1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐỊNH LƯỢNG VÀ ĐỊNH TÍNH TRONG NGHIÊN CỨU ĐỊA LÝ KINH TẾ XÃ HỘI

14 314 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 630,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc biệt, công trình của ông "Địa lý học: sự tổng hợp hiện đại" 1972, 1975, 1983 đã được đánh giá như là "cuốn sách của thế kỷ".Cuốn sách nổi tiếng của David Harvey "Giải thích khoa học

Trang 1

ĐỊNH LƯỢNG VÀ ĐỊNH TÍNH TRONG NGHIÊN CỨU ĐỊA LÝ

KINH TẾ - XÃ HỘI

Nguyễn Viết Thịnh, Đỗ Thị Minh Đức

Khoa Địa lý, ĐHSP HN

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Vấn đề nghiên cứu địa lý theo hướng định lượng đã nhiều thập kỷ nay là địa hạt đầy khích lệ, đầy kịch tính của địa lý học Trong lịch sử của địa lý học, các phương pháp định lượng đã được đặt nền móng từ thế kỷ 19, với những nhà địa lý vĩ đại của thế kỷ đó như Humbolt, Ritter, Tunen, Xememov-Tiansanxki Trong những năm 30 của thế kỷ này, những mô hình không gian toán học nổi tiếng của Christaller (lý thuyết vị trí trung tâm), của Lösch (cảnh quan kinh tế) đã khích lệ rất nhiều nhà địa lý ở các nước phương Tây phát triển các mô hình này (Xauskin, 1976)

Sự xuất hiện của máy tính điện tử từ giữa thế kỷ 20 đã mở ra trào lưu

"toán học hoá địa lý", đặc biệt là ở các nước phương Tây ? Mỹ, các nhà địa lý tiên phong trong việc xây dựng hướng địa lý định lượng Brian J.L.Berry, William Bunge và Richard Morill trong thập kỷ 60 đã lập ra trường phái Chicago về địa lý lý thuyết Đến thập kỷ 80, ở Mỹ đã hình thành 4 trường phái về địa lý định lượng là Chicago, Washington, Wisconsin và Iowa (Holt-Jensen, Fullerton, 1988) Những nhà địa lý thuộc thế hệ trẻ của châu Âu cũng đi tiên phong trong hướng định lượng Peter Haggett khi nổi danh mới ngoài 30 tuổi Một loạt các công trình nghiên cứu của ông và Chorley đã được đánh giá cao trên thế giới và đã nhanh chóng được dịch ra tiếng Nga, giới thiệu với các nhà địa lý xô viết Đặc biệt, công trình của ông "Địa lý học: sự tổng hợp hiện đại" (1972,

1975, 1983) đã được đánh giá như là "cuốn sách của thế kỷ".Cuốn sách nổi tiếng của David Harvey "Giải thích khoa học trong địa lý" đề cập đến vấn đề hóc búa là cơ sở triết học, cơ sở phương pháp luận của giải thích khoa học trong địa lý, từ đó ta có thể hiểu được thấu đáo hơn mối quan hệ giữa định lượng và định tính trong nghiên cứu địa lý

Việc khẳng định nghiên cứu theo hướng định lượng trong địa lý học gặp không ít quanh co Sự cực đoan hoá, sùng bái các công cụ định lượng có thể dẫn đến chủ nghĩa kinh nghiệm, chủ nghĩa thực chứng mới, và nếu không thận trọng, thì người đọc, thậm chí người nghiên cứu có thể bị đánh lừa vì bản chất không khoa học lại được che đậy bằng cái vỏ có vẻ rất khoa học, hiện đại Một điều còn có thể thấy trong kinh nghiệm của thế giới là trong khi các nhà địa lý trẻ đón nhận phương hướng định

