1.Tính cấp thiết của đề tài Vấn đề “Tăng cường quản lý nhà nuớc về chống hoạt động cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam” được chọn làm đề tài luận văn thạc sỹ quản lý hành chính công (QLHCC) vì những lý do cấp thiết như sau:Một là, vì bản chất “phản kinh tế, phản khoa học, phản nhân văn..”, gọi chung là tính “bất chính”, của hoạt động cạnh tranh không lành mạnh (CTKLM)Cạnh tranh là thuộc tính của nền kinh tế thị trường (KTTT), cũng là thuộc tính của con người ở mọi thời đại, là xu hướng vươn tới lợi ích cao hơn người giữa những người cùng theo đuổi một lợi ích. Thông thường, để vượt lên các đối thủ phải nỗ lực bản thân, luyện rèn toàn diện. Kết quả là, ai nỗ lực hơn sẽ thắng. Nhưng cạnh tranh không lành mạnh đi ngược lại quy luật đó. Để chiến thắng, có những người đã không nỗ lực luyện rèn, nâng cao tài trí mà lại sử dụng các biện pháp thiếu lành mạnh. Hai là, cạnh tranh không lành mạnh đang là hoạt động khá phổ biến trong giới doanh nhân ở nước ta Hành vi cạnh tranh không lành mạnh của doanh nhân Việt Nam có nhiều dạng, có mặt ở khắp các ngành, các lĩnh vực sản xuất kinh doanh trong nước, tồn tại gần như hiển nhiên, thậm chí, vấn đề CTKLM đã trở nên hiểu nhiên đối với nhiều doanh doanh, còn người tiêu dùng đã quá quen thuộc với vấn đề này. Sở dĩ thế là vì nhiều lý do kinh tế xã hội khác nhau, trong đó có lí do là vì “túi tiền có hạn” và người tiêu dùng chưa thấy hết mối nguy hại từ những thứ hàng hóa, được tạo ra từ sự CTKLM này. Trong nhiều năm qua, rất nhiều khuyết tật của doanh nhân Việt Nam đã được đưa lên báo chí, công luận, một số không nhỏ loại doanh nhân này đã bị ra tòa và hiện còn đang chấp hành án tù. Số bị xử phạt hành chính thì không thể thống kê nổi. Nội dung chính của các cáo trạng đối với lớp doanh nhân này chính là phần buộc tội liên quan đến rất nhiều hành vi cạnh tranh không lành mạnh.Ba là, vì nền kinh tế quốc dân Việt Nam đã gia nhập các tổ chức kinh tế quốc tế như ASEAN và WTO, nơi nghiêm cấm sự CTKLMHội nhập kinh tế quốc tế là một trong những đường lối chiến lược phát triển kinh tế để nước ta nhằm làm cho dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh. Điều đó có nghĩa là, chúng ta phải coi trọng những quy tắc ứng xử của các tổ chức kinh tế quốc tế mà Việt Nam đã gia nhập. Không thể “vô tổ chức, vô kỷ luật” đối với tổ chức mà mình đã tình nguyện gia nhập, đã cam kết tuân thủ thể chế của tổ chức đó. Vì thế, vai trò của nhà nước không chỉ là phải can thiệp vào hành vi sản xuất kinh doanh của các doanh nhân nhằm loại bỏ những hành vi không lành mạnh trong cạnh tranh, mà còn phải định hướng cho công dân doanh nhân nước mình biết luật chơi, ngăn chặn rồi đi đến triệt tiêu hẳn mọi lối “chơi xấu” của doanh nhân công dân nước mình.Khi còn là nền kinh tế đóng, những hành vi CTKLM nói trên còn có thể tồn tại được ở chừng mực nhất định. Nhưng khi hàng hóa Việt Nam đã tham gia sâu, rộng vào thị trường thế giới, nơi có những quy định khắt khe về sở hữu trí tuệ, về bảo hộ hàng hóa và quyền lợi người tiêu dùng, thì những hành vi CTKLM nói trên cùng hàng hóa và dịch vụ của chúng ta sẽ bị cô lập. Nghiêm trọng hơn, chúng ta sẽ bị khách hàng của các thị trường này sẽ tẩy chay. Điều đó cũng có nghĩa là, đường lối “đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế về kinh tế” không còn khả thi.Chính vì lý do đó, mà việc triệt bỏ hành vi CTKLM của doanh nghiệp, doanh nhân Việt Nam là rất cần thiết. Bốn là, còn có sự bất cập trong hoạt động QLNN đối với hành vi CTKLMSự quản lý của nhà nước ta về cạnh tranh của các doanh nghiệp, doanh nhân Việt Nam còn rất mỏng. Những chỗ “mỏng” này có nhiều, điển hình như sự trôi nổi nhiều năm nay của hàng bao nhiêu thứ thực phẩm không an toàn về vệ sinh, sự ô nhiễm môi trường của bao nhiêu vùng công nghiệp, sự triệt phá tài nguyên, nạn làm hàng giả, hàng kém chất lương...Xét trên nhiều mặt, đó chính là sự CTKLM, là sự “giảm chi bất chính” để có giá thành hạ, nhờ đó mà bán phá giá để cướp thị trường, cướp khách hàng.Năm là, sự bỏ ngỏ của các nhà khoa học đối với lĩnh vực khoa học và thực tiễn nàyĐiều này sẽ được trình bày trong tiểu mục “Tình hình nghiên cứu”, liền kề dưới đây, coi sự bỏ trống của việc nghiên cứu này là một trong những lý do, khiến chúng tôi chọn vấn đề QLNN nhằm chống CTKLM làm đề tài luận văn này.
Trang 1LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CỞ SỞ KHOA HỌC CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHỐNG HOẠT ĐỘNG CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH .7
1.1 Cạnh tranh không lành mạnh, đối tượng kiểm soát của QLNN về kinh tế trong thời đại ngày nay 7
1.1.1 Một số vấn đề về cạnh tranh 7
1.1.2 Cạnh tranh thương trường (CTTT) 11
1.1.3 Một số vấn đề về cạnh tranh không lành mạnh 23
1.2 Quản lý nhà nước về chống hoạt động cạnh tranh không lành mạnh .25
1.2.1 Sự cần thiết của QLNN về chống CTKLM 25
1.2.2 Cơ sở khoa học của việc chống CTKLM 25
1.2.3 Nội dung quản lý nhà nước về chống hoạt động CTKLM 26
1.3 Kinh nghiệm về chống hoạt động cạnh tranh không lành mạnh của các nước trên thế giới 29
1.3.1 Kinh nghiệm của Nhật Bản 29
1.3.2 Kinh nghiệm của Hoa Kỳ 30
1.3.3 Kinh nghiệm EU 32
1.3.4 Những điều có giá trị, rút ta từ thực tiễn chống CTKLM ở các nước nói trên 35
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHỐNG HOẠT ĐỘNG CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH Ở VIỆT NAM 37
2.1 Tình hình CTKLM ở Việt Nam 37
2.1.1 Một số hành vi CTKLM điển hình 37
2.1.2 Những nhận định về tình hình CTKLM ở Việt Nam 45
Trang 22.2.1 Bộ máy QLNN về chống hoạt động CTKLM 482.2.2 Các quy định pháp luật có liên quan đến hoạt động chống hành vi
CTKLM ở Việt Nam 542.2.3 Trình tự, thủ tục, xử lý đối với hành vi CTKLM 692.2.4 Hoạt động của Cục quản lý cạnh tranh nhằm hạn chế CTKLM 73
2.3 Đánh giá hoạt động QLNN trong việc chống hành vi CTKLM
75
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC NHẰM BẢO ĐẢM CẠNH TRANH LÀNH MẠNH TRONG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM 80 3.1 Phương hướng CTLM trong nền kinh tế Việt Nam - Mục tiêu
của QLNN với cạnh tranh trong thời đại mới 80
3.1.1 Những căn cứ định hướng cạnh tranh trong nền kinh tế Việt Nam
trong thời gian tới 803.1.2 Phương hướng cần đạt được về sự lành mạnh trong cạnh tranh
trong nền kinh tế Việt Nam 84
3.2 Hướng tăng cường QLNN nhằm đảm bảo tính lành mạnh của
hoạt động cạnh tranh tại Việt Nam 88
3.2.1 Hướng tăng cường QLNN về cạnh tranh được hiểu là sự “Định
hướng đối tượng quản lý” 883.2.2 Hướng tăng cường QLNN về cạnh tranh được hiểu là sự “Định
hướng các phương thức, biện pháp trong QLNN về cạnh tranh” 90
3.3 Những biện pháp bảo đảm hướng tăng cường QLNN nhằm
chống CTKLM 99
3.3.1 Thống nhất và minh bạch một số nhận thức tư tưởng, hiện chưa
minh bạch, chưa thống nhất, đang cản trở sự CTLM 1003.3.2 Chấn chỉnh tổ chức bộ máy quản lý với việc thành lập Cơ quan
chống CTKLM 1023.3.3 Hiện đại hóa hoạt động QLNN về cạnh tranh, trước hết là Điện tử hóa
các giao dịch QLNN về lĩnh vực này 104
Trang 3TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ TRÍCH DẪN 107
Trang 4Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi còn nhậnđược sự giúp đỡ quý báu của Ban giám đốc, các giáo sư, phó giáo sư, tiến sỹ,các thầy, cô giáo của Học viện Hành chính, đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn
và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và làm luận văn tốt nghiệp.Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc với GS.TS Lê Sỹ Thiệp – Học việnHành chính, người hướng dẫn khoa học đã rất nhiệt tình và trách nhiệm để tôihoàn thành được luận văn
Tôi cũng xin cảm ơn Lãnh đạo Cục quản lý cạnh tranh, Hội đồng cạnhtranh, các Sở, ban, ngành, các cơ quan, đơn vị, cá nhân, các doanh nghiệp trênđịa bàn thành phố Hà Nội … các bạn bè đồng nghiệp và gia đình đã tạo điềukiện thuận lợi trong thời gian tôi tìm hiểu tình hình thực tế và cung cấp tàiliệu, số liệu để tôi hoàn thành luận văn
Do sự hạn chế về thời gian nghiên cứu nên luận văn có thể có nhiềuthiếu sót Tôi mong được sự góp ý chỉ bảo của các thầy, các cô và các bạnđồng nghiệp
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
TRẦN QUỲNH ANH
Trang 5Tôi xin cam đoan, Luận văn Thạc sỹ quản lý hành chính công:
“Tăng cường quản lý nhà nuớc về chống hoạt động cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam” là công trình nghiên cứu của riêng
tôi, dưới sự hướng dẫn của GS TS Lê Sỹ Thiệp, Khoa Quản lý nhànước về kinh tế - Học viện Hành chính
Các thông tin, số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn làtrung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ một luận vănnào trước đây
Tác giả
TRẦN QUỲNH ANH
Trang 6ASEAN : Hiệp hội các quốc gia Đông Nam ÁCBCC : Cán bộ công chức
CTTT : Cạnh tranh thương trường
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Vấn đề “Tăng cường quản lý nhà nuớc về chống hoạt động cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam” được chọn làm đề tài luận văn thạc sỹ
quản lý hành chính công (QLHCC) vì những lý do cấp thiết như sau:
Một là, vì bản chất “phản kinh tế, phản khoa học, phản nhân văn ”, gọi chung là tính “bất chính”, của hoạt động cạnh tranh không lành mạnh (CTKLM)
