1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGUỒN lực và ĐỘNG lực CHO PHÁT TRIỂN NHANH và bền VỮNG nền KINH tế VIỆT NAM ở GIAI đoạn 2011 – 2020

264 779 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 264
Dung lượng 2,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, quan niệm thế nào về nguồn lực, động lực, đặc biệt là trong bối cảnh mới mà thời đại đang mở ra, với những xu hướng phát triển chủ yếu là toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 1

BỘ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VIỆN CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN

CHƯƠNG TRÌNH KX.04/06-10

ĐỀ TÀI KX04.08/06-10

BÁO CÁO TỔNG HỢP ĐỀ TÀI

NGUỒN LỰC VÀ ĐỘNG LỰC CHO PHÁT TRIỂN NHANH VÀ BỀN VỮNG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM

Ở GIAI ĐOẠN 2011 – 2020

Cơ quan chủ trì Đề tài: Viện Chiến lược Phát triển

Chủ nhiệm Đề tài: PGS.TS Ngô Doãn Vịnh

8382

Hà Nội, tháng 11 năm 2010

Trang 2

BỘ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VIỆN CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN

CHƯƠNG TRÌNH KX.04/06-10

ĐỀ TÀI KX04.08/06-10

BÁO CÁO TỔNG HỢP ĐỀ TÀI

NGUỒN LỰC VÀ ĐỘNG LỰC CHO PHÁT TRIỂN NHANH VÀ BỀN VỮNG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM

Ở GIAI ĐOẠN 2011 – 2020

Cơ quan chủ trì Đề tài: Viện Chiến lược Phát triển Chủ nhiệm Đề tài: PGS.TS Ngô Doãn Vịnh Thư ký Đề tài: PGS.TS Bùi Tất Thắng

Ths Nguyễn Hoàng Hà

Hà Nội, tháng 11 năm 2010

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 

1 Sự cần thiết của Đề tài 1 

2 Tổng quan nghiên cứu về nguồn lực, động lực cho phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế 2 

3 Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu của Đề tài 14 

4 Phương pháp nghiên cứu và số liệu phục vụ nghiên cứu của Đề tài 15 

5 Kết cấu nội dung báo cáo tổng hợp của Đề tài 16 

PHẦN I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NGUỒN LỰC VÀ ĐỘNG LỰC CHO SỰ PHÁT TRIỂN NHANH VÀ BỀN VỮNG 18 

I Nguồn lực phát triển 18 

1 Khái niệm, đặc điểm và phân loại nguồn lực 18 

2 Mối quan hệ giữa nguồn lực và phát triển kinh tế 29 

II Động lực phát triển 32 

1 Khái niệm, đặc điểm và các hình thái biểu hiện của động lực 32 

2 Vấn đề tạo lập, duy trì và phát huy động lực đối với phát triển kinh tế 41 

3 Mối quan hệ giữa nguồn lực phát triển và động lực phát triển hướng tới nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững 47 

III Kinh nghiệm của thế giới về việc huy động, sử dụng các nguồn lực và tạo động lực cho phát triển kinh tế 49 

1 Kinh nghiệm của Nhật Bản phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa 49 

2- Kinh nghiệm của Hàn Quốc trong việc huy động và sử dụng vốn FDI cho phát triển kinh tế 52 

3- Kinh nghiệm của Singapore trong việc đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao cho phát triển kinh tế 56 

4- Kinh nghiệm của Trung Quốc thu hút nguồn vốn từ Hoa Kiều 60 

IV Những đặc điểm đặc thù của Việt Nam chi phối việc huy động và sử dụng nguồn lực, phát huy và duy trì động lực cho phát triển 64 

1 Vị trí địa lý và tài nguyên thiên nhiên 64 

2 Dân số, đặc điểm dân tộc và văn hóa 64 

3 Đất nước bị tàn phá bởi nhiều cuộc chiến tranh 65 

Trang 4

4 Việt Nam mới bắt đầu tiến trình gia nhập toàn cầu hóa 65 

5 Thể chế chính trị 65 

PHẦN II HIỆN TRẠNG THU HÚT, SỬ DỤNG NGUỒN LỰC, HUY ĐỘNG, DUY TRÌ ĐỘNG LỰC CHO PHÁT TRIỂN NHANH VÀ BỀN VỮNG 66 

I Thực trạng khai thác và sử dụng các nguồn lực phát triển ở Việt Nam trong thời gian qua 66 

1 Đối với nguồn vốn đầu tư phát triển 66 

2 Đối với nguồn nhân lực 73 

3 Đối với nguồn lực thông tin 79 

4 Đối với nguồn tài nguyên thiên nhiên đã được khai thác và sử dụng của Việt Nam 82 

5 Đối với tiềm lực khoa học công nghệ 110 

6 Đánh giá chung 116 

II Dự báo sơ bộ về khả năng một số nguồn lực chủ yếu và định hướng huy động, sử dụng hiệu quả các nguồn lực 118 

1 Định hướng khả năng huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển ở thời kỳ 2011 – 2020 118 

2 Định hướng phát triển và phân bố lao động thời kỳ 2011 – 2020 của Việt Nam 121 

3 Định hướng khả năng khai thác và sử dụng một số tài nguyên thiên nhiên chủ yếu 123 

III Thực trạng hình thành và phát huy động lực phát triển trong thời gian qua của Việt Nam 129 

1 Nhận xét chung 129 

4 Ban hành cơ chế, chính sách tạo ra động lực phát triển 140 

IV Khác biệt theo vùng và lãnh thổ về nguồn lực phát triển và động lực phát triển kinh tế 153 

1 Đối với nguồn lực phát triển 153 

2 Đối với động lực phát triển 156 

PHẦN III CÁC KIẾN NGHỊ ĐẢM BẢO NGUỒN LỰC VÀ ĐỘNG LỰC CHO PHÁT TRIỂN NHANH VÀ BỀN VỮNG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2011-2020 157 

Trang 5

I Đổi mới nhận thức và quan niệm về nguồn lực và động lực phát triển

cho phát triển nhanh và bền vững 157 

1 Về nguồn lực phát triển cho phát triển nhanh và bền vững 157 

2 Về động lực phát triển cho phát triển nhanh và bền vững: cần khẳng định chỉ có lợi ích kinh tế và tinh thần quốc gia dân tộc mới là động lực phát triển 161 

3 Sử dụng nguồn lực vì con người, vì vậy phải mang tính nhân văn cao 163 

4 Tạo dựng nguồn lực cho phát triển 163 

5 Triệt tiêu các yếu tố “thui chột” động lực 163 

II Thực thi các giải pháp đột phá chiến lược trên quan điểm nguồn lực, động lực để phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững nền kinh tế nước ta ở thời kỳ 2011-2020 164 

1 Cải tiến cơ cấu của nền kinh tế để sử dụng hiệu quả nguồn lực và tăng cường khả năng cạnh tranh quốc tế 164 

2 Nhà nước có chính sách khuyến khích về lợi ích kinh tế để tạo động lực cho sản xuất kinh doanh và tạo động lực phát triển xã hội gắn kết, cởi mở 166  3 Nhà nước có chính sách hình thành nguồn lực cho phát triển 168 

4 Nhà nước có chính sách phát huy các nguồn lực, nhất là đối với giới kỹ trị quốc gia và nguồn thông tin quốc gia 168 

III Kiến nghị bổ sung một số điểm đối với việc soạn thảo Cương lĩnh phát triển đất nước, Báo cáo chính trị và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 2011-2020 phục vụ Đại hội lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam 170 

1 Đổi mới mô hình phát triển và mô hình tăng trưởng để sử dụng hiệu quả các nguồn lực (gắn với lợi thế cạnh tranh quốc gia) 170 

2 Phát huy tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc; khuyến khích mọi người sáng tạo vì sự phát triển của quốc gia 172 

3 Tạo điều kiện, kể cả bằng cơ chế chính sách để giới kỹ trị quốc gia thể hiện giá trị của mình đối với sự nghiệp phát triển đất nước 173 

4 Nhà nước nhanh chóng thiết lập hệ thống thông tin thống nhất (có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển), nhất là thông tin về kinh tế, về khoa học công nghệ và về liên kết quốc tế 174 

5 Nhanh chóng đổi mới nhận thức, quan niệm về nguồn lực và động lực phát triển 174 

Trang 6

IV Kiến nghị những vấn đề cần nghiên cứu trong giai đoạn 2011-2015175  PHẦN PHỤ LỤC 179  TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH 187 

Trang 7

DANH MỤC BIỂU, HÌNH VÀ HỘP

BIỂU

Biểu 01 Vai trò của người Hoa ở Đông Nam Á 61 

Biểu 02 Cơ cấu vốn đầu tư thực hiện ở thời kỳ 2001-2010 (%) 68 

Biểu 03 Cơ cấu GDP chia theo thành phần kinh tế qua các năm (%) 69 

Biểu 04 Cơ cấu các nguồn vốn huy động bình quân trong thời kỳ 2001-2010 70  Biểu 05 Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động Việt Nam năm 2009 76 

Biểu 06 Một số chỉ tiêu về tiếp cận thông tin của Việt Nam 80 

Biểu 07 So sánh Bộ chỉ tiêu phát triển của Việt Nam (Tổng cục Thống kê) và Ngân hàng Thế giới 81 

Biểu 08 Hiện trạng sử dụng đất tính đến thời điểm 01/01/2008 83 

Biểu 09 Nguồn nước của các sông chính 86 

Biểu 10 Các hồ chứa lớn ở Việt Nam 87 

Biểu 11 Trữ lượng nước dưới đất có tiềm năng khai thác (tỷ m3/năm) 88 

Biểu 12 Chất lượng nước của một số cơ sở công nghiệp ở thượng và hạ lưu 90 

Biểu 13 Đơn sáng chế PCT của một số nước Đông Bắc Á và Đông Nam Á 111 

Biểu 14 Đơn sáng chế đã được nộp ở Cục Sở hữu trí tuệ quốc gia Việt Nam từ 2000 đến 2007 112 

Biểu 15.Tỷ trọng giá trị công nghiệp chế tác có trình độ công nghệ trung bình và cao (MHT) trong GDP ngành chế tác (MVA) và trong xuất khẩu ngành chế tác (MFD) của Việt Nam và một số nền kinh tế khác năm 2008 115 

Biểu 16 Cơ cấu hàng xuất khẩu phân theo trình độ công nghệ của Việt Nam và một số nền kinh tế năm 2008 (%) 117 

Biểu 17 Dự báo nguồn lực vốn so với GDP (%) 120 

Biểu 18 Dự báo cơ cấu sử dụng vốn đầu tư thời kỳ 2011 – 2020 (%) 121 

Biểu 19 Dự báo nguồn lao động Việt Nam thời kỳ 2011 – 2020 (%) 121 

Biểu 20 Dự báo cơ cấu sử dụng lao động của Việt Nam thời kỳ đến năm 2020 (%) 123 

Biểu 21 Dự báo về cơ cấu sử dụng đất vào năm 2020 125 

Biểu 22 Cơ cấu kinh tế chia theo ngành thời kỳ 2001-2010 (%) 133 

Trang 8

Biểu 23 Thời gian và chi phí khởi sự doanh nghiệp thời kỳ 2005-2008 139 

Biểu 24 Cơ cấu một số nguồn lực phát triển chủ yếu phân theo vùng và lãnh thổ 154

HÌNH Hình 01: Đường giới hạn khả năng sản xuất 5 

Hình 02: Quá trình mở rộng đường giới hạn khả năng sản xuất 6 

Hình 03: Nguồn gốc tăng trưởng kinh tế 20 

Hình 04: Quá trình động lực 33 

Hình 05: Tháp động lực của con người 34 

Hình 06: Mô hình tổng quát về các yếu tố quyết định và quá trình diễn biến của hành động có động lực 35 

Hình 07: Trung tâm động lực (TA: Motivation Hub) 36 

Hình 08: Hai loại quan niệm về động lực phát triển 40 

Hình 09: Khung tăng trưởng kinh tế có chất lượng 49 

Hình 10: Kiều hối chính thức, FDI, và dự trữ ngoại tệ (tỷ USD) của Trung Quốc từ năm 1990 đến năm 2009 63 

Hình 11: Quy mô và tốc độ tăng vốn đầu tư của Việt Nam qua các năm 66 

Hình 12: Chuyển dịch cơ cấu GDP theo khối ngành thời kỳ 2001-2010 (%) 68 

Hình 13: Cơ cấu, tốc độ tăng và quy mô vốn đầu tư năm 2000, 2005 và 2009 theo thành phần kinh tế 69 

Hình 14: Quy mô chuyển Kiều hối từng năm của Việt Nam (triệu USD) 70 

Hình 15: Mức dự trữ ngoại tệ của Việt Nam từ năm 1990 đến năm 2009 73 

Hình 16: Năng suất lao động năm 2008 của một số nền kinh tế trên thế giới 74 

Hình 17: Khoảng chênh lệch giữa tỷ trọng lao động nông nghiệp và tỷ trọng GDP ngành nông nghiệp của Việt Nam và một số nền kinh tế từ năm 1990-2008 75 

Hình 18: Tương quan mạnh giữa năng suất nghiên cứu khoa học với chỉ số phát triển con người ở các nước Đông Á 112 