Trang 2

lượng rất nhiệt tình thì các nhà địa lý lão thành tỏ ra rất thận trọng Sự can thiệp của các công cụ định lượng không chỉ là cuộc cách mạng trong phương pháp nghiên cứu, mà còn làm lay chuyển cả nền tảng phương pháp luận của khoa học địa lý, và đương nhiên là không dễ gì khi chúng

ta phải thay đổi, thậm chí phải loại bỏ khỏi kho tàng tri thức của khoa học địa lý những điều gần như đã được mặc nhiên thừa nhận1 Vì vậy, chúng tôi cho rằng, ít ra là ở thực tiễn Việt Nam, việc tạo ra sự phát triển kế tiếp giữa các phương pháp định tính và định lượng, đồng thời từng bước làm giàu thêm cả về phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu thông qua các thử nghiệm áp dụng định lượng sẽ đem lại kết quả tốt

2 QUAN NIỆM VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐỊNH TÍNH VÀ ĐỊNH LƯỢNG TRONG NGHIÊN CỨU ĐỊA LỲ

Mối quan hệ này có cơ sở trước hết từ bản chất của quá trình nhận thức:

từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và trở lại thực tiễn "Trực quan sinh động" bao hàm những nội dung của trực giác khoa học, của những nghiên cứu định tính ban đầu, nó có tính chất phát hiện, có tác dụng định hướng cho các nghiên cứu sâu, định lượng trong quá trình trừu tượng hoá và để trở lại với thực tiễn Sau khi đã tước bỏ đi những cái dấu hiệu cụ thể không bản chất, để lại những đặc tính bản chất, cốt lõi, những mối quan hệ bản chất, lặp đi lặp lại, quá trình nhận thức đang trở về với định tính Khi mà địa lý học càng đi gần tới thực tiễn, thâm nhập vào cuộc sống, thì càng cần có các sản phẩm định tính có chất lượng cao nhờ

đã đúc kết từ nhiều quá trình xử lý định lượng khách quan, trên cơ sở cắt nghĩa các mô hình định lượng Và như vậy, có thể nói rằng "định tính" không đồng nghĩa với cái gì đó thiếu cơ sở khoa học hay là kết quả của phương pháp nghiên cứu cổ truyền, và "định lượng" không phải là mục tiêu cuối cùng của các nghiên cứu địa lý

Đối với địa lý học, một khoa học nghiên cứu các địa tổng thể tự nhiên hay các hệ thống lãnh thổ kinh tế - xã hội và sự tương tác giữa các hệ thống lãnh thổ này, thì các phương pháp định lượng có ý nghĩa lớn ? đây có các hình thức vận động khác nhau của vật chất từ vận động cơ học, vật lý, hoá học, sinh học cho đến vận động xã hội Các chỉ tiêu để đo các quá trình tự nhiên và kinh tế - xã hội diễn ra trên lãnh thổ thường có bản chất khác nhau và không thông ước với nhau Phải nhờ có các công cụ toán thích hợp mới có thể tiến hành nghiên cứu tổng hợp thực sự Với sự phát

1 Ch?ng h?n, vi?c nghiờn c?u c?nh quan s? d?ng ?nh vi?n thỏm v?i vi?c phõn ra cỏc "land-units" khụng gi?ng nhu vi?c nghiờn c?u c?nh quan theo phuong phỏp truy?n th?ng Vi?c ti?n hành phõn lo?i, phân vị bằng máy tính điện tử dựa trên sự tương đồng và khác biệt của các đơn vị lãnh thổ (taxons) theo một bộ chỉ tiêu được chọn không giống như việc tiến hành

Trang 3

triển nhanh chóng của công nghệ GIS, thì những bài toán phân tích không gian được tiến hành dễ dàng hơn nhiều, và tính phương án của các nghiên cứu, các giải pháp địa lý được thực hiện có kết quả

3 KINH NGHIỆM BƯỚC ĐẦU RÚT RA TỪ MỘT SỐ THỬ NGHIỆM NGHIÊN CỨU ĐỊA LỲ KINH TẾ - XÃ HỘI

Trong phần này, chúng tôi muốn tổng kết một số kinh nghiệm rút ra từ thử nghiệm của chúng tôi trong những năm qua về áp dụng quan điểm và phương pháp nghiên cứu định lượng Những kinh nghiệm bước đầu này

có thể trình bày ở những điểm sau:

