Trong xu hướng hội nhập toàn diện với nền kinh tế thế giới, phát triển dịch vụ ngân hàng hiện đại đang là mục tiêu hàng đầu của các Ngân hàng Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, trong khi tập trung nâng cao chất lượng, đa dạng hoá các dịch vụ, công nghệ điện tử, mở rộng mạng lưới,…thì các Ngân hàng thương mại vẫn phải quan tâm thường xuyên đến hoạt động tín dụng bởi đây là chức năng chính của các Ngân hàng Thương mại với vai trò như là một công cụ điều hành chính sách tiền tệ của Nhà nước. Trong hoạt động tín dụng thì nâng cao chất lượng cho vay, hạn chế rủi ro, bảo đảm an toàn tín dụng luôn là mục tiêu quan trọng hàng đầu của Ngân hàng Thương mại. Và để ra quyết định cho vay cũng như kiểm tra khách hàng sau khi cho vay, phân tích tài chính doanh nghiệp là một bước quan trọng, quyết định đến chất lượng cho vay của mỗi Ngân hàng thương mại.Từ nhận thức được tầm quan trọng của việc phân tích tài chính các khách hàng doanh nghiệp trong hoạt động cho vay cũng như thực tiễn trong công tác phân tích tài chính doanh nghiệp tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Sở Giao dịch 1 còn nhiều hạn chế, phân tích tài chính doanh nghiệp cũng được Chi nhánh Sở Giao dịch 1 có sự quan tâm thích đáng và luôn tìm cách hoàn thiện hơn. Chính vì vậy, tôi đã lựa chọn đề tài “Hoàn thiện phân tích tài chính doanh nghiệp trong hoạt động cho vay tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam Sở Giao dịch 1” làm đề tài nghiên cứu của luận văn.
Trang 1Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các thông tin,
số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, xuất phát từ tìnhhình nghiên cứu thực tế tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam SởGiao dịch 1
Học viên
Đoàn Tiến Đức
Trang 2Ngân hàng Tài chính – Trường Đại học Kinh tế Quốc dân đã quan tâm đào tạo vàtạo mọi điều kiện cho tôi học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới thầy giáo GS.TS Phạm Quang Trung đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên
cứu và hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong suốt những năm học vừaqua đã truyền đạt kiến thức để tôi hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc và các phòng ban thuộc Chi nhánhNgân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam Sở Giao dịch 1 đã tạo điều kiện cho tôihoàn thành luận văn này
Học viên
Đoàn Tiến Đức
Trang 3LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 1
1.3 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu 2
1.4 Phương pháp nghiên cứu 2
1.5 Những đóng góp của đề tài 2
1.6 Hạn chế của đề tài nghiên cứu 3
CHƯƠNG 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4
2.1 Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại (NHTM) 4
2.1.1 Khái niệm NHTM 4
2.1.2 Nguyên tắc cho vay 4
2.1.3 Phân loại cho vay 5
2.1.4 Rủi ro trong hoạt động cho vay của NHTM 7
2.2 Phân tích tài chính doanh nghiệp trong hoạt động cho vay của NHTM 11
2.2.1 Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp 11
2.2.2 Mục tiêu phân tích tài chính doanh nghiệp trong cho vay của NHTM 11
2.2.3 Các phương pháp sử dụng trong phân tích tài chính doanh nghiệp 12
2.2.4 Thông tin được sử dụng để phân tích tài chính doanh nghiệp trong hoạt động cho vay của NHTM 14
2.2.5 Một số nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp trong hoạt động cho vay của Ngân hàng Thương mại 18
2.2.6 Các tiêu chí đánh giá kết quả hoạt động phân tích tài chính doanh nghiệp trong cho vay của NHTM 25
2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng phân tích tài chính doanh nghiệp trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại 26
2.3.1 Nguồn dữ liệu, chất lượng thông tin 26
2.3.2 Trình độ tổ chức công tác phân tích 27
2.3.3 Năng lực, trình độ chuyên môn của cán bộ phân tích 29
2.3.4 Trình độ công nghệ thông tin 30
2.3.5 Các quy định, chính sách của Nhà nước đối với việc lập báo cáo tài chính doanh nghiệp 30
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP TRONG CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM – SỞ GIAO DỊCH 1 31
3.1 Khái quát về BIDV – Sở Giao dịch 1 31
3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 31
Trang 4BIDV – Sở Giao dịch 1 40
3.2.1 Quy trình cho vay tại BIDV – Sở Giao dịch 1 40
3.2.2 Các phương pháp được sử dụng trong phân tích tài chính doanh nghiệp trong hoạt động cho vay tại BIDV – Sở Giao dịch 1 42
3.2.3 Thông tin được sử dụng trong phân tích tài chính doanh nghiệp trong hoạt động cho vay tại BIDV – Sở Giao dịch 1 43
3.2.4 Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp trong hoạt động cho vay của BIDV – Sở Giao dịch 1 45
3.2.5 Kết quả công tác phân tích tài chính doanh nghiệp đối với các khách hàng vay vốn tại BIDV – Sở Giao dịch 1 46
3.2.6 Minh họa phân tích tài chính doanh nghiệp tại BIDV – Sở Giao dịch 1 47
3.3 Đánh giá hoạt động phân tích tài chính doanh nghiệp trong hoạt động cho vay tại BIDV – Sở Giao dịch 1 60
3.3.1 Những mặt đạt được 60
3.3.2 Những hạn chế trong phân tích tài chính doanh nghiệp trong hoạt động cho vay tại BIDV – Sở Giao dịch 1 63
3.3.3 Nguyên nhân 65
CHƯƠNG 4 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI BIDV – SỞ GIAO DỊCH 1 69
4.1 Định hướng công tác phân tích TCDN trong hoạt động cho vay tại BIDV – Sở Giao dịch 1 69
4.1.1 Định hướng hoạt động cho vay tại CN Sở Giao dịch 1 69
4.1.2 Định hướng công tác phân tích TCDN trong hoạt động cho vay tại BIDV -Sở Giao dịch 1 69
4.2 Hệ thống các giải pháp hoàn thiện phân tích tài chính doanh nghiệp trong hoạt động cho vay tại BIDV – Sở Giao dịch 1 70
4.2.1 Nhóm giải pháp về quy trình nghiệp vụ 70
4.2.2 Nhóm giải pháp về nguồn nhân lực 78
4.2.3 Nâng cao chất lượng công nghệ thông tin phục vụ cho phân tích 80
4.3 Kiến nghị 80
4.3.1 Kiến nghị với Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam 80
4.3.2 Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 82
4.3.3 Kiến nghị với Chính phủ và các bộ ngành liên quan 83
4.3.4 Kiến nghị với các doanh nghiệp 84
KẾT LUẬN 86 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5STT Ký hiệu viết tắt Nguyên văn
1 NH ĐT& PT VN Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
2 BIDV Bank for Investment and Development of Viet Nam
Trang 6Số sơ đồ,
bảng, biểu đồ
Mục
Sơ đồ 2.1 3.1.2 Cơ cấu tổ chức của CN Sở Giao dịch 1 - BIDV 32
Bảng 3.1 3.1.3.1 Kết quả huy động vốn của CN Sở Giao dịch 1 –
Bảng 3.8 4.3.1.2 Một số chỉ tiêu tài chính kiến nghị bổ sung 81
Biểu đồ 3.1 3.1.3.1 Cơ cấu huy động vốn của CN Sở Giao dịch 1 –
Trang 7CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu hướng hội nhập toàn diện với nền kinh tế thế giới, phát triển dịch
vụ ngân hàng hiện đại đang là mục tiêu hàng đầu của các Ngân hàng Việt Nam hiệnnay Tuy nhiên, trong khi tập trung nâng cao chất lượng, đa dạng hoá các dịch vụ,công nghệ điện tử, mở rộng mạng lưới,…thì các Ngân hàng thương mại vẫn phảiquan tâm thường xuyên đến hoạt động tín dụng bởi đây là chức năng chính của cácNgân hàng Thương mại với vai trò như là một công cụ điều hành chính sách tiền tệcủa Nhà nước Trong hoạt động tín dụng thì nâng cao chất lượng cho vay, hạn chếrủi ro, bảo đảm an toàn tín dụng luôn là mục tiêu quan trọng hàng đầu của Ngânhàng Thương mại Và để ra quyết định cho vay cũng như kiểm tra khách hàng saukhi cho vay, phân tích tài chính doanh nghiệp là một bước quan trọng, quyết địnhđến chất lượng cho vay của mỗi Ngân hàng thương mại
Từ nhận thức được tầm quan trọng của việc phân tích tài chính các khách hàngdoanh nghiệp trong hoạt động cho vay cũng như thực tiễn trong công tác phân tích tàichính doanh nghiệp tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Sở Giao dịch 1còn nhiều hạn chế, phân tích tài chính doanh nghiệp cũng được Chi nhánh Sở Giaodịch 1 có sự quan tâm thích đáng và luôn tìm cách hoàn thiện hơn Chính vì vậy, tôi
đã lựa chọn đề tài “Hoàn thiện phân tích tài chính doanh nghiệp trong hoạt động cho vay tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Sở Giao dịch 1” làm đề
tài nghiên cứu của luận văn
1 2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đưa ra những vấn đề lý thuyết cơ bản về hoạt động cho vay cũng như phântích tài chính doanh nghiệp trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại;
- Đánh giá chung về thực trạng phân tích tài chính doanh nghiệp trong hoạtđộng cho vay tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam Sở Giao dịch
1, từ đó đưa ra những tồn tại của công tác phân tích tài chính doanh nghiệp hiện tại;
Trang 8- Đưa ra các giải pháp, đề xuất cũng như một số kiến nghị nhằm hoàn thiệnphân tích tài chính doanh nghiệp trong hoạt động cho vay tại Chi nhánh Ngân hàngĐầu tư và Phát triển Việt Nam - Sở Giao dịch 1.
1 3 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu: luận văn nghiên cứu thực tế công tác phân tích tàichính doanh nghiệp của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Sở Giao dịch 1đối với các doanh nghiệp có quan hệ vay vốn tại Chi nhánh trong khoảng thời gian
từ năm 2008 đến năm 2010
- Đối tượng nghiên cứu: luận văn chủ yếu tập trung đi sâu vào nghiên cứuphân tích tài chính doanh nghiệp trong hoạt động cho vay tại các Ngân hàngThương mại
1 4 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp được sử dụng trong quá trình nghiên cứu: duy vật biệnchứng và duy vật lịch sử, phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá, so sánh, thống kê Cụthể, luận văn được bố cục chi tiết bao gồm 4 chương lớn:
- Chương 1: Giới thiệu tổng quan;
- Chương 2: Một số vấn đề lý luận cơ bản về phân tích tài chính doanhnghiệp trong hoạt động cho vay tại các Ngân hàng Thương mại;
- Chương 3: Thực trạng phân tích tài chính doanh nghiệp trong hoạt độngcho vay tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Sở Giao dịch 1;
- Chương 4: Giải pháp hoàn thiện phân tích tài chính doanh nghiệp tronghoạt động cho vay tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Sở Giao dịch 1
1.5 Những đóng góp của đề tài
Luận văn nhìn lại toàn bộ quy trình và công tác phân tích tài chính trong hoạtđộng cho vay tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Sở Giaodịch 1, từ đó đưa ra những nhận xét cũng như phân tích những mặt tích cực, nhữngmặt hạn chế cần bổ sung và chỉnh sửa
Trang 9Hệ thống và sắp xếp lại toàn bộ các chỉ tiêu dùng trong phân tích tài chínhdoanh nghiệp, bổ sung thêm một số chỉ tiêu mà ngân hàng chưa đề cập, hoặc có đềcập, tính toán nhưng chưa chuẩn hoặc chưa thống nhất.
