Thực hiện cải cách ngành tài chính theo định hướng phát triển ngành tài chính Việt Nam, từ năm 2003 Bộ Tài chính đã triển khai Dự án cải cách quản lý tài chính công đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 432QĐTTg ngày 2142003 với nội dung cốt lõi là Hệ thống thông tin quản lý ngân sách và kho bạc (TABMIS). Quá trình triển khai TABMIS đặt ra yêu cầu và hỗ trợ hệ thống Kho bạc Nhà nước đổi mới, hoàn thiện các mặt hoạt động nghiệp vụ Kho bạc Nhà nước. Trong đó, TABMIS hỗ trợ công tác đổi mới quản lý ngân quỹ qua Kho bạc Nhà nước theo thông lệ quốc tế và kinh nghiệm quản lý của những nước phát triển nhằm đảm bảo quản lý ngân quỹ an toàn, hiệu quả.Hiện nay, công tác quản lý và điều hành ngân quỹ qua qua Kho bạc Nhà nước được thực hiện theo Quyết định số 333QĐKBKHTH ngày 23042002 của Tổng giám đốc Kho bạc Nhà nước ban hành cơ chế quản lý và điều hoà vốn trong hệ thống Kho bạc Nhà nước. Theo đó, trách nhiệm của các đơn vị thuộc hệ thống Kho bạc Nhà nước trong quản lý và điều hành ngân quỹ qua Kho bạc Nhà nước được phân định rõ; không để xảy ra tình trạng mất khả năng thanh toán cục bộ tại một số địa phương do thiếu nguồn; ngân quỹ Kho bạc Nhà nước được quản lý một cách an toàn và bước đầu có hiệu quả thông qua việc hỗ trợ kịp thời cho các nhu cầu chi của ngân sách nhà nước khi nguồn thu chưa tập trung kịp và tạm ứng cho một số dự án đầu tư xây dựng cơ bản; từng bước xây dựng được hệ thống cung cấp và xử lý thông tin, số liệu phục vụ cho công tác quản lý và điều hành ngân quỹ qua Kho bạc Nhà nước,...Tuy nhiên, công tác quản lý ngân quỹ qua Kho bạc Nhà nước hiện nay vẫn còn một số tồn tại và hạn chế nhất định như: Kho bạc Nhà nước vẫn mở tài khoản tiền gửi tại các ngân hàng nên đã làm phân tán ngân quỹ quản lý qua Kho bạc Nhà nước, giảm hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính; chưa dự báo được các dòng tiền vào, ra Kho bạc Nhà nước; cơ chế quản lý ngân quỹ còn thiếu tính pháp lý cao; chưa có cơ chế đầu tư ngân quỹ; chưa có sự phối kết hợp giữa Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước trong công tác quản lý ngân quỹ; khó xác định trách nhiệm trong trường hợp huy động các nguồn tài chính thay thế trong ngắn hạn kém hiệu quả; xuất hiện các thông tin sai lệch trong quản lý tiền trong lưu thông,… Từ đó, đã làm cho công tác quản lý ngân quỹ chưa hiệu quả.
Trang 1Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục sơ đồ, đồ thị
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ NGÂN QUỸ QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC VÀ HỆ THỐNG THÔNG TIN QUẢN LÝ NGÂN SÁCH VÀ KHO BẠC (TABMIS) 4
1.1 Ngân quỹ và quản lý ngân quỹ qua Kho bạc Nhà nước 4
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của ngân quỹ 4
1.1.2 Công tác quản lý ngân quỹ qua Kho bạc Nhà nước 7
1.2 Tổng quan về Hệ thống thông tin quản lý ngân sách và Kho bạc (TABMIS) 14
1.2.1 Khái niệm Hệ thống thông tin quản lý ngân sách và Kho bạc (TABMIS) 14
1.2.2 Các nội dung cơ bản của TABMIS 14
1.2.3 Mục tiêu và vai trò của TABMIS 16
1.3 Yêu cầu đổi mới quản lý ngân quỹ qua KBNN khi triển khai TABMIS 18
1.3.1 Các chức năng của TABMIS 18
1.3.2 Cơ sở thiết kế, xây dựng TABMIS 19
1.3.3 Tác động của TABMIS đến quản lý ngân quỹ qua KBNN 21
1.4 Kinh nghiệm quản lý ngân quỹ tại một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam 23
1.4.1 Quản lý ngân quỹ tại Cộng hòa Pháp 23
1.4.2 Quản lý ngân quỹ tại Slovenia 24
Trang 21.4.5 Quản lý ngân quỹ tại Mỹ 26
1.4.6 Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam 27
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGÂN QUỸ QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC HIỆN NAY 31
2.1 Chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy KBNN hiện nay 31
2.1.1 Chức năng và nhiệm vụ của KBNN 31
2.1.2 Tổ chức bộ máy của KBNN 34
2.2 Thực trạng công tác quản lý ngân quỹ qua KBNN hiện nay 37
2.2.1 Mở tài khoản của hệ thống KBNN 37
2.2.2 Công tác thanh toán của hệ thống KBNN 37
2.2.3 Tình hình biến động ngân quỹ qua KBNN 38
2.2.4 Quản lý và điều hoà ngân quỹ trong hệ thống KBNN 46
2.2.5 Sử dụng ngân quỹ qua KBNN 49
2.3 Đánh giá công tác quản lý ngân quỹ qua KBNN hiện nay 51
2.3.1 Kết quả công tác quản lý ngân quỹ qua KBNN 51
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân hạn chế của công tác quản lý ngân quỹ qua KBNN 54
CHƯƠNG III MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM ĐỔI MỚI CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGÂN QUỸ QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC TRONG ĐIỀU KIỆN TRIỂN KHAI TABMIS 63
3.1 Mục tiêu và định hướng đổi mới công tác quản lý ngân quỹ qua Kho bạc Nhà nước 63
3.1.1 Mục tiêu đổi mới công tác quản lý ngân quỹ qua KBNN 63
3.1.2 Định hướng 64
3.2 Một số giải pháp cụ thể đổi mới công tác quản lý ngân quỹ qua KBNN trong điều kiện triển khai TABMIS 65
Trang 33.2.3 Xây dựng hệ thống dự báo luồng tiền tại KBNN 70
3.2.4 Xây dựng và phát triển hệ thống quản lý, kiểm soát rủi ro 73
3.2.5 Gắn kết quản lý ngân quỹ với quản lý nợ 74
3.2.6 Từng bước thực hiện đầu tư ngân quỹ hoặc vay ngắn hạn 76
3.3 Điều kiện thực hiện giải pháp 76
3.3.1 Phê chuẩn cơ chế về quản lý ngân quỹ 76
3.3.2 Tạo môi trường thuận lợi cho quản lý, đầu tư ngân quỹ 77
3.3.3 Các điều kiện kỹ thuật 81
KẾT LUẬN 88 NHẬN XÉT CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4KBNN Kho bạc Nhà nước
TSA Tài khoản Kho bạc duy nhất
NSNN Ngân sách Nhà nước
NSTW Ngân sách trung ương
NSĐP Ngân sách địa phương
IFMIS Hệ thống thông tin tích hợp
TABMIS Hệ thống thông tin quản lý ngân sách và kho bạc
Trang 5Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy của hệ thống Kho bạc Nhà nước 36
Đồ thị 2.2: Tình hình biến động tồn quỹ NSNN bình quân hàng năm 39
Đồ thị 2.3: Tình hình biến động tồn quỹ NSNN bình quân hàng quý 41
Đồ thị 2.4: Tình hình biến động tồn quỹ dự trữ tài chính bình quân hàng năm
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu :
Thực hiện cải cách ngành tài chính theo định hướng phát triển ngành tàichính Việt Nam, từ năm 2003 Bộ Tài chính đã triển khai Dự án cải cách quản
lý tài chính công đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số432/QĐ-TTg ngày 21/4/2003 với nội dung cốt lõi là Hệ thống thông tin quản
lý ngân sách và kho bạc (TABMIS)
Quá trình triển khai TABMIS đặt ra yêu cầu và hỗ trợ hệ thống Kho bạcNhà nước đổi mới, hoàn thiện các mặt hoạt động nghiệp vụ Kho bạc Nhànước Trong đó, TABMIS hỗ trợ công tác đổi mới quản lý ngân quỹ qua Khobạc Nhà nước theo thông lệ quốc tế và kinh nghiệm quản lý của những nướcphát triển nhằm đảm bảo quản lý ngân quỹ an toàn, hiệu quả
Hiện nay, công tác quản lý và điều hành ngân quỹ qua qua Kho bạc Nhànước được thực hiện theo Quyết định số 333QĐ/KB/KHTH ngày 23/04/2002của Tổng giám đốc Kho bạc Nhà nước ban hành cơ chế quản lý và điều hoàvốn trong hệ thống Kho bạc Nhà nước Theo đó, trách nhiệm của các đơn vịthuộc hệ thống Kho bạc Nhà nước trong quản lý và điều hành ngân quỹ quaKho bạc Nhà nước được phân định rõ; không để xảy ra tình trạng mất khả năngthanh toán cục bộ tại một số địa phương do thiếu nguồn; ngân quỹ Kho bạcNhà nước được quản lý một cách an toàn và bước đầu có hiệu quả thông quaviệc hỗ trợ kịp thời cho các nhu cầu chi của ngân sách nhà nước khi nguồn thuchưa tập trung kịp và tạm ứng cho một số dự án đầu tư xây dựng cơ bản; từngbước xây dựng được hệ thống cung cấp và xử lý thông tin, số liệu phục vụ chocông tác quản lý và điều hành ngân quỹ qua Kho bạc Nhà nước,
Tuy nhiên, công tác quản lý ngân quỹ qua Kho bạc Nhà nước hiện nayvẫn còn một số tồn tại và hạn chế nhất định như: Kho bạc Nhà nước vẫn mở
Trang 7tài khoản tiền gửi tại các ngân hàng nên đã làm phân tán ngân quỹ quản lýqua Kho bạc Nhà nước, giảm hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính; chưa dựbáo được các dòng tiền vào, ra Kho bạc Nhà nước; cơ chế quản lý ngân quỹcòn thiếu tính pháp lý cao; chưa có cơ chế đầu tư ngân quỹ; chưa có sự phốikết hợp giữa Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước trong công tác quản lýngân quỹ; khó xác định trách nhiệm trong trường hợp huy động các nguồn tàichính thay thế trong ngắn hạn kém hiệu quả; xuất hiện các thông tin sai lệchtrong quản lý tiền trong lưu thông,… Từ đó, đã làm cho công tác quản lý ngânquỹ chưa hiệu quả.