- việc lựa chọn các chỉ tiêu;

- bài toán về phân tích tương quan;

- bài toán về hồi quy;

- bài toán về phân loại

1 Việc lựa chọn các chỉ tiêu

Việc lựa chọn các chỉ tiêu để phân tích, đưa vào các mô hình định lượng

có ý nghĩa quyết định đầu tiên Trong nghiên cứu địa lý tự nhiên, ta hay nói đến phương pháp chỉ thị, dùng một thông số nào đó làm chỉ thị chính xác cho hiện tượng hay quá trình cần nghiên cứu Trong nghiên cứu địa lý kinh tế - xã hội cách áp dụng này cũng rất có hiệu quả

Chẳng hạn, khi nghiên cứu về đô thị hoá, ta có định nghĩa về đô thị hoá như là quá trình tăng tỉ lệ dân số đô thị trong toàn bộ dân số của một nước, một vùng và như là quá trình thay đổi lối sống của dân cư, phổ biến lối sống đô thị trong dân cư Trong thống kê, người ta thường dùng chỉ tiêu về tỉ lệ phần trăm dân số đô thị trong toàn bộ dân số để phản ánh trình độ đô thị hoá Tuy nhiên, chỉ tiêu này khá khái quát và không phản ánh mau lẹ sự đô thị hoá Cần dùng thêm các chỉ tiêu khác

Có thể sử dụng chỉ tiêu về hiện trạng sử dụng đất để phản ánh sự đô thị hoá, vì ở khu vực đô thị hoá đang tiến triển, thì tỉ lệ đất chuyên dùng + thổ cư tăng lên, và trong thực tiễn ở nước ta, thì đồng thời là một phần đất nông nghiệp bị mất đi do chuyển mục đích sử dụng Vậy thì thay cho chỉ

tiêu tỉ lệ (đất chuyên dùng + thổ cư)/tổng diện tích tự nhiên, ta nên dùng chỉ tiêu (đất chuyên dùng + thổ cư)/diện tích đất nông nghiệp vì với sự

tăng lên của tử số là sự giảm đi của mẫu số; các khác biệt theo lãnh thổ được thấy rõ hơn Trong khi phân biệt các kiểu quần cư nông thôn Hà Nội (Đức, 1985) đây là chỉ tiêu đặc biệt để tìm ảnh hưởng của đô thị hoá, phát hiện các khu vực có kiểu quần cư hỗn hợp ngoại thành Chính trong nghiên cứu trên (Đức, 1985) có thể thấy sự kết hợp giữa hệ thống chỉ tiêu

Trang 4

định tính với các chỉ tiêu định lượng để phân kiểu quần cư nông thôn Hà Nội:

- Phân loại theo vị trí địa lí (định tính);

- Phân loại dựa trên hình thái (định tính);

- Phân loại theo hoạt động kinh tế của dân cư (định lượng), trong đó sử dụng các số liệu thống kê về: a/ dân cư; b/ hiện trạng sử dụng đất; c/ hiện trạng sản xuất

Kết quả là thành lập được bản đồ "Hà Nội, các dạng quần cư nông thôn" với bảng chú giải trình bày dưới hình thức ma trận thể hiện sự đan cắt của các chỉ tiêu đưa vào phân tích

?nh hưởng của đô thị hoá ở Hà Nội tới quần cư nông thôn vùng ngoại thành huyện Từ Liêm và Thanh Trì lại được phân tích ở nghiên cứu (Đức, 1992) ? đây các chỉ tiêu được sử dụng là:

- Sự phân bố dân số theo quy mô hộ gia đình ở các xã (1989) Chỉ tiêu này dựa trên quan điểm cho rằng cùng với đô thị hoá là sự thay đổi trong cách thức tổ chức cuộc sống gia đình, giảm đi các loại hộ quy

mô lớn, nhiều thế hệ sang các loại gia đình kiểu hạt nhân chỉ có hai thế

hệ (bố mẹ vàcon cái), quy mô nhỏ Trong trường hợp ngoại thành Hà Nội, quy luật không gian của sự chuyển từ cơ cấu hộ gia đình lớn sang

hộ gia đình nhỏ thể hiện thật rõ ở huyện Từ Liêm, nhưng còn mờ nhạt

ở huyện Thanh Trì Quá trình tách hộ để nâng rất cao tỷ lệ hộ nhỏ diẽn

ra mạnh nhất ở các xã: 1/ Có bình quân đất thổ cư trên đầu người quáthấp, xin tách hộ để được cấp thêm đất ở; 2/ Gần nội thành, có các đường giao thông đi vào thành phố hay đường bao nội thành, có các tụ điểm buôn bán mới xuất hiện hoặc nằm trong dự kiến quy hoạch thành các khu dân cư đô thị trong tương lai Tách hộ để bám lấy mặt đường làm dịch vụ, buôn bán và để giành quyền sử dụng những mảnh đất có giá trị sẽ tăng lên rất nhanh trong thời gian tới

Cũng trong nghiên cứu trên (Đức, 1992) còn phân tích sự thay đổi tương quan tỷ lệ diện tích đất chuyên dùng + thổ cư so với diện tích đất nông nghiệp trong thời gian từ 1978 đến 1990 và chỉ tiêu bình quân diện tích đất nông nghiệp trên một đầu lao động nông nghiệp trong độ tuổi (năm 1990), từ đó đi đến kết luận rằng ở một số xã ven đô sự chuyển dịch lao động sang phi nông nghiệp còn mạnh hơn và nhanh hơn sự chuyển đất nông nghiệp cho các mục đích sử dụng khác

Trang 5

Hình 1 - Sự phân phối dân cư theo quy mô hộ gia đình ở các xã (1989)

Trong nghiên cứu (Đức, 1997) các chỉ tiêu về hiện trạng sử dụng đất lại một lần nữa được đưa vào ? đây, thông qua việc nghiên cứu sự biến động của sử dụng đất lâm nghiệp tại xã Hiền Lương, huyện Đà Bắc, tỉnh Hoà Bình mà phân tích tác động đến môi trường tự nhiên và kinh tế - xã hội vùng lòng hồ do việc lập hồ thuỷ điện Hoà Bình, vì các biến động của môi trường tự nhiên đều được phản ánh ở sự thích ứng của cộng đồng các dân tộc trong việc khai thác tài nguyên Và sức ép của đói nghèo và của dân số lên tài nguyên cũng được thấy rõ Trong nghiên cứu này, nét đặc trưng về phương pháp không chỉ ở việc dùng hiện trạng sử dụng đất lâm nghiệp như là một "tấm gương phản chiếu", mà còn ở việc kết hợp các phương pháp nghiên cứu khảo sát điền dã, nghiên cứu có sự tham dự của cộng đồng với việc sử dụng công cụ GIS bằng phần mềm MapInfo và Excel

2 Bài toán phân tích tương quan

Có nhiều bài toán tính hệ số tương quan (Chương, 1996; V.T.Jukov, X.N.Xerbeniuk, V.X.Tikunov, 1980) Trong trường hợp của chúng ta, giả định rằng ta tìm được một bộ chỉ tiêu phản ánh một đặc điểm nào đó của các đối tượng địa lý cần nghiên cứu Ta sẽ tính hệ số tương quan giữa các đơn vị lãnh thổ theo bộ chỉ tiêu đó, từ đó có thể thấy sự tương đồng và khác biệt của các cấu trúc lãnh thổ theo bộ chỉ tiêu đã chọn Điều đáng chú ý là khi chọn thông tin gốc để tính tương quan, độ chính xác của việc phân tích giảm khi đưa vào các chỉ tiêu phụ thuộc và khi sử dụng các chuỗi nhỏ