1.6 Hạn chế của đề tài nghiên cứu
- Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu về phân tích tài chính doanh nghiệp đốivới một số công ty đang có quan hệ tín dụng, bảo lãnh tại Ngân hàng Đầu tư và Pháttriển Việt Nam – Sở Giao dịch 1 hoạt động trong các lĩnh vực cơ bản như: dệt may,xây lắp, thương mại phân phối,…chưa đi sâu đánh giá đối với một số lĩnh vực kinhdoanh đặc thù: xăng dầu, vàng bạc đá quý, chứng khoán, bảo hiểm, công ty đầu tưtài chính…
- Thời gian nghiên cứu của đề tài còn hạn chế (từ tháng 11/2010 đến tháng08/2011) trong khi đó đề tài nghiên cứu khá rộng và phức tạp đồng thời bản thân tácgiả cũng còn hạn chế về trình độ và kinh nghiệm do đó chắc chắn luận văn còn tồntại và hạn chế nhất định Tác giả luận văn rất mong nhận được nhiều ý kiến đónggóp của các nhà khoa học, các thầy cô giáo, các nhà quản lý, các đồng nghiệp vàcác bạn đọc quan tâm đến lĩnh vực này để luận văn được tiếp tục hoàn thiện và nângcao hơn nữa
Trang 10CHƯƠNG 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
2.1 Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại (NHTM)
2.1.1 Khái niệm NHTM
Theo Luật các Tổ chức Tín dụng năm 2010 – số 47/2010/QH12, hoạt động
cấp tín dụng của Ngân hàng được xác định như sau: “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”.
Trong các hoạt động này thì cho vay là hình thức cấp tín dụng phổ biến nhất,theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sửdụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận vớinguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi
2.1.2 Nguyên tắc cho vay
Theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốcNHNN Việt Nam về việc ban hành Quy chế cho vay của Tổ chức tín dụng đối vớikhách hàng và các văn bản sửa đổi bổ sung, hoạt động cho vay của các NHTM dựatrên các nguyên tắc sau đây:
Một là, khách hàng phải cam kết sử dụng đúng mục đích đã thoả thuận của
khoản tín dụng được cấp Mục đích sử dụng vốn của khách hàng phải hợp pháp,không vi phạm pháp luật, phù hợp với quy định của NHNN cũng như quy địnhriêng của Ngân hàng cấp tín dụng;
Hai là, khách hàng vay vốn phải bảo đảm khả năng trả nợ gốc và lãi đầy đủ,
đúng hạn cho NHTM Đây là một nguyên tắc quan trọng khi tiến hành cho vay bởi
Trang 11NHTM cho vay trên cơ sở khả năng hoàn trả của khách hàng Do vậy, chỉ kháchhàng có khả năng trả nợ mới có thể được Ngân hàng cấp tín dụng Trong trườnghợp khách hàng không có khả năng trả nợ, ngân hàng sẽ gặp phải rủi ro mất vốn;
Ba là, NHTM tài trợ vốn trên cơ sở các phương án sản xuất kinh doanh, các
dự án đầu tư có hiệu quả
Về bản chất, nguyên tắc này là sự phát triển và là kết quả của hai nguyên tắctrên bởi chỉ khi khách hàng có được phương án kinh doanh tốt, có khả năng manglại hiệu quả cao và sử dụng vốn vay vào đúng mục đích đã đặt ra ban đầu thì mới cókhả năng trả nợ Ngân hàng đầy đủ và đúng hạn Trên thực tế, có thể khách hàng sửdụng vốn sai mục đích đã đặt ra nhưng vẫn chủ động cân đối được các nguồn khác
để trả nợ Ngân hàng đầy đủ, đúng hạn song điều này vẫn chứa đựng nhiều rủi rocho Ngân hàng
2.1.3 Phân loại cho vay
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động cho vay của NHTM rất đa dạng vàphong phú với nhiều hình thức khác nhau Việc áp dụng các hình thức cho vay tuỳthuộc vào mục đích, nhu cầu, đặc điểm kinh tế của đối tượng sử dụng vốn tín dụngnhằm sử dụng và quản lý tín dụng có hiệu quả, phù hợp với sự vận động cũng nhưđặc điểm kinh tế khác nhau của đối tượng tín dụng
Để quản lý và sử dụng có hiệu quả vốn tín dụng, cần thiết phải phân loại chovay nghĩa là sắp xếp các khoản cho vay theo từng nhóm dựa trên một số tiêu thứcnhất định Nếu việc phân loại cho vay có cơ sở khoa học sẽ là tiền đề để thiết lậpcác quy trình cho vay thích hợp và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng Cónhiều tiêu thức phân loại cho vay, tuy nhiên trên thực tế các NHTM thường phânloại cho vay dựa trên một số tiêu chí cơ bản như sau:
2.1.3.1 Phân loại theo đối tượng vay:
+ Cho vay doanh nghiệp: là loại hình cho vay để đáp ứng nhu cầu sản xuất
kinh doanh, đầu tư dự án của các doanh nghiệp;
Trang 12+ Cho vay định chế tài chính: bao gồm các khoản cấp tín dụng cho các ngân
hàng, công ty bảo hiểm, quỹ tín dụng, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính,
và các định chế tài chính khác;
+ Cho vay cá nhân: là hình thức cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng
như mua sắm nhà hoặc các vật dụng đắt tiền, các khoản cho vay để trang trải các chiphí thông thường của đời sống thông qua phát hành thẻ tín dụng, hạn mức thấu chi,vay lương; cho vay để chữa bệnh, cho vay đi du học,…
2.1.3.2 Phân loại theo uy tín của khách hàng vay
+ Cho vay có bảo đảm: là việc cho vay vốn của NHTM mà theo đó nghĩa vụ
trả nợ của khách hàng được cam kết thực hiện bằng tài sản thế chấp, cầm cố, tài sảnhình thành từ vốn vay hoặc bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba Hình thức này ápdụng đối với những khách hàng chưa có uy tín cao, ngân hàng cần có thêm mộtnguồn thu nợ thứ hai, bổ sung cho nguồn thu nợ thứ nhất thiếu chắc chắn
+ Cho vay không đảm bảo bằng tài sản: NHTM cho vay dựa vào uy tín của
khách hàng, đó là các khách hàng có quan hệ truyền thống, khả năng tài chính lànhmạnh, có tín nhiệm với ngân hàng trong việc sử dụng vốn vay, hoàn trả nợ vay…
2.1.3.3 Phân loại theo thời hạn cho vay
+ Cho vay ngắn hạn: loại cho vay này có thời hạn đến 12 tháng Hình thức
này được các Ngân hàng cho vay chủ yếu được sử dụng để bù đắp cho sự thiếu hụtvốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân;
+ Cho vay trung hạn: loại cho vay này có thời hạn từ 12 tháng đến 60 tháng.
Đây là loại tín dụng thường được sử dụng để đầu tư, mua sắm các tài sản cố định,cải tiến và đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các
dự án có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh;
+ Cho vay dài hạn: có thời hạn từ 60 tháng trở lên và thời hạn tối đa có thể
lên tới 20 – 30 năm hoặc lâu hơn (trong một số trường hợp đặc biệt) Đây là hìnhthức cấp tín dụng để đáp ứng các nhu cầu dài hạn và có thời gian thu hồi vốn chậmnhư: xây dựng bất động sản, thuỷ điện, các dự án sản xuất kinh doanh lớn,…
Trang 132.1.3.4 Phân loại theo ngành, lĩnh vực kinh tế
+ Cho vay công nghiệp, thương mại và dịch vụ: là loại cho vay để bổ sung
vốn lưu động cho các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực công nghiệp,thương mại và dịch vụ;
+ Cho vay nông nghiệp: là loại cho vay để trang trải các chi phí sản xuất
trong nông nghiệp như thức ăn gia súc, phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng,…
2.1.3.5 Phân loại theo loại tiền cho vay
+ Cho vay bằng đồng nội tệ: là các khoản cho vay bằng đồng Việt Nam
(VND) nhằm mục đích thanh toán trong nước;
+ Cho vay bằng đồng ngoại tệ: bao gồm các khoản cho vay bằng ngoại tệ
(USD, EUR, CHF, JPY, GBP,…) để thanh toán nhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài
2.1.4 Rủi ro trong hoạt động cho vay của NHTM
2.1.4.1 Khái niệm
Rủi ro trong hoạt động cho vay của NHTM là rủi ro về sự tổn thất tài chínhxuất phát từ người đi vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng hạn theo cam kếthoặc mất khả năng thanh toán Điều này đồng nghĩa với việc các khoản thanh toánbao gồm cả phần gốc cũng như lãi đã cam kết sẽ có thể bị trì hoãn hoặc thậm chíkhông được hoàn trả, và hậu quả là nó sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự luânchuyển tiền tệ và sự bền vững của tính chất trung gian dễ bị tổn thương trong hoạtđộng của NHTM
2.1.4.2 Đặc điểm của rủi ro trong hoạt động cho vay của NHTM
- Rủi ro mang tính chất gián tiếp
Đặc điểm này xuất phát từ nguyên nhân là trong quan hệ vay vốn, NHTMchuyển giao quyền sử dụng vốn cho khách hàng trong một thời gian nhất định nênnhững thiệt hại, thất thoát về vốn xảy ra trước hết là trong quá trình sử dụng vốn củakhách hàng Biểu hiện rõ ràng của đặc điểm này là trong thực tế, NHTM thường
Trang 14biết sau cũng như không đầy đủ và chính xác những khó khăn, thất bại trong hoạtđộng kinh doanh của khách hàng có thể gây ra rủi ro không trả nợ vay.