Cạnh tranh là thuộc tính của nền kinh tế thị trường (KTTT), cũng làthuộc tính của con người ở mọi thời đại, là xu hướng vươn tới lợi ích cao hơn
người giữa những người cùng theo đuổi một lợi ích Thông thường, để vượt
lên các đối thủ phải nỗ lực bản thân, luyện rèn toàn diện Kết quả là, ai nỗ lựchơn sẽ thắng Nhưng cạnh tranh không lành mạnh đi ngược lại quy luật đó
Để chiến thắng, có những người đã không nỗ lực luyện rèn, nâng cao tài trí
mà lại sử dụng các biện pháp thiếu lành mạnh
Hai là, cạnh tranh không lành mạnh đang là hoạt động khá phổ biến trong giới doanh nhân ở nước ta
Hành vi cạnh tranh không lành mạnh của doanh nhân Việt Nam có nhiềudạng, có mặt ở khắp các ngành, các lĩnh vực sản xuất kinh doanh trong nước,tồn tại gần như hiển nhiên, thậm chí, vấn đề CTKLM đã trở nên hiểu nhiênđối với nhiều doanh doanh, còn người tiêu dùng đã quá quen thuộc với vấn đềnày Sở dĩ thế là vì nhiều lý do kinh tế - xã hội khác nhau, trong đó có lí do là
vì “túi tiền có hạn” và người tiêu dùng chưa thấy hết mối nguy hại từ nhữngthứ hàng hóa, được tạo ra từ sự CTKLM này
Trong nhiều năm qua, rất nhiều khuyết tật của doanh nhân Việt Nam đãđược đưa lên báo chí, công luận, một số không nhỏ loại doanh nhân này đã bị
Trang 8ra tòa và hiện còn đang chấp hành án tù Số bị xử phạt hành chính thì khôngthể thống kê nổi Nội dung chính của các cáo trạng đối với lớp doanh nhânnày chính là phần buộc tội liên quan đến rất nhiều hành vi cạnh tranh khônglành mạnh.
Ba là, vì nền kinh tế quốc dân Việt Nam đã gia nhập các tổ chức kinh tế quốc tế như ASEAN và WTO, nơi nghiêm cấm sự CTKLM
Hội nhập kinh tế quốc tế là một trong những đường lối chiến lược pháttriển kinh tế để nước ta nhằm làm cho dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng,dân chủ văn minh Điều đó có nghĩa là, chúng ta phải coi trọng những quy tắcứng xử của các tổ chức kinh tế quốc tế mà Việt Nam đã gia nhập Không thể
“vô tổ chức, vô kỷ luật” đối với tổ chức mà mình đã tình nguyện gia nhập, đãcam kết tuân thủ thể chế của tổ chức đó Vì thế, vai trò của nhà nước không chỉ
là phải can thiệp vào hành vi sản xuất kinh doanh của các doanh nhân nhằmloại bỏ những hành vi không lành mạnh trong cạnh tranh, mà còn phải địnhhướng cho công dân - doanh nhân nước mình biết luật chơi, ngăn chặn rồi điđến triệt tiêu hẳn mọi lối “chơi xấu” của doanh nhân - công dân nước mình.Khi còn là nền kinh tế đóng, những hành vi CTKLM nói trên còn có thểtồn tại được ở chừng mực nhất định Nhưng khi hàng hóa Việt Nam đã thamgia sâu, rộng vào thị trường thế giới, nơi có những quy định khắt khe về sởhữu trí tuệ, về bảo hộ hàng hóa và quyền lợi người tiêu dùng, thì những hành
vi CTKLM nói trên cùng hàng hóa và dịch vụ của chúng ta sẽ bị cô lập.Nghiêm trọng hơn, chúng ta sẽ bị khách hàng của các thị trường này sẽ tẩychay Điều đó cũng có nghĩa là, đường lối “đa phương hóa, đa dạng hóa quan
hệ quốc tế về kinh tế” không còn khả thi
Chính vì lý do đó, mà việc triệt bỏ hành vi CTKLM của doanh nghiệp,doanh nhân Việt Nam là rất cần thiết
Trang 9Bốn là, còn có sự bất cập trong hoạt động QLNN đối với hành vi CTKLM
Sự quản lý của nhà nước ta về cạnh tranh của các doanh nghiệp, doanhnhân Việt Nam còn rất mỏng Những chỗ “mỏng” này có nhiều, điển hìnhnhư sự trôi nổi nhiều năm nay của hàng bao nhiêu thứ thực phẩm không antoàn về vệ sinh, sự ô nhiễm môi trường của bao nhiêu vùng công nghiệp, sựtriệt phá tài nguyên, nạn làm hàng giả, hàng kém chất lương
Xét trên nhiều mặt, đó chính là sự CTKLM, là sự “giảm chi bất chính” để
có giá thành hạ, nhờ đó mà bán phá giá để cướp thị trường, cướp khách hàng
Năm là, sự bỏ ngỏ của các nhà khoa học đối với lĩnh vực khoa học và thực tiễn này
Điều này sẽ được trình bày trong tiểu mục “Tình hình nghiên cứu”, liền kềdưới đây, coi sự bỏ trống của việc nghiên cứu này là một trong những lý do, khiếnchúng tôi chọn vấn đề QLNN nhằm chống CTKLM làm đề tài luận văn này
2 Tình hình nghiên cứu
Cho đến nay, đã có rất nhiều công trình, tác phẩm, bài viết của các học
giả có uy tín nghiên cứu vấn đề trên, trong đó, chúng tôi biết đã có: “Pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam”, Tác giả T.S Lê Danh Vĩnh, Hoàng Xuân Bắc, Nguyễn Ngọc Sơn, NXB Tư pháp, H, 2006; “Tiến tới xây dựng pháp luật về cạnh tranh và chống độc quyền trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường”, Tác giả Nguyễn Như Phát, Bùi Nguyên Khánh, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, 2001; “Cạnh tranh và xây dựng pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam”, Tác giả T.S Nguyễn Như Phát, Viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật, Hà Nội, 2008; “Phân biệt hành vi cạnh tranh và vi phạm sở hữu trí tuệ”.
T.S Nguyễn Hữu Huyên, Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Tư Pháp, Thông tin Pháp
luật dân sự, Hà Nội, 2008; “Những hành vi hạn chế cạnh tranh, cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực bảo hiểm ở Việt Nam”, Tác giả Nguyễn Đình
Quang, Nguyễn Bá Linh, Tổng công ty Bảo Hiểm Bảo Việt, Hà Nội, 2009;
Trang 10“Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh”, Tác giả T.S Đinh Thị Mỹ Loan, Nguyên Cục trưởng Cục Quản lý cạnh tranh, Bộ Công thương, Hà Nội, 2008; “Pháp luật chống canh tranh không lành mạnh và kiểm soát độc quyền liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp ở nước ta”, Tác giả Nguyễn Thanh Tâm, Tạp chí Thương mại, Hà Nội, 2003; “Một số vấn đề lý luận về hạn chế và thỏa thuận hạn chế cạnh tranh”, Võ Duy Thái, Cục Quản lý cạnh tranh – Bộ Công Thương, Hà Nội, 2009; “Xu hướng thảo thuận hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam”, Tác giả Võ Duy Thái, Cục Quản lý cạnh tranh – Bộ Công Thương, Hà Nội, 2009; “Giới thiệu về pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh”, Tác
giả Tích Phước, Cục Quản lý cạnh tranh – Bộ Công Thương, Hà Nội, 2009 Trước hết phải nói rằng, những công trình nghiên cứu trên là có giá trị.Chúng đã góp phần rất lớn vào việc hình thành lý thuyết QLNN đối với cạnhtranh và chống CTKLM, trong đó, phần rất lớn liên quan đến sự hoàn thiệnpháp luật Việt Nam về chống CTKLM
Tuy thế, chúng tôi vẫn thấy, đối tượng quản lý của nhà nước vềCTKLM, do các công trình trên đề cập, có phần chưa đủ Các công trình trênthường chỉ chú ý đến các hành vi thương mại, mà chưa chú ý đến các hành vi
“tiền thương mại” Trong khi, chính các hành vi tiền thương mại mới là cáilàm nên sự cạnh tranh lành mạnh hay không lành mạnh
Nhưng loại hành vi này đã có vị trí chưa đủ mức trong các công trìnhnghiên cứu nói trên, trong khi, chính chúng mới là đối tượng cần hạn chếhàng đầu
3 Mục đích nghiên cứu của luận văn
Kết quả nghiên cứu của Luận văn nhằm mục đích đóng góp một phần lýluận và thực tiễn trong việc tăng cường QLNN về chống CTKLM, để nhànước quản lý tốt hơn cuộc cạnh tranh của các doanh nhân, doanh nghiệp ViệtNam hiện nay
Trang 114 Đối tượng nghiên cứu
Theo đúng chuyên ngành đào tạo là Thạc sỹ quản lý hành chính công,được quy định bằng mã ngành là 60.34.82, đối tượng nghiên cứu của Luậnvăn này là sự QLNN đối với cạnh tranh, nhấn mạnh đến việc tăng cường cáchoạt động QLNN về chống CTKLM
5 Phạm vi nghiên cứu
Với đối tượng nghiên cứu là sự QLNN đối với cạnh tranh, nội dung
nghiên cứu của luận văn được giới hạn trong phạm vi sau đây:
- Hoạt động cạnh tranh trong các doanh nghiệp sản xuất, thương mại vàdịch vụ;
- Khảo sát tại một số doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội;
- Thời gian từ đầu thế kỷ 21 đến nay
6 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, Luận văn sử dụng quan điểm duy vật biệnchứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin để nhìn nhận vấn đề Đồng thời, việc nghiên cứu luận văn này còn được chỉ dẫn bởi lý thuyếtkinh tế và quản trị kinh doanh của nhiều ngành kinh tế như Thương mại,Công nghiệp, lý thuyết Thương hiệu, lý thuyết ISO trong quản lý chất lượngsản phẩm cũng như các phương pháp nghiên cứu khoa học quản lý như thống
kê, phân tích tài liệu lưu trữ, khảo sát thực tế…
7 Những đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Tập hợp, bổ sung, hệ thống hóa cơ sở lý luận về cạnh tranh và QLNNđối với hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp - doanh nhân;
- Đánh giá tình hình cạnh tranh của doanh nghiệp - doanh nhân Việt Nam
và sự QLNN đối với hoạt động cạnh tranh cũng như chống hành vi CTKLM;
- Định hướng cho sự lành mạnh của cạnh tranh và sự QLNN có khả năngtạo nên sự cạnh tranh lành mạnh đó;
Trang 128 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, nội dung, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văngồm 3 chương:
Chương 1: CỞ SỞ KHOA HỌC CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
CHỐNG HOẠT ĐỘNG CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHỐNG
HOẠT ĐỘNG CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH
Ở VIỆT NAM Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC NHẰM BẢO ĐẢM CẠNH TRANH LÀNH MẠNH TRONG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
Trang 13Để sự đồng tình hay phản đối cạnh tranh được bày tỏ đúng đối tượng,vấn đề hàng đầu, được đặt ra cho những người quan tâm đến cạnh tranh, làvấn đề “thế nào là cạnh tranh”, để từ đó tìm ra một định nghĩa đúng bản chấtcủa hiện tượng này.
