Xácđịnh giá trị doanh nghiệp được hiểu và thừa nhận một cách rộng rãi là việc điều tra chitiết, đánh giá các hoạt động của công ty nhằm xác định giá trị hiện hữu và tiềm năngcủa một doan
Trang 1PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP VÀ CỔ PHẦN HÓA
I Cơ sở lý luận về tài chính doanh nghiệp:
1 Cấu trúc tài chính doanh nghiệp:
Cấu trúc tài chính doanh nghiệp là những mô hình tài chính của doanh nghiệpđược xây dựng trong một chu kỳ kinh doanh, gắn liền với mục tiêu chiến lược chomột thị trường và thời gian cụ thể Một cấu trúc tài chính hợp lý, an toàn, hiệu quả trởthành động lực kinh tế quyết định sự thành bại của doanh nghiệp
Cấu trúc tài chính là sự hỗn hợp giữa nợ và vốn Cấu trúc vốn và cấu trúc tàichính lệch nhau về nợ ngắn hạn Cấu trúc tài chính trong doanh nghiệp có thể tiếp cận
ở 2 góc độ:
+ Cấu trúc vốn tài sản thể hiện cơ cấu các loại phương tiện, tài sản mà doanhnghiệp sử dụng để thực hiện mục đích kinh doanh
+ Cấu trúc nguồn tài trợ thể hiện các nguồn lực tài chính có trong nền kinh tế
mà doanh nghiệp có thể huy động được
Cấu trúc vốn là sự hỗn hợp giữa nợ dài hạn, vốn chủ sở hữu và lợi nhuận Mộtcấu trúc vốn phù hợp là quyết định quan trọng nhằm tối đa hóa lợi ích và quyết địnhtới năng lực kinh doanh của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh Cấu trúc vốntối ưu liên quan đến việc đánh đổi giữa chi phí và lợi ích của doanh nghiệp
+ Tài trợ bằng vốn vay tạo ra “lá chắn thuế” cho doanh nghiệp, đồng thời
giảm mức độ phân tán các quyết định quản lý Mặt khác, gánh nặng nợ tạo áp lực vớidoanh nghiệp (chi phí vay nợ)
+ Tài trợ từ vốn góp cổ phần không làm gia tăng chi phí sử dụng vốn chodoanh nghiệp Tuy nhiên, các cổ đông có thể can thiệp vào hoạt động điều hành doanhnghiệp, làm loãng quyền quản lý doanh nghiệp
2 Khuynh hướng tài trợ:
Trong nền kinh tế thị trường, để đồng vốn được hoạt động hiệu quả thì phải có
sự chuyển dịch vốn từ kênh nhàn rỗi, kênh dư thừa, kênh chưa có nhu cầu đầu tư sangkênh thiếu hụt, kênh có nhu cầu đầu tư Có 2 kênh tài trợ chính là tài trợ trực tiếp vàtài trợ gián tiếp, thể hiện qua sơ đồ sau:
Trang 22.1 Tài trợ trực tiếp:
Tài trợ trực tiếp là việc huy động vốn thông qua thị trường tài chính Trong đó,thị trường chứng khoán được xem là đặc trưng cơ bản, là biểu tượng của nền kinh tếhiện đại Một nền kinh tế muốn phát triển, tăng trưởng nhanh và bền vững trước hếtphải đáp ứng đủ nhu cầu về vốn đầu tư Tới một lúc nào đó, nhu cầu vốn này vượt quákhả năng đáp ứng của các kênh huy động truyền thống Mà trên thực tế, đang tồn tạimột lượng vốn rất lớn trong cộng đồng dân cư chưa tham gia vào hoạt động sản xuấtkinh doanh, gây mất cân đối trong nền kinh tế, đó là những người có cơ hội đầu tưsinh lời thì thiếu vốn, trái lại những người có vốn nhàn rỗi thì lại không có cơ hội đầu
tư, dẫn đến vốn bị ứ đọng, gây lãng phí Xuất phát từ nghịch lý này, thị trường chứngkhoán đã ra đời đóng vai trò là kênh dẫn vốn quan trọng, góp phần thúc đẩy quá trìnhtích tụ, tập trung, phân phối vốn một cách hiệu quả trong nền kinh tế
2.2 Tài trợ gián tiếp:
Thông qua các trung gian tài chính bao gồm: ngân hàng, công ty bảo hiểm,công ty tài chính, quỹ đầu tư… Trong phạm vi tiểu luận này, ta chỉ tập trung khuynhhướng tài trợ gián tiếp thông qua các ngân hàng thương mại
Trang 3Trung gian tài chính là những tổ chức thực hiện huy động nguồn tiền củanhững người tiết kiệm cuối cùng và sau đó cung cấp cho những người cần vốn cuốicùng.