Trang 6

Việc tính hệ số tương quan cặp hiện nay đã trở nên dễ dàng nhờ sự trợ giúp của các phần mềm xử lý bảng tính như Excel (sử dụng hàm CORREL) Các kết quả tính toán có thể trình bày dưới dạng bản đồ hệ số tương quan (V.T.Jukov, X.N.Xerbeniuk, V.X.Tikunov, 1980), hoặc dưới dạng ma trận tương quan (Thịnh, 1987)

Hình 2 - Ma trận hệ số tương quan cặp giữa các APK của vùng kinh tế Đông Nam Bungari về các điều kiện sinh thái nông nghiệp

27

25

23

21

19

17

13

15

12

9

10

8

5

34

32

31

29

3

1

33

31 34 35 30 28

26 27 23 21

19 24 25

16 17 18 15 13

2 3 4 6 8 9 10 11

HÖ sè t−¬ng quan cÆp d−íi 0,60 0,60 - 0,69 0,70 - 0,79 0,80 - 0,89 0,90 - 0,95 trªn 0,95 1,00

Trong nghiên cứu (Thịnh, 1987) chúng tôi đã trình bày dưới dạng ma trận các hệ số tương quan cặp giữa các APK của vùng kinh tế Đông Nam Bungari về các điều kiện sinh thái nông nghiệp (thông tin đầu vào là bảng đánh giá phân hạng đất nông nghiệp phân theo APK, tính theo giá trị trung bình gia quyền, của 31 APK, của chung các tỉnh Xliven, Yambol, Burgas và vùng kinh tế Đông Nam Bungari) Tương tự là các

ma trận tương quan về cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp (trung bình thời

kỳ 1982-1984), cơ cấu tổng sản phẩm nông nghiệp (1982-84) và cơ cấu sản phẩm nông nghiệp hàng hoá (1982-84) Sự sắp xếp thứ tự của các APK là theo một trật tự địa lý nhất định Các mô hình này có giá trị không kém cả loạt bản đồ về các chỉ tiêu đã tính toán Nó cho phép nhìn thấy sự tương đồng và tương phản giữa các APK, các nhóm APK và các vùng lãnh thổ về các phương diện nêu ở trên, đồng thời còn cho phép đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố sinh thái nông nghiệp đối với việc sử dụng đất và phương hướng sản xuất, được phản ánh ở cơ cấu giá trị tổng sản phẩm nông nghiệp và sản phẩm nông nghiệp hàng hoá (khi chồng xếp các ma trận này)

Trang 7

3 Phõn tớch hồi quy

Cú cỏc mụ hỡnh hồi quy một chiều và hồi quy khụng gian (V.T.Jukov, X.N.Xerbeniuk, V.X.Tikunov, 1980) Hồi quy một chiều chỉ ra sự phụ thuộc của một hiện tượng này vào một hiện tượng khỏc, là nguyờn nhõn quan trọng nhất của sự phổ biến và sự phỏt triển của nú Nú được dựng để giải cỏc bài toỏn nội suy và ngoại suy

Hồi quy khụng gian lại phõn tớch sự phụ thuộc của hiện tượng địa lý vào cỏc toạ độ khụng gian Nú là phương phỏp hữu hiệu để mụ hỡnh hoỏ và vẽ cỏc bản đồ trường địa lý Cỏc bản đồ trường địa lý được tỏch ra thành:

- Bản đồ bề mặt phụng (bản đồ trend) chỉ ra sự phõn bố khụng gian của nhõn tố chủ đạo, xu hướng tổng quỏt trong sự phõn bố của hiện tượng

- Bản đồ bề mặt phần dư (phần sút) thể hiện cỏc độ lệch ngẫu nhiờn giữa cỏc trị số đo thực tế và trị số phần trend Núi khỏc đi, bản đồ này phản ỏnh cỏc dị thường vựng, được cắt nghĩa bằng cỏc nguyờn nhõn địa lý thứ yếu