Hình 19: Tỷ trọng vốn đầu tư so GDP và tốc độ tăng bình quân năm thời kỳ 2001-2010 (%) 119 

Hình 20 Tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế, của khu vực Nhà nước và của khu vực tư nhân (%) 131 

Trang 9

Hình 21 FDI (1.000 tỷ đồng) và tỷ trọng trong tổng vốn đầu tư (%) 138 

Hình 22: Diễn biến của chỉ số VN-Index giai đoạn 2006-2008 144 

Hình 23: Tiến trình quản lý đất đai từ nguồn tài nguyên đến nguồn vốn trong xã hội 151 

Hình 24: GDP/người năm 2009 của các vùng trong cả nước (USD) 156

HỘP Hộp 01: Định nghĩa về nguồn lực trong Từ điển 20 

Hộp 02: Bài học lịch sử về sự sụp đổ của Đảng Cộng sản Liên Xô 46 

Hộp 03: Thành công của Nhật Bản áp dụng chính sách thúc đẩy phát triển công nghệ 52 

Hộp 04: Vẫn chậm và chưa hiệu quả 71 

Hộp 05: Nợ tiêu chuẩn 77 

Hộp 06: Giám sát giáo dục đại học: Vỡ ra nhiều bất cập 78 

Hộp 07: Hơn 250.000 ha đất … bỏ hoang 84 

Hộp 08: Nhiều cán bộ công chức rời bỏ công sở tại Thành phố Hồ Chí Minh 134 

Hộp 09: Thủ tục hành chính đang cản trở kinh doanh 137 

Hộp 10: Các mục tiêu chiến lược về phát triển nguồn nhân lực và lao động việc làm đến năm 2010 149 

Trang 10

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

BTB&DHTB Bắc Trung bộ và Duyên hải Trung bộ

Trang 11

VHTT Văn hóa Thể thao

VNA Việt Nam

VT&BC Viễn thông & Bưu chính

WIPO Tổ chức sở hữu trí tuệ Thế giới

WTO Tổ chức Thương mại Thế giới

Trang 12

DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI THAM GIA CHÍNH

1 Trần Việt Phương Trần Quang Diệu, Hà Nội

2 PGS.TS Nguyễn Khắc Thanh Viện Kinh tế Chính trị Học

5 PGS.TS Bùi Quang Dũng Viện Xã hội học

- xã hội Quốc gia

17 TS.Trần Tú Cường Viện Nghiên cứu Địa chính

21 Ths Nguyễn Thị Hồng Minh Đại học Kinh tế Quốc dân

22 Ths Nguyễn Thị Lan Hương Viện Chiến lược Phát triển

- xã hội quốc gia

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của Đề tài

Việc huy động được tốt nhất các nguồn lực cũng như tạo ra và duy trì được cao nhất và liên tục động lực để phát triển vốn là những vấn đề then chốt của các chính sách phát triển kinh tế của mọi quốc gia, mọi thời đại Có thể khẳng định rằng, ở đâu và khi nào, các chính sách giải quyết thỏa đáng được vấn

đề này, ở đó và khi đó có phát triển Hơn nữa, để phát triển nhanh và bền vững thì việc huy động các nguồn lực và tạo động lực lại càng đòi hỏi các chính sách phải dựa trên những căn cứ khoa học vững chắc Do đó, giới nghiên cứu và các nhà làm chính sách trên thế giới cũng như Việt Nam rất quan tâm đến những vấn

đề liên quan đến nguồn lực và động lực của sự phát triển Nhiều vấn đề lý luận, nhất là về khía cạnh kinh tế chính trị trong bối cảnh mới chưa thật rõ Đối với mỗi quốc gia, các nguồn lực bao giờ cũng hữu hạn, “khan hiếm”; còn động lực thì luôn luôn phải có; một khi không còn thì cũng không thể phát triển Vì vậy, quan niệm thế nào về nguồn lực, động lực, đặc biệt là trong bối cảnh mới mà thời đại đang mở ra, với những xu hướng phát triển chủ yếu là toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, sự hình thành và phát triển kinh tế tri thức, hình thái phân công lao động quốc tế mới…; vai trò của các yếu tố nguồn lực truyền thống và “phi truyền thống”; làm thế nào để tạo ra và phát huy có hiệu quả nguồn lực, động lực cho phát một cách lâu bền nhất, sự tác động qua lại giữa nguồn lực và động lực, luôn được đặt ra với các nhà nghiên cứu cũng như các nhà làm chính sách Đối với Việt Nam, hiện nay chưa có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về những vấn đề nêu trên, trong khi thực tiễn phát triển đất nước đòi hỏi phải có nhận thức mới, đúng đắn về nguồn lực và động lực cho phát triển, từ đó có thể đưa ra được những định hướng, chính sách sử dụng, phát huy chúng phục vụ cho sự phát triển ngày càng đi lên của đất nước

Trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay, mức độ cạnh tranh để có được các nguồn lực ngày càng trở nên gay gắt và khốc liệt Các cường quốc cũ và mới đang thực hiện những chiến lược “tranh đoạt” những nguồn lực có tính chiến lược Nhiều cuộc chiến tranh đã và đang xảy ra do sự “tranh đoạt” này giữa các nước Toàn cầu hóa cũng là cơ hội cho nhiều nước tranh thủ biến nguồn ngoại lực trở thành nguồn nội lực để mở rộng khả năng sản xuất của nền kinh tế, đưa quốc gia đó phát triển Sau hơn 20 năm đổi mới, giới hạn và tính khan hiếm của nhiều loại nguồn lực là thực tế hiển nhiên ở nước ta, đặc biệt là sự khan hiếm về vốn đầu tư, các hạn chế về thông tin, khả năng phát minh và ứng dụng công nghệ cao cũng như sự yếu kém về nhân lực trong quá trình tham gia nền kinh tế toàn cầu Hơn nữa, trong lúc đất nước mới ra khỏi tình trạng kém phát triển, thì

Trang 14

việc huy động và sử dụng nguồn lực lại chưa tốt, còn phổ biến tình trạng sử dụng lãng phí các nguồn lực Mặt khác, động lực cho phát triển chưa có được sự nhận thức đầy đủ và phát huy một cách đúng đắn, triệt để Chúng ta đã phát huy được động lực rất lớn, rất mạnh trong các công cuộc bảo vệ và giữ nước, nhưng điều đó lại không được duy trì thường xuyên, liên tục, và đều đặn trong công cuộc phát triển kinh tế

Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, thì không thể không thừa nhận đó là những khiếm khuyết rất nghiêm trọng, đang ảnh hưởng rất bất lợi đến công cuộc phát triển của Việt Nam Làm thế nào để có nhận thức và hành động một cách khoa học dưới góc độ lý luận chính trị về nguồn lực và động lực phát triển đất nước cũng như đưa ra được những quan điểm mới về động lực và nguồn lực trong thời đại toàn cầu hóa và sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế tri thức, đóng góp cho việc xây dựng Cương lĩnh phát triển đất nước và Chiến lược phát triển đất nước trong thời kỳ mới là một mục tiêu quan trọng, thiết thực của Đề tài KX.04.08/06-10 Giai đoạn 2011-2020, đất nước ta sẽ bước sang thời kỳ thực hiện chiến lược 10 năm lần thứ 3 Trong lúc công việc chuẩn bị nghiên cứu nội dung chiến lược phát triển đất nước thời kỳ này đang được ráo riết chuẩn bị, việc nghiên cứu đề tài này sẽ là rất kịp thời và có nghĩa thực tiễn thiết thực, góp phần vào việc luận giải những căn cứ khoa học cho việc hoạch định chính sách đối với các nguồn lực và động lực cho chiến lược phát triển đất nước

2 Tổng quan nghiên cứu về nguồn lực, động lực cho phát triển nhanh

Trong số những công trình nghiên cứu trực tiếp liên quan tới chủ đề nguồn lực và động lực phát triển đã xuất bản trong những năm gần đây, phải kể

đến cuốn sách Nguồn lực và động lực phát triển trong nền kinh tế thị trường

định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 1 do GS.TSKH Lê Du Phong2 chủ biên

1 NXB Lý luận chính trị, Hà Nội 2006

2 Nguyên quyền Hiệu trưởng Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội

Trang 15

Công trình này đã đề cập đến những vấn đề lý luận về nguồn lực và động lực phát triển, bao gồm các khái niệm, vai trò và yêu cầu của việc phân bổ nguồn lực, phát huy động lực; kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về sử dụng và phát huy nguồn lực và động lực trong phát triển Cuốn sách cũng đã đánh giá thực trạng sử dụng các loại nguồn lực của nền kinh tế Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, gồm đất đai và tài nguyên thiên nhiên, nhân lực, vốn, khoa học – công nghệ, văn hóa vật thể và phi vật thể; thực trạng phát huy các loại động lực, bao gồm cơ chế thị trường, cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, cơ chế kích thích lợi ích kinh tế, cơ chế cạnh tranh và truyền thống văn hóa Cuốn sách cũng trình bày quan điểm, phương hướng và các chính sách, giải pháp nâng cao chất lượng nguồn lực, sử dụng hợp lý nguồn lực và phát huy đầy đủ các động lực phát triển trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Đối với việc triển khai đề tài này, cuốn sách trên được xem như một trong những tài liệu mới nhất, trình bày tập trung nhất những nội dung liên quan nên có thể xem như tài liệu tham khảo có giá trị Song, cũng như nhiều nguồn tư liệu khác, nhiều khía cạnh và nội dung học thuật, cách thức phân chia nguồn lực và động lực, cách tiếp cận để xác định quan điểm và giải pháp…, vẫn còn cần thiết phải trao đổi và nghiên cứu sâu thêm nữa Các tác giả cuốn sách, trong phần Lời nói đầu cũng đã khẳng định “vấn đề sử dụng, phát huy nguồn lực và động lực phát triển kinh tế là một vấn đề rất lớn và rất phức tạp đòi hỏi tính thực tiễn cao nên cần được tiếp tục nghiên cứu để tìm ra những giải pháp cụ thể cho từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội” Hơn thế nữa, một nội dung lớn của đề tài đặt ra là phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế trong tương quan với sử dụng các nguồn lực

và tạo dựng, duy trì động lực của thời kỳ đến 2020 ở Việt Nam như thế nào thì cuốn sách nêu trên vẫn chưa đề cập đến

Ngoài ra, các vấn đề liên quan đến các loại nguồn lực, động lực và phát triển bền vững bao quát nội dung rất rộng, rất nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến từng loại một, nên thay vì “điểm sách” đối với từng công trình cụ thể,

Đề tài sẽ tập trung vào một số nhóm vấn đề lớn, quan trọng đã được đề cập trong các công trình nghiên cứu tiêu biểu về các nguồn lực và động lực của sự phát triển, về phát triển bền vững, cùng các cách tiếp cận nghiên cứu đã được công bố

2.1 Về nguồn lực phát triển

Từ lâu, các nhà kinh điển của kinh tế học đã bàn rất nhiều đến các nguồn lực của sự phát triển kinh tế dưới nhiều góc độ khác nhau Việc khai thác các nguồn lực này từ góc độ lợi thế so sánh tuyệt đối đã là “Nguồn gốc của cải của các dân tộc” (Adam Smith) hay góc độ lợi thế so sánh là cơ sở của sự thịnh vượng dựa trên ngoại thương (David Ricardo) và đặc biệt là những phân tích

Trang 16

kinh tế chính trị học đặc biệt sâu sắc của C Mác về phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa với những chương bàn về giá trị sức lao động, về địa tô, về vốn tư bản, về vai trò của tiến bộ khoa học kỹ thuật

Các nhà kinh tế học hiện đại phân tích các nguồn lực phát triển kinh tế dựa trên sự đóng góp của các nguồn lực vào mức tăng trưởng kinh tế, cả từ góc độ phân tích định tính lẫn định lượng, bao gồm những yếu tố vật chất ở đầu vào: vốn, máy móc thiết bị, vật tư, nguồn tài nguyên được sử dụng, sức lao động ; và cả những yếu tố “phi vật chất”, bao gồm tổ chức, chính sách, quản trị, bí quyết công

nghệ (TA: know-how) , gọi bằng thuật ngữ chuyên môn là năng suất tổng nhân

tố (TA: Total factor productivity – TFP) - với nhận thức chung là, tỷ trọng của

TFP càng cao thì nền kinh tế càng có hiệu suất và càng tiến bộ (hàm ý kinh tế ở đây là, việc sử dụng các nguồn lực rất hiệu quả, rất tiết kiệm) Và lời giải cho vấn

đề làm sao để nền kinh tế tăng trưởng nhanh và bền vững cũng dựa rất nhiều vào luận điểm lý thuyết quan trọng này Ngoài ra, có thể có nhiều cách tiếp cận khác khi phân chia nguồn lực để phân tích; chẳng hạn, các nhà khoa học chia thành nội lực (các nguồn lực nội tại, ở bên trong) và ngoại lực… (Smith, 1997; Toffler, 2002; UNDP, 2001; Mác, 1984; Ricardo, 2002; Soto, 2006; Thurow, 2000; Gillis, 1990; Todaro, 1998; UNDP, 1999) Từ tổng kết thực tiễn, các văn kiện của Đảng

và văn bản pháp luật của Nhà nước ta cũng đã đề cập nhiều đến nội dung của các nguồn lực như ở Luật Đất đai, Luật Đầu tư (Đảng Cộng sản Việt Nam, 1987,