Xuất phát từ tình hình thực tế nói trên và phù hợp với quá trình triển khai
TABMIS, tác giả đã chọn đề tài nghiên cứu: Đổi mới công tác quản lý ngân quỹ qua Kho bạc Nhà nước trong điều kiện triển khai Hệ thống thông tin quản
lý ngân sách và kho bạc (TABMIS)” với mong muốn đưa ra những giải pháp có
tính khoa học và thực tiễn nhằm góp phần giải quyết những tồn tại trên
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài :
Đề tài đi sâu phân tích, đánh giá những ưu điểm và hạn chế của công tácquản lý, điều hành ngân quỹ qua Kho bạc Nhà nước trong thời gian qua Từ
đó, rút ra các nguyên nhân và đề xuất một số định hướng và giải pháp chủ yếuđổi mới công tác quản lý ngân quỹ cũng như các điều kiện để thực hiện giảipháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý ngân quỹ qua Kho bạc Nhà nước trongđiều kiện triển khai TABMIS
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu :
Đối tượng nghiên cứu là nghiệp vụ quản lý ngân quỹ trong hệ thống Khobạc Nhà nước, bao gồm việc quản lý tài khoản của Kho bạc Nhà nước tạingân hàng; tổ chức quản lý, điều hoà ngân quỹ đảm bảo khả năng thanh toáncho các đơn vị giao dịch với Kho bạc Nhà nước; thực hiện đầu tư ngân quỹ đểnâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng ngân quỹ qua Kho bạc Nhà nước
Trang 8Phạm vi nghiên cứu bao gồm việc quản lý, điều hành ngân quỹ của Khobạc Nhà nước từ khi bắt đầu nghiên cứu triển khai TABMIS năm 2004.
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
Về mặt lý luận, luận văn hệ thống hóa những quan điểm, lý luận cơ bản
về ngân quỹ và công tác quản lý ngân quỹ qua Kho bạc Nhà nước và nhữngnội dung cơ bản của Hệ thống thông tin quản lý ngân sách và kho bạc
Về mặt thực tiễn, trên cơ sở sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiêncứu như tiếp cận hệ thống, phân tích tổng hợp, thống kê, luận văn phân tích,đánh giá và tìm ra các biện pháp nhằm đổi mới công tác quản lý ngân quỹ quaKho bạc Nhà nước phù hợp với quá trình triển khai TABMIS
5 Kết cấu của đề tài :
Tên của đề tài: Đổi mới công tác quản lý ngân quỹ qua Kho bạc Nhà
nước trong điều kiện triển khai Hệ thống thông tin quản lý ngân sách và kho bạc (TABMIS)”.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungcủa đề tài gồm 3 chương :
Chương 1: Tổng quan về quản lý ngân quỹ qua Kho bạc Nhà nước
và Hệ thống thông tin quản lý ngân sách và Kho bạc (TABMIS)
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý ngân quỹ qua Kho bạc
Nhà nước hiện nay.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm đổi mới công tác quản lý ngân
quỹ qua KBNN trong điều kiện triển khai TABMIS
Trang 9CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ NGÂN QUỸ QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC VÀ HỆ THỐNG THÔNG TIN QUẢN LÝ
NGÂN SÁCH VÀ KHO BẠC (TABMIS)
1.1 Ngân quỹ và quản lý ngân quỹ qua Kho bạc Nhà nước
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của ngân quỹ
1.1.1.1 Khái niệm ngân quỹ
- Ngân quỹ là quỹ tiền của Nhà nước hay của một tổ chức, đoàn thể1.Ngân quỹ nghĩa là tiền Thuật ngữ chỉ tiền có hàm ý rộng bao hàm tiềnmặt tại két, tiền trong kho và tiền gửi tại Ngân hàng
- Ngân quỹ qua KBNN là các khoản tiền do KBNN quản lý như tiền mặttại KBNN, tiền gửi tại ngân hàng, các khoản tạm ứng theo chế độ quy định,các khoản tiền trong thanh toán được hình thành từ quỹ NSNN, các quỹ tàichính của nhà nước, tiền gửi của các đơn vị, tổ chức kinh tế tại KBNN, 1.1.1.2 Nguồn hình thành ngân quỹ
Nguồn hình thành ngân quỹ qua KBNN phần lớn có nguồn gốc trực tiếphay gián tiếp từ ngân sách nhà nước, bao gồm:
- Quỹ NSNN: Theo quy định của Luật NSNN, thì quỹ NSNN bao gồm quỹNSTW và quỹ NSĐP (cấp tỉnh, huyện, xã); quỹ NSNN được quản lý tại KBNN
- Quỹ Dự trữ tài chính nhà nước của trung ương và của các tỉnh, thànhphố trực thuộc trung ương Theo quy định chỉ có NSTW và ngân sách tỉnhmới được phép trích lập quỹ Dự trữ tài chính
- Nguồn vốn dành để cho vay: Nguồn vốn này hiện nay còn rất ít và chỉphát sinh tại một vài địa phương theo một số chương trình nhất định (như chovay trồng mía, cho vay nuôi bò sữa, )
1 Từ điển Tiếng Việt- Nxb Đà Nẵng- 2007
Trang 10- Nguồn vốn tiền gửi của các đơn vị: Bao gồm tiền gửi của các đơn vị dựtoán có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước và ngoài ngân sách nhà nước; cácquỹ tài chính khác của xã; tiền gửi của các tổ chức tài chính; tiền gửi của cácquỹ tài chính; tiền gửi có mục đích; tiền gửi ban quản lý dự án dầu tư; tiền gửitạm thu, tạm giữ; tiền gửi của các đơn vị, cá nhân khác,…
- Nguồn vốn trong thanh toán: bao gồm nguồn vốn thanh toán phátsinh giữa KBNN với các đơn vị, cá nhân ngoài hệ thống (như thanh toánvãng lai giữa các KBNN; séc bảo chi; các khoản phải trả; chênh lệch giá và
tỷ giá; …) và thanh toán giữa các đơn vị KBNN với nhau (thu hộ, chi hộ;điều chuyển vốn,…)
1.1.1.3 Cấu thành ngân quỹ
Các nguồn vốn trên hình thành ngân quỹ qua KBNN bao gồm:
- Tồn ngân quỹ Kho bạc: bao gồm tiền mặt tại các kho của KBNN vàtiền gửi (kể cả bằng đồng Việt Nam và bằng ngoại tệ) tại Ngân hàng (NHNN
và NHTM)
- Vốn đang tạm ứng cho NSNN và một số đối tượng khác theo chế độ:gồm vốn tạm ứng cho NSTW và ngân sách cấp tỉnh; ngân sách cấp huyện vàcấp xã không được tạm ứng; tạm ứng cho một số đối tượng khác như tạm ứngchi trả vàng bạc cho các chủ sở hữu theo quyết định của cấp có thẩm quyền,tạm ứng cho các đối tượng theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ
- Vốn cho một số đối tượng vay theo quyết định của cấp có thẩm quyền.Đây là loại vốn tương ứng với nguồn vốn dành để cho vay và vì vậy, loại vốnnày hiện còn rất ít và chỉ có tại một vài địa phương
- Vốn phát sinh trong quá trình thanh toán, gồm 2 loại: Vốn phát sinhtrong quá trình thanh toán giữa KBNN với các đơn vị, tổ chức, cá nhân ngoài
hệ thống KBNN và vốn phát sinh trong quá trình thanh toán giữa các đơn vịtrong hệ thống KBNN với nhau
Trang 111.1.1.4 Đặc điểm vận động của ngân quỹ qua KBNN
Hoạt động thu, chi của KBNN diễn ra thường xuyên, liên tục, nên ngânquỹ KBNN cũng luôn ở trạng thái vận động Mỗi nghiệp vụ thu, chi vận độngtheo những quy luật khác nhau từ đó tác động đến ngân quỹ qua KBNN Căn
cứ tính chất vận động của các luồng vốn có thể phân chia các giao dịch làm
ba loại sau:
- Các giao dịch liên quan trực tiếp đến ngân quỹ tại một đơn vị KBNNcũng như toàn hệ thống KBNN: Các giao dịch giữa KBNN với các đối tượngkhông mở tài khoản tại KBNN, chẳng hạn như các đối tượng nộp thuế, phí, lệphí vào KBNN; KBNN thực hiện thanh toán, chi trả cho các đối tượng hưởnglương, học bổng, sinh hoạt phí, thanh toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản,…không mở tài khoản tại KBNN
- Các giao dịch chỉ ảnh hưởng đến ngân quỹ tại một đơn vị KBNN,không ảnh hưởng đến ngân quỹ trong toàn hệ thống: các giao dịch mang tínhchất thu hộ, chi hộ giữa các đơn vị KBNN Chẳng hạn như thanh toán Liênkho bạc giữa các đơn vị KBNN, điều chuyển ngân quỹ giữa KBNN cấp trênvới KBNN cấp dưới,… Khi phát sinh các loại giao dịch này, sự biến động củangân quỹ qua KBNN có sự tách rời về mặt thời gian với thời điểm phát sinhgiao dịch nên chỉ ảnh hưởng đến ngân quỹ tại một đơn vị KBNN
- Các giao dịch không làm ảnh hưởng đến ngân quỹ tại đơn vị KBNNphát sinh giao dịch cũng như tổng ngân quỹ trong toàn hệ thống: các giaodịch mang tính chất chuyển dịch từ nguồn vốn này sang nguồn vốn khác tạimột đơn vị KBNN Chẳng hạn: các đơn vị có tài khoản tiền gửi tại KBNNnộp các khoản phải nộp cho ngân sách nhà nước, chi từ ngân sách nhà nướcsang tài khoản tiền gửi (đối với các đơn vị an ninh, quốc phòng, ), hoặcchuyển từ tài khoản tiền gửi này sang tài khoản tiền gửi khác tại cùng mộtđơn vị KBNN,…