Hiện nay, đã có khá nhiều định nghĩa về cạnh tranh
- Theo Cuốn Black’ law dictionary: “Cạnh tranh là sự nỗ lực hoặc hành
vi của hai hay nhiều thương nhân nhằm tranh giành những lợi ích giống nhau
từ chủ thể thứ ba”[10;tr15].
- Theo từ điển kinh doanh của Anh xuất bản năm 1992, cạnh tranh “Là
sự ganh đua, kình định giữa các nhà kinh doanh nhằm tranh dành cùng một loại tài nguyên hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình” [10;tr16], hoặc “Sự cố gắng giành phần hơn, phần thắng về mình giữa những người, những tổ chức hoạt động nhằm lợi ích như nhau”.
Trang 14- Theo Uỷ ban cạnh tranh công nghiệp của Hoa Kỳ thì "Cạnh tranh đối với một quốc gia là mức độ mà ở đó, dưới các điều kiện thị trường tự do và công bằng có thể sản xuất các hàng hoá và dịch vụ đáp ứng được các đòi hỏi của các thị trường quốc tế, đồng thời duy trì và mở rộng thu nhập thực tế của nhân dân nước đó".
- Theo quỹ tiền tệ thế giới (IMF) thì cạnh tranh là "Khả năng của nước đó đạt được những thành quả nhanh và bền vững về mức sống, nghĩa là đạt được các tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao được xác định bằng thay đổi của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trên đầu người theo thời gian".
- Theo Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) thì cạnh tranh là “Năng lực cạnh tranh của một quốc gia là khả năng đạt và duy trì được mức độ tăng trưởng cao rên cơ sở các chính sách, thể chế vững bền tương đối và các đặc trưng kinh tế khác” (WEF, 1997).
- Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức hợp tác vàphát triển kinh tế (OECD) lại có định nghĩa về cạnh tranh từ một cách nhìn
khác và coi cạnh tranh là "Khả năng của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia
và vùng trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế".
Như vậy, có thể thấy có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về cạnhtranh, xuất phát từ các cách tiếp cận khác nhau về chủ thể cạnh tranh, môitrường cạnh tranh và đối tượng cạnh tranh Nhưng các cách tiếp cận này đềunói lên bản chất của hành vi cạnh tranh Do vậy, có thể hiểu một cách thốngnhất về hành vi cạnh tranh như sau:
“Cạnh tranh là sự tranh giành giữa nhiều chủ thể hành động về một giá trị nào đó bằng hệ thống hành vi, có tác dụng như là những tác động gián tiếp để vật tranh giành kia thuộc về mình”.
Trang 151.1.1.2 Đặc trưng của cạnh tranh
+ Tính phổ biến
Cạnh tranh là hoạt động có tính phổ biến, hành vi này tồn tại ở mọi sựvật sống, từ thực vật đến động vật, từ sinh vật tự nhiên đến con người xã hội.Riêng trong thế giới loài người, hoạt động cạnh tranh càng đa dạng và phứctại, tồn tại ở mọi thời đại, mọi hoạt động Chúng ta thường nói “đấu tranh sinhtồn là lẽ tự nhiên”, “cạnh tranh là động lực của sự phát triển” Đó chính là sựthừa nhận trên thực tế về tính phổ biến của hoạt động cạnh tranh trong đờisống tự nhiên và xã hội
có hạt lành lặn nào không nẩy mầm Nhưng không có điều kiện khí hậu vànước, hạt không thể này mầm
Với cạnh tranh, điều kiện đó là:
Thứ nhất, “đa cá thể” có cùng lợi ích: Người ta chỉ tranh giành nhau khi
cùng muốn một giá trị nào đó Nếu có hai thứ khác nhau, và mỗi người thíchmột thứ, thì không có sự tranh giành
Thứ hai, lợi ích có tính cá thể: Tức là các chủ thể tranh giành phải có
quyền sử dụng riêng vật mà nó giành được Điều này thể hiện rõ nhất trong xãhội loài người, điển hình là trong kinh tế Hợp tác xã (HTX) Trong thời kỳHTX nông nghiệp, không có xã viên của HTX nào tháo trộm nước của ruộngđồng thuộc HTX khác vào ruộng đồng của HTX mà họ là xã viên, vì lợi ích
mà họ giành được họ đâu có được hưởng, mà là của chung HTX Nhưng nếu
có lợi ích của từng cá nhân trong đó thì họ sẵn sàng làm
Trang 16Thứ ba, lợi ích ít, cá thể nhiều: Khi lợi ích ít, cá thể nhiều thì rất dễ xẩy
ra cạnh tranh Điều này là quá rõ Ví như trong điều kiện bình thường, có ai
tranh nhau không khí Nhưng khi thiếu không khí, phải chia nhau bình Oxy, thì
sự giành giật có thể xẩy ra Trong kinh tế, khi “cung” ít, “cầu” nhiều, các doanhnhân làm không hết việc, không sản xuất cái này thì sản xuất cái khác, làm rabất cứ cái gì, tốt hay xấu, đều có người mua, thì không có cạnh tranh Nhưngkhi Cung-Cầu đã bình ổn, doanh nhân nào muốn bán được nhiều hàng hơnngười khác thì họ phải có hàng tốt hơn, mới hơn, rẻ hơn, khách hàng đượcchăm sóc chu đáo, ân cần hơn Khi đó mới cần những hoạt động sản xuất kinhdoanh mang tính cạnh tranh
Thứ tư, lực lượng ngang nhau hoặc xấp xỉ nhau: Tức là có người để
cạnh tranh thì thường sẽ xẩy ra hiện tượng cạnh tranh Trong lĩnh vực kinh tế,khi đã có sự độc quyền của một tập đoàn kinh tế nào đó, sẽ không có doanhnghiệp nhỏ nào nghĩ tới chuyện cạnh trang với tập đoàn này
1.1.1.3 Hậu quả hai mặt của cạnh tranh
+Mặt tốt: Biểu hiện của mặt tốt của cạnh tranh có nhiều, nhưng suy cho
cùng là, cạnh tranh là động lực phát triển Điều này đã được quan điểm Duyvật biện chứng chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ ra, qua mệnh đề triết học cơ bản là:Mâu thuẫn là động lực của sự phát triển Cạnh tranh chính là khâu xử lý mâuthuẫn, là khâu phát triển
Trong thực tiễn, con người đều đã biết tạo ra cạnh tranh để sự vật pháttriển, như trong hoạt động sản xuất thường tổ chức thi đua để cạnh tranh kếtquả hay thành tích
+ Mặt xấu: Trong hoạt động cạnh tranh, bên cạnh những mặt tích cực thì
cũng tồn tại nhiều mặt xấu, cụ thể:
- Cạnh tranh dễ dẫn đến triệt tiêu đồng loại: Cạnh tranh thương trườngdẫn đến độc quyền, mà sự độc quyền của một hãng nào đó sẽ hạn chế sự lựa
Trang 17chọn của người tiêu dùng, như sự độc quyền của đường sắt Việt Nam, Điệnlực Việt Nam hiện nay.
