1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu NHỮNG BIẾN ĐỔI VỀ CƠ CẤU XÃ HỘI VÀ BẢN SẮC VĂN HÓA

18 439 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 588 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NHỮNG BIẾN ĐỔI VỀ CƠ CẤU XÃ HỘI VÀ BẢN SẮC VĂN HÓA TRONG QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI CỦA CÁC DÂN TỘC BẢN ĐỊA Ở TÂY NGUYÊN VIỆT NAM 1.. - Hai dân tộc nói trên đều có truyền thống văn hóa rất lâu đ

Trang 1

NHỮNG BIẾN ĐỔI VỀ CƠ CẤU XÃ HỘI VÀ BẢN SẮC VĂN HÓA TRONG QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI CỦA CÁC DÂN TỘC BẢN ĐỊA

Ở TÂY NGUYÊN VIỆT NAM

1 Đặt vấn đề

Tây Nguyên được xác định trên bản đồ Việt Nam là từ quần sơn Ngọc Linh, cực Bắc tỉnh Kon Tum, giáp với tỉnh Quảng Nam, chạy dọc biên giới Lào -Cămpuchia xuống đến hết Cao nguyên Lâm Viên Nếu tính từ Bắc xuống Nam, Tây Nguyên có các tỉnh: Kom Tum ở cực Bắc, Gia Lai, Đak lăk ở Trung và Đăk Nông, Lâm Đồng ở Nam Tây Nguyên Trên núi rừng bao la, hùng vĩ này có nhiều dân tộc bản địa quần cư khá lâu đời, như: Giẻ-Triêng, B’râu, Rơ măm, Gia rai, Ba na, Xơ đăng, Êđê, Mnông, Mạ, Chu ru, Cơ ho Mỗi dân tộc nói trên đều thuộc một trong hai ngữ hệ Malayo - polynésien và Môn - Khmer

Hai dân tộc Gia rai và Ba na tiêu biểu cho hai ngữ hệ ở Tây Nguyên Người Gia rai thuộc ngữ hệ Malayo - Polynésien và có số dân đông nhất Tây Nguyên, khoảng 350 ngàn người Riêng tỉnh Gia Lai, người Gia rai có khoảng

250 ngàn người Còn người Ba na có số dân đông thứ ba ở Tây Nguyên, sau người Gia rai và Êđê, nhưng lại đứng đầu ngữ hệ Môn-Khmer, với khoảng 150 ngàn người Riêng ở tỉnh Gia Lai, người Ba na có khoảng 120 ngàn người Như vậy có thể xem tỉnh Gia Lai là địa bàn cư trú tập trung nhất của hai dân tộc Gia rai và Ba na ở Tây Nguyên Việt Nam1

Do phạm vi của đề tài không cho phép nghiên cứu tất cả các dân tộc trên Tây Nguyên, nên chúng tôi chọn tỉnh Gia Lai, nơi tập trung hai dân tộc đứng đầu hai hệ ngôn ngữ để nghiên cứu trường hợp, căn cứ vào những tiêu chí quan trọng sau đây:

- Hai dân tộc Gia rai và Ba na quần cư khá tập trung trên hai khu vực rộng lớn của tỉnh Gia Lai Người Gia rai sống ở phía Nam và Tây Nam tỉnh Gia Lai, thuộc các huyện liền kề nhau: Krông pa, AJunpa, Chư sê, Chư prông, Chư păh, Đức cơ và thành phố Pleiku Người Ba na lại sống ở phía Đông Bắc của tỉnh, gồm các huyện: Mang Yang, Đăk Đoa, An Khê, Kon chro, Kbang2

- Hai dân tộc nói trên đều có truyền thống văn hóa rất lâu đời, đã trở thành

hệ thống luật tục khá chặt chẽ, được lưu truyền qua hàng ngàn năm lịch sử và đã chi phối, ảnh hưởng rất lớn đến các dân tộc bản địa khác trong vùng Tây Nguyên

- Nghiên cứu trường hợp ở hai dân tộc lớn, trên một địa bàn ở trung tâm Tây Nguyên sẽ có cơ sở khoa học để đánh giá sự biến đổi hiện đại về cơ cấu xã hội và bản sắc văn hóa trong các dân tộc của cả vùng Tây Nguyên Có thể xem đây là một mô hình để nghiên cứu và so sánh Khi cần thiết, vấn đề sẽ được xem xét trên bình diện chung của khu vực Tây Nguyên

Ngoài ra, đề tài còn đặt ra những vấn đề hết sức nóng bỏng đã và đang xảy

ra trong quá trình đổi mới ở Tây Nguyên hiện nay, mà cả người dân và chính quyền đang đứng trước những thách thức mới Hiện nay, Việt Nam đang thực