- Rủi ro có tính chất đa dạng và phức tạp
Đặc điểm này biểu hiện ở sự đa dạng, phức tạp của nguyên nhân, hình thức,hậu quả của rủi ro trong hoạt động cho vay của NHTM Đây là đặc điểm tất yếu dođặc trưng NHTM là trung gian tài chính kinh doanh tiền tệ Đây cũng là hệ quả củađặc điểm thứ nhất vì mối liên hệ gián tiếp với rủi ro trong hoạt động cho vay khiến
sự đa dạng và phức tạp của rủi tín dụng đối với ngân hàng càng thể hiện rõ ràng
- Rủi ro tồn tại tất yếu luôn gắn liền với hoạt động cho vay của NHTM
Thông tin không cân xứng là nguyên nhân khiến các nhà kinh tế cũng nhưcác nhà ngân hàng cho rằng kinh doanh ngân hàng thực chất là quản lý rủi ro ởmức phù hợp và đạt được lợi nhuận tương ứng Do không thể có được thông tincân xứng về việc sử dụng vốn vay cho hoạt động kinh doanh của khách hàng đivay, bất cứ một khoản cho vay nào cũng tiềm ẩn những nguy cơ rủi ro
2.1.4.3 Nguyên nhân của rủi ro trong hoạt động cho vay của NHTM
Việc nhận thức đầy đủ những nguyên nhân gây nên rủi ro có ý nghĩa quantrọng đối với việc xác định được những nguy cơ có thể dẫn đến tổn thất cho NHTM
Từ đó, thực hiện các biện pháp dự phòng cần thiết nhằm đảm bảo tính an toàn, lànhmạnh trong hoạt động của ngân hàng Nếu xem xét một cách toàn diện, nguyênnhân gây ra rủi ro trong hoạt động cho vay của NHTM xuất phát từ 3 phía là: ngânhàng, khách hàng và môi trường khách quan
- Nguyên nhân từ phía ngân hàng
+ Chính sách tín dụng của ngân hàng: Nhân tố đầu tiên ảnh hưởng tới chất
lượng cho vay của một NHTM chính là chính sách tín dụng của họ Chính sách tíndụng thể hiện vai trò rất quan trọng qua các nội dung cơ bản của nó là: định hướnglĩnh vực đầu tư, cơ cấu tín dụng; quy định chính sách lãi suất của ngân hàng; quy
Trang 15định cơ chế nghiệp vụ với cán bộ tín dụng; quy định cơ chế giám sát, quyền lợi vàtrách nhiệm của nhân viên tín dụng Trên thực tế, do nhiều nguyên nhân khác nhau
mà những nội dung trong chính sách của ngân hàng chưa thực sự hợp lý biểu hiệnnhư: định hướng kinh doanh không phù hợp với với đặc điểm, thực trạng và chínhsách phát triển kinh tế; cơ sở thiết lập cơ cấu tín dụng không hợp lý; chính sách lãisuất và “giá” không đủ cạnh tranh so với thị trường,…
+ Quy trình tín dụng: thông thường được xác lập dựa trên những quy định
của luật pháp và những đặc thù trong hoạt động của mỗi ngân hàng Nhìn chung,quy trình tín dụng của mỗi ngân hàng trải qua các bước chính là: Lập hồ sơ kháchhàng; thẩm định hồ sơ; ra quyết định và ký kết hợp đồng; giải ngân và thu nợ; thanh
lý hợp đồng và xử lý tranh chấp Chỉ cần một khâu trong cả quy trình này nếukhông được thực hiện một cách chặt chẽ, hợp lý, đầy đủ thì quyền lợi của ngân hàng
sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp, nguy cơ rủi ro và tổn thất là rất dễ xảy ra
+ Cán bộ ngân hàng: Yếu tố con người trong mọi hoạt động luôn được coi
là nguyên nhân của mọi nguyên nhân Trong hoạt động của NHTM, rủi ro tín dụng
có thể xuất phát do trình độ chuyên môn của nhân viên còn hạn chế Sự hạn chế nàythể hiện trên hai khía cạnh: trình độ chuyên môn về nghiệp vụ và đặc biệt là sựthiếu hiểu biết về lĩnh vực kinh doanh của khách hàng Rủi ro vay vốn cũng có thểbắt nguồn từ rủi ro đạo đức nghề nghiệp của nhân viên, đặc biệt khi có sự cấu kếtgiữa cán bộ tín dụng và khách hàng Ngoài ra, sự xung đột trong mối quan hệ giữatrách nhiệm và quyền lợi, giữa lợi ích của cá nhân và của ngân hàng cũng có thể dẫntới những quan điểm tiêu cực trong công tác và là nguy cơ gây ra rủi ro mất vốn
- Nguyên nhân từ phía khách hàng
+ Quản lý không hiệu quả: Hoạt động kinh doanh của khách hàng nếu không
được quản lý tốt sẽ dẫn tới nhiều vấn đề nghiêm trọng như: thiếu thông tin tài chính,không có kế hoạch được triển khai, không có khả năng thích ứng trước những diễnbiến thị trường…Những dấu hiệu như khả năng thanh khoản của doanh nghiệp yếu
Trang 16kém, chiến lược kinh doanh vượt quá khả năng của doanh nghiệp hay gặp khó khăntrong triển khai các kế hoạch và thiếu tính giám sát đều thể hiện sự kém hiệu quảtrong quản lý.
+ Sự hạn chế về năng lực của nguồn nhân lực: Sự yếu kém của đội ngũ nhân
viên của một doanh nghiệp làm cho kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp thựchiện không thành công, kém hiệu quả Từ đó cũng ảnh hưởng khả năng tồn tại, pháttriển của doanh nghiệp Do vậy, đây cũng được xem là một trong những nguyênnhân gây ra rủi ro tín dụng cho ngân hàng
+ Đạo đức nghề nghiệp: Nguyên nhân này có thể xuất phát từ phía ngân
hàng nhưng phần lớn xuất phát từ phía khách hàng khi mà doanh nghiệp cố tình viphạm các cam kết trong mối quan hệ với ngân hàng như sử dụng các thủ đoạn đểlừa ngân hàng, cung cấp thông tin sai sự thật cho ngân hàng, cố tình trì hoãn trả tiềnvay cho ngân hàng
- Nguyên nhân khách quan khác:
+ Môi trường kinh tế, chính trị, xã hội, luật pháp không thuận lợi: Đây là
những yếu tố nằm ngoài tầm kiểm soát và dự đoán của các doanh nghiệp và NHTMsong lại có ảnh hưởng trực tiếp đến họ Nếu sự thay đổi của các nhân tố trên làkhông thuận lợi cho doanh nghiệp thì nó sẽ tác động tiêu cực tới tình hình kinhdoanh của doanh nghiệp và ảnh hưởng đến khả năng trả nợ cho ngân hàng
+ Thông tin không cân xứng: Quan hệ cho vay giữa ngân hàng và khách
hàng là mối quan hệ về mặt kinh tế, vì vậy luôn phát sinh nhu cầu trao đổi và thuthập thông tin giữa các bên Tuy nhiên, trong thực tế, rất hay xảy ra tình trạng thôngtin không cân xứng khi ngân hàng không có được những thông tin đầy đủ về kháchhàng và ngược lại Hoặc những thông tin mà hai bên có được không liên tục và độtin cậy không cao Điều này có thể ảnh hưởng rất lớn đến quyết định cho vay và do
đó tiềm ẩn nguy cơ xảy ra rủi ro cho ngân hàng
Trang 172.2 Phân tích tài chính doanh nghiệp trong hoạt động cho vay của NHTM
2.2.1 Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp
Hiện nay, có nhiều quan điểm về phân tích TCDN, cụ thể như sau:
“Phân tích tài chính doanh nghiệp là quá trình sử dụng các báo cáo tài chính của doanh nghiệp để phân tích và đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp” (Nghiệp vụ ngân hàng thương mại - TS Nguyễn Minh Kiều, NXB Thống
kê 2005) Theo khái niệm này thì nguồn thông tin cần phân tích là các thông tin kếtoán của doanh nghiệp, tuy nhiên trong thực tế các chuyên gia cũng có thể dựa vàonhiều nguồn thông tin khác phục vụ cho quản lý để tiến hành phân tích TCDN
Khái niệm về phân tích tài chính được nêu trong giáo trình Tài chính doanhnghiệp (Chủ biên: TS Lưu Thị Hương – Khoa Ngân hàng Tài chính – ĐH Kinh tế
quốc dân) như sau: “Phân tích tài chính là sử dụng một tập hợp các khái niệm, phương pháp và các công cụ cho phép xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác về quản lý nhằm đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp, đánh giá rủi
ro, mức độ và chất lượng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đó” Đây có thể
được coi là một khái niệm khá cơ bản về phân tích TCDN
Có rất nhiều đối tượng quan tâm và sử dụng thông tin kinh tế tài chính củadoanh nghiệp Mỗi đối tượng lại quan tâm theo giác độ và mục tiêu khác nhau Vìvậy, trong khuôn khổ luận văn là tập trung đi sâu vào phân tích tài chính dưới giác
độ của NHTM, nên khái niệm phân tích TCDN có thể được hiểu là việc “Đánh giáthực trạng, những điểm mạnh, điểm yếu hiện tại, xu hướng tài chính, khả năngtiềm lực của doanh nghiệp trên cơ sở thu thập, tổng hợp, phân tích các thông tin kếtoán và thông tin khác về quản lý của doanh nghiệp nhằm mục đích hạn chế cácrủi ro tín dụng”
2.2.2 Mục tiêu phân tích tài chính doanh nghiệp trong cho vay của NHTM
NHTM cho doanh nghiệp vay vốn để đáp ứng các nhu cầu vốn cho hoạtđộng sản xuất - kinh doanh Khi quyết định cho vay, họ phải biết chắc được khảnăng hoàn trả tiền vay của khách hàng Do đó, phân tích hoạt động tài chính đối với
Trang 18người cho vay là chính là nhằm xác định khả năng hoàn trả nợ của khách hàng.Điều này có ý nghĩa đặc biệt bởi khi giữ vai trò là người cho vay, việc doanh nghiệpvay vốn có hoàn trả được gốc và lãi đầy đủ, đúng hạn hay không rất quan trọng vì
nó tác động trực tiếp đến thu nhập, vốn cũng như tình hình hoạt động của cácNHTM Khả năng hoàn trả các khoản gốc và lãi vay đúng hạn lại phụ thuộc vàotình hình tài chính của doanh nghiệp, năng lực hoạt động và các nguồn trả nợ củadoanh nghiệp Trên thực tế, các doanh nghiệp có tình hình tài chính không lànhmạnh, năng lực sản xuất kinh doanh yếu kém sẽ rất khó tiếp cận được với tín dụngngân hàng Những vấn đề này chỉ có thể được phát hiện thông qua việc phân tíchTCDN Do đó, phân tích TCDN là một khâu quan trọng cần được thực hiện trướctiên trong quy trình cấp tín dụng của bất cứ NHTM nào Kết quả của quá trình phântích này sẽ là tiền đề để ngân hàng đưa ra các quyết định cấp tín dụng một cáchđúng đắn
