Trong tiến trình Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, cùng với sự tác động của quá trình khu vực hoá, toàn cầu hoá, ngành ngân hàng tài chính Việt Nam đã và đang phải đối mặt với những cạnh tranh gay gắt. Việc đa dạng hoá và phát triển các loại hình dịch vụ mới là một trong những chiến lược quan trọng để giữ vững vị thế cạnh tranh của các tổ chức tín dụng đặc biệt là các ngân hàng thương mại Việt Nam.Không nằm ngoài cuộc đua cạnh tranh, từ đầu năm 2009 Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – chi nhánh Hải Phòng (viết tắt là Vietcombank Hải Phòng) đã liên tục cung ứng cho khách hàng nhiều sản phẩm dịch vụ mới, trong đó có dịch vụ bao thanh toán. Với uy tín và vị thế là một trong những ngân hàng thương mại hàng đầu trên địa bàn thành phố Cảng, Vietcombank Hải Phòng có nhiều lợi thế để phát triển mạnh loại hình dịch vụ này. Song cho đến nay, hoạt động bao thanh toán tại Vietcombank Hải Phòng vẫn còn khá trầm lắng, “bao thanh toán” vẫn còn là một khái niệm “mới mẻ” đối với không ít doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hải Phòng, trong đó có doanh nghiệp là khách hàng của Vietcombank Hải Phòng.Xuất phát từ thực trạng nêu trên, tác giả đã chọn đề tài “Phát triển dịch vụ bao thanh toán tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam chi nhánh Hải Phòng” làm luận văn thạc sỹ.
Trang 1DANH MỤC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ
TÓM TẮT LUẬN VĂN
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ DỊCH VỤ BAO THANH TOÁN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 3
1.1 Khái quát cơ bản về bao thanh toán 3
1.1.1 Khái niệm bao thanh toán 3
1.1.2 Đặc điểm, vai trò của bao thanh toán 7
1.1.3 Phân loại bao thanh toán 11
1.2 Quy trình nghiệp vụ bao thanh toán 16
1.2.1 Quy trình bao thanh toán nội địa 16
1.2.2 Quy trình bao thanh toán quốc tế (bao thanh toán xuất nhập khẩu) 17
1.3 Phát triển dịch vụ bao thanh toán 19
1.3.1 Quan niệm về phát triển dịch vụ bao thanh toán 19
1.3.2 Một số chỉ tiêu đánh giá sự phát triển dịch vụ bao thanh toán 20
1.3.3 Nhân tố ảnh hưởng đến phát triển dịch vụ bao thanh toán 22
1.4 Kinh nghiệm quốc tế và trong nước về phát triển dịch vụ bao thanh toán .24
1.4.1 Tình hình bao thanh toán trên thế giới hiện nay 24
1.4.2 Kinh nghiệm bao thanh toán ở một số nước trên thế giới 25
1.4.2 Kinh nghiệm bao thanh toán tại một số ngân hàng thương mại Việt Nam 29
1.4.3 Những bài học kinh nghiệm trong phát triển dịch vụ bao thanh toán 30 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BAO THANH TOÁN TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM CHI NHÁNH HẢI PHÒNG 33
2.1 Thực trạng triển khai hoạt động bao thanh toán tại các ngân hàng thương mại Việt Nam 33
2.1.1 Nguồn luật điểu chỉnh hoạt động bao thanh toán tại Việt Nam hiện nay 33
Trang 22.2 Thực trạng về hoạt động bao thanh toán tại Ngân hàng TMCP Ngoại
thương Việt Nam-chi nhánh Hải Phòng 49
2.2.1 Vài nét về hoạt động của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – chi nhánh Hải Phòng 49
2.2.2 Thực trạng hoạt động bao thanh toán tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – chi nhánh Hải Phòng 53
2.2.3 Điều kiện để phát triển nghiệp vụ bao thanh toán tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam – chi nhánh Hải Phòng 64
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BAO THANH TOÁN TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM - CHI NHÁNH HẢI PHÒNG 67
3.1 Định hướng phát triển dịch vụ bao thanh toán của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Hải Phòng 67
3.1.1 Định hướng phát triển dịch vụ bao thanh toán ở Việt Nam 67
3.1.2 Định hướng phát triển dịch vụ bao thanh toán của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Hải Phòng 69
3.2 Một số giải pháp nhằm phát triển dịch vụ Bao thanh toán tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Hải Phòng 69
3.2.1 Nâng cao nhận thức về dịch vụ bao thanh toán 69
3.2.2 Xây dựng mô hình phát triển nghiệp vụ bao thanh toán phù hợp 70
3.2.3 Tăng cường hoạt động Marketing về bao thanh toán 71
3.2.4 Đẩy mạnh công tác tư vấn cho khách hàng 72
3.2.5 Nâng cao chất lượng dịch vụ Bao thanh toán 73
3.2.6 Tăng cường hoạt động và tài chính làm cơ sở cho hoạt động bao thanh toán 75
3.2.7 Phát triển nguồn nhân lực cho hoạt động bao thanh toán 76
3.3 Một số kiến nghị 78
3.3.1 Kiến nghị với Chính phủ 78
3.3.2 Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước 79
3.3.3 Kiến nghị với Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam 83
3.3.4 Kiến nghị về công tác đào tạo trong các trường Đại học, Cao đẳng 84
KẾT LUẬN 85
Trang 3DANH MỤC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ
BẢNG
Bảng 1.1: Doanh số bao thanh toán trên thế giới 24
Bảng 1.2: Doanh số bao thanh toán của một số thị trường bao thanh toán trên thế giới 25
Bảng 1.3: Doanh số bao thanh toán của các khu vực trên thế giới 25
Bảng 2.1: Kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam từ 1990 đến 2009 41
Bảng 2.2: Doanh số bao thanh toán của Việt Nam qua một số năm 44
Bảng 2.4: Kết quả hoạt động kinh doanh của Vietcombank Hải Phòng từ năm 2000-2009 52
BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1 Kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam từ 1990 đến 2009 42
Biểu đồ 2.2: Doanh số bao thanh toán của Việt Nam qua một số năm 45
Biểu đồ 2.3: Doanh số hoạt động kinh doanh của Vietcombank Hải Phòng từ năm 2000-2009 52
Biểu đồ 2.4: Kết quả hoạt động kinh doanh của Vietcombank Hải Phòng từ năm 2000-2009 52
Trang 4MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Trong tiến trình Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thếgiới, cùng với sự tác động của quá trình khu vực hoá, toàn cầu hoá, ngành ngânhàng tài chính Việt Nam đã và đang phải đối mặt với những cạnh tranh gay gắt.Việc đa dạng hoá và phát triển các loại hình dịch vụ mới là một trong những chiếnlược quan trọng để giữ vững vị thế cạnh tranh của các tổ chức tín dụng đặc biệt làcác ngân hàng thương mại Việt Nam
Không nằm ngoài cuộc đua cạnh tranh, từ đầu năm 2009 Ngân hàng TMCPNgoại thương Việt Nam – chi nhánh Hải Phòng (viết tắt là Vietcombank HảiPhòng) đã liên tục cung ứng cho khách hàng nhiều sản phẩm dịch vụ mới, trong đó
có dịch vụ bao thanh toán Với uy tín và vị thế là một trong những ngân hàngthương mại hàng đầu trên địa bàn thành phố Cảng, Vietcombank Hải Phòng cónhiều lợi thế để phát triển mạnh loại hình dịch vụ này Song cho đến nay, hoạt độngbao thanh toán tại Vietcombank Hải Phòng vẫn còn khá trầm lắng, “bao thanh toán”vẫn còn là một khái niệm “mới mẻ” đối với không ít doanh nghiệp trên địa bànthành phố Hải Phòng, trong đó có doanh nghiệp là khách hàng của VietcombankHải Phòng
Xuất phát từ thực trạng nêu trên, tác giả đã chọn đề tài “Phát triển dịch vụ bao thanh toán tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam - chi nhánh Hải Phòng” làm luận văn thạc sỹ.
Trang 53 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: nghiệp vụ bao thanh toán của ngân hàng thương mại
- Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động bao thanh toán tại một số quốc gia trên thếgiới, đồng thời nghiên cứu hoạt động bao thanh toán đang được triển khai tại một sốngân hàng thương mại Việt Nam, cũng như tại Ngân hàng TMCP Ngoại thươngViệt Nam – chi nhánh Hải Phòng trong một số năm gần đây
4 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vậtlịch sử, các phương pháp được sử dụng trong quá trình thực hiện luận văn là:
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn sẽ baogồm 3 chương như sau:
Chương 1- Những lý luận cơ bản về dịch vụ bao thanh toán của ngân hàng
thương mại Chương 2- Thực trạng hoạt động bao thanh toán tại Ngân hàng TMCP
Ngoại thương Việt Nam – chi nhánh Hải Phòng Chương 3- Giải pháp nhằm phát triển dịch vụ bao thanh toán tại Ngân hàng
TMCP Ngoại thương Việt Nam – chi nhánh Hải Phòng
Trang 6CHƯƠNG 1 NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ DỊCH VỤ BAO THANH TOÁN
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Khái quát cơ bản về bao thanh toán
1.1.1 Khái niệm bao thanh toán
1.1.1.1 Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển của bao thanh toán
Bao thanh toán, một loại hình dịch vụ khá mới mẻ với nhiều doanh nghiệpViệt Nam, song lại là không thể thiếu đối với nhiều doanh nghiệp nước ngoài khibán hàng, bởi nó đã có một tiến trình phát triển lịch sử hàng trăm năm Một số họcgiả cho rằng bao thanh toán xuất hiện đầu tiên ở La Mã, một số khác lại cho rằngbao thanh toán xuất hiện từ hàng ngàn năm trước vào thời vua Hammurabi của nềnvăn minh Mesopotanimia - nền văn minh đầu tiên trên thế giới phát minh ra chữviết, hình thành các quy tắc thương mại và luật lệ nhà nước
Theo quan điểm chung nhất của các nhà nghiên cứu, bao thanh toán được hìnhthành từ gốc Latin “facio” có nghĩa là “người đại diện” Các hình thức sơ khai củabao thanh toán đã dần dần được hình thành và phát triển Đến thời La Mã cổ đại,người ta đã bắt đầu bán chiết khấu thương phiếu
Hình thức bao thanh toán phổ biến dưới dạng văn tự đầu tiên đã xuất hiện ởthuộc địa Mỹ trước cách mạng để phục vụ cho việc buôn bán với chính quốc Vải,sợi, len, lông cừu được vận chuyển từ thuộc địa sang các nước chính quốc Cácngân hàng đại lý ở Anh và các nước khác ở Châu Âu sẽ trả tiền cho các đại diện ởthuộc địa trước khi hàng hoá được vận chuyển tới Châu Âu nhờ đó mà họ có thểtiếp tục sản xuất và khai thác mà không cần phải chờ đợi các khách hàng Châu Âuthanh toán
Đến thế kỷ 15, với sự bùng nổ của cách mạng công nghiệp ở Anh, bao thanhtoán cũng phát triển mạnh và đóng vai trò ngày càng quan trọng trong giao thương.Các đại lý bao thanh toán bắt đầu chấp nhận cấp tín dụng cho đại lý cấp dưới củamình để hưởng hoa hồng cao hơn trên cơ sở tin tưởng vào khả năng trả nợ của
Trang 7khách hàng Theo đó, bao thanh toán được phát triển trên cơ sở tín dụng Tuy nhiênbao thanh toán khi đó mới chỉ giới hạn giữa các đại lý ở chính quốc với đại lý cấpdưới của mình ở các nước thuộc địa.
