+Tự do hóa tài chính trong nước : là cho phép các tổ chức tài chính trong nước tự do thực hiện các dịch vụ tài chính theo nguyên tắc thị trường, các thị trường tài chínhtrong nước được k
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam đang trong quá trình hội nhập và đổi mình ở mọi lĩnh vực từ cơ sở hạtầng, công nghệ thông tin đến các nền giáo dục, nền kinh tế và một lĩnh vực không kémphần quan trọng đó là thị trường tài chính Xu hướng tự do hóa tài chính đang dần là xuhướng chủ đạo trong việc cải tiến và phát triển kinh tế Quá trình cải cách tài chính theohướng tự do hóa tại Việt Nam như thế nào sẽ được trình bày chi tiết trong đề tài sauđây
Ngoài ra bên cạnh quá trình cải cách tài chính, Việt Nam đang chú trọng nâng cao tínhchuyển đổi đồng tiền Việt Nam, một trong những giải pháp đưa Việt Nam khẳng định
vị thế của mình trên thị trường tài chính quốc tế
Trang 2PHẦN I CẢI CÁCH TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM THEO HƯỚNG TỰ DO HÓA
CHƯƠNG 1: CẢI CÁCH TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM THEO HƯỚNG TỰ DO HÓA
Thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng cộng sản Việt nam khởi xướng từ năm
1986, nền kinh tế Việt nam từng bước chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập với nền kinh tế thế giới Theo đó, hệ thống tàichính không ngừng được cải cách để nâng cao hiệu quả phân bổ và sử dụng các nguồnlực Tác dụng và kết quả trực tiếp của tiến trình này là việc tiền tệ hóa sâu sắc cácnguồn lực kinh tế và các quan hệ kinh tế Điều này cũng có nghĩa là cải cách kinh tế đã
và sẽ tiếp tục gắn chặt với tự do hóa tài chính trong mối quan hệ hỗ trợ lẫn nhau
I Thế nào là cải cách tài chính theo hướng tự do hóa
Cải cách tài chính theo hướng tự do hóa là việc nới lỏng, giảm bớt hay hạn chế sự kiểmsoát của Nhà nước đối với hoạt động của hệ thống tài chính quốc gia, làm cho hệ thốngnày hoạt động tự do hơn và hiệu quả hơn theo quy luật thị trường
Nội dung cơ bản của tự do hóa tài chính là bao gồm: Tự do hóa lãi suất, tự do hóahoạt động cho vay của các Ngân hàng thương mại( NHTM), Tự do hóa hoạt động ngoạihối, tư do hóa hoạt động của các tổ chức tài chính trên thị trường tài chính
Tự do hóa tài chính bao gồm: tự do hóa tài chính trong nước và tự do hóa tài
chính với nước ngoài
+Tự do hóa tài chính trong nước : là cho phép các tổ chức tài chính trong nước
tự do thực hiện các dịch vụ tài chính theo nguyên tắc thị trường, các thị trường tài chínhtrong nước được khuyến khích phát triển, các công cụ chính sách tiền tệ được điều hànhtheo tín hiệu thị trường, xoá bỏ kiểm soát lãi suất và phân bổ tín dụng
+Tự do hóa tài chính với nước ngoài: bao gồm tự do hóa giao dịch vãng lai và
tự do hóa giao dịch vốn.Tự do hóa giao dịch vãng lai: các giao dịch vãng lai bao gồm
các khoản thanh toán và chuyển tiền liên quan đến xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ;
các khoản chuyển tiền một chiều cho mục đích tiêu dùng…Tự do hóa giao dịch vốn:
là những giao dịch liên quan đến chuyển vốn đầu tư của các tổ chức kinh tế trong vàngoài nước
Trang 3Có thể nói, bản chất của tự do hóa tài chính là hoạt động tài chính theo cơ chế nộitại vốn có của thị trường và chuyển vai trò điều tiết tài chính từ chính phủ sang thịtrường, mục tiêu là tìm ra sự phối hợp có hiệu quả giữa Nhà nước và thị trường trongviệc thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ kinh tế - xã hôi Do đó, kết quả của tự do hóa tàichính thường thể hiện bằng tỷ số giữa tiền mở rộng ( tiền mặt và tiền gửi trong hệ thốngNHTM) trên thu nhập quốc dân.
II Tại sao phải tự do hóa tài chính ?
Tiếp cận nguồn vốn toàn cầu giúp gia tăng mức độ đầu tư và đầu ra do:
Các công ty trong nước có thể vay mượn vốn nước ngoài
Các nhà đầu tư tòan cầu đầu tư vốn vào thị trường trong nước
Giảm chi phí giao dịch tài chính, thúc đẩy sự lưu chuyển vốn
Các nguồn vốn bên ngoài sẽ nhanh chóng vận hành vào thị trường trong nước đểthỏa mãn các nhu cầu mở rộng, phát triển kinh tế Do đó tốc độ phát triển kinh tế cũng
sẽ nhanh chóng tăng lên
Gia tăng cạnh tranh, chất lượng dịch vụ tài chính, chuyển giao công nghệ, thiết lậpchính sách vĩ mô có hiệu quả, khai thác nguồn lực trong nước và thế giới
Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Có được là do sự tăng lên trong mức độ đầu tư và kèm theo đó là tỷ suất sinh lợicủa các khoản đầu tư được cải thiện do tiếp cận được kinh nghiệm quản lý hiện đại, lĩnhhội được các thành quả công nghệ mới, tiếp cận được thị trường rộng lớn, các thông tinđược phản hồi một cách đầy đủ và kịp thời vào giá cả hàng hóa của các nhà sản xuất…
Cải thiện sự phân bổ nguồn lực có hiệu quả
Trong một môi trường tự do hóa, khuôn khổ quy định tạo điều kiện cho thị trườngphát triển hiệu quả thông qua cạnh tranh Mọi doanh nghiệp trong thị trường phải biếttận dụng những ưu thế, những nguồn lực vốn có của mình thì mới có thể tồn tại được
Sự cạnh tranh cũng buộc mọi doanh nghiệp trong thị trường nâng cao hệ thốngquản lý của mình để đảm bảo có hiệu quả Những yếu tố cơ bản của hệ thống quản lýmới là kỷ luật, giám sát và nguyên tắc giao dịch của vốn dựa trên cơ sở rủi ro
Để hội nhập với thị trường tài chính thế giới
Để hội nhập với kinh tế thế giới, xu hướng tất yếu của thời đại thì chúng taphải hội nhập về tài chính Tiến trình tự do hóa tài chính sẽ đưa nền kinh tế của quốcgia mình đi vào quỹ đạo chung của kinh tế thế giới
Cho phép cá nhân tự bảo vệ mình
Trang 4Các nhà đầu tư có thể sử dụng các công cụ phòng ngừa rủi ro thông qua cácsản phẩm phái sinh không cân đối trong nền kinh tế Các nhà đầu tư có thể tự đadạng hóa đầu tư, khai thác các thị trường mới…
Kích thích sự phát triển của thị trường vốn
Làm gia tăng chiều sâu và tính thanh khoản trên thị trường vốn Việc tiếp cậnnguồn vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp sẽ thúc đẩy mạnh mẽ thị trường chứng khóan-qua đó giá trị cổ phiếu được niêm yết trên TTCK ngày càng phát triển, giảm đượcchi phí sử dụng vốn, giảm các doanh nghiệp trong nước tiếp cận được các nguồnvốn quốc tế có chi phí sử dụng vốn thấp hơn
Theo WB thì nếu dòng vốn vào đạt 3%-4% GDP thì tốc độ tăng trưởng của tỷsuất sinh lợi là 0.5% - 1 đô la, FDI bổ sung chứ không làm đi đầu tư nội địa…
Thúc đẩy cải cách kinh tế vĩ mô tốt hơn
Sự tác động hai chiều sẽ làm các chính sách kinh tế vĩ mô ổn định hơn trongngắn hạn cũng như trong dài hạn
III Thách thức của tự do hóa tài chính
Cải cách tài chính ở Việt nam theo hướng tự do hóa sẽ gặp phải những rủi rotrong quá trình hội nhập, có hai thách thức lớn thường gặp:
Dòng vốn chảy vào ào ạt ( tương tự căn bệnh Hà Lan): Dòng vốn chảyvào ào ạt có mối quan hệ chặt chẽ với quy mô của nền kinh tế Dòng vốn chảy ào
ạt làm tăng nguy cơ dễ bị tổn thương của nền kinh tế do tình trạng đầu cơ vào thịtrường bất động sản…
Sự ngưng đọng đột ngột - sự đảo chiều của dòng vốn quá nhanh sẽ làmcho nền kinh tế đi vào khủng hoảng, dẫn đến bất ổn trong điều hành các chínhsách tiếp theo của Chính phủ như: lạm phát, thất nghiệp, tiền lương, thâm hụtngân sách, thâm hụt cán cân thanh toán, rối loạn tỷ giá hối đoái, rối loạn chínhsách thuế, lãi suất…
IV Điều kiện để tự do hóa tài chính
Cải cách tài chính ở Việt Nam, hội nhập tài chính bằng cách mở cửa dần từngbước các giao dịch thương mại trên lĩnh vực tài chính là một xu hướng tất yếu ViệtNam muốn hội nhập tài chính thì chính sách tài chính và tiền tệ phải linh hoạt- ổnđịnh đáng tin cậy Những điều kiện cho việc tự do hóa tài chính thành công là:
- Quản lý kinh tế vĩ mô vững chắc và tiết kiệm quốc gia cao
- Thực hiện đúng lộ trình tự do hóa kinh tế
Trang 5- Hệ thống tài chính hoạt động hiệu quả.