1991, 2001, 2006; Luật Đất Đai, 2003; Pháp lệnh thuế Tài nguyên sửa đổi, 1998; Luật Khoa học Công nghệ, 2000; Luật Đầu tư, 2005; Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ bảy khóa IX, lần thứ tư khóa X)

Về phương diện lý thuyết, vai trò của các nguồn lực đối với phát triển kinh tế là hiển nhiên Tuy vậy, những tranh luận học thuật cũng như tư duy chính sách lại luôn tỏ ra chưa có được tiếng nói nhất trí cuối cùng Các tranh luận học thuật cũng như có liên quan đến việc hoạch định chính sách chủ yếu xoay quanh các trục vấn đề sau:

- Làm thế nào để đo lường một cách chính xác mức độ đóng góp của từng loại nguồn lực, nhất là với các loại nguồn lực “phi vật chất”, nguồn lực “tinh thần” đối với sự phát triển? Điều này không chỉ xuất phát từ những khó khăn thuần túy mang tính kỹ thuật và thống kê, mà ngay cả việc xác định vai trò của những loại nguồn lực này không phải bao giờ cũng thống nhất và có thể lượng hóa được một cách dễ dàng

- Làm thế nào để huy động được tối đa các nguồn lực cho phát triển? Các nguồn lực tuy hữu hạn xét ở mỗi phạm vi và mỗi thời điểm lịch sử, nhưng việc

mở rộng phạm vi có thể huy động cho phát triển cần phải được xem như một trong những mục tiêu của việc hoạch định chính sách trong bối cảnh toàn cầu

Trang 17

hóa hiện nay Một trong những ví dụ điển hình nhất về việc mở rộng phạm vi nguồn lực có thể và cần phải huy động là vốn đầu tư nước ngoài (cả dưới hình thức trực tiếp lẫn gián tiếp) Tiếp theo là khoa học công nghệ, lao động (chuyên gia trình độ cao) Hàm ý của vấn đề ở đây là, trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, nguồn lực cần và có thể huy động cho phát triển kinh tế của mỗi quốc gia không chỉ bó hẹp trong phạm vi biên giới của quốc gia đó Cần

có “tư duy toàn cầu” khi lựa chọn và thiết kế chính sách cho mỗi vấn đề phát triển của đất nước

- Làm thế nào để sử dụng được các nguồn lực đã huy động được cho phát triển một cách hiệu quả nhất? Đây là vấn đề được xem là quan yếu nhất đối với huy động và sử dụng các nguồn lực Bởi vì, nếu nguồn lực được sử dụng một cách có hiệu quả, nền kinh tế có khả năng đạt được điểm A nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất của quốc gia đó; nếu không hiệu quả, thì đó có thể là điểm B hoặc những điểm nằm bên trong đường giới hạn khả năng sản xuất

Hình 01 Đường giới hạn khả năng sản xuất

Thêm nữa, khi nền kinh tế sử dụng các nguồn lực hiện có một cách hiệu quả thì nó sẽ làm tăng khả năng huy động các nguồn lực tiềm năng đang nằm đâu đó ở trong dân cư Đây chính là mối tương quan giữa việc sử dụng nguồn lực với việc huy động nguồn lực và ngược lại Tuy nhiên, việc đánh giá tính hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực luôn là vấn đề không dễ và vẫn còn nhiều tranh cãi, cả về phương diện lý luận lẫn cách thức đo lường Vấn đề là ở chỗ, mỗi chủ thể tham gia quá trình kinh tế có các địa vị, góc nhìn, mục tiêu khác nhau, nên cách mà họ xem thế nào là hiệu quả sử dụng các nguồn lực không phải bao giờ cũng như nhau Vì vậy, trong quá trình phân tích, đánh giá, việc tìm ra được những điểm chung trong các mục tiêu của các chủ thể có một vai trò rất quyết định đối với chính sách huy động nguồn lực

- Về mối tương quan giữa các nguồn lực, trong đó nổi lên vấn đề tương quan giữa nội lực và ngoại lực Toàn cầu hóa kinh tế và thương mại đã làm cho

B

C A

Hàng hóa Y

Hàng hóa X

Trang 18

sự dịch chuyển của các nguồn lực được dễ dàng hơn Nhờ đó, các quốc gia có thể sử dụng được những nguồn lực ở bên ngoài thay vì chỉ có nguồn lực ở trong nước Xét trên góc độ vĩ mô của nền kinh tế, đường giới hạn khả năng sản xuất

sẽ là đường Q1Q3 nếu nền kinh tế đó sử dụng nội lực và là đường Q2Q4 nếu nền kinh tế sử dụng cả nguồn nội lực và nguồn ngoại lực

Hình 02 Quá trình mở rộng đường giới hạn khả năng sản xuất

Quan điểm tổng quát về mối tương quan này đã được xác định là: Nội lực

có vai trò quyết định đối với sự phát triển Có phát huy được nội lực thì mới thu hút và sử dụng có hiệu quả ngoại lực Nội lực được tăng cường thì mới bảo đảm được độc lập tự chủ về kinh tế và thực hiện hội nhập kinh tế quốc tế thành công Phát huy nội lực trước hết là phát huy nguồn lực con người, nguồn lực của toàn dân tộc, khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên và sử dụng tốt nhất nguồn lực của Nhà nước Điều có ý nghĩa quyết định là phải có chính sách phù hợp để phát huy tối đa khả năng về vật chất, trí tuệ và tinh thần của mọi người dân, của các thành phần kinh tế, đặc biệt là kinh tế tư nhân - một nguồn lực giàu tiềm năng của dân tộc ta - để góp phần quan trọng giải quyết việc làm, đẩy nhanh và nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội

Ngoại lực có vai trò quan trọng cho sự phát triển Kết hợp tốt nội lực và ngoại lực sẽ tạo thành sức mạnh tổng hợp xây dựng đất nước Ngoại lực, bao gồm cả vốn đầu tư, công nghệ, kỹ năng quản lý và thị trường bổ sung cho nội lực, tạo thêm điều kiện để huy động và sử dụng nội lực có hiệu quả cao hơn Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, ngoại lực càng trở nên quan trọng; một nước đang phát triển ở trình độ thấp như nước ta, muốn vươn lên để theo kịp các nước, không thể coi nhẹ việc thu hút và sử dụng tốt nhất ngoại lực Muốn phát huy tốt ngoại lực, phải có một chiến lược tổng thể, nhất quán và môi trường đầu tư, kinh doanh lành mạnh, trước hết là có một hệ thống thể chế, chính sách đồng bộ, một nền hành chính minh bạch, hiệu lực, hiệu quả”

(Báo cáo Chính trị tại Đại hội X của Đảng CSVN) Như vậy, vấn đề biến ngoại

Q4

Q2 Hàng hóa Y

Hàng hóa X Q1

Q3

Trang 19

lực thành nội lực của sự phát triển đối với nước ta hiện vẫn là một trong những vấn đề có ý nghĩa chiến lược

Những vấn đề nêu trên đã và đang được bàn luận ở nhiều công trình nghiên cứu của nhiều học giả, các giáo trình kinh tế học vĩ mô ở các đại học, các báo cáo kinh tế của các chính phủ hay các tổ chức kinh tế quốc tế, đặc biệt là các báo cáo của Ngân hàng thế giới (WB), của Tổ chức Chương trình phát triển của Liên Hợp quốc (UNDP) hay của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng phát triển châu Á (ADB),… Điều đáng chú ý là, các phân tích đã tập trung rất nhiều vào các loại nguồn lực là các yếu tố đầu vào của sản xuất: vốn, sức lao động, tài nguyên, công nghệ kỹ thuật

Gần đây, một số công trình nghiên cứu đã đề cập đến những cách quan niệm mới về nguồn lực phát triển, trong đó đáng chú ý là những phân tích về một loạt các thành tố mới dưới góc nhìn mới, như vai trò của yếu tố địa kinh tế

và địa chính trị; sức mạnh tinh thần của yếu tố lịch sử, văn hóa; vai trò được nhấn mạnh đặc biệt của tri thức, của công nghệ thông tin, truyền thông, tổ chức, quản trị… Nhiều trong số các nhân tố này được một số công trình nghiên cứu gọi là “vốn xã hội” với các hàm ý rộng, hẹp khác nhau liên quan đến tổ chức xã hội, đến sức mạnh mang tính cộng đồng, xã hội, nhưng chưa được nghiên cứu sâu Đây cũng là điểm mà đề tài sẽ đặc biệt quan tâm, đi sâu xem xét, và hy vọng là, ngoài những nguồn lực mang tính truyền thống, cách nhìn mới về nguồn lực phát triển sẽ đem lại cho những nước chậm phát triển như Việt Nam, tận dụng được những cơ hội mới mà thời đại đang mở ra cho sự phát triển nhanh

và bền vững Đó cũng là dư địa hy vọng có đóng góp về mặt quan điểm cho Cương lĩnh và Văn kiện Đại hội Đảng kỳ tới (Trần Đình Thiên, 2005; Võ Trí Thành, 2005; Vũ Huy Chương, 2002; Vũ Đình Cự - Trần Xuân Sầm, 2006; Đỗ Minh Cương – Nguyễn Thị Doan, 2001; Diễn đàn Kinh tế và Tài chính Việt – Pháp, 2006; Nguyễn Văn Đặng, 2000; Nguyễn Đình Hương, 2006; Đỗ Hoài Nam, 2003; Ngân hàng thế giới, 2001; Lê Du Phong, 2006; Ngô Doãn Vịnh, 2006; Đặng Hữu, 2005; Vũ Đình Cự; 2005; Bello và Rosenfeld, 1996)

2.2 Về động lực phát triển

Động lực của sự phát triển là một trong những khái niệm có nội hàm rất rộng và mang ý nghĩa triết học nói chung cũng như mang ý nghĩa triết lý về sự phát triển nói riêng rất sâu sắc, đã được đề cập đến ở rất nhiều góc độ khác nhau của khoa học xã hội Tuy nhiên, cách hiểu về động lực phát triển cũng chưa có

sự thống nhất Các công trình nghiên cứu có liên quan đến động lực để phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế thì rất nhiều, nhưng cách tiếp cận và quan điểm lại rất khác nhau, chưa hẳn đã thành một hệ thống lý luận mạch lạc Thường thì

Trang 20

các nghiên cứu đã có ít khi đặt vấn đề động lực như mục tiêu chính, xuyên suốt nội dung trình bày, nhưng thực ra lại động chạm đến rất nhiều khía cạnh của động lực phát triển Vấn đề là ở chỗ tùy thuộc khá lớn vào quan niệm, góc độ tiếp cận, cách thức phân loại và đánh giá như thế nào về vai trò của các động lực phát triển Vì vậy, rất cần xác định rõ giới hạn khi nghiên cứu chủ đề này, và trong phạm vi của đề tài, chúng tôi dự định sẽ chỉ tập trung vào động lực để phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế Đảng ta, trong văn kiện các Đại hội và Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương trong hơn 20 năm đổi mới vừa qua cũng đã nhiều lần đề cập đến các nội dung khác nhau của động lực phát triển và luôn coi vấn đề động lực cách mạng nói chung, động lực phát triển kinh tế nói riêng là vấn đề hệ trọng (Đảng Cộng sản Việt Nam, 1987, 1991, 2001, 2006; Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, 2003; Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X, 2007; Quyết định 256/2003/QĐ-TTg; Quyết định 221/2005/QĐ-TTg)

Có nhiều công trình xem xét vai trò của thi đua (ví dụ: V.I Lê-nin: Bàn

về thi đua XHCN); lại có nhiều công trình phân tích cạnh tranh như động lực chủ yếu của sự phát triển kinh tế trong cơ chế thị trường dưới góc nhìn về sự đấu tranh sinh tồn Lại có cách tiếp cận khác khi xem xét động lực của phát triển qua lát cắt của những chủ thể tham gia thị trường, như vai trò của các công ty lớn; vai trò của chính phủ; của khu vực kinh tế tư nhân; FDI; của các ngành kinh tế mũi nhọn; của các vùng kinh tế đầu tầu, đóng vai trò như những động lực kinh

tế của sự phát triển của một quốc gia Lại có lát cắt mang nhiều ý nghĩa triết học hơn khi bàn về động lực phát triển kinh tế đối với lợi ích, bao gồm lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần, lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể, lợi ích xã hội, v.v (Sen, 2002; Vũ Tuấn Anh, 1994; Đinh Văn Ân – Võ Trí Thành; 2002; Vũ Đình Bách; 2000; UNDP, 2001; Nguyễn Cúc – Kim Văn Chính, 2006; Bạch Thụ Cường; 2002; Thế Đạt, 2005; Phạm Minh Hạc, 2001; Ohkawa và Kohama, 2004; Đặng Cảnh Khanh, 1999; Seitz, 2004; Janos, 2002; Võ Đại Lược, 2007; Nguyễn Văn Nam, 2006; Stiglitz và Yusuf, 2002; WB, 2000, 2001; Nguyễn Công Nghiệp, 2006; Samuelson và Nordhauss, 1989; Nolan, 2005; Lê Du Phong, 2006; Hồ Bá Thâm, 2004; Hà Huy Thành, 2006; Bùi Tất Thắng, 1999, 2006; Trần Đình Thiên, 2002; Trần Văn Thọ, 1997; Nguyễn Văn Thường, 2005; Nguyễn Phú Trọng, 2006; Nguyễn Thanh Tuyền, 2006; Ngô Doãn Vịnh, 2007; Đặng Hữu, 2005)

