Hội nhập và tự do hóa thương mại toàn cầu đem đến nhiều cơ hội cho sự phát triển kinh tế quốc tế, nhưng đồng thời cũng tiềm ẩn nhiều thách thức, khó khăn mà nền kinh tế của mỗi quốc gia phải đương đầu. Để nhanh chóng hội nhập vào thị trường khu vực và thế giới đòi hỏi kinh tế nói chung và ngành ngân hàng nói riêng phải đổi mới, nâng cao năng lực cạnh tranh mà trước hết là nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Bởi lẽ, hiệu quả sử dụng vốn là một vấn đề quan trọng, quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi ngân hàng. Do đó, để tìm cho mình một chỗ đứng trong môi trường cạnh tranh vốn đã quyết liệt giữa các NHTM trong nước và đặc biệt là trong thời gian tới với sự tham gia hoạt động của các ngân hàng nước ngoài với ưu thế vượt trội về vốn, công nghệ, trình độ quản lý thì đòi hỏi mỗi ngân hàng phải tìm mọi biện pháp để không ngừng nâng cao và nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng vốn. Là NHTM Nhà nước trẻ nhất, ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long (MHB) Chi nhánh Hà Nội đã trải qua một quá trình phấn đấu và nỗ lực vượt qua rất nhiều khó khăn và thử thách. Trong quá trình đó, hoạt động sử dụng vốn của MHB Hà Nội đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận, song vẫn còn khá nhiều hạn chế và tồn tại cần phải khắc phục, nhất là trong điều kiện cạnh tranh gay gắt như hiện nay. Vì vậy, có thể nói nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đang là một vấn đề cấp thiết hàng đầu để có thể nâng cao hiệu quả hoạt động và kết quả kinh doanh của ngân hàng. Xuất phát từ thực tiễn đó, học viên đã lựa chọn đi sâu vào phân tích đề tài: “Quản lý sử dụng vốn tại Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long Chi nhánh Hà Nội Thực trạng và giải pháp”.
Trang 1Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học, độc lập của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
LÊ THỊ NGUYỆT
Trang 3MHB Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu LongNHNN Ngân hàng Nhà nước
NHTM Ngân hàng thương mại
NHTW Ngân hàng Trung ương
Tech Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam
TS Tài sản
TSCĐ Tài sản cố định
VCB Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam
Trang 4Dư nợ cho vay của MHB Hà Nội giai đoạn 2008-2010
Hệ số sử dụng vốn của MHB Hà Nội giai đoạn 2010
Cơ cấu dư nợ cho vay của MHB Hà Nội giai đoạn 2010
2008-So sánh số liệu đầu tư tín dụng thực tế năm 2010 với kế hoạch được giao của MHB Hà Nội
Tình hình cho vay và thu nợ của MHB Hà Nội từ 2010
Tình hình nợ quá hạn của MHB Hà Nội giai đoạn 2010
2008-Chỉ tiêu về vòng quay vốn của MHB Hà Nội 2008-2010Đầu tư vào TSCĐ và TS khác của MHB Hà Nội từ 2008-2010
31
34
3839
Tổng dư nợ cho vay và hệ số sử dụng vốn của MHB Hà Nội 2008-2010
So sánh nợ quá hạn của MHB Hà Nội với một số ngân hàng khác
So sánh vòng quay vốn của MHB Hà Nội với một số ngân hàng khác năm 2010
3035
38
46
47
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Hội nhập và tự do hóa thương mại toàn cầu đem đến nhiều cơ hội cho sự phát triển kinh tế quốc tế, nhưng đồng thời cũng tiềm ẩn nhiều thách thức, khó khăn mà nền kinh tế của mỗi quốc gia phải đương đầu Để nhanh chóng hội nhập vào thị trường khu vực và thế giới đòi hỏi kinh tế nói chung và ngành ngân hàng nói riêng phải đổi mới, nâng cao năng lực cạnh tranh mà trước hết là nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Bởi lẽ, hiệu quả sử dụng vốn là một vấn đề quan trọng, quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi ngân hàng
Do đó, để tìm cho mình một chỗ đứng trong môi trường cạnh tranh vốn đã quyết liệt giữa các NHTM trong nước và đặc biệt là trong thời gian tới với sự tham gia hoạt động của các ngân hàng nước ngoài với ưu thế vượt trội về vốn, công nghệ, trình độ quản lý thì đòi hỏi mỗi ngân hàng phải tìm mọi biện pháp
để không ngừng nâng cao và nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng vốn
Là NHTM Nhà nước trẻ nhất, ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long (MHB)- Chi nhánh Hà Nội đã trải qua một quá trình phấn đấu và
nỗ lực vượt qua rất nhiều khó khăn và thử thách Trong quá trình đó, hoạt động sử dụng vốn của MHB Hà Nội đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận, song vẫn còn khá nhiều hạn chế và tồn tại cần phải khắc phục, nhất là trong điều kiện cạnh tranh gay gắt như hiện nay Vì vậy, có thể nói nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đang là một vấn đề cấp thiết hàng đầu để có thể nâng cao hiệu quả hoạt động và kết quả kinh doanh của ngân hàng
Xuất phát từ thực tiễn đó, học viên đã lựa chọn đi sâu vào phân tích đề
tài: “Quản lý sử dụng vốn tại Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông
Cửu Long- Chi nhánh Hà Nội- Thực trạng và giải pháp”.
2 Mục đích nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu nhằm đạt được 3 mục đích cơ bản sau:
Trang 6Thứ nhất: Hệ thống hóa các lý luận chung về NHTM và công tác quản lý
sử dụng vốn của NHTM
Thứ hai: Đi sâu vào phân tích thực trạng tình hình sử dụng vốn của
MHB- Chi nhánh Hà Nội, thấy được những ưu điểm cũng như những hạn chế còn tồn tại trong công tác quản lý vốn của ngân hàng
Thứ ba: Đề xuất một số giải pháp tăng cường quản lý nhằm giúp ngân
hàng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, từ đó nâng cao kết quả kinh doanh
3 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Các phạm trù liên quan đến hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng
Phạm vi nghiên cứu: Hiệu quả sử dụng vốn tại Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long- Chi nhánh Hà Nội giai đoạn 2008-2010
4 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như: duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, so sánh, thống kê, phân tích các chỉ số Trong đó, chủ yếu là phương pháp so sánh dựa trên cơ sở số liệu trên các báo cáo tài chính và thông tin thu thập được từ việc phỏng vấn trực tiếp nhân viên của chi nhánh
5 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục bảng, biểu, tài liệu tham khảo, luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1: Ngân hàng thương mại và công tác quản lý sử dụng vốn
của Ngân hàng thương mại.
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý sử dụng vốn tại ngân hàng
phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long- Chi nhánh
Hà Nội trong giai đoạn 2008-2010.
Chương 3: Giải pháp tăng cường quản lý nhằm nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn tại ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long.
Trang 7Chương 1 NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ
SỬ DỤNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Khái quát chung về ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm NHTM
Ngân hàng là một trong những ngành hình thành lâu đời nhất Cùng với
sự phát triển của xã hội, ngành ngân hàng cũng ngày càng phát triển Ở giai đoạn đầu, ngân hàng mới chỉ thực hiện những nghiệp vụ đơn giản, phục vụ nhu cầu xã hội, đó là giữ hộ của cải và thanh toán hộ Đến nay, hoạt động của ngân hàng đã được phát triển mạnh với nhiều lĩnh vực kinh doanh, dịch vụ và công nghệ ngày càng hiện đại thông qua sự phát triển không ngừng của nền kinh tế xã hội
Trong nền kinh tế, NHTM đóng vai trò là trung gian tài chính, là chiếc cầu chuyển tải những nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội đến tay những người
có nhu cầu và có khả năng đẩu tư sinh lợi Nó giống như “ hệ tuần hoàn “ tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển thuận lợi hơn Trong khi thực hiện vại trò trung gian chuyển vốn từ người cho vay sang người đi vay, các NHTM đã tạo
ra những công cụ tài chính thay thế tiền làm phương tiện thanh toán Nhờ các công cụ này mà đại bộ phận tiền giao dịch trong nền kinh tế chu chuyển thông qua ngân hàng, gắn các nhu cầu về lưu thông tiền tệ - thanh toán trong nước
và quốc tế lại với nhau
Tóm lại, NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu
và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng và sử dụng số tiền đó để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán.