Trang 121.1.2 Công tác quản lý ngân quỹ qua Kho bạc Nhà nước
1.1.2.1 Khái niệm quản lý ngân quỹ
Quản lý ngân quỹ là quản lý số dư ngân quỹ của một tổ chức nhằm tối đahóa sự sẵn có ngân quỹ (tiền mặt tại quỹ và tiền gửi ngân hàng) để tránh rủi rothanh toán
Trong nền kinh tế thị trường, công tác quản lý ngân quỹ được hiểu theomột số khái niệm như sau:
- Quản lý ngân quỹ là công tác quản lý tổng giá trị các nguồn lực tàichính một cách hiệu quả nhất nhằm tối đa hóa giá trị của chúng và những biệnpháp tạo ra các nguồn lực tài chính để đảm bảo luôn có các nguồn lực tàichính khả dụng trong mọi thời điểm của hoạt động này
- Quản lý ngân quỹ đảm bảo có đủ tiền ở đúng địa điểm, tại đúng thờiđiểm để đáp ứng các nghĩa vụ chi tiêu của Nhà nước hay của một tổ chức,đoàn thể theo cách hiệu quả nhất về chi phí
- Quản lý ngân quỹ là chiến lược và các quy trình thực hiện kèm theo đểquản lý hiệu quả về chi phí đối với các dòng tiền và cân bằng trong ngắn hạnđối với ngân quỹ của Nhà nước hay của một tổ chức, đoàn thể cũng như giữaNhà nước hay một tổ chức, đoàn thể với các khu vực kinh tế khác Theo đó,chiến lược quản lý ngân quỹ phải đáp ứng được hai mục tiêu của chính sáchquản lý tài chính công, đó là: (1) đảm bảo các Bộ, ngành và cơ quan củaChính phủ hay một tổ chức, đơn vị quản lý cân đối ngân quỹ hiệu quả đểkhông có ngân quỹ nhàn rỗi tại đơn vị (ngân quỹ nhàn rỗi đồng nghĩa với việccác nhà quản lý nợ phải vay mượn quá nhiều trên các thị trường vốn và do đóphát sinh các chi phí trả nợ không cần thiết cũng như tăng thêm rủi ro vay nợcho Chính phủ hay tổ chức, đoàn thể); (2) tác động tích cực đến khu vực ngânhàng trong nước, đảm bảo các giao dịch thu, chi của Nhà nước hay một tổchức, đoàn thể không tạo ra những xáo trộn lớn làm hưởng đến khả năng thanhtoán của hệ thống Ngân hàng và ảnh hưởng tiêu cực đến chính sách tiền tệ
Trang 131.1.2.2 Mục tiêu của quản lý ngân quỹ qua KBNN
Qua các khái niệm trên cho thấy các mục tiêu của quản lý ngân quỹ là:
- Đảm bảo cho NSNN, các quỹ tài chính của nhà nước và các đơn vị, tổchức kinh tế gửi tiền tại KBNN có khả năng thanh toán, chi trả một cách kịpthời các nghĩa vụ đến hạn Đây là mục tiêu quan trọng nhất của quản lý ngânquỹ qua KBNN
- Tăng hiệu quả sử dụng ngân quỹ qua KBNN thông qua việc đầu tưngân quỹ tạm thời nhàn rỗi; giảm thiểu chi phí từ việc nắm giữ số dư tiềnmặt trong hệ thống ngân hàng cũng như chi phí tài trợ khi ngân quỹ tạmthời thiếu hụt
- Giữ cân đối ngân quỹ nhàn rỗi ở mức tối thiểu, tương tự như việc giữngân quỹ nhàn rỗi "bằng không" hoặc "gần bằng không"
- Giảm thiểu các rủi ro trong công tác quản lý dòng tiền và ngân quỹ.Hầu hết rủi ro này sẽ là rủi ro hoạt động và một số ít là rủi ro tín dụng, rủi rothanh khoản và rủi ro tiền tệ (rủi ro tiền tệ và lãi suất)
- Tạo sự linh hoạt hơn cho thời điểm khớp dòng tiền vào ra để đảm bảokhớp đúng về thời gian của các dòng tiền và có thể điều chỉnh thời điểm này;
hỗ trợ chính sách tài chính như việc phát triển thị trường tiền tệ trong nướchoặc phát triển hợp đồng mua lại hay thị trường mua lại
1.1.2.3 Nội dung của công tác quản lý ngân quỹ qua KBNN
Từ khái niệm về quản lý ngân quỹ cho thấy công tác quản lý ngân quỹqua KBNN gồm các nội dung sau:
* Quản lý tài khoản của KBNN tại hệ thống ngân hàng:
KBNN thực hiện vai trò làm trung gian ngân hàng cho các quỹ phát sinh
từ các tổ chức khác nhau có mở tài khoản tại KBNN Để thực hiện giao dịchthu, chi của các tổ chức trên và quản lý ngân quỹ qua KBNN, KBNN thựchiện mở tài khoản tiền gửi tại hệ thống ngân hàng
Trang 14Quản lý tài khoản của KBNN bao gồm việc mở và sử dụng tài khoản củaKBNN, quản lý số dư tài khoản tiền gửi của KBNN Việc mở và sử dụng tàikhoản của KBNN được thực hiện theo quy định của Bộ Tài chính và quy địnhcủa cơ quan có chức năng thanh toán trong nền kinh tế, chức năng này ở ViệtNam thuộc về Ngân hàng Nhà nước Quản lý số dư tài khoản tiền gửi củaKBNN là thực hiện đảm bảo số dư ngân quỹ của KBNN ở mức độ xác định
để đáp ứng các mục tiêu quản lý ngân quỹ qua KBNN trong từng thời kỳ
* Dự báo dòng tiền qua KBNN
Việc dự báo dòng tiền căn cứ vào sự biến động của các nguồn hình thànhngân quỹ qua KBNN Trong đó:
(1) Quỹ NSNN được hình thành từ các khoản thu NSNN, bao gồm: thuế,phí, lệ phí, các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước, các khoản đónggóp của tổ chức và cá nhân, các khoản viện trợ, các khoản thu khác theo quyđịnh của pháp luật Quỹ NSNN được sử dụng cho các nhu cầu chi phát triểnkinh tế - xã hội; bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộmáy nhà nước; chi trả nợ của nhà nước, chi viện trợ và các khoản chi kháctheo quy định của pháp luật Từng khoản thu, chi NSNN có đặc điểm hìnhthành và vận động theo các quy luật riêng rất khác nhau; từ đó tác động đếnluồng ngân quỹ qua KBNN
(2) Quỹ Dự trữ tài chính nhà nước được hình thành từ nguồn ngân sáchnhà nước như nguồn tăng thu, nguồn thu kết dư và nguồn được bố trí trong dựtoán ngân sách hàng năm Việc sử dụng Quỹ Dự trữ tài chính chỉ phát sinhtrong một số trường hợp đặc biệt như khi nguồn thu chưa tập trung kịp theo
kế hoạch, vay để bù đắp bội chi không đạt mức dự toán đã phê duyệt, thiêntai, địch hoạ, thực hiện các nhiệm vụ quan trọng được chi từ dự phòng ngânsách mà vượt quá khả năng dự phòng ngân sách
Trang 15(3) Nguồn vốn dành để cho vay: được hình thành theo chương trình, dự
án và được giải ngân khi đối tượng vay có đầy đủ hồ sơ, chứng từ đã đượccấp có thẩm quyền phê duyệt nên không có quy luật rõ ràng; nhưng do nguồnvốn này hiện nay còn rất ít và chỉ phát sinh tại một vài địa phương theo một
số chương trình nhất định (như cho vay trồng mía, cho vay nuôi bò sữa, )nên ít ảnh hưởng đến ngân quỹ qua KBNN
(4) Nguồn vốn tiền gửi của các đơn vị:
- Đối với loại tiền gửi có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước: được hìnhthành do cơ chế cấp phát, thanh toán của ngân sách nhà nước và biến độngphụ thuộc vào hai yếu tố: phương thức cấp phát, thanh toán của ngân sách nhànước và nhu cầu, tiến độ chi tiêu của các đơn vị từ nguồn tiền gửi
- Đối với nguồn tiền gửi có nguồn gốc ngoài ngân sách: trước đâythường chiếm tỷ trọng nhỏ, song hiện nay đang tăng dần do sự tăng lên củamột số loại tiền gửi như tiền gửi từ các tổ chức tài chính, các quỹ tài chính;tiền gửi có mục đích Nguồn tiền gửi này biến động phụ thuộc vào quyết định
xử lý của các cấp có thẩm quyền hoặc tình hình thực tế
(5) Nguồn vốn trong thanh toán, bao gồm:
- Nguồn vốn thanh toán giữa KBNN với các đơn vị, tổ chức và cá nhânngoài hệ thống: các quan hệ thanh toán này có ảnh hưởng trực tiếp đến ngânquỹ tại một đơn vị cũng như trong toàn hệ thống
- Nguồn vốn thanh toán phát sinh giữa các đơn vị KBNN với nhau:Các quan hệ thanh toán này có thể ảnh hưởng đến ngân quỹ tại một đơn vịnhưng chưa ảnh hưởng đến tồn ngân toàn hệ thống Nguồn vốn phát sinhtrong quá trình thanh toán biến động thường xuyên, không tuân theo mộtquy luật nhất định
Trên cơ sở dự báo dòng tiền, người quản lý thực hiện lựa chọn cáccông cụ như tín phiếu Kho bạc, hợp đồng mua lại để điều chỉnh luồng tiền
Trang 16nhằm đảm bảo khả năng thanh toán của KBNN và tính hiệu quả trongquản lý ngân quỹ.