- Cạnh tranh dễ dẫn đến hành vi gian dối, vi phạm các chuẩn mực đạođức con người
1.1.2 Cạnh tranh thương trường (CTTT)
1.1.2.2 Đặc trưng của CTTT
Trên cơ sở đặc trưng chung của cạnh tranh, đã được nêu ở trên, vận dụngvào lĩnh vực sản xuất kinh doanh có thể thấy, CTTT có những đặc trưng mànhững đặc trưng này cũng chính là những ý sâu xa của định nghĩa về CTTT,
mà chúng tôi vừa đưa ra ở trên
Các đặc trưng đó là:
+ CTTT là thuộc tính của nền kinh tế đa sở hữu
Biểu hiện cụ thể của nền kinh tế đa sở hữu là có sự tồn tại của nhiềudoanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế và các hình thức sở hữu khácnhau Kinh tế học đã chỉ rõ cạnh tranh là hoạt động của các chủ thể kinhdoanh nhằm tranh dành hoặc mở rộng thị trường, do đó cần phải có sự tồn tạicủa nhiều doanh nghiệp thuộc nhiều thành phần kinh tế trên thị trường Khitrong thị trường nhất định nào đó chỉ có một doanh nghiệp tồn tại hoặc cónhiều doanh nghiệp nhưng các doanh nghiệp này đều thuộc về một thànhphần kinh thì chắc chắn sẽ không có hoạt động cạnh tranh, không thể tạothành động lực cho sự phát triển của kinh tế thị trường
Trang 18+ Chủ thể cạnh tranh thương trường là các doanh nhân
Chúng tôi muốn nhấn mạnh từ “Doanh nhân”, mà không dùng từ Doanhnghiệp vì doanh nghiệp không không thể là con người cụ thể, nên không cóhành vi cạnh tranh Chỉ có doanh nhân, người điểu kiển hoạt động doanhnghiệp của mình để cạnh tranh thì mới là chủ thể CTTT
+ Mục tiêu của CTTT là lợi nhuận và các giá trị làm nên lợi nhuận
Lợi nhuận là mục tiêu của mọi hoạt động kinh doanh Ai tham gia hoạtđộng kinh doanh đếu muốn dành được khoản lợi nhuận nhất định Nhưng giátrị làm nên lợi nhuận là gì, và vì sao, đó lại là mục tiêu tranh giành? Nói mộtcách tổng quát, đó là các yếu tố làm nên chất lượng cao và giá thành hạ củasản phẩm, như nguyên liệu tốt, lao động chất lượng cao, bí mật khoa học vàcông nghệ Đây là những yếu tố, mà doanh nhân nào có được, chắc chắn họ sẽchiến thắng trong CTTT
Để có các yếu tố trên, mỗi doanh nhân phải tự tạo ra, nhưng cũng cónhững doanh nhân không tự tạo mà dùng biện pháp chiếm đoạt: Dùng lươngcao và các khoản trọng đãi nhân tài để lôi kéo lao động chất lượng cao của đốithủ về doanh nghiệp mình, dùng tình báo kỹ nghệ để ăn cắp bí quyết nhà nghềcủa đối thủ, dùng nghiệp vụ kinh doanh để độc chiếm, chiếm lĩnh cơ sởnguyên liệu tốt,
+ Nơi cạnh tranh là thương trường, biện pháp cạnh tranh là hoạt động kinh tế - kỹ thuật - nghiệp vụ quản trị kinh doanh
Có nghĩa là, mọi hành vi cạnh tranh về lợi nhuận xẩy ra trên thươngtrường và những hành vi không có tính chất kinh tế - kỹ thuật và nghiệp vụquản trị kinh doanh thì không nằm trong phạm trù CTTT
Cần phải hiểu rõ như trên về định nghĩa CTTT, vì muốn chống cạnhtranh không lành mạnh thì phải nhìn nhận, đâu là CTTT Những hành vikhông có tính thương trường sẽ thuộc đối tượng kiểm soát của các hoạt độngquản lý nhà nước khác
Trang 191.1.2.3 Điều kiện để có CTTT
+Thứ nhất, nền kinh tế đa sở hữu
Phải có nền kinh tế đa sở hữu mới có cạnh tranh, bởi vì nếu là nền kinh
tế thuần sở hữu nhà nước và kinh tế tập thể, nhưng kinh tế tập thể lại ở dạngHTX cao cấp, thì cũng coi như kinh tế nhà nước sẽ không có cạnh tranh Chỉkhi nào mỗi doanh nghiệp thuộc sự sở hữu khác nhau, có quyền lợi riêng thìmới có cạnh tranh
+ Pháp luật toàn diện, đồng bộ
Khoa học pháp lý đã có sự giải thích về tính đồng bộ của hệ thống phápluật Trong phạm vi luận văn này, điều cần nói là mối quan hệ giữa sự toàndiện và đồng bộ của pháp luật với sự CTTT, trả lời câu hỏi: vì sao để cóCTTT phải có pháp luận đồng bộ và toàn diện
Lý do là ở chỗ:
- Phải có Luật vì CTTT là hành vi tranh giành lợi ích, thứ tranh giànhkhốc liệt Sự tranh giành này có giới hạn của nó Mà giới hạn này rất mongmanh và để xác định đâu là gianh giới thì cần căn cứ cứ vào quy định củapháp luật về điều đó chứ không thể suy lý được Nếu không có hệ quy chiếucho hành vi này thì mọi hành vi cạnh tranh đều có thể tùy sự yêu ghét cá nhân
mà bị kết tội hay được tuyên công
- Luật phải toàn diện vì CTTT là tổng thể hành vi, bao chùm nhiều lĩnhvực kinh tế xã hội Vì thế, để điều chỉnh quan hệ CTTT cần có không chỉ mộtLuật, mà cần cả hệ thống Luật Trong đó, có thể có những đạo luật chỉ đượcvận dụng một vài Điều-Khoản Nhưng vẫn phải có
- Luật phải đồng bộ, vì CTTT là tổng thể nhiều quan hệ kinh tế - xã hội,
có sự gắn bó hệ hữu cơ với nhau Nếu luật không đồng bộ, tức là, Đạo luậtnày cho phép, Đạo luật kia lại cấm, Đạo luật này quy định hành vi cạnh tranhnày là quan hệ Dân sự, Đạo luật nào đó nữa lại coi là quan hệ Hình sự Sự
Trang 20không đồng bộ này sẽ gây khó khăn trong hoạt động của các doanh nghiệpcũng như sự quản lý của các cơ quan chức năng Điều cần nhấn mạnh thêm là,
hệ thống pháp luật của nhà nước phải rộng, tạo điều kiện để mọi thành phầnkinh tế, mọi chủ thể có thể tham gia vào quá trình cạnh tranh này
+ Không có tổ chức kinh tế độc quyền
Độc quyền là nhân tố loại trừ cạnh tranh Vì thế, WTO đã có điều luậtchống độc quyền Nếu độc quyền lại gắn với độc quyền nhà nước thì càngnguy hại cho cạnh tranh Bởi sự có mặt của nhà độc quyền, cả quyền lực kinh
tế lẫn quyền lực chính trị, thì người tham gia cạnh tranh chẳng có cơ hội đểthắng trong mọi hoạt động cạnh tranh
+ Nhà nước phải công tâm và vô tư
Nhà nước là trọng tài của sân chơi có sự cạnh tranh Nhà nước sẽ là ngườitrọng tài công tâm, vô tư để đảm bảo sự công bằng cho các chủ thể cạnh tranh
+Có lượng doanh nghiệp đông đảo
Trong cạnh tranh về kinh tế, số lượng doanh nghiệp tham gia cạnh tranh
sẽ quyết định nhiều vấn đề, với sự tham gia của đông đảo lực lượng doanhnghiệp thì hoạt động cạnh tranh sẽ đa dạng hơn, phức tạp hơn nên cũng tạonhiều cơ hội phát triển hơn
Muốn cạnh tranh lành mạnh, phải giải quyết vấn đề tổ chức sản xuất theohướng chuyên môn hóa, tập trung hóa, đồng thời nâng cao trình độ kỹ thuật
và công nghệ Tất cả những biện pháp kinh tế - tổ chức - kỹ thuật tiên tiến đóchỉ có thể thực hiện được khi trong nền kinh tế quốc dân đã có một lượngdoanh nghiệp nhất định Vì thế nói, số lượng doanh nghiệp là một tiền đề tíchcực cho cạnh tranh
+ Có môi trường tốt về xã hội - kinh tế
CTTT suy cho cùng là sự chiếm lĩnh thị trường và thu hút khách hàng.Điều đó nói lên một điều là, mọi sự nỗ lực của doanh nhân liệu có được con
Trang 21mắt người tiêu dùng nhận ra không Do đó, sự cạnh tranh phải được diễn ra ởmôi trường xã hội nhất định, nơi mà người tiêu dùng là khách hàng sáng suốt.Nhưng nếu cạnh trạnh trong môi trường xã hội kém phát triển hơn so với cáchoạt động kinh tế này cạnh tranh vẫn có thể diễn ra, nhưng là cạnh tranh đixuống Điều đó chỉ làm hạn chế sự phát triển xã hội Điều này đang diễn ratrên thị trường âm nhạc nói riêng, nghệ thuật biểu diễn ở nước ta nói chung.Môi trường xã hội tốt còn có nghĩa là mức sống của nhân dân Một nhândân chỉ mơ đủ ăn, đủ mặc, mơ ăn no, mặc ấm, chưa hề mơ ăn ngon, mặc đẹp
vì thu nhập thấp, thì các doanh nhân không nhất thiết phải cạnh vì mọi nỗ lựccủa doanh nhân khi đó chỉ là về gia tăng số lượng và giá thật rẻ, chất lượngkhông thành vấn đề
+ Không có doanh nghiệp nhà nước tham gia
Không có DNNN tham gia cạnh tranh, chứ không phải là không có
doanh nghiệp nhà nước trong nền KTQD.