Trang 2

hiện công cuộc đổi mới toàn diện Những vấn đề về kinh tế-xã hội đang biến đổi từng ngày Từ đó kéo theo hàng loạt những biến đổi trong các lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo, văn hóa… Song vấn đề có tính cách nóng bỏng và mới mẻ nhất

là sự biến đổi do tác động của di dân tự do Người Kinh và các dân tộc ở miền núi phía bắc đổ về đây lập nghiệp, buộc người bản địa phải phân chia không gian ruộng đất Cùng với hàng loạt các dự án, công ty được thành lập, như: Công ty cao su, cà phê, lâm trường trồng rừng, khai thác gỗ… và vấn đề đô thị hóa đã tác động rất lớn đến đời sống người dân Đó là những nguyên nhân tạo ra nhiều mâu thuẫn và thách thức mới Trong tiến trình đổi mới đã nảy sinh ra hàng loạt vấn đề chưa thể khắc phục ngay được

Do nội dung mới nên cần có tư duy và cách tiếp cận nghiên cứu mới Những câu hỏi được đặt ra: Nội dung của sự biến đổi là gì? Và nguyên nhân của

sự biến đổi đó? Người Tây Nguyên cần gì, muốn gì? Qua bao đời lầm than, đói khổ và lạc hậu, nay là công dân của một quốc gia thống nhất, lại là người thiểu

số, họ có quyền được đòi hỏi có cuộc sống ấm no và hạnh phúc Chúng tôi cũng đặt ra các mô hình nghiên cứu: làng xen cư với người Kinh, làng không xen cư (thuần Gia rai hoặc Ba na), làng xen cư nhiều dân tộc khác nhau Từ đó áp dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học liên ngành và các chuyên ngành để so sánh, trả lời xác đáng những câu hỏi đã đặt ra Đặc biệt tìm ra những giải pháp phù hợp, khả thi cho vùng dân cư đặc thù và đặc biệt nhạy cảm này

2 Nội dung nghiên cứu

2.1 Nhận thức lại địa bàn nghiên cứu

Nhận thức về Tây Nguyên với cách miêu tả lại toàn bộ đời sống, phong tục của các cư dân, không khó Vấn đề là nhận thức đúng bản chất, điều kiện xã hội một cách khách quan, không áp đặt, không định kiến, không thiên vị Như vậy phải có cách nhìn khoa học và biện chứng mới có cơ may giải mã được những

“ẩn số” về Tây Nguyên nói chung và người Gia rai - Ba na nói riêng

2.1.1 Tây Nguyên cổ truyền

Vào khoảng giữa thế kỷ thứ 19 trở về trước, vùng đất này hoàn toàn là giang sơn của người Thượng Mỗi tộc người sống thành một khu vực cư trú riêng, lớn, nhỏ tùy theo số dân, số làng, được hình thành một cách tự nhiên Đơn

vị cơ bản, cao nhất và duy nhất của tổ chức xã hội là làng đồng tộc3

- Về kinh tế: Với kỹ thuật trồng lúa khô trên nương, rẫy, người Gia rai, Ba

na đã bước vào thời kỳ của nền văn minh nông nghiệp-hình thái “văn minh lúa khô nương rẫy cao nguyên” Cây lúa khô đã tạo nên các Plei (làng), và nó đã tồn tại suốt chiều dài lịch sử Tổ chức xã hội làng của người Gia rai, Ba na đều đạt đến trình độ đồng đều đáng kinh ngạc Không thấy sự khác biệt quá nhiều giữa các làng, dù là họ ở những địa phương cách xa nhau4

Phương thức canh tác cổ truyền của người Gia rai, Ba na là chặt cây, phá rừng, chưa biết dùng phân để canh tác, nên họ phải luân canh trên một diện tích

Trang 3

rừng rộng lớn Làng đã hình thành, nhà cửa đã ổn định nhưng có thể do dịch bệnh hoặc do nương rẫy đã cằn cỗi, là họ lại dời làng đi tìm nơi dựng làng mới Tuy nhiên, với kỹ thuật lúa khô đã đưa cư dân Gia rai, Ba na thoát khỏi nền kinh tế hái lượm nguyên thủy và bước vào xã hội tiền giai cấp, tiền quốc gia, tiền Nhà nước