* Xác định mức ngân quỹ tối ưu
Mức ngân quỹ tối ưu là mức tồn ngân quỹ cho phép ngân quỹ quaKBNN đạt được tính lỏng cao và khả năng sinh lợi lớn Để xác định mứcngân quỹ tối ưu, người quản lý phải dựa vào nhiều yếu tố của thị trường cũngnhư của nguồn hình thành, vận động của ngân quỹ Trong đó, đặc biệt cầnquan tâm tới việc xác định mức tiền mặt tối ưu, vì số dư tiền mặt ở quy môthận trọng tạo ra tín hiệu tích cực đối với thị trường về khả năng vượt quanhững khủng hoảng tài chính ngoài dự kiến, nhằm cải thiện lòng tin của thịtrường một cách rõ ràng
Về mặt kỹ thuật, mức tiền mặt tối ưu không nên cao hơn mức tiền mặtcần thiết để đáp ứng những hoạt động hàng ngày Việc xác định mức tiền mặttối ưu phụ thuộc vào các yếu tố: mức độ biến động của các dòng tiền hàngngày, khả năng dự báo các dòng tiền đó, phạm vi quản lý những biến độngngoài dự kiến và khung thời gian để có thể quản lý các biến động ngoài dựkiến Theo thông lệ quốc tế thì cần duy trì mức tiền mặt bằng số tiền phải trảlãi nợ hàng năm; đây là một chỉ tiêu hiệu quả hoạt động mà IMF áp dụng để
hỗ trợ một số quốc gia vượt qua khủng hoảng tài chính
Trong quá trình quản lý, người quản lý phải tính toán, xác định mứcngân quỹ hợp lý và hiệu quả nhất sao cho chi phí sử dụng tồn ngân là nhỏnhất (thể hiện qua số lãi phải trả trên số nợ phát hành để có được mức tồnngân đó); đồng thời gặp ít rủi ro nhất như rủi ro thanh khoản, rủi ro thị trườnghoặc rủi ro lãi suất
* Cân đối ngân quỹ: gồm xử lý thiếu hụt ngân quỹ và đầu tư ngân quỹ
tạm thời nhàn rỗi
Trang 17Căn cứ vào biến động của các nguồn hình thành ngân quỹ qua KBNN,KBNN xác định mức ngân quỹ tối ưu để đảm bảo đáp ứng nhu cầu thanhtoán, chi trả của các nguồn vốn Trên cơ sở đó, xác định phần ngân quỹ tạmthời nhàn rỗi hoặc thiếu hụt để đầu tư hoặc đi vay
Xử lý thiếu hụt ngân quỹ bằng những phương pháp như bán chứngkhoán ngắn hạn và các giấy tờ có giá khác, vay ngắn hạn từ ngân hàng hoặccác tổ chức cá nhân thông qua phát hành tín phiếu Kho bạc
Xử lý ngân quỹ tạm thời nhàn rỗi khi ngân quỹ vượt mức tối ưu, khi đókhả năng thanh toán đã được đảm bảo, tồn ngân quỹ tạm thời nhàn rỗi (khoảnchênh lệch giữa giới hạn trên với mức tồn quỹ tối ưu), được sử dụng hợp lý đểđạt được mục tiêu hiệu quả trong công tác quản lý ngân quỹ Việc đầu tư ngânquỹ có thể thực hiện thông qua cho ngân sách nhà nước vay, đầu tư qua đêm,đầu tư có kỳ hạn, đầu tư chứng khoán như hợp đồng mua lại, tín phiếu khobạc hoặc gửi tại ngân hàng
* Lập kế hoạch quản lý ngân quỹ
Lập kế hoạch quản lý ngân quỹ bao gồm việc ra các quyết định để sửdụng nguồn ngân quỹ tạm thời nhàn rỗi khi ngân quỹ vượt qua giới hạn trêntheo mô hình và ra các quyết định tìm nguồn tài trợ khi ngân quỹ xuống thấphơn giới hạn cho phép của mô hình Việc lựa chọn hình thức tài trợ hay sửdụng ngân quỹ nào cần căn cứ vào đặc điểm của luồng tiền qua KBNN và chu
kỳ biến động của thị trường
1.1.2.4 Tác động của quản lý ngân quỹ qua KBNN
Các nước trong khối OECD đã tiến hành cải cách quản lý ngân quỹ vàcoi đây là một ưu tiên hàng đầu trong cải cách quản lý tài chính quốc gia.Việc quản lý ngân quỹ hiệu quả sẽ đem lại những lợi ích sau:
- Đảm bảo chắc chắn cho các nhu cầu chi được thanh toán, chi trả trướcngày đáo hạn và các khoản thu sẽ được chuyển ngay đến các cơ quan có trách
Trang 18nhiệm tập trung nguồn thu; đồng thời, giảm rủi ro trong quá trình hoạt động,tránh tình trạng nhầm lẫn trong quá trình quản lý thu, chi.
- Thông qua việc giảm thiểu tối đa lượng tiền nhàn rỗi (hầu hết cáckhoản tiền này đều không sinh lợi), giảm thời gian luân chuyển của các chứng
từ thanh toán và các khoản dự trữ để trả nợ, nguồn vốn ngân sách sẽ tiết kiệmtrực tiếp các khoản vay để bù đắp bội chi ngân sách
- Việc lập kế hoạch quản lý ngân quỹ kiểm soát được số dư trong các tàikhoản của KBNN tại các địa phương, tăng thêm tính minh bạch, tính năngđộng trong quản lý và giảm rủi ro từ phía hệ thống ngân hàng hoặc các biếnđộng của thị trường tài chính
- Đối với hệ thống Ngân hàng, việc kiểm soát và kế hoạch được số dư tàikhoản tiền gửi của KBNN hỗ trợ Ngân hàng trong việc thực hiện chính sáchtiền tệ để điều tiết vĩ mô nền kinh tế Bởi nguồn vốn của KBNN gồm ngânsách nhà nước và các nguồn tài chính của nhiều chủ thể lớn khác trong xã hội.Trong đó, ngân sách nhà nước là tác nhân lớn nhất của nền kinh tế, phạm vi
và quy mô hoạt động ngân sách của Chính phủ có tác động rất lớn đến tínhthanh khoản của nền kinh tế
- Thông qua hệ thống các công cụ tài chính đa dạng như trái phiếu khobạc và các giấy tờ đi vay và cho vay ngắn hạn khác giúp KBNN có các biệnpháp linh hoạt hơn để đảm bảo khả năng đáp ứng tốt nhất nhu cầu tài chínhcủa các chủ thể gửi tiền tại KBNN; đồng thời, các công cụ này còn có khảnăng giúp tránh được các rủi ro như lãi suất đi vay cao do các thoả thuậnkhông linh động,
- Thông qua việc bù đắp hoặc đầu tư lượng tiền thu vào và chi ra trongtài khoản của KBNN tại Ngân hàng Nhà nước, các chính sách quản lý ngânquỹ linh hoạt sẽ giúp xoá bỏ được những nhân tố ảnh hưởng tới sự biến động
về khả năng thanh toán ngân quỹ trong ngắn hạn của thị trường tiền tệ; đồng
Trang 19thời, cũng làm giảm các yếu tố không chắc chắn trong dự báo về khả năngthanh toán của Ngân hàng Nhà nước và do đó đưa ra các chính sách can thiệpvào thị trường tiền tệ dễ dàng hơn
1.2 Tổng quan về Hệ thống thông tin quản lý ngân sách và Kho bạc (TABMIS)
1.2.1 Khái niệm Hệ thống thông tin quản lý ngân sách và Kho bạc (TABMIS)
Hệ thống thông tin quản lý ngân sách và kho bạc (TABMIS) là hệ thốngthông tin quản lý và hệ thống kế toán dựa trên phần mềm tin học hiện đại,được triển khai thống nhất trong hệ thống KBNN, các cơ quan tài chính từtrung ương đến địa phương, kết nối với Chính phủ, Bộ và các Sở Kế hoạch -Đầu tư, các Bộ chủ quản Đây là cấu phần cốt lõi trong cấu phần 1 Dự án cảicách quản lý tài chính công của Bộ Tài chính
Phạm vi nghiệp vụ của TABMIS bao gồm: quản lý và phân bổ ngân sáchtrên cơ sở ngân sách đã được Quốc hội phê duyệt, quản lý thu ngân sách,quản lý chi ngân sách, quản lý ngân quỹ, quản lý tài sản và báo cáo tài chính
và tài khóa
1.2.2 Các nội dung cơ bản của TABMIS
Hệ thống TABMIS được thiết kế trên cơ sở các chuẩn mực quốc tế vềquản lý tài chính công và thực tiễn Việt Nam, với những cải cách về thể chế
và quy trình nghiệp vụ như sau:
Một là: hệ thống thông tin quản lý ngân sách và kho bạc (Hệ thống) được
triển khai theo mô hình tập trung dữ liệu và ứng dụng tại một điểm duy nhất(Hà Nội); tất cả các đơn vị sử dụng TABMIS sẽ truy nhập vào, thông qua hạtầng truyền thông ngành tài chính
Hai là: triển khai một hệ thống tài khoản kế toán và mục lục ngân sách
duy nhất được gọi với thuật ngữ là kế toán đồ (COA) COA là một dãy mã số
Trang 20bao gồm nhiều phân đoạn khác nhau Mỗi phân đoạn trong dãy mã số này thểhiện một nội dung quản lý khác nhau như: mã nguồn vốn, mã đơn vị tổ chức,
mã phân ngành kinh tế, mã dự án, chương trình, mã tài khoản tự nhiên, mụclục ngân sách,
Điểm mấu chốt của COA là tất cả các hệ thống mã tài khoản theo chế độ
kế toán của các cơ quan quản lý ngân sách, của các đơn vị sử dụng ngân sách
và các đơn vị đặc thù (như đơn vị sự nghiệp), cùng các hệ thống mã số nhưmục lục ngân sách và các hệ thống mã số khác đều được hợp nhất để hìnhthành nên dãy mã duy nhất, kế toán đồ COA COA được quản lý, sử dụngthống nhất cho tất cả các đối tượng liên quan đến quản lý và sử dụng NSNN
Ba là: tiến tới áp dụng hệ thống kế toán dồn tích.
Lộ trình của TABMIS là kế toán tiền mặt điều chỉnh, thực hiện kế toáncác khoản phải trả, kế toán quỹ (bao gồm dãy mã tài khoản duy nhất, kế toáncam kết, kế toán nguồn vốn, sổ cái tổng hợp); tiếp đến là kế toán dồn tích điềuchỉnh (trong đó bao gồm sổ cái mở rộng có các thông tin về các loại tài sản,các khoản đầu tư, các khoản phải thu, nợ, các khoản phải trả,…) Trong tươnglai, khi kết nối với tất cả các đơn vị sử dụng ngân sách sẽ thực hiện kế toándồn tích đầy đủ: khấu hao, kiểm kê, kế toán chi phí hiệu quả, tồn kho, cungcấp thông tin về hiệu quả tài chính - đánh giá hiệu quả, về tài sản dòng, vốnchủ sở hữu, trong hệ thống thông tin quản lý tài chính tích hợp (IFMIS)
Bốn là: áp dụng hệ thống tài khoản kho bạc tập trung.
Khi hệ thống TABMIS được triển khai thì toàn bộ hệ thống các tài khoảnphân tán của hệ thống KBNN được tập trung toàn bộ số dư vào tài khoản khobạc tập trung tại ngân hàng Điều này cho phép KBNN có thể dễ dàng điềuhành ngân quỹ một cách hiệu quả, an toàn Hệ thống tài khoản kho bạc tậptrung còn cho phép thanh toán giữa KBNN với các đối tượng cung cấp hànghóa dịch vụ được thực hiện nhanh chóng, thuận lợi
Trang 21Năm là: hệ thống TABMIS khả năng giao diện với các phần mềm quản
lý tài chính khác để tạo thành một hệ thống thông tin quản lý tài chính tíchhợp (IMFIS) Cụ thể bao gồm: (1) Các chương trình tại cơ quan Kho bạc nhưchương trình quản lý trái phiếu (BMS); chương trình quản lý kiểm soát thanhtoán vốn đầu tư (ĐTKB), Chương trình thu thuế trực tiếp tại các điểm thu; (2)Các chương trình tại cơ quan Tài chính như chương trình quản lý nợ, chươngtrình quản lý ngân sách, kho dữ liệu tài chính; (3) Chương trình quản lý thuếcủa cơ quan Thuế; (4) Chương trình quản lý hải quan của cơ quan Hải quan;(5) Chương trình kế toán tại đơn vị sử dụng ngân sách; (6) Chương trìnhthanh toán điện tử liên ngân hàng, các chương trình quản lý tài khoản của khobạc ở ngân hàng của hệ thống ngân hàng
Sáu là: kho dữ liệu TABMIS.