Trong khoảng thời gian giữa thế kỷ 17-18, thương mại phát triển mạnh giữacác nước châu Âu và các khu vực khác trên thế giới, đặc biệt là với vùng Bắc Mỹ
Do thông tin liên lạc thời đó yếu kém nên chủ hàng thường cho phép các đại lý bánhàng trên cơ sở tín dụng thương mại và hoá đơn thương mại của chính họ Tuynhiên, khi nền kinh tế Mỹ đã vững mạnh và các mối quan hệ chính trị lệ thuộc giữachâu Mỹ với châu Âu không còn tồn tại nữa, nhu cầu sử dụng các đại lý để tiếnhành việc xuất nhập khẩu hàng đã giảm xuống Các đại lý bao thanh toán nội địa rađời, đảm nhận việc bán hàng trong phạm vi biên giới một quốc gia
Khi thông tin liên lạc và các phương tiện vận chuyển đã phát triển, các nhà sảnxuất vẫn duy trì việc sử dụng các đại lý bao thanh toán để tiến hành thanh toán chocác lô hàng, trong đó quyền của đại lý bao thanh toán là thu tiền thanh toán từ phíangười mua cuối cùng Đây chính là cơ sở cho bao thanh toán hiện đại Khái niệmbao thanh toán phát triển liên tục và ngày nay đã trở nên quen thuộc trong kinhdoanh thương mại, tài chính ngân hàng hay xuất nhập khẩu
Đầu những năm 1960, tổ chức bao thanh toán quốc tế (International FactorGroup - IFG) ra đời với sự tham gia của 47 quốc gia đã đánh dấu bước phát triểnmạnh mẽ của bao thanh toán Các quy tắc hoạt động chính thức được hình thành vàđiều chỉnh hoạt động bao thanh toán Năm 1968, hiệp hội bao thanh toán quốc tế(Factors Chain International-FCI) ra đời đã liên kết các đơn vị bao thanh toán vớinhau và đưa bao thanh toán trở thành dịch vụ mang tính toàn cầu Cùng với sự tiến
bộ của khoa học kỹ thuật, sự phát triển của thương mại thế giới nói chung và cáchình thức thanh toán nói riêng, bao thanh toán ngày càng hoàn thiện và trở thànhmột hình thức tài trợ thương mại phổ biến như ngày nay
1.1.1.2 Khái niệm bao thanh toán
Bao thanh toán có từ rất lâu đời song thực chất nó chỉ phát triển mạnh từ sauchiến tranh thế giới lần thứ hai đến nay Sở dĩ, sau này bao thanh toán mới phát
Trang 8triển mạnh là vì sau thế chiến 2, nhiều nước trên thế giới lâm vào kiệt quệ, khủnghoảng và suy thoái kinh tế, nhất là các quốc gia tham chiến trừ Mỹ Các doanhnghiệp của các quốc gia này cũng rơi vào tình trạng khó khăn tài chính nghiêmtrọng Để phục hồi và mở rộng sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp khi mua bánvới nhau phải dùng đến phương thức thanh toán trả sau (trả chậm) Tuy nhiên, khi
sử dụng phương thức này, doanh nghiệp lại phát sinh thêm chi phí quản lý nợ.Trong trường hợp người bán cũng thiếu vốn để tài trợ cho sản xuất kinh doanh củamình, buộc người bán phải bán lại khoản nợ để nhanh chóng có vốn phục vụ sảnxuất Bên cạnh đó, tình trạng nợ khó đòi cũng là một vấn đề nhức nhối đối vớinhiều doanh nghiệp bán hàng Chính vì như vậy, bao thanh toán ra đời nhằm đápứng nhu cầu về tài trợ vốn và quản lý, thu hồi các khoản nợ giúp doanh nghiệp, hỗtrợ cho doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả hơn
Vậy, bao thanh toán là gì?
Theo Từ điển kinh tế (Dictionary of Economic-Christopher Pass & BryanLones-2001), “Bao thanh toán là một sự dàn xếp tài chính, qua đó một công ty tàichính chuyên nghiệp còn gọi là công ty mua nợ mua lại các khoản nợ của một công
ty với số tiền ít hơn giá trị của khoản nợ đó Lợi nhuận chính là chênh lệch giữa tiềnthu được của số nợ đã mua và giá mua thực tế của món nợ đó Lợi ích của công tybán nợ là nhận được tiền ngay thay vì phải chờ đến lúc con nợ trả nợ, hơn nữa lạitránh được những phiền toái và các chi phí trong việc theo đuổi các con nợ chậm trả”.Theo Từ điển thuật ngữ ngân hàng-Hans Klaus, “Bao thanh toán là một loạihình tài trợ dưới dạng tín dụng chuyển nhượng nợ Một công ty chuyển toàn bộ haymột phần khoản nợ cho một công ty tài chính chuyên nghiệp (công ty mua nợ,thông thường là một công ty trực thuộc ngân hàng) Công ty này đảm nhận việc thucác khoản nợ và theo dõi các khoản phải thu để hưởng thủ tục phí và có lúc ứngtrước các khoản nợ Thông thường công ty mua nợ phải chịu rủi ro mất khả năngthanh toán của món nợ”
Theo Hiệp hội Bao thanh toán quốc tế (FCI), “Bao thanh toán là một dịch vụtài chính trọn gói, kết hợp việc tài trợ vốn lưu động, phòng ngừa rủi ro tín dụng,
Trang 9theo dõi công nợ và thu hồi nợ Đó là sự thoả thuận giữa đơn vị bao thanh toán vàngười bán, trong đó đơn vị bao thanh toán sẽ mua lại khoản phải thu của người bán,thường là không truy đòi, đồng thời có trách nhiệm đảm bảo khả năng chi trả củangười mua Nếu người mua phá sản hay mất khả năng chi trả vì những lý do tíndụng thì đơn vị bao thanh toán sẽ thay người mua trả tiền cho người bán Khi ngườimua và người bán ở hai nước khác nhau thì dịch vụ này được gọi là bao thanh toánquốc tế”.
Theo Công ước quốc tế về bao thanh toán (UNIDROIT)-ngày 28/05/1998,
“bao thanh toán là hoạt động của đơn vị bao thanh toán đứng ra mua lại các khoảnphải thu của khách hàng phát sinh từ giao dịch bán hàng hoặc cung cấp dịch vụnhưng thanh toán chậm, theo đó khách hàng nhận được các khoản tiền ứng trướctương ứng với tỷ lệ định trước giá trị của khoản phải thu Phần còn lại sẽ được trảlại cho khách hàng khi người mua hàng thực hiện việc thanh toán và đã trừ đi cáckhoản phí Ngoài việc tài trợ dưới dạng tạm ứng cho khách hàng dựa trên các khoảnphải thu đơn vị bao thanh toán còn cung cấp dịch vụ theo dõi sổ sách, thu nợ hộ vàbảo hiểm rủi ro tín dụng” Tóm lại, theo Công ước quốc tế UNIDROIT, bao thanhtoán là hoạt động tài chính tổ hợp từ các hoạt động tài trợ các khoản phải thu ngắnhạn, quản lý sổ sách, thu nợ hộ và bảo hiểm rủi ro tín dụng
Theo Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN ngày 06/09/2004 về Quy chế hoạtđộng bao thanh toán của các tổ chức tín dụng, “Bao thanh toán là một hình thức cấptín dụng của tổ chức tín dụng cho bên bán hàng thông qua việc mua lại các khoảnphải thu phát sinh từ việc mua, bán hàng hoá đã được bên bán hàng và bên muahàng thoả thuận trong hợp đồng mua, bán hàng”
Từ các khái niệm trên, chúng ta có hiểu Bao thanh toán là việc chuyển nợ củangười mua hàng (con nợ) từ người bán hàng hoá hay cung ứng dịch vụ (chủ nợ cũ)sang công ty mua nợ (chủ nợ mới) Công ty mua nợ đảm bảo việc thu nợ, tránh rủi
ro về không trả nợ hoặc không có khả năng trả nợ của người mua Công ty mua nợ
có thể trả trước thời hạn toàn bộ hay một phần các khoản nợ của người mua cùngvới khoản hoa hồng tài trợ hay phí thu nợ Mọi rủi ro không thu được nợ đều docông ty mua nợ gánh chịu
Trang 10Hay nói cách khác, bao thanh toán có thể được hiểu là việc người bán chuyểnnhượng toàn bộ quyền và nghĩa vụ liên quan tới các khoản phải thu ngắn hạn phátsinh trong hợp đồng mua bán giữa người mua và người bán cho đơn vị bao thanhtoán, đổi lại đơn vị bao thanh toán cung cấp cho người bán một hoặc một số dịch vụsau:theo dõi sổ sách bán hàng của người bán; tài trợ dưới dạng tạm ứng cho ngườibán dựa trên giá trị các khoản phải thu; thu nợ hộ; bảo hiểm rủi ro tín dụng cho cáckhoản phải thu.
1.1.2 Đặc điểm, vai trò của bao thanh toán
1.1.2.1 Đặc điểm của bao thanh toán
Từ khái niệm bao thanh toán, chúng ta thấy Bao thanh toán có hai tính chất cơ
bản là tính chất tín dụng và tính chất nhờ thu
Với tính chất tín dụng, bao thanh toán khắc phục được những khó khăn về vốn
cho các doanh nghiệp Thay vì việc phải chờ đợi 30, 60, hay 90 ngày để được ngườimua thanh toán thì người bán chỉ việc bán các khoản phải thu dưới dạng các hoáđơn của mình cho đơn vị bao thanh toán để lấy tiền ngay Nhờ đó doanh nghiệp cóthể đẩy nhanh vòng quay và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Tuy nhiên, doanhnghiệp sẽ không nhận được toàn bộ giá trị các khoản phải thu mà chỉ nhận đượcmột phần thường là 70% đến 90% số tiền tuỳ thuộc vào thoả thuận giữa người bán
và đơn vị bao thanh toán Qua đó có thể thấy rằng bao thanh toán không phải là mộtkhoản tín dụng nhưng nó lại có tính chất tín dụng đối với các bên tham gia baothanh toán
Tính chất nhờ thu của bao thanh toán thể hiện ở dịch vụ quản lý các khoản
phải thu và thu nợ hộ mà các đơn vị bao thanh toán cung cấp cho khách hàng củamình Nhờ đó mà các doanh nghiệp bán hàng nhất là các doanh nghiệp xuất khẩu cóthể giảm được chi phí quản lý nợ và giảm được rủi ro nợ xấu, thậm chí trong nhiềutrường hợp các doanh nghiệp bán hàng còn không phải lo việc thu nợ vì đã có đơn
vị bao thanh toán thực hiện Do đó, các đơn vị bao thanh toán thường là những tổchức có trình độ và kinh nghiệm trong việc đánh giá tín dụng, quản lý nợ và có biệnpháp thu hồi nợ hiệu quả
Trang 111.1.2.2 Vai trò của bao thanh toán
Từ đặc điểm nêu trên, bao thanh toán có những vai trò như sau:
+ Thứ nhất, tài trợ dưới dạng tạm ứng dựa trên các khoản phải thu Nghĩa là
đơn vị cung cấp dịch vụ bao thanh toán sẽ tài trợ cho các doanh nghiệp thông quaviệc mua lại các khoản nợ của các doanh nghiệp đó Nghĩa là đơn vị bao thanh toán
sẽ trả tiền ngay khi khách hàng của mình chuyển quyền sở hữu các hoá đơn Nhữngkhoản tài trợ này không thể truy đòi do đây là khoản tiền mua lại các hoá đơn chứkhông phải là những khoản ứng trước thông thường Nếu người mua không có khảnăng thanh toán thì người bán cũng không phải hoàn trả lại số tiền đó cho đơn vịbao thanh toán Thông qua hình thức này mà các doanh nghiệp có thể giải phóngđược nợ của khách hàng để có điều kiện quay vòng vốn ngay và sử dụng vốn cóhiệu quả hơn
+ Thứ hai, quản lý sổ sách bán hàng và thu nợ hộ Bản chất của các đơn vị
bao thanh toán là một loại hình tổ chức tài chính chuyên biệt, các đơn vị bao thanhtoán đã đơn giản hoá hệ thống kế toán của doanh nghiệp đồng thời đảm bảo thu nợ
và xác định các khoản thanh toán cho khách hàng thông qua việc cung cấp dịch vụquản lý sổ sách bán hàng và thu nợ hộ Bên cạnh đó, với trình độ chuyên môn củamình các đơn vị bao thanh toán sẽ có những nhận định và phân tích một cách toàndiện để xác định những bất thường có thể xảy ra và đưa ra các khuyến cáo đối vớidoanh nghiệp Đơn vị bao thanh toán sẽ thay mặt khách hàng của mình theo dõi cáchoá đơn đến hạn, kiểm tra các quy định thanh toán, nhắc nợ và quản lý các khoản
nợ khó đòi Thông qua hệ thống kỹ thuật hiện đại, chuyên môn nghiệp vụ của mìnhcác đơn vị bao thanh toán sẽ thực hiện các nghiệp vụ của mình nhờ thế giảm bớtđược những khoản nợ chậm trả và tạo thói quen thanh toán đúng hạn đối với ngườimua hàng
+ Thứ ba, bảo hiểm rủi ro tín dụng Các đơn vị bao thanh toán cung cấp dịch
vụ này đã giúp cho khách hàng của mình giảm được rủi ro do không thu được nợ vìkhách hàng không thanh toán Việc quản lý những món nợ đặc biệt là nguy cơ nợxấu là một trong những mối quan tâm hàng đầu đối với các doanh nghiệp do đó các
Trang 12doanh nghiệp chọn giải pháp bán các món nợ đó cho đơn vị bao thanh toán Khi đó,các doanh nghiệp sẽ giảm được rủi ro từ các khoản nợ đổi lại các đơn vị cung cấpdịch vụ bao thanh toán sẽ thu lợi nhuận từ việc mua các khoản nợ thấp hơn giá trịcủa chúng.