Trong nghiờn cứu (Thịnh, 1990) chỳng tụi đó lập phương trỡnh hồi quy phản ỏnh quan hệ tương quan giữa đỏnh giỏ kinh tế đất và năng suất trung bỡnh và mức lói Việc ứng dụng phương phỏp này vào hoàn cảnh Việt Nam, lập cỏc phương trỡnh hồi quy như vậy cú thể làm cơ sở để xỏc định cỏc định mức về năng suất và mức lói, để điều chỉnh hạng mức thuế nụng nghiệp theo hạng kinh tế đất

Hỡnh 3- Quan hệ giữa tỉ lệ hộ nụng nghiệp và đất nụng nghiệp tớnh bỡnh

quõn trờn một hộ nụng thụn

y = -1E-05x 2 + 0.0718x - 1.2175

0.00

10.00

20.00

30.00

40.00

50.00

60.00

70.00

80.00

90.00

100.00

0 500 1000 1500 2000 2500 3000 3500 4000

Bình quân diện tích đất nông nghiệp trên một hộ (m2)

Trang 8

Trong nghiên cứu (Bình, 1996) trên cơ sở phân tích mối quan hệ giữa tỉ lệ

hộ nông nghiệp và đất nông nghiệp tính bình quân trên một hộ nông thôn

đã xác định đường hồi qui và phương trình hồi qui và cho phép rút ra kết luận rằng: dân số nông thôn Đồng bằng Sông Hồng gây sức ép lên đất đai Sự hạn chế trong việc bảo đảm tài nguyên lại trở thành sức ép, buộc người nông dân phải thay đổi cơ cấu hoạt động kinh tế sang các hoạt đông phi nông nghiệp

Trong nghiên cứu (Đức , 1991) chúng tôi đã dùng phương pháp phân tích trend để thành lập các bản đồ bề mặt phông và bề mặt phần dư bậc sáu của bề mặt thống kê mật độ dân số các năm 1980 và 1989 của các phường nội thành Hà Nội Các bản đồ được lập ra đã phản ánh những đặc điểm mang tính quy luật trong xu hướng phân bố dân cư nội thành Hà Nội Đặc biệt, việc phân tích các bề mặt phần dư (các dị thường dương và các dị thường âm) cho phép rút ra rằng ngay trong thời gian nghiên cứu (1980-89) các khu vực chợ có sức thu hút dân cư đặc biệt mạnh do ở đây người

ta dễ dàng kiếm được thu nhập từ các hoạt động dịch vụ, buôn bán nhỏ, thương mại Trong khi đó, khả năng kiếm được chỗ ở chưa phải là nhân

tố có sức hút ghê gớm tập trung dân cư

Hình 4 - Phân tích trend phân bố dân cư nộithành Hà Nội

4 Mô hình phân loại

Trong nghiên cứu địa lí kinh tế - xã hội hay trong kinh tế vùng nhiều khi phải tiến hành phân loại, gộp nhóm các đối tượng nghiên cứu muôn vẻ

Trang 9

bố của chúng cũng như quan hệ của chúng trong không gian Việc phân loại còn là một bước quan trọng để đi tới tổng hợp, khái quát hoá các kết quả nghiên cứu Nó cho phép phân tích ở trình độ cao cấu trúc ngang của lãnh thổ, quy luật phân hoá lãnh thổ Có nhiều cách phân loại (V.T.Jukov, X.N.Xerbeniuk, V.X.Tikunov, 1980, chương 4; SPSS Professional Statistics 6.1, 1993, Chapter 3 - Cluster Analysis) ? khoa địa lý ĐHSP

HN 1 trong những năm 80 đã có một số thử nghiệm của PGS Đỗ Hưng Thành và cộng sự trong việc dùng mô hình phân loại Vroxlav tương đối đơn giản để phân chia ranh giới vùng trung du