1.1.2 Đặc trưng hoạt động kinh doanh của NHTM
NHTM là một doanh nghiệp, nhưng khác với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt, kinh
Trang 8doanh trên lĩnh vực tiền tệ- tín dụng xuất phát từ những đặc trưng hoạt động kinh doanh của NHTM:
Thứ nhất: NHTM là chủ thể thường xuyên nhận và kinh doanh tiền gửi :
Thật vậy! Xem xét đến bảng cân đối tài sản của NHTM thì vốn tiền gửi luôn luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn của ngân hàng và khoản chi phí lớn nhất của ngân hàng là khoản chi phí trả lãi Ở một khía cạnh khác, cũng trong bảng cân đối tài sản của NHTM, ta thấy khoản mục cho vay và đầu tư tài chính của ngân hàng là các khoản thu từ hoạt động cho vay và đầu
tư tài chính Điều này chứng tỏ, NHTM là chủ thể thường xuyên nhận và kinh doanh tiền gửi
Thứ hai: Trong quá trình hoạt động của mình, NHTM tạo ra những công
cụ tài chính thay thế tiền tệ làm phương tiện thanh toán Nhờ các công cụ này
mà đại bộ phận tiền giao dịch trong nền kinh tế chu chuyển thông qua ngân hàng gắn các nhu cầu về lưu thông tiền tệ - thanh toán trong nước và quốc tế lại với nhau Do đó, hoạt động của NHTM gắn bó mật thiết với hệ thống thanh toán của mỗi quốc gia, đồng thời có mối liên hệ quốc tế rộng rãi
Thứ ba: Hoạt động của NHTM phong phú, đa dạng và có phạm vị rộng
lớn Sự phong phú, đa dạng thể hiện ở sản phẩm dịch vụ ngân hàng: không chỉ dừng lại ở những dịch vụ truyền thống mà còn không ngừng đưa vào những sản phẩm, dịch vụ mới nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng Sự phong phú, đa dạng còn thể hiện ở đối tượng khách hàng của ngân hàng Khách hàng là doanh nghiệp, là cá nhân, hộ gia đình, các tổ chức, đoàn thể… Và phạm vi hoạt động rộng lớn thể hiện ở mạng lưới chi nhánh của các ngân hàng Để có thể tận dụng triệt để các khoản huy động và cho vay đối với khách hàng thì các ngân hàng cần phải mở rộng mạng lưới chi nhánh của mình Mạng lưới chi nhánh càng rộng lớn thì việc huy động và cho vay của ngân hàng càng dễ dàng
Trang 9Thứ tư: Hoạt động kinh doanh của NHTM luôn tiềm ẩn rủi ro Đối với
bất kỳ một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nào thì rủi ro là điều không tránh khỏi Nhưng riêng đối với ngân hàng- một doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ- tín dụng thì rủi ro là đặc trưng trong hoạt động kinh doanh của nó Bởi vì, hoạt động kinh doanh của NHTM rất nhạy cảm với những biến đổi của nền kinh tế Ngân hàng có thể gặp rủi ro khi khách hàng vay vốn không trả được nợ hay tình trạng thiếu tiền mặt ở một mức độ nào đó
có thể dẫn đến việc người gửi tiền đồng loạt rút vốn và cuối cùng là ngân hàng bị phá sản… Nói tóm lại, ngân hàng phải đương đầu với rất nhiều rủi ro, trong đó, 4 loại rủi ro thường gặp là: rủi ro lãi suất, rủi ro hối đoái, rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng
1.2 Công tác quản lý sử dụng vốn của NHTM
1.2.1 Vốn của NHTM
Vốn của NHTM là những giá trị tiền tệ do NHTM tạo lập hoặc huy động được; dùng để cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác.Thực chất, nguồn vốn của NHTM là một bộ phận thu nhập quốc dân tạm thời nhàn rỗi trong quá trình sản xuất, phân phối và tiêu dùng mà khách hàng gửi vào ngân hàng để thực hiện các mục đích khác nhau Họ chuyển quyền
sử dụng vốn tiền tệ cho ngân hàng để ngân hàng trả cho họ một khoản thu nhập nhất định gọi là lãi suất tiền gửi Và như vậy, ngân hàng đã thực hiện vai trò tập trung và phân phối lại vốn dưới hình thức tiền tệ làm tăng nhanh quá trình luân chuyển vốn, phục vụ và kích thích mọi hoạt động kinh
tế phát triển Đồng thời chính các hoạt động đó quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng
Với chức năng và nhiệm vụ của mình, các NHTM đã tập trung huy động những nguồn vốn nhàn rỗi từ các tầng lớp dân cư trong xã hội vào ngân hàng góp phần ổn định lưu thông tiền tệ, bảo vệ giá trị đồng tiền và hạn chế lạm
Trang 10phát Đồng thời trên cơ sở số vốn huy động được, ngân hàng tiến hành cho vay để thực hiện nhu cầu phát triển sản xuất – kinh doanh, cho các mục tiêu kinh tế của địa phương và của cả nước Trong thời kỳ phát triển kinh tế hiện nay, nghiệp vụ huy động vốn của ngân hàng ngày càng mở rộng, tạo uy tín cho ngân hàng và tạo thế chủ động để ngân hàng phát triển các hoạt động kinh doanh của mình, mở rộng quan hệ tín dụng với các thành phần kinh tế và dân cư, mang lợi ích cho khách hàng và lợi nhuận cho ngân hàng Vì vậy, các NHTM cần phải căn cứ vào mục tiêu, chiến lược phát triển kinh tế của đất nước, của địa phương và nghiên cứu các nhu cầu gửi tiền của khách hàng để
từ đó đưa ra các loại hình huy động vốn phù hợp nhằm đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế và sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước
Vốn của NHTM bao gồm:
a Vốn huy động
Vốn huy động là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động được từ các tổ chức và cá nhân trong xã hội thông qua quá trình thực hiện nghiệp vụ tín dụng, thanh toán và các nghiệp vụ kinh doanh khác Đây là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn kinh doanh của ngân hàng.Vốn huy động bao gồm:
* Tiền gửi
Tiền gửi tại NHTM bao gồm tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi không kỳ hạn
- Tiền gửi không kỳ hạn (còn được gọi là Tiền gửi thanh toán): là loại tiền gửi mà người gửi có thể rút ra bất cứ lúc nào và ngân hàng phải thoả mãn yêu cầu đó của khách hàng Do tính chất đó mà loại tiền gửi này có lãi suất thấp hoặc không được trả lãi
- Tiền gửi có kỳ hạn: là loại tiền gửi có sự thoả thuận trước giữa khách hàng và ngân hàng về thời gian rút tiền Đại bộ phận tiền gửi này có nguồn gốc từ tích luỹ và xét về bản chất chúng được ký thác với mục đích hưởng lãi
Trang 11Về cơ bản, các khoản tiền gửi có kỳ hạn không được sử dụng để tiến hành thanh toán như các khoản trả bằng vốn trên tài khoản vãng lai Thông thường, tiền gửi có kỳ hạn là các khoản tiền gửi có thời hạn dài và có lãi suất cao Tiền gửi có kỳ hạn giữ vị trí trung gian giữa tiền gửi thanh toán va tiền gửi tiết kiệm Đây là nguồn tiền tương đối ổn định, ngân hàng có thể sử dụng phần lớn tồn khoản vào kinh doanh Chính vì vậy, các NHTM luôn tìm cách
đa dạng hoá loại tiền gửi này bằng cách áp dụng nhiều kỳ hạn với mức lãi suất khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng
* Tiền gửi tiết kiệm
Xét về bản chất, đây là một phần thu nhập của cá nhân người gửi lao động chưa sử dụng cho tiêu dùng Họ gửi vào ngân hàng với mục đích tích luỹ tiền một cách an toàn và hưởng một phần lãi từ số tiền đó, tiền gửi tiết kiệm của dân cư bao gồm :
- Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn :
Đây là loại tiền gửi mà khách hàng có thể rút ra bất cứ lúc nào, song không được sử dụng các công cụ thanh toán để chi trả cho người khác
- Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn :
Là khoản tiền có sự thoả thuận về thời hạn và rút tiền, có mức lãi suất cao hơn so với tiền gửi không kỳ hạn
* Vốn huy động từ các nguồn khác
Bên cạnh phương thức nhận tiền gửi, các NHTM còn phát hành chứng chỉ tiền gửi và trái phiếu Thực chất các nghiệp vụ này là huy động vốn tiền tệ bằng việc phát hành các giấy tờ có giá Trong đó, chứng chỉ tiền gửi là phiếu
nợ ngắn hạn với mệnh giá quy định ; trái phiếu là loại trung và dài hạn Hai loại phiếu nợ trên được ngân hàng phát hành từng đợt, tuỳ theo mục đích với
sự chấp thuận của NHTW hoặc Hội đồng chứng khoán quốc gia Đối với những hình thức này thường có lãi suất cao hơn so với các loại tiền gửi tiết
Trang 12kiệm và các loại hình được huy động vốn theo từng sáng kiến của mỗi ngân hàng Với hình thức này, ngân hàng chủ động về mặt thời hạn hoàn trả, do đó,
có thể sử dụng cho vay theo những nhu cầu hiện tại của mình
b Vốn tự có
Vốn tự có của NHTM là những giá trị tiền tệ do ngân hàng tạo lập được, thuộc sở hữu của ngân hàng Vốn này chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân hàng (khoảng dưới 10%), song lại là điều kiện pháp lý bắt buộc khi thành lập một ngân hàng Do tính chất thường xuyên ổn định của vốn tự
có, ngân hàng có thể chủ động sử dụng vào các mục đích khác nhau như: trang bị cơ sở vật chất, mua sắm tài sản cố định (văn phòng, kho tàng, máy móc…) phục vụ cho bản thân ngân hàng, cho vay và đặc biệt là tham gia đầu
tư, góp vốn liên doanh Mặt khác, với chức năng bảo vệ, vốn tự có được coi như tài sản đảm bảo tạo lòng tin đối với khách hàng, duy trì khả năng thanh toán trong trường hợp ngân hàng gặp thua lỗ Nó còn là một trong những căn cứ quyết định đối với khả năng và khối lượng huy động của ngân hàng Như vậy, quy mô, sự tăng trưởng của vốn tự có sẽ quyết định đến năng lực và thế phát triển của NHTM
Vốn tự có của NHTM bao gồm các thành phần sau:
Trang 13đầu của NHTM Chính vì vậy tuỳ theo từng quốc gia sẽ có quy định riêng về mức vốn điều lệ tối thiểu của một NHTM Ở nước ta theo quy định tại điều 19 Luật các tổ chức tín dụng: Tổng dư nợ cho vay đối với khách hàng không quá 15% vốn tự có của tổ chức tín dụng Như vậy, nếu NHTM có vốn điều lệ lớn hơn sẽ có vốn tự có lớn, cho vay được nhiều vốn hơn đối với một khách hàng.