1.1.2.3 Ưu, nhược điểm của bao thanh toán
Ưu điểm
a Đối với doanh nghiệp mua hàng
Thứ nhất, khi sử dụng dịch vụ này doanh nghiệp sẽ không mất phí và thời gian
để mở L/C cho từng đơn hàng nhập khẩu/mua tại từng thị trường và thông thườngkhông phải ký quỹ
Thứ hai, doanh nghiệp được nhận hàng và sử dụng hàng mà chưa cần phảithanh toán tiền ngay, doanh nghiệp chỉ phải thanh toán tiền hàng khi hàng hoá đápứng được các yêu cầu của hợp đồng mua bán
Thứ tư, doanh nghiệp được đơn vị bao thanh toán san sẻ về những bất đồngngôn ngữ với người xuất khẩu
b Đối với doanh nghiệp bán hàng
Thứ nhất, khi sử dụng dịch vụ này doanh nghiệp sẽ duy trì được sức cạnhtranh thông qua việc cho phép người mua thanh toán như phương thức ghi sổ (tức làcấp tín dụng thương mại trực tiếp cho người mua)
Thứ hai, nhờ sự hỗ trợ của đơn vị bao thanh toán, doanh nghiệp có thông tinđúng và kịp thời về người mua hàng, nắm được hạn mức tín dụng thực tế của ngườimua hàng
Thứ ba, do đơn vị bao thanh toán đã cấp hạn mức sẵn cho người mua hàng nênthời gian thanh toán sẽ nhanh hơn
Thứ tư, khi sử dụng dịch vụ này doanh nghiệp bán hàng sẽ được tài trợ vốn lưuđộng trên cơ sở doanh thu bán hàng để quay vòng sản suất và tăng trưởng nhanh hơn.Thứ năm, việc sử dụng dịch vụ bao thanh toán giúp cho đơn vị giảm chi phíhành chính vì chỉ phải làm việc với một đơn vị bao thanh toán mặc dù bán hàng đinhiều nơi khác nhau
Trang 13Thứ sáu, ngoài ra doanh nghiệp còn được hưởng những tiện ích như: được san
sẻ khó khăn về bất đồng ngôn ngữ với đơn vị bao thanh toán, có thể giảm được rủi
ro về tỷ giá hối đoái, được bảo hiểm rủi ro tín dụng 100% giá trị hoá đơn, báo cáotài chính không có những khoản nợ xấu, luồng tiền mặt ổn định
c Đối với đơn vị cung cấp bao thanh toán
Thực hiện nghiệp vụ bao thanh toán, các đơn vị bao thanh toán sẽ thu đượcnhững lợi ích sau:
Thứ nhất, bao thanh toán góp phần tăng lợi nhuận thông qua việc hưởng phíbao thanh toán, lãi và các phí khác
Thứ hai, bao thanh toán góp phần đa dạng hoá các loại hình dịch vụ cung cấp.Trong xu thế phát triển, các ngân hàng thương mại buộc phải cung cấp thêm nhiềudịch vụ mới cho khách hàng một mặt để tăng doanh thu, mặt khác để tăng tính cạnhtranh Vì vậy, việc cung ứng dịch vụ bao thanh toán cũng giúp cho các ngân hàngthương mại duy trì và mở rộng thị phần, nâng cao uy tín thanh toán trong nước vàquốc tế
Thứ ba, việc cung ứng dịch vụ bao thanh toán cũng đồng nghĩa với việc chophép ngân hàng sử dụng tốt và linh hoạt hơn nguồn vốn huy động của mình Sở dĩnhư vậy là vì trong dịch vụ bao thanh toán có dịch vụ ứng trước tiền hàng cho ngườibán hay chính là nghiệp vụ cho vay ngắn hạn khách hàng
d Đối với nền kinh tế
Thứ nhất, bao thanh toán tạo môi trường kinh doanh ổn định hơn cho toàn bộ nềnkinh tế, tạo tâm lý yên tâm, tự tin đối với các doanh nghiệp khi sản xuất kinh doanh.Thứ hai, bao thanh toán đẩy mạnh thương mại, sản xuất và đặc biệt là xuấtnhập khẩu của quốc gia, tăng thu nhập cho nền kinh tế
Thứ ba, bao thanh toán thúc đẩy đầu tư có hiệu quả nguồn vốn của nền kinh tế,bao gồm nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư
e Đối với xã hội
Bao thanh toán giúp tạo ra một nền kinh tế ổn định hơn và vì thế sẽ tạo ra hệquả: một xã hội ổn định hơn với công ăn việc làm nhiều hơn và chất lượng công ănviệc làm cũng ổn định hơn
Trang 14Nhược điểm
a Đối với doanh nghiệp là khách hàng của dịch vụ bao thanh toán
Đối với doanh nghiêp mua hàng, giá hàng thanh toán bằng phương thức bao thanh toán có thể cao hơn so với giá hàng thanh toán bằng phương thức L/C
Đối với doanh nghiệp bán hàng, khi sử dụng dịch vụ bao thanh toán có thể dẫntới tổng chi phí thực tế tương đối cao, mối quan hệ giữa doanh nghiệp với kháchhàng có thể bị ảnh hưởng do có sự tham gia của đơn vị bao thanh toán, và khi cótranh chấp xảy ra giữa người mua và người bán đối với một hoặc một số giao dich,đơn vị bao thanh toán sẽ không tạm ứng trước cho các khoản đó hoặc sẽ truy đòi lạicác khoản đã tạm ứng cho những giao dịch tranh chấp đó
b Đối với doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bao thanh toán
Khi cung cấp dịch vụ bao thanh toán đơn vị bao thanh toán thường gặp nhiềurủi ro liên quan tới việc thu hồi các khoản phải thu khi đến hạn như:
- Khi quá hạn phải thu mà người mua không thanh toán hoặc mất khả năngthanh toán Nếu là bao thanh toán miễn truy đòi thì đơn vị bao thanh toán sẽ phảichịu toàn bộ rủi ro
- Khi có tranh chấp giữa người mua và người bán sẽ gây khó khăn cho đơn vịbao thanh toán trong việc thu hồi các khoản ứng trước
1.1.3 Phân loại bao thanh toán
1.1.3.1 Phân loại theo số lượng các hoá đơn bán hàng
Căn cứ vào phạm vi áp dụng bao thanh toán đối với một số lượng các hoá đơncủa một người bán hàng cụ thể người ta chia bao thanh toán thành 2 loại cụ thể làbao thanh toán đầy đủ và bao thanh toán từng phần
Bao thanh toán đầy đủ
Bao thanh toán đầy đủ là dịch vụ bao thanh toán áp dụng đối với toàn bộ cáchóa đơn thương mại phát hành ra của một người bán hàng hoặc toàn bộ hóa đơnthương mại của người bán hàng phát ra để đòi tiền một hoặc một số người mua hàng
Bao thanh toán từng phần
Bao thanh toán một phần là dịch vụ bao thanh toán áp dụng đối với một số hóađơn phát hành của người bán hàng đòi tiền một hoặc một số người mua hàng
Trang 151.1.3.2 Phân loại theo chức năng của bao thanh toán
Chiết khấu hóa đơn ( Invoice Discounting)
Chiết khấu hóa đơn là dịch vụ bao thanh toán chỉ cung cấp chức năng tài trợ(tạm ứng trước) mà không cung cấp các chức năng còn lại Người bán hàng tự theodõi sổ sách bán hàng, thu nợ từ người mua và chuyển tiền thanh toán cho đơn vị baothanh toán
Người bán tự chịu rủi ro khi người mua không thanh toán Khi người bán chiếtkhấu hóa đơn cho đơn vị bao thanh toán hay nói cách khác là người bán đã chuyểnnhượng các khoản phải thu cho đơn vị bao thanh toán mà không cho người mua biếtthì đây còn được gọi là bao thanh toán kín
Bao thanh toán trung gian (Agency Factoring)
Người bán chuyển nhượng các khoản phải thu cho đơn vị bao thanh toán vàthông báo cho người mua Người bán đứng ra làm trung gian giữa người mua vàđơn vị bao thanh toán để theo dõi sổ sách bán hàng và thu nợ từ người mua hàng.Trong một số trường hợp, người mua được yêu cầu thanh toán trực tiếp cho đơn vịbao thanh toán Phương thức này thường được áp dụng đối với những người mua cónhiều người mua nhỏ (khối lượng giao dịch nhỏ) nhưng không đủ tiêu chuẩn để sửdụng dịch vụ chiết khấu hóa đơn
Bao thanh toán đến hạn (Maturity Factoring)
Bao thanh toán đến hạn cung cấp tất cả các chức năng của bao thanh toán trừchức năng tài trợ Nghĩa là trong hình thức bao thanh toán này, đơn vị bao thanhtoán thực hiện việc theo dõi sổ sách bán hàng của người bán, theo dõi các khoảnphải thu và thu nợ hộ người bán khi đến hạn Đơn vị bao thanh toán làm tất cả cácnghiệp vụ có liên quan đến dịch vụ bao thanh toán trừ việc tạm ứng tiền cho cáckhoản phải thu của người bán
Bao thanh toán thu hộ (HAC: hot and cold backup and collections)
Bao thanh toán thu hộ là dịch vụ bao thanh toán chỉ cung cấp chức năng thu
hộ các khoản phải thu phát sinh trong một khoảng thời gian nhất định Trước ngày
Trang 16đơn vị bao thanh toán đồng ý cung cấp dịch vụ, trách nhiệm theo dõi sổ sách và thu
nợ thuộc về người bán Đơn vị bao thanh toán chỉ thu hộ tất cả các khoản phải thuhiện có tại thời điểm đồng ý cung cấp dịch vụ và sẽ không thu những khoản phảithu phát sinh sau thời điểm đó
Bao thanh toán có truy đòi (With recourse Factoring)
Bao thanh toán có truy đòi là dịch vụ bao thanh toán cung cấp tất cả các chứcnăng bao thanh toán trừ chức năng bảo hiểm rủi ro tín dụng Nếu các khoản phải thuđến hạn mà đơn vị bao thanh toán vẫn không thu hồi được từ người mua thì đơn vịbao thanh toán có quyền truy đòi lại số tiền đã ứng trước cho người bán cùng với lãisuất ứng trước