Ngân hàng thương mại là một tổ chức tín dụng thực hiện toàn bộ hoạt độngngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan Hoạt động ngân hàng làhoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung chủ yếu và thườngxuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung cấp các dịch vụthanh toán
Nguồn vốn tài trợ gián tiếp giữ vai trò quan trọng đảm bảo luân chuyển vốnnhanh, hiệu quả, an toàn và tiết kiệm chi phí đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội
3 Xác định giá trị doanh nghiệp:
3.1 Khái niệm giá trị doanh nghiệp:
Giá trị doanh nghiệp là giá trị toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp Xácđịnh giá trị doanh nghiệp được hiểu và thừa nhận một cách rộng rãi là việc điều tra chitiết, đánh giá các hoạt động của công ty nhằm xác định giá trị hiện hữu và tiềm năngcủa một doanh nghiệp
3.2 Các phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp:
Có hai phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp thường được sử dụng là:
- Phương pháp tài sản: là phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp trên cơ sởđánh giá giá trị thực tế toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm xác địnhgiá trị doanh nghiệp
- Phương pháp dòng tiền chiết khấu: là phương pháp xác định giá trị doanhnghiệp trên cơ sở khả năng sinh lời của doanh nghiệp trong tương lai
3.3 Đối tượng xác định giá trị doanh nghiệp:
Các công ty:
- Đã và đang chuẩn bị Cổ phần hóa
Trang 4- Dự kiến sẽ có những thay đổi đáng kể về quyền sở hữu hoặc cơ cấu vốn củacông ty: sáp nhập, liên doanh, liên kết, chuyển nhượng vốn, mua bán công ty hoặcnhượng quyền kinh doanh…
- Chuẩn bị phát hành trái phiếu lần đầu tiên ra công chúng
- Đang trên đà phát triển và mở rộng qui mô
3.4 Ý nghĩa của việc xác định giá trị doanh nghiệp đối với quá trình cổ phần hóa:
Việc xác định giá trị doanh nghiệp là một vấn đề có ý nghĩa quyết định sựthành công quá trình cổ phần hoá Một mặt nó đảm bảo lợi ích thiết thực của chínhcông ty thực hiện cổ phần và lợi ích của người mua, doanh nghiệp hay các thành viêntrong công ty cổ phần khi tiến hành cổ phần hoá doanh nghịêp nhà nước Mặt khác nócòn có yếu tố tâm lý cho các thành viên tham gia mua cổ phiếu của doanh nghiệp Vìvậy việc xác định giá trị doanh nghiệp có ý nghĩa:
- Trợ giúp cho quá trình chuyển đổi cơ cấu về vốn chủ sở hữu:
+ Cổ đông hoặc nhà đầu tư muốn nắm bắt một cách chi tiết về tình hình hiệntại của công ty trước khi đưa ra quyết định cuối cùng
+ Các cơ hội và tiềm năng phát triển trong tương lai
- Chuẩn bị cho việc phát hành trái phiếu ra công chúng lần đầu (IPO)
- Cải thiện tình hình hoạt động chung của công ty trước thực trạng hoạt độngkém hiệu quả:
+ Quá trình “Xác định giá trị doanh nghiệp” sẽ đánh giá một cách khách quancác điểm mạnh và điểm yếu của công ty
+ Giúp công ty đánh giá một cách khách quan các cơ hội, tiềm năng và gia tănggiá trị cho các cổ đông hiện tại và tương lai
- Lợi ích của qui trình “Xác định giá trị Doanh nghiệp” là khả năng tổng hợp,đánh giá, phân tích và khớp lại các dữ liệu quá khứ và triển vọng phát triển trongtương lai của doanh nghiệp trong một bản báo cáo chính xác và toàn diện
- Chỉ ra những thay đổi cần thiết về hệ thống tài chính, cơ cấu thành phần cổđông hoặc cấu trúc doanh nghiệp
Trang 5- Đưa ra những phân tích về hệ thống quản trị và điều hành công ty, đồng thờicung cấp những đánh giá về năng lực đối với một số các vị trí nhân lực chủ chốt.
