lớn, có khả năng đáp ứng thị trường tiêu thụ
- Có nhiều uy tín trong lĩnh vực kinh doanh
- Để đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng, nhà máy luôn thực hiện mục tiêu kế hoạch hàng năm với những chính sách như: khuyến mãi, giảm giá, chiết khấu theo sản lượng, giao hàng thuận lợi, nhanh chóng, đồng thời cho hưởng chính sách như trả chậm, giá cạnh tranh, điều kiện thanh toán ưu đãi…
- Nhà máy luôn quan tâm và có mối quan hệ chặt chẽ với các nhà cung cấp để kiểm soát đầu vào của đơn vị mình từ các nước như: nhập khẩu Clinker từ các nước như Thái Lan, Hàn Quốc, Indonesia… nhằm nắm bắt kịp thời, chính xác tình hình giá biến động tăng giảm, tránh tình trạng bị áp đặt giá, ép giá của nhà cung cấp
3.4.2 Khó khăn
- Tiềm năng kinh doanh trên thị trường lớn nhưng công tác tiếp cận và mở rộng thị trường còn chậm
- Năng lực cạnh tranh cần phải được tăng cường thông qua việc áp dụng các mô
hình quản lý chất lượng tiên tiến của thế giới (ISO 9000, giải thưởng chất lượng quốc
gia, quản lý tri thức…)
- Công tác tiếp thị đôi lúc chưa được thực hiện khắp khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long
Trang 33- Tình hình giá nguyên liệu Clinker, nhiên liệu tăng giá cao ảnh hưởng rất lớn đến chi phí giá thành và sản xuất kinh doanh của nhà máy.
- Việc nắm bắt các loại xi măng khác trên thị trường để đề ra giá bán và chính sách đôi lúc chưa kịp thời nên hiệu quả kinh doanh có phần ảnh hưởng
- Chưa có bộ phận nghiên cứu marketing riêng biệt
- Chưa có sự phối hợp giữa các bộ phận nghiệp với các bộ phận trực tiếp sản xuất
- Nguồn tài chính còn hạn chế
3.4.3 Cơ hội
- Chất lượng sản phẩm ổn định (hệ thống quản lý chất lượng theo TCVN ISO 9000: 2001).
- Tiến tới cổ phần hóa
- Việt Nam với hơn 82 triệu dân, là một quốc gia đang phát triển do đó tiềm năng nhu cầu thị trường là rất lớn
- Nền kinh tế Việt nam đang phát triển với tốc độ cao trên 8%/năm, điều đó chứng tỏ nhu cầu xây dựng (của dân và nhà nước) ngày càng tăng
- Gia nhập AFTA và tiến tới gia nhập Tổ chức Thương Mại Thế Giới WTO
- Sự cạnh tranh quyết liệt trong lĩnh vực kinh doanh nhất là về giá với các xi măng địa phương, trung ương và công ty liên doanh
- Sự nhập cuộc của đối thủ cạnh tranh trên thương trường
- Áp lực trong việc mở rộng hệ thống mạng lưới phân phối
- Không còn sự hỗ trợ của nhà nước đối với các doanh nghiệp nhà nước
3.5 Thị trường tiêu thụ và phương thức kinh doanh
Hàng hóa sản xuất ra nhằm mục đích tiêu thụ được, nghĩa là được thị trường chấp nhận Khối lượng hàng hóa tiêu thụ càng nhiều, mức doanh thu tiêu thụ càng lớn Khối lượng tiêu thụ không chỉ phụ thuộc vào khối lượng và chất lượng hàng hóa sản xuất ra mà còn phụ thuộc vào công tác tổ chức tiêu thụ hàng hóa như: việc ký kết hợp đồng bán hàng với các đại lý, với khách hàng, việc quảng cáo, tiếp thị, việc vận chuyển hàng hóa… Những doanh nghiệp thực hiện tốt các khâu tiêu thụ trên sẽ có được thị trường tiêu thụ rộng lớn và theo đó doanh thu bán hàng cũng sẽ tăng lên Mặc dù trong điều kiện cạnh tranh gay gắt trên thị trường, hiện nay mạng lưới tiêu thụ của nhà máy xi măng An Giang rộng khắp khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long, các tỉnh miền Đông Nam Bộ và hiện nay xuất khẩu sang Campuchia, đặc biệt là bán cho các công trình xây dựng trong tỉnh An Giang