Bao thanh toán miễn truy đòi (Without recourse Factoring)
Bao thanh toán có truy đòi là dịch vụ bao thanh toán cung cấp chức năng bảohiểm rủi ro tín dụng Nếu không có tranh chấp giữa người mua và người bán, đơn vịbao thanh toán phải chịu hoàn toàn trách nhiệm đối với rủi ro không thu được tiền.Đơn vị bao thanh toán không có quyền đòi lại số tiền đã ứng trước cho người bán vàphải thanh toán 100% giá trị hóa đơn Dịch vụ bao thanh toán đầy đủ và bao thanhtoán đến hạn chính là bao thanh toán miễn truy đòi
1.1.3.3 Phân loại theo phạm vi hoạt động địa lý
Bao thanh toán trong nước
Bao thanh toán trong nước là dịch vụ bao thanh toán được cung cấp cho ngườibán và người mua ở trong cùng một quốc gia có hoạt động mua bán hàng hóa diễn
ra trong phạm vi biên giới quốc gia đó
Bao thanh toán quốc tế
Bao thanh toán quốc tế là dịch vụ bao thanh toán được cung cấp cho ngườibán và người mua ở hai quốc gia khác nhau, có hoạt động mua bán vượt qua biêngiới của một quốc gia Điểm khác biệt giữa bao thanh toán trong nước và bao thanhtoán quốc tế là trong nghiệp vụ bao thanh toán quốc tế thường có sự tham gia củahai đại lý bao thanh toán có trụ sở tại nước của người mua và nước của người bán
Trang 171.1.3.4 Phân loại theo nghiệp vụ xuất nhập khẩu
Bao thanh toán nhập khẩu
Bao thanh toán nhập khẩu là dịch vụ bao thanh toán mà trong đó người xuấtkhẩu chuyển nhượng các khoản phải thu cho một đơn vị bao thanh toán ở nướcngười nhập khẩu Đây là một dịch vụ tài chính đặc biệt mà nhờ đó doanh nghiệp cóthể mua hàng từ các nhà cung cấp nước ngoài trên cơ sở tín dụng thương mại màkhông cần phải mở L/C
Khi sử dụng dịch vụ bao thanh toán nhập khẩu, doanh nghiệp vẫn mua hànghoá như thông lệ nhưng phải thanh toán tiền hàng cho đơn vị bao thanh toán nhậpkhẩu chứ không phải trả cho người bán và phải trả một khoản phí dịch vụ bao thanhtoán nhập khẩu Lợi ích của dịch vụ này là nhà nhập khẩu không phải mở L/C, bảolãnh, không phải ký quỹ, vv nhưng áp dụng hạn chế do nó phụ thuộc vào mối quan
hệ của các đơn vị bao thanh toán xuất khẩu và bao thanh toán nhập khẩu
Bao thanh toán nhập khẩu thường áp dụng khi khối lượng xuất khẩu lớn Baothanh toán nhập khẩu giúp tiết kiệm thời gian thu nợ nhưng không phục vụ mụcđích cung cấp tài chính cho người xuất khẩu Đơn vị bao thanh toán nhập khẩu chỉcung cấp dịch vụ thu nợ và bảo hiểm rủi ro khi người nhập khẩu mất khả năngthanh toán
Bao thanh toán xuất khẩu
Bao thanh toán xuất khẩu: là dịch vụ bao thanh toán mà người xuất khẩuchuyển nhượng nợ cho một đơn vị bao thanh toán ở ngay nước người xuất khẩu.Đơn vị bao thanh toán cung cấp chức năng tài trợ và bảo hiểm rủi ro khi người nhậpkhẩu mất khả năng thanh toán Để bảo hiểm rủi ro, đơn vị bao thanh toán phải muabảo hiểm tín dụng
Bao thanh toán xuất khẩu cung cấp các tiện ích như: bảo đảm 100% rủi ro tíndụng trong trường hợp người nhập khẩu mất khả năng chi trả; ứng trước cho nhữnghoá đơn được chấp nhận và quản lý sổ cái bán hàng của người xuất khẩu Ưu điểmcủa bao thanh toán xuất khẩu là chi phí thấp, liên lạc giữa người xuất khẩu và đơn
vị bao thanh toán chặt chẽ Nhưng lại có hạn chế là khả năng nắm bắt thông tin vềngười nhập khẩu, luật pháp và tập quán của nước nhập khẩu kém
Trang 18Thực chất bao thanh toán xuất khẩu và bao thanh toán nhập khẩu đều cùngthuộc một hệ thống gọi là hệ thống hai đơn vị bao thanh toán trong bao thanh toánquốc tế
1.1.3.5 Phân loại theo phạm vi giao dịch
Căn cứ vào phạm vi giao dịch của đơn vị bao thanh toán với người mua hàngbao thanh toán được chia thành 2 loại
Bao thanh toán kín
Bao thanh toán kín là dịch vụ bao thanh toán mà trong đó người bán đãchuyển nhượng các khoản phải thu cho đơn vị bao thanh toán nhưng không thôngbáo cho người mua biết Người mua vẫn thanh toán tiền hàng cho người bán vàngười bán lại chuyển số tiền này cho đơn vị bao thanh toán
Bao thanh toán công khai
Bao thanh toán công khai là dịch vụ bao thanh toán được cung cấp cho ngườibán đồng thời thông báo cho người mua biết việc người bán đã chuyển nhượng cáckhoản phải thu cho đơn vị bao thanh toán Người mua trực tiếp thanh toán tiền hàngcho đơn vị bao thanh toán
1.1.3.6 Phân loại dựa trên số lượng đại lý bao thanh toán
Bao thanh toán trực tiếp (bao thanh toán một đại lý)
Bao thanh toán trực tiếp là dịch vụ bao thanh toán do một đơn vị bao thanhtoán cung cấp Trong bao thanh toán quốc tế còn có bao thanh toán xuất khẩu trựctiếp và bao thanh toán nhập khẩu trực tiếp nhưng đây không phải là loại hình baothanh toán thông dụng do chi phí thực tế cao và thông tin khó khăn nên hoạt độngkhông hiệu quả và khả năng xảy tranh chấp cao
Bao thanh toán hệ hai đại lý
Bao thanh toán hệ hai đại lý thường được sử dụng trong bao thanh toán quốc
tế do ít nhất hai đơn vị bao thanh toán ở hai nước khác nhau tham gia Người xuấtkhẩu chuyển các khoản phải thu cho đơn vị bao thanh toán xuất khẩu Đến lượtmình đơn vị bao thanh toán xuất khẩu chuyển nhượng các khoản phải thu trên chođơn vị bao thanh toán nhập khẩu ở nước người nhập khẩu Người nhập khẩu thanh
Trang 19toán tiền cho đơn vị bao thanh toán nhập khẩu Sau đó, đơn vị bao thanh toán nhậpkhẩu sẽ thanh toán cho đơn vị bao thanh toán xuất khẩu và đơn vị này sẽ thanh toánlại cho người xuất khẩu.
Ngoài ra, dựa vào sự liên kết của các hợp đồng bao thanh toán còn có một loại
bao thanh toán nữa gọi là bao thanh toán giáp lưng Theo đó, người xuất khẩu sẽ
ký hợp đồng bao thanh toán với đơn vị bao thanh toán xuất khẩu Đồng thời, giữađơn vị bao thanh toán nhập khẩu và người nhập khẩu tồn tại một hợp đồng baothanh toán độc lập trong đó quy định quyền bù trừ những khoản phải thu phát sinh
từ việc bán hàng trong nước của người nhập khẩu và các khoản nợ của người nhậpkhẩu đới với người xuất khẩu Điều này có nghĩa là đơn vị bao thanh toán nhậpkhẩu đồng thời cung cấp dịch vụ bao thanh toán nhập khẩu và bao thanh toán trongnước cho người nhập khẩu
1.2 Quy trình nghiệp vụ bao thanh toán
1.2.1 Quy trình bao thanh toán nội địa
1 Người bán và người mua ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa
2 Người bán đề nghị đơn vị bao thanh toán ký kết hợp đồng bao thanh toándựa trên các khoản phải thu của hợp đồng mua bán hàng hóa
3 Đơn vị bao thanh toán tiến hành thẩm định khả năng thanh toán của người mua
4 Đơn vị bao thanh toán thông báo đồng ý ký kết hợp đồng bao thanh toán vớinguời bán trên cơ sở kết quả thẩm định
11
Trang 205 Đơn vị bao thanh toán và người bán ký kết hợp đồng bao thanh toán.
6 Người mua, người bán thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa
7 Người bán chuyển giao chứng từ gốc hợp đồng mua bán hàng hóa và cácchứng từ liên quan khác cho đơn vị bao thanh toán
8 Đơn vị bao thanh toán ứng trước cho người bán một phần tiền mặt theo thỏathuận đã ký trong hợp đồng bao thanh toán
9 Khi đến hạn thanh toán, đơn vị bao thanh toán sẽ thu nợ từ người mua hàng
10 Người mua thanh toán tiền hàn cho đơn vị bao thanh toán
11 Đơn vị bao thanh toán tất toán với người bán phần giá trị còn lại của khoảnphải thu
1.2.2 Quy trình bao thanh toán quốc tế (bao thanh toán xuất nhập khẩu)
1 Người bán và người mua ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa
2 Người bán đề nghị ký kết hợp đồng bao thanh toán với đơn vị bao thanhtoán xuất khẩu trên cơ sở các khoản phải thu từ hợp đồng mua bán hàng hóa
3 Đơn vị bao thanh toán xuất khẩu đề nghị đơn vị bao thanh toán nhập khẩucùng thực hiện hợp đồng bao thanh toán
Trang 214 Đơn vị bao thanh toán nhập khẩu thẩm định khả năng thanh toán của người mua.
