Xu hướng phát triển của nền Kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng hiện nay là xu hướng quốc tế hóa, hội nhập toàn cầu. Việt Nam kể từ sau khi gia nhập WTO cũng đang rất nỗ lự trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa, nhằm đưa nền kinh tế từng bước hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới. Để thực hiện được các mục tiêu này, cần thiết phải xây dựng một cơ sở hạ tầng dịch vụ tài chính vững mạnh, có khả năng cạnh tranh cao. Kể từ khi nhà nước thực hiện cải cách nhiều năm gần đây, quan hệ ngoại thương của Việt Nam ngày càng rộng rãi, đòi hỏi sự phát triển không ngừng của các công cụ thanh toán, tiền tệ, dịch vụ ngân hàng quốc tế. Trong thời gian gần đây, hệ thống các ngân hàng Việt Nam đã có nhiều bước phát triển rõ rệt về mọi mặt. Một trong số đó là việc nâng cấp và hoàn thiện hệ thống thanh toán, đặc biệt là hoạt động thanh toán quốc tế. Tuy nhiên hoạt động thanh toán quốc tế của các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay nói chung và Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam nói riêng còn nhiều bất cập, chưa bắt kịp được với nhịp độ phát triển nhanh chóng của nền kinh tế. Trong đó, phương thức chuyển tiền ngoại tệ, một trong những phương tiện thanh toán quốc tế, cũng chưa thực sự thỏa mãn được nhu cầu thanh toán của một nền kinh tế mở cửa, và cần cải thiện.Vì vậy, từ ngày 03112003 NHTMCP Công thương Việt Nam đã chính thức đưa hệ thống hiện đại hoá ngân hàng và hệ thống thanh toán (viết tắt là INCAS) vào thí điểm hoạt động tại trụ sở chính và tại 4 chi nhánh. Trong quá trình vận hành, bước đầu hệ thống INCAS đã tạo ra những chuyển biến tích cực như cải thiện năng suất làm việc, chất lượng và hiệu quả trong giao dịch hơn hẳn so với trước đây, đồng thời cung cấp được nhiều tiện ích dịch vụ ngân hàng hiện đại cho khách hàng và hoạt động thanh toán của ngân hàng.Mặc dù vậy, phương thức chuyển tiền ngoại tệ hiện vẫn còn nhiều vấn đề cần được khắc phục để hoàn thiện chương trình, phục vụ tốt hơn nữa cho công tác thanh toán quốc tế của Ngân hàng. Ngoài ra, sau một thời gian vận hành, hệ thống thanh toán bắt đầu bộc lộ những điểm yếu chưa phù hợp với yêu cầu những yêu cầu mới của thị trường . Nhằm đáp ứng đòi hỏi đó, đề tài “Các giải pháp hoàn thiện phương thức chuyển tiền ngoại tệ tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam” được tác giả lựa chọn nghiên cứu.
Trang 1DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG, BIỂU
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I KHÁI QUÁT HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN VÀ CÁC PHƯƠNG THỨC THANH TÓAN QUỐC TẾ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 3
1.1 Hoạt động thanh toán tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam 3
1.1.1 Khái quát về hoạt động thanh toán tại Ngân hàng thương mại 3
1.1.2 Khái quát về hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng thương mại 4
1.2 Khái quát về chuyển tiền ngoại tệ tại Ngân hàng thương mại 14
1.2.1 Khái niệm, Đặc điểm, Phân lọai chuyển tiền ngoại tệ 14
1.2.2 Cơ sở pháp lý, Nguyên tắc, Các hình thức và Quy trình chuyển tiền Ngoại tệ 16
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG PHƯƠNG THỨC CHUYỂN TIỀN NGOẠI TỆ TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM 29
2.1 Tổng quan về Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam 29
2.1.1 Giới thiệu chung về Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam 29
2.1.2 Khái quát hoạt động thanh toán của NHTMCP Công thương VN 34
2.2 Tình hình chuyển tiền ngoại tệ tại NH TMCP Công thương Việt Nam 39 2.2.1 Cơ sở pháp lý của quy trình chuyển tiền ngoại tệ tại NHTMCP CTVN 39 2.2.2 Các nguyên tắc chuyển tiền ngoại tệ tại NHTMCP CTVN 41
2.2.3 Các hình thức chuyển tiền ngoại tệ tại NHTMCP CTVN 42
2.2.4 Quy trình chuyển tiền ngoại tệ tại NHTMCP Công thương VN 43
2.2.5 Kết quả hoạt động chuyển tiền ngoại tệ tại NHTMCP Công thương VN 62
2.3 Đánh giá hoạt động chuyển tiền ngoại tệ tại NHTMCP Công thương Việt Nam 73
Trang 2CHƯƠNG III CÁC GIẢI PHÁP HÒAN THIỆN PHƯƠNG THỨC CHUYỂN TIỀN NGOẠI TỆ TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG
VIỆT NAM 88
3.1 Những cơ hội và thách thức đối với hoạt động chuyển tiền ngoại tệ tại NHTMCP CTVN 88
3.1.1 Những cơ hội 88
3.1.2 Những thách thức 91
3.2 Định hướng phát triển phương thức chuyển tiền ngoại tệ của NHTMCP Công thương Việt Nam thời gian tới 92
3.3 Các giải pháp hoàn thiện phương thức chuyển tiền ngoại tệ tại NHTMCP Công thương Việt Nam 95
3.3.1 Hòan thiện các cơ chế, chính sách kinh tế đối ngoại của Ngân hàng 95
3.3.2 Hòan thiện các công cụ quản lý, điều hành và Quy trình chuyển tiền ngoại tệ 95
3.3.3 Mở rộng hệ thống các Ngân hàng đại lý 97
3.3.4 Xây dựng chiến lược chăm sóc khách hàng và hệ thống tiếp thị nhằm nâng cao khả năng phục vụ 99
3.3.5 Xây dựng hệ thống thanh toán Song biên bằng ngoại tệ với các Ngân hàng đối tác 102
3.3.6 Tích hợp phương thức chuyển tiền ngoại tệ với các Công cụ Ngân hàng điện tử 103
3.3.7 Nâng cao vai trò Trung tâm thanh tóan quốc tế của Sở Giao dịch 104
3.3.8 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 105
3.4 Kiến nghị 107
3.4.1 Kiến nghị đối với Chính phủ và các bộ ngành có liên quan 107
3.4.2 Kiến nghị đối với ngân hàng Nhà nước 109
KẾT LUẬN 112
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 113
Trang 4- NHTMCP CTVN : Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt
Nam (viết tắt là NHCT hoặc NHCTVN)
- INCAS : (IncomBank Advance System): Hệ thống hiện đại
hoá NHTMCP CTVN
- BDS : (Branch Dellivery System): Kênh phân phối giao
dịch trực tiếp của hệ thống INCAS tại chi nhánh
- IBS : Hệ thống chuyển tiền ngoại tệ của NHTMCP CTVN
- IBS Editor : Chương trình soạn thảo điện chuyển tiền IBS
- SWIFT : Hệ thống thanh toán liên ngân hàng toàn cầu.
- SWIFT Editor : Chương trình soạn thảo điện chuyển tiền SWIFT
Trang 5CTVN (hoặc Lõi ngân hàng)
- GW (Gateway) : Cổng giao diện của INCAS với các hệ thống khác
- TK TG : Tài khoản tiền gửi
- GL : (General Ledger): Là từ viết tắt của tài khoản sổ cái
- CMQĐND : Chứng minh quân đội nhân dân
- CMCAND : Chứng minh công an nhân dân
Trang 6SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ phương thức thanh toán chuyển tiền 26
Sơ đồ 2.1 Mô hình hoạt động NHTMCP CTVN 32
Sơ đồ 2.2: cơ cấu tổ chức TSC – NHTMCP CTVN 34
BẢNG Bảng 2.1: Tình hình hoạt động chuyển tiền ngoại tệ trước hiện đại hóa giai đoạn I (từ năm 2003 đến năm 2005) 63
Bảng 2.2: Tình hình chuyển tiền ngoại tệ sau khi hiện đại hóa giai đoạn I (từ năm 2006 – 2009) 63
Bảng 2.3: Doanh số chi trả kiều hối tại NHTMCP Công thương Việt Nam từ 2006 – 2009 67
Bảng 2.4: Doanh thu Phí chuyển tiền ngoại tệ NHTMCP CTVN 69
Bảng 2.5: Doanh số của các phương thức thanh toán quốc tế NH TMCP CTVN 72
Bảng 2.6: Doanh số chuyển tiền ngoại tệ tại NHTMCP Ngoại thương Việt Nam 78
Bảng 2.7: Doanh số chi trả kiểu hối tại một số NHTM 79
Bảng 2.8: So sánh biểu phí chuyển tiền ngoại tệ tại một số NHTM 81
BIỂU Biểu đồ 2.1: Tình hình Vốn chủ sở hữu NHTMCP CTVN .30
Biểu đồ 2.2: Tổng Tài sản 31
Biểu đồ 2.3: Lợi nhuận sau thuế (tỷ đồng) 31
Biểu đồ 2.4: Minh họa doanh số chi trả kiều hối tại NHTMCP CTVN 67
Biểu đồ 2.5: Quan hệ đại lý với các NH nước ngoài của Việt Nam 70
Biểu đồ 2.6: Tỷ trọng phương thức chuyển tiền ngoại tệ so với các phương thức thanh toán khác 71
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Xu hướng phát triển của nền Kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riênghiện nay là xu hướng quốc tế hóa, hội nhập toàn cầu Việt Nam kể từ sau khi gianhập WTO cũng đang rất nỗ lự trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa,nhằm đưa nền kinh tế từng bước hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới Để thựchiện được các mục tiêu này, cần thiết phải xây dựng một cơ sở hạ tầng dịch vụ tàichính vững mạnh, có khả năng cạnh tranh cao Kể từ khi nhà nước thực hiện cảicách nhiều năm gần đây, quan hệ ngoại thương của Việt Nam ngày càng rộng rãi,đòi hỏi sự phát triển không ngừng của các công cụ thanh toán, tiền tệ, dịch vụ ngânhàng quốc tế Trong thời gian gần đây, hệ thống các ngân hàng Việt Nam đã cónhiều bước phát triển rõ rệt về mọi mặt Một trong số đó là việc nâng cấp và hoànthiện hệ thống thanh toán, đặc biệt là hoạt động thanh toán quốc tế Tuy nhiên hoạtđộng thanh toán quốc tế của các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay nóichung và Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam nói riêng cònnhiều bất cập, chưa bắt kịp được với nhịp độ phát triển nhanh chóng của nền kinh