Về tổ chức xã hội, làng cổ truyền Tây Nguyên mang tính biệt lập, gắn kết khá hoàn chỉnh và khép kín về khu vực canh tác, khu vực cư trú và sinh hoạt cộng đồng làng Tổ chức làng được vận hành hoàn toàn theo lệ tục, tập quán và kinh nghiệm lưu truyền Mỗi làng sống biệt lập và khép kín nên quan hệ giữa các làng không có gì đáng kể Đứng đầu mỗi làng có già làng, là những người đứng đầu các nóc nhà, có uy tín, được mặc nhiên giao phó một số công việc chung của làng khi cần thiết, không thông qua tuyển chọn, bầu cử Xã hội Tây Nguyên chưa

hề xuất hiện kinh thành đô thị, mà chỉ là một tập hợp khá vững chắc, có nề nếp,

có truyền thống rõ rệt, đã định hình và trở thành khuôn mẫu Nhờ vậy mà người Gia rai, Ba na đã sáng tạo nên một kho tàng văn hóa rất phong phú, đa dạng và độc đáo, cả về trữ lượng và thể loại5

Về đời sống vật chất, người Gia rai, Ba na dựa vào nguồn lương thực, thực phẩm sau đây, để thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của đời sống

- Nguồn chính do trồng trọt trên nương rẫy

- Nguồn do săn bắt, hái lượm những thức có sẵn trong thiên nhiên

- Nguồn do chăn nuôi, thuần dưỡng chế biến

Người Gia rai, Ba na tuy đã có nghề rèn, làm gốm, mộc nhưng kỹ thuật còn kém Đặc biệt là việc chế biến thức ăn còn sơ sài và mất vệ sinh Đồng bào không sử dụng nguồn thịt trâu, bò, lợn, gà chăn nuôi được phục vụ bữa ăn hàng ngày Có khi trong một dịp lễ hội họ giết hàng chục con trâu, bò cho dân làng ăn hết trong vài ngày, sau đó lại thiếu thốn cả năm Hoặc trong một lễ Pơ thi (bỏ mả)

cả làng giết thịt và ăn hết hàng chục con trâu, bò mà không hề dùng nước để rửa Gia súc thường nuôi ở gầm nhà sàn, rất mất vệ sinh Thức uống thường xuyên là rượu cần Sau mùa, lúa đã đầy bồ, đầy kho là những tháng ninh nơng (nghỉ ngơi), đồng bào làm rượu cần uống thỏa thuê, không hề nghĩ đến mùa sau, trời mưa bão

sẽ sống bằng gì Đồ mặc là do đồng bào tự trồng bông, kéo sợi và dệt lấy khố cho đàn ông và váy cho đàn bà Đây là công việc của phụ nữ, hầu như đã được phân công theo giới tính Còn đàn ông làm những công việc nặng nhọc như chặt cây, làm nhà, đan lát, săn bắn…6

Về văn hóa: Tín ngưỡng của người Gia rai, Ba na chưa trở thành tôn giáo,

mà chỉ là hình thái tín ngưỡng “đa thần” Họ chưa có bàn thờ cố định, chưa có hình tượng chân dung thần linh và chưa có lớp người chuyên hành nghề tôn giáo

Đi liền với tín ngưỡng “đa thần” là một loạt các lễ thức rất phiền phức và tốn kém Tất cả trâu, bò, lợn, gà, lương thực nuôi trồng được, vất vả quanh năm nhưng chủ yếu chỉ để cúng thần (Yàng) Người Gia rai, Ba na không quan niệm

Trang 4

“con trâu là đầu cơ nghiệp” như người Kinh, mà con trâu nuôi cho chóng lớn để dâng lên Yàng, biểu hiện của lòng tôn kính và sợ hãi của con người Vì Yàng có thể gieo phúc, giáng họa hay cho một mùa màng bội thu, cho con người thoát khỏi dịch bệnh7

Người Gia rai, Ba na tuy chất phác, bình dị nhưng lại có một khả năng sáng tạo văn hóa dồi dào và một đòi hỏi văn hóa nghệ thuật rất lớn Đặc biệt là kho tàng văn học dân gian và nghệ thuật diễn xướng.Vốn văn nghệ dân gian của