- Hệ thống giám sát Ngân hàng hợp lý và việc thi hành có hiệu quả
- Không có khoản cho vay mang tính chất chính trị và lạm dụng hệ thống tàichính
- Một chính phủ triệt để chống tham nhũng và lãng phí
- Tính minh bạch trong công bố thông tin
Chương 2: THỰC TRẠNG VIỆC CẢI CÁCH TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM THEO HƯỚNG TỰ DO HÓA
Như đã trình bày ở phần 1.1 hạt nhân của tự do hóa tài chính là tự do hóa vềmặt lãi suất, do vậy trong bài tiểu luận này, nhóm chúng tôi chủ yếu tập trung vào tự
do hóa về mặt lãi suất và một số khía cạnh như nổi bậc như: tự do hóa về tỷ giá, tự
do hóa về hoạt động NHTM, tự do hóa giao dịch vốn
số âm, vì tỷ lệ lạm phát đã lớn hơn lãi suất danh nghĩa
I.2/ Lãi suất thời kỳ nền kinh tế bắt đầu chuyển sang nền kinh tế thị trường phát triển theo định hướng Xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước ( từ 1998 đến nay):
Bước ngoặt cho tiến trình đổi mới đó là sự ra đời của Nghị định 53/HĐBT ngày26/03/1988 của Hội đồng bộ trưởng (nay là Thủ tướng chính phủ), theo đó Ngân hàng
Việt Nam được tổ chức theo mô hình Ngân hàng 2 cấp: Ngân hàng Nhà nước VN thực
hiện các chức năng ngân hàng, quản lý hoạt động kinh doanh của các NHTM, các tổ
chức tín dụng; còn NHTM, các tổ chức tín dụng thực hiện chức năng kinh doanh trực
tiếp về lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, ngân hàng
Trang 6Đến 1/10/1998 Luật Ngân hàng nhà nước và Luật các tổ chức tín dụng ra đời, cóhiệu lực cho đến nay đã tạo ra hành lang pháp lý quan trọng trong hoạt động kinh doanhcủa hệ thống Ngân hàng trong nền kinh tế thị trường trong quá trình tự do hóa Quátrình tự do hóa lãi suất trong thời kỳ này được thể hiện tổng quát như sau:
* Cơ chế thực thi chính sách lãi suất cố định (1989-5.1992): Cơ chế lãi suất này được
điều chỉnh theo biến động của chỉ số giá, đặc biệt là lãi suất ngoại tệ được áp dụng theomức lãi suất của thị trường tiền tệ quốc tế Thực tế vận hành trong một thời gian (1989-1992), cơ chế lãi suất thời kỳ này đã bắt đầu phát huy tác dụng, là bước chuyển của cơchế lãi suất thực âm sang cơ chế lãi suất thực dương
* Cơ chế điều hành khung lãi suất (6.1992-1995): Ngân hàng Nhà nước điều hành cơ
chế lãi suất theo khung lãi suất, quy định rõ sàn lãi suất tiền gửi và trần lãi suất cho vayđối với nền kinh tế Các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng căn cứ khung lãisuất của ngân hàng thương mại để đưa ra các lãi suất thích hợp cho mình, thực chất làbước chuyển đổi căn bản từ cơ chế lãi suất âm sang cơ chế lãi suất dương, đảm bảo chocác ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng kinh doanh có hiệu quả, đây là cơ chếlãi suất khởi đầu cho quá trình tự do hóa lãi suất ở Việt Nam
* Cơ chế điều hành lãi suất trần (1996-7.2000):
Thay vì qui định khung lãi suất tối thiểu về tiền gửi - lãi suất tối đa về tiền vay,NHNN chỉ qui định các mức lãi suất “trần” theo thời hạn cho vay và khống chế chênhlệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động vốn bình quân là 0,35%/tháng(4,2%/năm) để khắc phục tình trạng hầu hết các ngân hàng thương mại đều có mức lợinhuận cao trong khi các doanh nghiệp lại gặp khó khăn về tài chính như ở giai đoạntrước
Cuối tháng 1/1998, NHNN xoá bỏ qui định chênh lệch lãi suất, chỉ còn qui địnhtrần lãi suất cho vay Cùng với nới lỏng sự kiểm soát lãi suất, NHNN liên tục điều
chỉnh trần lãi suất cho vay theo hướng giảm cơ cấu trần và mức khống chế, đặc biệt
trong năm các năm 1998, 1999
Mức lãi suất tái cấp vốn cũng được điều chỉnh giảm xuống trong thời gian này (từ1,1% năm 1997 xuống 0,7%/tháng từ 04/09/1999) để phù hợp với chỉ số lạm phát, quan
hệ cung- cầu vốn trên thị trường và thực hiện giải pháp kích cầu về đầu tư của Chínhphủ Để bổ sung thêm công cụ điều hành lãi suất, tháng 11/1999 NHNN đưa vào sử
Trang 7dụng nghiệp vụ chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá cho các NHTM, lãi suất táichiết khấu được qui định ở mức thấp hơn 0,05%/tháng so lãi suất tái cấp vốn
* Cơ chế điều hành lãi suất cơ bản kèm biên độ (8.2000-5.2002):
Ngân hàng Nhà nước đã điều hành cơ chế lãi suất theo Luật ngân hàng để thay thếcho cơ chế lãi suất trần Lãi suất cơ bản và biên độ được công bố định kỳ hàng tháng,trường hợp cần thiết, Ngân hàng Nhà nước sẽ công bố điều chỉnh kịp thời
Đối với lãi suất cho vay bằng ngoại tệ, về cơ bản các ngân hàng thương mại, các
tổ chức tín dụng được ấn định lãi suất cho vay trên cơ sở lãi suất thị trường quốc tế vàcung cầu vốn trong nước của từng loại ngoại tệ Theo cơ chế lãi suất này cho thấy Ngânhàng Nhà nước VN đã quyết tâm đổi mới chính sách lãi suất theo hướng tự do hóa vàtừng bước gắn lãi suất trong nước vào thị trường khu vực và thế giới
Vào tháng 8 năm 2000, NHNN đưa ra một cơ chế lãi suất mới trong đó lãi suấtcho vay nội tệ của ngân hàng được điều chỉnh theo lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản đượcđặt ở mức mà khi cộng với biên độ 0,3%/tháng đã cao hơn hẳn lãi suất cho vay thực tế.Tuy nhiên, các ngân hàng không được tính lãi suất cho vay vượt quá lãi suất cơ bản +0,3%/tháng đối với vốn ngắn hạn và + 0,5%/tháng đối với vốn trung, dài hạn Như vậy,
từ khi có cơ chế lãi suất cơ bản, các ngân hàng đã bắt đầu ấn định lãi suất trên cơ sởthỏa thuận với khách hàng
* Cơ chế lãi suất thỏa thuận (6.2002 – đến nay):
Trong thực tế, cơ chế lãi suất này được Ngân hàng Nhà nước chuyển đổi từngbước bắt đầu từ tháng 5/2001 áp dụng cho hình thức vay bằng ngoại tệ, tiếp theo ban
hành quyết định 546/2005/QĐ-NHNN vào tháng 5/2002 là áp dụng cơ chế lãi suất thỏa thuận trong hoạt động tín dụng trong nước bằng VNĐ Đây là một bước ngoặt lớn