tế Trong đó, phương thức chuyển tiền ngoại tệ, một trong những phương tiện thanhtoán quốc tế, cũng chưa thực sự thỏa mãn được nhu cầu thanh toán của một nềnkinh tế mở cửa, và cần cải thiện
Vì vậy, từ ngày 03/11/2003 NHTMCP Công thương Việt Nam đã chính thứcđưa hệ thống hiện đại hoá ngân hàng và hệ thống thanh toán (viết tắt là INCAS) vàothí điểm hoạt động tại trụ sở chính và tại 4 chi nhánh Trong quá trình vận hành,bước đầu hệ thống INCAS đã tạo ra những chuyển biến tích cực như cải thiện năngsuất làm việc, chất lượng và hiệu quả trong giao dịch hơn hẳn so với trước đây,đồng thời cung cấp được nhiều tiện ích dịch vụ ngân hàng hiện đại cho khách hàng
và hoạt động thanh toán của ngân hàng
Mặc dù vậy, phương thức chuyển tiền ngoại tệ hiện vẫn còn nhiều vấn đề cầnđược khắc phục để hoàn thiện chương trình, phục vụ tốt hơn nữa cho công tác thanhtoán quốc tế của Ngân hàng Ngoài ra, sau một thời gian vận hành, hệ thống thanh
Trang 8toán bắt đầu bộc lộ những điểm yếu chưa phù hợp với yêu cầu những yêu cầu mới
của thị trường Nhằm đáp ứng đòi hỏi đó, đề tài “Các giải pháp hoàn thiện phương thức chuyển tiền ngoại tệ tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam”
được tác giả lựa chọn nghiên cứu
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: phương thức chuyển tiền ngoại tệ tại Ngân hàngTMCP Công Thương Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu: thời gian từ năm 2005 đến năm 2009
4 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp được sử dụng trong quá trình nghiên cứu là: phương phápkhảo sát, tổng hợp, phân tích, so sánh, thống kê để đánh giá tình hình thực tế, dựavào các bảng, biểu số liệu để chứng minh và rút ra kết luận
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấuluận văn gồm 3 chương:
Chương I Khái quát các hoạt động thanh toán và các phương thức thanh
toán tại Ngân hàng thương mại Việt Nam
Chương II Thực trạng phương thức chuyển tiền ngoại tệ tại Ngân hàng
TMCP Công thương Việt Nam
Chương III Giải pháp hoàn thiện phương thức chuyển quốc tế tại Ngân hàng
Công thương Việt Nam
Trang 9CHƯƠNG I KHÁI QUÁT HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN VÀ CÁC
PHƯƠNG THỨC THANH TÓAN QUỐC TẾ TẠI NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
1.1 Hoạt động thanh toán tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam
1.1.1 Khái quát về hoạt động thanh toán tại Ngân hàng thương mại
Nền kinh tế càng phát triển, quy mô thanh toán, số lượng và giá trị các khoảnthanh toán ngày càng lớn và tăng lên nhanh chóng Điều này khiến cho việc thanhtoán trực tiếp giữa các khách hàng với nhau và giữa ngân hàng với khách hàng gặpnhiều khó khăn, không thỏa mãn được đòi hỏi của nền kinh tế Ngân hàng thươngmại qua hoạt động thanh toán của mình đã làm tăng nhanh tốc độ luân chuyển vốn,tiết kiệm chi phí lưu thông và nâng cao khả năng tín dụng Việc thanh toán bằngmáy tính và các phương tiện kỹ thuật hiện đại, thanh toán trực tuyến qua internet…
đã làm cho quá trình thanh toán bù trừ được thực hiện nhanh chóng, chính xác, antoàn và tiết kiệm Ngân hàng thương mại còn cung cấp cho các chủ thể của nền kinh
tế những công cụ mang tính tiện ích như: thẻ thanh toán, thẻ tín dụng, ngân phiếu,
uỷ nhiệm chi, các dịch ngân hàng điện tử… khách hàng có quyền lựa chọn mộttrong những công cụ thanh toán thích hợp Nhờ đó, khách hàng không cần giữ tiềntrong người mà có thể rút tiền tại mọi nơi qua máy rút tiền tự động hoặc chuyểnkhoản một cách dễ dàng Đồng thời thanh toán qua ngân hàng đã làm giảm mộtkhối lượng tiền mặt rất lớn trong lưu thông Ngân hàng cũng qua đó tích tụ đượcmột khoản vốn khổng lồ cho mình để tạo điều kiện mở rộng khả năng tín dụng vàcác hoạt động thanh toán khác
Bên cạnh thanh toán trong nước, hoạt động thanh toán quốc tế có ý nghĩa vôcùng quan trọng trong điều kiện nền kinh tế ngày càng mở cửa hội nhập, quá trìnhtrao đổi lưu thông hàng hoá giữa các đối tác ở các nước khác nhau ngày càng nhiều.Trong hoạt động xuất nhập khẩu, ngoài việc hỗ trợ cấp tín dụng cho các doanhnghiệp, ngân hàng còn đứng ra làm trung gian thanh toán cho các doanh nghiệp
Trang 10Việc thanh toán giữa hai bên được thực hiện qua hệ thống ngân hàng bằng cácphương thức được thoả thuận thuận tiện nhất cho khách hàng, đảm bảo quyềnlợi của cả hai bên xuất nhập khẩu, góp phần mở rộng quan hệ ngoại thươnggiữa các nước.
1.1.2 Khái quát về hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng thương mại
1.1.2.1 Tầm quan trọng của Thanh toán quốc tế tại Ngân hàng thương mại
Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả về tiền tệ phát sinh từcác quan hệ kinh tế, thương mại, tài chính, tín dụng và dịch vụ phi mậu dịch giữacác tổ chức kinh tế quốc tế, giữa các hãng, các cá nhân của các nước khác nhau đểkết thúc một chu trình hoạt động trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại bằng các hình thứcchuyển tiền hay thanh toán bù trừ thông qua các ngân hàng thương mại
Sự cần thiết của quan hệ thanh toán phát sinh từ quá trình quốc tế hóa ngàycàng gia tăng về mọi linh vực: thương mại, công nghiệp, dịch vụ Thanh toán quốc
tế dựa trên các hoạt động ngoại thương, kinh doanh tiền tệ để hưởng phí dịch vụ
và chênh lệch lãi suất, tỉ giá
Thanh toán quốc tế là một trong những hoạt động cơ bản của ngân hàngthương mại Xuất phát từ nhu cầu tất yếu của quá trình phát triển kinh tế, các doanhnghiệp luôn luôn có xu hướng mở rộng thị trường của mình ra bên ngoài, từ đó hìnhthành các quan hệ kinh tế đối ngoại giữa các nước khác nhau Mỗi nước có sự khácnhau về chế độ chính trị, môi trường luật pháp, phong tục tập quán cũng nhưkhoảng cách địa lý, bên cạnh đó còn có những bất đồng về ngôn ngữ, tiềm lực tàichính của các đối tác và hệ thống tiền tệ khác nhau khiến cho quan hệ mua bánthanh toán giữa các nước rất phức tạp và thường xảy ra rủi ro Để giải quyết nhữngvướng mắc này cần có một trung gian tài chính đứng ra đảm bảo quyền lợi cho cảhai bên và ngân hàng thương mại với hoạt động thanh toán quốc tế của mình đãđáp ứng được đòi hỏi đó Hoạt động thanh toán quốc tế của ngân hàng thương mại
là một mắt xích không thể thiếu được trong toàn bộ dây chuyền thực hiện một hợpđồng ngoại thương Thực hiện tốt vai trò trung gian thanh toán của mình trong hoạtđộng thanh toán quốc tế, ngân hàng thương mại đã đóng góp rất nhiều cho kháchhàng, cho nền kinh tế cũng như cho chính bản thân ngân hàng thương mại
Trang 11Khác với thanh toán nội địa (trong phạm vi một nước) thanh toán quốc tếthường gắn liền với việc trao đổi giữa đồng tiền nước này sang đồng tiền nướckhác Nội tệ với chức năng là phương tiện thanh toán theo luật định trong phạm vimột nước, sẽ không thể vượt qua giới hạn sử dụng của nó nếu như hai bên liên quantrong hợp đồng mua bán không có một thoả thuận cụ thể nào về vấn đề đó Do vậykhi kí kết các hợp đồng thương mại, tín dụng, các bên thường đàm phán thốngnhất về đồng tiền nào được sử dụng trong giao dịch.
Các đồng tiền được sử dụng trong thanh toán quốc tế chủ yếu là các loại ngoại
tệ có khả năng chuyển đổi tự do như Đôla Mỹ, bảng Anh, Yên Nhật Đặc biệt saukhi đồng tiền chung Châu Âu (EUR) ra đời ngày 01/01/1999 đã tạo ra sự cạnh tranhngày càng gay gắt trên thị trường tiền tệ thanh toán quốc tế để quyết định đồngUSD hay EUR sẽ chiếm tỉ lệ cao hơn trong giao dịch thanh toán quốc tế
Hiện nay, phần lớn việc chi trả trong thanh toán quốc tế được thực hiện thôngqua hệ thống SWIFT (Society for Worldwide Interbank FinancialTelecommunication - Hiệp hội viễn thông tài chính liên ngân hàng toàn cầu) Theothống kê của tổ chức này thì có tới hơn 70% các giao dịch tài chính tiền tệ quốc tếhàng ngày được thực hiện qua SWIFT Phần còn lại được thực hiện thông qua conđường điện tín, bưu điện dưới hình thức uỷ nhiệm thu, chi hộ giữa các ngân hàng vàcác phương thức chuyển tiền ngoại tệ khác Tỉ lệ chi trả bằng tiền mặt trong thanhtoán quốc tế chiếm một phần không đáng kể do các quy định về quản lý ngoại hối ởcác quốc gia tương đối chặt chẽ
Thanh toán quốc tế là nhu cầu thiết yếu đối với mọi chủ thể trong nền kinh tế,mang lại lợi ích cho mọi thành phần kinh tế:
- Lợi ích đối với khách hàng:
Ngân hàng thương mại, với vai trò trung gian trong hoạt động thanh toán quốc
tế, giúp cho quá trình thanh toán theo yêu cầu của khách hàng được tiến hành nhanhchóng, chính xác, an toàn tiện lợi và tiết kiệm tối đa chi phí
Tham gia hoạt động thanh toán quốc tế, quyền lợi của khách hàng được đảmbảo hơn, do khách hàng được ngân hàng tư vấn để lựa chọn các phương thức thanh
Trang 12toán, kỹ thuật thanh toán cũng như đồng tiền thanh toán nhằm giảm thiểu rủi ro, tạo
ra sự an tâm cho khách hàng trong giao dịch mua bán với nước ngoài