Trong trường hợp vốn đi vay từ các TCTD khác tiếp tục không đáp ứng được cho nhu cầu sử dụng của NHTM thì NHTM sẽ đi vay của NHTW Tuỳ theo mục đích sử dụng và hình thức vay vốn, vốn vay NHTW được chia thành các loại: Vốn vay ngắn hạn bổ sung, vay để thanh toán và tái cấp vốn
* Vốn vay ngắn hạn bổ sung
Là hình thức các NHTM xin vay vốn để bổ sung vốn ngắn hạn của mình
Trang 14Trong hình thức vay này, các NHTM chỉ được vay khi còn hạn mức tín dụng
và trong hạn mức tín dụng đã thoả thuận
* Vốn vay để thanh toán
Các NHTM vay NHTW nhằm bù đắp thiếu hụt tạm thời trong công tác thanh toán giữa các ngân hàng
* Tái cấp vốn
NHTW cho các NHTM vay trên cơ sở chứng từ có giá Các chứng từ này phải là chứng từ có chất lượng, tức phải thoả mãn những điều kiện: hợp pháp, hợp lệ, đảm bảo an toàn Tái cấp vốn bao gồm hai hình thức:
- Cho vay tái chiết khấu: NHTW nhận các chứng từ có giá trị mà các NHTM đã chiết khấu trước đây để thực hiện các nghiệp vụ giống như các NHTM đã làm Tuy nhiên, việc cho vay tái chiết khấu đối với các NHTM đã được giới hạn trong mức cho phép (hạn mức tái chiết khấu) để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia
- Cho vay có đảm bảo: Là hình thức các NHTM đem các chứng từ có giá trị đến NHTW để làm đảm bảo xin vay vốn Căn cứ trên tổng mệnh giá các chứng từ có giá trị làm đảm bảo, NHTW sẽ cho vay theo tỷ lệ nhất định tuỳ theo sự quản lý của Nhà nước
d Vốn khác
Trong quá trình làm trung gian thanh toán, NHTM cũng tạo được một khoản vốn được gọi là vốn trong thanh toán: vốn trên tài khoản mở thư tín dụng, tài khoản tiền gửi sec bảo chi, sec định mức và các khoản tiền phong tỏa do ngân hàng chấp nhận các hối phiếu thương mại Thông qua nghiệp vụ đại lý, NHTM cũng thu hút được một lượng vốn đáng kể trong quá trình thu hoặc chi hộ khách hàng, làm đại lý cho tổ chức tín dụng, nhận và chuyển vốn cho khách hàng hay một dự án đầu tư
Trang 151.2.2 Hoạt động sử dụng vốn của NHTM
Hoạt động sử dụng vốn là hoạt động phản ánh quá trình sử dụng vốn vào các mục đích của ngân hàng nhằm tìm kiếm lợi nhuận cũng như đảm bảo an toàn của ngân hàng Nó là việc chuyển hóa tiền gửi và vốn thành tài sản dự trữ và các tài sản có khác sinh lời
Sử dụng vốn của NHTM được thể hiện trên bảng cân đối tài sản, phản ánh giá trị tài sản có của ngân hàng, bao gồm: Hoạt động dự trữ và thanh toán, hoạt động tín dụng, hoạt động đầu tư và các hoạt động khác
a Hoạt động dự trữ và thanh toán
Theo quy định, các NHTM và các tổ chức nhận tiền gửi bao giờ cũng duy trì một phần tài sản của mình dưới hình thức dự trữ pháp định bao gồm tiền mặt hoặc số dư trên tài khoản ở NHTW nhằm đáp ứng nhu cầu rút tiền, thoả mãn nhu cầu tín dụng và cung cấp các hoạt động khác từ phía khách hàng Hoạt động dự trữ và thanh toán bao gồm:
* Dự trữ pháp định
Mức dự trữ pháp định do tổ pháp luật quy định được áp dụng cho tất cả các ngân hàng, các tổ chức nhận tiền gửi Dự trữ pháp định là một trong số vốn mà NHTM thu được để gửi vào một tài khoản của NHNN
* Tiền mặt tại quỹ
Là khối lượng tiền do ngân hàng giữ tại các kho của mình Mặc dù số tiền này được xem như một phần của các tài sản dự trữ pháp định, các nhà quản lý ngân hàng luôn cố gắng giữ nó càng ít càng tốt vì lý do an toàn và giảm bớt chi phí, bảo quản tiền mặt khỏi bị hư hỏng Chính vì vậy mà nhu cầu
dự trữ tiền mặt của các ngân hàng thường khác nhau, phụ thuộc vào những đặc điểm riêng của từng ngân hàng, từng khu vực Dự trữ tiền mặt tạm thời gia tăng ở một vài thời điểm mà ngân hàng có thể dự kiến được trước trong tương lai như dịp lễ tết, cuối năm, kỳ nghỉ… khi mà khách hàng có nhu cầu chi tiêu cao hơn mức bình thường
Trang 16Ngoài ra, địa điểm đặt trụ sở của ngân hàng cũng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới quy mô của khối lượng tiền mặt tại quỹ Với các ngân hàng nằm ở vị trí tương đối xa NHNN, buộc họ phải giữ nhiều tiền mặt tại quỹ hơn so với các ngân hàng gần nguồn cung ứng tiền mặt Vì vậy, khi khách hàng của họ có nhu cầu rút tiền ngay, với khối lượng lớn thì sẽ rất khó khăn cho ngân hàng trong việc làm cho vừa lòng họ Chính vì vậy mà các ngân hàng ở khu vực nông thôn thường giữ nhiều tiền mặt hơn so với các ngân hàng ở thành phố có địa điểm thuận lợi.
*Tiền mặt ở các ngân hàng khác
Với mục đích đa dạng hoá các hoạt động của mình, các NHTM thường gửi tiền ở các ngân hàng khác nhằm thuận tiền trong quá trình thanh toán giữa các khách hàng của mình với các ngân hàng này cũng như các khách hàng của
họ và ngược lại giữa các khách hàng của ngân hàng khác với ngân hàng mình Ngoài ra, việc mở tài khoản ở ngân hàng khác cũng nhằm cung cấp các dịch
vụ hưởng hoa hồng giúp tăng thêm thu nhập cho ngân hàng
b Hoạt động tín dụng
Tín dụng đóng vai trò quan trọng nhất trong danh mục các khoản sử dụng vốn của ngân hàng, là hoạt động sinh lời chủ yếu của các NHTM Tín dụng là một giao dịch về tài sản giữa bên cho vay (Ngân hàng và các định chế tài chính) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận Bên đi vay có trách nhiệm phải hoàn trả cả gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn
Việc phân loại tín dụng dựa vào các căn cứ sau đây:
* Căn cứ theo mục đích sử dụng vốn vay của từng khách hàng có thể chia thành:
- Cho vay bất động sản: Là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm, xây dựng bất động sản như: nhà cửa, đất đai, bất động sản trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ
Trang 17- Cho vay công nghiệp và thương mại: Là loại cho vay ngắn hạn để bổ sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ.
- Cho vay nông nghiệp: Là loại cho vay để trang trải các chi phí phục vụ cho hoạt động nông nghiệp như: phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc
- Cho vay các định chế tài chính: bao gồm cấp tín dụng cho các ngân hàng, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, công ty bảo hiểm, quỹ tín dụng nhân dân và các định chế tài chính khác
- Cho vay cá nhân: Là loại hình cho vay để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng như mua sắm các vật dụng đắt tiền, các khoản cho vay để trang trải các chi phí thông thường của đời sống
- Cho thuê: Cho thuê các định chế tài chính bao gồm 2 loại: cho thuê vận hành và cho thuê tài chính Cho thuê tài chính là hoạt động tín dụng trung - dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài sản giữa bên cho thuê là tổ chức tín dụng với khách hàng thuê, theo đó, ngân hàng chuyển giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho khách hàng sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định và khách hàng phải có nghĩa vụ hoàn trả tiền thuê theo cam kết đã ghi trong hợp đồng
* Căn cứ theo kỳ hạn cho vay có thể chia thành:
- Cho vay ngắn hạn: Đây là khoản cho vay thường có thời hạn dưới một năm được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của các cá nhân Cho vay ngắn hạn được thực hiện trong một thời gian nhất định hoặc trên cơ sở theo yêu cầu Cho vay ngắn hạn theo yêu cầu là khoản vay không có kỳ hạn nhất định và được dùng để tài trợ tạm thời cho hoạt động sản xuất kinh doanh
Trang 18- Cho vay trung hạn: Là khoản cho vay có thời hạn từ 1 đến 5 năm Tín dụng trung hạn chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc mua mới máy móc, trang thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh Hơn nữa, cho vay trung hạn còn là nguồn hình thành vốn lưu động thường xuyên của các doanh nghiệp (đặc biệt là những doanh nghiệp mới thành lập).