Ngoài cơ sở dữ liệu phục vụ việc xử lý giao dịch hàng ngày và báo cáotức thời, TABMIS còn đưa ra thiết kế cho một kho dữ liệu theo chuẩn về kho
dữ liệu được lưu trữ nhiều năm để phục vụ cho việc kết xuất các báo cáo dài
kỳ, báo cáo phân tích tài chính và thống kê theo chuẩn quốc tế GFS
1.2.3 Mục tiêu và vai trò của TABMIS
1.2.3.1 Mục tiêu của TABMIS:
- Xây dựng và triển khai hệ thống thông tin quản lý Ngân sách và Khobạc tích hợp hiệu quả trong toàn hệ thống KBNN; kết nối với Bộ Kế Hoạch
và Đầu Tư, các Bộ sử dụng ngân sách, cơ quan tài chính các cấp Trong tươnglai, TABMIS sẽ được kết nối đến các đơn vị sử dụng ngân sách tạo điều kiệnphát huy hết hiệu quả của một hệ thống quản lý tích hợp ERP (EnterpriseResourses Planing – Hoạch định nguồn lực doanh nghiệp) với các quy trìnhngân sách khép kín, tự động, thông tin quản lý tập trung, cung cấp báo cáođầy đủ, toàn diện, kịp thời và minh bạch
Trang 22- Hiện đại hoá công tác quản lý ngân sách nhà nước từ khâu lập kếhoạch, thực hiện ngân sách, báo cáo ngân sách và tăng cường trách nhiệmngân sách của Bộ Tài chính
- Nâng cao tính minh bạch trong quản lý tài chính công; hạn chế tiêu cựctrong việc sử dụng ngân sách; đảm bảo an ninh tài chính trong quá trình pháttriển và hội nhập của quốc gia
1.2.3.2 Vai trò của TABMIS:
TABMIS mang lại những lợi ích to lớn là tạo ra hệ thống công cụ quản
lý tài chính - ngân sách tiên tiến theo hướng đơn giản, minh bạch, có khả nănghội nhập về quản lý tài chính công; cơ sở hạ tầng truyền thông và các ứngdụng có liên quan được nâng cấp; đội ngũ cán bộ được nâng cao trình độ, tácphong làm việc chuyên nghiệp,
Trên giác độ TABMIS là một công cụ quản lý thì Hệ thống sẽ hỗ trợ chocác đơn vị tham gia (cơ quan tài chính, KBNN, các bộ ngành) nâng cao hiệuquả thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình, cụ thể:
Đối với hệ thống KBNN: Giúp cán bộ Kho bạc kế toán chính xác các bút
toán về các giao dịch phát sinh; Hỗ trợ lập báo cáo tài chính thu, chi NSNN,báo cáo quản trị theo nhiều tiêu thức phục vụ cho yêu cầu quản lý, điều hànhNSNN trên cơ sở kết hợp các phân đoạn của kế toán đồ và sử dụng công cụlập báo cáo tài chính (FSG); Cung cấp thông tin nhanh, chính xác về tình hìnhthực hiện NSNN ở mọi thời điểm; Đảm bảo sự đồng bộ về dữ liệu thu - chingân sách giữa KBNN và các cơ quan tài chính, thuế, hải quản vì cơ sở dữliệu được quản lý tập trung; Giảm thiểu việc trùng lặp nhập thông tin thanhtoán đầu vào giữa KBNN và cơ quan tài chính; Đảm bảo khả năng thanh toántại mọi thời điểm thông qua các phương tiện, công cụ dự báo nhu cầu chi tiêu
cả bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ
Trang 23Đối với cơ quan tài chính các cấp: Cơ quan tài chính có thể trực tiếp
khai thác báo cáo thu chi ngân sách từ hệ thống, thay vì phải trông chờ vào cơquan KBNN như hiện nay; Quản lý được dự toán ở tất cả các cấp TABMIS
sẽ hỗ trợ việc phân bổ dự toán ngân sách, cập nhật dự toán ngân sách, giảingân các khoản dự trữ ngân sách và lập dự toán ngân sách cho năm tiếp theo
Đối với các Bộ, ngành chủ quản: TABMIS hỗ trợ việc phân bổ NSNN,
tiến tới thống nhất kế toán nhà nước nhằm quản lý chặt chẽ, hiệu quả nguồnlực tài chính nhà nước
1.3 Yêu cầu đổi mới quản lý ngân quỹ qua KBNN khi triển khai TABMIS
Các chức năng, cơ sở thiết kế của TABMIS hỗ trợ đồng thời đặt ra yêucầu cần đổi mới công tác quản lý ngân quỹ qua KBNN Cụ thể như sau:
1.3.1 Các chức năng của TABMIS
TABMIS được xây dựng với các chức năng: Quản lý phân loại mục lụcngân sách và tài khoản; quản lý phân bổ ngân sách; cam kết chi; thanh toán,chi trả (kế toán phải trả); quản lý thu; quản lý ngân quỹ; khóa sổ cuối năm;quản lý báo cáo và được phân ra thành các phân hệ sau:
- Phân hệ sổ cái: Đây là phân hệ trung tâm của hệ thống, thực hiện ghi
chép, hạch toán tất cả các khoản thu, chi theo mục lục NSNN trên cơ sở hệthống tài khoản kế toán đồ đã được cài đặt sẵn, đảm bảo phản ánh đầy đủthông tin theo các yêu cầu quản lý khác nhau.
- Phân hệ phân bổ ngân sách: Quản lý các danh mục tổ hợp tài khoản
sử dụng để phân bổ ngân sách, các mã dự toán, mã tổ chức dự toán, các loạigiao dịch dự toán; Quản lý các quy trình tạo và nhập dự toán vào hệ thống,phân bổ và điều chỉnh dự toán; Quản lý các quy trình đóng sổ cuối năm, baogồm: xử lý số dư, chuyển số dư dự toán, báo cáo số liệu thu, chi ngân sách,
mở sổ cho niên độ ngân sách tiếp theo
Trang 24- Phân hệ quản lý thu: thực hiện ghi chép số thu NSNN theo mục lục
ngân sách, điều tiết cho từng cấp ngân sách; ghi nhận số vay nợ và một sốthông tin chi tiết của các giao dịch thu khác trước khi chuyển bút toán tổnghợp vào sổ cái
- Phân hệ quản lý cam kết chi: Thực hiện giữ dự toán ngân sách để đảm
bảo cho việc thực hiện hợp đồng đã được đơn vị ký kết Phân hệ này tiếnhành ghi chép cam kết trên cơ sở dự toán được phân bổ theo từng đơn vị sửdụng ngân sách nhằm đảm bảo dự toán ngân sách có đủ để chi tiêu trước khibắt đầu việc mua sắm và nó làm tăng công nợ phải trả Quản lý cam kết chi ápdụng cho tất cả các khoản chi mà có kiểm soát ngân sách (có dự toán)
- Phân hệ quản lý chi: Thực hiện quản lý, theo dõi, hạch toán các khoản
chi NSNN (gồm cả chi thường xuyên, chi đầu tư, cấp phát kinh phí uỷ quyền,chi trả nghĩa vụ nợ); hạch toán thanh toán Liên Kho bạc; hạch toán chi từ tàikhoản tiền gửi; thu hồi tạm ứng; xử lý cuối kỳ kế toán
- Phân hệ quản lý ngân quỹ: thực hiện dự báo dòng tiền; theo dõi quản
lý vốn tập trung toàn hệ thống KBNN tại trung ương; ghi nhận lãi, phí ngânhàng và đối chiếu số liệu thanh toán
Bên cạnh các phân hệ trên, TABMIS còn có chức năng tạo lập báo cáotài chính và các hoạt động chuẩn bị dữ liệu liên quan thông qua công cụ kếtxuất báo cáo
1.3.2 Cơ sở thiết kế, xây dựng TABMIS
Các chức năng và quy trình trong TABMIS được thiết kế, xây dựng dựatrên một số chuẩn mực và thông lệ trên thế giới, cụ thể:
- Mô hình kho bạc tham khảo (TRM): Ngân hàng thế giới (WB) và Quỹ
tiền tệ quốc tế (IMF) đã phát hành một bộ hướng dẫn về hệ thống thông tinquản lý tài chính tích hợp khu vực công và các chức năng của Kho bạc trongmột tài liệu gọi là "Mô hình kho bạc tham khảo" Đây là mô hình giới thiệu
Trang 25các thông lệ tốt nhất, bao gồm các chức năng hỗ trợ cho hoạt động quản lý tàichính của hệ thống Kho bạc được WB và IMF khuyến nghị áp dụng cho cácnước đang phát triển và chuyển đổi
- Kế toán trên cơ sở dồn tích: TABMIS ban đầu sẽ dựa trên cơ sở kế
toán tiền mặt điều chỉnh, kế toán quỹ; sau đó, phát triển sang một hình tháimới là hệ thống dồn tích điều chỉnh Cuối cùng, xây dựng hệ thống kế toándồn tích đầy đủ theo đúng chuẩn mực kế toán quốc tế và kế toán công quốc tếIAS/IFSAS
- Tài khoản thanh toán tập trung (TSA): Trong mô hình kho bạc tham
khảo đòi hỏi phải thiết lập một tài khoản TSA tại Ngân hàng trung ương TSA được hiểu là tài khoản thanh toán tập trung của Kho bạc, đảm bảotất cả các nguồn lực hữu hình (dù dưới dạng tiền hoặc tương đương tiền) đượcquản lý thông qua một tài khoản ngân hàng duy nhất Tài khoản TSA trong
mô hình kho bạc tham khảo đòi hỏi KBNN phải phối hợp đặc biệt với Ngânhàng Trung ương nhằm cho phép mọi khoản thu, chi từ NSNN phải được xử
lý qua một tập hợp duy nhất các tài khoản của toàn hệ thống KBNN; KBNNkhông thực sự quản lý tiền mặt; không thanh toán qua khâu trung gian là cácđơn vị sử dụng NSNN, mà thanh toán trực tiếp cho nhà cung cấp hàng hóa
- Phân loại mã tài khoản và mục lục ngân sách thống nhất: TABMIS
đòi hỏi mục lục tài khoản và mục lục ngân sách thống nhất phải được thiết lậptrước khi xây dựng Hệ thống và phải tương thích với sổ cái tổng hợp trên cơ
sở dồn tích Về cơ bản, việc này đòi hỏi phải đưa vào một số tài khoản như:
tài khoản phải trả; tài khoản phải thu; tài khoản khấu hao; tài khoản nợ,… là