Trong quá trình thực hiện thanh toán quốc tế, nếu khách hàng không đủ khảnăng tài chính cần đến sự tài trợ của ngân hàng, ngân hàng sẽ cho vay để thanh toánhàng nhập bằng cách bảo lãnh mở L/C, chiết khấu bộ chứng từ xuất khẩu, giải quyếtnhu cầu về vốn cho doanh nghiệp xuất khẩu Thông qua thanh toán quốc tế, ngânhàng còn có thể giám sát được tình hình kinh doanh, khả năng thanh toán của doanhnghiệp xuất nhập khẩu để có những tư vấn cho khách hàng và những điều chỉnh vềchiến lược khách hàng
- Lợi ích cho bản thân ngân hàng thương mại:
Hoạt động thanh toán quốc tế có vai trò vô cùng quan trọng đối với ngân hàngthương mại Trước hết, nó là hoạt động trực tiếp tạo ra một khoản thu nhập khôngnhỏ, đóng góp vào thu nhập chung của ngân hàng Bên cạnh đó, nó không chỉ làmột dịch vụ độc lập thuần tuý mà còn phương thức thanh toán bổ sung và hỗ trợcho mọi hoạt động khác của ngân hàng
Hoạt động thanh toán quốc tế giúp cho ngân hàng thu hút thêm khách hàng cónhu cầu thanh toán quốc tế, trên cơ sở đó ngân hàng tăng được quy mô hoạt độngcủa mình Trong quá trình hội nhập hiện nay, do nhu cầu trao đổi buôn bán giữa cácnước ngày càng lớn và quá trình tự do hóa thương mại toàn cầu đang được xúc tiếnmột cách nhanh chóng, số lượng doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất nhậpkhẩu ngày càng tăng, việc thu hút thêm được nhiều doanh nghiệp xuất nhập khẩukhông những làm tăng thêm doanh thu cho Ngân hàng thông qua các dịch vụ thanhtoán quốc tế, mà còn làm tăng nguồn vốn của Ngân hàng
Nhờ đẩy mạnh hoạt động thanh toán quốc tế mà hoạt động tín dụng tài trợ xuấtnhập khẩu được phát triển, mở rộng, cũng như tăng cường nguồn vốn huy động dotạm thời quản lý được nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của các doanh nghiệp có quan
hệ thanh toán quốc tế qua ngân hàng Đồng thời hoạt động thanh toán quốc tế cũnggiúp cho ngân hàng phát triển được các nghiệp vụ như kinh doanh ngoại tệ, bảolãnh và các dịch vụ khác Qua đó, đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ của Ngânhàng, phát triển các dịch vụ cung cấp cho khách hàng theo chiều rộng
Trang 13Thanh toán quốc tế tạo môi trường ứng dụng các công nghệ ngân hàng hiệnđại trên thế giới Thông qua việc tham gia liên kết, kết nối với các mạng lưới thanhtoán trên toàn cầu và các tổ chức trung gian thanh toán quốc tế, ngân hàng thươngmại trong nước đã ứng dụng được các tiến bộ trong công nghệ thông tin và xử lý
dữ liệu bắt kịp với các ngân hàng lớn tiên tiến trên thế giới Hơn nữa, trong quátrình hội nhập kinh tế quốc tế, để đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn khi tham gia thịtrường thanh toán liên ngân hàng toàn cầu, và được kết nối với các trung gian thanhtoán quốc tế, các Ngân hàng thương mại trong nước cũng cần phải trang bị chomình cơ sở hạ tầng vật chất kỹ thuật phù hợp, ứng dụng công nghệ ngân hàng hiệnđại Nhờ đó, các Ngân hàng cũng tự nâng cao trình độ công nghệ của mình trên thịtrường
Hoạt động thanh toán quốc tế giúp cho ngân hàng tạo được uy tín trên thịtrường quốc tế cũng như uy tín đối với khách hàng, từ đó ngân hàng có thể khaithác được các nguồn vốn tài trợ của các ngân hàng nước ngoài và nguồn vốn trênthị trường tài chính quốc tế để đáp ứng nhu cầu vốn của khách hàng Cũng nhờ tạođược uy tín, ngân hàng có thể mở rộng mối quan hệ hợp tác với các ngân hàng quốc
tế, thiết lập các kênh thanh toán song phương với các ngân hàng nước ngoài, và sau
đó có thể dần dần mở rộng thị phần sang thị trường nước ngoài bằng cách mở cácvăn phòng đại diện, chi nhánh tại các nước có ngân hàng đối tác
Như vậy, hoạt động thanh toán quốc tế làm tăng cường quan hệ đối ngoại củangân hàng, tăng cường khả năng cạnh tranh của ngân hàng trong cơ chế thị trường,đồng thời nó giúp cho hoạt động ngân hàng vượt ra khỏi phạm vi quốc gia và hộinhập với cộng đồng ngân hàng thế giới
Ngoài ra, trong điều kiện nền kinh tế hội nhập hiện nay, rất nhiều ngân hàngnước ngoài đang tìm kiếm cơ hội hợp tác đầu tư tại Việt Nam Các nhà đầu tư nướcngoài đều đánh giá Việt Nam là một môi trường đầu tư hấp dẫn, và ngành Tài chính– Ngân hàng tại Việt Nam đang là một ngành có lợi nhuận cao Thông qua hoạtđộng thanh toán quốc tế, các ngân hàng trong nước có thể tìm thấy những đối tácchiến lược nước ngoài Đặc biệt, trong bối cảnh, các ngân hàng quốc doanh đang
Trang 14tiến hành cổ phần hóa, các đối tác chiến lược nước ngoài là một nhân tố quan trọng
để các ngân hàng thương mại tăng vốn, đổi mới hình thức kinh doanh, cách thứcquản lý, nâng hiệu hiệu quả sử dụng vốn…
Thông qua hoạt động thanh toán quốc tế, ngân hàng chủ động can thiệp vào thịtrường thông qua hoạt động mua bán ngoại tệ nhằm duy trì một tỷ giá hối đoái thíchhợp theo chủ trương của nhà nước, góp phần ổn định thị trường tiền tệ, thị trườnghối đoái
- Lợi ích đối với nền kinh tế:
Thanh toán quốc tế là chiếc cầu nối giữa các quốc gia trong hoạt động kinh tếđối ngoại Thanh toán quốc tế tạo điều kiện thúc đẩy hoạt động ngoại thương pháttriển, đẩy mạnh quá trình sản xuất lưu thông hàng hoá, tăng nhanh tốc độ chuchuyển của vốn, góp phần phát triển nền kinh tế
Hoạt động thanh toán quốc tế làm tăng khối lượng thanh toán không dùng tiềnmặt trong nền kinh tế, giảm bớt các chi phí trung gian, đồng thời hoạt động thanhtoán quốc tế đã thu hút được một lượng ngoại tệ đáng kể vào Việt Nam bằng cácnghiệp vụ kiều hối, chuyển tiền đến và L/C xuất khẩu
Tóm lại, hoạt động thanh toán quốc tế là một hoạt động trung gian của ngânhàng thương mại, có tác dụng mang lại thu nhập, hỗ trợ các hoạt động khác củangân hàng thương mại, giúp cho quá trình thanh toán của khách hàng được nhanhchóng, đảm bảo Điều này được thể hiện rõ hơn khi nghiên cứu đến các phươngthức thanh toán quốc tế
1.1.2.2 Các phương thức Thanh toán quốc tế của Ngân hàng thương mại
Có nhiều phương thức thanh toán quốc tế mà NHTM hiện nay đang áp dụng,tuy nhiên, phổ biến nhất là một số phương thức như sau:
Phương thức chuyển tiền (Remittance):
Là một phương thức thanh toán trong đó một khách hàng (người mua, ngườitrả tiền, người nhập khẩu ) yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển trả cho ngườihưởng lợi (người bán, người xuất khẩu, người cung ứng dịch vụ ) ở nước ngoàimột số tiền nhất định
Trang 15 Phương thức ghi sổ (Open account):
Là một phương thức mà người bán mở sổ để ghi nợ người mua sau khi ngườibán đã hoàn thành việc giao hàng hay dịch vụ Đến từng định kỳ đã thoả thuận như:Tháng, quý, năm thì người mua sẽ thực hiện trả tiền cho người bán
Đặc điểm của phương thức này là không có sự tham gia của ngân hàng vớichức năng là người mở tài khoản và thực thi thanh toán tiền hàng hoá dịch vụ chohai bên mua bán, chỉ có duy nhất hai bên mua bán tham gia trong quá trình thanhtoán nên có thuận lợi rất cơ bản là giảm được các chi phí tài trợ và dịch vụ Tuynhiên đây là phương thức nhận hàng trước trả tiền sau nên có lợi cho người mua vàbất lợi cho người bán Phương thức này ít được sử dụng rộng rãi trong thanh toánquốc tế , nó chỉ được áp dụng khi hai bên mua bán đã có mối quan hệ giao dịch làm
ăn lâu đời, thường xuyên với nhau khi thị trường ổn định ít có sự biến động hoặctrong việc thanh toán giữa các chi nhánh trong nội bộ một công ty
Phương thức nhờ thu (collection):
Phương thức thanh toán nhờ thu là một phương thức thanh toán quốc tế trong
đó người xuất khẩu (người bán) sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hoặccung ứng dịch vụ cho người nhập khẩu (người mua) sẽ uỷ thác cho ngân hàng phục
vụ mình thu hộ số tiền từ người nhập khẩu ở nước ngoài, trên cơ sở ký phát hốiphiếu đòi tiền người mua
Trong thanh toán quốc tế, thường có các loại nhờ thu sau đây:
- Nhờ thu phiếu trơn ( hay uỷ thác nhờ thu không kèm chứng từ - Clean
collection): Theo phương thức này thì người bán sẽ uỷ thác cho ngân hàng thu hộtiền từ người mua, việc đòi tiền chỉ dựa trên hối phiếu do người xuất khẩu ký phátđòi tiền mà không kèm theo bất cứ chứng từ hàng hoá nào, các chứng từ liên quan
sẽ được gửi thẳng cho người mua mà không qua ngân hàng Loại uỷ thác thu nàythường chỉ áp dụng trong trường hợp người mua và người bán có sự tin cậy lẫnnhau, do việc nhận hàng của người mua hoàn toàn tách rời khỏi khâu thanh toán
- Nhờ thu kèm chứng từ (Documentary Collection): Đây là phương thức thanh
toán mà người bán uỷ thác cho ngân hàng thu hộ tiền từ người mua trên cơ sở ký
Trang 16phát hối phiếu đòi tiền và toàn bộ các chứng từ liên quan kèm điều kiện nếu ngườimua trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền thì ngân hàng mới giao bộ chứng từ cho ngườimua để đi nhận hàng.