Rõ ràng là, trong khuôn khổ của một đề tài coi động lực phát triển như một trong những nội dung chính phải giải quyết, giữa kho tư liệu phong phú và phức tạp, việc lựa chọn cách tiếp cận cũng trở thành một đòi hỏi và một thách thức không nhỏ Đồng thời, việc lựa chọn những loại động lực nào để phân tích, đánh giá tác động của chúng đối với tăng trưởng nhanh và bền vững nền kinh tế

Trang 21

trong giai đoạn sắp tới cũng rất quan trọng Đặc biệt, sau việc tạo ra động lực, vấn đề duy trì được những động lực ấy cho sự phát triển kinh tế, hơn nữa, không chỉ phát triển kinh tế một cách bình thường, mà phải nhanh và bền vững, thì đang là khoảng trống khá lớn trong các công trình đã công bố Hơn thế nữa, trong mối tương quan giữa nguồn lực và động lực, cần có một góc nhìn mới, làm thế nào để tạo ra động lực, để trên cơ sở đó, các nguồn lực được huy động tối đa cho phát triển Nói cách khác, các nguồn lực đang cần một môi trường, cần một động lực cho sự hoạt động vì sự phát triển

2.3 Về phát triển nhanh và bền vững

Việc huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực cũng như tạo lập và duy trì các động lực cho phát triển luôn đi liền với yêu cầu phát triển nhanh và bền vững Kể từ khi Tuyên ngôn Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc được những người đứng đầu chính phủ của 180 nước thông qua (tháng 9 năm 2000), xem đó

“như những nền tảng thiết yếu cho một thế giới hoà bình, thịnh vượng và công bằng hơn”, tư duy về phát triển và phát triển bền vững của con người đã dần trở nên phổ cập Ngày nay, cả giới lãnh đạo, giới học giả, giới truyền thông cũng như đông đảo những người quan tâm đến phát triển đều đã thống nhất về cơ bản rằng, sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia đều phải dựa một cách vững chắc trên các trụ cột: bền vững về kinh tế, bền vững về môi trường, bền vững về xã hội và bền vững về thể chế

- Sự phát triển bền vững về kinh tế nhìn chung được các học giả coi là điều kiện nền tảng đảm bảo sự thịnh vượng của mỗi quốc gia Không ít trường hợp, các nền kinh tế ở một thời điểm thuận lợi nào đó, đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, nhưng thời gian duy trì lại không được lâu Sau một thời gian ngắn ngủi, nền kinh tế tỏ ra “hụt hơi”, “mất đà”, tốc độ tăng trưởng chậm dần, thậm chí chuyển sang suy thoái và rơi vào trạng thái thiểu năng Đó là biểu hiện điển hình của tình trạng phát triển không hiệu quả và không bền vững Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng này là nền kinh tế đã tăng trưởng không phải dựa trên tăng năng suất, mà chủ yếu nhờ khai thác các nguồn lực đầu vào một cách ồ ạt nhưng không có hiệu quả (tăng trưởng “bong bóng xà phòng”)

- Sự phát triển bền vững về mặt môi trường vốn là được xem là cách hiểu

thông dụng, mang tính truyền thống về phát triển bền vững, tức mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và việc khai thác, sử dụng, bảo vệ các nguồn tài nguyên

và môi trường thiên nhiên Vấn đề nguy cơ cạn kiệt các nguồn tài nguyên đã có những cảnh báo từ rất sớm, nhưng có lẽ mãi đến đầu thập niên 80 của thế kỷ

XX, khi mà Câu lạc bộ Roma đưa ra những thông tin và cách nhìn mới về sự cạn kiệt các nguồn tài nguyên - nhất là các loại tài nguyên không có khả năng tái tạo như nhiên liệu hoá thạch (than đá, dầu mỏ), các loại quặng kim loại , cùng

Trang 22

với diễn biến của những cuộc khủng dầu mỏ mà điển hình là cuộc khủng dầu mỏ

đã diễn ra vào các năm 1974-1975, thì nguy cơ môi trường bị xuống cấp mới được giới nghiên cứu và giới hoạch định chính sách ở nhiều nước quan tâm nhiều hơn, sâu hơn Và cho dù đã có nhiều tổ chức, chính phủ có những hành động thiết thực liên quan đến việc gìn giữ môi trường, nhưng dường như những

cố gắng ấy tỏ ra không thấm tháp gì so với tình trạng và xu thế xấu đi của không gian sinh tồn đã và đang diễn ra trong suốt mấy chục năm qua

Sự bền vững về môi trường tự nhiên vốn là xuất phát điểm của quan niệm

về phát triển bền vững, với sự nhấn mạnh đến cái giá phải trả về mặt môi trường nếu sự phát triển kinh tế không chú ý thỏa đáng đến bảo vệ môi trường Nhìn lại

sự phát triển của thế kỷ XX, người ta thấy rằng bên cạnh những thành tựu tuyệt vời về tiến bộ khoa học công nghệ, về phát triển sức sản xuất và của cải, thì loài người cũng phải “đối mặt với một hiện thực khắc nghiệt: dân số bùng nổ, nguồn tài nguyên cạn kiệt, môi trường tồi tệ đi nhanh chóng Hoạt động của con người

đã phá hoại nghiêm trọng cơ sở sinh tồn và phát triển của chính mình Những thành quả đã có và tiền đồ tốt đẹp rất có thể bị phá huỷ trong một sớm một chiều”, và “chính là trong sự suy xét lại sâu sắc về nguy cơ sống còn của loài người mà tư tưởng chiến lược phát triển bền vững ra đời” (UNDP, 1999)

Năm 1987, Uỷ ban thế giới về Phát triển kinh tế (WCED) trong bản báo cáo nhan đề “Tương lai của chúng ta”, đã đưa ra định nghĩa về phát triển bền vững như sau: “Sự phát triển mà thoả mãn được các nhu cầu của hiện tại nhưng không làm tổn hại đến khả năng của thế hệ tương lai trong việc thoả mãn các

nhu cầu của họ”(UNDP, 1999) Từ đó, trong các Báo cáo phát triển con người

hàng năm của Liên hợp quốc, sự quan tâm ngày càng nhiều đến phát triển bền

vững, với một thông điệp được nhấn mạnh nhiều lần, rằng lợi ích của thế hệ tương lai cần được quan tâm như là đối với các lợi ích của thế hệ hiện nay Việc

sử dụng các nguồn của cải tự nhiên và nguồn lực chung không được phá huỷ các

cơ hội của các thế hệ tương lai

Tuy nhiên, bảo tồn sự nguyên vẹn năng lực sản xuất không có nghĩa là giữ nguyên hiện trạng thế giới như là khi chúng ta đã thấy nó trước đây Cái cần phải bảo tồn là các cơ hội cho thế hệ tương lai sống cuộc sống tốt lành Có được

sự bền vững (cả sản xuất và tiêu dùng) ngụ ý rằng cái mà chúng ta có nghĩa vụ phải để lại là năng lực chung để tạo ra phúc lợi, chứ không phải là cái gì hay nguồn lực nào cụ thể Bảo tồn trữ lượng các nguồn lực không có nghĩa là tất cả các nguồn lực không tái tạo (như khoáng sản và nhiên liệu) phải được giữ nguyên; điều này là không khả thi Nhưng muốn duy trì trữ lượng các nguồn lực của toàn bộ xã hội, hiểu theo nghĩa rộng, thì có lẽ những tài nguyên không tái tạo phải được sử dụng một cách tối ưu nhất, và khi sử dụng hết cần phải được

Trang 23

thay thế bằng một cái nào đó khác Đó bắt buộc phải là nguồn vốn có thể tái tạo được, dù là vật chất hay con người Ý tưởng cho rằng các khoản thu được từ các tài sản đang cạn kiệt cần phải được tái đầu tư sao cho có thể đủ bù đắp cho các nguồn tài nguyên đang cạn kiệt

Tuyên ngôn Thiên niên kỷ viết rằng, cần phải “Tôn trọng tự nhiên: Phải thận trọng trong việc quản lý đời sống tất cả các loài sinh vật và các tài nguyên thiên nhiên, phù hợp với phương châm phát triển bền vững Chỉ có bằng cách này chúng ta mới có thể được cung cấp các nguồn của cải vô hạn qua việc bảo tồn thiên nhiên và truyền lại cho các thế hệ kế tiếp Kiểu mô hình sản xuất và tiêu dùng không bền vững hiện nay phải được thay đổi trong sự quan tâm về tương lai thịnh vượng của chúng ta và của các thế hệ mai sau” (WB, 2002) Đó chính là tư duy mang tính kinh tế sâu sắc đã đạt được về vấn đề phát triển bền vững về môi trường trong tương quan với phát triển kinh tế bền vững

- Nhấn mạnh khía cạnh phát triển bền vững về mặt xã hội là bước phát triển mới về tư duy trong quan niệm về phát triển bền vững Sự duy trì môi trường sống có liên quan mật thiết đến vấn đề nghèo đói Đây là lập luận ngày càng được minh chứng rõ ràng trong khuôn khổ phát triển bền vững Ngân hàng thế giới (1992) cho rằng xoá đói giảm nghèo là một công cụ bảo vệ môi trường khỏi sự xuống cấp Xoá đói giảm nghèo được coi như một trong những điều tiên quyết của bảo tồn môi trường “Người nghèo vừa là nạn nhân vừa là tác nhân của sự phá huỷ môi trường Khoảng một nửa số người nghèo trên thế giới sống

ở nông thôn nơi có môi trường rất dễ bị tổn hại, và họ dựa vào nguồn tài nguyên thiên nhiên mà họ ít có khả năng kiểm soát về mặt pháp lý Người nông dân thiếu đất phải canh tác trên những vùng không thích hợp - độ dốc cao, các sườn đồi bị sói mòn; đất nửa hoang mạc nơi mà sự bạc màu diễn ra nhanh chóng; và các cánh rừng nhiệt đới nơi mà năng suất trên các cánh đồng khai hoang giảm đáng kể sau một vài năm Các gia đình nghèo thường thiếu nguồn lực để sống tự cấp tự túc, phải vật lộn với các kế sinh nhai hàng ngày để tồn tại.”

Nhà kinh tế học cổ điển vĩ đại Adam Smith đã từng nói: "Không có xã hội nào có thể chắc chắn hưng thịnh và có hạnh phúc, khi phần lớn người dân phải sống trong cảnh nghèo đói và khổ cực" (Adam Smith, The Wealth of Nations, 1776) Nhiều nhà nghiên cứu nổi tiếng khác trên thế giới thời gian gần đây cũng nhất trí với quan điểm cho rằng, vấn đề cơ bản của sự phát triển phải được định nghĩa lại như một cuộc đấu song có lựa chọn vào các hình thài tồi tệ nhất của sự nghèo đói và mục đích của việc phát triển phải được xác định trên cơ sở phấn đấu giảm dần và cuối cùng là loại bỏ hẳn tình trạng thiếu dinh dưỡng, bệnh tật,

mù chữ, nghèo khổ, thất nghiệp và bất công (Mahbubul Haq - Giám đốc Ngân hàng thế giới)

Trang 24

- Sự bền vững về thể chế là một bổ sung đáng kể mới nhất trong tư duy về phát triển bền vững Tính bền vững của sự phát triển vừa đòi hỏi phải được thể hiện ở khía cạnh bền vững về thể chế, lại vừa đòi hỏi thể chế tạo lập cơ sở cho

sự phát triển được bền vững Thể chế, trong đó vai trò trung tâm là Nhà nước, phải tạo ra một môi trường chung ổn định, an ninh về chính trị - xã hội; thân thiện và hỗ trợ đối với thị trường, kinh doanh; đề cao những giá trị xã hội, sự công bằng, nền dân chủ, ý thức chân thành tín nghĩa nếu tách rời ra khỏi các vấn

đề hệ trọng về chính trị, thể chế và cơ cấu quyền lực của việc định lại chiến lược phát triển theo hướng bền vững trên các phương diện cơ bản thì bản thân các khoa học xã hội nói chung, triết học và kinh tế học nói riêng rất ít có ý nghĩa Vì thế, việc xây dựng thể chế có ý nghĩa nền tảng quan trọng hàng đầu của sự phát triển bền vững của Việt Nam