họ vừa cổ truyền vừa hiện đại, rất phù hợp với đời sống hiện nay Người Gia rai,

Ba na rất say mê âm nhạc, ca hát, nhảy múa và kể chuyện Đối với họ nếu thiếu tiếng ca, điệu nhạc như thiếu cơm ăn, nước uống hằng ngày Đêm đêm, quanh ngọn lửa hồng, bập bùng dưới mái nhà Rông ấm cúng, những ông già kể chuyện cho con cháu nghe (Hơ ri của người Gia rai, Hơmaon của người Ba na, Khan của người Êđê) Đó là những thiên sử thi bất hủ, ca ngợi những nhận vật kỳ vĩ, là người con dũng cảm, không sợ hi sinh, chiến đầu bảo vệ cộng đồng và tình yêu trong sáng thủy chung Những thiên sử thi ấy “cao vời vợi như đỉnh núi Chư pông, trong suốt như dòng nước sông Ba, tỏa hương thơm ngào ngạt như mùa hoa Ê pan nở trắng giữa núi rừng Tây Nguyên” Người Gia rai, Ba na còn có một kho tàng dân ca với nhiều hình thức hát khác nhau Rồi ca dao, tục ngữ, thành ngữ, lời nói vần, kho tàng truyện cổ tích… Mỗi bài ca như một trang sử sinh động, ghi lại những bước thăng trầm của cuộc sống con người8 Họ còn sáng tạo

ra một kho tàng nhạc khí rất phong phú, đa dạng, thuộc nhiều loại, nhiều họ, nhiều nhóm và được chế bằng nhiều chất liệu khác nhau Từ đá, tre, nứa, gỗ, dây rừng đến đồng, chì, gang, sắt và các hợp kim khác9 Nghệ thuật dân gian Gia rai,

Ba na còn nổi bật ở mảng điêu khắc và kiến trúc, phương pháp chế tạo và sử dụng nhà mồ, tượng mồ, tạo hoa văn trên trên vải, trên đồ đan lát, trên mái nhà Rông… Đặc biệt, phải kể đến những con rối giật, biểu tượng của lòng khao khát

tự do và những pho tượng mồ rất thô phát mà gợi mở, sống động Có thể coi như một quần thể văn hóa sống động khép kín với lối kiến trúc mang bản sắc Tây Nguyên dị biệt Múa dân gian Gia rai, Ba na còn rất nguyên sơ Kể cả khi sắp giết một con vật, người ta múa chung quanh nó để xin lỗi, coi như số nó phải chết chứ con người không hề muốn thế Ở đây còn là một di chỉ văn hóa, qua các công trình khai quật khảo cổ học ở Biển Hồ, Trà Dôm (Pleiku), đã thu được nhiều hiện vật đá mới, đồ gốm10 Hiện nay còn có di vật, di tích lịch sử của người Chàm, hiện tượng Vua Lửa (Potau Pui), Tây Sơn Thượng Đạo…

Về phong tục tập quán: Người Gia rai, Ba na có một hệ thống lễ thức tín ngưỡng bao quanh “vòng đời người” và “vòng cây trồng” Mỗi loại phong tục được bố trí như những vòng tròn khép kín và liên kết với nhau rất chặt chẽ

- Loại phong tục theo “vòng đời người” có các lễ thức: Khi đứa trẻ cất tiếng khóc chào đời có lễ “thổi tai” công nhận đứa trẻ vào cộng đồng và cầu xin các Thần cho con tôi hay ăn, chóng lớn, chân bước theo kịp gió, mưa, có sức

Trang 5

khỏe hơn người và làm ăn giàu có, con cháu đầy nhà, hạnh phúc muôn đời… Khi lớn lên tổ chức lễ “Cà răng căng tai”, công nhận đứa trẻ đã trưởng thành Khi lấy

vợ, lấy chồng có lễ “trao vòng” Đến tuổi già, tổ chức lễ “Mơ pú” (cầu mong sức khỏe) Khi chết tổ chức lễ tang Cuối cùng là lễ “Pơ thi” (bỏ mả) Sau lễ này người đời mới thực sự lãng quên người đã khuất và người góa bụa mới được

“giải phóng”, có quyền đi lấy vợ, lấy chồng mới

- Lễ phong tục theo “vòng cây trồng” bắt đầu bằng lễ chọn đất Khi đã chọn được một cánh rừng làm rẫy mới, người ta mang lễ vật cầu xin thần rừng, thần đất, thần núi, thần cây hãy phù hộ cho con người trồng được nhiều lúa, ngô đầy rẫy, đầy kho Tiếp đến là lễ phát rẫy, lễ đốt rẫy, lễ gieo hạt, lễ cầu mưa Khi thu hoạch có lễ mừng lúa mới, lễ chất thóc vào kho… Ngoài ra, người Gia rai, Ba

na còn có các loại lễ thức khác, như lễ đâm trâu tạ ơn, đâm trâu mừng chiến thắng, lễ cúng bến nước, lễ mừng nhà mới, lễ mừng nhà Rông mới, lễ cúng trừ tà