5 Đơn vị bao thanh toán nhập khẩu chấp nhận tham gia bao thanh toán vớiđơn vị bao thanh toán xuất khẩu Đơn vị bao thanh toán xuất khẩu chấp nhận ký kếthợp đồng bao thanh toán cho người bán
6 Đơn vị bao thanh toán xuất khẩu và người bán ký kết hợp đồng bao thanh toán
7 Người bán và người mua thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa
8 Người bán chuyển giao chứng từ gốc của hợp đồng mua bán hàng hóa vàcác chứng từ liên quan khác cho đơn vị bao thanh toán xuất khẩu
9 Đơn vị bao thanh toán xuất khẩu chuyển nhượng các chứng từ cần thiết chođơn vị bao thanh toán nhập khẩu
10 Đơn vị bao thanh toán xuất khẩu chuyển tiền ứng trước cho người bán theohợp đồng bao thanh toán đã ký
11 Đến hạn thanh toán, đơn vị bao thanh toán nhập khẩu thu hồi nợ từ phíangười mua, người mua thanh toán tiền hàng cho đơn vị bao thanh toán nhập khẩu
12 Đơn vị bao thanh toán nhập khẩu thanh toán tiền cho đơn vị bao thanhtoán xuất khẩu sau khi đã trừ các khoản phí
13 Đơn vị bao thanh toán xuất khẩu tất toán nốt số tiền còn lại với người bántrên cơ sở hợp đồng bao thanh toán đã ký giữa hai bên
Từ quy trình hệ thống hai đơn vị bao thanh toán có thể thấy rằng hệ thống này
có sự tham gia của cả đơn vị bao thanh toán xuất khẩu và đơn vị bao thanh toánnhập khẩu Trong đó đơn vị bao thanh toán nhập khẩu chỉ cung cấp 2 dịch vụ chính
là đảm bảo rủi ro thanh toán khi người nhập khẩu mất khả năng thanh toán và thu
hộ các khoản phải thu, còn việc tài trợ các khoản phải thu cho người xuất khẩu vàcung cấp các dịch vụ khác như đảm bảo rủi ro tín dụng cho người xuất khẩu, quản
lý sổ sách bán hàng cho người xuất khẩu và thu nợ hộ do đơn vị bao thanh toán xuấtkhẩu đảm nhiệm
Có thể thấy rẳng hoạt động bao thanh toán xuất khẩu phụ thuộc nhiều vào mốiquan hệ giữa đơn vị bao thanh toán xuất khẩu và đơn vị bao thanh toán nhập khẩu.Nếu đơn vị bao thanh toán xuất khẩu lựa chọng được một đơn vị bao thanh toánnhập khẩu có uy tín sẽ đảm bảo hiệu quả tốt hơn đối với hoạt động bao thanh toán
Trang 22Trên thực tế, các giao dịch bao thanh toán không chỉ đơn thuần có sự tham giacủa một đơn vị bao thanh toán xuất khẩu và một đơn vị bao thanh toán nhập khẩu
mà có thể một đơn vị bao thanh toán xuất khẩu sẽ giao dịch với nhiều đơn vị baothanh toán nhập khẩu và một đơn vị bao thanh toán nhập khẩu lại giao dịch vớinhiều người nhập khẩu khác nhau
1.3 Phát triển dịch vụ bao thanh toán
1.3.1 Quan niệm về phát triển dịch vụ bao thanh toán
Phát triển dịch vụ bao thanh toán được hiểu là bao gồm cả tăng trưởng về quy
mô, khối lượng hoạt động và nâng cao chất lượng dịch vụ bao thanh toán
Đặt trong mối quan hệ liên kết giữa dịch vụ bao thanh toán với các dịch vụkhác của ngân hàng, thì việc phát triển dịch vụ bao thanh toán là sự hỗ trợ mạnh mẽcho hoạt động tài trợ thương mại của ngân hàng ngày càng phát triển Bao thanhtoán quốc tế làm việc trực tiếp với các hợp đồng xuất nhập khẩu, trong đó dịch vụứng trước của bao thanh toán gần giống với dịch vụ cho vay ngắn hạn tài trợ xuấtkhẩu, đây là một dịch vụ thay thế phù hợp cho dịch vụ tài trợ xuất khẩu
Bên cạnh đó, việc phát triển dịch vụ bao thanh toán cũng giúp cho ngân hàng
đa dạng hoá các loại hình dịch vụ cung cấp, bổ sung thêm vào danh mục dịch vụ cóthể cung ứng cho khách hàng Đây cũng là một nguồn thu phí dịch vụ tiềm năngcho ngân hàng nếu phát triển thành công dịch vụ này Việc phát triển dịch vụ baothanh toán kéo theo việc phát triển dịch vụ thu nợ hộ, dịch vụ quản lý nợ, đây lànhững nhu cầu tất yếu sẽ phát triển trong các nền kinh tế thị trường phát triển ởtrình độ cao Đồng thời, do các khoản ứng trước trong bao thanh toán là ngắn hạnthường từ 30-90 ngày, do vậy sự phát triển của dịch vụ bao thanh toán cũng tạo cơhội cho việc huy động và sử dụng nguồn vốn có hiệu quả hơn, nhất là trong tìnhhình huy động vốn hiện nay rất khó khăn, chủ yếu là nguồn vốn ngắn hạn
Tuy nhiên, tại Việt Nam, do quy định của Quy chế 1096, bao thanh toán đượchiểu như một hình thức cấp tín dụng, do vậy tại các ngân hàng khi xây dựng hạnmức cho vay của một khách hàng thường được xem xét cấp cho một khoảng thờigian thường là 01 năm trong đó có bao gồm cả hạn mức ứng trước bao thanh toán
Trang 23cho khách hàng Hạn mức tăng trưởng tín dụng của từng ngân hang cũng bao gồmtrong đó mức tăng trưởng của dịch vụ ứng trước trong bao thanh toán Điều này dẫntới việc phát triển dịch vụ bao thanh toán sẽ làm giảm tốc độ tăng trưởng của dịch
vụ cho vay ngắn hạn, vì nếu bao thanh toán phát triển quá nhanh, mức ứng trướccủa ngân hàng trong bao thanh toán quá lớn sẽ dẫn đến buộc phải thu hẹp cho vayngắn hạn vì dư nợ cho vay của một ngân hàng là một mức xác định Vì thế buộc cácngân hang trong chiến lược phát triển dịch vụ bao thanh toán sẽ phải cân nhắc hysinh sự phát triển cho dịch vụ khác, cụ thể ở đây là dịch vụ cho vay ngắn hạn
1.3.2 Một số chỉ tiêu đánh giá sự phát triển dịch vụ bao thanh toán
Sự phát triển dịch vụ bao thanh toán có thể được đánh giá qua chỉ tiêu phát triểnquy mô bao thanh toán và chỉ tiêu phát triển chất lượng dịch vụ bao thanh toán
a Chỉ tiêu phát triển quy mô bao thanh toán
Khi một ngân hàng phát triển quy mô dịch vụ này, điều đó được định lượngqua một số chỉ tiêu sau:
1) Tốc độ tăng trưởng doanh số bao thanh toán:
Chỉ tiêu này phản ánh sự tăng trưởng về nghiệp vụ bao thanh toán qua cácnăm của đơn vị bao thanh toán và phần nào phản ánh doanh thu, lợi nhuận thu được
từ nghiệp vụ bao thanh toán của đơn vị bao thanh toán
Doanh số bao thanh toán = Số lượng khách hàng thực hiện x giá trị từng mónbao thanh toán
Tốc độ tăng trưởng doanh số bao thanh toán năm (t+1) = Doanh số bao thanhtoán năm (t+1)/Doanh số bao thanh toán năm (t)
2) Số lượng khách hàng tham gia sử dụng dịch vụ bao thanh toán:
Nếu như số lượng này càng đông đảo, chứng tỏ càng nhiều doanh nghiệp vàkhách hàng biết đến loại hình dịch vụ này, cũng như nhu cầu sử dụng dịch vụ này
đã tăng lên Số lượng khách hàng còn cho chúng ta biết uy tín, tính cạnh tranh, thịphần của đơn vị bao thanh toán
b Chỉ tiêu phát triển chất l ư ợng dịch vụ bao thanh toán
Chất lượng dịch vụ bao thanh toán cung ứng được đánh giá thông qua mức độhài lòng của doanh nghiệp khi sử dụng dịch vụ này Thông thường, mức độ hài lòng
Trang 24của khách hàng chỉ có thể nhận biết được khi khách hàng tiếp tục sử dụng dịch vụ,không kêu ca, phàn nàn với ngân hàng Chất lượng dịch vụ cung ứng được cải thiệnkhi ngân hàng có mức phí cạnh tranh, linh hoạt, thời gian, thủ tục, giấy tờ yêu cầukhách hàng được rút ngắn, đơn giản hoá, số vụ tranh chấp có liên quan đến dịch vụbao thanh toán không có hoặc rất ít Chất lượng dịch vụ bao thanh toán tăng haygiảm được đánh giá thông qua một số chỉ tiêu sau:
1) Sự đa dạng của sản phẩm bao thanh toán cung ứng
Trong quá trình phát triển dịch vụ này, thông thường các ngân hang đi từ môhình phát triển từ đơn giản đến phức tạp, từ ít rủi ro đến nhiều rủi ro Ban đầu cácngân hàng thường chỉ cung ứng dịch vụ bao thanh toán nội địa, với loại hình baothanh toán có truy đòi, sau này khi đã phát triển mạnh hơn, mối quan hệ ngân hàngđại lý đã phát triển hơn, uy tín tăng lên, tiềm lực tài chính lớn mạnh hơn thì cácngân hàng có thể tung ra sản phẩm bao thanh toán miễn truy đòi, từ bao thanh toánmột phần đến bây giờ các ngân hang có thể xây dựng thêm danh mục cung ứng dịch
vụ bao thanh toán toàn phần, bao thanh toán đầy đủ…vv
2) Thủ tục đơn giản, rõ ràng, phí và lãi suất cạnh tranh
Thủ tục đơn giản, rõ ràng là tiêu chí quan trọng đánh giá sự phát triển của dịch
vụ bao thanh toán của một ngân hàng thương mại Trong quá trình cung ứng dịch
vụ, các ngân hàng thương mại phải thường xuyên cải cách thủ tục, sửa đổi, hoànthiện quy trình nghiệp vụ để thủ tục, quy trình ngày càng đơn giản, dễ hiểu, dễ làm,
đỡ tốn kém thời gian và chi phí của khách hàng
Bên cạnh đó, một yếu tố quan trọng quyết định sự phát triển dịch vụ này đó làmức phí và lãi suất của ngân hàng phải cạnh tranh và linh hoạt Có như vậy mới thuhút khách hàng sử dụng dịch vụ này tại ngân hàng mình
3) Phát triển các dịch vụ liên quan như tư vấn, hỗ trợ khách hàng
Sự phát triển chất lượng dịch vụ bao thanh toán đòi hỏi phải có sự phát triểncủa các dịch vụ liên quan như dịch vụ tư vấn khách hàng khi khách hàng có nhu cầutìm hiểu hoặc sử dụng dịch vụ bao thanh toán, dịch vụ hỗ trợ khách hàng trong quátrình tìm hiểu thị trường, đối tác, mặt hàng khi sử dụng dịch vụ này Có như vậy,
Trang 25khách hàng mới thực sự yên tâm sử dụng dịch vụ và tin tưởng vào chất lượng dịch
vụ bao thanh toán tại ngân hàng mà họ sử dụng dịch vụ
1.3.3 Nhân tố ảnh hưởng đến phát triển dịch vụ bao thanh toán
Bao thanh toán là một loại hình dịch vụ tài chính đặc thù Sự phát triển của nóchịu sự tác động của nhiều nhân tố bao gồm:
a Nhân tố bên ngoài
1) Cầu của doanh nghiệp về dịch vụ bao thanh toán
Xuất phát từ chính nhu cầu thực tế trong hoạt động thương mại giữa các doanhnghiệp mà xuất hiện nhu cầu về dịch vụ bao thanh toán Nói cách khác, bao thanhtoán chỉ có thể phát triển được khi doanh nghiệp có nhu cầu về sử dụng dịch vụ này.Trên thực tế, nhu cầu của doanh nghiệp về thu hộ nợ, quản lý nợ xấu, tài trợ vốn làrất lớn song không phải doanh nghiệp nào cũng chấp nhận sử dụng dịch vụ baothanh toán Lý do là vì doanh nghiệp còn phải cân nhắc tới nhiều yếu tố được-mấtkhi sử dụng dịch vụ này, đó là sự cân nhắc trước thu hồi nợ đúng hạn, không mấtchi phí nhân công, chi phí quản lý các khoản phải thu, nhận được sự bảo đảm chắcchắn về thu hồi nợ…vv với chi phí cao, lãi suất ứng trước, sự ảnh hưởng tới mốiquan hệ bạn hàng khi sử dụng dịch vụ này…vv
2) Vấn đề nhận thức, thói quen, tập quán
Khi nhận thức của người dân và doanh nghiệp về dịch vụ bao thanh toántrở nên sâu sắc, doanh nghiệp nhận thấy tầm quan trọng và lợi ích của dịch vụbao thanh toán mang lại cho họ là cần thiết, họ sẽ cân nhắc đến việc sử dụngdịch vụ này
Tương tự như vậy, ở một số thị trường doanh nghiệp có thói quen và tập quán
sử dụng dịch vụ bao thanh toán, ví dụ như thị trường Trung Quốc gần đây, song ởmột số thị trường khác, doanh nghiệp không có thói quen sử dụng dịch vụ này vì họkhông sử dụng phương thức thanh toán trả chậm (ghi sổ) như Ấn Độ chẳng hạn thìviệc phát triển dịch vụ này thực sự khó khăn đối với các ngân hàng cho dù các ngânhàng có cố gắng đến mấy
Trang 263) Hành lang pháp lý
Cũng giống như bất kỳ một dịch vụ nào, bao thanh toán muốn phát triển đượcphải có sự thuận lợi của chính sách vĩ mô của Chính Phủ, đăc biệt là khung pháp lýđiều chỉnh hoat động này Tại một số quốc gia phát triển như Mỹ, Nhật , Anh, E.Uluật pháp của những quốc gia này được hình thành từ vài trăm năm với các bộ luậttương đối hoàn chỉnh, nhất là những văn bản pháp lý điều chỉnh hoạt động baothanh toán của họ được hình thành từ rất lâu và trải qua sự kiểm nghiệm của thực tếcho thấy nó phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế của các quốc gia này dẫn tới nótạo điều kiện rất lớn cho hoạt động bao thanh toán ở các quốc gia này phát triểnmạnh mẽ
b Nhân tố bên trong
+ Con người là nhân tố chủ quan quan trọng nhất trong việc cung ứng và pháttriển dịch vụ này Các cán bộ ngân hàng được đào tạo, biết nhìn xa trông rộng thìluôn thấy được sự cần thiết phải có dịch vụ bao thanh toán trong danh mục cung cấpcủa ngân hàng mình và do vậy sẽ thôi thúc họ tìm các biện pháp để phát triển dịch