DNNN là một sản phẩm đặc biệt của nhà nước trong nền kinh tế quốcdân, được nhà nước lập ra để thực thi những nghĩa vụ thiêng liêng nhất định,
nó không có sứ mạng làm giầu, nên không nhất thiết phải tham gia hoạt độngcạnh tranh Nhưng nếu có DNNN tham gia cạnh tranh thì nó sẽ tạo nên sựnghi ngờ về sự công tâm, vô tư của các nhà QLNN Không có gì bảo đảmrằng, các nhà chức trách không “bênh” các doanh nhân nhà nước khi họ cóhành vi cạnh tranh không lành mạnh
1.1.2.4 Ý nghĩa của CTTT
Nếu cạnh tranh lành mạnh, nếu người cạnh tranh dùng các biện pháp tổchức kinh tế, kỹ thuật và quản trị kinh doanh hiện đại để chiến thắng đối thủ,thì cạnh tranh đó đồng nghĩa với khoa học hóa, hiện đại hóa, văn minh hóa,nhân văn hóa hoạt động sản xuất kinh doanh Kết quả là:
Trang 22- Bản thân doanh nghiệp và các doanh nhân sẽ giành chiến thắng mộtcách bền vững vì có chiều sâu khoa học và công nghệ được bảo đảm Mọi sự
nỗ lực chân chính sẽ làm cho doanh nghiệp và doanh nhân lớn mạnh thật sựchứ không là “mạnh ảo” Đó là nền móng của sự giầu mạnh vững bền của đấtnước Mọi sự xảo trá, dối lừa trước sau cũng bị vạch trần, nền kinh tế củadoanh nghiệp ấy có tăng trưởng cũng là sự tăng trưởng ảo
- Sự lớn mạnh của doanh nghiệp sẽ làm mạnh đất nước, nó trở thànhđiểm sáng về kinh tế, góp phần làm mạnh nền kinh tế quốc dân Trong thờiđại hội nhập, nếu tất cả các doanh nghiệp và doanh nhân đều trở nên như thế,thì chính họ đã góp phần không nhỏ làm cho non sông Việt Nam trở nên tươiđẹp và gấm vóc, Dân tộc Việt Nam sánh vai được với các cường quốc nămChâu, vì hàng Việt Nam có vị thế vững vàng trên thị trường thế giới
Do vị thế kinh tế vững vàng này mà vị thế chính trị quốc tế của ViệtNam cũng sẽ được nâng tầm nhất định
- Sự cạnh tranh bằng các biện pháp chân chính của doanh nghiệp và doanhnhân chính là động lực thúc đẩy nhiều ngành, nhiều lĩnh vực hoạt động xã hộiphát triển theo: thúc đầy giáo dục trong tạo nhân tài, thúc đầy giới nghiên cứukhoa học trong phát minh sáng chế và chuyển giao khoa học và công nghệ, thúcđẩy văn học, nghệ thuật vì có công chúng văn minh,…
- Quan trọng hơn, sự cạnh tranh bằng các biện pháp chân chính ấy sẽđem lại cho khách hàng, cho nhân dân những giá trị đích thực: hàng hóakhông ngừng đổi mới mẫu mã, kiểu dáng, công dụng, giá cả mỗi ngày mỗi
hạ, thái độ bán hàng mỗi ngày mỗi ân cần, chu đáo, văn minh thương mại mỗingày mỗi cao, người tiêu dùng sẽ được sử dụng những sản phẩm đúng giá trị
và đúng tầm
1.1.2.5 Phân loại CTTT
Trong kinh tế học, khoa học pháp lý cũng như trong quản lý nhà nước vềkinh tế, có nhiều cách phân loại hoạt động cạnh tranh khác nhau để phục vụ
Trang 23cho việc nghiên cứu và xây dụng chính sách cạnh tranh và quản lý cạnh tranh.Nhìn chung, có những cách phân loại và các loại CTTT như sau:
+ Căn cứ vào mức độ điều tiết của Nhà nước đối với CTTT, có
Theo ông, "Bàn tay vô hình" đó chính là các quy luật kinh tế khách quan tự
phát, hoạt động chi phối hoạt động của con người Do đó, việc nhà nước canthiệp vào kinh tế sẽ làm giảm bớt sự tăng trưởng của cải và sử dụng khônghợp lý tài nguyên
Nhiều nhà khoa học đồng thời với Adam Smith cũng cho rằng, cạnhtranh tự do là quy luật đặc thù của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, ở
đó, giá cả phải được tự do vận động lên xuống theo sự chi phối của quan hệcung cầu, của các thế lực trên thị trường Những điều tự do đó chính là tác
nhân, là động lực của tích tụ và tập trung tư bản trên nền tảng "tự do được nuôi dưỡng bởi chính tự do"
- Cạnh tranh có sự điều tiết của Nhà nước
Đó chính là thứ cạnh tranh mà ta đang chấp nhận, xuất hiện từ sau cáccuộc khủng hoảng kinh tế của những thập niên 20-30, được Samuelson đềsướng, với hình tượng “vỗ tay bằng hai bàn tay” Theo lối cạnh tranh này,Nhà nước xác lập hành lang cạnh tranh nhất định, các doanh nghiệp và doanhnhân được phép hoạt động trong hành lang định sẵn đó
Trang 24+ Căn cứ vào tính chất, mức độ biểu hiện của cạnh tranh, có:
- Cạnh tranh hoàn hảo
“Hoàn hảo” có nghĩa là “Điều kiện hoàn hảo để cạnh tranh” Sự hoànhảo này thể hiện trên các mặt sau đây:
Số lượng các doanh nghiệp tham gia thị trường và số lượng khách hàngrất lớn, đủ để không một ai trong số họ có khả năng tác động đến thị trường Sản phẩm tham gia trên thị trường phải đồng nhất và tiêu chuẩn hóaThông tin trên thị trường đầy đủ và công bằng cho mọi người
Không tồn tại các dào cản từ phía nhà nước
Các yếu tố đầu vào của sản xuất được lưu thông tự do, các doanh nghiệp
có cơ hội như nhau trong việc tiếp cận với các yếu tố đầu vào
- Cạnh tranh không hoàn hảo
Đó là thứ cạnh tranh với tất cả những dấu hiệu đối ngược với cạnh tranhhoàn hảo Cạnh tranh không hoàn hảo là hình thức cạnh tranh chiếm ưu thếtrong trong các nghành sản xuất mà ở đó các doanh nghiệp sản xuất và phânphối có đủ sức mạnh và thế lực để có thể chi phối giá cả trên thị trường
- Độc quyền
Đúng ra, độc quyền không là một dạng của cạnh tranh Đã độc quyềntức không còn cạnh tranh Tuy vậy, để hiểu về bình diện và mức độ củacạnh tranh, độc quyền được ghép vào cạnh tranh để bức tranh phát triểncủa cạnh tranh được hoàn chỉnh mà thôi: Kết thúc cạnh tranh là độc quyền.Quá trình cạnh tranh đồng nghĩa với quá trình doanh nghiệp loại bỏ lẫnnhau để cuối cùng còn lại doanh nghiệp mạnh nhất Khi đó, trên thị trườngcòn duy nhất một người bán hoặc một người mua hay chỉ có một doanhnghiệp duy nhất kinh doanh hoặc tiêu thụ sản phẩm trên thị trường mà không
có sự thay thế từ các sản phẩm hoặc các nhà sản xuất khác
Do vị trí độc quyền này, nhà độc quyền dẫn đến độc tài, là người toànquyền ấn định mặt hàng, chất lượng hàng hóa và đặt giá
Trang 25+ Căn cứ vào tính lành mạnh của hành vi và tác động của chúng với thị trường, có:
- Cạnh tranh lành mạnh
Đó là sự cạnh tranh, được thực hiện bằng tất cả các hành động, mà chúngtôi sẽ trình bày trong mục dưới đây, nói về các hoạt động cạnh tranh củadoanh nghiệp và doanh nhân trong CTTT
Đồng thời, các loại hành vi đó mang thêm các đặc tính như: Tính hợp pháp;Tính truyền thống, tập quán kinh doanh; Tính nhân văn, nhân bản, tính đạo đứckinh doanh được nhà nước và xã hội chấp nhận; Tính công bằng với sự kết hợphài hoà lợi ích của người kinh doanh với lợi ích của người khác, lợi ích công
- Cạnh tranh không lành mạnh
Chúng tôi sẽ có mục riêng nói về loại cạnh tranh này Vì thế, xin khôngtrình bày ở đây Nhưng hành vi này chính là cặp tương phản với cạnh tranhlành mạnh
1.1.2.6 Các hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp-doanh nhân
Hành vi cạnh tranh rất đa dạng Vì thế, khó có thể kiệt kê hết các hành vicạnh tranh của doanh nghiệp và doanh nhân
Để có thể đưa ra các hành vi cạnh tranh, cần dựa vào những tiền đề sauđây: Mục tiêu của cạnh tranh là giành lợi nhuận tối đa và lợi nhuận, đượcquyết định bởi các đại lượng cơ bản sau đây:
Một là, sản lượng tiêu thụ (càng lớn càng tốt), trong đó sản lượng lại phụ
thuộc vào xã hội có nhu cầu về loại hàng hóa do được sản xuất ra hay không;Chất lượng hàng hóa và giá bán như thế nào và chính sách hậu mãi của hãngnhư thế nào?
Hai là, giá thành đơn vị sản phẩm (càng nhỏ càng tốt), trong đó giá thành
phụ thuộc vào năng xuất lao động, trình độ máy móc, thiết bị và công nghệ củadoanh nghiệp tiên tiến hay lạc hậu; Nguyên liệu được dùng trong doanh nghiệp
Trang 26có chất lượng tốt hay xấu, được cung ứng ổn định hay thất thường; hoạt độngquản trị kinh doanh được tổ chức và trang bị hiện đại hay lạc hậu.