Trong nghiên cứu (Thịnh, 1987a, 1987b) cũng dùng mô hình phân loại Vroxlav, với sự trợ giúp của máy vi tính tính ra các khoảng cách phân loại (khoảng cách D) theo bộ chỉ tiêu phản ánh điều kiện sinh thái nông nghiệp (các chỉ tiêu phân hạng đất theo mức độ thích hợp cho 17 nhóm cây trồng khác nhau) của 163 đơn vị lãnh thổ Và sau đó, các đơn vị lãnh thổ (các taxon) được nối với nhau theo phương pháp thủ công, tạo thành

sơ đồ hình cây (dendrit) và trên cơ sở đó thành lập bản đồ Và kết quả là

chúng tôi đã đưa ra bản đồ Phân loại phân kiểu lãnh thổ của các điều kiện sinh thái nông nghiệp để phát triển ngành trồng trọt Các đơn vị phân loại (taxon) không chỉ được đánh giá chung theo mức độ thuận lợi cho trồng trọt, mà còn được đánh giá cụ thể cho từng nhóm trong 12 nhóm cây trồng chính Nét độc đáo trong cách tiếp cận ở nghiên cứu này là: thông tin đầu vào không phải là các chỉ tiêu phản ánh một đặc điểm tự nhiên nào đó của môi trường tự nhiên (như các chỉ tiêu về địa hình, khí hậu, đất, nước ) mà là những chỉ tiêu đã mang tính tổng hợp (phân hạng đất) Trên cơ sở đó mà tổng hợp một lần nữa thành các sơ đồ phân loại

Trong nghiên cứu (Thịnh, Bình, 1997), chúng tôi dùng kĩ thuật phân tích

sự co cụm (Cluster Analysis) Mỗi một đối tượng địa lí được đặc trưng bởi n chỉ tiêu nhất định, hay nói cách khác, mỗi trường hợp đưa vào phân tích là một vectơ-hàng n chiều X= ⏐x1, x2, , xn⏐ Trong phân tích này,

mỗi huyện được đặc trưng bởi 9 chỉ tiêu: tỉ lệ % nhà kiên cố, tỉ lệ % nhà bán kiên cố, tỉ lệ % nhà đơn sơ, tỉ lệ % số hộ dùng điện, tỉ lệ % số hộ dùng nước máy, tỉ lệ % số hộ dùng nước giếng, số xe máy bình quân trên

100 hộ, số tivi bình quân trên 100 hộ, số máy truyền thanh bình quân trên

100 hộ Như vậy, mỗi huyện là một vectơ 9 chiều Ma trận phân tích gồm 83 hàng (83 huyện, thị xã) và 9 cột chỉ tiêu

Trong không gian n chiều, mỗi đối tượng gộp nhóm được trình bày như một điểm Mức độ tương tự của một huyện X (đối tượng gộp nhóm) theo

bộ chỉ tiêu đã chọn đối với một trong các huyện còn lại Y được trình bày dưới dạng khoảng cách phân loại (X,Y) Có nhiều công thức tính toán

khoảng cách này, mà thông thường người ta sử dụng khoảng cách bình

phương Ơclit (trong không gian n chiều) theo công thức:

Trang 10

Khoảng cỏch (X,Y) = ∑ −

i

i

(

Cỏc kết quả phõn loại được trỡnh bày thành ma trận, sơ đồ hỡnh cõy

(dendrogram) và cỏc quan hệ gộp nhúm (cluster membership) cú thể

được ghi lại (với số lượng nhúm tuỳ chọn)

Trong nghiờn cứu này, nột đặc sắc là ở chỗ sử dụng uyển chuyển cỏc

phần mềm MapInfo và SPSS Thụng tin gốc được lưu trữ dưới dạng file

số liệu MapInfo và file số liệu SPSS Sau khi xử lớ xong ở phần mềm

SPSS, thỡ nhờ thủ tục SQL select trong MapInfo, cỏc thụng tin được

chuyển vào file MapInfo và từ đú, việc vẽ tự động bản đồ chuyờn đề Phõn nhúm cỏc huyện đồng bằng sụng Hồng theo cỏc chỉ tiờu diều kiện sống của hộ nụng thụn đó trở nờn dễ dàng Thụng qua việc thay đổi số lượng