Những yếu tố đảm bảo sự bền vững của thế chế được đề cập đến gồm: tính đồng bộ, nhất quán và có hiệu lực của hệ thống pháp luật, đảm bảo cho sự vận hành của nền kinh tế thị trường được dựa trên nền tảng pháp luật vững chắc, phù hợp với thông lệ quốc tế Nền hành chính gọn nhẹ, hiệu quả, tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư và kinh doanh của doanh nghiệp thuộc mọi hình thức sở hữu Kết hợp việc hoàn thiện cơ cấu tổ chức quản lý Nhà nước với nâng cao chất lượng cán bộ công chức Các chương trình chiến lược và quy hoạch phát triển của quốc gia phải thực sự trở thành một công cụ quản lý hữu hiệu trong tay Nhà nước, thành căn cứ chỉ dẫn tin cậy cho các nhà đầu tư, kinh doanh

Như vậy, từ các khía cạnh tự nhiên, kinh tế, xã hội và cơ chế nêu trên, có thể khái quát lại là: “Chiến lược phát triển bền vững là sự hội tụ và thăng hoa của mọi tư tưởng tốt đẹp được lưu truyền hết đời nọ sang đời kia trong nhân thế

Chiến lược này, ngoài nguyên tắc chủ đạo về tính bền vững (TA: sustainability), còn bao gồm 3 nguyên tắc về tính công bằng (TA: fairness), nó vừa đòi hỏi sự

công bằng cho người thế hệ này, vừa đòi hỏi sự công bằng cho các thế hệ sau;

tính hài hoà (TA: harmony), một mặt là sự hài hoà giữa con người và giới tự

nhiên, mặt khác là sự hài hoà (hoà mục) giữa người và người; tính cộng đồng (TA: common), nó nhấn mạnh tính chỉnh thể của địa cầu và tính phụ thuộc lẫn

nhau của loài người, muốn thực hiện mục tiêu chung của sự phát triển bền vững, cần áp dụng hành động liên hợp chung toàn cầu” (Yongqing, 2002)

Tóm lại, phát triển bền vững mang tính tổng hợp với mục tiêu rõ ràng là

vì con người, không chỉ là sự mở rộng cơ hội lựa chọn cho thế hệ hôm nay mà còn không được làm tổn hại đến những cơ hội lựa chọn của các thế hệ mai sau

Sự bền vững của phát triển được thể hiện cả ở khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường Đó là quá trình gia tăng phúc lợi cho các thế hệ con người bằng cách gia tăng tài sản, bao gồm tài sản vật chất, tài sản tài chính, tài sản con người, tài sản

Trang 25

môi trường (nước sạch, không khí sạch, bãi cá, rừng cây, đất đai ) và tài sản xã hội (sự tin cậy lẫn nhau, khả năng liên kết, sự đảm bảo an ninh cho người và tài sản ) Đó chính là thông điệp chủ yếu của tư duy mới về phát triển cho thế kỷ XXI của loài người, trong đó có Việt Nam

Vấn đề đang đặt ra hiện nay là, những đánh giá về việc thực hiện Mục tiêu thiên niên kỷ ở Việt Nam hiện đang được coi là một trong những “điểm sáng” trên thế giới Nhưng đó là “điểm sáng” của tình thế giảm đói nghèo Con đường tiến đến chỗ không còn phải lấy giảm đói nghèo làm thành tích nổi bật chính vẫn còn không phải ngắn Thách thức đặt ra cho việc huy động nguồn lực và tạo dộng lực cho phát triển để nhanh chóng thoát ra khỏi “vùng trũng” về mặt bằng phát triển đang đặt ra rất cấp bách đối với nước ta (Oxfam International, 1997; UNDP, 2001; Đại học Quốc gia Hà Nội - Viện quốc tế Konrad Adenaner Stiftung, 2001; Nguyễn Đình Hương, 2006; Phan Văn Khải, 2002; Todaro, 1998; Phạm Xuân Nam, 2005; Trần Nhâm, 1997; Anand và Sen, 1996; Bùi Tất Thắng, 2006; UNDP – MPI/DSI, 2001; WB, 2001, 2002)

2.4 Nguồn lực và động lực cho phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế

Phần tổng quan những kết quả nghiên cứu của các công trình đã công bố nêu trên cho thấy, từng nội dung riêng biệt về nguồn lực, động lực, phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế được khai thác khá sâu và đề cập đến từ nhiều chiều cạnh Những phân tích này đã tạo dựng được khung khổ nền tảng về lý thuyết cũng như tình hình thực tiễn để tiếp tục triển khai nghiên cứu những vấn

đề mà thực tiễn mới đang đặt ra và đòi hỏi phải giải đáp Ở góc độ này, đề tài sẽ

kế thừa được nguồn tư liệu tham khảo rất phong phú

Tuy nhiên, hạn chế của phần lớn những công trình nêu trên chính là chỗ

mà đề tài này được thiết kế ra với hy vọng bổ sung phần nào cho những thiếu khuyết ấy Đó là xuất phát từ yêu cầu phải phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế để đặt ra yêu cầu đối với việc huy động và sử dụng các nguồn lực sao cho được nhiều nhất, hiệu quả nhất; cũng như yêu cầu đối với việc tạo ra và duy trì được tốt nhất động lực của sự phát triển Hơn thế nữa, phía sau những mối quan hệ biện chứng giữa nguồn lực – động lực – phát triển kinh tế nhanh và bền vững phải là một triết lý, một tư duy phát triển khoa học, hợp quy luật, hợp xu thế khách quan của thời đại là mở cửa, hội nhập và kinh tế thị trường, đó chính

là đòi hỏi đối với tư duy chính sách cho phát triển kinh tế Việt Nam thời kỳ đến năm 2020 mà đề tài này phải đạt đến (Vũ Tuấn Anh, 1994; Đinh Văn Ân – Võ Trí Thành, 2002, Đỗ Bình, 2000; Lê Đăng Doanh, 2002; Đảng Cộng sản Việt Nam, 1987, 1991, 2001, 2006; Agenda 21; Winters và Yusuf, 2007; Aghipon và Howitt, 1999; Lê Hữu Tầng, 2002; Gersovitz và các cộng sự, 1982; Bùi Tất Thắng, 2006; Trần Đình Thiên, 2002; WB, 2003)

Trang 26

Tư duy về nguồn lực và động lực để phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế Việt Nam ở giai đoạn 2011 – 2020 theo cách tiếp cận như vậy cũng chính là điểm mà đề tài sẽ có đóng góp cụ thể vào việc bổ sung, phát triển Cương lĩnh năm 1991 và dự thảo các văn kiện Đại hội XI của Đảng ở những phần có nội dung liên quan

3 Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu của Đề tài

a) Đối tượng nghiên cứu của Đề tài là nguồn lực, động lực cho phát triển

nhanh và bền vững nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn 2011-2020

b) Nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu của Đề tài:

(1) Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về nguồn lực và động lực của sự phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế (các khái niệm về nguồn lực, động lực

phát triển - cách nhìn truyền thống và cách nhìn hiện đại); xác định các nguồn lực, động lực để phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế Việt Nam trong điều kiện mới; quan niệm, phương cách và biện pháp huy động và sử dụng nguồn lực, tạo lập, duy trì và phát huy động lực đối với phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế; nghiên cứu kinh nghiệm một số nước về huy động, sử dụng nguồn lực và tạo động lực cho phát triển kinh tế

(2) Đánh giá thực trạng huy động và sử dụng nguồn lực, tạo lập, duy trì

và phát huy động lực cho phát triển kinh tế Việt Nam trong hơn 20 năm đổi mới vừa qua, phân tích các nội dung về nhận thức, chủ trương, các biện pháp đã thực thi và kết quả huy động, sử dụng đối với mỗi loại nguồn lực; tạo lập, phát huy, duy trì đối với mỗi động lực phát triển; làm rõ những nguyên nhân chủ yếu của những thành tựu và hạn chế, những bài học kinh nghiệm thành công và chưa thành công, những vấn đề vướng mắc lớn về nhận thức lý luận và về thể chế, chính sách cần phải tháo gỡ

(3) Định hướng huy động và sử dụng nguồn lực; hình thành và phát huy động lực cho phát triển kinh tế Việt Nam trong thời kỳ 2011 – 2020, xác định những nhân tố mới tác động đến nguồn lực và động lực phát triển kinh tế nhanh

và bền vững; những điều kiện cơ bản bảo đảm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực và động lực trong bối cảnh mới của quá trình toàn cầu hóa, phát triển kinh tế tri thức và hội nhập kinh tế quốc tế; phân tích và dự báo yêu cầu của việc huy động, sử dụng nguồn lực và tạo lập động lực cho phát triển kinh tế nhanh và bền vững của Việt Nam; đề xuất các giải pháp để huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, duy trì liên tục, phát huy tốt nhất các động lực để phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2011-2020

c) Phạm vi nghiên cứu của Đề tài:

- Không gian nghiên cứu: Lãnh thổ Việt Nam

Trang 27

- Thời gian nghiên cứu: hiện trạng chủ yếu từ năm 2000 đến nay (2009);

dự báo từ năm 2010 đến năm 2020 (tương ứng với thời gian của Chiến lược phát triển đất nước)

4 Phương pháp nghiên cứu và số liệu phục vụ nghiên cứu của Đề tài a) Để thực hiện được mục tiêu đã đề ra, Đề tài KX 04.08/06-10 sử dụng

những phương pháp tiếp cận chủ yếu sau:

- Tiếp cận hệ thống: Nhìn nhận các nguồn lực, động lực và phát triển nhanh, bền vững trong một chỉnh thể và có quan hệ gắn bó hữu cơ với nhau Việc xác định các nguồn lực, động lực phải đi kèm với xác định các điều kiện để

có thể huy động, sử dụng chúng một cách có hiệu quả và bền vững

- Tiếp cận trên quan điểm toàn diện và hiện đại: Các nguồn lực và động lực phát triển phải được nhìn nhận một cách toàn diện có tính động Đối với nguồn lực phải coi trọng cả nội lực và ngoại lực với nhãn quan cả trước mắt và lâu dài, gắn với bối cảnh toàn cầu hóa và dưới tác động của khoa học – công nghệ hiện đại Đặc biệt, trong bối cảnh Việt Nam đã là thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), việc coi nền kinh tế Việt Nam như một bộ phận hữu cơ của kinh tế thế giới theo hướng hiện đại

- Tiếp cận thực tế: Từ thực tế để đánh giá tình hình và đề xuất những kiến nghị, đặc biệt là khung thời gian của chiến lược 10 năm 2011 – 2020 Lấy hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường và hiệu quả cả trước mắt và hiệu quả lâu dài để xem xét việc phát huy nguồn lực để phát triển Tiếp cận thực tế còn dựa trên quan điểm duy vật biện chứng: thực tiễn là tiêu chuẩn duy nhất của chân lý

Từ cách tiếp cận như trên, đề tài cũng đã sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu, trong đó nhấn mạnh một số phương pháp chủ yếu sau:

- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Trên cơ sở thu thập các tài liệu (về lý thuyết và thực tế, trong và ngoài nước), tiến hành đánh giá, phân tích các cách tiếp cận, các nội dung của nguồn lực, động lực và tổng hợp lại theo quan điểm đổi mới Các vấn đề về phát triển bền vững cũng được phân tích sâu các khía cạnh từ quan điểm, yêu cầu đến nội dung có tính tới mối tương quan giữa huy động và sử dụng nguồn lực với tạo lập, duy trì và phát huy động lực cho phát triển

- Phương pháp so sánh: Việc so sánh các thế mạnh, thế yếu, giữa các thời

kỳ đối với chính sách huy động và sử dụng nguồn lực, hình thành và phát huy động lực cho phát triển sẽ giúp cho việc đánh giá hiện trạng và kiến nghị phương hướng, biện pháp sâu sắc và rõ ràng hơn

- Phương pháp dự báo: Dự báo các nhân tố mới ảnh hưởng đến nguồn lực, động lực phát triển trong thời kỳ tới Đồng thời, đưa ra một số “kịch bản” phát

Trang 28

triển kinh tế của thời kỳ 2011 – 2020 với các cách thức huy động và sử dụng các nguồn lực hiệu quả hơn (hay ở phạm vi hẹp hơn là hiệu suất sử dụng các nguồn lực) và hình thành phát huy tốt động lực để phát triển kinh tế nhanh và bền vững

ở Việt Nam

- Khảo sát thực tế, phỏng vấn, tham khảo ý kiến chuyên gia

b) Số liệu phục vụ cho nghiên cứu của Đề tài:

- Các số liệu trong nước chủ yếu được trích từ các Niên giám Thống kê từ năm 1995 đến năm 2009

- Các số liệu có tính đối sánh quốc tế chủ yếu được trích từ nguồn số liệu của Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Phòng Thống kê Liên Hiệp quốc (UNSTATS)

- Một vài số liệu khác được trích từ các sách, các bài viết và trên các trang web mà Đề tài đã tham khảo

5 Kết cấu nội dung báo cáo tổng hợp của Đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được kết cấu thành 04 phần lớn như sau:

- Phần I: Những vấn đề lý luận cơ bản về nguồn lực và động lực cho sự phát triển nhanh và bền vững

Trong phần này, Đề tài tổng kết, trình bày tổng quan nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về nguồn lực, động lực cho phát triển, về phát triển nhanh

và bền vững; nghiên cứu một số kinh nghiệm thực tiễn của các nước trong việc thu hút, sử dụng nguồn lực và phát huy động lực