Trong phương thức nhờ thu, ngân hàng cũng chỉ đóng vai trò là trung gian thu
hộ tiền cho người xuất khẩu, không có bất cứ trách nhiệm nào đối với việc trả tiềncủa người nhập khẩu Đối với hình thức nhờ thu kèm chứng từ, quyền lợi của ngườibán được đảm bảo hơn do họ có thể thông qua ngân hàng khống chế quyền địnhđoạt hàng hoá của người mua, nhưng việc thanh toán thì vẫn hoàn toàn phụ thuộcvào thiện chí của người mua Người mua có thể kéo dài việc trả tiền bằng cách chưanhận chứng từ hoặc có thể dễ dàng từ chối thanh toán, không nhận hàng khi thịtrường có bất lợi đối với họ Ngoài ra, thời gian thanh toán thường kéo dài, gây ứđọng vốn cho người bán
Phương thức tín dụng chứng từ (Letter of credit)
Phương thức tín dụng chứng từ là một sự thoả thuận trong đó một ngân hàng( ngân hàng mở thư tín dụng) theo yêu cầu của khách hàng ( người yêu cầu mở thưtín dụng) sẽ trả một số tiền nhất định cho một người khác (người hưởng lợi của thưtín dụng) hoặc chấp nhận hối phiếu do người này ký phát trong phạm vi số tiền đókhi người này xuất trình cho ngân hàng một bộ chứng từ phù hợp với những quyđịnh đề ra trong thư tín dụng Một công cụ vô cùng quan trọng không thể thiếu đượctrong phương thức tín dụng chứng từ là thư tín dụng, nếu không mở được thư tíndụng thì phương thức thanh toán này cũng không được xác lập
Thư tín dụng (Letter of Credit – L/C): là một bản cam kết dùng trong thanh
toán, trong đó một ngân hàng (ngân hàng phục vụ người nhập khẩu) theo yêu cầucủa người nhập khẩu tiến hành mở và chuyển đến cho chi nhánh hay đại lý của ngânhàng này ở nước ngoài (ngân hàng phục vụ người xuất khẩu) một L/C cho ngườihưởng (người xuất khẩu) cam kết sẽ thanh toán một số tiền nhất định trong phạm vithời hạn quy định, với điều kiện người hưởng phải xuất trình đầy đủ các chứng từphù hợp với những nội dung, điều kiện quy định trong thư tín dụng
Trang 171.1.2.3 Ưu điểm, nhược điểm của phương thức chuyển tiền so với các phương thức thanh toán khác
Mỗi phương thức thanh toán quốc tế đều có những ưu điểm và nhược điểmcủa nó, song phương thức chuyển tiền ngoại tệ hiện nay vẫn đang là phương thứcphổ biến nhất, được sử dụng nhiều nhất trong thanh toán quốc tế Các phương thứcthanh toán khác vẫn phải phụ thuộc vào phương thức chuyển tiền để hoàn tất chutrình thanh toán của mình Do đặc thù của từng phương thức thanh toán quốc tế phùhợp với một hình thức kinh doanh riêng, nên những phương thức thanh toán nàyvẫn tồn tại song song, hỗ trợ lẫn nhau Tuy nhiên, các phương thức thanh toán quốc
tế khác vẫn có những nhược điểm của nó
Nhược điểm của các phương thức thanh toán khác:
Trong các phương thức thanh toán khác, ngân hàng thường đóng vai trò trunggian để thu hộ khách hàng Việc thanh toán thường diễn ra sau khi người mua đãnhận hàng, và thường là trả chậm Ngân hàng thường không phải chịu trách nhiệmđối với việc người mua phải thanh toán cho người bán đúng thời hạn, đủ số tiền.Với phương pháp nhờ thu hoặc tín dụng chứng từ, để thực hiện một giao dịch,
bộ chứng từ cần phải xuất trình gồm rất nhiều loại như : Hợp đồng thương mại, Hợpđồng tín dụng, Đề nghị thông báo nhờ thu, Vận đơn (Bill of lading), Hóa đơn(Invoice), Đề nghị xác thực, Cam kết sử dụng vốn vay / thanh toán, Bản giải trình
mở L/C, Đề nghị chiết khấu… Những chứng từ này thường có dung lượng lớn Cónhững bộ chứng từ lên đến vài trăm trang Chính vì vậy, việc xử lý chứng từ của cácphương thức thanh toán này mất nhiều thời gian hơn do tính chất của giao dịch liênquan nhiều đến hoạt động tín dụng và bảo lãnh ngân hàng Hơn nữa, do các loạichứng từ này đến từ nhiều nguồn khác nhau, từ trong nước và nước ngoài, đôi lúcđược viết bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau, lại không tuân theo một chuẩn mựcchung, do mỗi nước, mỗi ngân hàng có một tiêu chuẩn khác nhau về biểu mẫuchứng từ, đòi hỏi cán bộ ngân hàng cần phải có kỹ năng về xử lý hồ sơ và trình độngoại ngữ cao hơn phương thức chuyển tiền Vì lý do cần theo dõi bộ chứng từ chotừng khách hàng, các phương thức thanh toán này thường phải xử lý thủ công,
Trang 18không thể tự động được Ngoài ra, việc bộ chứng từ có dung lượng lớn cũng gâykhó khăn trong việc luân chuyển chứng từ trong nội bộ ngân hàng, từ chi nhánh đếntrụ sở chính, và giữa các bộ phận với nhau Công tác lưu trữ chứng từ cũng đòi hỏingân hàng phải tốn chi phí bảo quản, quản lý, sao lưu…
Đối với khách hàng, để hoàn tất một bộ chứng từ mất rất nhiều thời gian, docác loại chứng từ đến từ nhiều nguồn khác nhau Thời gian để hoàn tất một bộchứng từ lâu hơn rất nhiều so với phương thức chuyển tiền
Do việc xử lý chứng từ đối với các hoạt động như mở L/C, Bảo lãnh, Nhờ thuthường mất nhiều thời gian, nên phí dịch vụ cũng tương đối cao Các phương thứcthanh toán này hiện nay chủ yếu chỉ phục vụ các tổ chức, doanh nghiệp, những đơn
vị thường xuyên thực hiện thanh toán qua ngân hàng
Ưu điểm của phương thức chuyển tiền:
Phương thức chuyển tiền là một trong những sản phẩm rất truyền thống củacác NHTM, mặc dù đã tồn tại từ rất lâu, nhưng đến nay vẫn liên tục được phát triển
đa dạng và mở rộng phạm vi phục vụ Bởi lẽ, chuyển tiền vẫn luôn mang nhiều ưuđiểm nổi trội như:
Một là, chuyển tiền là một phương thức thanh toán nhanh chóng nhất: Ngàynay, với sự phát triển của công nghệ thông tin, phương thức chuyển tiền đã được hỗtrợ để tự động hóa một phần, hoặc toàn phần, thể hiện ở chỗ, rất nhiều giao dịchchuyển tiền ngoại tệ có thể đăng ký để được xử lý tự động một cách chính xác Nhờ
đó, tăng tốc độ xử lý điện chuyển tiền, tăng tính chính xác, đảm bảo giao dịch an toànTài khoản của người nhận được ghi có ngay khi Ngân hàng xử lý điện chuyểntiền từ nước ngoài, đồng thời tài khoản của người nhận cũng được hưởng lãi suất(thường là lãi suất không kỳ hạn)
Người nhận có thể nhận được tiền ngay trong ngày nếu chuyển tiền qua cácphương thức chuyển tiền thông thường, thậm chí trong vòng 10 phút nếu sử dụngdịch vụ chuyển tiền nhanh
Hai là, chuyển tiền là phương thức thuận tiện nhất: Với mạng lưới chi nhánh
và phòng giao dịch rộng khắp, Ngân hàng thương mại cung cấp rất nhiều điểm tiếp
Trang 19nhận yêu cầu chuyển tiền của khách hàng và chi trả tiền kiều hối cho khách hàng ởmọi nơi Hiện nay, hầu hết các NHTM đã áp dụng hình thức gửi tiền một nơi, rúttiền nhiều nơi, sau khi ngân hàng hoàn thành xử lý điện chuyển tiền, tài khoản củakhách hàng được ghi có, người nhận có thể đến rút tiền tại mọi địa điểm giao dịchcủa NHTM Khi nhận tiền, người nhận chỉ cần đem giấy chứng minh nhân dân đếnbất cứ chi nhánh, phòng giao dịch thuận tiện nhất của Ngân hàng để lĩnh tiền.
Đặc biệt, trường hợp chuyển tiền về tài khoản thẻ ATM, người nhận tiền cóthể lĩnh tiền tại bất cứ máy ATM nào chấp nhận thẻ, vào bất cứ thời điểm nào
Ba là, phí dịch vụ của phương thức chuyển tiền thấp: Với việc thiết lập nhiềukênh chuyển tiền trực tiếp, việc chuyển tiền từ nước ngoài về Việt Nam không phảiqua các Ngân hàng trung gian, hoặc cán bộ NH sẽ tìm “con đường chuyển tiền”phải đi qua ít ngân hàng đại lý trung gian nhất, tạo điều kiện giảm phí dịch vụ chokhách hàng Vì vậy, tiết kiệm đáng kể thời gian và chi phí cho khách hàng
Nhược điểm của phương thức chuyển tiền
Bên cạnh những ưu điểm kể trên, chuyển tiền cũng còn có những nhược điểm như:Với phương thức chuyển tiền ngoại tệ, các quy định về chuyển tiền ngoại tệ đinước ngoài của Việt Nam rất chặt chẽ Các nguyên tắc này do cơ chế quản lý ngoạihối tại Việt Nam quy định, ngoài ra, còn có nhiều quy định khác do các NHTM chủđộng ban hành cho khách hàng của mình Do đó, các thủ tục cần thiết để chuyểntiền ngoại tệ đi nước ngoài thường rất rườm rà, đòi hỏi nhiều loại giấy tờ xác minh.Nếu người ra lệnh là khách hàng doanh nghiệp, thì điều kiện đầu tiên để thựchiện chuyển tiền là người ra lệnh phải mở tài khoản tại Ngân hàng nhận lệnhchuyển tiền Số dư trong tài khoản của người ra lệnh chuyển tiền phải lớn hơn hoặcbằng số tiền cần chuyển.Đặc biệt, với phương thức chuyển tiền ngoại tệ, ngân hàngcàng không cho phép khách hàng thấu chi từ tài khoản ngoại tệ
Việc chuyển tiền ngoại tệ đi nước ngoài đối với tất cả các đối tượng, bao gồm
cả cá nhân và doanh nghiệp đều cần có đầy đủ các giấy tờ cần thiết, để chứng minhđược mục đích chuyển tiền một cách minh bạch Nếu khách hàng cá nhân không cótài khoản tại ngân hàng, thì khách hàng phải làm đề nghị xin mua ngoại tệ từ ngân
Trang 20hàng Tuy nhiên, việc duyệt mua ngoại tệ tại các NHTM cũng phải qua nhiều thủtục phức tạp Hơn nữa, hạn mức ngoại tệ được duyệt mua lại rất thấp, thường khôngđáp ứng đủ nhu cầu của khách hàng Nếu khách hàng là doanh nghiệp hoặc các tổchức, đem ngoại tệ đến ngân hàng nộp, thì cần chứng minh được nguồn gốc xuất xứngoại tệ Song, việc chứng minh nguồn gốc xuất xứ của ngoại tệ đem nộp ở ViệtNam thường không dễ dàng Do việc mua ngoại tệ từ các ngân hàng rất khó khăn,Ngoại tệ chủ yếu được trao đổi trên “thị trường chợ đen” Đây chính là điểm gâykhó khăn cho những khách hàng muốn chuyển tiền ngoại tệ đi nước ngoài
Mối liên hệ giữa phương thức chuyển tiền với các phương thức thanh toán khác
Đối với các mọi phương thức thanh toán, mục tiêu cuối cùng là người thụhưởng nhận được tiền từ người ra lệnh thanh toán, bằng cách ghi có vào Tài khoản,hoặc nhận tiền mặt Suy cho cùng, đích đến của các phương thức đó cũng vẫn làhoạt động chuyển tiền cho người thụ hưởng Nói cách khác,chuyển tiền là phươngthức phục vụ tất cả mọi phương thức thanh toán khác, là chặng cuối của một giaodịch thanh toán Vì vậy, có thể nói, chuyển tiền vẫn là phương thức cốt lõi tronghoạt động thanh toán của ngân hàng Bằng phương thức chuyển tiền, các hoạt độngkhác mới hoàn tất chu trình thanh toán giữa các bên liên quan
1.2 Khái quát về chuyển tiền ngoại tệ tại Ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm, Đặc điểm, Phân lọai chuyển tiền ngoại tệ
1.2.1.1 Khái niệm Chuyển tiền ngoại tệ
Là một phương thức thanh toán trong đó một khách hàng (người mua, ngườitrả tiền, người nhập khẩu ) yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển trả cho ngườihưởng lợi (người bán, người xuất khẩu, người cung ứng dịch vụ ) ở nước ngoàimột số tiền nhất định
1.2.1.2 Đặc điểm Chuyển tiền ngoại tệ
- Đặc điểm của phương thức này là ngân hàng chỉ tham gia với vai trò là trunggian thanh toán thuần tuý, không có trách nhiệm kiểm tra về sự hợp lý của thời gianthanh toán và lượng tiền chuyển đi
Trang 21- Trong thanh toán chuyển tiền, chu chuyển hàng hoá dịch vụ có thể tách rờikhỏi chu chuyển tài chính trong thời gian tạo nên rủi ro cho cả hai bên (ngườichuyển tiền và người thụ hưởng) Khi chuyển tiền trước (down payment), nhà nhậpkhẩu có thể lo sợ mất tiền nếu nhà xuất khẩu không giao hàng hay giao hàng khôngđúng yêu cầu về số lượng, chủng loại, chất lượng và thời gian ảnh hưởng đến kếhoạch sản xuất kinh doanh của nhà nhập khẩu.