- Cho vay dài hạn: Là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm và thời hạn tối
đa có thể lên đến 20- 30 năm Tín dụng dài hạn được cung cấp để đáp ứng các nhu cầu dài hạn như: xây nhà ở, các thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng xí nghiệp mới Đối với các khoản vay dài hạn, khách hàng có thể yên tâm về thời gian sử dụng động vốn trong sản xuất kinh doanh
* Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng có thể chia thành:
- Cho vay có bảo đảm:
Cho vay có bảo đảm là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm như thế chấp hoặc cầm cố, hoặc phải có sự bảo lãnh của người thứ ba Đối với khách hàng không có uy tín cao đối với ngân hàng khi vay phải có bảo đảm Lý do thực tế đòi hỏi một khoản cho vay phải được bảo đảm là nhằm tạo điều kiện
để ngân hàng giảm bớt rủi ro, mất mát trong trường hợp người vay không muốn hoặc không có khả năng hoàn trả nợ khi đáo hạn
Theo pháp luật hiện hành, một NHTM có thể cho khách hàng vay tới 70% giá trị vật được thế chấp Điều này có nghĩa là NHTM có thể thu hồi về toàn bộ số vốn và lãi vay đã cho vay nếu phát mại tài sản thế chấp trong trường hợp khách hàng không có khả năng trả nợ khoản vay Theo góc độ đó
có thể thấy hoạt động cho vay này của ngân hàng rất an toàn, vì vậy đây là hình thức cho vay khá phổ biến ở các NHTM nước ta hiện nay
- Cho vay không có bảo đảm:
Khác với cho vay có bảo đảm, cho vay không có bảo đảm được thực hiện dựa trên sự tín nhiệm và tình hình tài chính của người vay, lợi tức có thể
Trang 19thu được trong tương lai và tình hình trả nợ trước đây Khách hàng thường là những công ty lớn, có danh tiếng trên thị trường, quản lý có hiệu quả, có các sản phẩm được thị trường chấp nhận, có lợi nhuận ổn định và có tình hình tài chính vững mạnh Trong trường hợp này, khách hàng phải cung cấp cho ngân hàng đầy đủ và chính xác các báo cáo kinh doanh của một hoặc một số năm gần đây, đồng thời phải có phương hướng, dự án hiệu quả trong tương lai để ngân hàng nắm rõ tình hình tài chính và sự tiến bộ của họ, từ đó ngân hàng chấp nhận và cấp các khoản vay không bảo đảm Ngoài ra, những cá nhân có thu nhập ổn định, trả nợ song phẳng… cũng sẽ được vay không cần bảo đảm, thế chấp.
Hình thức vay này đã được các NHTM nước ta chú ý tới như cho vay đối với cán bộ nhân viên có ý kiến xác nhận và cam kết của thủ trưởng cơ quan, đơn vị; cho vay hộ nông dân có ruộng đất với sự xác nhận hoặc tín chấp của hộ nông dân; cho vay sinh viên… Đặc biệt là các NHTM có sự liên doanh với nước ngoài và ngân hàng chính sách - xã hội đã bắt đầu mạnh dạn cho các
tổ chức, cá nhân kinh doanh nếu họ có được các dự án mà theo đánh giá của ngân hàng là có thể đem lại hiệu quả cho chính cá nhân và cho toàn bộ nền kinh tế
* Căn cứ theo phương thức hoàn trả, khoản mục tín dụng được phân thành:
- Cho vay hoàn trả một lần: Là loại cho vay thanh toán một lần theo thời hạn đã thoả thuận Những khoản cho vay hoàn trả một lần thường là những khoản cho vay thẳng, nghĩa là hợp đồng yêu cầu trả vốn một lần vào thời gian đáo hạn cuối cùng Những khoản lãi có thể được trả vào các thời điểm khác nhau hoặc trả khi đúng hạn Những khoản cho vay một lần thường là những khoản cho vay ngắn hạn
- Cho vay hoàn trả nhiều lần: Cho vay hoàn trả nhiều lần đòi hỏi việc hoàn trả theo những thời điểm nhất định và được thực hiện theo nguyên tắc
Trang 20trả dần trong suốt kỳ hạn thực hiện hợp đồng tín dụng Nhờ vậy việc hoàn trả dần không trở thành gánh nặng lớn đối với người vay trong trường hợp toàn
bộ khoản vay phải được trả một lần, tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng chủ động trong sản xuất - kinh doanh
* Căn cứ theo xuất xứ tín dụng có thể chia thành:
- Cho vay trực tiếp: Là việc ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu, đồng thời người đi vay hoàn trả nợ trực tiếp cho ngân hàng
- Cho vay gián tiếp: Là khoản cho vay được thực hiện thông qua việc mua lại các khế ước hoặc chứng từ nợ đã phát sinh hoặc còn trong thời hạn thanh toán Hiện nay, ngân hàng thực hiện những hình thức cho vay gián tiếp như: chiết khấu thương mại, mua các phiếu bán hàng tiêu dùng và máy móc công nghiệp trả góp, mua các khoản nợ thương mại…
* Căn cứ theo nguồn gốc khách hàng có:
- Cho vay đối với Chính phủ: Là các khoản vay mà Nhà nước vay của ngân hàng dưới hình thức phát hành tín phiếu kho bạc và trái phiếu chính phủ
để bù đắp thiếu hụt ngân sách
- Cho vay ngân hàng và các tổ chức tài chính: Là những khoản vay mà ngân hàng cho các ngân hàng khác vay nhằm giải quyết tình trạng thiếu vốn tại các ngân hàng đó và đồng thời cũng phần nào giải quyết được lượng vốn lớn huy động từ trong dân cư
- Cho vay các doanh nghiệp: Là khoản vay mà các doanh nghiệp được ngân hàng cho vay để đầu tư xây dựng nhà máy, mua sắm trang thiết bị, mở rộng sản xuất kinh doanh Các khoản vay này thường là các khoản tín dụng trung và dài hạn
- Cho vay cá nhân kinh doanh: Là hình thức cho vay đối với các cá nhân
có nhu cầu vay vốn để sản xuất kinh doanh
Trang 21c Hoạt động đầu tư
Đây là một trong những nội dung quan trọng của sử dụng vốn, giúp ngân hàng khai thác, sử dụng tối đa các nguồn vốn đã huy động, mang lại nguồn thu nhập quan trọng cho NHTM, đặc biệt là thực hiện những khoản cho vay tài trợ đối với hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp, chi tiêu của các thành viên trong xã hội Những khoản cho vay này tạo công ăn việc làm cho rất nhiều người, trong đó, bao gồm cả người vay vốn và cả những người được hưởng lợi gián tiếp từ các hoạt động cho vay Song, đối với những ngân hàng vừa và nhỏ, họ không sử dụng toàn bộ vốn huy động để đầu tư và các khoản đẩu tư của họ chủ yếu chỉ tập trung trong địa phận nơi ngân hàng đặt trụ
sở Bởi những tài khoản cho vay thuộc nhóm tài sản có của ngân hàng được tập trung vào 2 loại, gồm đầu tư cho doanh nghiệp và đầu tư chứng khoán
- Đầu tư cho vay doanh nghiệp: là hình thức ngân hàng cho doanh nghiệp vay vốn dưới hình thức tài trợ hoặc đồng tải trợ Thông qua họat động mua cổ phần đầu tư vào các doanh nghiệp, ngân hàng có thể kiểm soát được hoạt động của doanh nghiệp, tham gia quản lý hoặc cùng tham gia với các đối tác kinh doanh khác
- Đầu tư chứng khoán: là hoạt động mua, bán các công cụ tài chính trên thị trường chứng khoán với mục đích thu lợi nhuận từ hoạt động đầu tư này Các khoản đầu tư chứng khoán có thể trao đổi trên thị trường, đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của ngân hàng Chứng khoán cung cấp nguồn thu nhập bổ sung cho ngân hàng Thêm vào đó, khoản đầu tư chứng khoán còn cung cấp nguồn thanh khoản cho ngân hàng, hỗ trợ nguồn tiền mặt và nguồn tiền vay từ thị trường tiền tệ khi ngân hàng phải đáp ứng nhu cầu thanh khoản với quy mô lớn
Thông thường, ngân hàng đầu tư vào nhiều loại chứng khoán khác nhau bao gồm: tín phiếu và trái phiếu chính phủ, tín phiếu và trái phiếu công ty, các loại chứng khoán nợ khác và một số cổ phiếu được pháp luật cho phép
Trang 22Đầu tư vào chứng khoán là một nghiệp vụ chứa đựng nhiều rủi ro, vì vậy trong quá trình ra quyết định lựa chọn loại chứng khoán để đầu tư, ngân hàng cần phải cân nhắc thật kỹ lưỡng những yếu tố quan trọng như tỷ lệ thu nhập, rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản, rủi ro lạm phát…
d Hoạt động khác
Bằng các hoạt động khác trên thị trường như: kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc và kim khí, đá quý, thực hiện các dịch vụ tư vấn, dịch vụ ngân quỹ; nghiệp vụ uỷ thác và đại lý; kinh doanh và dịch vụ bảo hiểm; các dịch vụ khác liên quan đến hoạt động ngân hàng như: dịch vu bảo quản hiện vật quý, giấy tờ có giá, cho thuê két sắt, cầm đồ và các dịch vụ khác theo quy định của pháp luật mà các ngân hàng cũng thu được những khoản lợi nhuận đáng kể
1.2.3 Hiệu quả sử dụng vốn của NHTM
1.2.3.1.Khái niệm
Trong điều kiện kinh tế thị trường với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt, thì vấn đề đặt ra đối với nhà quản trị doanh nghiệp cũng như những nhà quản trị ngân hàng là phải làm sao mà đồng vốn bỏ ra được sử dụng hiệu quả nhất
Do đặc thù của ngành ngân hàng mà quan điểm về hiệu quả sử dụng vốn được hiểu là :
Hiệu quả sử dụng vốn là một phạm trù phản ánh trình độ và khả năng thực hiện công tác sử dụng vốn nhằm đạt được lợi nhuận cao nhất với chi phí và rủi ro là thấp nhất có thể Có nghĩa là: về mặt số lượng, hoạt động
sử dụng vốn biểu hiện giữa kết quả đạt được (số lượng, thời gian) với chi phí bỏ ra Còn về mặt chất lượng, nó phản ánh năng lực, trình độ quản lý của ngân hàng.