Tóm lại, phân tích TCDN giúp các NHTM đưa ra quyết định cấp tín dụngcho doanh nghiệp hoặc tăng cường kiểm tra, giám sát đối với các doanh nghiệpđang có quan hệ tín dụng dựa trên cơ sở xác định đúng năng lực và tình hình tàichính của doanh nghiệp Nó được các NHTM thực hiện một cách xuyên suốt từtrước, trong và sau khi cho vay, nhằm bảo đảm an toàn và sinh lời cho các khoản tíndụng của mình
2.2.3 Các phương pháp sử dụng trong phân tích tài chính doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường phát triển với nhiều diễn biến phức tạp, cùngvới hoạt động cho vay mở rộng thì mức độ rủi ro mà các NHTM gặp phải khi cấptín dụng cho khách hàng ngày càng lớn Do đó, để đảm bảo an toàn và hiệu quả hoạtđộng, các NHTM đã sử dụng các phương pháp phân tích khác nhau để có thể đượcđánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp một chính xác, toàn diện hơn Các tàiliệu nghiên cứu về phân tích TCDN đã đưa ra nhiều phương pháp đánh giá khácnhau, song trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, người viết xin đưa ra ba phươngpháp cơ bản sau:
Trang 192.2.3.1 Phương pháp so sánh
So sánh là phương pháp được sử dụng rộng rãi, phổ biến trong phân tích kinh
tế nói chung và phân tích tài chính nói riêng Mục đích của so sánh là làm rõ sựkhác biệt hay những đặc trưng riêng có của đối tượng nghiên cứu; từ đó, giúp chocác đối tượng quan tâm có căn cứ để đề ra quyết định lựa chọn Các dạng so sánh:
- So sánh bằng số tuyệt đối: Phản ánh quy mô của chỉ tiêu nghiên cứu nênkhi so sánh bằng số tuyệt đối, các nhà phân tích sẽ thấy rõ được sự biến động về qui
mô của chỉ tiêu nghiên cứu giữa kỳ (điểm) phân tích với kỳ (điểm) gốc
- So sánh bằng số tương đối: Khác với số tuyệt đối, khi so sánh bằng số
tương đối, các nhà quản lý sẽ nắm được kết cấu, mối quan hệ, tốc độ phát triển, mức
độ phổ biến và xu hướng biến động của các chỉ tiêu kinh tế
- So sánh với số bình quân: Khác với việc so sánh bằng số tuyệt đối và số
tương đối, so sánh bằng số bình quân sẽ cho thấy mức độ mà đơn vị đạt được so vớibình quân chung của tổng thể, của ngành, của khu vực
2.2.3.2 Phương pháp tỷ số
Đây là phương pháp sử dụng các tỷ số để phân tích tình hình tài chính doanhnghiệp Trong đó, các tỷ số được thiết lập bởi chỉ tiêu này so với chỉ tiêu khác haynói cách khác nó biểu hiện mối quan hệ toán học giữa hai đại lượng Đây là phươngpháp có tính khả thi cao, dễ áp dụng do các điều kiện ngày càng hoàn thiện: nguồnthông tin được dùng cho phân tích ngày càng đầy đủ; việc áp dụng công nghệ tinhọc cho phép tích lũy dữ liệu và đẩy nhanh quá trình tính toán hàng loạt các tỷ số.Không những thế, áp dụng phương pháp này còn giúp nhà phân tích khai thác cóhiệu quả những số liệu và phân tích có hệ thống hàng loạt tỷ số theo chuỗi thời giantheo từng giai đoạn hoặc liên tục
2.2.3.3 Phương pháp tài chính Dupont
Đây là phương pháp đang được áp dụng khá hiệu quả trong phân tích tàichính doanh nghiệp hiện nay mặc dù nó ra đời sau hai phương pháp trên Phươngpháp này phân tích dựa trên mối quan hệ tương hỗ giữa các chỉ tiêu tài chính, từ đó
Trang 20biến đổi một chỉ tiêu tổng hợp thành một hàm số của một loạt các biến số Chẳnghạn: tách hệ số khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE) hay hệ số khả năngsinh lời của tài sản (ROA), thành tích số của chuỗi các hệ số có mối quan hệ mậtthiết với nhau.
- Hệ số sinh lời tổng tài sản (ROA):
ROA =
Lợi nhuận ròngTổng TS bình quân
Doanh thu Tổng TS bình quân
= Hệ số lãi ròng x Vòng quay tổng TS
- Hệ số doanh lợi vốn chủ sở hữu (ROE):
ROE = Lợi nhuận ròng
VCSH bình quân
Theo phương pháp Dupont, ROE có thể được phân tích như sau:
ROE = Lợi nhuận ròng x Doanh thu x Tổng tài sản
= Hệ số lãi ròng x Vòng quay tổng TS x Đòn bẩy tài chính
Bằng cách chia tách các tỷ số ROA và ROE thành những bộ phận có mốiliên hệ với nhau để đánh giá tác động của từng bộ phận lên kết quả sau cùng chophép ta thấy được rõ mối quan hệ giữa các nhân tố tài chính chủ yếu của doanhnghiệp, lượng hoá những nhân tố ảnh hưởng đến suất sinh lời của vốn chủ sở hữu
2.2.4 Thông tin được sử dụng để phân tích tài chính doanh nghiệp trong hoạt động cho vay của NHTM
Đối với phân tích TCDN trong hoạt động cho vay thì việc xác định cũng nhưthu thập được các nguồn thông tin cần thiết, đáng tin cậy dùng cho quá trình phântích có ý nghĩa rất quan trọng bởi toàn bộ những đánh giá của ngân hàng về doanh
Trang 21nghiệp đều dựa trên những thông tin này Nguồn thông tin càng đầy đủ, đa dạng,đúng đắn, tin cậy thì những nhận định của Ngân hàng về khách hàng vay càng chínhxác qua đó giảm thiểu được tối đa các rủi ro tín dụng Các thông tin cần thiết có thểlấy được từ các nguồn dữ liệu sau:
2.2.4.1 Thông tin do khách hàng vay vốn cung cấp
Nguồn thông tin đầu tiên mà NHTM cần thu thập đó chính là các thông tin
do khách hàng cung cấp từ quá trình tiếp xúc trực tiếp với khách hàng hay nhữngthông tin trong hồ sơ xin vay vốn Những thông tin về tài chính chủ yếu mà Ngânhàng có được từ hồ sơ vay vốn của khách hàng bao gồm các báo cáo tài chính quacác năm (tối thiểu là 03 năm) gần nhất, quý gần nhất và các kế hoạch tài chính trongtương lai Bên cạnh đó, khách hàng vay cần cung cấp quy chế phân cấp quản lý tàichính, phương án vay vốn trong đó nêu rõ việc sử dụng tiền vay và kế hoạch trả nợ
- Thông tin từ Báo cáo tài chính:
Báo cáo tài chính là các báo cáo tổng hợp nhất về tình hình tài sản, vốn chủ
sở hữu và công nợ cũng như tình hình tài chính, kết quả kinh doanh, tình hình lưuchuyển tiền tệ và khả năng sinh lời trong kỳ của doanh nghiệp Báo cáo tài chínhcung cấp các thông tin kinh tế - tài chính chủ yếu cho NHTM sử dụng thông tin kếtoán trong việc đánh giá, phân tích và dự đoán tình hình tài chính, kết quả hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp Báo cáo tài chính được sử dụng như nguồn dữ liệu
chính khi phân tích TCDN Có thể khái quát vai trò của Báo cáo tài chính trên các
điểm sau:
- Báo cáo tài chính đưa ra các chỉ tiêu kinh tế - tài chính cần thiết giúp choNHTM việc kiểm tra toàn diện và có hệ thống tình hình sản xuất, kinh doanh vàtình hình thực hiện các chỉ tiêu kinh tế - tài chính chủ yếu của doanh nghiệp cũngnhư tình hình chấp hành các chế độ kinh tế - tài chính của doanh nghiệp;
- Báo cáo tài chính cung cấp số liệu cần thiết để NHTM tiến hành phân tíchhoạt động kinh tế - tài chính của doanh nghiệp, để nắm bắt tình hình kinh doanh,
Trang 22tình hình kinh tế - tài chính nhằm đánh giá quá trình hoạt động, kết quả kinh doanhcũng như xu hướng vận động của doanh nghiệp để từ đó đưa ra các kết luận đúngđắn và có hiệu quả Đồng thời, Báo cáo tài chính cung cấp những thông tin kinh tế,tài chính chủ yếu về thực trạng tài chính của doanh nghiệp trong kỳ hoạt động đãqua, giúp cho việc kiểm tra, giám sát tình hình sử dụng vốn và khả năng huy độngnguồn vốn vào sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Bên cạnh đó, các báo cáo tàichính cung cấp tài liệu tham khảo phục vụ cho việc lập kế hoạch sản xuất, kinhdoanh, kế hoạch đầu tư mở rộng hay thu hẹp phạm vi ;
- Báo cáo tài chính cung cấp thông tin cho NHTM về tiềm lực của doanhnghiệp, tình hình công nợ, tình hình thu chi tài chính, khả năng tài chính, khả năngthanh toán, kết quả kinh doanh để ra các quyết định cho vay và những ứng xử phùhợp khác;
Theo Chế độ kế toán doanh nghiệp hiện hành (Quyết định số BTC ngày 20/03/2006 của Bộ Tài chính), hệ thống Báo cáo tài chính áp dụng chotất cả các doanh nghiệp thuộc mọi lĩnh vực, mọi thành phần kinh tế trong cả nước ở
15/2006/QĐ-Việt Nam bao gồm 4 biểu mẫu báo cáo sau: Bảng cân đối kế toán; Báo cáo Kết quả
hoạt động kinh doanh; Báo cáo Lưu chuyển tiền tệ; Thuyết minh báo cáo tài chính
- Thông tin phi tài chính khác
Bên cạnh việc lấy thông tin từ các số liệu đơn thuần các Báo cáo tài chính thì
để có thể đánh giá được tình hình tài chính của doanh nghiệp một cách sâu sắc, toàndiện hơn, phục vụ cho việc ra các quyết định cho vay chính xác, hiệu quả, cácNHTM có thể tham khảo thêm các thông tin phi tài chính khác từ quá trình trao đổi,làm việc với doanh nghiệp vay vốn Việc tiếp xúc với khách hàng một cách thườngxuyên từ kế toán giao dịch, kế toán trưởng đến lãnh đạo doanh nghiệp sẽ giúpNHTM nắm bắt sâu sát hơn về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp cũng như có những dự báo chính xác hơn về các hoạt động của doanhnghiệp trong tương lai gần để có các ứng xử phù hợp
NHTM thường thu thập các thông tin về lịch sử hoạt động; chiến lược, sáchlược kinh doanh của doanh nghiệp trong từng thời kỳ; tình hình tạo lập, phân phối
Trang 23và sử dụng vốn, tình hình và khả năng thanh toán, tổ chức doanh nghiệp; trình độquản lý; ngành nghề, sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp kinh doanh;năng lực sản xuất, quy trình công nghệ; năng lực của lao động, Những thông tinnày được thể hiện qua những giải trình của các nhà quản lý, qua Báo cáo tài chính,báo cáo kế toán quản trị, báo cáo thống kê, hạch toán nghiệp vụ, Đây là nhữngnguồn dữ liệu quan trọng giúp cho các NHTM xem xét, đánh giá được các mặtkhác nhau trong hoạt động tài chính một cách đầy đủ, chính xác.
Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng: Những thông tin thu thập được nhất là nhữngthông tin phi tài chính không phải tất cả đều được lượng hóa cụ thể, mà có nhữngtài liệu không thể biểu hiện bằng số lượng cụ thể, nó chỉ được thể hiện thông qua sựmiêu tả đời sống kinh tế của doanh nghiệp Do vậy, để có những thông tin cần thiếtphục vụ cho quá trình phân tích tài chính, NHTM phải sưu tầm đầy đủ những thôngtin thích hợp liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp Tính đầy đủ được thể hiệnthước đo số lượng của thông tin trong khi sự thích hợp phản ánh chất lượng thôngtin mà các NHTM có được
2.2.4.2 Thông tin thu thập từ các nguồn dữ liệu khác
- Thông tin từ kho dữ liệu của ngân hàng:
Đối với những khách hàng truyền thống có quan hệ lâu năm, NHTM đã lưutrữ hồ sơ của khách hàng Đây là nguồn thông tin có sẵn của ngân hàng, ngoài cácthông tin về tài chính còn có các thông tin về lịch sử quan hệ với ngân hàng Cácthông tin này được lưu trữ dưới dạng hồ sơ giấy hoặc được tin học hoá
- Thông tin từ các phương tiện thông tin đại chúng:
Các NHTM có thể thu thập thêm các thông tin từ các phương tiện thông tinđại chúng như: Trung tâm thông tin (CIC), từ các đối tác của khách hàng, từ cácphương tiện thông tin đại chúng khác (Internet, báo chí, phát thanh, truyền hình, …)Đây cũng là một nguồn thông tin tương đối quan trọng đối với ngân hàng bởi nómang tính khách quan và giúp ngân hàng đáng giá về doanh nghiệp toàn diện vàchính xác hơn khi cấp tín dụng Qua các phương tiện thông tin đại chúng, các
Trang 24NHTM thu thập các thông tin chung về kinh tế, tiền tệ, thuế khoá, các thông tin vềngành kinh tế của doanh nghiệp, các thông tin về pháp lý, về kinh tế đối với doanhnghiệp Cụ thể là:
+ Các thông tin chung: bao gồm những thông tin về tình hình kinh tế chính
trị, môi trường pháp lý, kinh tế có liên quan đến cơ hội kinh tế, cơ hội đầu tư, cơ hội
về kỹ thuật công nghệ Các yếu tố mang tính khách quan như: chế độ chính trị xãhội; tăng trưởng kinh tế của nền kinh tế; tiến bộ khoa học kỹ thuật; chính sách tàichính tiền tệ; chính sách thuế có tác động mạnh mẽ đến kết quả kinh doanh củadoanh nghiệp qua đó ảnh hưởng gián tiếp đến khả năng trả nợ vay ngân hàng
+ Các thông tin theo ngành kinh tế: NHTM thu thập những thông tin mà kết
quả hoạt động của doanh nghiệp mang tính chất của ngành kinh tế như: đặc điểmcủa ngành kinh tế liên quan đến thực thể của sản phẩm, tiến trình kỹ thuật cần tiếnhành, cơ cấu sản xuất có tác động đến khả năng sinh lời, vòng quay vốn, nhịp độphát triển của các chu kỳ kinh tế, độ lớn của thị trường và triển vọng phát triển,
2.2.5 Một số nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp trong hoạt động cho vay của Ngân hàng Thương mại.
2.2.5.1 Đánh giá khái quát tình hình tài chính
NHTM đánh giá khái quát tình hình tài chính nhằm mục đích đưa ra nhữngnhận định sơ bộ, ban đầu về thực trạng và sức mạnh tài chính của doanh nghiệp vayvốn, biết được mức độ độc lập về mặt tài chính cũng như những khó khăn mà doanhnghiệp đang phải đương đầu, nhất là trong lĩnh vực thanh toán Qua đó, NHTM cóthể đưa ra các ứng xử phù hợp tiếp theo đối với khách hàng vay
Yêu cầu đặt ra ở bước này là phải đánh giá chính xác, toàn diện song chỉdừng lại ở một số nội dung mang tính khái quát, tổng hợp do đó cần sử dụng một sốchỉ tiêu đặc trưng nhưng cũng bảo đảm đơn giản, tiện lợi và dễ tính toán Có thể sửdụng một số chỉ tiêu cơ bản như:
- Tổng tài sản, nguồn vốn: Sự biến động của tổng tài sản, nguồn vốn thời
Trang 25điểm cuối năm so với đầu năm và so với các năm trước liền kề là một trong nhữngchỉ tiêu được sử dụng để NHTM đánh giá về khả năng tổ chức, huy động và sửdụng vốn trong năm của doanh nghiệp Ngoài ra, nó còn quyết định đến quy mô tàitrợ cũng như khả năng thu hồi nợ của NHTM trong trường hợp xảy ra rủi ro nếudoanh nghiệp sử dụng tài sản để đảm bảo cho khoản vay Song đây chỉ là đánh giá
sơ bộ, cần kết hợp với xem xét cơ cấu cũng như sự biến động của tài sản, nguồn vốn
để có được nhận xét khách quan phù hợp
- Hệ số tự tài trợ (vốn chủ sở hữu/tổng nguồn vốn): là chỉ tiêu phản ánh khả
năng tự chủ về mặt tài chính của doanh nghiệp bởi nó cho biết, trong tổng số nguồnvốn của doanh nghiệp, nguồn vốn chủ sở hữu chiếm mấy phần Hệ số này càng lớn
và tiến gần tới 1, chứng tỏ khả năng tự chủ, mức độ độc lập về tài chính của doanhnghiệp càng gia tăng, nhu cầu vay vốn ngân hàng giảm đi
- Hệ số tự tài trợ tài sản dài hạn (vốn chủ sở hữu/tài sản dài hạn): phản ánh
khả năng trang trải tài sản dài hạn bằng vốn chủ sở hữu Do đặc điểm của tài sản dàihạn là khả năng luân chuyển chậm nên nếu hệ số ngày nhỏ hơn 1 tức là vốn chủ sởhữu không đủ tài trợ tài sản dài hạn mà phải sử dụng các nguồn vốn vay NHTM thìkhi các khoản nợ đáo hạn, doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong khả năng thanh toán
- Hệ số khả năng thanh toán tổng quát (tổng tài sản/nợ phải trả): Các NHTM
quan tâm đến chỉ tiêu này bởi nó phản ánh khả năng thanh toán chung của doanhnghiệp trong kỳ báo cáo Tức là với tổng tài sản hiện có, doanh nghiệp có bảo đảmtrang trải được các khoản nợ phải trả (trong đó có nợ vay ngân hàng) hay không.Nếu chỉ tiêu này càng lớn hơn 1 thì khả năng trả nợ các khoản vay đến hạn củaNHTM càng cao
- Hệ số thanh toán nợ ngắn hạn (tài sản ngắn hạn/nợ ngắn hạn): cho thấy khả
năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp là cao hay thấp Nếu chỉtiêu này xấp xỉ bằng 1 thì doanh nghiệp có đủ khả năng thanh toán các khoản nợtrong ngắn hạn trong đó có khoản nợ vay NHTM và tình hình tài chính của doanhnghiệp bình thường hoặc khả quan Ngược lại, trị số của chỉ tiêu này càng nhỏ hơn
Trang 261 thì khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp càng thấp, khả năng thuhồi vốn của NHTM vì thế mà cũng giảm theo.
- Hệ số khả năng thanh toán tức thời (tiền và các khoản tương đương/nợ
ngắn hạn): được dùng để đánh giá khả năng thanh toán tức thời của các khoản nợngắn hạn của doanh nghiệp bằng tiền và các khoản tương đương tiền Cũng giốngnhư các hệ số thanh toán khác, hệ số này càng cao thì khả năng trả nợ vay NHTMcàng lớn
- Khả năng sinh lời của tài sản – ROA (lợi nhuận sau thuế/tổng tài sản bình
quân): Các NHTM xem xét chỉ tiêu này để đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ởdoanh nghiệp Nó thể hiện trình độ quản lý và sử dụng tài sản thông qua việc chobiết bình quân một đơn vị tài sản sử dụng trong quá trình kinh doanh tạo ra đượcbao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế Chỉ tiêu này càng cao, hiệu quả sử dụng tàisản càng lớn và ngược lại
- Khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu – ROE (lợi nhuận sau thuế/vốn chủ
sở hữu bình quân): là chỉ tiêu phản ánh khái quát nhất hiệu quả sử dụng vốn củadoanh nghiệp qua việc tính toán một đơn vị vốn chủ sở hữu đầu tư vào kinh doanhđem lại mấy đơn vị lợi nhuận trước thuế Chỉ tiêu này càng cao thì hiệu quả sử dụngvốn càng cao và ngược lại
2.2.5.2 Phân tích cơ cấu và sự biến động của tài sản/nguồn vốn.
Phân tích cơ cấu và sự biến động của tài sản
Phân tích cơ cấu tài sản của doanh nghiệp được các NHTM thực hiện bằngcách tính ra và so sánh tình hình biến động giữa kỳ phân tích với kỳ gốc về tỷ trọngcủa từng bộ phận tài sản chiếm trong tổng số tài sản
Để biết được chính xác tình hình sử dụng vốn, nắm được các nhân tố ảnh hưởng
và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến sự biến động về cơ cấu tài sản thì bên cạnhviệc so sánh sự biến động trên tổng số tài sản cũng như từng loại tài sản giữa kỳ phân
Trang 27tích so với kỳ gốc, các NHTM còn phải xem xét tỷ trọng từng loại tài sản chiếm trongtổng số và xu hướng biến động của chúng theo thời gian Việc đánh giá của NHTMphải dựa trên tính chất kinh doanh và tình hình biến động của từng bộ phận (trong điềukiện cho phép có thể xem xét và so sánh với cơ cấu chung của ngành để đánh giá).