vụ này
+ Tiềm lực tài chính, cơ sở vật chất, công nghệ, trình độ quản lý (bao gồm cảtrình độ quản lý rủi ro), quan hệ ngân hàng đại lý… cũng là những yếu tố ảnhhưởng lớn đến sự phát triển dịch vụ bao thanh toán tại các ngân hàng thương mại
Do hoạt động bao thanh toán không chỉ diễn ra giữa ngân hàng với khách hàng mà
nó còn diễn ra giữa ngân hàng trong nước với ngân hàng nước ngoài nên đòi hỏingân hang cung ứng dịch vụ này phải có năng lực tài chính sẵn có, có mối quan hệrộng lớn với các ngân hàng nước ngoài, hạ tầng công nghệ phát triển, trình độ quản
lý cao thì mới đáp ứng được nhu cầu của dịch vụ bao thanh toán đòi hỏi Có nhưvậy, mới tạo điều kiện cho việc thực hiện dịch vụ dễ dàng, trôi chảy, tránh xảy ratranh chấp Chính vì vậy mà bao thanh toán mới phát triển mạnh ở những thị trườnglớn như Anh, Pháp, Đức, Mỹ, tại những ngân hàng lớn, lâu đời
Trang 271.4 Kinh nghiệm quốc tế và trong nước về phát triển dịch vụ bao thanh toán 1.4.1 Tình hình bao thanh toán trên thế giới hiện nay
Trên thế giới hiện nay có hơn 1.809 đơn vị bao thanh toán đang hoạt động.Trong đó có 247 đơn vị bao thanh toán hình thành từ 66 quốc gia là thành viên củaHiệp Hội Bao thanh toán quốc tế (FCI) Theo số liệu thống kê của FCI, doanh thubao thanh toán thế giới tăng hàng năm Cụ thể như sau:
Bảng 1.1: Doanh số bao thanh toán trên thế giới
Đơn vị: Triệu EUR
Năm Doanh số BTT nội địa Doanh số BTT quốc tế Tổng số
(Nguồn từ FCI: www factors-chain.com)
Từ bảng số liệu trên, ta thấy doanh số bao thanh toán không ngừng gia tăngtheo thời gian Điều này chứng tỏ, các bên tham gia giao dịch ngày càng nhận ra lợiích đáng kể mà dịch vụ này mang lại Trong đó, tỷ trọng doanh thu của bao thanhtoán quốc tế còn khá khiêm tốn so với doanh số bao thanh toán nội địa Tuy nhiên
tỷ lệ này tăng dần theo thời gian: năm 2003 là 6,69%, năm 2004 là 8,62%, năm
2005 là 9,29%, năm 2006 là 10,06%, năm 2007 là 12,66%, năm 2008 là 15,33%,năm 2009 là 14,80% Điều này nói lên sự phát triển khá mạnh của bao thanh toánquốc tế cũng như việc nhận ra tầm quan trọng của bao thanh toán đối với hoạtđộng xuất nhập khẩu Trong tương lai, doanh số bao thanh toán quốc tế sẽ tiếptục tăng mạnh
Bảng 1.2: Doanh số bao thanh toán của một số thị trường bao thanh toán
trên thế giới
Đơn vị: Triệu EUR
Trang 28Anh 156.706 160.770 184.520 237.205 248.769 286.769 188.000 195.613Pháp 67.398 73.200 81.600 89.020 100.009 121.660 135.000 128.182
Ý 134.804 132.510 121.000 111.175 120.435 122.800 128.200 124.250
Mỹ 91.143 80.696 81.860 84.160 96.000 97.000 100.000 85.500Đức 30.156 35.082 45.000 55.110 72.000 89.000 106.000 96.200
(Nguồn từ FCI: www factors-chain.com)
Theo phạm vi khu vực địa lý, trong tổng doanh số bao thanh toán thế giới theocác năm thì đứng đầu vẫn là châu Âu, tiếp đến là châu Mỹ, châu Á, châu Úc, vàcuối cùng là châu Phi với tốc độ tăng trưởng không đều nhau
Bảng 1.3: Doanh số bao thanh toán của các khu vực trên thế giới
Đơn vị: Triệu EUR
Khu vực 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009
Châu Âu 522.851 546.935 612.504 715.486 806.983 932.269 888.533 876.649 Châu Á 69.849 89.095 111.614 135.813 149.945 174.617 235.619 209.991 Châu Mỹ 115.301 104.542 110.094 15.630 140.944 150.219 154.450 142.013 Châu Úc 9.92 13.979 18.417 23.380 27.853 33.780 33.246 40.110 Châu Phi 6.203 5.840 7.586 6.237 8.513 10.705 13.263 14.796
(Nguồn từ FCI: www factors-chain.com)
1.4.2 Kinh nghiệm bao thanh toán ở một số nước trên thế giới
Hoạt động bao thanh toán đã được triển khai ở nhiều quốc gia trên thế giới.Tại mỗi quốc gia đều có những đặc thù riêng nên quá trình vận hành hoạt động baothanh toán cũng có những đặc điểm riêng Việc nghiên cứu các đặc điểm của hoạtđộng bao thanh toán của từng nước sẽ giúp cho các nước khác rút ra được các bàihọc kinh nghiệm cho mình Bài học có thể là từ thành công cũng có thể là từ thấtbại của các nước để từ đó có thể vận dụng phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của nướcmình nhằm vận hành và thúc đẩy hoạt động bao thanh toán phát triển
Kinh nghiệm bao thanh toán của Mỹ
Mỹ là một nước đi đầu trong hoạt động bao thanh toán nhất là bao thanh toánquốc tế Mặc dù không phải là nước có doanh thu bao thanh toán lớn nhất thế giới
Trang 29nhưng Mỹ cũng có thể coi là một trong những cái nôi của bao thanh toán đồng thờicũng là nơi mà bao thanh toán được cung cấp với nhiều hình thức nhất.
Để tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp bao thanh toán phải đáp ứng đượcnhu cầu của thị trường, do đó nhiều công ty của Mỹ đã cung cấp tất cả các dịch vụgồm cả dịch vụ truyền thống và dịch vụ không truyền thống Các dịch vụ truyềnthống gồm: bao thanh toán, đảm bảo tín dụng, kế toán các khoản phải thu, dịch vụnhờ thu, tài trợ trên cơ sở các khoản phải thu, và kho thành phẩm Các dịch vụkhông truyền thống gồm có: bảo đảm tín dụng khách hàng, quản lý khoản phải thu,bán buôn các khoản phải thu (bulk sale), bao thanh toán xuất/nhập khẩu, bảo đảmvốn lưu động xuất khẩu (đối với hàng sẽ được xuất khẩu), tài trợ các đơn mua hàng(purchase order financing)… Ngoài việc cung cấp loại hình dịch vụ bao thanh toánrất đa dạng và phong phú, các đơn vị bao thanh toán của Mỹ còn cung cấp dịch vụcho khách hàng hết sức nhanh chóng và thuận tiện Khách hàng chỉ mất từ 12 đến
24 giờ để được cung cấp duịc vụ bao thanh toán xuất khẩu Ngoài ra các công tybao thanh toán của Mỹ còn chấp nhận ứng trước từ 80% đến 97% các khoản phảithu Hoạt động bao thanh toán của Mỹ chịu sự điều chỉnh của Luật liêng bang
Kinh nghiệm bao thanh toán của Hồng Kông
Bao thanh toán thường được coi là giải pháp cuối cùng đối với các doanhnghiệp Hồng Kông, tuy nhiên nhiều ngân hàng Hồng Kông cung cấp dịch vụ này và
nó cũng dần trở thành một công cụ ngân hàng khá phổ biến Khách hàng của dịch
vụ bao thanh toán Hồng Kông là các doanh nghiệp thuộc các ngành như: điện tử, đồchơi, sản phẩm viễn thông, liên lạc, máy tính, thực phẩm, in và giấy, điện lực, giaonhận vận tải và tư vấn
Các loại hình bao thanh toán được cung cấp ở Hồng Kông là bao thanh toántrong nước miễn truy đòi hoặc có truy đòi, chiết khấu hoá đơn, bao thanh toán kín,bao thanh toán xuất khẩu, bao thanh toán nhập khẩu và bao thanh toán giáp lưng
Kinh nghiệm bao thanh toán của Nhật
Dịch vụ bao thanh toán của các ngân hàng Nhật được thực hiện thông qua cáccông ty con trực thuộc ngân hàng, và hoạt động dưới sự điều chỉnh của pháp luật vềngân hàng Những năm trước đây, Mỹ là thị trường bao thanh toán xuất khẩu lớn
Trang 30nhất của Nhật Bản (31%) Ở châu Á, thị trường bao thanh toán xuất khẩu lớn nhấtcủa Nhật là Hàn Quốc (8%) và Đài Loan (4%) Tuy nhiên, tỷ trọng bao thanh toánnhập khẩu của Nhật đối với thị trường Đài Loan lên tới 62% trong khi thị trường Mỹchỉ có 14%
Xu hướng chuyển từ các phương pháp thanh toán truyền thống như L/C, D/A,D/P sang phương pháp ghi sổ đang diễn ra khá phổ biến khiến cho hoạt động baothanh toán của các ngân hàng Nhật ngày càng phát triển
Hoạt động bao thanh toán quốc tế của Nhật chịu ảnh hưởng nhiều bởi bối cảnhhoạt động kinh doanh đặc biệt là hoạt động bao thanh toán xuất khẩu chịu ảnhhưởng nhiều bởi xu thế mới của hoạt động xuất khẩu Châu Á trở thành thị trườngxuất khẩu lớn nhất và Trung Quốc đã thay thế Mỹ trở thành đối tác Thương mại lớnnhất của Nhật Bản Tuy nhiên khi xuất khẩu vào các thị trường này thì các doanhnghiệp xuất khẩu Nhật Bản gặp ngay phải những trở ngại về luật pháp và việc tìmhiểu đối tác do số công ty mới thành lập ngày càng nhiều và các doanh nghiệp xuấtkhẩu không đủ thời gian cũng như điều kiện để có thể tìm hiểu tình hình của các đốitác sau mỗi hợp đồng xuất khẩu trong khi đó tất cả các doanh nghiệp luôn muốn tốithiểu hóa rủi ro tín dụng của doanh nghiệp mình Chính vì vậy, bao thanh toán quốc
tế trong đó có bao thanh toán xuất khẩu là lựa chọn hàng đầu của các doanh nghiệpxuất khẩu, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp mới
Các công ty bao thanh toán của Nhật, đa phần là các công ty con trực thuộccác tập đoàn tài chính ngân hàng đều có những lợi thế về tài chính và kinh nghiệmđánh giá tín dụng nhưng chính các công ty này lại phải cạnh tranh với nhau gay gắt
để có thể tồn tại và phát triển Do đó các công ty bao thanh toán của Nhật luôn đưa
ra những điều kiện rất ưu đãi đối với khách hàng của mình Có những công ty đãcung cấp dịch vụ bao thanh toán xuất khẩu với mức ứng trước lên tới 100% giá trịcác khoản phải thu
Để đáp ứng được nhu cầu hoạt động ngày càng tăng, hiệp hội bao thanh toáncủa Nhật đã ra đời tuy nhiên nó mới chỉ giới hạn ở trao đổi kinh nghiệm chuyênmôn chứ chưa thực sự phát huy được vai trò của một hiệp hội
Trang 31Kinh nghiệm bao thanh toán của Trung Quốc
Trung quốc trong những năm gần đây trở thành một hiện tượng kinh tế mớicủa thế giới Không chỉ đạt được những thành tựu ấn tượng trong phát triển kinh tế
mà xuất khẩu của Trung Quốc cũng đạt những con số đáng nể Hoạt động bao thanhtoán của Trung Quốc cũng không nằm ngoài xu hướng phát triển chung này Dịch
vụ bao thanh toán lần đầu tiên được triển khai tại Trung Quốc và năm 1998 tạiNgân hàng Trung ương Trung Quốc (Bank of China) và một năm sau đấy, cũngthông qua ngân hàng này Trung Quốc đã tiến hàng giao dịch bao thanh toán quốc tếđầu tiên Doanh thu bao thanh toán của Trung Quốc liên tục tăng qua các năm Năm
1999 doanh thu bao thanh toán của Trung Quốc đạt 31 triệu EUR thì 7 năm sau đónăm 2005 doanh thu bao thanh toán của Trung Quốc đã đạt con số 5.830 triệu EUR.Năm 2006 doanh thu bao thanh toán của Trung Quốc đạt 5.830 tỷ USD trong đóbao thanh toán trong nước đạt 4.150 tỷ USD và bao thanh toán quốc tế đạt 1.680 tỷUSD Thị trường xuất khẩu chủ yếu của Trung Quốc là Châu Âu và Bắc Mỹ do đócác hoạt động bao thanh toán xuất khẩu chủ yếu tập trung vào các thị trường này Tuy nhiên các nhà xuất khẩu Trung Quốc có vẻ vẫn ưa dùng các phương thứcthanh toán truyền thống hơn nên doanh thu bao thanh toán quốc tế của Trung Quốcchỉ chiếm chưa đến 1/3 doanh thu bao thanh toán Nhưng dần dần các doanh nghiệpvừa và nhỏ nhất là doanh nghiệp xuất khẩu cũng thấy được vai trò quan trọng và lợiích mà dịch vụ bao thanh toán mang lại nên đã ngày càng có nhiều doanh nghiệpxuất khẩu của Trung Quốc sử dụng loại hình dịch vụ này Bao thanh toán quốc tế tạiTrung Quốc được thực hiện trên cơ sở miễn truy đòi, trong khi bao thanh toán nộiđịa chủ yếu là có truy đòi Các ngành thép, xe đạp, dệt may là những khách hànglớn nhất của bao thanh toán Trung Quốc Các ngân hàng Trung Quốc có xu hướng
tổ chức hoạt động bao thanh toán của mình thông qua một phòng nghiệp vụ độc lậphoặc một công ty con trực thuộc ngân hàng nhưng điều kiện tiên quyết là có quyềnđộc lập tiến hành các hoạt động marketing và công tác đánh giá tín dụng kháchhàng Hoạt động bao thanh toán tại Trung Quốc chịu sự điều chỉnh của Luật Ngânhàng Trung Quốc và chủ yếu được tiến hàng thông qua các Ngân hàng Trung Quốc
Trang 32Chính vì những đặc thù trên đây của bao thanh toán Trung Quốc nên cácdoanh nghiệp cung cấp dịch vụ bao thanh toán trong nước ưa thích bao thanh toánnội địa hơn bao thanh toán quốc tế và bao thanh toán xuất khẩu Loại hình thanhtoán phù hợp với bao thanh toán ở Trung Quốc là D/A và thanh toán bằng phươngpháp ghi sổ (open account).