đánh dấu sự mở đầu trong việc thực hiện cơ chế tự do hóa lãi suất trong nền kinh tế đốivới hoạt động tín dụng và lãi suất cơ bản công bố của Ngân hàng Nhà nước dần dần sẽmang tính chất tham khảo đối với các tổ chức tín dụng trong việc xác định lãi suất từngthời kỳ
Kết quả đạt được:
Quá trình điều hành cơ chế lãi suất theo hướng tự do hóa nói trên ở nước ta đã thu được một số kết quả khả quan như:
Trang 8Lãi suất trong nền kinh tế đã trở thành công cụ quan trọng của Nhà nước nhằmthực thi chính sách tiền tệ, ổn định môi trường kinh tế vĩ mô, kiềm chế được lạm phátLãi suất góp phần nâng cao hiệu quả của nền kinh tế nói chung, kích thích sự tiếtkiệm và khuyến khích đầu tư
Việc xóa dần chính sách ưu đãi về lãi suất đã dần dần tạo điều kiện cho các ngânhàng thương mại thực hiện tốt công tác hạch toán kinh tế và kinh doanh của mình đượcchủ động và thuận lợi
Quyết định thả nổi lãi suất vay ngoại tệ của Ngân hàng Nhà nước ảnh hưởng sâusắc đến thị trường, sự phân hóa khách hàng sẽ diễn ra rõ hơn: Khách hàng có uy tín sẽđược hưởng lãi suất thấp, còn khách hàng kém uy tín phải chịu lãi suất cao với mức độkhác nhau rất rõ rệt Thêm vào đó, nó khắc phục sự bất hợp lý Trước khi có quyết địnhthả nổi lãi suất cho vay ngoại tệ, lãi suất cho vay USD tại Việt Nam được quy định làlãi suất cho vay ngoại tệ ngắn hạn tối đa là Sibor 3 tháng + 1%/năm, trung dài hạn tối
đa là Sibor 6 tháng + 2,5%/năm Vì lý do này mà trong khi lãi suất cho vay thương mại
Mỹ vẫn ở mức 7%/năm, ở các nước trong khu vực là 7,5%/năm thì lãi suất cho vayngắn hạn tối đa ở Việt Nam chỉ là 5% năm, mức lãi suất thấp nhất thế giới Lãi suấtthấp lẽ ra phải có ở một nền kinh tế phát triển, có độ rủi ro thấp còn Việt Nam thì độ rủi
Tồn tại:
Bên cạnh những thuận lợi tích cực thì việc thực hiện tự do hóa lãi suất trong thờigian qua cũng nảy sinh một số vấn đề bất cập trong quản lý lãi suất và khó khăn cho hệthống ngân hàng VN như :
o Việc NHNN công bố lãi suất cơ bản nhằm định hướng lãi suất thị trường trong thời gian qua đã bộc lộ những hạn chế
Trang 9Chúng ta đang quy định lãi suất thỏa thuận, song NHNN vẫn công bố lãi suất cơbản hàng tháng dựa trên lãi suất cho vay của 15 khách hàng kinh doanh hiệu quả nhấttrong từng thời kỳ, lãi suất đó chưa dựa vào quan hệ cung - cầu về vốn trên thị trườngChính sách thắt chặt tiền tệ đột ngột tạo ra cuộc chạy đua lãi suất giữa các ngânhàng, đẩy mặt bằng lãi suất huy động và cho vay lên đến đỉnh điểm.
Trong điều kiện đó, cùng với điều 476 Bộ luật Dân sự 2005( lãi suất cho vaykhông được vướt quá 150% lãi suất cơ bản), lãi suất cơ bản nay trở thành một vật cảncho các chính sách tiền tệ và hoạt động của các tổ chức tín dụng
o Các vấn đề khó khăn NHTM cổ phần có tiềm lực về tài chính còn hạn chế phải đối mặt khi tiến hành tự do hóa lãi suất:
Khi lãi suất ngân hàng được tự do hóa, các ngân hàng hoàn toàn có thể chủ độngxác định lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay của ngân hàng mình Và điều này dễ dẫnđến hai xu hướng không có lợi:
Một là, ngân hàng thương mại đua nhau tăng lãi suất tiền gửi để huy động vốn, ắtdẫn đến hệ quả tăng lãi suất cho vay và sẽ gây khó khăn cho nhiều dự án kinh doanh,làm giảm tăng trưởng kinh tế
Hai là, các ngân hàng đua nhau hạ lãi suất cho vay để thu hút khách hàng đồngthời phải hạ lãi suất huy động Khi lãi suất huy động quá thấp, nguồn tiền nhàn rỗi trongdân cư sẽ không có động lực chảy vào ngân hàng mà chỉ “loanh quanh” với đầu cơ
Mặt khác, khi lãi suất ngân hàng không còn chịu sự kiểm soát, cạnh tranh giữacác ngân hàng có thể dẫn đến tình trạng “cá lớn nuốt cá bé” Điều này sẽ gia tăng độcquyền, chi phối, lũng đoạn hoạt động ngân hàng của một số ngân hàng lớn Chưa kể, khi không còn giới hạn về trần lãi suất cho vay hay giới hạn lãi suất cơbản + biên độ, các ngân hàng có thể sẵn sàng đầu tư vào lĩnh vực chấp nhận lãi suấtcao- rủi ro cao như chứng khoán hoặc bất động sản
II Tỷ giá
II.1/ Thực trạng
Việc tự do hóa tỷ giá ở nước ta thể hiện qua cơ chế điều hành tỷ giá ở từng thời
kì, ở từng giai đoạn phát triển, chủ yếu phục vụ cho các mục tiêu kinh tế lớn Cơ chếđiều hành tỷ giá qua các thời kì đã thay đổi từ tỷ giá cố định sang tỷ giá có điềuchỉnh, đến tỷ giá công bố theo mức hình thành cuối ngày trên thị trường
Trang 10Trước 1988 ta sử dụng tỷ giá cố định và chế độ đa tỷ giá:tỷ giá được quyếtđịnh bởi NHTW NHTW công bố mức tỷ giá chính thức và cam kết duy trì khả năngchuyển đổi đồng tiền trong nước với đồng tiền nước ngoài theo giá công bố dùcung cầu ngoại tệ trên thị trường có thay đổi
Từ năm 1988 đến năm 1991, tỷ giá hối đoái của Việt Nam được chuyển từ chế
độ đa tỷ giá chuyển sang chế độ tỷ giá thống nhất Tỷ giá này được xác định theo cơchế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước và tỷ giá hối đoái danh nghĩa được điềuchỉnh theo sát những diễn biến của tình hình kinh tế trong nước nên tỷ giá hối đoáithực tế ổn định, tạo ra những tác động tích cực đến việc khôi phục cả cân đối bêntrong và cân bằng bên ngoài nền kinh tế
Từ năm 1992 đến năm 1997, chính sách tỷ giá hối đoái được điều hành nhằm
cố gắng duy trì sự ổn định của tỷ giá danh nghĩa Sự ổn định tỷ giá hối đoái danhnghĩa những năm này đã tạm thời góp phần tích cực vào việc kiềm chế lạm phát, thuhút đầu tư nước ngoài, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao trên 8% năm
Từ 1997-> nay ta áp dụng chính sách tỷ giá thả nối có quản lý( kết hợp của thảnổi và cố định): tỷ giá được hình thành trên cung cầu của thị trường có sự điều tiếtcủa nhà nước Cơ chế này giúp tỷ giá thực tế vừa gắn với thị trường vừa không gâyđột biến giúp ổn định thị trường ngoại hối tốt hơn Tỷ giá này có thể do thị trườngquyết định, cũng có thể do Ngân hàng Nhà nước quyết định Khi thị trường ít biếnđộng, tỷ giá đc thả nổi theo cung cầu trên thị trường ngoại hối Khi có dao độngmạnh và nhanh thì Ngân hàng Nhà Nước can thiệp để giữ ổn định tỷ giá Mặc dù có