Ngược lại, trong trường hợp trả tiền sau nhà xuất khẩu hoàn toàn bị lệ thuộcvào thiện chí và uy tín thanh toán của nhà nhập khẩu
Có khi rủi ro lại hoàn toàn khách quan như biến cố chính trị, xã hội, kinh tếhay một tai nạn bất ngờ khiến cho một bên kết ước bất đắc dĩ bội tín làm ảnh hưởngđến đối tác làm ăn
Chính vì vậy, phương thức này được dùng rộng rãi trong việc thanh toán cáckhoản tiền đặt cọc, quảng cáo, phí vận chuyển, dịch vụ hoặc khi các bên tham gia
đã có quan hệ bạn hàng lâu dài và có sự tín nhiệm lẫn nhau
- Ngân hàng chỉ giữ vai trò trung gian thanh toán thụ động, chờ khách hàng ralệnh rồi mới thực hiện
1.2.1.3 Phân loại chuyển tiền ngoại tệ
Chuyển tiền ngoại tệ có thể phân loại theo nhiều tiêu chí, trong đó thườngđược các NHTM phân loại như sau:
Phân loại theo hướng chuyển tiền: có 2 loại là:
- Chuyển tiền đi: là những giao dịch chuyển tiền từ trong nước ra nước ngoài
- Chuyển tiền đến: là những giao dịch chuyển tiền từ nước ngoài về nước
Phân loại theo sản phẩm chuyển tiền:
Tùy thuộc vào chính sách kinh doanh của từng NHTM, chuyển tiền ngoại tệ
có thể phân chia thành các sản phẩm khác nhau, ví dụ như: Chuyển tiền ngoại tệgiữa các chi nhánh, Chuyển tiền ngoại tệ qua Ngân hàng đại lý, Chuyển tiền ngoại
tệ trực tiếp đi NH nước ngoài…
Phân loại theo mục đích chuyển tiền: chuyển tiền ngoại tệ được chia thành 2loại chính là:
Trang 22- Chuyển tiền thương mại (Trade): là việc chuyển tiền ngoại tệ ngoài nhằm mục
đích thanh toán, chi trả cho các hóa đơn, hợp đồng thương mại về xuất nhập khẩu
- Chuyển tiền phi thương mại (Non-trade): là việc chuyển tiền ngoại tệ nhằm
các mục không liên quan đến hoạt động thương mại như: chuyển tiền khám chữabệnh, chuyển lương, chuyển tiền du học…
Phân loại theo tổ chức tín dụng thực hiện chuyển tiền: tùy thuộc vào các tổchức tín dụng chuyên trách thực hiện các giao dịch:
- Chuyển tiền ngoại tệ song biên: là việc chuyển tiền ngoại tệ trực tiếp giữa hai
định chế tài chính, thường là 2 Ngân hàng, có sự thỏa thuận với nhau về cách thứcthanh toán, mức phí, tỷ lệ chia sẻ phí và các quy định khác liên quan
- Chuyển tiền ngoại tệ qua các công ty chuyên trách: là việc chuyển tiền ngoại
tệ thông qua các tổ chức tín dụng doanh nghiệp, các công ty, đóng vai trò như cácđịnh chế tài chính chuyên thực hiện các giao dịch chuyển tiền ngoại tệ như Hệthống SWIFT, chuyển tiền Western Union, Money Transfer, các công ty kiều hối…
1.2.2 Cơ sở pháp lý, Nguyên tắc, Các hình thức và Quy trình chuyển tiền Ngoại tệ
1.2.2.1 Cơ sở pháp lý
Tại Việt Nam, ngoại hối được quản lý rất chặt chẽ bởi các văn bản quy phạmpháp luật do Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước ban hành Do đó, hoạt độngchuyển tiền ngoại tệ cũng được điều chỉnh chi tiết trong các văn bản luật và dướiluật như sau:
Văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ:
Các ngân hàng khi hoạt động còn phải tuân thủ theo những văn bản quy địnhcủa Chính phủ.Chính phủ Việt Nam đã ban hành những văn bản cụ thể quy định vềngoại hối và quản lý hoạt động ngoại hối của tổ chức, cá nhân Việt Nam trên lãnhthổ Việt Nam và ở nước ngoài; của tổ chức, cá nhân nước ngoài trên lãnh thổ ViệtNam Ngoài ra, văn bản của Chính phủ còn quy định rõ ngoại hối chỉ được lưu hànhqua hệ thống ngân hàng, tổ chức và cá nhân được phép hoạt động ngoại hối
Các quy định về việc mở và sử dụng tài khoản ngoại tệ ở trong nước:
Điều 30 – Nghị định Số 160/2006/NĐ-CP ngày 28/12/2006 của Chính phủquy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Ngoại hối, quy định về việc Mở tài khoản ngoại
Trang 23tệ như sau: Đối với tổ chức được mở và sử dụng tài khoản tiền gửi ngoại tệ tại tổchức tín dụng được phép để thực hiện các giao dịch thu, chi sau:
Về việc thu ngoại tệ, Nghị định quy định những nguồn thu như sau là hợppháp, hợp lệ: thu từ nước ngoài chuyển vào; Thu từ các nguồn thu được phép trongnước;Thu ngoại tệ tiền mặt từ nước ngoài vào theo quy định của Ngân hàng nhànước Việt Nam;
Về việc chi ngoại tệ, các hoạt động chi ngoại tệ cũng được quy định như sau:Chi bán cho tổ chức tín dụng được phép; Chi chuyển tiền, thanh toán cho các giaodịch vãng lai, giao dịch vốn, các giao dịch được phép thanh toán trong nước bằngngoại tệ; Chi chuyển đổi ra các loại ngoại tệ khác hoặc các công cụ thanh toán khácbằng ngoại tệ; Chi rút ngoại tệ tiền mặt cho cá nhân làm việc cho tổ chức đó khiđược cử ra nước ngoài công tác; Chi chuyển khoản hoặc rút ngoại tệ tiền mặt để trảlương, thưởng, phụ cấp cho người không cư trú, người cư trú là người nước ngoài;Chi chuyển ra nước ngoài hoặc chuyển sang tài khoản tiền gửi ngoại tệ của ngườikhông cư trú khác hoặc thanh toán cho người cư trú tiền hàng hoá, dịch vụ xuấtkhẩu (đối với trường hợp người không cư trú là tổ chức)
Đối với các cá nhân, việc mở và sử dụng tài khoản tiền gửi ngoại tệ tại tổ chứctín dụng được phép để thực hiện các giao dịch thu, chi sau đây:
Về thu ngoại tệ, các cá nhân được phép thu ngoại tệ từ các nguồn: Thu chuyểnkhoản từ nước ngoài chuyển vào; Thu ngoại tệ tiền mặt từ nước ngoài mang vàotheo quy định của Ngân hàng nhà nước Việt Nam; Thu ngoại tệ từ các nguồn thuhợp pháp khác;
Về chi ngoại tệ, cá nhân được phép thực hiện các hoạt động chi ngoại tệ sau:Chi bán cho tổ chức tín dụng được phép; Chi chuyển tiền, thanh toán cho các giaodịch vãng lai, giao dịch vốn và các giao dịch được phép thanh toán trong nước bằngngoại tệ; Chi chuyển đổi ra các loại ngoại tệ khác hoặc các công cụ thanh toán khácbằng ngoại tệ; Chi cho, tặng, thừa kế theo quy định của pháp luật; Chi rút ngoại tệtiền mặt; Chi chuyển ra nước ngoài hoặc chuyển sang tài khoản tiền gửi ngoại tệ củangười không cư trú khác (đối với trường hợp người không cư trú là cá nhân); Chi
Trang 24chuyển sang gửi tiết kiệm ngoại tệ tại tổ chức tín dụng được phép (đối với trườnghợp người cư trú là cá nhân).