1.4.2 Kinh nghiệm bao thanh toán tại một số ngân hàng thương mại Việt Nam
Ngay từ cuối thập kỷ 90, nghiệp vụ bao thanh toán được một số chi nhánhngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam giới thiệu cho các nhà xuất khẩu ViệtNam, song nghiệp vụ này quá mới mẻ nên chưa được áp dụng Trước nhu cầu thực
tế, ngày 06/09/2004, Thống đốc Ngân hàng nhà nước đã ban hành Quyết định số
1096 quy định về quy chế hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng Sự rađời của văn bản pháp lý này là cơ sở, động lực thúc đẩy các tổ chức tín dụng triểnkhai và phát triển dịch vụ bao thanh toán
Tại Việt Nam, một số chi nhánh ngân hàng nước ngoài là những đơn vị thựchiện nghiệp vụ bao thanh toán đầu tiên Chi nhánh ngân hàng Deutsche Bank AG làđơn vị đầu tiên triển khai dịch vụ này vào tháng 01/2005 Tiếp theo đó là một sốngân hàng đồng loạt cung ứng như: Far East National Bank (02/2005), UFJ Bank(03/2005), Citi Bank (10/2005), HSBC (2005)…
Một số ngân hàng nội địa cũng lần lượt triển khai cung ứng dịch vụ này như:
Kỹ thương (Tecombank), Á Châu (ACB), Ngoại thương (Vietcombank), Sài Gònthương tín (Sacombank), Phương Đông (OCB), Xuất nhập khẩu (Eximbank), Quốc
tế (VIB)…vv Trong số đó, đã có 4 ngân hàng tham gia vào Hiệp hội Bao thanhtoán quốc tế (FCI) gồm: Ngoại thương, Kỹ thương, Á Châu, Sài Gòn thương tín.Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân đa phần các ngân hàng trong nước chỉ cung cấpdịch vụ bao thanh toán nội địa có truy đòi
Ngân hàng đi đầu trong bao thanh toán nội địa là ngân hàng TMCP Á Châu(ACB) Từ tháng 4 năm 2005, ACB đã tiến hành triển khai dịch vụ bao thanh toánnội địa Sau 5 tháng triển khai dịch vụ này, ACB đã thu hút được sự quan tâm của
Trang 33khách hàng với doanh số đạt được là 12,94 tỷ đồng, tổng số tiền ứng trước chokhách hàng là 9,76 tỷ đồng Từ khi triển khai đến nay, ACB hiện vẫn cung cấp dịch
vụ bao thanh toán nội có truy đòi Thông thường người bán không thích hình thức
có truy đòi vì ACB không phải chịu rủi ro đối với những khoản phải thu mà ngườimua mất khả năng thanh toán, song để đảm bảo cho mình ACB vẫn tiến hành hìnhthức bao thnah toán có truy đòi
Một trong những ngân hàng nước ngoài đi tiên phong trong việc cung cấp dịch
vụ bao thanh toán quốc tế tại Việt Nam là chi nhánh ngân hàng nước ngoài HồngKông và Thượng Hải (HSBC Việt Nam) Ngay từ năm 2004, HSBC Hồ Chí Minh
đã tiến hành cung ứng dịch vụ bao thanh toán quốc tế cho khách hàng và HSBC HàNội triển khai dịch vụ này từ năm 2005 Từ 2005-2006, HSBC Hà Nội đã cung cấpdịch vụ bao thanh toán quốc tế cho hơn 20 doanh nghiệp xuất khẩu với doanh sốbao thanh toán hơn 15 triệu USD, trong đó chủ yếu là bao thanh toán quốc tế cótruy đòi Lãi ròng thu được từ hoạt động bao thanh toán chiếm tới 2% lãi thu từ dịch
vụ cho vay và phí thu từ dịch vụ bao thanh toán chiếm tới 1,38% tổng phí thu từ dịch
vụ thanh toán của năm 2005-Nguồn từ báo cáo tài chính năm 2005 của HSBC HàNội
1.4.3 Những bài học kinh nghiệm trong phát triển dịch vụ bao thanh toán
Bài học về công tác Marketing
Marketing đóng vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh của các doanhnghiệp trong thời đại ngày nay Marketing không những giúp các doanh nghiệp giớithiệu sản phẩm mà còn quảng bá hình ảnh của mình với đông đảo công chúng Hoạtđộng bao thanh toán cũng cần phải được marketing mạnh mẽ giúp cho các doanhnghiệp hiểu được những lợi ích của bao thanh toán, điều kiện để bao thanh toánnhất là đối với thương mại quốc tế Cùng với quá trình toàn cầu hóa, quan hệthương mại giữa các nước trở nên khăng khít hơn và cơ hội tiếp cận với thị trườngquốc tế cũng mở rộng hơn Đây chính là điều kiện tốt để mở rộng thị trường baothanh toán quốc tế Do đó, việc làm tốt công tác marketing đóng góp một phần rấtquan trọng trong việc thúc đẩy dịch vụ bao thanh toán phát triển
Trang 34Bên cạnh đó, việc quảng bá rộng rãi và giúp cho khách hàng hiểu hết được cáclợi ích của bao thanh toán không những góp phần làm tăng doanh thu bao thanhtoán mà là yếu tố quan trọng để duy trì sự tồn tại của loại hình dịch vụ này Một khingười mua thấy rằng khách hàng của mình luôn thanh toán tốt, đúng hạn thì có thể
họ sẽ không nghĩ tới việc sử dụng dịch vụ bao thanh toán vì nó làm cho họ mất mộtkhoản phí Do đó cần phải phát triển đầy đủ các dịch vụ để cho khách hàng thấyđược bao thanh toán đem lại nhiều lợi ích hơn là cấp tín dụng ngắn hạn
Bài học liên quan tới các quy định của Pháp luật
Khung pháp luật là yếu tố rất quan trọng quyết định quá trình hoạt động minhbạch của các hoạt động thương mại nhất là thương mại quốc tế Do đó việc có mộtquy định thống nhất và chặt chẽ đối với hoạt động bao thanh toán sẽ đóng vai tròđiều tiết quan trọng đối với hoạt động này Theo kinh nghiệm của các nước chothấy, việc không có quy định rõ ràng về hoạt động bao thanh toán sẽ dẫn tới sự thaotúng của các công ty lớn và kết quả là khách hàng, những người sử dụng dịch vụnày sẽ phải chịu thiệt thòi Riêng đối với hoạt động bao thanh toán ngoài những quyđịnh chung thì các quy định về chuyển nhượng các khoản phải thu cũng cần phảiđược đặc biệt lưu tâm
Bên cạnh đó việc quy định loại hình bao thanh toán được phép thực hiện ví dụnhư bao thanh toán có truy đòi hay miễn truy đòi sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạtđộng bao thanh toán do tâm lý của những người muốn sử dụng dịch vụ nhưng họ lạingần ngại vì có những điều khoản không được quy định rõ ràng trong luật hoặc gâybất lợi hay rủi ro cho họ Điều này làm giảm đáng kể sự phát triển của bao thanhtoán Từ đó có thể thấy rằng, việc quy định các loại hình bao thanh toán cần phảithực hiện thật chặt chẽ, nếu đã cho phép loại hình bao thanh toán nào hoạt đông thìcần phải có những quy định liên quan thật cụ thể, chặt chẽ và bảo đảm được quyềnlợi của cả đơn vị bao thanh toán và người sử dụng dịch vụ này
Bài học liên quan tới vận hành hoạt động bao thanh toán
Thứ nhất liên quan tới việc vận hành hoạt động của các doanh nghiệp cung
cấp dịch vụ bao thanh toán Có thể nhận thấy rằng hoạt động bao thanh toán chủ
Trang 35yếu do các ngân hàng cung cấp, cho dù đó là các nước có nền tài chính tiền tệ pháttriển như Mỹ, Nhật Bản hay các nền tài chính đang phát triển như Hàn Quốc, TháiLan, Malaysia, nhưng phải đến 80% hoạt động bao thanh toán là do các ngân hàngnắm giữ Mặc dù các ngân hàng có vẻ chiếm ưu thế hơn trong hoạt động bao thanhtoán nhưng như vậy không có nghĩa là các doanh nghiệp ngoài ngân hàng không thểtham gia cung cấp dịch vụ này Kinh nghiệm của các nước cho thấy không chỉ cáccông ty trực thuộc các ngân hàng, các tập đoàn tài chính mà cả những doanh nghiệp
tư nhân cũng có thể tham gia vào dịch vụ này
Thứ hai, các đơn vị cung cấp dịch vụ bao thanh toán nên hoàn thiện dịch vụ
của mình và cung cấp dịch vụ bao thanh toán đầy đủ để đảm bảo quyền lợi cao nhấtđối với khách hàng của mình và để thu được lợi nhuận cao hơn Đồng thời các công
ty bao thanh toán phải thường xuyên nâng cao nghiệp vụ của mình để tránh bị lừa.Đồng thời trong quá trình thực hiện các hợp đồng bao thanh toán không nên tách rờichức năng bảo hiểm rủi ro tín dụng, tài trợ với chức năng theo dõi và thu hồi nợ.Không nên sử dụng loại hình bao thanh toán kín
Thứ ba, việc thống nhất hoạt động và trao đổi kinh nghiệm, dẫn dắt hoạt động
cho các đơn vị bao thanh toán rất quan trọng nhất là đối với một nền kinh tế mà baothanh toán còn non trẻ do đó việc thành lập hiệp hội bao thanh toán là việc nên làm.Tuy nhiên, khi đã có hiệp hội bao thanh toán quốc gia thì hiệp hội này không chỉdừng lại là nơi trao đổi kinh nghiệm giữa các đơn vị bao thanh toán mà hiệp hội còn
là người đứng ra bảo vệ các đơn vị cung cấp cũng như khách hàng của dịch vụ này,
là người hướng dẫn cho các công ty bao thanh toán cũng như khách hàng của họ khithực hiện dịch vụ đồng thời phải đóng vai trò nhất định trong việc điều tiết và pháttriển thị trường bao thanh toán của quốc gia
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BAO THANH TOÁN
TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM
CHI NHÁNH HẢI PHÒNG2.1 Thực trạng triển khai hoạt động bao thanh toán tại các ngân hàng thương
Trang 36mại Việt Nam.