ma, dịch bệnh…11

- Trong quan hệ gia đình, dấu vết của chế độ mẫu hệ còn khá rõ nét Người đàn bà lớn tuổi trong nóc có quyền định đoạt mọi công việc trong một gia đình lớn Điều quan trọng hơn nữa là vai trò của người đàn ông rất mờ nhạt, chỉ có bổn phận làm ra nhiều của cải, nhưng không may người vợ chết thì anh ta có thể phải ra đi với hai bàn tay không, nếu bên vợ không còn cô nào chưa chồng để lấy (tục nối dây) Trong khi người Gia rai có mười họ (Nay, Siu, Ksor, Rơmah, Kpa, Rơchăm, Puih, Rơô, Hiao, Rơ lan), thì người Ba na hầu như chưa có họ Cách cư trú phổ biến là ở luân phiên bên vợ và bên chồng, cùng lưu trú trong một nhà dài Trong lao động sản xuất, chiến đấu, người Gia rai, Ba na đã sáng tạo ra những công cụ, tuy đơn giản nhưng khá đặc biệt, như bộ công cụ làm rẫy, săn bắn, đo lường, làm rượu cần, dệt vải…Nhìn chung các bộ công cụ này còn sơ sài, chưa chuyên hóa, chưa trở thành hàng hóa, do xã hội cổ truyền chưa có chợ, chưa có tiền tệ v.v…

Từ những nhận định và phân tích trên, có thể nêu lên những hằng số giá trị của văn hóa xã hội cổ truyền Tây Nguyên nói chung và người Gia rai, Ba na nói riêng:

- Tổ chức làng tiền giai cấp, tiền nhà nước, tiền quốc gia

- Quan hệ xã hội mẫu hệ hoặc còn nhiều dấu vết mẫu hệ

- Tín ngưỡng “đa thần” bao trùm, chưa trở thành tôn giáo

- Chưa có chợ, chưa có tiền tệ và các công cụ đo lường chuẩn, chưa có lịch chuẩn, chưa có giáo dục, chưa có chữ viết

- Sinh hoạt văn hóa cộng đồng phong phú và đặc sắc

Nếu xem xét trong tiến trình phát triển của lịch sử thế giới và trong bối cảnh Đông Nam Á, Tây Nguyên còn sống trong nền văn hóa bản địa, trước khi chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn, Trung Riêng đối với Việt Nam, có thể tìm thấy lại ở Tây Nguyên bóng dáng nền văn hóa cổ xưa của chính mình Hơn thế nữa

Trang 6

Tây Nguyên là một vùng biên giới trọng yếu phía Tây nam, là địa bàn chiến lược quan trọng của Việt Nam Đây là vùng núi cao, đất rộng, người thưa Tuy kinh tế, văn hóa phát triển chậm nhưng lại có vị trí chiến lược về quốc phòng và an ninh quốc gia Trong lịch sử nơi đây là một trong những tuyến đầu chống mọi âm mưu lấn chiếm, dòm ngó, xâm nhập vào Việt Nam qua đường biên giới Mặt khác Tây Nguyên còn là vùng đất đặc thù, có vai trò không thể thiếu được của nền kinh tế, chính trị của cả nước.12

Từ những giá trị văn hóa nói trên nên xem Tây Nguyên là một khu vực văn hóa đặc biệt và cần có những chính sách đặc biệt

2.1.2 Tây Nguyên trong bối cảnh “đổi mới”

Qua phân tích và đánh giá trên, đã nhận ra được Tây Nguyên nói chung và Gia Lai nói riêng trong đời sống và xã hội cổ truyền Một vùng dân cư còn mang nhiều yếu tố bản địa với một nền kinh tế nương rẫy, tự túc, tự cấp Khi gặp luồng gió “đổi mới” họ đã tiếp nhận những gì và phản ứng ra sao? Nguyên nhân nào đã phát sinh ra những mâu thuẫn xã hội? Và các cấp chính quyền đã làm gì để giải quyết những vấn đề bức xúc ấy? Đó là những câu hỏi cần nghiên cứu và có những giải pháp thỏa đáng

Hiện nay xã hội Tây Nguyên đang diễn ta quá trình biến đổi nhanh chóng sâu sắc Đứng truớc quá trình “đổi mới” mạnh mẽ hòa nhập quốc gia và quôc tế, điều tất yếu là xã hội cổ truyền sẽ nhanh chóng mất đi Xưa kia tuy đất rộng, người thưa, nhưng đó hoàn toàn là giang sơn của người bản địa Ngày nay, nơi đây đã trở thành khu vực đa dân tộc, đa văn hóa và đa tôn giáo, tác động trực tiếp, làm thay đổỉ cơ bản đời sống văn hóa-xã hội của người dân tộc