Nghị định 160 cũng quy định quyền, nghĩa vụ của các tổ chức tín dụng là theodõi và kiểm soát các hoạt động thu, chi trên tài khoản tiền gửi ngoại tệ để đảm bảoviệc thanh toán, chuyển tiền được thực hiện đúng mục đích và phù hợp với các quyđịnh của Nghị định này
Như vậy, việc mở và sử dụng tài khoản ngoại tệ trong nước được quy đinh rấtchặt chẽ, trong đó, việc thu ngoại tệ dễ dàng hơn nhiều so với việc chi ngoại tệ Cáchoạt động thu – chi ngoại tệ cũng được liệt kê một cách cụ thể Việc chi ngoại tệ đốivới đối tượng không phải các tổ chức tín dụng, chỉ được phép thực hiện với các hoạtđộng phi thương mại như biếu tặng, thừa kế, rút tiền, nếu là bán ngoại tệ chỉ đượcbán cho các tổ chức tín dụng trong nước, còn những hoạt động thương mại, sẽ đượcđiều chỉnh một cách cụ thể đối với từng loại hoạt động
Liên quan đến hoạt động chuyển tiền ngoại tê, Nghị định quy định về việc thanh toán và chuyển tiền liên quan đến xuất nhập khẩu hàng hóa dịch vụ như sau:
Điều 6 Nghị định 160/2006/NĐ-CP như sau:
Người cư trú có nguồn thu ngoại tệ từ xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ hoặc từ cácnguồn thu vãng lai khác ở nước ngoài phải chuyển vào tài khoản ngoại tệ mở tại tổchức tín dụng được phép tại Việt Nam phù hợp với thời hạn thanh toán của hợpđồng hoặc các chứng từ thanh toán
Người cư trú có nguồn thu ngoại tệ từ xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ ở nước ngoài
có nhu cầu giữ lại một phần hay toàn bộ ở nước ngoài phải được Ngân hàng Nhànước Việt Nam cho phép và phải chuyển vào tài khoản được phép mở tại ngân hàng
ở nước ngoài Số ngoại tệ còn lại phải chuyển về nước
Mọi giao dịch thanh toán và chuyển tiền liên quan đến xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ phải thực hiện bằng hình thức chuyển khoản thông qua tổ chức tín dụng được phép, trừ một số trường hợp thanh toán bằng tiền mặt được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xem xét, chấp thuận
Trang 25Sau đó, điều 7 và điều 8 NĐ 160/2001/NĐ-CP đã quy định cụ thể về các chiềuchuyển tiền đi và chuyển tiền đến như sau:
Điều 7 quy định về chuyển tiền một chiều từ nước ngoài vào Việt Nam, khithu được ngoại tệ từ các khoản chuyển tiền một chiều từ nước ngoài về Việt Nam,đối với tổ chức thì bắt buộc phải chuyển vào tài khoản ngoại tệ do một tổ chức tíndụng quản lý hoặc phải bán cho tổ chức tín dụng; còn đối với cá nhân thì được gửivào tài khoản ngoại tệ, gửi tiết kiệm bằng ngoại tệ, rút tiền mặt, hoặc bán cho tổchức tín dụng, hay sử dụng vào các mục đích khác được quy định tại Nghị định này.Như vậy, theo điều 7, các tổ chức, cá nhân khi nhận được ngoại tệ chuyển từ nướcngoài về, đều phải chịu sự giám sát thông qua tài khoản ngoại tệ mở tại một tổ chứctín dụng nào đó, hoặc nếu bán, phải bán cho tổ chức tin dụng
Tiếp theo đó, điều 8 quy định về việc chuyển tiền từ Việt Nam ra nước ngoàichi tiết như sau: Đối với các tổ chức thì được chuyển tiền phục vụ mục đích tài trợ,viện trợ hoặc các mục đích khác theo quy định của Ngân hàng nhà nước Đối với cánhân là công dân Việt Nam thì được mua, chuyển, mang ngoại tệ nhưng phải thôngqua các tổ chức tín dụng, và chỉ được phục vụ các mục đích: Học tập, chữa bệnh tạinước ngoài, Công tác, Du lịch, Trả các loại phí, Trợ cấp thân nhân đang ở nướcngoài, chuyển tiền thừa kế Đối với người nước ngoài tại Việt Nam chỉ đượcchuyển tiền ngoại tệ ra nước ngoài trong trường hợp có số dư trên tài khoảnngoại tệ mở tại một tổ chức tín dụng, hoặc có nguồn thu ngoại tệ hợp pháp đượcchuyển, mang ra nước ngoài như tiền lương Trách nhiệm của các tổ chức tíndụng là xem xét các chứng từ, giấy tờ do người cư trú, người không cư trú xuấttrình để bán, chuyển, xác nhận nguồn ngoại tệ tự có hoặc mua từ tổ chức tíndụng được phép để mang ra nước ngoài căn cứ vào yêu cầu thực tế, hợp lý củatừng giao dịch chuyển tiền
Luật Ngân hàng Nhà nước:
Mỗi ngân hàng khi hoạt động đều phải tuân theo Luật Ngân hàng nhà nướccủa quốc gia đó Do đó hoạt động của ngân hàng chịu ảnh hưởng, sự kiểm soát chặtchẽ của Ngân hàng nhà nước
Trang 26Theo Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 06/1997/QHX, điều 37 về
“Nhiệm vụ và quyền hạn của Ngân hàng Nhà nước về quản lý ngoại hối” có quyđịnh rõ:
Trong việc quản lý ngoại hối, Ngân hàng Nhà nước có những nhiệm vụ vàquyền hạn sau đây:
- Xây dựng các dự án luật, pháp lệnh và các dự án khác về quản lý ngoại hối;ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối theo thẩm quyền
- Cấp, thu hồi giấy phép hoạt động ngoại hối
- Tổ chức, điều hành thị trường ngoại tệ liên ngân hàng và thị trường ngoại hốitrong nước
- Kiểm tra, thanh tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về quản lýngoại hối; kiểm soát việc xuất, nhập ngoại hối
- Kiểm soát việc hoạt động ngoại hối của các tổ chức tín dụng
- Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác về quản lý ngoại hối theo quyđịnh của pháp luật
Như vậy ta có thể thấy các hoạt động của ngân hàng nói chung và của hoạtđộng chuyển tiền quốc tế nói riêng phải tuân theo những quy định chặt chẽ của LuậtNgân hàng Nhà nước và những quy định của Ngân hàng Nhà nước
1.2.2.2 Nguyên tắc chuyển tiền ngoại tệ
Do các quy chế áp dụng đối với các hoạt động liên quan đến ngoại hối là rấtchặt chẽ, nên các nguyên tắc của phương thức này cũng được quy định rõ ràng, cónhững nguyên tắc chung cho tất cả các NHTM và có những nguyên tắc riêng
Nguyên tắc chung:
Người ra lệnh gửi đến ngân hàng phục vụ mình một lệnh yêu cầu trích tiền từtài khoản của mình trả cho người thụ hưởng xác định Lệnh chuyển tiền này có thểbằng văn bản gửi trực tiếp, bằng điện telex hay qua hệ thống thư điện tử trực tuyến,qua internet và được xác thực bằng một phương thức nào đó do NHTM quy địnhnhằm đảm bảo tính đúng đắn của yêu cầu chuyển tiền
Trang 27Dù dưới hình thức nào, lệnh chuyển tiền của khách hàng phải chứa đựng đầy
đủ các yếu tố bắt buộc sau:
- Tên và Số tài khoản của người ra lệnh
- Loại tiền
- Số tiền
- Ngày giá trị
- Nội dung chi trả
- Tên đầy đủ người hưởng
- Địa chỉ cụ thể người hưởng
- Số tài khoản của người hưởng
- Chữ ký hay Mã khoá của người ra lệnh
Các nguyên tắc đối với Ngân hàng khởi tạo giao dịch: khi khởi tạo giaodịch, Ngân hàng cần kiểm tra các yếu tố sau:
- Lệnh chuyển tiền có đúng xuất phát từ phía khách hàng không (đối chiếu qua
hồ sơ lưu) và vào thời điểm ấy khách hàng còn đủ năng lực pháp lý không?
- Số dư tài khoản của khách hàng có đủ đảm bảo thực hiện lệnh không?
- Lệnh có thể hiện đầy đủ, rõ ràng các nội dung cần thiết không?
Nguồn tiền đã được xử lý qua các nghiệp vụ trước đó như bán ngoại tệ, chovay bằng ngoại tệ, vốn bằng tiền của khách hàng
Sau đó ngân hàng nghiên cứu chọn tuyến đường tối ưu để chuyển lệnh với yêucầu thời gian và chi phí tối thiểu, qua các ngân hàng đại lý trung gian thích hợpcũng như bằng phương pháp thích hợp (thường hay khẩn)
Đối với Ngân hàng thụ hưởng:
Khi nhận được lệnh chuyển tiền đến phải kiểm tra các chữ ký, khóa bảo mật(nếu có), cùng nội dung chi tiết của bức điện Nếu mọi yếu tố đều được thoả mãnmới ghi có tài khoản của khách hàng rồi thông báo cho khách hàng
Các nguyên tắc riêng
Chuyển tiền ngoại tệ là một trong số những phương thức thanh toán quốc tế,phần lớn phục vụ hoạt động ngoại thương giữa các quốc gia, khu vực, do đó, khi
Trang 28các ngân hàng tham gia thanh toán quốc tế còn phải tuân theo những quy định riêngcủa từng quốc gia, khu vực mà mình thanh:
Quy định của từng quốc gia, khu vực:
Hiện nay một số quốc gia, khu vực có những quy định riêng như:
- Theo thông báo của các Ngân hàng Châu Âu (EU), kể từ năm 2005 tất cả cácđiện thanh toán bằng đồng EUR mà họ nhận được nếu không được xử lý tự động thìcác ngân hàng xử lý điện sẽ thu phí từ 5 – 30 EUR cho một giao dịch
Ví dụ: Khi ngân hàng Châu Âu nhận được điện thanh toán chỉ thị thanh toáncho người thụ hưởng thuộc các quốc gia Châu Âu mà trong điện không cung cấp sốtài khoản IBAN của người thụ hưởng thì ngân hàng đó sẽ thu 25EUR phí Ngoài ra,nếu điện chuyển tiền có cung cấp số tài khoản IBAN của người thụ hưởng thì cũngkhông được để khoảng trống, dấu chấm, dấu phẩy…
- Lệnh cấm vận của nước Mỹ:
Chính phủ Mỹ chỉ thị cho tất cả các ngân hàng trên nước Mỹ, các chi nhánhcủa ngân hàng Mỹ ở nước ngoài và trong một số trường hợp cụ thể với các đại lý củangân hàng Mỹ ở nước ngoài phải thực hiện đúng lệnh cấm vận kinh tế do Cục ngânsách Mỹ quản lý tài sản nước (OFAC) đưa ra và đã được Chính phủ phê chuẩn Những nước bị Mỹ cấm vận là: Cuba, Iran, Iraq, Libya, Sudan, Liberia, Syria
… và một số tổ chức, cá nhân khác Danh sách này có thể thay đổi theo thời giantuỳ theo chính sách của Mỹ
Nếu các ngân hàng này nhận được lệnh thanh toán, giao dịch có liên quan đếnnhững quốc gia này, hàng hoá có nguồn gốc hoặc được vận chuyển từ, chuyển đếnhoặc chuyển qua những nước này thì lệnh thanh toán, giao dịch đó sẽ bị phong toả
1.2.2.3 Các hình thức chuyển tiền ngoại tệ:
Trước đây, các hình thức chuyển tiền ngoại tệ được sử dụng như thư tín (mailtransfer – M/T), về sau là điện tín, telex (telegraphic transfer remittance – TTR)Hiện nay chuyển tiền ngoại tệ đã có thêm nhiều hình thức như:
Thanh toán qua hệ thống SWIFT (Society for Worldwide Interbank FinancialTelecommunication - Hiệp hội viễn thông tài chính liên ngân hàng toàn cầu):
Trang 29SWIFT là một tổ chức do 239 ngân hàng của 15 quốc gia thành lập vào năm 1973với mục tiêu là tiêu chuẩn hoá các giao dịch telex Họ khai thác công nghệ máy tính