- Phần II: Hiện trạng và dự báo sử dụng nguồn lực và phát huy động lực cho phát triển nhanh và bền vững ở Việt Nam

Trong phần này, trên tinh thần đổi mới, Đề tài đánh giá tổng quan hiện trạng sử dụng nguồn lực và phát huy động lực cho phát triển nhanh và bền vững

ở Việt Nam trong thời gian qua; đánh giá, nhận định những điểm được và chưa được; phát hiện nguyên nhân Đồng thời, Đề tài sẽ dự báo nhu cầu và khả năng

sử dụng những nguồn lực chính cho phát triển của Việt Nam trong thời gian tới (2011-2020)

- Phần III: Các kiến nghị đảm bảo nguồn lực và động lực cho phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn 2011-2020

Các kiến nghị về giải pháp đảm bảo nguồn lực và hình thành, phát huy động lực cho phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn

2011 – 2020; một số kiến nghị đối với việc soạn thảo Cương lĩnh phát triển đất

Trang 29

nước trong thời kỳ mới, Báo cáo Chính trị và Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội thời kỳ 2011 – 2020 phục vụ Đại hội lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam, cũng như những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu trong giai đoạn 2011-2015

Để thực hiện thành công nhiệm vụ được giao, Ban Chủ nhiệm Đề tài đã triển khai 67 chuyên đề nghiên cứu, tổ chức 9 lần Hội thảo, nhiều cuộc tọa đàm

và lấy ý kiến các chuyên gia ở trung ương và các địa phương Ban Chủ nhiệm

Đề tài đã nhận được sự giúp đỡ có hiệu quả của các nhà khoa học, các nhà quản

lý Họ đã đóng góp hữu ích cho việc nghiên cứu của Đề tài Ban Chủ nhiệm Đề tài cảm ơn Ban chủ nhiệm Chương trình khoa học cấp Nhà nước, Hội đồng Lý luận Trung ương, các cơ quan hữu trách của Bộ Khoa học và Công nghệ cũng như của Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Trang 30

PHẦN I

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NGUỒN LỰC VÀ ĐỘNG LỰC

CHO SỰ PHÁT TRIỂN NHANH VÀ BỀN VỮNG

I Nguồn lực phát triển

1 Khái niệm, đặc điểm và phân loại nguồn lực

1.1 Các nghiên cứu trong và ngoài nước

Vai trò của nguồn lực rất quan trọng đối với sự hình thành và phát triển của loài người, chính vì vậy quan niệm về nó được xuất hiện từ rất sớm Tuy nhiên những quan niệm ban đầu về nguồn lực thường thiếu rõ ràng, rất khác nhau và đặc biệt thiếu sự gắn kết với quá trình phát triển kinh tế Lý do là quan niệm về nguồn lực phụ thuộc vào nhân sinh quan của con người và tri thức khoa học đã đạt được Bên cạnh đó, các nhóm xã hội, các cộng đồng và các tôn giáo khác nhau sẽ xác định những giá trị khác nhau đối với các nguồn lực cho nên quan niệm về nguồn lực có sự khác nhau lớn

Điều này đã thay đổi khi sự xuất hiện của ngành khoa học về kinh tế, với

sự ra đời của tác phẩm bất hủ “Của cải các dân tộc” vào thế kỷ 18 của học giả người Scotland, Adam Smith3 Ông đã cho rằng nguồn lực chủ yếu của xã hội

trong thời kỳ ông sống là vốn, sức lao động, và đất đai Đây chính là nguồn gốc

cho sự thịnh vượng của các quốc gia, là chìa khóa dẫn tới tăng trưởng kinh tế Tất

cả các trường phái và các học thuyết kinh tế cũng như chính trị sau này, đều nhất trí với quan điểm của Smith, nhưng họ tiếp tục bổ sung thêm các nguồn lực mới

và đồng thời có những định lượng đánh giá được mức độ, vai trò ảnh hưởng của từng nguồn lực đó đến quá trình phát triển kinh tế Đó là, David Ricardo (1772-1823), nhà kinh tế học người Anh đã đặt nền móng cho phát triển lý thuyết lợi thế

so sánh giữa các quốc gia, làm nền tảng cho việc thúc đẩy buôn bán, trao đổi thương mại giữa các quốc gia, và từ đó hình thành cơ sở của sự thịnh vượng dựa trên ngoại thương Đó là Karl Marx (1818-1883), nhà kinh tế chủ nghĩa xã hội học người Đức, với tác phẩm vĩ đại Tư bản đã lồng ghép phân tích kinh tế với phân tích chính trị, triết học đưa ra những lập luận rất sâu sắc về các phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, trong đó nhấn mạnh đến giá trị thặng dư (gắn với người lao động), năng suất lao động (gắn với tiến bộ kỹ thuật), gắn với những lợi thế so sánh (địa tô), và gắn với sở hữu (lợi ích của các giai cấp),…

Các nhà kinh tế học cổ điển sau đó đã khái quát hoá hàm sản xuất của mọi nền kinh tế bằng một phương trình rất ngắn gọn: Y = f(K,L), trong đó Y là sản

3 Tên đầy đủ của tác phẩm là “Tìm hiểu bản chất và nguồn gốc của cải các quốc gia” được xuất bản năm 1776

Trang 31

lượng, K là vốn và L là lao động Có nghĩa là Y được hiểu là một hàm số có 2 yếu tố biến đổi: vốn và lao động Ở đây, họ đã gộp đất đai và vốn tư bản trở thành nhân tố K duy nhất Từ phương trình này, đã hình thành trường phái lý thuyết tăng trưởng dựa vào các yếu tố nội sinh (K và L) Điển hình là mô hình tăng trưởng H-D của hai nhà kinh tế Harrod-Domar, nhấn mạnh đến vai trò của vốn, đặc biệt là tiết kiệm (S) cho quá trình tăng trưởng của nền kinh tế: S = sY, trong đó s là tỷ lệ tiết kiệm

Về sau, Robert Solow4 đã biến đổi một chút phương trình cũ thành phương trình mới: Y = Af(K, L), trong đó A là sự tiến bộ kỹ thuật5 (TA: technical

progress) Theo Solow, về dài hạn, tăng trưởng kinh tế phải dựa vào yếu tố A

Chính vì vậy, đối với không ít các học giả kinh tế, khoa học công nghệ (nguồn gốc của tiến bộ kỹ thuật) luôn là một nguồn lực quan trọng có tác động sống còn đến sự phát triển của một quốc gia trong thời đại hiện nay Do vậy, họ thậm chí đã tách riêng công nghệ ra khỏi nhân tố vốn thành một nhân tố độc lập trong hàm sản xuất Những người đồng tình theo cách phân tích của Solow được gọi là những nhà kinh tế học của trường phái lý thuyết tăng trưởng ngoại sinh Trong thời gian đầu, nhiều nhà kinh tế học đồng tình với cách phân rã này, tuy nhiên về sau, việc phát hiện thêm các nhiều nhân tố khác cũng có có đóng góp nhất định cho tăng trưởng như thể chế, yếu tố hội nhập quốc tế, nên các nhà kinh tế học đã gọi A là Tổng các nhân tố năng suất (TFP) Thậm chí, một số nhà kinh tế, điển hình là Douglas North6, đã đi theo trường phái thể chế, nhấn mạnh rằng vai trò có tính quyết định của thể chế đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế

Gần đây (năm 2003), Dani Rodrik7 cho rằng các nhân tố K, L, và A là các nhân tố nội sinh; cần phải bổ sung thêm các nhân tố ngoại sinh như địa lý (bao gồm: vị trí, khí hậu, địa hình, sinh thái, nguồn lực tự nhiên) và các nhân tố bán ngoại sinh như thể chế và quá trình hội nhập quốc tế (Hình 03) Lập luận của Rodrik có vẻ hợp lý khi xem xét các trường hợp phát triển của các quốc gia chủ động hội nhập, thể chế minh bạch, và tận dụng được các điều kiện địa lý có sự thuận lợi hơn về phát triển so với các nền kinh tế khác như Hong Kong, Panama, Singapore, Nhật Bản, Đài Loan hoặc Hàn Quốc,

Tuy nhiên nhìn chung, mô hình tổng quát của lý thuyết phát triển kinh tế vẫn được khái quát hóa là Y = f(K,L), trong đó tất cả các yếu tố khác như tài nguyên đã được sử dụng, công nghệ, thông tin, đã được “vốn hóa” được tính chung là yếu tố vốn Thuật ngữ “nguồn lực” hiện được sử dụng nhiều nhất trong lĩnh vực nghiên cứu tự nhiên, phát triển kinh tế và quản lý phát triển Nhìn

4 Nhà kinh tế học người Mỹ đạt giải Nobel năm 1987

5 A còn được gọi là phần dư Solow

6 Nhà kinh tế học người Mỹ, đạt giải Nobel về Kinh tế năm 1993

7 Nhà kinh tế học người Mỹ, giáo sư Đại học Havard

Trang 32

chung trong các lĩnh vực kể trên, qua những tài liệu Đề tài hiện đang tham khảo,

người ta cho rằng, nguồn lực là tất cả các đầu vào (TA: inputs) hoặc là các nhân

tố sản xuất (TA: factors of production) sử dụng cho quá trình phát triển kinh tế

Ngoài ra, trong một vài tài liệu tham khảo khác như “Chiến lược kinh tế Hoa Kỳ: an ninh và thịnh vượng cho hôm nay và mai sau”, nguồn lực được coi là tất

cả các phương tiện (TA: means) được sử dụng với những cách thức khác nhau

nhằm đạt được những mục tiêu đề ra Từ những lý thuyết trên về nguồn lực phát

triển, Đề tài nhận thấy, các học giả phương Tây cho rằng, nguồn lực (nếu hiểu

theo một cách rộng nhất) là bất kỳ vật gì, nguyên liệu gì, hay hàng hoá gì (sẵn sàng) được sử dụng phục vụ quá trình sản xuất kinh doanh của xã hội

Hình 03 Nguồn gốc tăng trưởng kinh tế

Nguồn: Snowdown và Vane (2005: 634)

Hộp 01 Định nghĩa về nguồn lực trong Từ điển

Hiểu theo một cách giản đơn, thuật ngữ nguồn lực có tên tiếng Anh là

resource(s), được định nghĩa trong Oxford Advanced Learner’s Dictionary

(1995:999), là những thứ cung cấp cho một quốc gia, một tổ chức hoặc một cá nhân có thể sử dụng, đặc biệt nhằm mục đích làm tăng sự giàu có (thịnh vượng) Trong Từ điển Tiếng Việt (2005) không giải nghĩa từ “nguồn lực”, nhưng nếu ghép giải nghĩa của từ “nguồn” (tr.692) và từ “lực” (tr.597) thì nguồn lực là nơi

bắt đầu, nơi phát sinh hoặc nơi cung cấp sức mạnh

Tuy nhiên, nếu hiểu theo nghĩa hẹp mà hiện nay mà nhiều cuốn sách, đặc

biệt là giáo trình trong các đại học thì resource(s) tương ứng với các nguồn lực

Trang 33

tự nhiên (Bergh, J.C.J.M, 1999; Conrad, 2004; Farmer, K và Bednar-Friedl, B., 2010) Với cách xác định nguồn lực theo cách này này, các học giả đều hướng tới việc sử dụng chúng mang tính bền vững Hầu hết họ đều xây dựng ra những

mô hình để có thể xác định được một cách tương đối điểm “bền vững” để có thể

khai thác các nguồn lực từ tự nhiên Trong Đề tài này, chúng tôi quan tâm

nghiên cứu đến nguồn lực ở nghĩa rộng

Nhận thức và quan niệm cụ thể đối với nguồn lực phát triển ở trong nước hiện mới chưa rạch ròi và cụ thể Gần như chưa có công trình nào trình bày cụ thể có tính hệ thống về vấn đề nguồn lực cả dưới góc độ lý thuyết và thực tiễn, ngoại trừ cuốn sách của tác giả Lê Du Phong Nhìn chung, các học giả và các tổ chức thường bàn bàn về vai trò, cách thức huy động và hiệu quả sử dụng đối với vốn đầu tư, lao động hoặc một yếu tố nào đó (đã được vốn hóa) với góc nhìn chúng là những đầu vào cho sản xuất kinh doanh mà ít khi bàn về nguồn lực dưới góc độ học thuật Qua các tài liệu tham khảo, Ban chủ nhiệm Đề tài nhận thấy, hiện nay cũng không có nhiều học giả trong nước đưa ra khái niệm hoặc định nghĩa về “nguồn lực cho phát triển” Tác giả Lê Du Phong đã định nghĩa

“nguồn lực là tổng hợp các yếu tố vật thể và phi vật thể tạo nên nền kinh tế của một đất nước và thúc đẩy nó phát triển”, trong khi đó theo một số nhà nghiên cứu tham gia các hội thảo và tọa đàm của Đề tài, nguồn lực bao gồm nguồn lực tinh thần và nguồn lực vật chất; nguồn lực vật thể và nguồn lực phi vật thể

Đối với các Văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các kỳ Đại hội (tính từ Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 cho đến nay) cũng không nhiều lần