Lịch sử di dân đối với Tây Nguyên bắt đầu vào cuối thế kỷ thứ 18, một số người Kinh theo chân nhà Tây Sơn lên vùng An Khê xây dựng “Tây sơn Thượng đại”, dấy binh đánh quân xâm lược nhà Thanh Vào nửa cuối thế kỷ 19 có một số người Kinh nữa lên vùng Kon Tum sau khi các linh mục Pháp tìm được cơ sở truyền đạo Thiên chúa giáo Từ đó dần dần người Kinh lên Tây Nguyên sinh sống ngày càng đông Nhất là sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/04/1975), với chủ trương phân phối lao động trong cả nước, người Kinh

và một số dân tộc khác trong cả nước lần lượt lên Tây Nguyên với số lượng lớn Đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới, họ ồ ạt lên lập nghiêp ngày càng đông, làm cho

cơ cấu dân cư ở Tây Nguyên ngày càng phức tạp, với nhiều ngôn ngữ, phong tục tập quán khác nhau Các dân tộc bản địa từ chỗ là cư dân chính, làm chủ núi rừng, nay chỉ còn là một bộ phận nhỏ trong dân số địa phương và khu vực

Dân cư biến đổi thì cơ cấu xã hội biến đổi theo Trước đây núi rừng âm u, các làng dân tộc sống biệt lập, tự cung tự cấp Nay những vùng sâu ấy là các nông trường cao su, cà phê, chè, lâm trường khai thác gỗ… Dân tứ xứ về tự do lập nghiệp, mọc lên những thị tứ, thị trấn, tạo nên một bức tranh Tây Nguyên phức tạp Vấn đề di dân, bên cạnh những mặt tốt thì hàng loạt những vấn đề nảy

Trang 7

sinh mâu thuẫn Người mới đến thì cho rằng ở đâu cũng là đất nước mình, nơi nào dễ thì cứ ở, cứ làm ăn Người bản địa thì cho là người Kinh lên chiếm đất của

họ, đẩy họ vào rừng sâu Bởi người Kinh thường bám trụ ở các trục giao thông và những nơi thuận tiện canh tác Người bản địa sống gần người Kinh thấy mình thua kén nên cứ thế bán dần đất đai, lùi vào rừng Ý thức này luôn tiềm ẩn trong suy nghĩ của người bản địa Thực tế bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã và đang làm đổi thay nhiều mặt ở đây Các nhà máy thủy điện được xây dựng, đường dây 500kv đi qua Tây Nguyên Nhiều buôn làng đã được dùng điện lưới Quốc gia Mạng lưới phát thanh, truyền hình được phủ sóng, y tế, giáo dục đã tiến bộ rõ rệt Các công trình thủy lợi lớn đã được xây dựng và tưới tiêu cho hàng nghìn héc ta đất khô cằn, trước đây chỉ là một vụ, nay đã là hai, ba vụ Đời sống các dân tộc được cải thiện đáng kể Từ ăn, mặc, ở, làm nương rẫy, đồ dùng gia đình, phong tục tập quán của đồng bào cũng dần dần thay đổi cho phù hợp với điều kiện cuộc sống mới Đồng bào được xem ti vi, nghe đài, đã biết làm ruộng nước và dùng phân canh tác Quần áo thì có vải công nghiệp dệt nên đồng bào ít dệt vải thổ cẩm Ốm đau phần nhiều đã dùng thuốc, ít cúng ma hơn trước Tục chết chôn chung, tin vào ma Lai và các hủ tục đã hạn chế nhiều Các lệ làng lạc hậu đã dần dần được thay thế bằng pháp luật Nhà nước Nhiều nơi đồng bào dân tộc còn trở thành công nhân nông trường cà phê, cao su Với mô hình “xã - nông trường”, đồng bào trở thành những người làm công ăn lương trên chính mảnh đất quê hương mình Từ chỗ chỉ quen đổi chác, nay họ dùng tiền mua bán và chợ cũng đã được hình thành ngay tại bản làng, mà khởi đầu là các quán xá của người Kinh đến sống xen cư

Cơ cấu làng cổ truyền cũng đã khác xưa Trước kia gia đình mở rộng gồm nhiều cặp vợ chồng, thuộc nhiều thế hệ sống chung trong một ngôi nhà dài Nay các gia đình “hạt nhân” ra ở riêng để phát triển kinh tế, tạo ra một sự thay đổi to lớn của cấu trúc làng cổ truyền Hiện nay dân cư trong làng và cả hôn nhân cũng không còn trong đồng tộc nữa Nhiều dân tộc sống xen cư nên hôn nhân giữa những nguời khác tộc ngày càng nhiều, tạo nên bức tranh dân cư mới trong thời

kỳ đổi mới Tất cả những thay đổi ấy là quy luật tất yếu của một xã hội phát triển Song, văn hóa cổ truyền đã lại bị ảnh hưởng rất lớn Nó như một tầng văn hóa