Những thông tin về tài sản của doanh nghiệp khá quan trọng đối với quyếtđịnh cho vay của ngân hàng, do đó cần phân tích chi tiết các khoản mục quan trọng(tiền và các khoản tương đương tiền, đầu tư tài chính, các khoản phải thu, hàng tồnkho, tài sản cố định, ) để đánh giá được chất lượng tài sản của doanh nghiệp
Phân tích cơ cấu và sự biến động của nguồn vốn
Cơ cấu nguồn vốn là tỷ trọng của từng loại nguồn vốn trong tổng số Thôngqua tỷ trọng của từng nguồn vốn các NHTM sẽ đánh giá được chính sách tài chínhcủa doanh nghiệp, mức độ mạo hiểm tài chính thông qua chính sách đó cũng nhưthấy được khả năng tự chủ hay phụ thuộc về tài chính của doanh nghiệp Mỗi loạinguồn vốn của doanh nghiệp lại bao gồm nhiều bộ phận mà ảnh hưởng của chúngkhác nhau đến mức độ độc lập hay phụ thuộc của tài chính doanh nghiệp Ngượclại, nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với từng nguồn vốn này cũng không giống nhau
Để biết được chính xác tình hình huy động vốn, nắm được các nhân tố ảnhhưởng và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến sự biến động về cơ cấu nguồn vốnthì bên cạnh việc so sánh sự biến động trên tổng số nguồn vốn cũng như từng loạinguồn vốn giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc, các NHTM còn phải xem xét tỷ trọngtừng loại nguồn vốn chiếm trong tổng số và xu hướng biến động của chúng theothời gian Việc đánh giá phải dựa trên tình hình biến động của từng bộ phận vốnhuy động và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp trong từng thời kỳ (trong điềukiện cho phép, có thể xem xét và so sánh với cơ cấu chung của ngành để đánh giá)
Cụ thể, đánh giá chất lượng nguồn vốn được thực hiện thông qua việc phân tích hainguồn vốn chính là vốn chủ sở hữu và nợ phải trả:
+ Phân tích vốn chủ sở hữu giúp NHTM đánh giá mức độ đầu tư, khả năng tựchủ về mặt tài chính của doanh nghiệp Vốn chủ sở hữu không phải là các khoản nợđồng nghĩa với việc doanh nghiệp không phải cam kết thanh toán Tuy nhiên, các
Trang 28NHTM luôn quan tâm đặc biệt đến khoản mục này bởi về lý thuyết vốn chủ sở hữu làmột khoản đảm bảo để chống lại những tổn thất tiềm năng đối với người cho vay.Trong trường hợp các điều kiện như nhau, rõ ràng một doanh nghiệp có vốn chủ sởhữu lớn hơn có thể sẽ dễ dàng hơn trong việc tiếp cận với khoản vay của ngân hàng.
+ Khác với vốn chủ sở hữu, nợ phải trả phản ánh số vốn mà một doanhnghiệp đi chiếm dụng trong quá trình hoạt động kinh doanh đồng nghĩa với việcdoanh nghiệp phải cam kết và có trách nhiệm thanh toán khi đến hạn Do đó, cácNHTM rất quan tâm đến khối lượng và kỳ hạn của các khoản nợ phải trả
Phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn.
Chính sách huy động cũng như sử dụng vốn của một doanh nghiệp khôngnhững phản ánh nhu cầu vốn cho hoạt động kinh doanh mà còn có quan hệ trực tiếpđến khả năng tự chủ tài chính và hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp, từ đó cótác động trực tiếp đến hiệu quả và rủi ro trong hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp đó Vì vậy, các NHTM còn đi sâu phân tích mối quan hệ giữa tài sản vànguồn vốn trên cơ sở tính toán và so sánh một số chỉ tiêu sau:
- Hệ số nợ/tài sản: Hệ số này phản ánh mức độ tài trợ tài sản của doanh
nghiệp bằng các khoản nợ Trị số của hệ số này càng cao chứng tỏ mức độ phụthuộc vủa doanh nghiệp vào chủ nợ ngày càng lớn, khả năng tự chủ tài chính càngthấp Thực tế là doanh nghiệp có hệ số nợ/tài sản cao không rất khó tiếp cận vớinguồn vốn tín dụng của NHTM
- Hệ số tài sản/vốn chủ sở hữu: Chỉ tiêu này phản ánh mức độ đầu tư tài sản
của doanh nghiệp bằng vốn chủ sở hữu Nếu trị số của chỉ tiêu này càng lớn hơn 1thì mức độ độc lập về tài chính của doanh nghiệp càng giảm dần vì tài sản củadoanh nghiệp chỉ được tài trợ bằng một phần vốn của chủ sở hữu và ngược lại
Bằng việc tính toán và so sánh các chỉ tiêu, các NHTM có thể thấy đượcmức độ biến động về quy mô của từng chỉ tiêu cũng như mức độ tăng trưởng và
xu hướng biến động theo thời gian của chúng, từ đó đánh giá được những đặctrưng trong chính sách huy động cũng như sử dụng vốn của doanh nghiệp, xácđịnh được tính hợp lý và an toàn trong việc huy động vốn để ra quyết định cấp
Trang 29tín dụng cuối cùng.
2.2.5.3 Phân tích tình hình bảo đảm vốn cho hoạt động kinh doanh
Phân tích tình hình bảo đảm vốn cho hoạt động kinh doanh chính là việc xemxét mối quan hệ cân đối giữa tài sản và nguồn hình thành tài sản của doanh nghiệp.Mối quan hệ này phản ánh cân bằng tài chính của doanh nghiệp Có nhiều quanđiểm khi phân tích tình hình bảo đảm vốn cho hoạt động kinh doanh song với tưcách là người cho vay, các NHTM có thể xem xét theo theo tính ổn định của nguồntài trợ, tức là dựa trên cơ sở phân chia nguồn vốn thành hai loại tương ứng với thờigian luân chuyển tài sản là nguồn vốn ngắn hạn và nguồn vốn dài hạn
+ Nếu nguồn vốn dài hạn lớn hơn tài sản dài hạn thì doanh nghiệp có vốn lưuđộng ròng dương NHTM quan tâm nhiều đến chỉ tiêu này bởi đây là dấu hiệu antoàn đối với doanh nghiệp, nó cho phép doanh nghiệp đương đầu được với nhữngrủi ro có thể xảy ra như việc phá sản của khách hàng lớn, việc cắt giảm tín dụng củacác nhà cung cấp kể cả việc thua lỗ nhất thời,…
+ Trường hợp nguồn vốn dài hạn nhỏ hơn tài sản dài hạn nghĩa là doanhnghiệp không có vốn lưu chuyển (VLĐR âm), đồng nghĩa với việc doanh nghiệp đãdùng một phần nguồn vốn có thể sử dụng trong ngắn hạn để tài trợ cho tài sản dàihạn Đây là chính sách tài trợ không đem lại sự ổn định và an toàn; tình trạng bi đát
về tài chính của doanh nghiệp đang diễn ra Khi đó các NHTM quan tâm đánh giácác biện pháp doanh nghiệp sử dụng để thoát khỏi tình trạng này (thu hẹp quy môtài sản cố định, thu hồi đầu tư tài chính dài hạn, tăng vay dài hạn,…) cũng như khảnăng thực hiện chúng
2.2.5.4 Phân tích khả năng thanh toán
Qua việc tính toán và so sánh một số chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán đãđược đề cập ở trên (thanh toán tổng quát, thanh toán hiện hành, thanh toán nợ ngắnhạn, thanh toán nhanh), các NHTM có thể đánh giá được năng lực tài chính trongngắn cũng như dài hạn của doanh nghiệp trước khi quyết đinh cấp tín dụng Nếu khảnăng thanh toán của doanh nghiệp càng cao, năng lực tài chính càng lớn, an ninh tài
Trang 30chính càng vững chắc và rủi ro của NHTM đối với các khoản cho vay là rất thấp.Ngược lại, khả năng thanh toán của doanh nghiệp càng thấp, năng lực tài chính càngnhỏ sẽ dẫn đến khả năng không trả được các khoản nợ NHTM khi đáo hạn.
2.2.5.5 Phân tích tình hình lưu chuyển tiền tệ
Các số liệu về doanh thu và chi phí thể hiện trong Báo cáo kết quả kinhdoanh được ghi nhận theo hoá đơn khi phát sinh doanh thu và chi phí, không phảitheo dòng tiền thực thu và thực chi trong kỳ nên để đánh giá được khả năng trả nợcủa doanh nghiệp, các NHTM có thể đánh giá dòng tiền vào, ra doanh nghiệp trong
kỳ được thể hiện qua Báo cáo lưu chuyển tiền tệ Ví dụ, khi kỳ hạn thanh toánkhông trùng khớp với kỳ thu tiền của doanh nghiệp có thể ảnh hưởng đến khả nănghoàn trả đầy đủ, đúng hạn vốn vay cho ngân hàng
Các chỉ tiêu thường được sử dụng để phân tích là:
- Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn (Lượng tiền lưu chuyển thuần từ
hoạt động kinh doanh/Nợ ngắn hạn): cho biết doanh nghiệp có đủ khả năng trả các
khoản nợ ngắn hạn hay không từ lượng tiền thuần thu được từ hoạt động kinhdoanh Trị số của chỉ tiêu này càng cao thì khả năng trả nợ ngắn hạn NHTM càngcao và ngược lại
- Hệ số khả năng thanh toán lãi vay (lượng tiền từ hoạt động kinh doanh/các
khoản tiền lãi phải trả): cho thấy tình hình thực tế doanh nghiệp có khả năng trảđược lãi vay hay không? Nếu doanh nghiệp có vốn vay nhiều thì hệ số này càngthấp và ngược lại
2.2.5.6 Phân tích hiệu quả sử dụng vốn
Đối với các NHTM, cái mà họ quan tâm là khả năng hoàn trả nợ vay củakhách hàng do đó NHTM tập trung đánh giá năng lực tạo ra giá trị sản xuất, doanhthu và khả năng sinh lợi của vốn Các chỉ tiêu sử dụng phân tích:
- Vòng vốn lưu động (doanh thu thuần/tài sản lưu động bình quân): Chỉ tiêu
này cho biết cứ bình quân sử dụng một đồng vốn lưu động trong kỳ sẽ tạo ra đượcbao nhiêu đồng doanh thu thuần Nếu hệ số này càng lớn, hiệu quả sử dụng vốn
Trang 31càng cao vì hàng hoá tiêu thụ mạnh, vật tư tồn đọng thấp, các khoản phải thu thấp,
…và rủi ro đối với khoản vay của NHTM là rất thấp
- Vòng quay hàng tồn kho (giá vốn hàng bán/hàng tồn kho bình quân trong
kỳ): Chỉ tiêu này biểu hiện số lần mà hàng hoá tồn kho bình quân luân chuyển trong
kỳ Trị số của chỉ tiêu này càng cao càng được đánh giá tốt vì hàng tồn kho đượcluân chuyển nhanh, tránh được tình trạng ứ đọng vốn và ngược lại
- Vòng quay các khoản phải thu (doanh thu thuần/bình quân các khoản phải
thu trong kỳ): Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ chuyển các khoản phải thu ra tiền mặt.Vòng quay càng lớn càng chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoản phải thu nhanh, vốncủa doanh nghiệp ít bị chiếm dụng và không bị tồn đọng vốn nhiều ở các khoảnphải thu và ngược lại
- Hiệu suất sử dụng tổng tài sản (doanh thu thuần/tổng tài sản): Chỉ tiêu này
còn được gọi là vòng quay tổng tài sản, cho biết một đồng tài sản đem lại bao nhiêuđồng doanh thu Qua chỉ tiêu này, các NHTM có thể thấy tổng quát về năng lựchoạt động của doanh nghiệp từ đó hỗ trợ cho việc ra quyết định cho vay
2.2.6 Các tiêu chí đánh giá kết quả hoạt động phân tích tài chính doanh nghiệp trong cho vay của NHTM
- Tỷ lệ doanh nghiệp được phân tích tài chính trong tổng số các doanhnghiệp vay vốn tại Ngân hàng: trong tổng số các doanh nghiệp đề nghị vay vốn thìNHTM đã thực hiện phân tích tình hình tài chính được bao nhiêu doanh nghiệp?;
- Thời gian bình quân để các NHTM thực hiện phân tích tài chính đối với cácdoanh nghiệp có nhu cầu vay vốn là bao lâu? Có đáp ứng kịp thời nhu cầu củakhách hàng vay vốn không?;
- Chất lượng của hoạt động phân tích tài chính còn được phản ánh gián tiếpqua chất lượng của hoạt động cho vay Nếu công tác phân tích tài chính các doanhnghiệp vay vốn được thực hiện nghiêm túc, đầy đủ từ khi ra quyết định cho vay đếntrong và sau khi cho vay thì khả năng thu hồi vốn của NHTM càng cao, rủi ro mấtvốn được hạn chế Kết quả này được thể hiện qua tỷ lệ nợ xấu, nợ quá hạn trên tổng
Trang 32dư nợ chỉ ở mức thấp Và ngược lại, nếu công tác phân tích tài chính trong hoạtđộng cho vay không được NHTM thực hiện có hiệu quà thì rủi ro mất vốn sẽ rấtlớn Tuy nhiên, khi chất lượng tín dụng xấu đi, khách hàng không có khả năng trả
nợ vay chưa chắc hoàn toàn xuất phát từ hiệu quả công tác phân tích tài chính doanhnghiệp của NHTM Các tác động tiêu cực từ môi trường khách quan như: rủi rochính sách vĩ mô, nền kinh tế vĩ mô suy thoái, thiên tai địch họa,… có thể làm ảnhhưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh qua đó suy giảm khả năng trả nợ ngânhàng của doanh nghiệp
2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng phân tích tài chính doanh nghiệp trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại.