Ba là, giá cả, điều này phụ thuộc vào mức giá bình quân của thị
trường hàng hoá cùng loại; sự tín nhiệm của khách hàng về thương hiệucủa doanh nghiệp
Căn cứ vào cái nhìn trên, có thể thấy việc cạnh tranh của doanh nghiệp vàdoanh nhân được thể hiện qua việc thực hiện các hoạt động sau đây:
+ Thực thi các hoạt động tổ chức lại sản xuất nội bộ doanh nghiệp, hiện đại hoá kỹ thuật và công nghệ nhằm làm cho hạ giá thành và nâng cao chất lượng sản phẩm
Về tổ chức, đó là việc chuyên môn hóa, tập trung hóa, hợp tác hóa, lựachọn địa điểm đặt doanh nghiệp, sao cho tối ưu Khoa học về tổ chức sảnxuất nội bộ doanh nghiệp đã đề cập tới điều này
Về Công nghệ và Kỹ thuật sản xuất, đó là việc cơ khí hóa, tự động hóa,điện khí hóa quá trình sản xuất kinh doanh
Về ý nghĩa tác dụng đối với việc nâng cao chất lượng, hạ giá thành sảnphẩm của các biện pháp kinh tế - tổ chức sản xuất kinh doanh đã được cáckhoa học về kinh tế - tổ chức và quản trị kinh doanh Doanh nghiệp trình bàytường tận
+ Thực thi các hoạt động nhằm xác định đúng nhu cầu thị trường và tổ chức tiêu thụ tốt các sản phẩm đã làm ra
“Đắt hàng” hay “ế hàng” là mối quan tâm hàng đầu của mọi doanh nhân,tiếp đó là vấn đề lợi nhuận Muốn đắt hàng, trước hết hàng phải đúng nhu cầungười mua Không ai mua cái không cần, kể cả khi chúng được bán rất rẻ Và
vì thế, để “đắt hàng”, doanh nhân phải không ngừng tìm hiểu nhu cầu củakhách hàng, từ đó luôn luôn có những hàng mới về chủng loại Và họ sẽ chiếnthắng đối thủ về thị trường hàng hoá đó
Trang 27+ Thực thi các biện pháp nhằm tạo nguồn nguyên liệu tốt và ổn định
Nguyên liệu tốt là tiền đề hàng đầu của chất lượng sản phẩm Người ta
có thể thay thế nguyên liệu này bằng nguyên liệu khác, nhưng đó là điều bấtđắc dĩ Khi đó sản phẩm chắc chắn mất gốc, không nhiều thì ít Sản phẩmtruyền thống sẽ không còn, sản phẩm “nhân tạo” có thể có những ưu điểm nào
so với sản phẩm truyền thống, nhưng với những người ưa sản phẩm truyềnthống, thì các ưu điểm mới kia vẫn không là cái làm cho nó chiến thắng sảnphẩm truyền thống
Để có nguyên liệu tốt, doanh nghiệp và doanh nhân phải có cơ sởnguyên liệu theo đúng nghĩa của nó Đó là nơi, mà doanh nhân thường xuyênmua được nguyên liệu đúng yêu cầu của mình để duy trì sản xuất kinh doanhliên tục Các doanh nghiệp và doanh nhân coi đây là một hoạt động cạnhtranh có ý nghĩa quyết định chiến thắng, với ý tưởng là “ai có nguyên liệungười đó sẽ chiến thắng”
+ Thực thi các chính sách hậu mãi
Chăm sóc khách hàng là tên gọi chung của hoạt động này Yêu cầuchung đối với hoạt động chăm sóc khách hàng là “vui lòng khách đến, vừalòng khách đi” Hoạt động này có thể được thực hiện ở nhiều khâu từ bánhàng, bảo hành sản phẩm,…
+ Xây dựng thương hiệu bền vững và ấn tượng
Thương hiệu có bản chất là Uy tín, là “Tiếng thơm” về một Hãng hay vềmột loại sản phẩn nào đó của Hãng, được biểu tượng hóa bằng một Hìnhtượng nào đó, mà mỗi khi khách hàng hoặc toàn xã hội trông hay nghe thấybiểu tượng đó là người ta nghĩ ngay đến tất mọi điều tốt đẹp của hãng này,sản phẩm này, như một phản xạ có điều kiện vậy Việc xây dựng thương hiệuphải được thực hiện trên hai mặt:
Một là, tạo cái tốt thật sự, liên tục để toàn xã hội thừa nhận và tin dùng;
Trang 28Hai là, tạo dấu hiệu chung cho cả tập hợp những cái tốt đó sao cho gây
ấn tượng nhớ lâu, nhớ sâu và dễ nhớ nơi người quan tâm và không dễ bắtchước, làm giả
Trong cạnh tranh, việc tạo thương hiệu có giá trị lớn là ở chỗ, nó pháthuy cao độ hiệu ứng của quảng cáo Doanh nghiệp và doanh nhân chỉ cần mộtlần quảng cáo tường tận và chính xác, trung thực, sau đó, Thương hiệu làmnhiệm vụ hồi tưởng toàn bộ những điều đã quảng cáo trong đầu khách hàng,
mà không cần quảng cáo thêm Thương hiệu cũng là biển chỉ đường chonhững khách hàng lạ, chưa có điều kiện làm quen mặt hàng này, những đượcngười khác giới thiệu Thương hiệu Chỉ cần thế, là họ có thể tìm được loạihàng mà họ cần tìm
+Thực thi các hoạt động quảng cáo minh bạch và đại chúng
Để cạnh tranh tốt, sự quảng cáo phải:
- Trung thực, vì nếu không trung thực thì chỉ thực hiện được 1 lần, sau
+Thực thi các biện pháp nhằm tối ưu hóa tổ chức quản trị kinh doanh
và hiện đại hóa quá trình nghiệp vụ quản trị kinh doanh
Năng lực bộ máy quản trị kinh doanh của doanh nghiệp có ý nghĩanhư sau:
Thứ nhất, chính nó làm giảm chi phí quản trị kinh doanh trong giá thành
sản phẩm;
Trang 29Thứ hai, nó là chủ thể thực thi các hoạt động làm giảm giá thành, nâng
cao chất lượng sản phẩm, tiêu thụ nhanh nhiều cho doanh nghiệp như đã phântích ở trên
Trong cạnh tranh, các doanh nhân nhìn xa trông rộng thường rất coitrọng sự đầu tư vào khâu này, trong đó đặc biệt coi trọng:
- Việc phân công minh bạch, gắn liền Quyền-Lợi-Nghĩa vụ-Trách nhiệmvới nhau;
- Trả công thoả đáng;
- Hiện đại hoá phương tiện quản trị kinh doanh
1.1.3 Một số vấn đề về cạnh tranh không lành mạnh
1.1.3.1 Khái niệm hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Hiện nay, có nhiều quan niệm về CTKLM, điển hình là:
- Khoản 2 điều 10 công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ địnhnghĩa cạnh tranh không lành mạnh như sau :
"Bất kỳ hành vi cạnh tranh nào trái với các hoạt động thực tiễn trung thực trong lĩnh vực công nghiệp và thương mại đều bị coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh"[10;tr25]
- Khoản 4, Điều 3, Luật cạnh tranh, ghi “hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc
có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng”[12].
Theo chúng tôi, xã hội cần có hai loại định nghĩa về CTKLM
Thứ nhất, loại định nghĩa mang tính khoa học Đó là thứ định nghĩa cho
chữ “không lành mạnh” xét theo bản chất của hành vi, với ý nói rằng, sựcạnh tranh như thế nào là không lành mạnh
Thứ hai, loại định nghĩa có tính pháp lý Đó là loại định nghĩa cho chữ
“không lành mạnh” theo quy định hiện hành của pháp luật
Trang 30Cả hai loại định nghĩa trên đều có tác dụng của nó.
Về mặt hành pháp và hành chính kinh tế, định nghĩa pháp lý giúp chongười thực thi công vụ QLNN về cạnh tranh có thể xử phạt các hành viCTKLM theo đúng pháp luật
Nhưng bản thân nhà làm Luật lại cần một định nghĩa khoa học vềCTKLM Bởi vì khi nhà làm luật thì không thể dựa vào Luật nào cả, mà phảidựa vào lý luận khoa học Từ lý luận khoa học, mà nhà làm luật mới định ra
sự lành mạnh hay không lành mạnh của cạnh tranh
Từ sự phân tích trên, chúng tôi thấy cả hai định nghĩa, mà chúng tôi nêu
ở trên, đều đúng Đồng thời, từ những định nghĩa đó có thể đi đến một địnhnghĩa chung về CTKLM như sau:
CTKLM là tổng thể các hành vi cạnh tranh trái pháp luật, trái đạo lý và truyền thống thương trường, gây hại cho đối thủ, cho người tiêu dùng, cho quốc gia và cho xã hội.
Hai yếu tố: Trái pháp luật, đạo lý, truyền thống và gây hại là những dấu
hiệu điển hình của sự “Không lành mạnh” trong CTTT.
1.1.3.2 Đặc điểm của hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Hành vi CTKLM có những đặc điểm cơ bản như sau:
+ Rất đa dạng và phong phú, nghĩa là, khó có thể định trước hết mọi loại
hành vi CTKLM, nếu muốn quy định để nghiêm cấm
+ Nhằm thu lợi mà không phải chi hoặc thu lợi lớn mà chi ít, chẳng hạn,
để hạ giá thành, người CTKLM thực hiện biện pháp cắt bỏ công nghệ cầnthiết, thay bằng những phụ chất để tạo nên chất lượng tạm thời của sản phẩm,
đủ lừa người tiêu dùng khi kiểm hàng để mua, nhưng chất lượng giả đó khôngbền, thậm chí gây hại
+ Dấu hiệu đặc trưng là trái pháp luật, trái truyền thống thương trường, trái đạo lý, có nghĩa là, tiêu chuẩn phân biệt lành mạnh với không lành mạnh là chuẩn
mực pháp luật, quy tắc truyền thống, chuẩn mực đạo đức
Trang 31+ Gây hại cho nhiều chủ thể quan hệ kinh tế và không kinh tế, cụ thể là các
đối thủ cạnh tranh, người tiêu dùng, xã hội, Nhà nước Mỗi chủ thể trên có lợiích khác nhau, nhưng đều do một nguyên nhân gây hại là sự CTKLM
1.2 Quản lý nhà nước về chống hoạt động cạnh tranh không lành mạnh
Hai là, vì trách nhiệm của nhà nước phải thực hiện chức năng quản lý
trên tất cả các lĩnh vực
Ba là, vì Nhà nước có vị thế, có đủ điều kiện và quyền lực để thực hiện các
hoạt động quản lý khó khăn mà không một tổ chức tư nhân nào có thể làm được
1.2.2 Cơ sở khoa học của việc chống CTKLM
Vấn đề đặt ra là, dựa trên cơ sở nào mà nhà nước cần thực hiện cácquyền QLNN nhằm chống CTKLM, khi cạnh tranh là một hiện tượng tất yếu,
là động lực cho sự phát triển của thị trường Chính vì thế, trong lịch sử pháttriển của thị trường, có một thời kỳ nguyên tắc tự do cạnh tranh được để cao,tôn trọng tuyệt đối đến mức mà Nhà nước là chủ thể của quyền lực xã hộicũng không được can thiệp vào quan hệ thị trường
Từ góc nhìn khác ta còn thấy, cạnh tranh đã xuất hiện từ rất lâu đờinhưng hoạt động quản lý nhà nước cũng như hệ thống chính sách, pháp luậtcạnh tranh lại xuất hiện muộn hơn nhiều
Cũng qua lịch sử trăn trở nhiều chục năm, thậm chí cả trăm năm, củanhân loại về sự áp đặt lên thị trường một sự QLNN nhằm chống CTKLM, tathấy, cơ sở đó là:
Trang 32Thứ nhất, tự do là cái quý nhất của con người Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
nói: Không có gì quý hơn độc lập tự do
Thứ hai, nhưng có tự do còn cần có ấm no, hạnh phúc Nếu có độc lập tự
do mà không có ấm no hạnh phúc, thì độc lập tự do ấy cũng chẳng ích gì
Thứ ba, con người sống được, có được cuộc sống ấm no hạnh phúc hay
không, trước hết phải bằng chính sức lực của mình, nhưng chỉ có mình thôikhông thể có được ấm no hạnh phúc, mà nhờ vào sự cộng đồng lao độngtrong sản xuất và chiến đấu…
Thứ tư, vì thế mỗi cá thể phải quý toàn thể, quý xã hội, chỗ dựa, mà
thiếu nó, không ai có thể sống tốt về mọi mặt được
Thứ năm, sự quý trọng xã hội của mỗi cá thể phải thể hiện trên hai mặt:
- Cống hiến nhiều cho xã hội bằng lao động chân chính, sáng tạo của mình;
- Không được gây thiệt hại cho xã hội, cho người khác
Thứ sáu, CTKLM chính là thứ hành động vừa không cống hiến cho xã
hội giá trị gì, vừa làm tổn thất cho xã hội, cho con người
Qua hàng loạt hành vi bị cấm, vì bị coi là CTKLM, đã nêu ở trên, tathấy, đó toàn là hành vi không chỉ không cống hiến gì cho xã hội mà còn lànhững hành vi gây bất lợi cho xã hội
Chính trên nền tảng triết lý đó mà phải chống CTKLM
1.2.3 Nội dung quản lý nhà nước về chống hoạt động CTKLM
Để chống CTKLM, Nhà nước trong hoạt động quản lý của mình phảithực hiện các công vụ chính sau đây:
1.2.3.1 Xây dựng chuẩn mực cạnh tranh
+ Quan niệm về chuẩn mực cạnh tranh
Đó là toàn bộ các chuẩn mực hành vi SXKD có liên quan đến sự chiếnthắng của doanh nghiệp và doanh nhân này trước các doanh nghiệp và doanhnhân khác
Trang 33Để thực hiện QLNN về kinh tế, QLNN đối với doanh nghiệp, Nhà nướcđương nhiên là phải có các chuẩn mực này Nhưng đây là nói riêng về cạnhtranh, nên từ hệ các chuẩn mực chung trên, QLNN phải tập hợp riêng và banhành riêng các chuẩn mực có tính hướng định cạnh tranh lành mạnh.