“mới” đang làm lấp đi tầng văn hóa “cũ” mà đồng bào đã sáng tạo, giữ gìn qua hàng ngàn năm lịch sử13

Hiện nay văn hóa cổ truyền Tây Nguyên ngày càng mất dấu đến mức báo động Có thời kỳ Cồng chiêng được cân lên bán như một thứ phế liệu Những năm 1980, mỗi làng có hàng nghìn bộ chiêng quí thì nay số lượng chiêng chỉ còn đếm được trên đầu ngón tay Thanh niên bây giờ không thích hoặc tự ti với các nhạc cụ của dân tộc mình Họ bỏ sáo Ala, đàn Goong, đàn Tơ rưng mà thích Ghi

ta và dàn nhạc điện tử Các điệu múa Xoang uyển chuyển trước đây chẳng mấy khi vắng bóng quanh ngọn lửa bập bùng hay dưới ánh trăng Nay thay vào đó là

Trang 8

các điệu Disco, Pop, Rock, Rap…Trước đây cồng chiêng là vật thiêng, con người dùng âm sắc để giao tiếp với thế giới siêu nhiên Khi hệ tín ngưỡng đã thay đổi, không cần giao tiếp nữa, thì cồng chiêng không còn giá trị

Tiếng nói và chữ viết là tiêu chí quan trọng số một để xác định thành phần dân tộc và bản sắc văn hóa tộc người Tuy đã có chữ viết nhưng cả người Gia rai

và Ba na chưa tạo ra được một nền văn hóa thành văn Kho tàng văn học, nghệ thuật dân gian còn lưu truyền đến ngày nay là hoàn toàn nhờ vào truyền Từ giữa thế kỷ 19, bộ chữ Ba na do một số người Pháp xây dựng đầu tiên, chủ yếu là dùng để phổ biến kinh thánh Năm 1922, ông NayDer cùng với một số nhà giáo Pháp xây dựng bộ chữ đầu tiên cho người Gia rai Tuy nhiên, do dân cư và cơ cấu

xã hội biến đổi nên tiếng nói và chữ viết cũng mai một dần Nhiều từ dân tộc đã

bị Kinh hóa Tây Nguyên là vùng đất cổ, cư dân đã sống lâu đời Từ người, sông, núi, làng đều có tên theo tiếng nói của họ Vậy mà giờ đây, nó đang bị biến dạng

cả trong cách nói và cách viết

Ví dụ:

- Ia Nueng gọi là Biển hồ

- Chư Hơ đrung gọi là Hàm rồng

- Tong A gọi là Tô na

- Pleiku gọi là Pơlây cu…

Còn chữ viết, hiện nay các trường tiểu học hầu hết do các thầy cô giáo người Kinh giảng dạy bằng tiếng Việt Số lượng thầy cô là người dân tộc bản địa không đáng kể Vì vậy những cuốn sách xóa mù chữ tiếng dân tộc, không thể làm cho tình hình tốt đẹp hơn, mà mới chỉ dừng lại ở hình thức Riêng giáo dục phổ thông hiện nay đã phát triển hơn trước rất nhiều Làng, bản nào cũng có lớp, có trường dạy cái chữ cho con em dân tộc Nhưng tiếng nói dân tộc chỉ dùng trong gia đình hoặc trong buôn Mong muốn của người dân tộc là tiếng nói và chữ viết của họ được phát triển Nhưng thực tế đang đi ngược lại với khát vọng ấy Họ đang lo rằng với tình hình này thì chữ viết của họ sẽ bị mất dấu?

- Về tôn giáo: Do bức tranh dân cư có nhiều biến đổi nên bộ mặt tôn giáo ở đây cũng biến đổi theo Ngoài đạo Thiên chúa, đạo Phật đã có mặt trên cao nguyên hàng thế kỷ thì đạo Tin lành nay có cơ hội phát triển mạnh trong đồng bào dân tộc bản địa Đạo Tin lành đã len lỏi đến từng nhà, từng buôn nhỏ xa xôi Nhiều nơi còn “xơi đỗ”, nhưng một số nơi đã “toàn tòng” Theo sau đạo Tin lành

là tất cả các truyền thống văn hóa bị bãi bỏ Trước thực trạng ấy, một số chính quyền cấp cơ sở còn lúng túng, chưa đánh giá đúng, đầy đủ về đạo Tin lành trên các vần đề lịch sử, tôn giáo, dân tộc và quan hệ quốc tế Từ đó có những đối sách chưa phù hợp Đi tìm nguyên nhân của vấn đề này? Nhiều người cho rằng đây là vùng đất “mới”, các cư dân bản địa nơi đây chưa có một tôn giáo nào chính thống Văn hóa nói chung của họ tuy phong phú, đa dạng nhưng chưa đủ mạnh