2.3.1 Nguồn dữ liệu, chất lượng thông tin
Nguồn dữ liệu, chất lượng thông tin sử dụng để phân tích là một trong cácyếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến các kết quả phân tích vì đây là yếu tố đầu vào củaquá trình phân tích TCDN
Chất lượng của thông tin sử dụng được xác định bởi các tiêu chí như: độ tincậy, chính xác, đầy đủ và tính thời sự (đúng thời điểm) của thông tin Thông tinkhông tin cậy, chính xác có thể sẽ dẫn đến các kết quả phân tích sai lệch hoàn toànvới thực tế, dẫn đến rủi ro cho ngân hàng Trong khi đó, thông tin không đầy đủcũng ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình phân tích và không thể đưa ra được kếtluận cuối cùng trong khi các thông tin không được cập nhật thường xuyên sẽ ảnhhưởng đến đánh giá, dự báo của ngân hàng Trong trường hợp doanh nghiệp hoạtđộng theo chiều hướng không tốt mà ngân hàng có được thông tin về vấn đề này thì
sẽ hạn chế được rủi ro cho ngân hàng vì lúc đó Ngân hàng có thể sẽ hạn chế cho vay
ra thậm chí thu nợ trước hạn, giảm dần dư nợ Như vậy, có thể thấy nguồn thông tinchính xác và kịp thời đóng một vai trò then chốt trong quá trình phân tích
Hiện nay cơ sở chủ yếu để các NHTM dùng để phân tích chính là các thôngtin trên Báo cáo tài chính của doanh nghiệp Một thực trạng xảy ra là để đạt đượcmục đích xin được tài trợ dự án, xin được cấp vốn kinh doanh thì những thông tin
Trang 33mà doanh nghiệp cung cấp cho ngân hàng có thể được điều chỉnh các số liệu saocho các báo cáo phản ánh về tình hình của công ty khả quan hơn so với thực tế.Chính vì vậy mà cách tiếp cận nguồn thông tin này cũng nên có một sự thận trọngnhất định Các báo cáo tài chính được kiểm toán bởi những đơn vị kiểm toán độclập có uy tín sẽ có độ tin cậy cao hơn nhiều so với các báo cáo chưa qua kiểm toán.
Đã có không ít các doanh nghiệp cố ý che dấu những khó khăn của mình để có thểđược vay vốn Ngân hàng Đây là một thực trạng đáng lo ngại bởi nó dẫn đến nhiềurủi ro tín dụng cho ngân hàng Nếu không tính đến yếu tố thông đồng của cán bộngân hàng thì những quyết định cho vay trong trường hợp này chứng tỏ chất lượngphân tích tài chính còn chưa tốt
Bên cạnh nguồn thông tin chính từ khách hàng vay vốn, các NHTM có thểthu thập thêm nhiều nguồn thông tin khác như: thông tin trên các phương tiện thôngtin đại chúng, thông tin từ các đối tác, các ngân hàng cùng hệ thống hay nguồnthông tin do ngân hàng lưu trữ Đây là cơ sở để các ngân hàng so sánh, tham khảokhi có các kết quả phân tích từ nguồn thông tin mà doanh nghiệp cung cấp Việckhai thác các thông tin bên ngoài này giúp cho kết quả phân tích được chính xác,toàn diện và tin cậy hơn, phục vụ cho việc ra quyết định cho vay hiệu quả hơn
2.3.2 Trình độ tổ chức công tác phân tích
Trình độ tổ chức công tác phân tích có thể được thể hiện ở mô hình hoạtđộng tín dụng của Ngân hàng, quy trình phân tích tài chính doanh nghiệp của Ngânhàng hay các phương áp mà Ngân hàng thường áp dụng để phân tích TCDN,… cụthể như sau:
- Mô hình hoạt động tín dụng của ngân hàng: có những ảnh hưởng nhất định
đến chất lượng của hoạt động phân tích TCDN Mô hình hoạt động và phân cấpquản lý tác động làm cho quá trình phân tích diễn ra nhanh hay chậm và sự chuyênmôn hoá trong mô hình tín dụng cũng ảnh hưởng đến chất lượng phân tích Nếu môhình hoạt động của NHTM có sự chuyên môn hoá cao sẽ đảm bảo việc phân tíchđược tốt hơn do đã có tích lũy thông tin và có những kinh nghiệm nhất định trongviệc phân tích các doanh nghiệp đã được phân loại để đánh giá và quản lý Hơn nữa,
Trang 34chính sự phối hợp giữa các phòng nghiệp vụ trong mô hình cũng có hiệu quả nhấtđịnh, bởi bên cạnh tác dụng kiểm tra chéo lẫn nhau nó còn có tác dụng cung cấp bổsung những thông tin cần thiết giúp cho việc phân tích TCDN được hoàn thiện hơn.
Một NHTM không có mô hình hoạt động tín dụng cụ thể hoá được phân cấp
rõ ràng sẽ là một hạn chế không nhỏ, ảnh hưởng lớn đến kết quả phân tích tài chínhdoanh nghiệp trong hoạt động cho vay nói riêng và hoạt động ngân hàng nói chung
- Quy trình phân tích tài chính doanh nghiệp là những bước cần thiết được
quy định phải tuân thủ khi tiến hành phân tích tài chính doanh nghiệp Một quytrình phân tích tài chính doanh nghiệp được thiết kế khoa học, chặt chẽ sẽ giúp choviệc phân tích được diễn ra thuận lợi, nhanh chóng, kịp thời và đảm bảo tính chínhxác hơn Trong trường hợp ngược lại, nếu quy trình phân tích còn nhiều thiếu sót,các bước của quy trình còn lỏng lẻo, sắp xếp chồng chéo, lộn xộn và thiếu khoa học
có thể làm ảnh hưởng đến công tác phân tích nên chất lượng phân tích sẽ không cao
- Phương pháp phân tích tài chính: Để phân tích tình hình tài chính của
doanh nghiệp trong hoạt động cho vay thì các Ngân hàng có thể áp dụng rất nhiềuphương pháp phân tích như: so sánh, tỷ số, phân tích tài chính Dupont
Đối với từng loại hình doanh nghiệp cụ thể thì NHTM có thể áp dụng cácphương pháp khác nhau để làm rõ những đặc điểm về tài chính của doanh nghiệp đó
so với các doanh nghiệp khác cùng ngành Đối với một doanh nghiệp mới thành lậpthì không thể áp dụng đơn thuần một phương pháp so sánh theo thời gian bởi sẽkhông đủ số liệu để phân tích mà thay vào đó có thể áp dụng phương pháp so sánhvới các doanh nghiệp cùng ngành hoặc có các điều kiện tương tự, đồng thời kết hợpvới việc sử dụng các phương pháp khác như phân tích tỷ số hoặc phân tích tài chínhDupont Ở một trường hợp khác thì đối với những doanh nghiệp có quy mô lớn, cónhu cầu tín dụng lớn thì việc phân tích cần được sử dụng nhiều phương pháp phântích hơn so với trường hợp doanh nghiệp có quy mô nhỏ hoặc có nhu cầu về tíndụng nhỏ hơn
Việc sử dụng các phương pháp phân tích thích hợp và đúng chỗ cũng như kết
Trang 35hợp chặt chẽ giữa các phương pháp này sẽ giúp cán bộ phân tích có được những cáinhìn chính xác, sâu sắc và toàn diện hơn về tình hình tài chính của doanh nghiệp.Ngược lại, nếu sử dụng thiếu cũng như kết hợp các phương pháp phân tích khônghợp lý có thể ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng phân tích TCDN.
2.3.3 Năng lực, trình độ chuyên môn của cán bộ phân tích
Đối với việc phân tích tài chính doanh nghiệp trong hoạt động cho vay củangân hàng thì người cán bộ tín dụng đóng một vai trò đặc biệt bởi chính họ là ngườiđầu tiên tiếp cận với doanh nghiệp, trực tiếp thu thập các nguồn thông tin về doanhnghiệp và cũng chính là người tham gia vào quá trình phân tích Do đó, chất lượngcủa hoạt động phân tích phụ thuộc rất nhiều vào trình độ của cán bộ phân tích
Tuỳ vào mô hình hoạt động của các NHTM, cán bộ phân tích có thể baogồm: cán bộ quan hệ khách hàng và những người làm công tác thẩm định tín dụng,gọi chung là cán bộ tín dụng Cán bộ tín dụng là người tiếp xúc, làm việc trực tiếpvới khách hàng song cũng lại là người thực hiện việc phân tích tài chính khách hàngnên có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình phân tích Điều này đòi hỏi ở cán
bộ phân tích phải có kinh nghiệm cũng như năng lực và cả phẩm chất đạo đức nghềnghiệp Nếu như trình độ chuyên môn giỏi cho phép người cán bộ tín dụng có thể
sử dụng một cách linh hoạt, hợp lý, khoa học các công cụ phân tích, nhanh chóngnắm bắt tình hình của doanh nghiệp cũng như các nhân tố tác động và ảnh hưởngcủa các nhân tố đó tới tình hình tài chính và kinh doanh của doanh nghiệp, từ đóđưa ra các phân tích và nhận định đúng đắn thì kinh nghiệm, cái “tinh” nghề nghiệplại giúp người cán bộ tín dụng cảm nhận được các thông tin đáng ngờ, cũng như cácrủi ro tiềm ẩn, xử lý tốt các số liệu nghi vấn Không những vậy, nếu cán bộ tín dụng
là người có phẩm chất đạo đức tốt, họ sẽ trung thực với các số liệu tài chính củadoanh nghiệp, không vì lý do hay sức ép nào khác mà làm sai lệch kết quả nhậnđịnh Trong trường hợp ngược lại, một điều tất yếu xảy ra là chất lượng phân tíchTCDN sẽ bị ảnh hưởng ít nhiều, kết quả phân tích nhận định không đầy đủ, hoặc bịlàm sai lệch, thiếu chính xác ảnh hưởng đến quyết định cho vay của ngân hàng
2.3.4 Trình độ công nghệ thông tin
Trang 36Trong bối cảnh bùng nổ của công nghệ thông tin như hiện nay thì trình độcông nghệ thông tin là một trong những mối quan tâm hàng đầu của các Ngân hànghiện đại, Nếu một ngân hàng có nền tảng công nghệ thông tin tốt sẽ hỗ trợ rất nhiềucho quá trình phân tích TCDN từ việc khai thác thông tin từ những nguồn sẵn có,thu thập thông tin bên ngoài đến công đoạn xử lý thông tin, nhằm rút ngắn thờigian, nâng cao độ chính xác và tăng độ tin cậy của nguồn thông tin.