1.2.3.2.Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của NHTM
Đối với một NHTM, hoạt động đầu tư, cho vay không những mang lại nguồn thu nhập chủ yếu cho ngân hàng mà đồng thời nó còn đóng vai trò
Trang 23quan trọng nhất trong quá trình phát triển, mở rộng phạm vi kinh doanh, tăng trưởng nguồn vốn và đạt được những mục tiêu đề ra của ngân hàng Bởi vậy,
để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn, ta cần tập trung nghiên cứu hai nhóm các chỉ tiêu sau:
1.2.3.2.1 Chỉ tiêu về quy mô đầu tư và cho vay
a Doanh số cho vay
Đây là chỉ tiêu cơ bản để đánh giá khái quát đối với những khoản vay của NHTM tại một thời điểm xác định Với chỉ số này, chúng ta biết được khả năng luân chuyển và sử dụng vốn, đồng thời cũng phản ánh quy mô đầu tư và khả năng cho vay nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định của một NHTM Ngoài ra, doanh số cho vay còn là cơ sở để có thể xác định chính xác vòng quay vốn tín dụng ngắn hạn của ngân hàng
b Dư nợ cho vay
Dư nợ cho vay là số tiền mà ngân hàng cho khách hàng vay tại thời điểm cuối kỳ kế hoạch, phản ánh số vốn đầu tư và cho vay của ngân hàng chưa thu hồi được
Tổng số vốn sử dụng
Hệ số sử dụng vốn = x 100%
Tổng nguồn vốn
Trang 24dụng chưa cao so với tổng nguồn vốn huy động, điều này sẽ làm tăng chi phí của ngân hàng như: chi phí cơ hội, chi phí bảo quản tiền mặt, chi phí trả lãi tiền gửi…
1.2.3.2.2 Chỉ tiêu chất lượng tín dụng
a Tỷ lệ nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn là chỉ tiêu cơ bản cho biết chất lượng một khoản vay và khả năng đảm bảo được khoản vay đó tại một thời điểm trong kỳ kế hoạch Thực chất
nó là một trong những yếu tố để đánh giá tính chất, trình độ nghiệp vụ của một cán
bộ tín dụng, đồng thời gián tiếp thể hiện hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng cũng như tình hình biến động chung của nền kinh tế
Tỷ lệ nợ quá hạn càng cao chứng tỏ chất lượng tín dụng của ngân hàng càng thấp, làm ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn của ngân hàng Do đó, để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn thì các NHTM phải tìm mọi biện pháp để giảm tỷ lệ nợ quá hạn
b Vòng quay vốn
Vòng quay vốn càng cao, chứng tỏ nguồn vốn vay ngân hàng đã luân chuyển nhanh, tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất và lưu thông hàng hoá Với một số lượng vốn nhất định, nhưng do tốc độ vòng quay vốn tín dụng nhanh nên ngân hàng đã đáp ứng được nhu cầu vốn trong doanh nghiệp, mặt khác, ngân hàng có vốn để đầu tư cho các doanh nghiệp khác thực hiện sản xuất kinh doanh
Trang 25Như vậy, để đánh giá hiệu quả hoạt động sử dụng vốn các NHTM phải thông qua một hệ thống các chỉ tiêu đánh giá quy mô và chất lượng sử dụng vốn của ngân hàng trong kỳ kế hoạch Trên cơ sở số liệu của các chỉ tiêu trên, các nhà quản trị NHTM đánh giá được kết quả kinh doanh của ngân hàng mình, trên cơ sở đó điều chỉnh kế hoạch cân đối nguồn vốn và có biện pháp quản lý, điều hành đạt hiệu quả cao.
1.2.3.3 Nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn của NHTM
Hoạt động sử dụng vốn của NHTM chịu sự chi phối của nhiều nhân tố khác nhau, trong đó có thể chia thành hai nhóm nhân tố sau:
1.2.3.3.1 Nhân tố khách quan
a Hành lang pháp lý và các chính sách của Nhà nước
Hành lang pháp lý bao gồm các bộ luật có tác động trực tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn của ngân hàng hoặc ảnh hưởng đến khách hàng của ngân hàng, từ đó cũng ảnh hưởng đến hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng Những bộ luật có tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của NHTM như: Luật Ngân hàng Nhà nước, Luật các tổ chức tín dụng… Theo đó, các luật này quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc, mức cho vay của NHTM đối với khách hàng, tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung - dài hạn…
Bên cạnh đó, chính sách kinh tế của Nhà nước cũng ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng Thông qua các chính sách kinh tế, các biện pháp kinh tế , Nhà nước tạo ra môi trường và hành lang cho hoạt động của các doanh nghiệp nói chung và của NHTM nói riêng Chính sách đầu tư của Nhà nước cũng có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả sử dụng vốn của NHTM Khi Nhà nước khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong một lĩnh vực nào đó, thì cũng tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng cho vay nhiều hơn Và ngược lại
Trang 26b Sự phát triển của nền kinh tế
Tình hình kinh tế xã hội cũng là một yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động sử dụng vốn của NHTM Khi nền kinh tế ở vảo thời kỳ tăng trưởng, sản xuất phát triển, từ đó sẽ tạo điều kiện để ngân hàng cho vay nhiều hơn Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái hay khủng hoảng làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trì trệ, thua lỗ dẫn đến nhu cầu vốn giảm, đồng thời làm doanh số cho vay của ngân hàng giảm, hiệu quả sử dụng vốn của NHTM vì thế cũng giảm sút
Mặt khác, trong điều kiện hội nhập và tự do hoá thương mại như hiện nay thì tình hình kinh tế xã hội của khu vực và thế giới cũng ảnh hưởng mạnh
mẽ đến hoạt động của từng quốc gia nói chung và của ngành ngân hàng nói riêng Nó có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của các ngân hàng, hơn thế nữa nó tạo ra môi trường cạnh tranh rộng lớn và khốc liệt hơn Do đó, để
có thế đứng vững trên thị trường đòi hỏi các ngân hàng phải không ngừng nâng cao hiêu quả sử dụng vốn
c) Sự gia tăng cạnh tranh trên thị trường tài chính
Xã hội ngày càng phát triển thì cơ cấu kinh tế cũng dần thay đổi, theo hướng chuyển từ công nghiệp sang dịch vụ Lĩnh vực dịch vụ tài chính- ngân hàng ngày càng cạnh tranh khốc liệt hơn, các đối thủ cạnh tranh ngày càng
mở rộng danh mục đầu tư và đa dạng hóa các dịch vụ tiện ích của mình Cạnh tranh gay gắt trên thị trường sẽ thúc đẩy các ngân hàng phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
d) Sự phát triển công nghệ thông tin
Lao động thủ công trong những năm 80 tại các ngân hàng ở Việt Nam đang được thay thế bằng hệ thống máy tính Công nghệ thông tin khiến cho thành phần trong tổng tài sản thay đổi, vốn dành cho trang thiết bị TSCĐ tăng lên như vậy giảm vốn cho hoạt động tín dụng, tuy nhiên công nghệ thông tin
Trang 27phát triển thì việc quản lý thông tin các khách hàng cho vay thuận tiện, nhanh gọn hơn Công nghệ thông tin phát triển kéo theo nhiều loại hình dịch vụ ngân hàng mới ra đời, từ đó làm đa dạng hóa danh mục dịch vụ ngân hàng, tăng hiệu quả kinh doanh.