+ Tác dụng của công vụ này
Việc tuyển tập và ban hành chuẩn mực này có hai tác dụng lớn:
Một là, để những người cạnh tranh luôn luôn hướng thiện Họ cần biết sự
cạnh tranh lành mạnh nhiều hơn là sự CTKLM;
Hai là, tập trung sự chú ý của doanh nghiệp và doanh nhân vào trọng
điểm khi tiến hành các hành vi sản xuất kinh doanh Điều này giống như sựlưu ý con người hành động phải hết sức lưu ý khi thực thi những thao tácquan trọng để tránh sự cố kỹ thuật hoặc tai nạn lao động
1.2.3.2 Định hình, định dạng, định dấu hiệu của các hành vi CTKLM
+ Quan niệm về Dạng, Hình, Dấu hiệu của hành vi CTKLM
Dạng, Hình, Dấu hiệu của hành vi CTKLM chính là những căn cứ pháp
lý để xác định đâu là hoạt động CTKLM Có thể nói đây được coi là đặc điểmnhận dạng hoạt động CTKLM
+ Ý nghĩa, tác dụng của công vụ này
Các dấu hiệu để nhận biết hành vi CTKLM có tác dụng nhiều mặt, điểnhình là:
Thứ nhất, đó là cái để toàn dân dễ nhận diện đối tượng phải chống
Thứ hai, đó là cái để mọi doanh nghiệp và doanh nhân biết đường sai
để tránh
Thứ ba, đó là thước đo để phân định giữa Lành mạnh và Không lành
mạnh trong cạnh tranh để khi xử lý không bị rơi vào tình trạng đưa đẩy, đôi
co, điều rất dễ xảy ra khi thẩm định sự không lành mạnh của cạnh tranh
Trang 34Thước đo này càng chính xác, Dạng, Hình, Dấu hiệu của hành vi CTKLMcàng được dựng lên rõ nét bao nhiêu, càng dễ cho việc phân định các hành vicạnh tranh phạm bấy nhiêu, nhất là khi người dân cũng tham gia chốngCTKLM.
1.2.3.3 Tuyên truyền phổ biến thường xuyên, sâu rộng các chuẩn mực CTLM
và các dấu hiệu của CTKLM
Việc này giống như việc tuyên truyền phổ biến pháp luật, để qua đó mọingười dân, mọi doanh nghiệp và thành phần trong xã hội nhận thức rõ vềnhững hành vi được coi là CTKLM
1.2.3.4 Thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm các tội phạm CTKLM
Đây cũng là một công đoạn phổ thông của mọi quá trình điều chỉnhpháp luật, và hoạt động quản lý nhà nước đã được lý luận chung về phápluật trình bày
1.2.3.5 Bảo đảm quyền tự vệ chính đáng của người bị hại do CTKLM gây ra + Quan niệm về quyền tự vệ chính đáng khi bị CTKLM tấn công
Đó là toàn bộ các hành vi nhằm cải chính, bác lại, Nhà nước bảo vệ, khi
có hành vi CTKLM của một đối thủ nào đó hướng vào mình
Sự bảo đảm của Nhà nước có nghĩa là:
- Nhà nước tạo diễn đàn cho người bị hại lên tiếng;
- Nhà nước bảo vệ người bị hại trước mọi đe dọa khi họ tố cáo
1.2.3.6 Tổ chức làm chủ cho toàn dân trong việc chống CTKLM
CTKLM vốn là hành vi phạm pháp, phạm đạo đức, lại là “căn bệnh” phổthông, nhiều doanh nghiệp và doanh nhân mắc phải
Vì thế, việc phát hiện bệnh là rất quá nặng nề đối với cơ quan côngquyền Và chỉ nhân dân, người tiêu dùng là sẽ là những người phát hiện sớmnhững hành vi CTKLM Nhưng để tai mắt nhân dân nhắm vào các hành viCTKLM, Nhà nước phải tạo điều kiện an toàn và thuận lợi về:
Trang 35- Người nghe phản ánh;
- Phương tiện truyền, báo tin phản biện;
- Sự bảo hộ cho người cung cấp tin
1.3 Kinh nghiệm về chống hoạt động cạnh tranh không lành mạnh của các nước trên thế giới
1.3.1 Kinh nghiệm của Nhật Bản
Những vấn đề về cạnh tranh nói chung và cạnh tranh không lành mạnhnói riêng của Nhật Bản được quy định cụ thể trong Luật Chống độc quyềnđược ban hành năm 1997 Đạo luật này nhằm ngăn chặn độc quyền tư nhân
và tình trạng độc quyền, những hành vi cạnh tranh không lành mạnh và các vụsáp nhập hạn chế cạnh tranh Đạo luật này được bổ sung bởi rất nhiều hướngdẫn và quy định cũng như bởi các luật khác liên quan đến các khía cạnh cạnhtranh không lành mạnh làm tổn hại đến các doanh nghiệp khác Những chínhsách cạnh tranh của nhà nước chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi các đạo luậtchuyên nghành và những miễn trừ
Tương tự như luật cạnh tranh của nhiều nước, luật chống độc quyền củaNhật Bản cấm các thỏa thuận giữa các đối thủ cạnh tranh cùng phối hợp hoạtđộng để hạn chế cạnh tranh, bao gồm các loại hợp đồng, thỏa thuận, các hành
vi phối hợp hoạt động để chi phối giá cả, hạn chế sản lượng, công nghệ pháttriển sản phẩm, phân chia thị trường, khách hàng, thông đồng trong bỏ thầuhoặc tẩy chay các đối tượng khác
Về xử lý vi phạm đối với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, luậtquy định các hình thức xử lý như lệnh chấm dứt hành động vi phạm hoặc thayđổi hành vi Đối với vi phạm về giá cả thì áp dụng phạt tiền tính theo tỷ lệ
%(6%) trong tổng doanh thu bán ra trong thời gian thỏa thuận có hiệu lực.Hình thức xử lý hình sự cũng được quy định trong luật nhưng rất hạn hữu mới
sử dụng Một hành vi được coi là vi phạm nếu xác định được nó đã cản trở
Trang 36cạnh tranh nghiêm trọng trong một lĩnh vực cụ thể hoặc là lợi ích của xã hội.