đề cập đến nguồn lực cho phát triển Ví dụ, văn kiện Đại hội Đảng IX, đề cập một lần từ “nguồn lực” Nhưng tại Đại hội Đảng X, văn kiện của Đảng đã đề cập đến nguồn lực với tần suất lớn (70 lần) Điều đó minh chứng rằng, Đảng và Nhà nước đã thực sự chú trọng và cụ thể hơn đối với phát huy và sử dụng nguồn lực Mặc dù vậy, Văn kiện của Đại hội Đảng X đã không định nghĩa nguồn lực cho phát triển là gì Văn kiện của Đảng đã chỉ rõ một số lĩnh vực, nội dung coi đó là nguồn lực cho phát triển đất nước, như: con người (trang 179), bao gồm cả cộng đồng kiều bào (trang 123, trang 165); vốn/ tài chính (trang 164); tài nguyên (trang 164); đất đai (trang 164); kinh tế tư nhân (trang 180)

Với cách xác định về nguồn lực như đã trình bày ở trên, Đề tài tổng hợp

các đặc điểm của nguồn lực và các dạng nguồn lực như sau:

(1) Về đặc điểm nguồn lực: Nhìn một cách tổng quát cho thấy các học

giả thống nhất với nhau ở một số điểm cơ bản:

(i) Nguồn lực phải là một dạng vật chất mà dạng vật chất ấy được sử

dụng để phát triển kinh tế

Trang 34

(ii) Nguồn lực phụ thuộc vào nhận thức và quan niệm của con người và

nó thay đổi vị trí, vai trò theo thời gian cũng như trình độ người sử dụng chúng Khi con người thay đổi (mà thay đổi quan trọng nhất là trình độ hiểu biết về thế giới tự nhiên) thì thường quan niệm về nguồn lực cũng thay đổi Hầu hết các học giả nước ngoài mới đề cập nhiều đến tài nguyên thiên nhiên đã được sử dụng (như khoáng sản, đất, nước và kể cả trữ năng thuỷ điện….), nguyên nhiên vật liệu, lao động, vốn đầu tư được thực hiện là những nguồn lực cho phát triển kinh

tế Sau này, khi đi sâu phân tích các nguồn lực có một số học giả đã liệt kê thêm một số yếu tố như thể chế

(iii) Nguồn lực phụ thuộc vào trình độ phát triển của loài người, đặc biệt

là trình độ khoa học – công nghệ, dẫn tới việc phát hiện và sử dụng các nguồn lực mới Khi hiểu biết của con người về thế giới tự nhiên thông qua tiến bộ khoa học công nghệ (sử dụng trong việc tìm kiếm tài nguyên) thì có thể xuất hiện những tài nguyên mới được khai thác sử dụng cho phát triển Khi ấy nguồn lực mới cho phát triển xuất hiện Đồng thời, nếu trình độ công nghệ không được nâng lên thì rất có thể một số tài nguyên bị khai thác cạn kiệt, không có khả năng tái tạo và có nghĩa chúng không còn tồn tại nữa và chúng sẽ mất đi Như nhiều chiến lược gia đã cảnh báo rằng, cứ với trình độ công nghệ như hiện nay thì nếu dân số thế giới tăng khoảng 2% và nền kinh tế thế giới tăng khoảng 6%/ năm thì rất có thể hành tinh mà chúng ta đang ở sẽ bị cạn kiệt tài nguyên

(2) Về các dạng của nguồn lực: Dưới các góc độ khác nhau người ta chia

các loại nguồn lực thành các nhóm để nhận biết và có thái độ ứng xử thích hợp Phạm vi của nguồn lực là rất rộng lớn, có thể phân chia theo nhiều cách:

a Cách thứ nhất: Thời gian tồn tại của nguồn lực

- Nhóm thứ nhất là nhóm nguồn lực vĩnh cửu Đây là nhóm nguồn lực có khả năng cung cấp cho nhu cầu của loài người một cách đều đặn và ổn định không phụ thuộc vào sự sử dụng của xã hội, ví dụ như nguồn năng lượng mặt trời (tất nhiên là khi mặt trời không có sự thay đổi như hiểu biết hiện nay của chúng ta)

- Nhóm thứ hai là nhóm nguồn lực có khả năng tái sinh Đây là nhóm nguồn lực có khả năng tái phát triển theo thời gian trong môi trường tự nhiên sau một thời gian bị con người khai thác và sử dụng có mức độ, ví dụ như đối với một số nguồn tài nguyên: rừng, động vật, nước…

- Nhóm thứ ba là nhóm nguồn lực không có khả năng tái sinh Đây là nhóm nguồn lực có nguồn cung hạn chế, thường thấp so với nhu cầu sử dụng của xã hội loài người và thường khó có thể thay thế một cách nhanh chóng bằng

Trang 35

những nguồn lực khác Chẳng hạn như các nguồn tài nguyên than, dầu khí, đá vôi, sắt…

b Cách thứ hai: Căn cứ vào tình hình sử dụng cho phát triển

Dưới góc độ thực tế sử dụng người ta chia các loại nguồn lực thành hai nhóm cơ bản:

- Nhóm thứ nhất, là nhóm các nguồn lực thực tế Đây là những nguồn lực đang được sử dụng hoặc đã sẵn sàng cho việc sử dụng để phát triển kinh tế

Nhóm này phải được quản lý, sử dụng có hiệu quả và bảo vệ tốt Khi bàn về

tăng trưởng kinh tế, người ta muốn nói đến nguồn lực thực tế

- Nhóm thứ hai là, nhóm các nguồn lực tiềm năng Đây là nhóm có khả năng sẽ trở thành nguồn lực nếu điều kiện kinh tế, xã hội, cũng như trình độ khoa học - kỹ thuật tạo ra nhu cầu cho việc sử dụng và có khả năng khai thác chúng Nói cách khác, đây là những nguồn lực đang còn ở dạng tiềm năng khi chúng chưa được khai thác và sử dụng cho phát triển Ví dụ, đối với những nguồn tài nguyên thiên nhiên như than nâu ở vùng Đồng bằng sông Hồng, như con cá đang còn ở dưới sông, hay như năng lượng mặt trời ở nước ta chưa được

khai thác… chỉ là nguồn lực tiềm năng Khi bàn đến việc dự trữ tài nguyên

người ta muốn tới vấn đề dữ trữ nguồn lực tiềm năng

c Theo văn kiện của Đảng

Văn kiện Đại hội X cũng đã xác định và phân chia nguồn lực thành nhiều dạng, ví dụ:

- Nguồn lực trong nước hay nội lực (trang 162, trang 165) và nguồn lực ngoài nước (trang 92, trang 162), trong đó chỉ ra rằng nội lực đóng vai trò quan trọng nhất Nguồn lực bên ngoài cũng rất quan trọng, nếu biết huy động tốt sẽ phát huy nội lực mạnh hơn và tạo ra sức mạnh tổng hợp để phát triển đất nước

nhanh và bền vững (Văn kiện 2006: 71) Ví dụ, Văn kiện có đoạn “Nội lực có

vai trò quyết định đối với sự phát triển Có phát huy được nội lực thì mới thu hút

và sử dụng có hiệu quả ngoại lực Nội lực được tăng cường thì mới bảo đảm được độc lập tự chủ về kinh tế và thực hiện hội nhập kinh tế quốc tế thành công Phát huy nội lực trước hết là phát huy nguồn lực con người, nguồn lực của toàn dân tộc, khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên và sử dụng tốt nhất nguồn lực của Nhà nước.”

- Nguồn lực vật chất cùng nguồn lực trí tuệ và tinh thần (trang 333) Văn

kiện có đoạn: “ các nguồn lực vật chất trong nhân dân, của toàn xã hội để

cùng Nhà nước giải quyết các vấn đề xã hội…” hoặc “Điều có ý nghĩa quyết định là phải có chính sách phù hợp để phát huy tối đa khả năng về vật chất, trí

Trang 36

tuệ và tinh thần của mọi người dân, … để góp phần quan trọng giải quyết việc làm, đẩy nhanh và nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội”

- Nguồn lực Nhà nước, nguồn lực xã hội, nguồn lực trong dân, và nguồn

lực của toàn dân tộc (trang 198) Văn kiện có đoạn: “Huy động các nguồn lực

(nhà nước, doanh nghiệp, nhân dân, cộng đồng) để xoá nhà ở dột nát, nhà ở tạm

bợ cho người nghèo …”

Bên cạnh đó, Văn kiện đã có mục riêng về bài học đối với huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn lực (trang 179), và chính sách phát huy nguồn lực

(trang 230), đặc biệt là nguồn nội lực nhằm mục đích “tạo điều kiện và cơ hội

tiếp cận bình đẳng các nguồn lực phát triển, hưởng thụ các dịch vụ xã hội cơ bản, vươn lên thoát đói nghèo vững chắc ở các vùng nghèo và các bộ phận dân

cư nghèo”

Trong giai đoạn hiện nay, một số vấn đề mới, đang nổi lên liên quan trực tiếp đến nguồn lực phát triển trong giai đoạn toàn cầu hóa Theo Đề tài, đó là,

Thứ nhất, bắt đầu từ nửa cuối thế kỷ 20 và cho đến đầu thế kỷ 21, vai trò

của thông tin đã trở nên ngày càng quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến việc ra quyết định và xử lý tình huống của bất kỳ một nền kinh tế nào đối với những sự biến đổi từ môi trường xung quanh Có rất nhiều ví dụ điển hình để minh họa về tầm quan trọng của thông tin đối với quá trình phát triển của nhiều nền kinh tế trên thế giới Ví dụ, cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ xảy ra năm 1982 ở các nước Mỹ La tinh với nguyên nhân chính là thông tin không hoàn hảo (TA:

imperfect information), bất đối xứng (TA: asymmetric information) giữa hệ

thống ngân hàng và người gửi Nhiều báo cáo của các tổ chức lớn trên thế giới như Ngân hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ quốc tế, Chương trình phát triển Liên Hiệp quốc (UNDP),… và của các Chính phủ hay các Viện nghiên cứu phát triển hàng đầu của toàn cầu đều cho rằng thế kỷ 21 chính là “kỷ nguyên thông tin”

của loài người Thomas Friedman, tác giả cuốn Thế giới Phẳng 8, thậm chí đã ngụ ý rằng thời đại thông tin sẽ bao trùm thế kỷ 21

Các đóng góp của các ngành liên quan đến thông tin vào tổng sản phẩm quốc nội có chiều hướng gia tăng với tốc độ tăng trưởng cao Hiện nay, ngành sản xuất kinh doanh thông tin là một trong những ngành đem lại lợi nhuận lớn nhất Ví dụ, công ty Google là công ty giúp mọi người tìm kiếm thông tin được đăng lên các trang web (có đăng ký với Google) Lúc thành lập chỉ có 2 người

và số vốn chưa đầy 1 triệu USD vào năm 1998, nhưng chỉ sau 10 năm (2008), Google đã trở thành một tập đoàn hơn 100 tỷ USD với hơn 2 vạn nhân viên Nhu cầu để có được những thông tin chính xác, kịp thời, hữu ích ngày càng lớn

8 Cuốn sách đã đạt giải Pulitzer của Hoa Kỳ năm 2003

Trang 37

và các doanh nghiệp hay chính phủ các quốc gia sẵn sàng bỏ ra nhiều kinh phí hơn để có được điều này Chính vì vậy, các chi phí cho ngành công nghệ khai thác, sử dụng, và phát triển thông tin trong ngân sách của các nước chiếm tỷ trọng ngày càng lớn Ví dụ, các nước thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh

tế (OECD), chi phí bình quân đầu người về chi tiêu cho công nghệ thông tin

năm 2005 gấp từ 1,1-2,0 lần so với năm 2000 Chính vì vậy, công nghệ thông

tin hiện nay được coi là yếu tố cơ bản nhất của tiến bộ khoa học kỹ thuật đóng

góp cho tăng trưởng

Một đặc điểm rất quan trọng của thông tin, đó là thông tin chính là yếu tố cấu thành cơ bản nhất của tri thức Trong khi đó, mô hình phát triển kinh tế toàn

thế giới hướng tới là nền kinh tế dựa vào tri thức (TA: based knowledge), dần thay thế mô hình cũ dựa vào sản xuất (TA: based production) và dựa vào tài

nguyên (TA: based resources) Do đó, việc tích tụ thông tin – tổ chức thông tin

– khai thác thông tin được các nước xem là vấn đề quan trọng đối với phát triển Chính vì vậy, thông tin hiện đang được truyền tải với tốc độ rất nhanh với sự hỗ trợ đặc biệt của khoa học công nghệ vũ trụ (sử dụng các phương tiện viễn thám

và vệ tinh để truyền tải thông tin) Tại một số quốc gia, ngành thông tin đã được tách ra khỏi ngành dịch vụ và được đứng độc lập trong hệ thống tài khoản quốc gia Mặc dù có một số nghiên cứu của cá nhân, tổ chức cho rằng thông tin là một nguồn lực (Kendall và Scott, 1990; Evans, 2001; Umbima, 2005; Encyclopedia Britanica, 2010), tuy nhiên, hiện nay không có tài liệu hay giáo trình khẳng định

một cách rõ ràng, thuyết phục rằng thông tin là một nguồn lực mặc dù vai trò

của nó đối với phát triển kinh tế ngày càng quan trọng

Thứ hai, một yếu tố khác, trong thời gian hai thập kỷ trở lại đây, được

nhiều học giả nhận định có đóng góp rất lớn đến phát triển kinh tế - yếu tố lãnh

đạo (TA: leadership) hay giới kỹ trị quốc gia Giới kỹ trị quốc gia với năng lực

và bản lĩnh của mình, có thể xoay chuyển cục diện phát triển của một quốc gia Washington (Hoa Kỳ), Nhật Hoàng Minh Trị (Nhật Bản), Đặng Tiểu Bình (Trung Quốc), và Lý Quang Diệu (Singapore)… là những ví dụ điển hình rõ nét phản ánh tầm quan trọng của giới này Bên cạnh đó, không thể phủ nhận vai trò của những người đứng đầu của các doanh nghiệp (nhà quản lý hoặc giám đốc) trong nền kinh tế Các doanh nghiệp chính là chủ thể quan trọng nhất cho phát triển đối với một nền kinh tế thị trường, là nơi tạo ra thu nhập (đóng góp ngân sách) cho quốc gia và giải quyết việc làm Hiện nay, vai trò của các tập đoàn đa quốc gia đối với sự phát triển kinh tế toàn cầu ngày càng lớn, vượt qua khung

khổ không gian của một quốc gia hoặc một khu vực Giới kỹ trị quốc gia và giới

quản lý doanh nghiệp được Đề tài gọi là giới tinh hoa Trong cuộc khủng

hoảng tài chính toàn cầu hiện nay, vai trò của giới tinh hoa lần nữa được rất

Trang 38

nhiều quốc gia mong đợi và là một trong những đặc điểm được nhận định là tiêu biểu trong vài thập kỷ tới9