những tài khoản không phản ánh luồng tiền thực tế, nhưng lại phản ánh tìnhhình tài chính của Chính phủ một cách chính xác
- Quản lý nợ: TABMIS chỉ thực hiện ghi chép nhận vốn vay, thanh toán
và chi trả nợ theo hình thức giao dịch trên sổ cái Nó cũng cho phép thể hiện
Trang 26các yêu cầu ngân quỹ ngắn hạn liên quan đến thanh toán, chi trả nợ Các yêucầu quản lý nợ rộng hơn cũng như việc phân tích, báo cáo nợ tổng thể sẽ do
hệ thống quản lý nợ quản lý (DMFAS) Hệ thống này sẽ chuyển các dữ liệu
kế toán về nợ qua một giao diện với TABMIS
1.3.3 Tác động của TABMIS đến quản lý ngân quỹ qua KBNN
Từ các chức năng và cơ sở thiết kế, TABMIS tác động đến định hướngđổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả của cơ chế quản lý ngân quỹ quaKBNN như sau:
Thứ nhất, TABMIS được thiết kế trên cơ sở Mô hình Kho bạc tham khảo
(TRM) Trong mô hình kho bạc tham khảo đòi hỏi phải thiết lập một tàikhoản kho bạc tập trung TSA tại Ngân hàng trung ương Tài khoản TSA chophép mọi khoản thu, chi từ ngân sách được xử lý qua một tập hợp duy nhấtcác tài khoản của toàn hệ thống kho bạc; kho bạc không thực sự quản lý tiềnmặt; kho bạc không thanh toán, chi trả qua khâu trung gian là các đơn vị sửdụng ngân sách, mà thanh toán trực tiếp cho nhà cung cấp hàng hóa Việc kếthợp giữa cấu trúc kế toán đồ (COA), vận hành đầy đủ hệ thống TABMIScùng với việc hiện đại hóa hệ thống thanh toán của ngành ngân hàng là điềukiện thuận lợi cho việc triển khai xây dựng tài khoản TSA
Thứ hai, Phân hệ quản lý ngân quỹ của TABMIS bao gồm ba chức năng
chính là: Dự báo dòng tiền, bao gồm các quy trình là Duy trì mẫu dự báodòng tiền, Giao diện dữ liệu dự báo với bên ngoài, Dự báo dòng tiền; Điềuchuyển vốn giữa các cấp KBNN, bao gồm các quy trình là điều chuyển vốn,
xử lý thanh toán; Ghi nhận lãi phí và đối chiếu số liệu thanh toán, bao gồmcác quy trình là ghi nhận lãi/phí ngân hàng, đối chiếu với ngân hàng, xử lý lỗi
Thứ ba, Kế toán đồ (COA) trong TABMIS được quản lý, sử dụng thống
nhất cho tất cả các đối tượng liên quan đến quản lý và sử dụng NSNN chophép ghi chép, xử lý và quản lý dữ liệu tập trung tại trung ương Cùng với đó
Trang 27là phương pháp hạch toán kế toán trên cơ sở dồn tích hạch toán đầy đủ cáckhoản thu, chi NSNN, các quỹ tài chính nhà nước, tình hình vay nợ của Nhànước, Kế toán đồ cùng kế toán dồn tích phản ánh đầy đủ, toàn diện về tìnhhình tài chính Nhà nước và các tổ chức, đơn vị gửi tiền tại KBNN; từ đó chophép KBNN tổng hợp được toàn bộ các thông tin về lưu chuyển luồng tiềncủa khu vực công và của các đơn vị khác để phục vụ công tác dự báo luồngtiền Trên cơ sở dự báo luồng tiền, KBNN lên kế hoạch điều chuyển ngân quỹ
từ KBNN xuống các KBNN cấp dưới (tỉnh, huyện) cũng như từ KBNN cấpdưới về KBNN và ra các quyết định đầu tư ngắn hạn đối với các khoản ngânquỹ tạm thời nhàn rỗi
Thứ tư, phân hệ quản lý cam kết chi ghi chép cam kết trên cơ sở dự toán
được phân bổ theo từng đơn vị sử dụng ngân sách nhằm đảm bảo dự toánngân sách có đủ để chi tiêu trước khi bắt đầu việc mua sắm và nó làm tăngcông nợ phải trả Như vậy, có thể hỗ trợ công tác quản lý đảm bảo khả năngthanh khoản, đồng thời cũng dự báo các khoản chi một khoảng thời gian trướckhi thực hiện thanh toán
Thứ năm, về mặt kỹ thuật, TABMIS được thiết kế theo mô hình tập
trung hoá, cho phép tích hợp các ứng dụng xuyên suốt các đơn vị và tổng hợp
dữ liệu trên phạm vi toàn quốc để có được thông tin quản lý, trong đó cóthông tin phục vụ hữu ích cho công tác quản lý ngân quỹ Đặc biệt mô hìnhtập trung cung cấp số liệu tập trung, thống nhất từ địa phương lên trung ương;
từ đó khi kết nối, tích hợp với hệ thống thanh toán của ngân hàng sẽ hìnhthành tài khoản tập trung TSA
Cuối cùng là, TABMIS còn khả năng giao diện với các phần mềm quản
lý tài chính khác như chương trình quản lý thuế, hải quan, quản lý trái phiếu,quản lý nợ, quản lý kiểm soát thanh toán vốn đầu tư, là cơ sở dữ liệu quantrọng để thực hiện dự báo dòng tiền phục vụ cho công tác quản lý ngân quỹ
Trang 28Bên cạnh đó, việc tích hợp TABMIS và hệ thống thanh toán của ngân hàng làđiều kiện khả thi về mặt kỹ thuật để thực hiện tài khoản kho bạc tập trung,thống nhất.
1.4 Kinh nghiệm quản lý ngân quỹ tại một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam
Tại một số nước phát triển đã có những cải cách, đổi mới trong công tácquản lý ngân quỹ Các bước tiến chính đạt được bao gồm: chuyển giao hoạtđộng ngân hàng và chức năng của ngân hàng thương mại từ hệ thống kho bạcsang hệ thống ngân hàng; sử dụng quy trình và hệ thống giao dịch điện tử; ápdụng các hệ thống và quy trình để dự báo chính xác luồng ngân quỹ vào/raqua hệ thống Kho bạc; tăng cường hội nhập quốc tế, nâng cao tính minh bạch
và khả năng ứng biến nhanh nhạy trong thanh toán và quản lý ngân quỹ; tạothêm động lực để quản lý ngân quỹ có hiệu quả, Cụ thể như sau:
1.4.1 Quản lý ngân quỹ tại Cộng hòa Pháp
Quản lý ngân quỹ tại Pháp tập trung vào một số nội dung như sau:
- Xây dựng tài khoản TSA, bao gồm:
+ Phân định rõ vai trò, trách nhiệm của một số đơn vị trong việc quản lýngân quỹ: AFT (cơ quan chịu trách nhiệm về quản lý nợ và ngân quỹ) chịutrách nhiệm theo dõi số dư của tài khoản TSA, đảm bảo số dư của tài khoảnTSA luôn dương; Tổng cục Kế toán công (mô hình tương tự như hệ thốngkho bạc ở Việt Nam) chịu trách nhiệm đưa ra các nguyên tắc về quản lý ngânquỹ; Trung tâm kế toán quốc gia trực thuộc Tổng cục Kế toán công (ACCT)chịu trách nhiệm tổng hợp các bút toán giao dịch của tài khoản TSA
+ Xây dựng hệ thống dự báo dòng tiền phục vụ cho công tác quản lýngân quỹ, bao gồm hai hệ thống: Hệ thống dự báo Kho bạc (do Tổng cục Kếtoán công xây dựng và có liên hệ với hệ thống chi trả của ngân sách để biếtđược các thông tin về số lượng và thời gian chi trả) và hệ thống theo dõi tàikhoản của Kho bạc (do Ngân hàng Trung ương cung cấp)
Trang 29+ Cơ chế hoạt động của TSA: thực hiện thu, chi tại các kho bạc địaphương và tổng hợp thông tin từ các tài khoản con lên tài khoản chính (TSA).
- Phân định rõ trách nhiệm, quyền lợi, nghĩa vụ và chế tài xử lý giữaTổng cục Kế toán công và Ngân hàng trung ương Pháp như: hệ thống kho bạc
là chủ tài khoản duy nhất tại Ngân hàng trung ương Pháp; Ngân hàng trungương chịu trách nhiệm cung cấp một số dịch vụ có chất lượng cao, miễn phícho Kho bạc vì lợi ích quốc gia và được trả một số khoản thù lao để bù đắp lạimột số chi phí, chi phí đền bù thiệt hại tài chính (chuyển thông tin khôngchính xác hoặc chậm) cho KBNN
- Hình thành một cơ quan chịu trách nhiệm quản lý ngân quỹ và nợchuyên nghiệp (cơ quan AFT) Cơ quan này chịu trách nhiệm xác định sốphải huy động trong năm (chi tiết nợ ngắn hạn, trung hạn, dài hạn); chươngtrình phát hành nợ trong năm (chi tiết theo tổng số phát hành; phương thứcphát hành; lịch biểu phát hành,…); tiến hành cơ cấu lại nợ và mua lại nợ khingân quỹ lên cao; cân bằng dòng vào, ra ngân quỹ tại những thời điểm khácnhau thông qua các biện pháp cho vay hoặc phát hành ngắn hạn trên thịtrường tiền tệ, cho vay có bảo lãnh, cho vay đối với kho bạc của các nướcĐức, Bỉ, Phần Lan, Hà Lan
1.4.2 Quản lý ngân quỹ tại Slovenia
Slovenia là một quốc gia chuyển đổi nền kinh tế và mới thực hiện TSAtrong những năm đầu của thập niên 90 Hệ thống TSA của Slovenia bao gồmTSA của chính quyền trung ương và các chính quyền địa phương mở tại Ngânhàng Slovenia (Ngân hàng trung ương) Về mặt cấu trúc thì TSA của chínhquyền trung ương và chính quyền địa phương được tổ chức giống nhau
Để thực hiện giao dịch và theo dõi hoạt động của các đơn vị sử dụngngân sách và các quỹ tài chính công, Kho bạc mở các tài khoản con như: tàikhoản ngân sách, tài khoản của các đơn vị sử dụng ngân sách, tài khoản quỹ
Trang 30hưu trí, Bên cạnh đó, Kho bạc cũng mở các tài khoản con tại Ngân hàngSlovenia hoặc các ngân hàng thương mại để đầu tư ngân quỹ hay giao dịchthanh toán.