sự can thiệp của Ngân hàng Nhà Nước nhưng tỷ giá cũng được điều chỉnh để tiếngần hơn với tỷ giá thị trường
Tháng 10 năm 1997, NHNN đã quyết định mở rộng biên độ giao dịch giữa tỷgiá chính thức và tỷ giá giao dịch tại các thị trường liên ngân hàng từ ±5% lên
±10%.Việc điều chỉnh tỷ giá của NHNN trên đây đã có tác động tích cực đối vớihoạt động xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu của Việt Nam, giảm nhập siêu trong cácnăm 1997-1999, làm cán cân thương mại giảm dần thâm hụt
Từ năm 1999, NHNN chấm dứt công bố tỷ giá chính thức, mà chỉ công bố tỷgiá giao dịch bình quân trên thị trường liên ngân hàng và biên độ dao động của hoạtđộng giao dịch ngoại hối của NHTM
Và từ năm 2000, cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái của VN điều chỉnh từ chỗcông bố tỷ giá chính thức theo tín hiệu thị trường với từng khoảng thời gian có hiệu
Trang 11lực tương đối dài, sang cơ chế công bố tỷ giá theo động thái hàng ngày của thịtrường ngoại tệ
Trên cơ sở tình hình thực tiễn và các mục tiêu kinh tế - xã hội, biên độ tỷ giánày được Ngân hàng Nhà Nước điều chỉnh cho phù hợp, và đến giữa năm 2008 biên
độ này được xác định ±2% Sau đó, tháng 11/2008, biên độ này được tăng lên 3%
Và kể từ ngày 24/03/2009, quyết định số 622/QĐ-NHNN ngày 23/3/2009 đã điềuchỉnh biên độ tỷ giá VND/USD lên mức +/-5% thay cho mức +/-3% hiện hành Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã thực hiện tốt chính sách điều hành tỷ giátheo định hướng của Chính phủ: vừa theo thị trường, vừa có can thiệp khi cần thiết
II.2/ Tồn tại
Xung quanh vấn đề tỷ giá ở VN hiện nay, các nhà nghiên cứu kinh tế cho rằng:Giá trị đồng VN đã bị đánh giá quá cao so với ngoại tệ , như vậy, trước hết nó sẽlàm giảm sức cạnh tranh của hàng hóa VN trên thị trường quốc tế, ảnh hưởng xấuđến hoạt động xuất nhập khẩu, sau đó làm NHNN khó điều hành chính sách tiền tệ.Thêm vào đó một đồng tiền yếu có thể làm tình trạng thất nghiệp giảm thúcđẩy tăng trưởng nhưng sẽ làm tỷ lệ lạm phát tăng cao Ngược lại, với đồng tiềnmạnh có thể tỷ lệ lạm phát giảm nhưng tình trạng thất nghiệp sẽ thêm trầmtrọng.Nhưng hiện tại nước ta đang có tỷ lệ lạm phát cao Do đó nếu lựa chọn chế độ
tỷ giá thả nổi tự do thì điều kiện phát triển kinh tế - xã hội hiện nay của chúng tachưa cho phép, còn nếu lựa chọn chính sách điều hành tỷ giá theo kiểu “an toàn” thìkhông thể tránh khỏi những áp đặt mang tính hành chính vào quản lý tỷ giá - điều
mà chúng ta đang cố gắng thay đổi để thích ứng dần với việc điều hành nền kinh tếtheo các qui luật phát triển
III./ Hoạt động Ngân hàng Thương mại
III.1.Lộ trình nới lỏng các hạn chế về qui mô và lĩnh vực hoạt động của các Định chế nước ngoài tại khu vực TC – NH ở Việt Nam
Đến nay, pháp luật Việt Nam đã thừa nhận hầu hết các hình thức cung cấp dịch
vụ ngân hàng phổ biến trên thế giới, kể cả hình thức TCTD 100% vốn của nướcngoài Theo Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, hiện nay các chi nhánhngân hàng Hoa Kỳ nhận tiền gửi bằng Đồng Việt Nam từ các pháp nhân và thể nhânViệt Nam mà ngân hàng không có quan hệ tín dụng tương ứng 600% và 500% vốnpháp định chuyển vào Đối với các chi nhánh ngân hàng thuộc khối EU, các tỷ lệnày tương ứng 400% và 350% Các TCTD nước ngoài hoạt động tại Việt Nam ngày
Trang 12càng được đối xử bình đẳng hơn với các TCTD Việt Nam trong việc tiếp cận cácdịch vụ ngân hàng được phép cung ứng, các thể thức tín dụng của NHNN và mở chinhánh.
Cho phép các nhà đầu tư nước ngoài mua và sở hữu tối đa 30% cổ phần củacác ngân hàng thương mại trong nước phù hợp với các cam kết quốc tế theo NghịĐịnh mới nhất - NĐ số 69/2007/NĐ-CP ngày 20/4/2007 của Chính Phủ V/v “nhàđầu tư nước ngoài mua cổ phần của NHTM VN”
Khối các định chế tài chính nước ngoài tại Việt Nam hiện có ba loại hình chính
là chi nhánh ngân hàng nước ngoài, các tổ chức tín dụng phi ngân hàng (công ty tàichính,cho thuê tài chính) và ngân hàng liên doanh
Để gia nhập WTO, Việt Nam đã phải cam kết sẽ mở cửa lĩnh vực các dịch vụtài chính của mình với thế giới với lộ trình nhanh hơn hầu như bất cứ một quốc giathành viên nào khác.Theo cam kết gia nhập WTO thì từ 1/4/2007, loại hình ngânhàng 100% vốn nước ngoài sẽ được thành lập tại Việt Nam Hiện nay, HSBC vàStandard Chartered đã trở thành hai ngân hàng 100% vốn nước ngoài đầu tiên đượccấp phép hoạt động tại Việt Nam
III.2 Hoạt động các Ngân hang thương mại
Với sự ra đời của Pháp lệnh về Ngân hàng Nhà nước và Pháp lệnh về Ngânhàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính (tháng 5/1990) đã đưa đến việc hìnhthành hệ thống ngân hàng 2 cấp Theo đó, các NHTM thực hiện nhiệm vụ kinhdoanh tiền tệ và cung cấp các dịch vụ ngân hàng; NHNN thực hiện chức năng quản
lý Nhà nước và chức năng NHTW Cho đến nay, hệ thống pháp luật về ngân hàngđược hoàn thiện về căn bản với việc ban hành Luật NHNN và Luật các TCTD vàotháng 12/1997
Chính phủ Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc lành mạnh hoá khu vựcngân hàng thông qua việc triển khai Đề án củng cố, chấn chỉnh các NHTMCP (năm1998) và Đề án cơ cấu lại các NHTMNN (năm 2001) nhằm lành mạnh hoá tàichính, tăng cường kỷ luật thị trường trong hoạt động ngân hàng và nâng cao khảnăng cạnh tranh của hệ thống ngân hàng Chương trình cải cách ngân hàng cũngnhận được sự hỗ trợ quan trọng về tài chính và kỹ thuật của cộng đồng quốc tế, đặcbiệt WB, ADB, IMF và chính phủ các nước
Các ngân hàng Nhà Nước đang được tiến hành cổ phần hóa Chương trình cổphần hoá NHTMNN được khởi động năm 2004 với phương thức là bảo đảm phù