Thứ ba, nguồn lực có tính động ngày càng lớn Do quá trình toàn cầu

hóa phát triển ngày càng lan rộng và có ảnh hưởng mạnh mẽ đến mọi nền kinh

tế dẫn đến giá trị của các nguồn lực có sự thay đổi đáng kể Sự xuất hiện của chuỗi giá trị toàn cầu và hệ thống phân phối toàn cầu đã làm dịch chuyển các nguồn lực trên phạm vi toàn thế giới, đặc biệt là nguồn lực con người Sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ, đặc biệt là sự xuất hiện của nhiều loại phương tiện giao thông hiện đại đã làm thu hẹp khoảng cách giữa các địa điểm trên thế giới Ngoài ra, với tốc độ đô thị hóa diễn ra nhanh chóng và gần như là xu thế tất yếu ở mọi quốc gia, đã đẩy nhanh các dòng người dịch chuyển

từ nông thôn ra các thành phố và từ các thành phố này sang các thành phố khác

Cuối cùng, sự cạnh tranh khốc liệt đối với nguồn lực ngày càng lớn Sự

vươn lên của các cường quốc mới cùng sự quyết tâm giữ vững vị trí thống trị, đứng hàng đầu của những cường quốc cũ trong bối cảnh quốc tế có xu hướng toàn cầu hóa ngày càng mạnh mẽ làm cho sự “tranh đoạt” các nguồn lực trở nên gay gắt hơn bao giờ hết Nguyên nhân của những cuộc xung đột và chiến tranh nhỏ vẫn đang hiện hữu trên thế giới chủ yếu xuất phát từ các cuộc “tranh đoạt” này Sự cạn kiệt của những nguồn lực hạn hữu, chủ yếu từ thiên nhiên, đã làm cho chúng càng trở nên quý giá trong thế kỷ tới – năng lượng, nước sạch, gỗ quý, nông sản, thủy hải sản, đất hiếm – đang là nguồn đầu vào quan trọng không chỉ cho những quốc gia phát triển mà cực kỳ quý giá đối với các nền kinh

tế mới nổi, có tăng trưởng cao và dân số lớn như Trung Quốc, Ấn Độ và Brazil Những nhận định như vậy, mặc dù đã được xuất hiện trong các sách, bài nghiên cứu từ những thập kỷ trước (Aron, 1966; Lesser, 1989; UN, 2001; Billon, 2005) nhưng gần đây nó được liên tục xuất hiện trong các chiến lược phát triển của các quốc gia và các tập đoàn (NIC, 2008; Price Water Cooperhouse, 2008; Lưu Minh Phúc, 2010) Do vậy, việc tìm kiếm và chiếm giữ các nguồn lực mới, đặc biệt là nguồn lực năng lượng và việc bảo vệ những nguồn lực này, sử dụng chúng hiệu quả hơn luôn là mối quan tâm đối với mọi quốc gia

1.2 Quan niệm của Đề tài

Với tinh thần đổi mới, Đề tài cho rằng cần có quan niệm chuẩn xác hơn

về nguồn lực phát triển Tư duy về nguồn lực phải được đổi mới theo xu thế phát triển của nền kinh tế tri thức và sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ (xem sơ đồ dưới)

9 Yếu tố lãnh đạo là một trong những điểm nhấn quan trọng của thế giới đến năm 2025 (dựa theo Báo cáo “Xu hướng toàn cầu 2025: một thế giới đã chuyển đổi” của NIC (Hội đồng An ninh Hoa Kỳ) năm 2008)

Trang 39

Chúng tôi đồng tình với cách nhận định của các học giả phương Tây

Theo Đề tài, (các) nguồn lực phát triển là tất cả “các yếu tố đầu vào” đang

sử dụng hoặc ở dạng dự trữ, dự phòng sẵn sàng sử dụng phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của xã hội theo những cách thức khác nhau nhằm tạo ra các sản phẩm hàng hoá và dịch vụ cho xã hội và đạt được những mục tiêu đề ra Thực tế chỉ ra rằng, cơ chế chính sách mà gắn liền với

nó là Nhà nước cùng với lợi ích kinh tế mà gắn liền với nó là thị trường chi phối mức độ, cường độ, tốc độ chuyển nguồn lực tiềm năng thành nguồn lực được sử dụng là vấn đề có tính nguyên tắc quyết định tư duy mới đối với việc nhận thức,

tư duy về nguồn lực phục vụ việc phát triển kinh tế của đất nước

Có thể phân biệt giữa quan niệm hiện tại với quan niệm của Đề tài về nguồn lực như sau:

Quan niệm

đưa vào sử dụng)

biệt giới tinh hoa)

Dự trữ ngoại tệ quốc gia

Sự giống nhau Được nhìn nhận là các yếu tố vật chất sử dụng cho phát triển (chúng được xem

như là các yếu tố đầu vào cho phát triển kinh tế)

Cơ chế, chính sách

Lợi ích

Nguồn lực tiềm năng

Nguồn lực được

sử dụng

Thị trường

Nhà nước

Trang 40

- Tài nguyên thiên nhiên nói chung, bao gồm cả tài nguyên tiềm năng

- Nguồn nhân lực tương ứng với lao động có khả năng làm việc

- Khoa học công nghệ được coi là nguồn lực phát triển

là nguồn lực phát triển Nguồn lực trong nước phải giữ vai trò quyết định; nguồn lực từ bên ngoài có ý nghĩa quan trọng Riêng đối với khoa học công nghệ, Đề tài cho rằng tiềm lực khoa học công nghệ, trong đó con người là trọng tâm, chủ thể quyết định, được coi là nguồn lực

Đề tài cho rằng, khi nhận biết về nguồn lực cần phải chú ý những điểm sau đây:

- Nguồn lực phải là dạng vật chất đang sử dụng hoặc sẵn sàng đưa vào sử dụng cho phát triển Khi nói vốn đầu tư và lao động là hai biến số đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh tức là người ta đã vốn hoá hay tư bản hoá đối với công nghệ, thông tin, tài nguyên đã và đang được sử dụng

Ngày đăng: 26/04/2015, 08:30

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thái vật chất Vốn đầu tư   Vốn đầu tư - NGUỒN lực và ĐỘNG lực CHO PHÁT TRIỂN NHANH và bền VỮNG nền KINH tế VIỆT NAM ở GIAI đoạn 2011 – 2020
Hình th ái vật chất Vốn đầu tư Vốn đầu tư (Trang 39)
Hình 07. Trung tâm động lực (TA: Motivation Hub) - NGUỒN lực và ĐỘNG lực CHO PHÁT TRIỂN NHANH và bền VỮNG nền KINH tế VIỆT NAM ở GIAI đoạn 2011 – 2020
Hình 07. Trung tâm động lực (TA: Motivation Hub) (Trang 48)
Hình 08. Hai loại quan niệm về động lực phát triển - NGUỒN lực và ĐỘNG lực CHO PHÁT TRIỂN NHANH và bền VỮNG nền KINH tế VIỆT NAM ở GIAI đoạn 2011 – 2020
Hình 08. Hai loại quan niệm về động lực phát triển (Trang 52)
Hình 11. Quy mô và tốc độ tăng vốn đầu tư của Việt Nam qua các năm - NGUỒN lực và ĐỘNG lực CHO PHÁT TRIỂN NHANH và bền VỮNG nền KINH tế VIỆT NAM ở GIAI đoạn 2011 – 2020
Hình 11. Quy mô và tốc độ tăng vốn đầu tư của Việt Nam qua các năm (Trang 78)
Hình 13. Cơ cấu, tốc độ tăng và quy mô vốn đầu tư năm 2000, 2005 và 2009 - NGUỒN lực và ĐỘNG lực CHO PHÁT TRIỂN NHANH và bền VỮNG nền KINH tế VIỆT NAM ở GIAI đoạn 2011 – 2020
Hình 13. Cơ cấu, tốc độ tăng và quy mô vốn đầu tư năm 2000, 2005 và 2009 (Trang 81)
Hình 15. Mức dự trữ ngoại tệ của Việt Nam từ năm 1990 đến năm 2009 - NGUỒN lực và ĐỘNG lực CHO PHÁT TRIỂN NHANH và bền VỮNG nền KINH tế VIỆT NAM ở GIAI đoạn 2011 – 2020
Hình 15. Mức dự trữ ngoại tệ của Việt Nam từ năm 1990 đến năm 2009 (Trang 85)
Hình 16. Năng suất lao động năm 2008 của một số nền kinh tế trên thế giới - NGUỒN lực và ĐỘNG lực CHO PHÁT TRIỂN NHANH và bền VỮNG nền KINH tế VIỆT NAM ở GIAI đoạn 2011 – 2020
Hình 16. Năng suất lao động năm 2008 của một số nền kinh tế trên thế giới (Trang 86)
Hình 17. Khoảng chênh lệch giữa tỷ trọng lao động nông nghiệp và tỷ trọng GDP - NGUỒN lực và ĐỘNG lực CHO PHÁT TRIỂN NHANH và bền VỮNG nền KINH tế VIỆT NAM ở GIAI đoạn 2011 – 2020
Hình 17. Khoảng chênh lệch giữa tỷ trọng lao động nông nghiệp và tỷ trọng GDP (Trang 87)
Hình 19. Tỷ trọng vốn đầu tư so GDP và tốc độ tăng bình quân năm thời kỳ - NGUỒN lực và ĐỘNG lực CHO PHÁT TRIỂN NHANH và bền VỮNG nền KINH tế VIỆT NAM ở GIAI đoạn 2011 – 2020
Hình 19. Tỷ trọng vốn đầu tư so GDP và tốc độ tăng bình quân năm thời kỳ (Trang 131)
Hình 20. Tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế, của khu vực Nhà nước và - NGUỒN lực và ĐỘNG lực CHO PHÁT TRIỂN NHANH và bền VỮNG nền KINH tế VIỆT NAM ở GIAI đoạn 2011 – 2020
Hình 20. Tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế, của khu vực Nhà nước và (Trang 143)
4.4.1. Hình thành, phát triển và quản lý tốt thị trường chứng khoán - NGUỒN lực và ĐỘNG lực CHO PHÁT TRIỂN NHANH và bền VỮNG nền KINH tế VIỆT NAM ở GIAI đoạn 2011 – 2020
4.4.1. Hình thành, phát triển và quản lý tốt thị trường chứng khoán (Trang 156)
Hình 23. Tiến trình quản lý đất  đai từ nguồn tài nguyên đến nguồn vốn  trong xã hội - NGUỒN lực và ĐỘNG lực CHO PHÁT TRIỂN NHANH và bền VỮNG nền KINH tế VIỆT NAM ở GIAI đoạn 2011 – 2020
Hình 23. Tiến trình quản lý đất đai từ nguồn tài nguyên đến nguồn vốn trong xã hội (Trang 163)
Hình 03. Năng suất lao động năm 2008 của một số nền kinh tế trên thế giới - NGUỒN lực và ĐỘNG lực CHO PHÁT TRIỂN NHANH và bền VỮNG nền KINH tế VIỆT NAM ở GIAI đoạn 2011 – 2020
Hình 03. Năng suất lao động năm 2008 của một số nền kinh tế trên thế giới (Trang 239)
Hình 04. Diễn biến của chỉ số VN-Index giai đoạn 2006-2008 - NGUỒN lực và ĐỘNG lực CHO PHÁT TRIỂN NHANH và bền VỮNG nền KINH tế VIỆT NAM ở GIAI đoạn 2011 – 2020
Hình 04. Diễn biến của chỉ số VN-Index giai đoạn 2006-2008 (Trang 251)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w