Trang 34Phương thức kinh doanh chủ yếu của nhà máy xi măng An Giang là bán xi măng cho các đại lý và các cửa hàng, bên cạnh đó nhà máy cũng áp dụng phương thức bán lẻ đáp ứng nhu cầu cho khách hàng Chủ yếu sản phẩm bán cho đại lý theo hình thức bán gối đầu theo từng hơp đồng cụ thể đã được ký kết trước Thời gian thu hồi tiền bán hàng
là từ 10 đến 15 ngày sau khi xuất giao hàng Phương thức thanh toán là thu bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản qua ngân hàng
Nhà máy tổ chức phân công theo dõi tình hình nợ chặt chẽ nhằm hạn chế trường hợp bị khách hàng chiếm dụng vốn quá lâu làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của nhà máy
3.6 Kết quả kinh doanh của nhà máy trong 3 năm
Từ khi thành lập cho đến nay, hoạt động sản xuất kinh doanh của nhà máy trãi qua không ít khó khăn Những năm trước đây, do ngành xây dựng tại tỉnh An Giang, các tỉnh khác ở ĐBSCL và các tỉnh ở miền Đông Nam Bộ chưa phát triển mạnh mẽ cho nên việc sản xuất và tiêu thụ xi măng của nhà máy còn chậm Những năm gần đây, nền kinh tế của cả nước nói chung và của An Giang nói riêng đang trên đà phát triển, các chính sách kinh tế ngày càng đổi mới và thông thoáng hơn nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho cả nước hòa nhập vào nền kinh tế khu vực và trên thế giới Theo đà trên, mức tăng trưởng của ngành công nghiệp xây dựng tăng đáng kể, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc sản xuất kinh doanh xi măng của nhà máy Bên cạnh đó, nhà máy xi măng An Giang luôn xem việc nộp ngân sách nhà nước là nghĩa vu trọng tâm hàng đầu, nhà máy luôn nộp thuế đủ, đúng hạn
Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay nhà máy xi măng An Giang phải cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn với các nhà máy xi măng khác (nhà máy xi măng SADICO Cần Thơ, nhà máy xi măng Hà Tiên – Kiên Lương, nhà máy xi măng Phúc Sơn) về các sản
phẩm xi măng PCB30 và PCB40 Mặc dù, phải đối mặt với sự cạnh tranh ngày càng gay
gắt trên thị trường nhưng những năm qua nhà máy xi măng An Giang vẫn nổ lực phát huy lợi nhuận, khắc phục khó khăn, những năm qua hoạt động sản xuất kinh doanh của nhà máy đạt được một số kết quả như sau:
BẢNG 3: BẢNG DOANH THU VÀ LỢI NHUẬN QUA 3 NĂM (2003-2005)
(Nguồn: Phòng kế toán của nhà máy xi măng An Giang)
Qua bảng số liệu ta thấy doanh thu của nhà máy năm 2004 tăng so với năm 2003 7.329.054 nghìn đồng với số tương đối tăng 5,49 %, trong khi đó lợi nhuận sau thuế của nhà máy lại giảm 3.531.528 nghìn đồng với số tương đối giảm 37,77 % Đến năm 2005, doanh thu của nhà máy tiếp tục giảm 20.563.101 nghìn đồng với số tương đối giảm 14,61 % so với năm 2004 và lợi nhuân sau thuế của nhà máy cũng giảm 3.455.603 nghìn đồng với số tương đối giảm là 59,39 % so với năm 2004 Sau đây là hai biểu đồ
Trang 35biểu hiện tình hình doanh thu và lợi nhuận sau thuế1 được qua 3 năm (năm 2003 – 2005) như sau:
CHƯƠNG IV
1 Hai biểu đồ doanh thu và lợi nhuận sau thuế của nhà được vẽ dưới đây là dựa vào số liệu bảng 3 trang
24 Nguồn số liệu của phòng kế toán của nhà máy xi măng An Giang.
Biểu đồ 1: BIỂU ĐỒ BIỂU HIỆN DOANH THU CỦA NHÀ MÁY TỪ
NĂM 2003 - 2005
100.000.000 110.000.000 120.000.000 130.000.000 140.000.000 150.000.000
Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005 Năm
Biểu đồ 2: BIỂU ĐỒ BIỂU HIỆN LỢI NHUẬN SAU THUẾ TỪ
NĂM 2003 - 2005
0 2.000.000 4.000.000 6.000.000 8.000.000 10.000.000
Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005 Năm
Trang 36PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NHÀ
MÁY XI MĂNG AN GIANG
4.1 Phân tích tình hình tiêu thụ của nhà máy xi măng An Giang
Có rất nhiều nguyên nhân tác động đến tình hình tiêu thụ sản phẩm hàng hoá của nhà máy Nhưng có 3 nhóm nguyên nhân chính có thể chia ra như sau:
- Nguyên nhân thuộc về bản thân nhà máy
- Nguyên nhân thuộc về khách hàng
- Nguyên nhân thuộc về nhà nước
Nhận xét: 2
* Năm 2004: tình hình tiêu thụ của nhà máy xi măng An Giang so với năm 2003
tăng 8.753 tấn, trong đó tăng mạnh nhất là vào tháng 1, tháng 2, tháng 3, tháng 4, tháng
5, tháng 7 và tháng 12 Nguyên nhân là do:
- Trong khoảng tháng 4 là tháng cao điểm xây dựng nên nhà máy tập trung mọi khả năng củng cố và mở rộng thị trường Mặt khác, nhà máy còn đề ra chế độ khoán đối với những nhân viên trực tiếp kinh doanh
- Trong tháng 2 nhà máy đã hoàn tất hợp đồng tiêu thụ 5.000 tấn xi măng xuất sang thị trường Campuchia, đến tháng 3 nhà máy xuất đợt đầu tiêu thụ 150 tấn xi măng sang Campuchia, đến tháng 5 nhà máy xuất đợt 2 sang Campuchia 250 tấn xi măng và đến tháng 6 nhà máy xuất đợt cuối sang Campuchia 100 tấn xi măng Việc nhà máy nhận được hợp đồng tiêu thụ sang Campuchia của nhà máy chủ yếu là nhờ vào môi giới
- Bộ phận bán hàng thường xuyên bám sát thị trường nắm bắt giá cả từng loại xi măng của đối thủ cạnh tranh trên thị trường để đưa ra giá bán từng khu vực cho phù hợp, đôn đốc khách hàng tiêu thụ xi măng
- Nhà máy thường xuyên kiểm soát, phân tích chất lượng nguyên liệu đầu vào và sản phẩm đầu ra một cách chặt chẽ, không để bất cứ nguyên liệu hay sản phẩm nào ngoài tầm kiểm soát, nên sản phẩm sản xuất luôn đạt và vượt chất lượng đã đăng ký Phương thức kinh doanh tiếp cận thị trường, nhằm thỏa mãn nhu cầu khách hàng sao cho kinh doanh có hiệu quả, được người tiêu dùng chấp nhận Từ đó sản phẩm xi măng ACIFA của nhà máy xi măng An Giang tiêu thụ mạnh và bình chọn là “Hàng Việt Nam Chất Lượng Cao”
- Nhà máy thực hiện hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001: 2000 ngày càng
phát huy nên từ đó chất lượng sản phẩm của nhà máy luôn ổn định, tạo uy tín trên thương trường và được sự tín nhiệm của khách hàng từ đó khách hàng tiêu thụ nhiều hơn năm 2003
- Nhà máy có sự chuẩn bị tốt và linh hoạt về việc cho ra đời loại bao bì mới, giá
cả, các hình thức khuyến mãi và có sự quan tâm nhiều hơn khách hàng trong tỉnh An
Giang và củng cố khách hàng ngoài tỉnh khi thay đổi nhãn hiệu “Clinker Hà Tiên” sang nhã hiệu ACIFA trên vỏ bao bì Kết quả là được nhiều người tiêu dùng tín nhiệm và