Trang 13hợp với thông lệ quốc tế (kiểm toán, định giá và phát hành), minh bạch và an toànhoạt động nhằm nâng cao năng lực tài chính, công nghệ và quản trị điều hành củacác NHTMNN sau cổ phần hoá Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số11/2004/CT-TTg ngày 30/3/2004 nhằm tiếp tục đẩy mạnh sắp xếp, đổi mới, pháttriển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước Chính phủ đã cho phép cácngân hàng thương mại quốc doanh lớn được cổ phần hóa, hiện tại thì hai trong số đó
là Việtcombank và Vietinbank đã cổ phần hóa xong
Tính đến đầu năm 2008, hệ thống ngân hàng nước ta có 4 ngân hàng thươngmại nhà nước ( NHTMNN), 2 ngân hàng TMCPNN, 37 NHTMCP, 31 chi nhánhngân hàng nước ngoài, 6 ngân hàng liên doanh, 6 công ty tài chính và 10 công tycho thuê tài chính, 926 tổ chức tín dụng nhân dân và 46 văn phòng đại diện của cácngân hàng nước ngoài
Hoạt động tín dụng thay đổi từ tín dụng phân phối cho một số ít đối tượngkhách hàng sang tín dụng không phân biệt thành phần kinh tế và tách bạch hoạtđộng cho vay chính sách với cho vay thương mại;
Mở rộng hoạt động cung cấp dịch vụ tài chính cho các thành phần kinh tế và tổchức tài chính trong và ngoài nước, từng bước chuyển từ hoạt động cung ứng dịch
vụ độc quyền của ngành ngân hàng sang thị trường tài chính đa ngành
Một số điểm nổi bậc, đáng ghi nhận về thành tựu của hoạt động NHTM:
Thứ nhất, hệ thống ngân hàng đã huy động và cung cấp một lượng vốn khá
lớn cho nền kinh tế, ước tính hàng năm chiếm khoảng 16 – 18% GDP, gần 50% vốnđầu tư xã hội Tăng trưởng tín dụng liên tục trong các năm và năm 2006 ước tínhtăng 24%, cao hơn mức 19% năm 2005 Hệ thống ngân hàng cũng có nhiều đónggóp cho tăng trưởng, phát triển và ổn định kinh tế xã hội trong những năm qua Tốc độ tăng dư nợ tín dụng qua các năm
Trang 14Ghi chú: Báo cáo thông tin NHNN
Thứ hai, hệ thống ngân hàng đã có cuộc đổi mới toàn diện Cơ chế chính sách
về hoạt động ngân hàng đã ngày một hoàn chỉnh và phù hợp với thông lệ quốc tế;khuôn khổ thể chế ngày một thông thoáng và minh bạch hơn Những phân biệt đối
xử giữa loại hình tổ chức tín dụng, tổ chức tín dụng trong nước và tổ chức tín dụngnước ngoài đã từng bước được loại bỏ; chức năng cho vay tín dụng chính sách vàcho vay tín dụng thương mại đã được tách bạch; các NHTM, các tổ chức tín dụng đãđược tự chủ và tự chịu trách nhiệm khá đầy đủ Tính cạnh tranh của các tổ chức tíndụng được nâng cao; Thị trường dịch vụ ngân hàng được phát triển an toàn và hiệuquả
Thứ ba, chính sách tín dụng được mở rộng và đổi mới theo hướng tạo sự công
bằng, bình đẳng đối với mọi thành phần kinh tế, doanh nghiệp và mọi đối tượng dâncư
Thứ tư, hệ thống ngân hàng đã được cơ cấu lại tài chính, tăng vốn điều lệ cho
các NHTMNN, xử lý nợ xấu ( hiện tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ đã giảm từ gần 20%trong số những năm 90 xuống còn khoảng 3.1% ), đào tạo cán bộ và nâng cao hệthống trên cơ sở công nghệ hiện đại, nối mạng và thanh toán điện tử…
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đáng được ghi nhận nêu trên, hệ thống ngân hàng còn nhiều bất cập, nhiều vấn đề cần được khắc phục để hội nhập được tốt, có khả năng cạnh tranh cao trong môi trường quốc tế.
Những vấn đề đặt ra:
Hệ thống dịch vụ Ngân hàng trong nước còn đơn điệu, chất lượng chưa cao,chưa định hướng theo nhu cầu khách hàng và nặng nề về dịch vụ ngân hàng truyềnthống
Tình hình nợ xấu vẫn có xu hướng giảm nhưng chưa chắc chắn, trong đó đángchú ý là khối lượng các tổ chức tín dụng nhà nước Nợ tồn đọng trong cho vay đầu
tư xây dựng cơ bản bằng VNĐ đang ở mức cao trên tổng dư nợ
Tự do hóa lãi suất có xu hướng làm cho mặt bằng lãi suất trong nước tăng lên.Mặc dù lãi suất tăng lên tạo điều kiện thu hút thêm tiết kiệm vào hệ thống ngânhàng, nhưng việc lãi suất tiền gửi tăng lên làm cho lãi suất cho vay cũng tăng thêm,
và điều đó tạo thêm gánh về chi phí cho các doanh nghiệp phụ thuộc về nguồn vốn
Trang 15vay từ ngân hàng Trong điều kiện nói trên, một phần không nhỏ trong số doanhnghiệp có thể mất khả năng thanh toán và phá sản nếu không được tiếp tục cho vay
để nuôi nợ, dẫn đến nguy cơ mất vốn ngày càng lớn
Các công cụ điều tiết chính sách lãi suất của Ngân hàng Nhà nước ( NHNN)còn cần phải bàn và còn bất cập nên tác dụng điều tiết chưa cao Do đó, khi lãi suấtthị trường lên cao trong khi vốn khả dụng của các NHTM dư thừa, NHNN thiếu khảnăng can thiệp để điều tiết mặt bằng lãi suất
Cơ cấu hệ thống tài chính còn mất cân đối, hệ thống Ngân hàng vẫn là kênhcung cấp vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế chủ yếu Tuy nhiên, tỉ trọng tiền gửi
có kỳ hạn dài trên một năm tại các NHTM chiếm tỉ lệ thấp, khoảng 30%, còn lại làngắn hạn dưới một năm chiếm tới 70% Trong khi đó, tỉ lệ tín dụng trung và dài hạnhiện đã ở mức trên 40% và đang có sức ép tăng lên với quá trình công nghiệp hóađất nước Tính chung cả nội tệ và ngoại tệ, thì số vốn huy động ngắn hạn chuyểncho vay trung và dài hạn chiếm tới khoảng 50% tổng số vốn huy động ngắn hạn.Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, đối với các nước đang phát triển, kinh tế vĩ mô chưathực sự ổn định, độ tin cậy của đồng tiền còn thấp, huy động vốn dài hạn khókhăn… Chính phủ đều có chính sách cho phép sử dụng một phần vốn huy độngngắn hạn để cho vay trung và dài hạn đồng thời áp dụng một số chính sách hổ trợ đểđảm bảo khả năng thanh toán của các Ngân hàng Tuy nhiên, tỉ lệ trên phải có mộtgiới hạn nhất định Việc sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn ờ nước tahiện nay tới 50% là quá cao, nếu duy trì quá lâu sẽ là yếu tố gây rủi ro lớn và cónguy cơ gây ra thiếu an toàn cho toàn bộ hệ thống