Trình độ công nghệ của ngân hàng thể hiện ở: hệ thống máy tính, trung tâmlưu trữ thông tin, các phần mềm quản lý, phân tích và đánh giá thông tin,… Đây lànhững yếu tố kĩ thuật phục vụ cho công tác phân tích cần được đầu tư, nâng cấp cậpnhật thường xuyên để có thể đáp ứng nhu cầu phân tích ngày càng đa dạng và phứctạp Ngược lại, cơ sở vật chất kĩ thuật, các phương tiện phục vụ cho công tác phântích nghèo nàn, lạc hậu, thiếu các chương trình, phần mềm tính toán phân tích hiệuquả sẽ làm cho quá trình phân tích thông tin mất nhiều thời gian hơn và rất có thể sẽgây ra những nhầm lẫn, sai sót không đáng có, ảnh hưởng đến chất lượng phân tích
2.3.5 Các quy định, chính sách của Nhà nước đối với việc lập báo cáo tài chính doanh nghiệp
Một nhân tố khách quan có ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng phân tíchTCDN trong hoạt động cho vay tại các NHTM đó là các quy định, chính sách củanhà nước liên quan đến việc lập báo cáo tài chính của doanh nghiệp Cụ thể, cácquy định về: chế độ báo cáo, thông tin nội dung báo cáo, kỳ lập báo cáo, các mẫubiểu, quy định về kiểm toán,… đều có thể trực tiếp ảnh hưởng nhất định đến quátrình phân tích
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP TRONG CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM – SỞ GIAO DỊCH 13.1 Khái quát về BIDV – Sở Giao dịch 1
Trang 373.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), tiền thân là Ngân hàngKiến thiết Việt Nam, là doanh nghiệp Nhà nước hạng đặc biệt, giữ vai trò chủ đạotrong lĩnh vực đầu tư và phát triển; có chức năng huy động vốn ngắn, trung và dài hạntrong nước cũng như quốc tế để phục vụ cho các mục đích đầu tư phát triển Bêncạnh chức năng chính của một NHTM là kinh doanh đa năng tổng hợp về tiền tệ, tíndụng, dịch vụ ngân hàng và phi ngân hàng, BIDV còn làm ngân hàng đại lý, ngânhàng phục vụ cho đầu tư phát triển từ các nguồn của Chính phủ, các tổ chức kinh tếtài chính tiền tệ, các tổ chức kinh tế xã hội, đoàn thể cá nhân trong và ngoài nước
Chi nhánh Sở giao dịch 1 - BIDV được thành lập từ 28/03/1991 là một chinhánh trực thuộc lớn nhất, chịu sự chỉ đạo, điều hành trực tiếp trong hoạt động kinhdoanh của BIDV Suốt 20 năm trưởng thành và phát triển, CN Sở giao dịch 1 thực
sự trở thành đơn vị tiên phong, “quả đấm thép” trong toàn ngành về huy động vốntrong nước, hiện đại hoá công nghệ, phát triển mạnh mẽ, chuyển đổi thành công cơchế sản phẩm và khách hàng cũng như mở rộng thị phần theo đòi hỏi của cơ chế thịtrường Năm 2005 CN Sở giao dịch 1 đã được Chủ tịch nước tặng Huân chương laođộng hạng nhì, NHNN trao tặng danh hiệu đơn vị xuất sắc nhất trong hệ thốngBIDV và trong hệ thống NHTM Không những vậy, CN Sở Giao dịch 1 đã vinh dựđược Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động đã có thành tích đặcbiệt xuất sắc trong lao động, sáng tạo liên tiếp từ trong các giai đoạn (1997 – 2006),(2006-2010) góp phần vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc.Trong những năm qua, tiếp tục phát huy truyền thồng tự hào đó, tập thể CN Sở giaodịch 1 luôn nỗ lực phấn đấu không ngừng và đã gặt hái được nhiều thành quả đáng
to lớn trong hoạt động kinh doanh, góp phần không nhỏ nâng cao năng lực cạnhtranh của Chi nhánh nói riêng và của toàn hệ thống BIDV nói chung
3.1.2 Cơ cấu tổ chức của BIDV – Sở Giao dịch 1
Căn cứ các Quyết định số 4951/QĐ-TCNS (06/10/2008) và số TCCB (25/09/2008) của Giám đốc BIDV – Sở Giao dịch 1 thì Chi nhánh Sở Giao
Trang 384625/QĐ-dịch 1 được tổ chức thành 5 khối trong đó có 4 khối nghiệp vụ và 1 khối trực thuộc.
Cụ thể:
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của CN Sở Giao dịch 1 - BIDV
3.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh của BIDV – Sở Giao dịch 1
3.1.3.1 Về huy động vốn
Nhận thức tầm quan trọng của vốn trong mọi hoạt động kinh doanh, đặc biệt làtrong lĩnh vực hoạt động đặc thù như NHTM, CN Sở Giao dịch 1 luôn đặt vấn đề huyđộng vốn và điều chỉnh cơ cấu hợp lý với quá trình sử dụng là nhiệm vụ hàng đầu
- Huy động vốn: Những năm trở lại đây, nhất là khi nền kinh tế có những
diễn biến phức tạp, lạm phát liên tục tăng cao, NHNN hạn chế tăng trưởng tín dụng,
…thì vấn đề huy động vốn lại trở thành nhiệm vụ sống còn của các NHTM Trongcuộc “chạy đua” lãi suất huy động của các ngân hàng, CN Sở Giao dịch 1 cũng nhưcác chi nhánh khác trong toàn hệ thống BIDV luôn quán triệt tuân thủ các quy định
Ban Giám đốc
Khối
QHKH
Khối QLRR
Khối tác nghiệp
PhòngQLRR
Phòng Quản trị TD
PhòngDịch vụ KH
Phòng Dịch
vụ kho quỹ
Phòng Thanh toán Quốc tế
Phòng Tài chính kế toánPhòng Nhân sựVăn phòng
Phòng Giao dịch
PhòngĐiện toán
Phòng Kế hoạch tổng hợp
Trang 39của NHNN về trần lãi suất Song để nâng cao khả năng cạnh tranh trên địa bàn HàNội thì bên cạnh các chương trình huy động theo chỉ đạo của BIDV, CN Sở Giaodịch 1 cũng đã tích cực triển khai và tiếp thị đến khách hàng các hình thức huy độngmới đa dạng, hấp dẫn, phù hợp với từng thời điểm và từng đối tượng khách hàng;bám sát diễn biến dòng tiền thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng đểhuy động tối đa nguồn vốn nhàn rỗi, không ngừng gia tăng số dư tiền gửi.
Với lợi thế là đơn vị đầu mối phục vụ các khách hàng truyền thống là các Tậpđoàn, Tổng công ty lớn của toàn hệ thống BIDV (Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, Tổngcông ty Xăng dầu, Tập đoàn Than và khoáng sản, Tổng công ty Điện lực, Tập đoànDệt may,…) Chi nhánh cũng đã huy động được nguồn vốn lớn từ các tổ chức, phục
vụ kịp thời cho hoạt động tín dụng và hoạt động thanh toán và góp phần đắc lực hỗtrợ điều hoà nguồn vốn trong hệ thống Mặt khác, để phục vụ cho việc phát triểnmạng lưới, CN Sở Giao dịch 1 đã liên tục phải chia tách ra các chi nhánh BIDV cấp 1khác nên chỉ tiêu huy động vốn của Chi nhánh đặc biệt là huy động vốn dân cư trongnhững năm gần đây không tăng thậm chí có phần giảm nhẹ nếu so với các năm trước
Bảng 3.1: Kết quả huy động vốn của CN Sở giao dịch 1 – BIDV (2008-2010)
Đơn vị tính: tỷ đồng.
« Nguồn : Báo cáo tổng kết đánh giá hoạt động kinh doanh 3 năm 2008-2010 »
Nền vốn huy động vẫn được giữ ổn định trong điều kiện cạnh tranh mạnh mẽcủa các NHTM cổ phần cũng đã thể hiện sự nỗ lực của cả tập thể chi nhánh trongthời gian qua
- Điều hành vốn:
Trang 40Biểu đồ 3.1: Cơ cấu huy động vốn của CN Sở Giao dịch 1 (2008 – 2010)
CN Sở giao dịch 1 luôn chủ động thường xuyên nghiên cứu, phân tích đểđiều chỉnh cơ cấu nguồn vốn một cách hợp lý nhất; chủ động cân đối và sử dụngvốn hàng ngày tại Chi nhánh vừa tiết kiệm song vẫn linh hoạt, đảm bảo khả năngthanh toán cũng như phục vụ tốt nhu cầu thanh toán của khách hàng Do đó, cơ cấunguồn vốn đã có những bước chuyển biến rõ rệt, tình hình cân đối giữa nguồn vốn
và sử dụng vốn ngày càng hợp lý hơn, đáp ứng đầy đủ nhu cầu sử dụng vốn cả vềloại tiền lẫn kỳ hạn, đảm bảo tốt khả năng thanh khoản Trong công tác điều hànhnguồn vốn bên cạnh việc luôn tuân thủ, thực hiện điều chỉnh lãi suất kịp thời theocác công văn chỉ đạo về lãi suất của BIDV, đảm bảo cạnh tranh với các NHTM trêncùng địa bàn, Chi nhánh cũng luôn theo sát và phân tích diễn biến thị trường huyđộng vốn, tích cực thu hút nguồn tiền gửi của các tổ chức với chính sách lãi suấtphù hợp cho từng khách hàng
3.1.3.2 Về hoạt động tín dụng
Với thế mạnh về nguồn vốn, trong các năm qua CN Sở giao dịch 1 luônsẵn sàng đáp ứng mọi nhu cầu vay vốn của các cá nhân, tổ chức, góp phần vào sựtăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Hà nội nói riêng và của