Để thực hiện TSA và quản lý ngân quỹ, Slovenia ban hành đạo luật quyđịnh các nguyên tắc về quản lý thanh khoản trong hệ thống TSA Trong đó,quy định các nguyên tắc trong thanh toán của hệ thống TSA; nguyên tắc đầu
tư vốn nhàn rỗi ngoài hệ thống TSA (chủ yếu là tiền gửi qua đêm, tiền gửi có
kỳ hạn, tiền gửi có ngày đáo hạn); hướng dẫn về phương pháp và hạn mứcthời gian trong đầu tư thông qua các công cụ ngắn hạn của hệ thống TSA
1.4.3 Quản lý ngân quỹ tại Autralia
Điểm cơ bản trong tổ chức của Kho bạc Autralia và được áp dụng từngày 1/7/1999 đó là bản “Chương trình quản lý và kế toán tài chính (FMA)cho các Văn phòng Chính phủ và Nghị viện" Theo đó:
- Các cơ quan tự thành lập và quản lý tài khoản ngân hàng, quản lý thuchi của họ và mối quan hệ hợp tác với các đối tác giao dịch của mình
- Để khuyến khích việc lập kế hoạch và quản lý tốt nguồn ngân quỹ, các
cơ quan được nhận lãi từ bảng cân đối tài chính của các phòng, ban của họ;đồng thời, phải chịu trách nhiệm với số tiền chi trội
- Thông qua cạnh tranh trong việc chọn thầu và đấu thầu, các cơ quan cóthể chọn được nhà cung cấp dịch vụ ngân hàng có chi phí và chất lượng dịch
vụ phù hợp nhất với yêu cầu đòi hỏi của họ
- KBNN có chức năng quản lý và điều tiết lượng ngân quỹ và dự báotổng lượng ngân quỹ cần thiết hàng ngày cho quốc gia Các thông tin về quảntrị và chi tiêu của các Bộ là do các cơ quan chuyên trách cung cấp Phòngquản lý tài chính Australia sẽ đánh giá số liệu để đảm bảo có đủ nhu cầu vềngân quỹ
Trang 31- Tất cả các tài khoản của Chính phủ tại ngân hàng thương mại sẽ đượcchuyển vào quỹ dự trữ của Australia vào cuối ngày để đảm bảo tài khoản củacác cơ quan này không gây ảnh hưởng tới sự cân bằng ngân quỹ mỗi ngày.
1.4.4 Quản lý ngân quỹ tại Anh
Cơ quan quản lý nợ Anh quốc (UKDMO) chịu toàn bộ trách nhiệm quản lýngân quỹ từ ngân hàng Anh (BOE) vào năm 2000; trong đó, tập trung vào quản
lý khả năng thanh toán một cách tổng thể Quyết định chuyển giao này được đưa
ra sau khi Chính phủ cho phép ngân hàng Anh hoạt động độc lập và có tráchnhiệm ổn định tỷ lệ lãi suất ngắn hạn Để minh bạch hoá chức năng hoạch địnhchính sách và phân phối, Chính phủ Anh đã quyết định phân chia trách nhiệm ấnđịnh tỷ lệ lãi suất ngắn hạn với trách nhiệm quản lý nợ Chính phủ
Cơ quan quản lý nợ Anh quốc (UKDMO) hoạt động với mục đích điềuhoà dòng ngân quỹ hàng ngày luân chuyển trong khu vực kinh tế công Đốivới mục tiêu quản lý ngân quỹ, cơ quan này thực hiện chức năng như mộtKho bạc độc lập, chịu trách nhiệm quản lý các món nợ của Bộ Tài chính Anhvới các tài khoản ngắn hạn và các nghĩa vụ tài chính; đồng thời, làm tối thiểuhoá ngân quỹ trong lưu thông mỗi ngày Mục đích của nó là vô hiệu hoá ảnhhưởng từ những biến động của toàn bộ hiện trạng ngân quỹ của Bộ Tài chínhđối với tài khoản Chính phủ tại Ngân hàng Quốc gia Anh (BOE)
1.4.5 Quản lý ngân quỹ tại Mỹ
Thượng viện Mỹ đã thông qua bản “Chương trình hành động nhằm nângcao quản lý tiền tệ” năm 1990 để đảm bảo tính hiệu quả, phù hợp và chuyểngiao công bằng, hợp lý các quỹ của các bang và Chính phủ liên bang Theođó:
- Các cơ quan trung ương phải lập các quỹ giải ngân và các khoản sungcông quỹ quốc gia đúng hạn
- Để thực hiện mục tiêu chương trình, các cơ quan ở trung ương và ở các
Trang 32bang phải giảm tối đa khoảng thời gian chuyển tiền từ các quỹ quốc gia tớicác bang, thời gian xem xét và giải quyết séc và chứng từ của các bang Thờigian thanh toán các khoản trong quỹ chuyển tiền điện tử cũng cần giảm xuốngmức tối thiểu.
- Các bang được hưởng một số ngoại lệ như có thể nhận tiền lãi từ cácquỹ cấp cao của Chính phủ để thực hiện các chương trình của mình trong khichờ giải ngân từ Chính phủ
- Kho bạc có thể gánh vác trách nhiệm cho các cơ quan Chính phủ vớicác khoản chi trội hoặc các khoản lãi từ tiền nợ của Chính phủ
Kho bạc khuyến khích, đôi khi còn yêu cầu các cơ quan sử dụng cácphương pháp điện tử để làm cho hoạt động quản lý tiền tệ của quốc gia tốthơn Hầu hết các cơ quan thanh toán qua EFT theo luật liên bang Cam kếtchung vì một Kho bạc điện tử hoàn toàn này đã tuân theo sự chỉ đạo củaChính phủ Mỹ
Mục tiêu chủ yếu là trả các hoá đơn và tập hợp các khoản nợ đúng hạn.Chính sách quản lý ngân quỹ của Chính phủ Mỹ là không cất trữ ngân quỹ
Để ước tính được khoản tiền cần chi dùng, Mỹ đang sử dụng các quỹ chuyểntiền điện tử, chuyển giao phúc lợi bằng phương tiện điện tử, thẻ tín dụng, thẻthanh toán dịch vụ du lịch Họ còn dùng biện pháp quản lý nhanh chóng đốivới các khoản mua bán nhỏ
1.4.6 Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
Qua nghiên cứu kinh nghiệm cải cách quản lý ngân quỹ của một số nước(các nước phát triển và các nước có nền kinh tế chuyển đổi) đã rút ra một sốbài học kinh nghiệm như sau:
Thứ nhất, cần có những ưu tiên hàng đầu cho đổi mới quản lý ngân quỹ.
Để thực hiện những đổi mới đó, KBNN cần đảm bảo:
- Cam kết thực hiện đổi mới với ý chí và quyết tâm cao, đặc biệt là thể
Trang 33chế chính sách trong điều kiện cơ sở pháp chế rườm rà; khó tuyển dụng vàgiữ chân những cán bộ có kỹ năng tốt với một mức lương thấp của Nhà nước;khó khăn khi sắp xếp, luân chuyển, điều động cán bộ hoặc chuyển giao chứcnăng, nhiệm vụ với các cơ quan, ban, ngành thuộc Chính phủ.
- KBNN có trách nhiệm quản lý ngân quỹ và liên kết chặt chẽ với cácnhà quản lý nợ của Chính phủ
Thứ hai, thiết lập tài khoản TSA với số dư xấp xỉ hoặc bằng 0 làm mục
tiêu tổng thể của KBNN trong đổi mới quản lý ngân quỹ Để đạt được mụctiêu này đòi hỏi:
- Cần có những quy định về kiểm soát, kiểm toán nội bộ nhằm tối thiểu
số dư nhàn rỗi được nắm giữ bởi các cơ quan Chính phủ ngoài Bộ Tài chính;đồng thời, tạo ra sự chắc chắn hơn về thời điểm phát sinh các khoản thu, chi
- Có những thoả thuận với các ngân hàng cho phép thiết lập mạng lướigiao dịch giữa các đơn vị sử dụng ngân sách và ngân hàng cũng như tổng hợpcác khoản thu, chi của các đơn vị
- Thiết lập cơ cấu tài khoản TSA tại ngân hàng trung ương để mọi dònggiao dịch của ngân sách nhà nước và các tổ chức, đơn vị mà KBNN quản lýtài khoản đều thực hiện qua đó
- Xây dựng quy trình thanh toán, chi trả có hiệu quả theo hướng: tổ chức
xử lý các giao dịch của ngân sách nhà nước theo nguyên tắc thanh toán trựctiếp cho chủ nợ của ngân sách nhà nước; tăng cường sử dụng các giao dịchđiện tử và tập trung các khoản thu, chi thành những giao dịch lớn để thực hiệntheo lô,…
Thứ ba, xây dựng và phát triển hệ thống dự báo dòng tiền để dự báo
chính xác tình hình thu, chi và số dư tài khoản TSA; coi đây là một trongnhững yếu tố cơ bản để đảm bảo sự thành công của hoạt động cải cách quản
lý ngân quỹ Hệ thống dự báo dòng tiền bao gồm một số hệ thống nhỏ được
Trang 34xây dựng, phát triển tại những cơ quan khác nhau (như Bộ Tài chính, Ngânhàng trung ương) và có nhiệm vụ chính dự báo sự thay đổi trong ngắn hạn về
số dư tài khoản TSA tại Ngân hàng trung ương Qua đó, giúp cho các nhàquản lý ngân quỹ theo dõi, kiểm soát chặt chẽ sự thay đổi và đưa ra đượcnhững chính sách, biện pháp phù hợp (đầu tư hoặc phát hành) để tái cân bằngnhững thay đổi đó Việc dự báo dòng tiền ở đây không chỉ sử dụng nhiều kỹthuật, phương tiện đa dạng, mà còn tận dụng cả những sự hiểu biết và kinhnghiệm của những cán bộ thường xuyên quản lý các giao dịch thu, chi vàgiám sát các luồng ngân quỹ thực tế
Thứ tư, xác định rõ trách nhiệm quản lý ngân quỹ, giữa Bộ Tài chính
(KBNN) và Ngân hàng trung ương cần phải xây dựng một thoả thuận khungquy định cụ thể trách nhiệm của mỗi bên trong quản lý ngân quỹ, bao gồm:trách nhiệm của Bộ Tài chính và Ngân hàng trung ương trong việc cung cấpthông tin về khả năng biến động của số dư ngân quỹ cũng như sự thay đổithực tế của ngân quỹ; trách nhiệm của Ngân hàng trung ương trong việc xử lýnhững biến động về số dư tài khoản TSA (dự tính trước hoặc không dự tínhtrước); lãi được hưởng từ số dư tài khoản TSA tại Ngân hàng trung ương; phígiao dịch mà Ngân hàng trung ương được hưởng trong quá trình phục vụthanh toán của Bộ Tài chính qua tài khoản TSA,…
Thứ năm, cần hình thành một cơ quan chuyên quản lý ngân quỹ và quản
lý nợ nhằm hợp nhất chức năng quản lý ngân quỹ và quản lý nợ Qua đó, đảmbảo tất các các vấn đề liên quan đến việc phát hành nợ cũng như các giao dịchcủa KBNN trên thị trường thứ cấp đều được đặt trong mối quan hệ với mọiluồng ngân quỹ vào, ra KBNN; đồng thời, đảm bảo việc quản lý các dòngngân quỹ qua KBNN hỗ trợ một cách có hiệu quả cho hoạt động quản lý nợ.Bên cạnh đó, cũng cần sử dụng các công cụ vay nợ ngắn hạn để có được
sự phù hợp về thời điểm của các dòng tiền Thực tế cho thấy, hầu hết cácquốc gia đã sử dụng tín phiếu kho bạc để đảm bảo sự phù hợp của các dòng