và viễn thông để truyền những bức điện tài chính đã được chuẩn hoá theo một tiêuchuẩn Swift chung (Swift standard) , đảm bảo việc truyền nhận các bức điện mộtcách an toàn và chính xác Hiện nay, SWIFT cung cấp những nền tảng viễn thông,sản phẩm và dịch vụ độc quyền cho phép các tổ chức tài chính kết nối và trao dổithông tin tài chính với nhau một cách an toàn, bảo mật và đáng tin cậy SWIFT cònđóng vai trò như chất xúc tác đưa các tổ chức tài chính lại gần nhau hơn cùng hợp tác.SWIFT cho phép các tổ chức tài chính tự động hóa và tiêu chuẩn hóa các giaodịch tài chính, nhờ đó, giảm thiểu chi phí, rủi ro và tăng tính hiệu quả
SWIFT hiện đang cung cấp dịch vụ cho hơn 9000 tổ chức tài chính, bao gồmcác ngân hàng, các công ty chứng khoán, và các tổ chức cá nhân tại 209 nước trênthế giới và lượng điện lên đến hàng triệu bức điện mỗi ngày
Thanh toán qua hệ thống CHIPS (Hệ thống thanh toán bù trừ liên ngân hàng):
là một hệ thống thanh toán chuyển tiền liên ngân hàng bằng mạng máy tính doTrung tâm thanh toán bù trừ New York thành lập CHIPS thường được sử dụng vớicác giao dịch chuyển tiền quốc tế có giá trị cao, áp dụng cho khách hàng hay chinhánh của các thành viên trong hệ thống Hiện nay hệ thống có khoảng 94 thànhviên Mỗi thành viên này lại có thể có các thành viên con là các ngân hàng, chinhánh và những khách hàng ở khắp nơi trên thế giới khi họ mở tài khoản tại cácthành viên Tất cả các thành viên đều có mã nhận dạng do CHIPS cung cấp nhằmtạo thuận lợi khi thực hiện các giao dịch chuyển tiền cho các thành viên của tổ chức.Các ngân hàng, thị trường tiền tệ, quỹ tương trợ, những người buôn bán chứngkhoán và các công ty cũng có thể chuyển khoản nhờ hệ thống này
Thanh toán qua Fedwire, hệ thống thanh toán điện tử hay Chuyển khoản Liênbang do Cơ quan dự trữ liên bang Mỹ thành lập Hệ thống cho phép mọi tổ chức tàichính có mở những tài khoản ở Dự trữ Liên bang thực hiện chuyển khoản từ tổ chứcnày sang tổ chức kia Fedwire sử dụng hệ thống tài khoản để nhận dạng các thànhviên trong hệ thống Hiện nay Fedwire có khoảng 9400 ngân hàng thành viên trong
Trang 30đó khoảng 7800 thành viên đang thực hiện giao dịch trực tuyến thông qua mạngđiện tử nối trực tiếp với hệ thống Fedwire Các ngân hàng này có thể gửi và nhậncác giao dịch trực tiếp và được thông báo ngay lập tức Có khoảng 1600 thành viênkhông tham gia nối mạng trực tuyến Hệ thống Fedwire thông báo cho những ngânhàng này bằng điện thoại Do đó sẽ mất nhiều thời gian hơn để người hưởng nhậnđược tiền
Thanh toán bằng Hối phiếu: Hối phiếu là một mệnh lệnh đòi tiền vô điều kiện
do một người ký phát cho người khác, yêu cầu người này khi nhìn thấy hối phiếuhoặc đến một ngày cụ thể nhất định hoặc đến một ngày có thể xác định trong tươnglai phải trả một số tiền nhất định cho một người nào đó hoặc theo lệnh của ngườinày trả cho người khác hoặc trả cho người cầm hối phiếu
Trên hối phiếu không cần phải ghi nội dng quan hệ tín dụng tức nguyên nhânsinh ra việc lập hối phiếu, mà chỉ cần ghi rõ số tiền phải trả và những nội dung cóliên quan đến việc trả tiền ấy mà thôi
Người trả tiền hối phiếu phải trả tiền theo đúng nội dung ghi trên hối phiếu.Người trả tiền không thể viện những lý do riêng của mình đối với người phát phiếu,người ký nhận mà từ chối trả tiền, trừ trường hợp hối phiếu được lập ra trái với đạoluật chi phối nó
Hối phiếu có thể được chuyển nhượng một hay nhiều lần trong thời hạn của nó.Chuyển tiền qua Western Union: Sơ khai là một công ty điện báo được thànhlập năm 1851 Sau một thời gian thành lập, công ty này đã hòan thành việc xâydựng đường truyền điện tín xuyên lục địa Năm 1943 mua lai công ty điện tín bưuđiện và đến năm 1981 trở thành công ty chuyển tiền tòan cầu Hiện nay công ty này
đã có hơn 170.000 đại lý tại hơn 200 quốc gia Những đại lý của Western Union lànhững đơn vị kinh doanh độc lập cung cấp dịch vụ chuyển tiền đến khách hàng Đại
lý Western Union là những cửa hàng bán lẻ, cửa hàng rau quả, trung tâm bưu điện,hiệu thuốc, đại lý du lịch và những địa điểm khác
Người chuyển tiền có thể gửi tiền tại bất kỳ đại lý nào của dịch vụ chuyển tiềnnhanh Western Union mà không cần phải có thẻ tín dụng, gửi tiền vào tài khỏan,
Trang 31mở tài khỏan ngân hàng, thẻ hội viên, Khách hàng sẽ nhận được tiền ở một trongnhững điểm chi trả Western Union ngay sau khi có thông tin của người gửi Việcchuyển tiền trong mỗi giao dịch khoảng từ 5 đến 15 phút Khách hàng rút tiền cầnxuất trình thẻ căn cước còn hiệu lực hay vài trường hợp trả lời câu hỏi phụ đượccung cấp bởi người gửi tiền.
Chuyển tiền qua Internet banking: Internet banking là kênh giao dịch củaNgân hàng điện tử sử dụng môi trường Internet để cung cấp dịch vụ cho khách hàngvới các nền tảng cơ sở hạ tầng an ninh, bảo mật đặc biệt
Đối tượng sử dụng dịch vụ internet banking là các cá nhân, tổ chức mở tàikhoản tại ngân hàng, có đăng ký sử dụng dịch vụ internet banking và chấp thuận cácđiều khoản và điều kiện sử dụng dịch vụ internet banking của ngân hàng
Khách hàng có thể sử dụng dịch vụ internet banking để vấn tin tài khoản, insao kê, vấn tin nhật ký giao dịch, chuyển khoản, thanh toán hoá đơn, trả nợ, đơn mởđiện thanh toán, đơn mở L/C, …
1.2.2.4 Quy trình chuyển tiền ngoại tệ
Quy trình chuyển tiền ngoại tệ nói chung phải gồm 4 thành phần chính thamgia là:
- Người yêu cầu chuyển tiền (ordering customer): là người ra lệnh chuyển tiền,
có thể là khách hàng chủ tài khoản hay chính bản thân ngân hàng
- Ngân hàng khởi tạo, thực hiện lệnh chuyển tiền
- Ngân hàng thụ hưởng, ngân hàng đích (target bank) tiếp nhận lệnh chuyểntiền để chi trả cho người hưởng
- Người hưởng (beneficiary) là người nhận tiền
Giữa hai ngân hàng nơi giữ tài khoản của người yêu cầu chuyển tiền và ngườinhận tiền có thể có các ngân hàng trung gian (intermediary bank) làm đại lý chomỗi bên
Có thể khái quát quy trình theo sơ đồ sau:
Trang 32Sơ đồ 1.1: Sơ đồ phương thức thanh toán chuyển tiền
(1) Người ra lệnh có nhu cầu chuyển tiền, thanh toán cho người hưởng (thôngqua ký kết hợp đồng thương mại, hoặc các mục đích phi thương mại khác)
(2) Người ra lệnh yêu cầu ngân hàng nơi mình mở tài khoản chuyển tiền chongười hưởng ở nước ngoài
(3) Ngân hàng phục vụ người ra lệnh thông qua ngân hàng đại lý của mình ởnước ngoài để chuyển tiền đến ngân hàng phục vụ người bán
(4) Ngân hàng phục vụ người hưởng nhận được báo có thực hiện chi trả tiềncho người hưởng
1.2.2.5 Vai trò của chuyển tiền ngoại tệ đối với NHTM
Chuyển tiền ngoại tệ đang ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong hoạtđộng thanh toán quốc tế của NHTM Trong xu thế này nay, khi hoạt động thanhtoán quốc tế đang ngày càng chiếm vị trí cao trong hoạt động của NH, thì chuyểntiền ngoại tệ lại càng có mối liên hệ mật thiết với các phương thức thanh toán quốc
tế khác Vai trò của chuyển tiền ngoại tệ được thể hiện như sau:
Trước tiên, chuyển tiền ngoại tệ là hoạt động trực tiếp tạo ra một khoản lợinhuận không nhỏ đóng góp vào lợi nhuận chung của ngân hàng Thông qua cungcấp dịch vụ cho khách hàng, các NHTM thu được phí dịch vụ chuyển tiền Thực tếcho thấy, đối với các NHTM hiện đại, thu nhập từ phí dịch vụ có xu hướng trở
NH đại lý trung gian
NH đại lý trung gian(1)
Trang 33thành nguồn thu chính của Ngân hàng, và đang ngày càng tăng cả về số lượng và tỷtrọng trong tổng thu nhập của ngân hàng Phí dịch vụ cũng chính là mục tiêu mà cácNHTM luôn hướng tới.
Thứ hai, chuyển tiền ngoại tệ không chỉ là một nghiệp vụ ngân hàng thuần tuý
mà còn đóng vai trò là khâu trung tâm không thể thiếu trong một chu trình thanhtoán quốc tế Nó bổ sung và hỗ trợ cho các hoạt động nghiệp vụ khác của ngânhàng, đặc biệt là hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu, do đó, nó gián tiếp tạo ra lợinhuận từ các hoạt động này Đẩy mạnh hoạt động chuyển tiền ngoại tệ, các NHTM
có thể tăng khả năng thu hút nguồn vốn ngoại tệ thông qua việc thanh toán thu tiền
về cho khách hàng, đồng thời, quản lý số dư ngoại tệ nhàn rỗi tạm thời trên tàikhoản tiền gửi ngoại tệ của khách hàng, từ đó đáp ứng được nhu cầu mua bán, chovay và thanh toán bằng ngoại tệ Với vai trò là trung gian thanh toán, chuyển tiềnngoại tệ có mối liên hệ mật thiết, góp phần phát triển và đẩy mạnh hoạt động tíndụng, tài trợ thương mại, kinh doanh ngoại tệ, bảo lãnh và các dịch vụ khác
Ba là, chuyển tiền tạo môi trường ứng dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại trênthế giới trong hoạt động ngân hàng Thông qua việc tham gia kết nối thanh toán,chuyển tiền ngoại tệ với các tổ chức tín dụng, các ngân hàng đại lý trên toàn thếgiới, các NHTM trong nước có thể tận dụng, học tập được các ứng dụng công nghệ
về chuyển tiền ngoại tệ của các NH đối tác nước ngoài, cũng như, sử dụng nhữngsản phẩm chuyển tiền ngoại tệ điện tử do các NH đối tác phát triển và cung cấp.Đặc biệt, trong kỷ nguyên công nghệ thông tin ngày nay, các NHTM cần phải tựtrang bị cho mình hệ thống công nghệ thông tin hiện đại, ứng dụng những côngnghệ mới trong xử lý thông tin và trong giao dịch, giúp cho NH có thể bắt kịp với
sự phát triển của thế giới, không bị thua kém các Ngân hàng nước ngoài Có nhưvậy, các NHTM trong nước mới có đủ năng lực công nghệ để tham gia kết nốithanh toán với các tổ chức tín dụng quốc tế Có thể nói, chuyển tiền ngoại tệ tạođiều kiện để thúc đẩy công nghệ thông tin tiên tiến, giao lưu về công nghệ giữa cácNHTM trong nước và NH nước ngoài phát triển
Trang 34Chuyển tiền ngoại tệ còn góp phần tăng cường khả năng cạnh tranh của ngânhàng trong cơ chế thị trường trong lĩnh vực thanh toán xuất nhập khẩu, giúp chohoạt động ngân hàng vượt ra khỏi phạm vi quốc gia và hoà nhập với khu vực vàthế giới.