Hiệu quả sử dụng nguồn vốn huy động, đặc biệt là nguồn vốn bằng ngoại tệcòn chưa cao như mong muốn và chưa chuyển được nhiều thành vốn tín dụng phục
vụ cho sản xuất kinh doanh
Phần lớn vốn của các nHTM Việt nam đều thấp nên khả năng thanh toán vàtính bền vững của hệ thống chưa được cao Hệ thống NHTM chiếm đến trên 75%thị trường huy động vốn đầu vào và trên 73% thị trường tín dụng, sức ép cạnh tranhcòn thấp Các NHTMCP, quỹ tín dụng quá nhỏ bé và yếu kém đang là điểm dễ bịtổn thương nhất của hệ thống Có một số công ty tài chính và quỹ tài chính đượcthành lập nhưng mới bắt đầu hoạt động
Các Ngân hàng chưa mở rộng và thay đổi phương thức kinh doanh; năng lựcthẩm định dự án thấp Tình trạng này một phần do thị trường tài chính chưa phát
Trang 16triển và các khuôn khổ pháp luật, kế tóan và quản lý không đầy đủ, nhưng chủ yếu
là do thiếu sự cạnh tranh, điều kiện tạo ra rất ít động lực cho các Ngân hàng cảithiện chất lượng hoạt động
Hội nhập kinh tế đi liền với các cam kết quốc tế về mở cửa thị trường tài chính,cho phép các Ngân hàng quốc tế được hoạt động và đối xử bình đẳng như nhữngNgân hàng trong nước sẽ tạo ra những sức ép lớn hơn đối với hệ thống Ngân hàngtrong thời gian tới Hệ thống Ngân hàng chưa tạo dựng được một hệ thống thông tin
có thể đáp ứng kịp thời, có hiệu quả cho phân tích, dự báo, tình hình tiền tệ, lãi suất,tín dụng, tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp
Nhiều tổ chức tín dụng chưa xây dựng quy trình và thực hiện quản lí tập trungđối với rủi ro thanh khoản thông qua việc xây dựng phân tích kỳ hạn Việc quản lírủi ro thanh khoản hầu như chỉ thực hiện ở những chi nhánh đơn lẻ, do đó khi xuấthiện những biến động bất thường, một số NHTM luôn phải đối mặt với nguy cơ mấtkhả năng chi trả tạm thời trên toàn hệ thống
Phần lớn các tồ chức tín dụng chưa xây dựng được quy trình tập trung tại hội
sở chính đối với rủi ro tỷ giá và kinh doanh ngoại hối, quy trình quản lí trạng tháingoại hối chưa đáp ứng được yêu cầu nên chưa có những giải pháp hiệu quả để hạnchế tác động của những rủi ro này khi có sự biến động bất lợi về lãi suất và tỷ giá.Bên cạnh đó, một số tổ chức tín dụng được phép kinh doanh ngoại hối không chấphành các giới hạn về tình trạng thái ngoại tệ, báo cáo thiếu trung thực, đầu cơ trongkinh doanh nhưng không kiểm soát được rủi ro tỉ giá Vì vậy, khi phải đối mặt với
sự biến động của thị trường đã gây tổn thất cho chính tổ chức tín dụng
IV.Tự do hóa giao dịch vốn ( GDV)
Tự do hóa giao dịch vốn được coi là điểm cuối hay cái đích của quá trình tự dohóa tài chính
Việt nam đang thực hiện tự do hóa GDV một cách có trật tự, bắt đầu từ thu hútFDI và mở cửa ngoại thương, nới lỏng kiểm soát lợi nhuận chuyển ra, và gần đâycác nhà đầu tư được mua trái phiếu chính phủ với khối lượng và giá trị không hạnchế, mua 49% cổ phiếu doanh nghiệp và 30% cổ phiếu Ngân hàng Cho đến trướcnăm 2006, nguồn vốn chủ yếu là FDI và vay nợ nước ngoài Từ cuối năm 2006, vốnđầu tư gián tiếp tăng mạnh, nhưng bắt đầu giảm mạnh từ đầu năm 2008 Sự có mặtcủa luồng vốn vào gián tiếp đã gây những tác động đáng kể đến nền kinh tế trong
Trang 17nước từ áp lực tăng giá VNĐ, đến lạm phát, tỉ giá và tính thanh khoản của thị trường
và của các NHTM
Luồng vốn vào gián tiếp tăng mạnh trong những năm 2007 và chiếm tới trên50% tổng nguồn vốn nước ngoài vào Việt nam, là yếu tố thúc đẩy đầu tư, nhưnghiệu quả sử dụng vốn tại Việt nam rất thấp nên đã tạo áp lực lạm phát, thâm hụt cáncân vãng lai đã lên tới 10% GDP và tiếp tục tăng trong những tháng đầu năm 2008,tiềm ẩn rủi ro đảo chiều luồng vốn và mất cân bằng đối ngoại Trong bối cảnh kinh
tế thế giới diễn biến theo chiều hướng xấu, việc đối phó trở nên rất khó khăn, do độ
mở cửa kinh tế Việt nam rất lớn so với qui mộ của nền kinh tế, lên đến 150% GDP,cao hơn nhiều so với các nước trên thế giới và trong khu vực
Tính linh hoạt của các tài sản chính còn thấp, các qui định pháp lý về giao dịchcủa các công cụ tài chính chưa được luật hóa, dư nợ tín dụng tăng mạnh nhưng rủi
ro về rất cao, đặc biệt khi lượng ngoại tệ chiếm tỉ trọng đáng kể trong tổng tín dụngtại các NHTM
Việc cho phép các Ngân hàng được cấp tín dụng bằng ngoại tệ đã tạo điều kiệncho các Ngân hàng cân đối được bảng tổng kết tài sản ngoại tệ và hạn chế rủi rongọai hối trong một môi trường thiếu vắng các công cụ bảo hiểm trước những daođộng về tỉ giá của VND Tuy nhiên, cơ chế khuyến khích trong các TCTD khônggắn liền với mục đích hoạt động, phương pháp quản lí rủi ro tín dụng còn bất cập.Năng lực giám sát của NHNN đối với hệ thống tài chính còn nhiều hạn chế, cácphương pháp giám sát vẫn dựa trên cơ chế tuân thủ các qui định hành chính mộtcách máy móc
Quá trình tự do hoá GDV đã tác động mạnh tới hoạt động của các TCTD, đặcbiệt là nền kinh tế đang bị đô la hóa với 30% lượng tiền gửi các TCTD là ngoại tệ, tỉ
lệ này là 40% tại Hà nội và TP HCM Trong đó, năng lực quản trị rủi ro tại cácTCTD Việt nam còn hạn chế, tính chất mệnh lệnh trong quan hệ tín dụng chưa đượckhắc phục
Việc điều hành CSTT gặp nhiều khó khăn do NHNN phải đồng thời thực hiệnmục tiêu kiểm soát lạm phát, can thiệp trên thị trường ngoại hối để tăng dự trữ ngoạihôí nhà nước và ổn định tỉ gía tránh để VND mất giá hoặc lên gía quá mức
Về cơ bản, khu vực tài chính của Việt nam hiện nay còn hạn chế để có thể thựchiện một tài khoản vốn hoàn toàn tự do, vốn tự có tại các TCTD còn thấp và vẫn còn
có TCTD chưa đảm bảo tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu 8% chất lượng tài sản và các
Trang 18khoản dự phòng chưa đáp ứng yêu cầu, tính linh hoạt của các tài sản tài chính cònthấp, hệ thống quản lí giám sát còn nhiều bất cập.