Trang 35tiền vào ra; một vài nước lại thì sử dụng repo hay mua lại repo
Thứ sáu, tận dụng tối đa những đổi mới công nghệ trong lĩnh vực ngân
hàng để nhanh chóng chuyển từ phương thức thủ công sang điện tử hoá Cácnước đang phát triển sẽ thu được nguồn lợi lớn từ việc tận dụng những thayđổi công nghệ thông tin, chuyển từ quá trình thủ công sang điện tử và pháttriển các phương tiện truyền thông hiệu quả giữa các cơ quan Chính phủ cóliên quan tới quản lý ngân quỹ Trong điều kiện công nghệ sử dụng trong lĩnhvực ngân hàng và các hệ thống dự báo dòng tiền được phổ biến rộng rãi, thì
có thể áp dụng nhiều kinh nghiệm thực tiễn từ các nước phát triển trong quản
lý tiền tệ
Tóm lại, với những nhận thức về ngân quỹ; công tác quản lý ngân quỹ;
những nội dung cơ bản của dự án TABMIS và các yêu cầu của TABMIS đốivới công tác quản lý ngân quỹ qua KBNN đã giúp có được tư duy và cái nhìnkhách quan, khoa học để đánh giá thực trạng công tác quản lý ngân quỹ qua
hệ thống KBNN trong những năm gần đây Từ đó, đề ra các giải pháp để cảicách công tác quản lý ngân quỹ trong thời gian tới phù hợp với quá trình triểnkhai TABMIS
Trang 36CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGÂN QUỸ
QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC HIỆN NAY
2.1 Chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy KBNN hiện nay
2.1.1 Chức năng và nhiệm vụ của KBNN
Theo Quyết định số 108/2009/QĐ – TTg ngày 26/8/2009 của Thủ tướngChính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức củaKBNN trực thuộc Bộ Tài chính, KBNN là cơ quan trực thuộc Bộ Tài chính,thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tài chính quản lý Nhànước về quỹ NSNN, các quỹ tài chính nhà nước và các quỹ khác của Nhànước được giao quản lý; quản lý ngân quỹ; tổng kế toán Nhà nước; thực hiệnviệc huy động vốn cho NSNN và cho đầu tư phát triển thông qua hình thứcphát hành trái phiếu Chính phủ theo quy định của pháp luật Căn cứ vào chứcnăng được giao trên, KBNN thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:1) Trình Bộ trưởng Bộ Tài chính để trình Chính phủ, Thủ tướng Chínhphủ xem xét, quyết định:
(a) Các dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, dự án pháp lệnh, dựthảo nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; dự thảo nghị định củaChính phủ; dự thảo quyết định của Thủ tướng Chính phủ về lĩnh vực quản lýcủa KBNN;
(b) Chiến lược, quy hoạch, chương trình mục tiêu quốc gia, chương trìnhhành động, đề án, dự án quan trọng về quản lý quỹ NSNN, các quỹ tài chínhNhà nước và các quỹ khác của Nhà nước
2) Trình Bộ trưởng Bộ Tài chính xem xét, quyết định: (a) Dự thảo thông
tư và các văn bản khác về lĩnh vực quản lý của KBNN; (b) Kế hoạch hoạtđộng hàng năm của KBNN
Trang 373) Ban hành văn bản hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ, văn bản quyphạm nội bộ, văn bản cá biệt thuộc phạm vi quản lý của KBNN.
4) Tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, quyhoạch, kế hoạch, chương trình, dự án, đề án thuộc lĩnh vực quản lý quỹNSNN, các quỹ tài chính Nhà nước và các quỹ khác của Nhà nước sau khiđược cấp có thẩm quyền ban hành hoặc phê duyệt
5) Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về lĩnh vực quản lý củaKBNN
6) Quản lý quỹ NSNN, quỹ tài chính Nhà nước và các quỹ khác đượcgiao theo quy định của pháp luật:
(a) Tập trung và phản ánh đầy đủ, kịp thời các khoản thu NSNN; tổ chứcthực hiện việc thu nộp vào quỹ NSNN các khoản tiền do các tổ chức và cánhân nộp tại hệ thống KBNN; thực hiện hạch toán số thu NSNN cho các cấpngân sách theo quy định của Luật NSNN và của các cơ quan Nhà nước cóthẩm quyền;
(b) Kiểm soát, thanh toán, chi trả các khoản chi của NSNN và các nguồnvốn khác được giao theo quy định của pháp luật;
(c) Quản lý quỹ ngoại tệ tập trung của NSNN, định kỳ công bố tỷ giáhạch toán phục vụ cho việc hạch toán các khoản thu chi NSNN bằng ngoại tệ;(d) Quản lý, kiểm soát và thực hiện nhập, xuất các quỹ tài chính Nhànước và các quỹ khác do KBNN quản lý; quản lý các khoản tạm thu, tạm giữ,tịch thu, ký cược, ký quỹ, thế chấp theo quyết định của cơ quan Nhà nước cóthẩm quyền;
(đ) Quản lý tài sản quốc gia quý hiếm được giao theo quyết định của cơquan Nhà nước có thẩm quyền; quản lý tiền, tài sản, các loại chứng chỉ có giácủa Nhà nước và của các đơn vị, cá nhân gửi tại KBNN
7) Được trích tài khoản của tổ chức, cá nhân mở tại KBNN để nộp
Trang 38NSNN hoặc áp dụng các biện pháp hành chính khác để thu cho NSNN theoquy định của pháp luật; từ chối thanh toán, chi trả các khoản chi không đúng,không đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật.
8) Tổ chức hạch toán kế toán NSNN, các quỹ và tài sản của Nhà nướcđược giao quản lý, các khoản vay nợ, viện trợ, trả nợ của Chính phủ và chínhquyền địa phương theo quy định của pháp luật; báo cáo tình hình thực hiệnthu, chi NSNN cho cơ quan tài chính cùng cấp và cơ quan Nhà nước liên quantheo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính
9) Tổ chức thực hiện công tác thống kê KBNN và chế độ báo cáo tàichính theo quy định của pháp luật
10) Tổ chức quản lý, điều hành ngân quỹ KBNN tập trung, thống nhấttrong toàn hệ thống: (a) Mở tài khoản, kiểm soát tài khoản tiền gửi và thựchiện thanh toán bằng tiền mặt, chuyển khoản đối với tổ chức, cá nhân có quan
hệ giao dịch với KBNN; (b) Mở tài khoản tiền gửi hoặc tài khoản thanh toántại ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại để thực hiện các nghiệp
vụ thu, chi, thanh toán của KBNN theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính;(c) Được sử dụng ngân quỹ KBNN để tạm ứng cho NSNN theo quy định của
Bộ trưởng Bộ Tài chính; (d) Xây dựng và phát triển hệ thống các công cụ,nghiệp vụ quản lý hiện đại theo nguyên tắc đảm bảo an toàn và hiệu quả ngânquỹ KBNN
11) Tổ chức huy động vốn cho NSNN và đầu tư phát triển thông quaviệc phát hành trái phiếu Chính phủ
12) Tổ chức quản trị và vận hành hệ thống thông tin quản lý ngân sách
và kho bạc
13) Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo; xử lý theo thẩmquyền hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luậtđối với hành vi vi phạm pháp luật trong phạm vi quản lý Nhà nước của
Trang 39KBNN; phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và thực hành tiết kiệm, chốnglãng phí trong việc sử dụng tài sản, kinh phí được giao theo quy định củapháp luật.
14) Hiện đại hóa hoạt động KBNN: (a) Xây dựng cơ chế, chính sách vàquy trình nghiệp vụ phù hợp với thông lệ quốc tế và thực tiễn của Việt Nam;(b) Tổ chức quản lý, ứng dụng công nghệ thông tin, kỹ thuật tiên tiến, hiệnđại hóa cơ sở vật chất của hệ thống KBNN
15) Thực hiện nhiệm vụ hợp tác quốc tế thuộc lĩnh vực KBNN theo phâncông, phân cấp của Bộ trưởng Bộ Tài chính và quy định của pháp luật
16) Thực hiện công tác tổ chức và cán bộ: (a) Xây dựng tổ chức bộ máy
và phát triển nguồn nhân lực bảo đảm yêu cầu cải cách về cơ chế, chính sách
và hiện đại hóa công nghệ quản lý; (b) Quản lý tổ chức bộ máy, biên chế;thực hiện chế độ tiền lương và các chế độ, chính sách đãi ngộ, thi đua khenthưởng, kỷ luật, đào tạo, bồi dưỡng đối với cán bộ, công chức, viên chứcthuộc phạm vi quản lý của KBNN theo phân cấp của Bộ trưởng Bộ Tài chính
và quy định của pháp luật
17) Quản lý kinh phí do NSNN cấp và tài sản được giao theo quy địnhcủa pháp luật; được sử dụng các khoản thu phát sinh trong hoạt động nghiệp
vụ theo chế độ quản lý tài chính của Nhà nước
18) Thực hiện cải cách hành chính theo mục tiêu và nội dung chươngtrình cải cách hành chính được Bộ trưởng Bộ Tài chính phê duyệt
19) Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác do Bộ trưởng Bộ Tài chínhgiao và theo quy định của pháp luật
2.1.2 Tổ chức bộ máy của KBNN
KBNN được tổ chức thành hệ thống dọc từ Trung ương đến địa phươngtheo đơn vị hành chính, bảo đảm nguyên tắc tập trung, thống nhất và cơ cấu
Trang 40m Cục Công nghệ thông tin;
n Trường Nghiệp vụ Kho bạc;
o Tạp chí Quản lý Ngân quỹ Quốc gia
Các tổ chức quy định từ điểm a đến điểm m là tổ chức hành chính giúpTổng Giám đốc thực hiện chức năng quản lý Nhà nước; các tổ chức quy địnhtại điểm n và điểm o là tổ chức sự nghiệp
2) Cơ quan KBNN ở địa phương:
a KBNN ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là KBNNcấp tỉnh) trực thuộc KBNN;
b KBNN ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung làKBNN cấp huyện) trực thuộc KBNN cấp tỉnh
KBNN được tổ chức điểm giao dịch tại các địa bàn có khối lượng giaodịch lớn theo quy định của Bộ Tài chính
KBNN cấp tỉnh, KBNN cấp huyện có tư cách pháp nhân, con dấu riêng,được mở tài khoản tại ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại theo