cụm (cluster), ta cú thể thỏy rừ hơn những cung bậc tinh tế nhất trong sự

phõn hoỏ khụng gian điều kiện sống cuả dõn cư nụng thụn đồng bằng sụng Hồng

Hỡnh 5- Bản đồ phõn nhúm cỏc huyện đồng bằng sụng Hồng theo cỏc chỉ

tiờu về điều kiện sống của hộ nụng thụn

Khi chia thành 18 nhúm, cỏc huyện ngoại thành Hà Nội được phõn biệt rừ qua hai bờ tả và hữu ngạn sụng Hồng, cũn khi chia thành 13 nhúm, với sự khỏi quỏt hoỏ cao hơn, thỡ hai nhúm này được gộp làm một Đồng bằng sụng Hồng được "phõn khu rừ": bao bọc lấy cỏc kiểu 12 và 13 (ngoại thành Hà Nội) là cỏc huyện thuộc kiểu 11 Cỏc thị xó tạo ra cỏc kiểu vựng nụng thụn "nội thị" với cỏc đặc trưng khỏc biệt với vựng nụng thụn rộng lớn xung quanh (nhúm 6: TX Hải Dương, nhúm 3: TP Nam Định và TX Kiến An, nhúm 9: TP Hạ Long, nhúm 18: TX Đồ Sơn ) Ở cỏc vựng

11

16

14 5 14

11

3 7 18 17

10 9

5

1 1

4

4

1 6 14

1 1

11 11

13 11

8 11

12

13 11

11

12 11

11

11

4

5

11

11

16

16 16 2 2 14 16 16

7 3

11

1 2

1 4

11 12 11

11

16 16 2

12 15

4 11

2 4

1 1

17 11 5 1

Phân nhóm tự động

1 (10)

2 (5)

3 (2)

4 (6)

5 (4)

6 (1)

7 (2)

8 (1)

9 (1)

10 (2)

11 (25)

12 (5)

13 (2)

14 (4)

15 (1)

16 (8)

17 (3)

18 (1)

Ngày đăng: 26/04/2015, 09:38

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1 - Sự phân phối dân cư theo quy mô hộ gia đình ở các xã (1989) - ĐỊNH LƯỢNG VÀ ĐỊNH TÍNH TRONG NGHIÊN CỨU ĐỊA LÝ KINH TẾ  XÃ HỘI
Hình 1 Sự phân phối dân cư theo quy mô hộ gia đình ở các xã (1989) (Trang 5)
Hình 2 - Ma trận hệ số tương quan cặp giữa các APK của vùng kinh tế  Đông Nam Bungari về các điều kiện sinh thái nông nghiệp - ĐỊNH LƯỢNG VÀ ĐỊNH TÍNH TRONG NGHIÊN CỨU ĐỊA LÝ KINH TẾ  XÃ HỘI
Hình 2 Ma trận hệ số tương quan cặp giữa các APK của vùng kinh tế Đông Nam Bungari về các điều kiện sinh thái nông nghiệp (Trang 6)
Hình 3- Quan hệ giữa tỉ lệ hộ nông nghiệp và đất nông nghiệp tính bình - ĐỊNH LƯỢNG VÀ ĐỊNH TÍNH TRONG NGHIÊN CỨU ĐỊA LÝ KINH TẾ  XÃ HỘI
Hình 3 Quan hệ giữa tỉ lệ hộ nông nghiệp và đất nông nghiệp tính bình (Trang 7)
Hình 4 - Phân tích trend phân bố dân cư nộithành Hà Nội - ĐỊNH LƯỢNG VÀ ĐỊNH TÍNH TRONG NGHIÊN CỨU ĐỊA LÝ KINH TẾ  XÃ HỘI
Hình 4 Phân tích trend phân bố dân cư nộithành Hà Nội (Trang 8)
Hình 5- Bản đồ phân nhóm các huyện đồng bằng sông Hồng theo các chỉ - ĐỊNH LƯỢNG VÀ ĐỊNH TÍNH TRONG NGHIÊN CỨU ĐỊA LÝ KINH TẾ  XÃ HỘI
Hình 5 Bản đồ phân nhóm các huyện đồng bằng sông Hồng theo các chỉ (Trang 10)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w