và hoàn chỉnh như của người Kinh, bởi còn thiếu nhiều yếu tố để tự thân bảo vệ

Trang 9

Đến nay, trước “luồng gió mới”, tín ngưỡng cũ của họ không còn đủ sức làm chỗ dựa tinh thần và đang dần suy thoái Trong nhiều thế kỷ qua nó vẫn tồn tại được

là do có dãy Trường sơn hiểm trở che chắn, không có sự giao lưu với thế giới bên ngoài Nay nó tỏ ra yếu ớt, không đủ sức chống đỡ với trào lưu mới vừa mạnh

mẽ, vừa hấp dẫn và thiết thực hơn

Bên cạnh sự chuyển biến đáng kể về cơ cấu xã hội và bản sắc văn hóa, thì chính sách quản lí, điều hành xã hội nói chung của chính quyền (nhất là chính quyền cơ sơ) còn nhiều bất cập Họ hay dùng sức ép hành chính để buộc người dân tuân theo, trong khi nguời dân bản địa quen sống theo lệ làng hơn là pháp luật Ví dụ: Chính sách định canh, định cư dời làng vế tập trung dọc hai bên quốc

lộ, tuy có những thuận tiện nhưng không phù hợp với thói quen sống giữa thiên nhiên của người dân Họ bị hạn chế về không gian sống và đất canh tác Trước đây rừng là của họ, nay Nhà nước quản lí, họ chỉ còn một phạm vi hẹp Điều này

đã gây nên những mâu thuẫn rất lớn trong đời sống

Văn hóa Tây Nguyên nếu nhìn ở góc độ dân tộc và thời đại đang lâm vào tình trạng khó xử Theo sau nền kinh tế nhiều thành phần là sản phẩm của các dòng văn hóa ngoại lai đang tấn công ồ ạt vào văn hóa dân tộc Bên cạnh dòng

“trong” còn có cả dòng “đục”, làm ảnh hưởng không nhỏ đến truyền thống văn hóa dân tộc Nhiều lúc văn hóa cổ truyền Tây Nguyên tỏ ra yếu ớt, có vẻ như không sánh kịp với những hình thức, phương tiện tuyên truyền hiện đại của các dòng văn hóa khác

Tóm lại những tác động qua lại giữa cái cũ và cái mới đã tạo nên những mâu thuẫn và thách thức mới Các cấp chính quyền phải đối mặt với những vấn

đề cấp bách cần giải quyết, mà những chủ trương chưa theo kịp yêu cầu thực tế của người dân Thực tiễn sinh động của sự biến đổi ấy, cần có những giải pháp khoa học, khả thi, góp phần đưa Tây Nguyên tiến tới sự phát triển bền vững

Trang 10

(Nhà rông và sinh hoạt của người Xơđăng Nguồn: thegioivemaybay.vn)

3 Các giải pháp

3.1 Nhóm giải pháp về kinh tế, xã hội và lao động việc làm

- Có chính sách ưu tiên đào tạo nghề, bảo đảm quyền được có việc làm cho

họ Thực tế thanh niên người dân tộc có trình độ văn hóa thấp hơn thanh niên người Kinh, nhưng khi tuyển dụng các công ty đều đưa ra tiêu chuẩn văn hóa, tay nghề chung Vì vậy, họ rất ít cơ hội được bảo đảm quyền có việc làm

- Tăng cường đào tạo cán bộ người dân tộc bản địa và tin dùng họ ở các vị trí công tác chủ chốt trong việc hoạch định chính sách và chủ trì triển khai công việc

- Cần nghiên cứu phong tục tập quán, nguyện vọng của đồng bào khi xây dựng làng định canh, định cư Kiểu làm nhà hai bên đường sát nhau, lại thiếu nguồn nước, thiếu đất sản xuất nên kinh tế không phát triển Kiểm tra, xem xét và cấp đất cho những hộ hiện thiếu đất sản xuất

- Đồng bào dân tộc đa số có nghề thủ công truyền thống như nghề dệt thổ cẩm, nghề đan lát Những sản phẩm này rất hợp với thị hiếu của xã hội hiện đại Cần tổ chức những dự án đào tạo nghề, tổ chức sản xuất hàng dệt, đồ đan lát ngay tại các địa phương, tạo thành hàng hóa để xuất khẩu, tạo công ăn việc làm cho bà con

Ngày đăng: 26/04/2015, 10:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w