1.2.3.3.2 Nhân tố chủ quan
a) Quy mô hoạt động của ngân hàng
Quy mô hoạt động của ngân hàng có vai trò hết sức quan trọng Qua nghiên cứu gần đây cho thấy đường cong chi phí trung bình của các ngân hàng (đo bằng tổng lượng tiền gửi hoặc tổng tài sản) với chi phí trung bình hoạt động trên một đơn vị sản phẩm đầu ra có dạng gần giống hình chữ U, có đáy là một mặt tương đối là phẳng, đáy phẳng này có thể được coi là phạm vi hợp lý của việc tăng trưởng quy mô Mặt khác, qua nghiên cứu cũng cho thấy rằng, các ngân hàng nhỏ và vừa thì quy mô tối ưu là tính theo tổng tài sản (ở
Mỹ ) để có thể giảm chi phí tới mức thấp nhất là khoảng 100 – 500 triệu USD ,còn đối với ngân hàng lớn nằm trong khoảng 2 tỷ đến 10 tỷ Tuy nhiên
ta thấy rằng một ngân hàng nếu có một quy mô lớn thông thường hoạt động trong một môi trường cạnh tranh mạnh mẽ hơn, mặt khác ngân hàng có khó khăn về tài chính thường có xu hướng hoạt động kém hiệu quả hơn, do đó ngân hàng lớn sẽ có thể hoạt động với chi phí thấp hơn
b) Uy tín và mức độ thâm niên của ngân hàng
Ngân hàng không khác nhiều so với các doanh nghiệp đang có vị trí hàng đầu trong một ngành công nghiệp nhờ mức độ thâm niên Mặc dù không phải lúc nào ngân hàng có từ lâu cũng lợi thế so với ngân hàng mới thành lập Song, điều này đặc biệt đúng tại các địa phương nếu không có sự gia tăng nhanh chóng về hoạt động kinh tế Đối với các khách hàng khi cần giao dịch với một ngân hàng thì bao giờ họ cũng tin tưởng vào một ngân hàng có thâm niên hơn là ngân hàng mới thành lập Bởi vì họ nghĩ rằng một ngân hàng hoạt
Trang 28động lâu đời thì có thế lực, uy tín trên thị trường, có kinh nghiệm trong việc thực hiện các nghiệp vụ, có nguồn vốn lớn và có khả năng thanh toán cao Do
đó, mức độ thâm niên cũng góp phần tạo ra lòng tin đối với khách hàng
c) Năng lực của các nhà quản trị và nhân viên ngân hàng
Yếu tố con người luôn là yếu tố quan trọng nhất, động nhất Khi một ngân hàng có một nhà quản trị tài ba, họ biết xác định mục tiêu, mục đích rõ ràn,g đúng hướng cho ngân hàng thì giúp ngân hàng đó phát triển bền vững Những nhân viên thông minh nhanh nhẹn giúp ngân hàng đưa ra những danh mục đầu tư hiệu quả, thẩm định dự án và đánh giá khách hàng chính xác giúp đảm bảo an toàn vốn, giảm thiểu rủi ro hơn Ngân hàng là một loại hình dịch
vụ, do đó, ngoài sự thông minh, sáng tạo thi sự khéo léo, tận tình của nhân viên ngân hàng sẽ giúp thu hút khách hàng, tạo thuận lợi và tăng uy tín cho ngân hàng
1.2.4 Sự cần thiết phải tăng cường quản lý, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của các NHTM trong giai đoạn hiện nay
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu hiện nay của tất cả các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và của các NHTM nói riêng Thật vậy!
Thứ nhất: Xuất phát từ điều kiện thực tế của các NHTM Việt Nam hiện
nay Đó là quy mô vốn nhỏ, trình độ quản lý còn nhiều hạn chế và công nghệ,
kỹ thuật còn chậm tiến so với các nước trong khu vực, Điểm hạn chế nữa của các NHTM trong nước là hệ thống dịch vụ ngân hàng trong nước còn đơn điệu, chất lượng chưa cao, chưa định hướng theo nhu cầu khách hàng và nặng
về dịch vụ ngân hàng truyền thống Các ngân hàng huy động vốn chủ yếu dưới dạng tiền gửi (chiếm 94% tổng nguồn vốn huy động) và cấp tín dụng là hoạt động chủ yếu của ngân hàng, chiếm trên 80% tổng thu nhập Bên cạnh
đó, hiệu quả sử dụng vốn của các NHTM Việt Nam trong những năm qua vẫn
Trang 29còn tương đối thấp, chưa tương xứng với tiềm năng Chất lượng và hiệu quả
sử dụng tài sản có thấp (dưới 1%), lại phải đối phó với rủi ro lệch kép là rủi ro
kỳ hạn và rủi ro tỷ giá Hệ số an toàn vốn bình quân thấp (dưới 5%), chưa đạt
tỷ lệ theo yêu cầu của NHNN và thông lệ quốc tế (8%) Tình hình nợ xấu có
xu hướng giảm nhưng nhìn chung vẫn chưa chắc chắn, trong đó đáng chú ý là các tổ chức tín dụng nhà nước
Thứ hai: Các NHTM Việt Nam ngày càng chịu áp lực trong việc giữ và
mở rộng thị phần của mình ngay trên lãnh thổ Việt Nam
Theo cam kết khi gia nhập WTO, sân chơi chung của kinh tế toàn cầu, các ngân hàng nước ngoài sẽ được thâm nhập vào Việt Nam dưới hai hình thức thương mại chính là thành lập ngân hàng 100% vốn nước ngoài và mua
cổ phần của các NHTM theo tỷ lệ cho phép Như vậy, sau khi gia nhập WTO, tham gia thị trường ngân hàng của Việt Nam còn có sự hiện diện của rất nhiều ngân hàng nước ngoài với lợi thế về quy mô, vốn, công nghệ và trình độ quản
lý vượt trội Bên cạnh đó, không chỉ chịu áp lực cạnh tranh gay gắt từ các NHTM nước ngoài, các NHTM Việt nam còn phải cạnh tranh với các tổ chức tài chính trung gian và các định chế tài chính khác như các công ty chứng khoán, công ty cho thuê tài chính, công ty bảo hiểm Sự tồn tại và phát triển mạnh mẽ của các định chế tài chính trong thời gian gần đây đã và đang ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả hoạt động kinh doanh cũng như thị phần của các NHTM trong nước
Từ những phân tích trên cho thấy, muốn tồn tại và phát triển thì việc các NHTM phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là thật sự cần thiết./
Trang 30Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ SỬ DỤNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN NHÀ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG- CHI NHÁNH HÀ NỘI TRONG GIAI ĐOẠN 2008-2010
2.1 Khái quát chung về MHB Hà Nội
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
* Giới thiệu chung:
- Tên giao dịch đầy đủ: Ngân hàng Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long- Chi nhánh Hà Nội
- Tên tiếng anh: Housing Bank of Mekong Delta- Ha Noi Branch
(Viết tắt là MHB Hà Nội)
- Trụ sở chính đặt tại: Số 56, Nguyễn Du, TP Hà Nội
- Điện thoại: 0438251424 Fax: 0438251421
* Quá trình hình thành và phát triển:
Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long là Ngân hàng thương mại Nhà nước được thành lập theo Quyết định số 769-TTg ngày 18 tháng 09 năm 1997 của Thủ tướng Chính phủ, với vốn điều lệ ban đầu là 800
tỷ đồng Có thể nói, so với các NHTM Nhà nước khác, MHB là ngân hàng trẻ nhất, nhưng lại có tốc độ phát triển nhanh nhất Sau gần 14 năm hoạt động, tính đến ngày 31/12/2010, tổng tài sản của MHB đạt gần 51.400 tỷ đồng (tương đương với 2,5 tỷ USD) Về phát triển mạng lưới, mạng lưới chi nhánh của MHB đứng thứ bảy trong các ngân hàng ở Việt Nam, với gần 220 chi nhánh và các phòng giao dịch trải rộng trên 32 tỉnh, thành phố lớn trên khắp
cả nước Với mục tiêu là một ngân hàng thương mại hoạt động đa năng, vận
Trang 31hành theo cơ chế thị trường, MHB được huy động mọi nguồn vốn, thực hiện tất cả các dịch vụ ngân hàng theo quy định của pháp luật và đầu tư chuyên sâu vào lĩnh vực tín dụng trung và dài hạn, đặc biệt là đầu tư xây dựng, phát triển nhà ở và xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội
Để thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, nâng cao năng lực cạnh tranh và từng bước hội nhập quốc tế, năm 2003, Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long đã xây dựng kế hoạch mở rộng mạng lưới hoạt động ra khu vực phía Bắc, trong đó trọng điểm là thủ đô Hà Nội
Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long- Chi nhánh Hà Nội được thành lập từ ngày 04 tháng 07 năm 2003 và chính thức khai trương hoạt động từ ngày 16 tháng 10 năm 2003 Chỉ sau khi thành lập được 1 năm, MHB
Hà Nội đã lọt vào top 05 đơn vị dẫn đầu toàn hệ thống về kết quả huy động vốn và lợi nhuận, với tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động bình quân đạt 600%/năm; 3 năm liền (từ năm 2004 đến năm 2006) được nhận bằng khen của UBND TP Hà Nội và Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Tính đến cuối năm 2010, MHB Hà Nội đã có một mạng lưới hoạt động rộng khắp trên hầu hết các quận huyện của thành phố Hà Nội, với 01 chi nhánh cấp I và