Như vậy, chuyển tiền ngoại tệ thực sự có vai trò then chốt trong hoạt độngthanh toán quốc tế của NHTM, không những đem lại nguồn thu đáng kể từ phí dịch
vụ, góp phần mở rộng mối quan hệ quốc tế cho NH, mà còn là một mắt xích quantrọng trong một chu trình thanh toán Nếu thiếu đi chuyển tiền ngoại tệ, thì cácphương thức thanh toán quốc tế khác không thể hoàn tất được Ngoài ra, chuyểntiền ngoại tệ còn là phương thức hỗ trợ cho mọi hoạt động khác trong NH như bảolãnh, tín dụng, kinh doanh ngoại tệ Sự phát triển của chuyển tiền ngoại tệ có ýnghĩa quan trọng đối với các hoạt động kinh doanh đối ngoại của NHTM
Tóm lại, trong xu thế quốc tế hoá, toàn cầu hoá như hiện nay, với chính sách
mở cửa hội nhập quốc tế và khu vực, các hoạt động kinh tế đối ngoại nói chung vàhoạt động thương mại, đầu tư nói riêng của nước ta với các nước trên thế giới đã vàđang ngày càng mở rộng và phát triển Để đáp ứng nhu cầu đó, đòi hỏi hoạt độngthanh toán quốc tế của các NHTM cần phải được mở rộng và phát triển, trong đóchuyển tiền ngoại tệ là một công cụ trọng tâm, cần được chú trọng hoàn thiện Tuynhiên, cũng trong quá trình hội nhập đó, phương thức chuyển tiền ngoại tệ của cácNHTM còn bộc lộ nhiều điểm yếu, chưa đáp ứng được đầy đủ nhu cầu thanh toánquốc tế trong nước Để có thể đánh giá một cách toàn diện hoạt động của phươngthức chuyển tiền ngoại tệ, đòi hỏi chúng ta phải có sự nhìn nhận đúng đắn về cơ sở
lý luật Trong chương 1 luận văn đã tập trung phản ánh các vấn đề sau:
- Hệ thống hoá được những vấn đề cơ bản về hoạt động thanh toán quốc tếcủa NHTM: Khái niệm, đặc điểm, vai trò và các phương thức thanh toán quốc tế
- Các vấn đề liên quan đến phương thức chuyển tiền ngoại tệ: Khái niệm, Đặcđiểm, Vai trò, Lợi ích, Cơ sở pháp lý và các hình thức chuyển tiền ngoại tệ
Trang 35CHƯƠNG II THỰC TRẠNG PHƯƠNG THỨC CHUYỂN TIỀN NGOẠI TỆ TẠI
NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM
2.1 Tổng quan về Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam
2.1.1 Giới thiệu chung về Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam
2.1.1.1 Sơ lược quá trình thành lập
Ngân hàng thương mại cổ phần Công thươnng Việt Nam, tên giao dịch bằngquốc tế tiếng Anh là Vietnam Bank for Industry and Trade (viết tắt là Vietinbank) làngân hàng thương mại cổ phần được thành lập trên cơ sở phần vốn nhà nước vẫnchiếm trên 50%
NHTMCP Công Thương Việt Nam được thành lập ngày 3 tháng 7 năm 2009theo Giấy phép thành lập và hoạt động số 142/GP-NHNN của Ngân hàng nhà nước
và Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0103038874 ngày 3 tháng 7 năm 2009của Sở kế hoạch và Đầu tư Hà Nội
Ngân hàng được thành lập trên cơ sở cổ phần hóa Ngân hàng Công thươngViệt Nam, là một Ngân hàng thương mại nhà nước được thành lập theo quyết định
số 402/CT ngày 14 tháng 11 năm 1990 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng và đượcthống đống Ngân hàng nhà nước ký quyết định Số 285/QĐ-NH5 ngày 21 tháng 9năm 1996 thành lập lại theo mô hình tổng công nhà nước
Ngày 25 tháng 12 năm 2008, NHTMCP CTVN đã thực hiện thành công việcchào bán cổ phần lần đầu ra công chúng (IPO).Tại thời điểm chuyển đổi thành Ngânhàng thương mại cổ phần, tổng số lượng cổ phiếu phát hành cho các cổ đông bênngoài là 121,211,780 đơn vị, chiếm 10.77% vốn điều lệ
Hoạt động chính của ngân hàng là thực hiện các giao dịch Ngân hàng baogồm: Huy động và nhận tiền gửi ngắn hạn, trung hạn và dài hạn từ các tổ chức và cánhân; Cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn đối với các tổ chức và cá nhân trên
cơ sở tính chất và khả năng nguồn vốn của Ngân hàng; Thực hiện các giao dịchngoại tệ, các dịch vụ Tài trợ thương mại quốc tế, chiết khấu thương phiếu, trái phiếu
Trang 36và các giấy tờ có giá khác, các dịch vụ ngân hàng khác được NHNN Việt Nam cho phép.Hiện nay, NHTMCP CTVN đã phát triển được hơn 400 chi nhánh trên toànquốc với gần 12000 cán bộ công nhân viên trong toàn hệ thống NHTMCP CTVN
là một trong bốn Ngân hàng lớn nhất tại Việt Nam
2.1.1.2 Tình hình vốn điều lệ NHTMCP CTVN
Vốn điều lệ của NHTMCP CTVN theo giấy phép thành lập số 142/GP-NHNNngày 3 tháng 7 năm 2009 là 11,252,973 triệu đồng, trong đó phần vốn nhà nướcchiếm 10,040,855 triệu đồng và vốn các nhà đầu tư bên ngoài thông qua đợt pháthành cổ phiếu lần đầu là 1,212,118 triệu đồng
Một số số liệu về tình hình hoạt động của NHTMCP CTVN tính đến thời điểmngày 30 tháng 6 năm 2010 như sau:
(Nguồn: Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam)
Biểu đồ 2.1: Tình hình Vốn chủ sở hữu NHTMCP CTVN (Đơn vị: tỷ đồng)
Trang 37(Nguồn: Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam)
Biểu đồ 2.2: Tổng Tài sản (Đơn vị: tỷ đồng)
(Nguồn: Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam)
Biểu đồ 2.3: Lợi nhuận sau thuế (tỷ đồng)
Trang 382.1.1.3 Mô hình tổ chức của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam
Mô hình hoạt động của NH TMCP CTVN
Sau khi triển khai chương trình hiện đại hóa ngân hàng và hệ thống thanh toántrên toàn hệ thống, NH TMCP CTVN hoạt động theo mô hình sau:
Sơ đồ 2.1 Mô hình hoạt động NHTMCP CTVN
Hệ thống giao dịch của NHTMCP CTVN là hệ thống tập trung, trong đó, dữliệu được tập hợp về Trụ sở chính, và chỉ duy trì duy nhất một Sở giao dịch, thựchiện các chức năng nhiệm vụ như một trung tâm thanh toán quốc tế - tài trợ thươngmại Các chi nhánh chịu trách nhiệm trực tiếp quản lý các Phòng giao dịch, Quỹ tiếtkiệm của chi nhánh mình
Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam được quản lý bởi Hội đồng quảntrị, điều hành bởi Ban điều hành, với mạng lưới rộng khắp trên toàn quốc là các chinhánh thành viên hạch toán phụ thuộc
Sau hơn 20 năm hoạt động và phát triển, NH TMCP Công thương Việt Nam
đã không ngừng lớn mạnh với tổng số lao động hiện nay là gần 12.000 người vàmạng lưới kinh doanh rộng khắp trên toàn quốc bao gồm 1 trụ sở chính, 1 sở giaodịch (tại Hà Nội), hơn 150 chi nhánh tại khắp 51 tỉnh, thành phố và trung tâmthương mại trong cả nước và hơn 900 phòng giao dịch, quỹ tiết kiệm Ngoài ra,NHTMCP Công thương Việt Nam còn có các đơn vị trực thuộc gồm 2 đơn vị sự
Phòng giao dịchQuỹ tiết kiệm
Sở giao dịch Chi nhánh VP đại diện Đơnvị sự nghiệp
TRỤ SỞ CHÍNH
Cty trực thuộc
Trang 39nghiệp là Trường đào tạo nguồn nhân lực, Trung tâm công nghệ thông tin và 3 đơn
vị hạch toán độc lập là Công ty Cho thuê tài chính, Công ty Cổ phần Chứng khoán(NHTMCP Công thương sở hữu 75.6% vốn) và Công ty Quản lý và khai thác tàisản Ngoài ra, NHTMCP Công thương Việt Nam còn là đồng sáng lập và là cổ đôngchính của Ngân hàng liên doanh INDOVINA, Công ty Cho thuê Tài chính Quốc tế(VILC), Công ty Liên doanh Bảo hiểm Châu á - Ngân hàng Công thương Hiệnnay, NHTMCP Công thương Việt Nam là thành viên chính thức của Hiệp hội cácngân hàng Châu á (ABA) từ năm 1994, thành viên chính thức của Hiệp hội VISA,MASTERCARD, Hiệp hội các ngân hàng Việt Nam, Phòng thương mại và côngnghiệp Việt Nam
NH TMCP Công thương Việt Nam là một trong những ngân hàng thương mạiViệt Nam đi đầu trong việc đổi mới kỹ thuật và công nghệ thông tin ngân hàng theohướng ngân hàng hiện đại, là thành viên của Hiệp hội thanh toán viễn thông liênngân hàng toàn cầu (SWIFT) từ năm 1995, là một trong những NH đi tiên phongtrong công cuộc phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử theo hướng chuyên nghiệp,hiện đại
Để tiếp tục phát huy nội lực vốn có, và đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi ngày càngcao của thị trường trong nước, quốc tế và đặc biệt là để thoả mãn khách hàng, từngày 03/11/2003 NHTMCP Công thương Việt Nam đã chính thức đưa hệ thốnghiện đại hoá ngân hàng và hệ thống thanh toán của NHCTVN (viết tắt là INCAS)vào thí điểm hoạt động tại 4 chi nhánh ở Hà Nội Và đến tháng 7 năm 2006, hệthống hiện đại hóa Ngân hàng đã được triển khai ở hầu hết các chi nhánh trên toànquốc, kết thúc giai đoạn I quá trình hiện đại hóa Từ đây, NHTMCP CTVN đã bướcsang một trang mới về năng lực công nghệ, là một trong những Ngân hàng có nềntảng công nghệ tiên tiến hàng đầu trong cả nước, đi đầu trong việc ứng dụng côngnghệ mới trong mọi hoạt động kinh doanh của ngân hàng Cho đến nay, tất cả cácchi nhánh của NHTMCP CTVN đều đã được triển khai hiện đại hóa
NHTMCP CTVN vẫn đang liên tục mở rộng các loại hình kinh doanh, đa dạnghóa các sản phẩm dịch vụ, tiến tới mô hình tập đoàn đa ngành Trong tương lai gần,NHTMCP CTVN chuẩn bị thành lập các công ty con như: Công ty kinh doanh
Trang 40vàng; Công ty quản lý quĩ; Công ty liên doanh Bảo hiểm nhân thọ; Công ty quản
lý, khai thác tài sản & Kinh doanh bất động sản; Ngân hàng liên doanh hồi giáo
Về cơ cấu tổ chức của Trụ sở chính, có thể mô hình hóa cụ thể như sau:
Sơ đồ 2.2: cơ cấu tổ chức TSC – NHTMCP CTVN
2.1.2 Khái quát hoạt động thanh toán của NHTMCP Công thương VN
2.1.2.1 Giới thiệu về hệ thống thanh toán của NHTMCP CTVN
Hệ thống thanh toán của NHTMCP Công thương Việt Nam có những thay đổi
cơ bản kể từ khi đưa hệ thống hiện đại hóa ngân hàng vào vận hành Nhờ đó, tìnhhình thanh toán của NHCT cũng được cải thiện đáng kể Hệ thống thanh toán củaNHCT trước và sau hiện đại hóa đã có những bước tiến rõ rệt như sau:
Trước khi triển khai hiện đại hóa ngân hàng:
Trước khi triển khai Hiện đại hóa Ngân hàng, hệ thống thanh toán của NHCTkhông được tổ chức một cách chặt chẽ Cùng một phương thức thanh toán như