tiêu dùng
2 Nhận xét tình hình tiêu thụ của nhà máy dựa vào phụ lục 3 trang 56.
Trang 37- Thông qua các kỳ Hội Trợ Triển Lãm nhà máy giới thiệu các đặc tính kỹ thuật của sản phẩm, hướng dẫn bảo quản sử dụng hoặc tư vấn xây dựng cho khách hàng khi
có yêu cầu mà không tính bất kỳ chi phí nào
- Tập thể cán bộ công nhân viên nhà máy không ngừng cải tiến công nghệ, nghiên cứu chế tạo thiết bị để tiết kiệm chi phí, hạ giá thánh sản phẩm Cụ thể trong năm nhà máy đã chế tạo băng tải đóng bao trực tiếp lên xe nhằm tiết kiệm thời gian giao hàng cho khách hàng khi lúc cao điểm thị trường đang cần
- Nhà máy tổ chức nhiều hình thức theo dõi thái độ của khách hàng đối với sản phẩm xi măng của nhà máy để đạt được sự phản hồi và hữu ích để phục vụ khách hàng tốt hơn chẳng hạn như: thăm viếng khách hàng 1 lần/tháng, đặt họp thư góp ý tại phòng khách của phòng kế hoạch kinh doanh của nhà máy, mời các nhà phân phối và đại lý dự hội nghị khách hàng, khảo sát toàn bộ khách hàng 6 tháng một lần
- Tỉnh An Giang tiến hành đầu tư xây dựng các khu và cụm công nghiệp (khu công nghiệp Bình Long huyện Châu Phú, khu công nghiệp Bình Hoà huyện Châu Thành…) tập trung, tạo điều kiện thuận lợi để kêu gọi đầu tư trong và ngoài nước Các công trình nhựa hoá và bêtông hoá nông thôn được thực hiện nhiều nơi ở các huyện của tỉnh An Giang
- Đối với công tác đền ơn đáp nghĩa,lãnh đạo nhà máy luôn quan tâm chăm sóc các gia đình chính sách, gia đình có công với cách mạng, thăm hỏi các gia đình liệt sĩ, xây nhà tình nghĩa Ngoài ra,vào những dịp tết lãnh đạo nhà máy thường tổ chức chúc tết cho các cơ quan ban ngành trong tỉnh An Giang
Tuy nhiên, về mặt gia công xi măng thì năm 2004 gia công so với năm 2003 giảm 128.981 tấn nguyên nhân là do năm 2004 nhà máy chỉ thực hiện gia công cho công ty xi măng Sao Mai (năm 2003 thực hiện gia công cho Công ty xi măng Sao Mai
và xi măng Hà Tiên nhãn hiệu “Ngọn Núi”).
* Năm 2005: Nhìn chung tình hình tiêu thụ của nhà máy xi măng An Giang năm
2005 so với năm 2004 giảm 27.026 tấn Nguyên nhân là do:
-Giá nguyên liệu Clinker đầu vào tăng, ảnh hưởng của việc tăng giá xăng dầu, giá than biến động tăng làm cho sức mua của thị trường chựng lại
- Ngày càng nhiều lọai xi măng khác xuất hiện ngày càng nhiều trên thị trường (Công ty xi măng Holcim có 8 loại sản phẩm nhưng chia là 2 nhóm chính: sản phẩm xi măng đa dụng và sản phẩm xi măng chuyên dùng; sản phẩm xi măng PCB 30 và PCB
40 nhãn hiệu “Con Rồng” của công ty cổ phần xi măng Cần Thơ, sản phẩm xi măng nhãn hiệu “Ba Ngọn Núi” của công ty xi măng Nghi Sơn, sản phẩm PCB 30 và PCB 40 nhãn hiệu “Hai Sư Tử ôm quả địa cầu” của Công ty Xi măng Hà Tiên 2) Tuy nhiên,
nguyên nhân chủ yếu vẫn là do sự chủ quan của các nhân viên trực tiếp kinh doanh của nhà máy chưa bám sát thị trường ở từng khu vực, từng địa bàn để điều chỉnh giá bán cho phù hợp và kịp thời ở từng thời điểm
- Những lô đá ẩm quá giới hạn nhưng vẫn đưa vào sản xuất làm giảm chất lượng sản phẩm do sự phối hợp chưa chặt chẽ ở 3 lĩnh vực: phân xưởng sản xuất, kiểm soát chất lượng và kế hoạch vật tư
- Phòng kế hoạch kinh doanh đã phân công nhóm và đi khảo sát thị trường để nắm giá cả, chính sách bán hàng của các đối thủ trên thị trường để đề xuất với lãnh đạo chính sách cụ thể của nhà máy đối với từng khách hàng và từng khu vực Qua thực tế kết quả đem lại chưa cao do đề ra bằng định lượng cụ thể nên có phần chung chung