18 Phòng giao dịch Việc thành lập MHB Hà Nội đã tạo thêm một kênh cung ứng các dịch vụ tài chính- ngân hàng cho các doanh nghiệp, các cơ quan, đơn
vị và các tầng lớp dân cư thủ đô, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, ổn định
xã hội và thực hiện các nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát triển thủ
đô, đồng thời nâng cao vị thế của Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long ở khu vực phía Bắc
2.1.2 Đặc điểm tổ chức hoạt động
MHB- Chi nhánh Hà Nội được tổ chức thành các phòng ban trực thuộc
và các Phòng giao dịch độc lập Trong đó:
Trang 32Mỗi phòng ban tại chi nhánh có chức năng và nhiệm vụ được quy định
cụ thể, rõ ràng trong Quy chế tổ chức và hoạt động của chi nhánh Có thể khái quát thành 02 giai đoạn là:
* Giai đoạn 1 (Từ tháng 10/2003 đến tháng 10/2007)
MHB Chi nhánh Hà Nội được tổ chức thành các phòng ban trực thuộc như sau:
- Phòng Nghiệp vụ kinh doanh: Tiếp xúc với khách hàng, đảm bảo xử lý
tất cả các hồ sơ vay mới hoặc các hồ sơ tín dụng hiện tại, đánh giá rủi ro và có biện pháp xử lý kịp thời để giảm rủi ro tổn thất tín dụng phát sinh từ các khoản vay có vấn đề; thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh đối ngoại; huy động vốn và xây dựng các kế hoạch
- Phòng Kế toán- Ngân quỹ: Giao dịch với khách hàng thông qua các
nghiệp vụ đóng mở tài khoản giao dịch, thực hiện nghiệp vụ chuyển tiền, tiền gửi tiết kiệm, chi trả Western Union, thực hiện hoạt động tài chính, đảm bảo
an toàn hoạt động kho quỹ; đảm bảo đường truyền, các chương trình báo cáo, phần mềm giao dịch ở tất cả các điểm giao dịch của MHB- Chi nhánh Hà Nội
- Phòng Hành chính nhân sự: Thực hiện các chế độ lao động tiền lương,
tổ chức các bộ, quản lý nhân sự; mua và quản lý tài sản, công cụ lao động; tìm các địa điểm phù hợp để tư vấn cho Ban giám đốc mở các phòng giao dịch
- Phòng Kiểm tra nội bộ: Trực thuộc thẳng Hội sở MHB, thực hiện giám
sát các hoạt động tài chính, tín dụng và các hoạt động khác đúng quy định của NHNN, của MHB và đúng định hướng của Hội đồng quản trị
* Giai đoạn 2 (Từ tháng 11/2007 đến nay)
Phòng Nghiệp vụ kinh doanh đã được tách ra thành 04 phòng, đó là:
- Phòng Nguồn vốn và kế hoạch tổng hợp: Thực hiện các nghiệp vụ kinh
doanh đối ngoại, huy động vốn và đảm bảo chủ động nguồn vốn kinh doanh, xây dựng các kế hoạch về nguồn vốn và các kế hoạch khác được giao
Trang 33- Phòng Kinh doanh: Quản lý một cách hiệu quả danh mục khách hàng,
đảm bảo xử lý tất cả các hồ sơ vay mới hoặc các hồ sơ tín dụng hiện tại; giám sát việc thực hiện nghĩa vụ hợp đồng của khách hàng; có biện pháp xử lý kịp thời để giảm rủi ro tổn thất tín dụng phát sinh từ các khoản vay có vấn đề
- Phòng Hỗ trợ kinh doanh: Hỗ trợ soạn thảo hợp đồng tín dụng, hợp
đồng bảo đảm tiền vay, thực hiện vệc công chứng, đăng ký giao dịch đảm bảo, lưu trữ hồ sơ vay vốn, lập các báo cáo thống kê theo quy định
- Phòng Quản lý rủi ro: Lập các báo cáo đánh giá rủi ro; kiểm soát việc
thực hiện đúng cơ cấu của danh mục đầu tư đã phê duyệt, quản lý và đảm bảo việc tuân thủ chính sách tín dụng đã được phê duyệt trong từng thời kỳ
Tại các Phòng giao dịch của MHB Hà Nội: có giám đốc phòng và thường bao gồm 02 bộ phận:
- Bộ phận Kế toán- Ngân quỹ (do 01 Phó giám đốc Phòng hoặc 01 Tổ trưởng nghiệp vụ kế toán làm kiểm soát) với nhiệm vụ chủ yếu là giao dịch với khách hàng thông qua các nghiệp vụ chuyển tiền, tiền gửi tiết kiệm, kế toán tiền vay
- Bộ phận Tín dụng: có nhiệm vụ chủ yếu là tiến hành giải ngân, thu
nợ và thực hiện các nghiệp vụ bảo lãnh, cũng như thanh toán quốc tế phát sinh tại phòng
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức hiện nay của MHB Chi nhánh Hà Nội:
Trang 34Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức hiện nay của MHB Chi nhánh Hà Nội
Phòng Quản lý nội bộ
Phòng Kinh doanh
Phòng Nguồn vốn & kế hoạch tổng hợp
Phòng Hành chính nhân sự
Phòng
Hỗ trợ kinh doanh
Trang 352.1.3 Kết quả hoạt động kinh doanh trong những năm gần đây
Nhìn lại chặng đường gần 7 năm hình thành và phát triển của MHB Hà Nội, ít người có thể hình dung được những khó khăn, thách thức mà MHB Hà Nội phải đối mặt trong những ngày đầu thành lập, đó là thương hiệu MHB gần như chưa được biết đến trên thị trường Hà Nội; không có khách hàng truyền thống; trụ sở phải đi thuê; nguồn nhân lực mỏng; cùng với sự cạnh tranh gay gắt giữa hàng trăm định chế tài chính trên địa bàn thủ đô Tuy nhiên, MHB Hà Nội đã biến những thách thức đó thành cơ hội, từng bước thâm nhập, chiếm lĩnh thị trường và kinh doanh có hiệu quả Có thể khái quát kết quả hoạt động kinh doanh của MHB Hà Nội trong những năm gần đây qua bảng sau:
Bảng 2.1: Khái quát kết quả hoạt động kinh doanh của MHB Hà Nội
124.493
105.084 19.409
156.989
122.451 34.958
(Nguồn: Báo cáo tài chính của MHB Hà Nội từ năm 2008-2010)
Qua số liệu bảng trên cho thấy:
Nhìn chung, các chỉ tiêu chủ yếu phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của MHB Hà Nội trong những năm gần đây đều tăng lên theo xu hướng tốt
Cụ thể:
- Hoạt động huy động vốn: Thủ đô Hà Nội là 1 trong 2 trung tâm tài
Trang 36chính- tiền tệ lớn nhất cả nước, là nơi tập trung các cơ quan đầu não của các định chế tài chính, các tổ chức kinh tế lớn, thu nhập và trình độ dân trí cao nên đây là địa bàn tiềm năng của hoạt động ngân hàng, đặc biệt là hoạt động huy động vốn.
Là chi nhánh đầu tiên của MHB ở miền Bắc, MHB Hà Nội đã gặp rất nhiều khó khăn Chính vì vậy, ngay từ sau khi đi vào hoạt động, Ban lãnh đạo MHB Hà Nội đã đặc biệt quan tâm đến hoạt động huy động vốn và đặt ra nhiệm vụ cấp bách hàng đầu là bằng mọi biện pháp huy động mọi nguồn vốn
để hoạt động và tự chủ được nguồn vốn của mình Nhờ vậy mà công tác huy động vốn luôn được chú trọng, quy mô nguồn vốn không ngừng tăng lên qua các năm Tính đến thời điểm 31/12/2008, tổng nguồn vốn huy động của MHB
Hà Nội đạt 921.364 triệu đồng Đến thời điểm 31/12/2009, tổng nguồn vốn huy động đạt 1.846.323 triệu đồng (tăng hơn gấp đôi) Và đến thời điểm 31/12/2010, đã đạt 2.507.223 triệu đồng (tăng 35,8% so với năm 2009) Mặc
dù những con số này còn khá khiêm tốn so với các ngân hàng khác hoạt động trên cùng địa bàn, nhưng đó cũng phần nào cho thấy sự nỗ lực phát triển của toàn thể lãnh đạo và cán bộ nhân viên MHB- Chi nhánh Hà Nội MHB Hà Nội đã hoàn toàn tự chủ được nguồn vốn của mình, không chỉ đáp ứng được nhu cầu sử dụng vốn tại chi nhánh và hệ thống mà quan trọng hơn, MHB Hà Nội đã khẳng định được vị thế của Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long trên địa bàn thủ đô Hà Nội, khẳng định bước đi đúng đắn của MHB khi mở rộng hoạt động ra các tỉnh phía Bắc
- Hoạt động tín dụng: Với thế mạnh của một ngân hàng thương mại đa
năng chuyên sâu trong lĩnh vực cho vay xây dựng, sửa chữa nhà ở, xây dựng
cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, MHB Hà Nội đã xác định rõ ràng đối tượng khách hàng mục tiêu và có những chính sách, những sản phẩm tín dụng phù hợp Nhờ đó, vốn tín dụng của MHB Hà Nội đã đến được với rất nhiều tầng
Trang 37lớp dân cư và các doanh nghiệp thuộc nhiều thành phần kinh tế Với mục tiêu tăng trưởng dư nợ ổn định, đảm bảo an toàn vốn, dư nợ tín dụng của MHB Hà Nội đều đạt kế hoạch đặt ra, năm sau cao hơn năm trước: Năm 2008, dư nợ tín dụng của MHB Hà Nội đạt 485.434 triệu đồng; năm 2009, đạt 938.131 triệu đồng (tăng 93,3% so với năm 2008) và đến năm 2010 đã đạt trên 1.529.406 triệu đồng (tăng 63.1% so với năm 2009).