2.1.1 Nguồn luật điểu chỉnh hoạt động bao thanh toán tại Việt Nam hiện nay.
Hoạt động bao thanh toán ngày càng phát triển và hoạt động bao thanh toánquốc tế chiếm ưu thế so với hoạt động bao thanh toán trong nước Do đó, cần phải
có nguồn luật cả trong nước và quốc tế để điều chỉnh hoạt động này Hiện nay trênthế giới ngoài các luật quốc gia còn có các công ước quốc tế, luật các hiệp hội điềuchỉnh hoạt động bao thanh toán quốc tế
a Công ước quốc tế
Hiện nay có hai công ước quốc tế điều chỉnh hoạt động bao thanh toán làCông ước UNIDROIT về bao thanh toán quốc tế và Công ước Liên hợp quốc vềchuyển nhượng các khoản phải thu trong thương mại quốc tế (UNCITRAL) 2001
Công ước UNIDROIT
Công ước UNIDROIT là công ước về bao thanh toán quốc tế được ký vàotháng 5 năm 1998, tại Ottawa, Canada Tính đến thời điểm 31/12/2006 có 15 nướctham gia công ước, 6 nước phê chuẩn và 2 nước tuyên bố thừa nhận công ước.Công ước này chỉ điều chỉnh hoạt động bao thanh toán quốc tế và có hiệu lực
kể từ ngày 01/05/1998 Một số nội dung chính của công ước cụ thể như sau:
Khái niệm về hợp đồng bao thanh toán: là hợp đồng giữa người bán và đơn vịbao thanh toán, theo đó người bán sẽ chuyển nhượng cho đơn vị bao thanh toán cáckhoản phải thu phát sinh từ hợp đồng mua bán hàng hóa dịch vụ giữa người bán vàcác bên mua hàng Đơn vị bao thanh toán phải thực hiện ít nhất hai trong bốn chứcnăng của bao thanh toán Việc chuyển nhượng nói trên phải được thông báo cho cácbên mua hàng biết
Việc chuyển nhượng các khoản phải thu cho đơn vị bao thanh toán có hiệu lựcngay cả khi giữa người mua và người bán có thỏa thuận cấm không chuyển nhượng,trừ trường hợp luật quốc gia, nơi có trụ sở chính của người mua, vào thời điểm hợpđồng mua bán giữa người mua và người bán được ký kết cấm việc chuyển nhượngnêu trên
Người mua hàng có nghĩa vụ phải thanh toán cho đơn vị bao thanh toán khi và
Trang 37chỉ khi người mua hàng không biết có bất kỳ một đơn vị nào có quyền cao hơn đơn
vị bao thanh toán đối với các khoản nợ và người mua hàng đã được thông báo vềviệc chuyển nhượng các khoản nợ từ người bán hàng hoặc từ đơn vị bao thanh toán
đã được người bán ủy quyền Nghĩa vụ thanh toán của người mua đối với đơn vịbao thanh toán chỉ có hiệu lực đối với các khoản nợ phát sinh từ hợp đồng mua bánhàng ký kết tại thời điểm hoặc trước thời điểm người mua nhận được thông báo vềviệc chuyển nhượng
Người mua không có quyền truy đòi đơn vị bao thanh toán trả lại tiền màngười mua đã thanh toán cho đơn vị bao thanh toán mặc dù đơn vị bao thanh toán
có quyền truy đòi số tiền đó từ người bán trừ hai trường hợp sau:
- Đơn vị bao thanh toán chưa thanh toán khoản tiền nói trên cho người bán
- Đơn vị bao thanh toán đã thanh toán khoản tiền nói trên cho người bán mặc
dù vào thời điểm thanh toán, đơn vị bao thanh toán biết người bán không thực hiệnhoặc thực hiện chậm trễ hợp đồng mua bán
Các quy định của Công ước đối với lần chuyển nhượng đầu tiên cũng được ápdụng tương tự như đối với các lần chuyển nhượng tiếp theo, nếu hợp đồng baothanh toán không cấm việc chuyển nhượng tiếp theo Công ước coi người đượcchuyển nhượng trong các lần chuyển nhượng tiếp theo như đơn vị bao thanh toántrong lần chuyển nhượng đầu tiên Thông báo về việc chuyển nhượng tiếp theo phảibao gồm thông báo về tất cả các chuyển nhượng trước đó
Hạn chế của Công ước này ở chỗ buộc người bán khi muốn sử dụng dịch vụbao thanh toán phải thông báo trước cho bên mua biết trước về việc sử dụng dịch vụnày của bên bán, đồng thời Công ước này chỉ công nhận sự hợp pháp của các khoảnphải thu phát sinh kể từ thời điểm người mua được thông báo về việc chuyểnnhượng khoản phải thu của bên bán cho đơn vị bao thanh toán Như vậy, theo Côngước này, rủi ro của người bán sẽ cao hơn, trong khi nghĩa vụ thanh toán của ngườimua theo hợp đồng là không thay đổi dù có thanh toán cho người bán hay bất kỳđơn vị nào được người bán chuyển nhượng
Công ước UNCITRAL
Trang 38Công ước liên hợp quốc về chuyển nhượng các khoản phải thu trong thươngmại quốc tế được thông qua ngày 12/12/2001 Tính cho đến thời điểm 12/2005 mới
có 3 nước tham gia ký kết nên chưa có hiệu lực thi hành Nội dung chính của Côngước cụ thể như sau:
Định nghĩa chuyển nhượng là sự thoả thuận chuyển từ người chuyển nhượngsang người được chuyển nhượng tất cả hoặc một phần hoặc một quyền lợi khôngthể phân chia đối với quyền của người chuyển nhượng theo hợp đồng quy định đốivới một khoản phải thu từ một người thứ 3 (con nợ)
Việc chuyển nhượng có hiệu lực ngay cả khi có thoả thuận giữa người chuyểnnhượng đầu tiên hay bất kỳ người chuyển nhượng tiếp theo với con nợ hay với bất
kỳ một người được chuyển nhượng tiếp theo về việc hạn chế sự chuyển nhượng.Vào thời điểm ký kết hợp đồng chuyển nhượng, người chuyển nhượng phảiđảm bảo rằng: Người chuyển nhượng có quyền chuyển nhượng các khoản phải thuđó; Con nợ không và sẽ không có bất kỳ biện hộ hoặc quyền bù trừ nào đối vớikhoản nợ được chuyển nhượng
Trừ khi có thoả thuận khác giữa người chuyển nhượng và người được chuyểnnhượng, người chuyển nhượng hoặc người được chuyển nhượng hoặc cả hai có thểcùng ký và gửi thông báo cho con nợ về việc chuyển nhượng và chỉ dẫn thanh toán,nhưng sau khi thông báo đã được gửi thì chỉ có người được chuyển nhượng mới cóthể gửi các chỉ dẫn về thanh toán
Tiền thanh toán có thể được chuyển cho người được chuyển nhượng, ngườichuyển nhượng hoặc một người thứ ba do người được chuyển nhượng chỉ định,nhưng người được chuyển nhượng là người được quyền hưởng khoản tiền thanhtoán nói trên Thông báo về các chuyển nhượng tiếp theo phải bao gồm thông báo
về tất cả các chuyển nhượng trước đó
Sau khi con nợ nhận được thông báo về việc chuyển nhượng, con nợ phảithanh toán tiền cho người được chuyển nhượng hoặc thanh toán theo chỉ dẫn củangười được chuyển nhượng Trong trường hợp con nợ nhận được nhiều chỉ dẫn thìthanh toán theo chỉ dẫn mới nhất Trong trường hợp con nợ nhận được nhiều hơn
Trang 39một thông báo chuyển nhượng cùng một khoản nợ từ cùng một người chuyểnnhượng thì con nợ phải thanh toán theo thông báo chuyển nhượng đầu nhận đượcđầu tiên Trong trường hợp con nợ nhận được nhiều hơn một thông báo về cácchuyển nhượng tiếp theo thì con nợ phải thanh toán theo thông báo về việc chuyểnnhượng cuối cùng nhận được Nếu con nợ nhận được thông báo về việc chuyểnnhượng từ người được chuyển nhượng thì con nợ có quyền yêu cầu người đượcchuyển nhượng cung cấp đầy đủ các bằng chứng về việc chuyển nhượng đầu tiên vàcác chuyển nhượng trung gian.
Khi người được chuyển nhượng khiếu kiện con nợ về việc không thanh toán,con nợ có thể viện tất cả những biện hộ và quyền bù trừ phát sinh từ hợp đồng muabán gốc, hoặc bất kỳ hợp đồng nào liên quan tới giao dịch hợp đồng đó, coi nhưviệc khiếu kiện là do người chuyển nhượng tiến hành Con nợ chỉ được phép việndẫn quyền bù trừ phát sinh trước thời điểm con nợ nhận được thông báo về việcchuyển nhượng nợ
Con nợ không có quyền truy đòi người được chuyển nhượng số tiền con nợ đãthanh toán cho người chuyển nhượng hoặc người được chuyển nhượng
Trong trường hợp có nhiều người được chuyển nhượng cùng một khoản phảithu từ cùng một người chuyển nhượng, quyền ưu tiên đối với khoản phải thu thuộc
về người được chuyển nhượng đã đăng ký vào hệ thống thông tin các khoản phảithu Nếu tất cả những người được chuyển nhượng đều không đăng ký, thứ tự ưu tiên
sẽ được xác định theo nội dung các hợp đồng chuyển nhượng tương ứng
Trong trường hợp con nợ bị phá sản, người được chuyển nhượng có quyền ưutiên đối với khoản phải thu so với những người khác cũng có quyền lợi đối với tàisản của con nợ thông qua phán quyết của toà án hoặc của các cấp có thẩm quyềnnếu khoản phải thu đã được chuyển nhượng trước khi diễn ra quá trình tuyên bố phásản, công bố phán quyết của toà án và các cấp có thẩm quyền
Ưu điểm của Công ước này là đã khắc phục được rủi ro cho người bán trongtrường hợp người mua không biết, hoặc không công nhận việc sử dụng dịch vụ baothanh toán của người bán
Trang 40b Luật hiệp hội
Hiện nay trên thế giới có hai hiệp hội bao thanh toán quốc tế lớn nhất làFactors Chain International (FCI) và International Factors Group (IFG) Mỗi hiệphội đều có luật riêng để điều chỉnh hoạt động bao thanh toán của các thành viên
Quy tắc chung về bao thanh toán quốc tế của FCI
Quy tắc chung về bao thanh toán quốc tế ra đời vào 01/07/2002, thay thế cho
bộ quy tắc Code of International Factoring cũ Một số nội dung cơ bản của quy tắcnày như sau:
Định nghĩa về hợp đồng bao thanh toán: là một hợp đồng theo đó người bán
có thể hoặc sẽ chuyển nhượng các khoản phải thu cho một đơn vị bao thanh toán, cóthể với mục đích nhận tài trợ thương mại hoặc không, để nhận được ít nhất mộttrong các dịch vụ sau: Theo dõi sổ sách các khoản phải thu; Thu nợ hộ.; Bảo hiểmrủi ro nợ xấu
Các khoản phải thu có nguồn gốc từ việc bán các hàng hoá và/hoặc các dịch
vụ theo phương thức tín dụng thương mại Việc bán hàng theo phương thức thanhtoán L/C (trừ L/C standby), D/P hoặc bằng tiền mặt dưới mọi hình thức khôngthuộc phạm vi điều chỉnh của quy tắc chung về bao thanh toán quốc tế của FCI.Việc chuyển nhượng các khoản phải thu bao gồm việc chuyển nhượng toàn bộcác quyền và lợi ích liên quan tới các khoản phải thu
Đại lý bao thanh toán nhập khẩu phải thông báo cho đại lý bao thanh toán xuấtkhẩu về các nội dung sau: Hình thức và nội dung của thông báo chuyển nhượngtheo quy định của nước nhập khẩu; Bất kỳ yếu tố cần thiết cho việc chuyển nhượngnào để bảo vệ đại lý bao thanh toán xuất khẩu trước những khiếu nại, kiện tụng củacác bên thứ 3
Đại lý bao thanh toán xuất khẩu, dựa trên tư vấn của đại lý bao thanh toánnhập khẩu, chịu trách nhiệm về tính hợp pháp không tranh chấp của việc người bánchuyển nhượng khoản phải thu cho đại lý bao thanh toán xuất khẩu và việc đại lýbao thanh toán xuất khẩu chuyển nhượng các khoản phải thu đó cho đại lý baothanh toán nhập khẩu trước các khiếu nại, kiện tụng của các bên thứ 3 và trong