Cơ quan cạnh tranh chủ yếu dựa vào các biện pháp hướng dẫn, giáo dục đểthực thi luật Chương trình nới lỏng quy chế quy định các bộ, nghành, hiệphội có trách nhiệm tham khảo ý kiến của cơ quan cạnh tranh trước khi banhành và hủy bỏ các quy định bất hợp lý Hiệu quả của các quy định này khôngcao do đó chứng minh và xử lý trách nhiệm pháp lý đối với các hướng dẫnngầm hoặc công khai Với việc nới lỏng quy định tham gia thị trường có tácdụng khuyến khích cạnh tranh không lớn khi doanh nghiệp muốn tham giakinh doanh bị một cán bộ quyền lực cảnh báo trước Trên thực tế cơ quan luậtcủa Nhật Bản đã áp dụng một nguyên tắc không quy định chính thức: xử lýcác hành vi phản cạnh tranh về mặt nguyên tắc không coi đó là hành vi bấthợp pháp về bản chất
1.3.2 Kinh nghiệm của Hoa Kỳ
Hoa Kỳ là một nước mà chủ nghĩa tư bản đã có bước phát triển nhanhtrong thế kỷ XIX Sự tích tụ tư bản dưới hình thức Tơrớt đã làm cho một sốnghành công nghiệp ở Mỹ như sắt thép, đường, thuốc lá… rơi vào tay nhữngtập đoàn tư bản lớn Sự lạm dụng vị thế của những tập đoàn này trên thịtrường vào cuố thế kỷ XIX làm cho người dân Mỹ họ đã gây sức ép để chonhà nước phải ban hành những đạo luật chống Tơrớt với sự mở đầu bằng đạoluật Sherman năm 1890 luật Clayton năm 1914 hai luật cơ bản cho chính sáchchống Tơrớt của Mỹ
Năm 1936 luật Robinson- Patman đã ban hành và nghiêm khắc hơntrong việc xử lý các hành vi phân biệt đối xử Đến đầu năm 1980 chính sáchcạnh tranh của Mỹ được coi là chính sách chặt chẽ và nghiêm khắc nhất củathế giới Trên thực tế hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh ở Mỹ theo luậtSherman là nghiêm cấm mọi hành vi ngăn cản thương mại theo chiều ngang
và chiều dọc Theo chiều ngang, các thỏa thuận giữa các đối thủ cạnh tranh về
Trang 37những khía cạnh, cạnh tranh quan trọng như giá cả và sản lượng có thể đượccoi là phạm pháp và phải chị hình phạt rất nặng về tiền hoặc bỏ tù Tác độngthực tế hoặc sự hợp lý của giá cả hoặc phân chia thị trường được thỏa thuậnkhông được chấp nhận là lý do cho thỏa thuận chiều ngang Bản thân của cácthỏa thuận này là vi phạm pháp luật Người ta có thể áp dụng hình phạt nhẹhơn như chấm dứt hoặc dình chỉ thỏa thuận Các thỏa thuận theo chiềungang khác cũng coi như là phạm pháp nhưng tính pháp lý của chúng lại phụthuộc vào kết quả kiểm tra tức là phụ thuộc vào tác động thực tế của cạnhtranh đối với thỏa thuận Ngăn cản thỏa thuận chiều ngang thường được sửdụng để bảo đảm rằng các nghành được giải quy chế không tiếp tục thóiquen cũ của mình Sau khi giải quyết quy chế của nghành hàng không hành
về pháp lý thì mức độ xử phạt có giảm bớt vì vậy các hoạt động thỏa thuậntheo chiều ngang là các vụ kiện dân sự
Về phía pháp lý, luật pháp Mỹ về thỏa thuận chiều ngang ít hữu dụnghơn do đó khó khăn tồn tại trong việc xử lý các hành vi phối hợp âm mưungầm, ngay cả đối với ủy ban thương mại liên bang có phần linh hoạt hơn.Tuy vậy những phân tích kinh tế cẩn trọng và việc đưa ra các bằng chứng đã
hỗ trợ cho việc vần dụng thành công luật Sherman đối với các âm mưu ngầmtrong nghành hàng không sau khi được giải quy chế, đồng thời cho thấy điểmyếu này có thể vượt qua trong những trường hợp phù hợp
Trang 38Với mục tiêu nâng cao việc đảm bảo của doanh nghiệp và hạn chế phạm
vi và khả năng đưa ra quá nhiều các quyết định khác nhau của tòa án, một loạtcác phương thức xét xử của tòa án đã được xác định là án lệ, làm mẫu chonhững trường hợp xét xử sau đó (ví dụ thỏa thuận về giá, hạn chế sảnxuất….) Như vậy xu hướng mới của tòa án tối cao là mở rộng hơn các án để
xử lý những trường hợp thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
Cũng như những nước khác Mỹ đưa ra những trường hợp ngoại lệ nhưcartel xuất khẩu được pháp luật công nhận Trong đó năm 1958 luật kinh doanhchấp nhận sự hợp tác giữa các doanh nghiệp vừa và nhỏ Những doanh nghiệpnày được miễn trừ hoàn toàn về chống độc quyền, nguyên tắc hợp lý cũngđược áp dụng Các doanh nghiệp này được hưởng một hình thức miễn trừ pháp
lý nhưng thực ra không phải là miễn trừ vì hành vi miễn trừ có thể không viphạm pháp luật Một số thỏa thuận được giới hạn trong phạm vi hẹp giữa cácdoanh nghiệp nhỏ độc lập về sở hữu và quản lý Các doanh nghiệp vừa và nhỏkhông được hưởng bảo hộ về trách nhiệm pháp lý trong trường hợp là người bịkiện nhưng lại có những quy định mang lại lợi ích cho họ là người khởi kiện.Một trong các lập luận ủng hộ việc áp dụng mức bồi thường gấp ba lần thiệt hại
và trả phí luật sư, cho phép các bên cùng kiện tập thể là để khuyến khích cácdoanh nghiệp nhỏ hơn với nguồn lực ít hơn khởi kiện tư nhân
1.3.3 Kinh nghiệm EU
Ở Châu Âu mức phạt cho những hành vi cạnh tranh không lành mạnh viphạm nghiêm trọng có thể lên tới 10% doanh thu, ở những quốc gia nhưPháp, Đức, Vương quốc Anh ngoài việc phải chịu phạt rất nặng còn có thể bịkết án tù Bên cạnh đó, việc điều tra các hành vi vi phạm tại Pháp thôngthường theo hai hình thức gồm điều tra thông thường và điều tra tại hiệntrường Khi điều tra thông thường, các điều tra viên của Hội đồng cạnh tranhPháp sẽ tiếp cận các tài sản kinh doanh, đất đai, phương tiện vận tải chuyên
Trang 39dụng, yêu cầu bản sao của tất cả các chứng từ hóa đơn kể cả bản điện tử và cóthể yêu cầu thông tin từ bất kỳ nhân viên hay người đại diện nào Điều tra tạihiện trường còn gọi là những cuộc đột kích bất ngờ, việc điều tra này đượcthực hiện dưới sự kiểm soát của tòa án.
Hoạt động cạnh tranh ở Vương quốc Anh được điều chỉnh bởi các quyphạm pháp luật lần đầu tiên thông qua Luật về độc quyền và hoạt động hạnchế năm 1948 Từ đó đến nay hệ thống pháp luật về cạnh tranh ở Vương quốcAnh đã được sửa đổi, bổ sung qua các văn bản quy phạm sau Luật Thươngmại công bằng năm 1973, Luật về Toà án hành vi thương mại hạn chế năm
1976, Luật về giá bán lại năm 1976, Luật Hành vi thương mại hạn chế năm
1976, Luật Hành vi thương mại hạn chế năm 1977 Hiện nay, văn bản quyphạm pháp luật điều chỉnh hoạt động cạnh tranh ở Vương quốc Anh bao gồmLuật Thương mại công bằng năm 1973, Luật Cạnh tranh năm 1980, LuậtCạnh tranh năm 1998 Trong hệ thống luật Anh có 3 cơ quan có thẩm quyềntrong lĩnh vực cạnh tranh gồm: Ban Thương mại công bằng, Uỷ ban tư vấnbảo vệ người tiêu dùng, Uỷ ban cạnh tranh
Pháp luật của Đức về kiểm soát tập trung kinh tế và chống cạnh tranhkhông lành mạnh là những quy định chung cấm tập trung kinh tế và độcquyền có một loạt những trường hợp ngoại lệ, giảm nhẹ Trước chiến tranhthế giới II, nước Đức là nước của các tập đoàn và cartel Sau chiến tranh,những cartel bị giải tán Những tư tưởng của pháp luật chống độc quyền của
Mỹ đã có tác động mạnh đến việc xây dựng chính sách cạnh tranh ở Đức.Luật Chống hạn chế cạnh tranh ra đời năm 1957 và đã được sửa đổi, bổ sungnhiều lần Nội dung cơ bản của Luật Chống hạn chế cạnh tranh Đức bao gồmcấm cartel, kiểm soát sáp nhập và giám sát việc lạm dụng vị trí thống lĩnh.Các Luật về cạnh tranh của Đức nằm trong một hệ thống tổng thể gồm nhiềuđạo luật khác nhau Trong một số đạo Luật khác cũng có các qui định liên
Trang 40quan đến cạnh tranh nhưng cạnh tranh được bảo hộ chủ yếu bằng Luật chốnghạn chế cạnh tranh và Luật Chống cạnh tranh không lành mạnh Luật Chốnghạn chế cạnh tranh được hỗ trợ bởi Hiệp ước thiết lập Cộng đồng Châu Âu vềThan đá và Thép (Hiệp ước ECSC) và Hiệp ước thiết lập Cộng đồng Kinh tếChâu Âu (Hiệp ước EC) Các qui định về chống cạnh tranh không lành mạnhđược qui định trong Luật Chống cạnh tranh không lành mạnh và một loạt cácđạo luật liên quan như Pháp lệnh Giá, Luật Nhãn hiệu thương mại, Luật Chiếtkhấu và Hạ giá
Đối tượng áp dụng của Luật Chống hạn chế cạnh tranh Đức là các doanhnghiệp Khái niệm "doanh nghiệp" được hiểu theo nghĩa rộng, tức là bất kỳhoạt động nào trong lĩnh vực sản xuất, phân phối hàng hoá và dịch vụ Doanhnghiệp không nhất thiết phải có hình thức pháp lý cụ thể, hay phải hoạt động
vì mục đích lợi nhuận Luật áp dụng cho cả các tổ chức nghề nghiệp, các hiệphội hay các Viện Các doanh nghiệp thuộc sở hữu công cộng cũng chịu sựđiều chỉnh của Luật này trừ khi doanh nghiệp đó thuộc sự điều chỉnh của luậtcông cộng
Theo Luật Chống hạn chế cạnh tranh Đức, các giao dịch sau đây đượccoi là hợp nhất, sáp nhập: mua phần tài sản cơ bản của doanh nghiệp khác;mua cổ phần và quyền bỏ phiếu của doanh nghiệp để chiếm 25 tới 50% cổphần hoặc bảo đảm có quyền lợi chính; một số hình thức liên doanh nhấtđịnh; thoả thuận thành lập tập đoàn; hoặc tiếp tục hoạt động vì quyền lợi củadoanh nghiệp khác; hoặc chuyển lợi nhuận cho doanh nghiệp khác; hoặc chothuê hay chuyển thiết bị cho doanh nghiệp khác; Ban quản trị phối hợp (cácdoanh nghiệp có ít nhất nửa thành viên Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc làtrùng nhau) Việc hợp nhất, sáp nhập bị kiểm soát hay không phụ thuộc chủyếu vào mức vốn của công ty Vượt quá mức vốn nhất định theo qui định củaLuật này, hợp nhất, sáp nhập phải được thông báo cho cơ quan có thẩm quyền