- Kết quả lợi nhuận: Cùng với sự mở rộng về quy mô hoạt động thì hiệu
quả hoạt động kinh doanh của MHB Hà Nội cũng tăng dần lên qua các năm Năm 2009, tổng doanh thu của MHB Hà Nội cao nhất hệ thống MHB, lợi nhuận trước thuế đạt 43.706 triệu đồng (tăng 24,3% so với năm 2008), xếp thứ nhất toàn hệ thống Tập thể MHB Hà Nội vinh dự được nhận bằng khen của Thủ tướng chính phủ; cá nhân giám đốc chi nhánh được thống đốc NHNN tặng bằng khen, đồng thời, nhiều tập thể và cá nhân khác được công nhận danh hiệu tập thể lao động xuất sắc và chiến sĩ thi đua Đến năm 2010, với sự phát triển nhanh chóng của các NHTM cổ phần khác trên địa bàn Hà Nội cả về số lượng và chất lượng dịch vụ, MHB Hà Nội đã gặp rất nhiều khó khăn trong việc cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường Dù vậy, kết quả đạt được cũng rất đáng khích lệ: Tổng lợi nhuận trước thuế đạt 47.915 triệu đồng (tăng 9,6% so với năm 2009), đứng thứ ba toàn hệ thống, chỉ sau chi nhánh Sài Gòn
và chi nhánh Đồng Tháp Một điểm mới nữa trong hoạt động của MHB Hà Nội đó là đã chú trọng đến việc phát triển các dịch vụ ngân hàng nhiều hơn, nhờ đó mà thu từ dịch vụ phi tin dụng đã không ngừng tăng lên Năm 2009, tổng thu từ dịch vụ phi tín dụng đạt 19.409 trđ (tăng 75,8% so với năm 2008) Năm 2010, con số này là 34.958 trđ (tăng 80,1% so với năm 2009) Đây là một hướng đi mới, phù hợp với sự phát triển của các ngân hàng hiện đại
- Phát triển mạng lưới giao dịch: Với những kết quả đạt được, MHB Hà
Trang 38Nội đã và đang nỗ lực phát triển mạng lưới khách hàng để mở rộng và đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu về đầu tư, phát triển nhà ở và các lĩnh vực khác trên địa bàn thủ đô Có thể nói, năm 2009 chứng kiến sự phát triển mạnh
mẽ của MHB Hà Nội khi có tới 05 Phòng giao dịch được mở mới (PGD Lạc Trung, PGD Hàng Trống, PGD Hàng Bún, PGD Mai Hắc Đế, PGD Kim Liên) Theo đó, đưa tổng số cán bộ, nhân viên của Chi nhánh tăng đến trên
220 người Sang năm 2010, thêm 02 Phòng giao dịch mới được mở là PGD
Hồ Tùng Mậu và PGD Văn Quán Như vậy, tính đến cuối năm 2010, MHB
Hà Nội đã có tất cả 18 PGD và 01 Chi nhánh cấp I, trải đều khắp trên tất cả các quận, huyện của thành phố Hà Nội
2.2 Tình hình quản lý sử dụng vốn tại MHB Hà Nội
2.2.1 Hoạt động dự trữ và thanh toán
Bảng 2.2: Tình hình dự trữ và thanh toán của MHB Hà Nội
Tỷ trọng (%)
Số tiền (trđ)
Tỷ trọng (%)
Số tiền (trđ)
Tỷ trọng (%)
97,84 2,16
725.926 17.258
97,68 2,32
913.856 177.967
83,70 16,30
2 Phân theo nơi gửi:
-Tiền mặt tại quỹ
-Tiền gửi tại NHNN
-Tiền gửi tại các TCTD
38.357 64.119 470.018
6,70 11,20 82,10
36.497 99.506 607.181
4,91 13,39 81,70
197.620 170.324 723.879
18,10 15,61 66,29
Nguồn: Báo cáo tài chính của MHB Hà Nội từ năm 2008-2010)
Biểu 2.1: Hoạt động dự trữ và thanh toán của MHB Hà Nội từ 2008 - 2010
Trang 39(Nguồn: Báo cáo tài chính của MHB Hà Nội từ năm 2008-2010)
Số liệu ở bảng trên cho thấy:
Nhìn chung, MHB Hà Nội vẫn chủ yếu duy trì đảm bảo dự trữ và thanh toán dưới dạng tiền gửi bằng VND (chiếm trên 80% tổng mức dự trữ), tiền gửi bằng ngoại tệ vẫn chưa có nhiều Điều này là phù hợp với hoạt động của MHB, cũng như theo xu hướng chung của đa số các NHTM khác
Cũng từ bảng số liệu trên ta thấy: Tình hình dự trữ và thanh toán của MHB Hà Nội tăng lên đáng kể qua các năm Cụ thể:
- Tại thời điểm 31/12/2009, tổng mức dự trữ và thanh toán của MHB Hà Nội là 743.184 triệu đồng (tăng 29,82% so với năm 2008) Trong đó, tiền mặt tại quỹ là 36.497 triệu đồng, chiếm 4,91% tổng mức dự trữ; tiền gửi tại NHNN là 99.506 triệu đồng, chiếm 13,39%, còn lại là tiền gửi tại các TCTD (chiếm tỷ trọng chủ yếu, khoảng trên 80% tổng mức dự trữ)
- Đến thời điểm 31/12/2010, con số này là 1.091.823 triệu đồng (tăng
Trang 4046,91% so với năm 2009) Trong đó, tỷ trọng tiền gửi tại NHNN vẫn không thay đổi nhiều, nhưng tỷ trọng tiền mặt tại quỹ đã tăng lên đáng kể, đạt 197.620 triệu đồng (chiếm khoảng 18,1% tổng mức dự trữ), đồng thời tỷ trọng tiền gửi tại các TCTD cũng giảm dần (còn 66,29% tổng mức dự trữ) Sở
dĩ trong năm 2010, tổng mức dự trữ và thanh toán tăng lên đáng kể như vậy là bởi vì lượng tiền huy động của ngân hàng tăng lên trong 3 năm gần đây là rất cao Vì vậy, để đảm bảo an toàn và đáp ứng nhu cầu của khách hàng, ngân hàng đã tăng lượng dự trữ cân xứng với nguồn huy động Tuy nhiên, mức độ
an toàn và tỷ suất sinh lời luôn song hành cùng nhau Chính vì vậy, MHB Hà Nội cần xem xét duy trì một mức dự trữ thanh toán phù hợp hơn để vừa đảm bảo có đủ vốn đáp ứng nhu cầu thanh toán, vừa tiết kiệm được chi phí và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
2.2.2 Hoạt động quản lý cho vay
Cũng như đa số các tổ chức tín dụng khác ở Việt Nam, hoạt động cho vay của MHB Hà Nội chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng tài sản có, tạo ra khoảng 80% tổng lợi nhuận cho ngân hàng Chính vì vậy, MHB Hà Nội cũng rất quan tâm đến công tác tín dụng, không ngừng hoàn thiện quy trình tín dụng, nâng cao chuyên môn nghiệp vụ, đề cao công tác thẩm định cũng như các biện pháp quản lý rủi ro tín dụng Với quan điểm chủ đạo: mở rộng tín dụng phải gắn với an toàn trong cho vay Nhờ vậy, kết quả hoạt động cho vay của ngân hàng trong những năm gần đây đã có nhiều khởi sắc: tổng dư nợ cho vay tăng dần qua các năm, đồng thời, chất lượng tín dụng được nâng cao đảm bảo thực hiện có hiệu quả cơ chế hiện hành MHB Hà Nội đã tập trung đầu tư đúng hướng, đúng đối tượng và có hiệu quả đối với các thành phần kinh tế giúp các doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh, thực sự đem lại hiệu quả kinh tế cho các doanh nghiệp
Và để thấy rõ hơn hiệu quả của hoạt động tín dụng trong những năm qua,