Chương 3: KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ TỰ DO HÓA TÀI CHÍNH VÀ NHỮNG BÀI HỌC RÚT RA ĐỐI VỚI VIỆT NAM
Kinh nghiệm tự do hóa tài chính cho thấy tầm quan trọng của việc xử lý ngay
từ đầu những vấn đề liên quan đến sự lành mạnh của hệ thống tài chính – ngân hàng,góp phần nâng cao hiệu quả phân bổ các nguồn lực và ngăn ngừa nguy cơ khủnghoảng Nguyên nhân cơ bản của các cuộc khủng hoảng tài chính thường bắt nguồn
từ các biện pháp tự do hóa tài chính
Có nhiều cách tiếp cận vấn đề tự do hóa tài chính Trong đó, các nước OECDtập trung vào tự do hóa các luồng vốn, đầu tiên là tự do hóa đầu tư nước ngoài trựctiếp, cuối cùng là tự do hóa tài khoản vốn; ADB dựa vào rủi ro để đánh giá và xâydựng lộ trình tự do hóa tài chính với mục tiêu cuối cùng là tự do hóa tài khoản vốn;cách tiếp cận của IMF cũng khá phức tạp, đó là xem xét đầy đủ mọi vấn đề từ cảicách vi mô, cơ cấu, xây dựng thể chế, các chính sách kinh tế vĩ mô và cơ chế tỷ giá
để xây dựng lộ trình tự do hóa
Đối với Trung Quốc đã xây dựng lộ trình tự do hóa tài chính dựa trên cách tiếpcận của ADB Trình tự mở cửa thị trường tài chính của Trung Quốc được xây dựngtrên cơ sở thừa nhận sự yếu kém của hệ thống tài chính ngân hàng, đánh giá mức độrủi ro và thực hiện tự do hóa thận trọng, đầu tiên là khuyến khích đầu tư trực tiếpnước ngoài, tiếp theo là đầu tư gián tiếp nước ngoài vào TTCK, cuối cùng là tự dohóa các khoản vay nợ nước ngoài, cụ thể là:
- Giải quyết nợ xấu để hạn chế rủi ro cho các ngân hàng;
- Xây dựng thể chế để có hệ thống luật pháp công khai minh bạch;
- Từng bước tự do hóa tài chính nội địa;
- Từng bước tự do hóa lãi suất;
- Tổ chức lại và củng cố các TCTD để tăng cường năng lực cạnh tranh;
- Thực hiện cơ chế tỷ giá theo hướng linh hoạt hơn;
- Giải quyết khó khăn tài khóa để giảm bớt tình trạng thất nghiệp
Tự do hóa tài khoản vốn là mục tiêu cuối cùng, nhưng Trung Quốc chưa đủđiều kiện nên được thực hiện có giới hạn với sự giám sát chặt chẽ, nhất là đối vớidòng vốn ngắn hạn vào TTCK và dòng vốn ra Về quản lý nợ vay nước ngoài,
Trang 19Chính phủ quyết định hạn mức vay nợ trung, dài hạn hàng năm, quy định thời hạntrả nợ và loại tiền vay và phân bổ cho các ngành nghề, khu vực
Trong quá trình tự do hóa tài chính, kiểm soát luồng vốn được coi là vấn đềđược nhiều nước quan tâm đặc biệt, mục tiêu là đảm bảo tính tự chủ của CSTT vàgiảm áp lực đối với tỷ giá Kiểm soát luồng vốn cũng nhằm bảo vệ sự ổn định tàichính – tiền tệ khi phải đối mặt với nguy cơ lạm phát do những luồng vốn vào liêntục, nhất là nguồn vốn ngắn hạn Tuy nhiên, các biện pháp kiểm soát luồng vốncũng có mặt trái của nó:
- Kiểm soát luồng vốn, nhất là những hạn chế toàn diện được áp dụng, có thểgây trở ngại cho các giao dịch vốn và giao dịch vãng lai;
- Các biện pháp kiểm soát có thể đòi hỏi chi phí hành chính khá lớn nhằm đảmbảo thực thi có hiệu quả;
- Các biện pháp kiểm soát vốn nhằm bảo vệ thị trường trong nước có thể dẫnđến việc trì hoãn điều chỉnh những chính sách cần thiết;
- Các biện pháp kiểm soát vốn có thể làm nảy sinh những nhận thức tiêu cực vềthị trường, quốc gia áp dụng phải tốn kém hơn và khó khăn hơn trong việc tiếp cậnnguồn vốn nước ngoài
Kinh nghiệm các nước cũng cho thấy, việc kiểm soát luồng vốn ra thườngđược quan tâm nhiều hơn Sau khủng hoảng (rối loạn) tài chính, một số nước nhưTây Ban Nha, Malaysia, Thái Lan tái thực hiện kiểm soát luồng vốn ra trước áp lựclớn về tỷ giá, mục tiêu là ngăn chặn đầu cơ và ổn định thị trường ngoại hối trong bốicảnh dự trữ ngoại hối giảm mạnh, các cơ quan tiền tệ trong nước có khoảng thờigian nhất định để khắc phục những mất cân bằng về kinh tế vĩ mô và thực hiện cảicách hệ thống ngân hàng Trong đó, Tây Ban Nha phải thỏa thuận với các nướcthành viên trong hệ thống về quyết định thay đổi tỷ giá, Thái Lan áp dụng cơ chế
“neo” tỷ giá tại thời điểm áp đặt kiểm soát, Malaysia thực hiện cơ chế tỷ giá thả nổi
có sự quản lý của Nhà nước Nhằm hạn chế luồng vốn ra, Malaysia thực hiện đánhthuế vào lợi nhuận từ đầu tư gián tiếp không kể cổ tức và lãi thu được, thu nhập liênquan đến các giao dịch vãng lai và các luồng đầu tư trực tiếp nước ngoài; Thái Lanyêu cầu các tổ chức tài chính hạn chế và đình chỉ các giao dịch với người không cưtrú (bao gồm cho vay đồng baht qua giao dịch hoán đổi, giao dịch kỳ hạn về đồngbaht và bán đồng baht lấy ngoại tệ), phải thanh toán bằng đô la Mỹ đối với giao dịchmua hối phiếu bằng đồng baht trước kỳ hạn và những công cụ nợ khác, cấm các nhà
Trang 20đầu tư cổ phiếu nước ngoài chuyển vốn về nước bằng đồng baht (nhưng được tự dochuyển vốn bằng ngoại tệ), người không cư trú phải áp dụng tỷ giá nước ngoài khichuyển đổi lợi nhuận bằng đồng baht thu được từ việc bán chứng khoán
Về kiểm soát luồng vốn ra, kinh nghiệm của các nước cho thấy:
- Để đảm bảo hiệu quả, các kiểm soát phải toàn diện và cần được tiến hành mộtcách bắt buộc đồng thời với cải cách và điều chỉnh chính sách cần thiết Hiệu quảcủa những kiểm soát này dường như bị hạn chế trong những thị trường phức tạp;
- Bên cạnh những tác động tích cực, các biện pháp kiểm soát có thể dẫn đếnphản ứng tiêu cực hơn từ các thị trường tài chính quốc tế và làm suy giảm lòng tincủa các nhà đầu tư quốc tế;
- Các kiểm soát không có tác dụng bảo vệ kéo dài khi phải đối mặt với động cơtránh kiểm soát, nhất là chênh lệch thu nhập hấp dẫn và kỳ vọng lớn của thị trườngvào việc giảm tỷ giá hối đoái;
- Khả năng kiểm soát hoạt động thị trường nước ngoài có thể là phương tiện đểhạn chế luồng vốn vào và ngăn chặn các áp lực đầu cơ;
- Các biện pháp hiệu quả hạn chế rủi ro của các giao dịch hợp pháp, bao gồmđầu tư trực tiếp nước ngoài và các giao dịch phòng ngừa liên quan đến thương mại,nhưng có thể làm tăng chi phí tiếp cận thị trường vốn quốc tế
Đối với Việt Nam, quá trình tự do hóa tài chính cần được thực hiện theo nhữngđịnh hướng cơ bản sau:
- Tự do hóa tài chính phải được tiến hành theo lộ trình thích hợp, đảm bảo ổnđịnh kinh tế vĩ mô và phát triển kinh tế với tốc độ cao và bền vững;
- Tự do hóa phải được coi là phương tiện, là khâu đột phá và được tiến hànhtrước một bước trong tiến trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế;
- Tự do hóa tài chính phải chịu sự kiểm tra giám sát chặt chẽ nhằm đảm bảo anninh tiền tệ quốc gia;
- Tự do hóa tài chính phải được tiến hành cùng với việc tự do hóa kinh tế vàthương mại
Chương 4: GIẢI PHÁP
Cho tới nay, Việt nam đã đi được hơn nửa chặng đường tự do hóa tài chính và
tự do hóa tài chính là sự lựa chọn hợp lý trong điều kiện thực hiện các cam kết hộinhập trong khuôn khổ WTO, gắn tự do hóa tài chính và cải cách khu vực tài chính
Trang 21trong một lộ trình thống nhất Tuy nhiên, Việt nam chưa có kế hoạch tổng thể về cảicách và phát triển khu vực tài chính Vì vậy, cần phải tập trung nghiên cứu và giảiquyết những vấn đề chủ yếu sau đây:
- Cần có sự phối hợp chặt chẽ chính sách tiền tệ với chính sách tài khóa, chínhsách thương mại, chính sách tỉ giá và các chính sách kinh tế vĩ mô khác;
- Đổi mới căn bản hệ thống thiết chế an toàn và giám sát tài chính theo cácthông lệ và chuẩn mực quốc tế;
- Sự ngưng động đột ngột, sự đảo chiều nguồn vốn quá nhanh sẽ làm cho nềnkinh tế đi vào khủng hoảng, dẫn đến bất ổn trong điều hành các chính sách tiếp theocủa chính phủ như: lạm phát, thất nghiệp, tiền lương, ngân sách, rối loạn tỷ giá hốiđoái…, bên cạnh đó dòng vốn chảy ồ ạt - dòng vốn này có mối quan hệ chặt chẽ đếnnền kinh tế, nó làm tăng nguy cơ dễ bị tổn thương của nền kinh tế do tình trạng đầu
cơ vào thị trường bất động sản Vì vậy cần có biện pháp hợp lý và linh hoạt về kiểmsoát các luồng vốn, nhất là nguồn vốn ra và nguồn vốn ngắn hạn vào TTCK;
- Đẩy nhanh tiến độ cải cách ngân hàng nhằm nâng cao tiềm lực tài chính, làm
cơ sở để đổi mới công nghệ và trình độ chuyên môn quản lý, góp phần nâng caonăng lực cạnh tranh của hệ thống Ngân hàng Việt Nam;
- Đẩy nhanh tiến độ cải cách doanh nghiệp, nhất là khu vực doanh nghiệp Nhànước theo hướng cổ phần hóa, góp phần giảm gánh nặng đối với Ngân sách Nhànước Đồng thời, nhanh chóng xây dựng và hoàn thiện các Luật thuế nhằm củng cốnguồn thu ngân sách trong khi nguồn thu thuế bị giảm mạnh trong quá trình thựchiện các cam kết về mở cửa thị trường dịch vụ;
- Thực hiện các biện pháp chuẩn bị cho mở cửa thương mại nhằm đáp ứng yêucầu của WTO và AFTA, trong đó chú trọng đến việc đơn giản hóa và minh bạch hóacác chính sách thuế, thủ tục hải quan, thủ tục cấp giấy phép nhập khẩu, mở rộng đốitượng được phép tham gia hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ;
- Nâng cao năng lực điều hành tiền tệ, lãi suất và tỷ giá theo nguyên tắc thịtrường nhằm hạn chế rủi ro thị trường đối với khu vực tài chính trong quá trình tự
do hóa;
- Quan tâm phát triển hệ thống thanh toán và dịch vụ hỗ trợ thị trường tài chínhtheo hướng hiện đại hóa, đồng thời tăng cường quản lý, giám sát nhằm tạo môitrường thuận lợi cho các hoạt động tài chính diễn ra thông suốt và an toàn;
Trang 22- Chính sách đầu tư nên tập trung vào việc giảm thiểu bảo hộ các ngành thaythế nhập khẩu, đồng thời khuyến khích đầu tư vào các ngành xuất khẩu và cácngành sản xuất có hàm lượng công nghệ cao;
- Trong quá trình tự do hóa tài chính, cần xử lý sớm, ngay từ đầu những vấn đềliên quan đến sự lành mạnh của hệ thống tài chính, nhất là hệ thống ngân hàng và thịtrường chứng khoán Cải cách tài chính ở Việt nam theo hướng tự do hóa thì hệthống Ngân hàng đóng một vai trò to lớn Hiện đại hóa Ngân hàng chính là ngônngữ của hội nhập kinh tế quốc tế, hệ thống Ngân hàng phải được hiện đại hóa đểtheo kịp sự phát triển kinh tế đất nước
Dưới đây là một số giải pháp cụ thể tương ứng cho các mặt chủ yếu của Tự do hóa tàichính
I Tự do hóa lãi suất
Tìm giải pháp cho vấn đề lãi suất cơ bản, hiện tại trong dự thảo Luật ngân hàngNhà nước sửa đổi, quy định về lãi suất cơ bản hiện hành đã được đề nghị bỏ NHNNnên phát triển những công cụ thay thế tốt hơn và đủ mạnh để can thiệp khi cần thiết
mà không đem lại hậu quả tiêu cực cho nền kinh tế như công cụ lãi suất cơ bản.Hoàn thiện các quy định về lãi suất, đó là các lãi suất trên thị trường liên ngânhàng (cả thị trường nội tệ lẫn ngoại tệ): hình thành và hoàn thiện cơ chế điều hòavốn trên thị trường liên ngân hàng để hình thành lãi suất chỉ đạo VIBOR, lãi suất táichiết khấu, lãi suất trên thị trường trái phiếu chính phủ
II Tự do hóa tỷ giá
Xác định đúng giá trị của đồng VN Chúng ta nên xem xét lại khả năng xácđịnh linh hoạt tỷ giá VND tương ứng với một rổ tiền tệ là các ngoại tệ mạnh cótham gia thương mại với VN, có như vậy, đồng tiền VN mới được xác định đúnggiá trị và giảm thiểu tâm lý sùng bái USD, dẫn đến tình trạng đôla hóa nền kinh tếcủa đại bộ phận dân cư hiện nay
Nới lỏng dần biên độ tỷ giá và tiến tới lọai bỏ dần các công cụ kiểm soát tỷ giámang tính hành chính Việc làm này giúp cho chúng ta tiến dần tới mục tiêu tự dohóa tỷ giá mà vẫn phù hợp với tình hình hiện tại của đất nước Điều này cũng mộtbước thực tập cho các doanh nghiệp,các NHTM làm quen dần với việc kinh doanhtiền tệ theo cơ chế cạnh tranh bình đẳng và sử dụng các công cụ phòng ngừa rủi ro
tỷ giá, giảm thiểu tình trạng bị sốc do các biến động
Trang 23Sử dụng công cụ gián tiếp để điều chỉnh tỷ giá trên thị trường Muốn cho công
cụ điều chỉnh gián tiếp của NHNN thông qua nghiệp vụ trên thị trường ngoại tệ liênngân hàng có tác dụng, điều kiện cần là thị trường ngoại tệ liên ngân hàng phải thực
sự tạo niềm tin cho các NHTM bằng cách biến đây thành chỗ dựa của họ và nhu cầuđược tham gia giao dịch ngọai tệ trên thị trường trở nên không thể thiếu Hệ thốngthanh tóan liên ngân hàng cần được đầu tư đúng mức để đạt được hiệu quả nhất, tiếtkiệm thời gian cũng như nhân lực, đồng thời giúp cho cả NHNN và các NHTM cóthể cập nhật những thông tin thị trường và ra quyết định nhanh nhất trong giao dịchtrên thị trường này Có như vậy, các nghiệp vụ ngoại hối mới có thể được thực hiện
và phát triển trên thị trường, tránh sự đơn điệu về nghiệp vụ ngọai hối hiện nay củaTTNTLNH và công cụ điều chỉnh của Nhà nước thông qua thị trường này mới cótác dụng
III Tự do hóa hoạt động của các ngân hàng thương mại
Phải chủ động tự do hoá tài chính trên cơ sở: Minh bạch hoá mối quan hệ giữaCSTT và CSTK, làm cho cả 2 chính sách này ngày càng lành mạnh bằng cách traonhiều quyền lực cho NHTW trong việc hoạch định và thực thi CSTT NHTW phải
đủ sức và đủ công cụ để bảo đảm ổn định sức mua của đồng tiền Việt nam; Đủ sứckiểm soát và làm chủ các nghiệp vụ chính của NHTW như: Điều hành thị trườngtiền tệ; Điều hành và kiểm soát toàn bộ hệ thống thanh toán quốc gia; Đảm bảo trênđất Việt nam chỉ tiêu tiền VN và nhanh chóng thực hiện lộ trình tự do chuyển đổicho đồng tiền VN; Đổi mới cơ chế và quyền lực trong hoạt động thanh tra – giámsát hoạt động Ngân hàng của mọi loại Định chế tài chính (ngay cả khi có Uỷ Bangiám sát tài chính ngoài NHTW);
- Mọi hoạt động có tính chất đầu tư của khu vực tài chính công phải thực hiệnthống nhất theo cơ chế thị trường, đều phải bị điều chỉnh thống nhất bởi Luậtchuyên ngành về Ngân hàng; Hạn chế dần và có kỷ cương minh bạch, công khai vềcác hoạt động tín dụng chính sách ưu đãi đối với khu vực thuộc đối tượng chínhsách ưu đãi của Nhà nước; Thống nhất một mạng thanh toán quốc gia đối với mọiPháp nhân có quan hệ thanh toán với Ngân hàng, kể cả khu vực NSNN và khu vựctài chính Nhà nước ngoài NSNN
- Cần phải đứng trên lợi ích của Nhà nước để dẫn dắt thị trường bằng cách cóchính sách “dãn” rộng hơn khoảng cách giữa các lần cổ phần hoá từng NHTMNN