II Cơ sở lý luận về cổ phần hóa:
1 Khái niệm cổ phần hóa:
Cổ phần hóa là hình thức đa dạng hóa quyền sở hữu đối với mọi thành phầnkinh tế, chuyển từ giai đọan tập trung tư bản sang giai đọan tập trung vốn xã hội đểnâng cao chất lượng và quy mô sản xuất trong cạnh tranh
Ở nước ta cổ phần hóa là việc chuyển đổi các doanh nhiệp Nhà nước thànhCông ty cổ phần nhằm đa dạng hóa các hình thức sở hữu, thực chất là phát triển hìnhthức sở hữu hỗn hợp phục vụ cho việc tăng nguồn lực cho sản xuất, kinh doanh vì lợiích của người lao động
2 Bản chất cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước:
Cổ phần hóa chính là phương thức thực hiện xã hội hóa quyền sở hữu, tức làchuyển từ hình thái kinh doanh một chủ sở hữu là nhà nước thành công ty cổ phần vớinhiều chủ sở hữu thuộc mọi thành phần kinh tế khác nhau, là mô hình doanh nghiệpphù hợp với nền kinh tế thị trường
3 Kinh nghiệm cổ phần hóa từ các nước:
Chỉ trong hai năm 2004-2005, hơn 60 nước đã thực hiện gần 400 trường hợp cổphần hóa với tổng giá trị khoảng 90 tỷ USD Hai nền kinh tế mới nổi là Trung Quốc
và Thổ Nhĩ Kỳ đóng góp hơn 1/3 các hoạt động này với giá trị tính bằng USD tươngứng là 18 tỷ và 12,6 tỷ Ấn Độ và Pakistan cũng đặc biệt tích cực với tổng giá trị hoạtđộng cổ phần hóa tương đương 8 tỷ USD
Từ thực tế cổ phần hóa ở các nước trong vài thập kỷ qua có thể rút ra một sốkinh nghiệm sau:
Trang 6Thứ nhất, phải xem xét nghiêm túc đến lợi ích của người lao động Tình trạngngười lao động bị mất việc là một vấn đề cần xem xét, thường gặp phải sự phản khángmạnh mẽ từ người lao động, các chính trị gia và những ngành khác trong xã hội
Thứ hai, cổ phần hóa cũng phải đi kèm cải cách thị trường, một mặt tạo môitrường kinh doanh thuận lợi cho chủ sở hữu mới hoạt động có lãi nhưng đồng thời,đảm bảo lợi ích của công chúng
Thứ ba, Chính phủ có vai trò quan trọng trong việc ban hành Hệ thống các vănbản pháp luật mang tính nhất quán và hiệu quả để thực hiện tiến trình cổ phần hóa
Thứ tư, cần nhận thức rằng chính sách cổ phần hóa là một bộ phận của chươngtrình cải cách kinh tế theo hướng thị trường Để có thể hấp dẫn các nhà đầu tư và tối
đa hóa nguồn thu, nhà nước phải bảo đảm môi trường kinh doanh đủ hấp dẫn bằng cáccải cách liên quan và chính sách kinh tế lành mạnh
Thứ năm, kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy một trong những vấn đề nảysinh trong quá trình cổ phần hóa chính là thất thoát tài sản nhà nước Ở Trung Quốc,một số doanh nghiệp cổ phần trong quá trình cải tổ đánh giá thấp giá trị tài sản Tìnhtrạng thường gặp là lấy một bộ phận tài sản hữu hình qui ra cổ phần bằng nguyên giátrị, ví dụ như đánh giá giá trị đất đai như lúc mua, không tính thêm phần giá tăng theothị trường
Trang 7PHẦN II: THỰC TIỄN VỀ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP VÀ ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC:
I Thực tiễn về tài chính doanh nghiệp:
1 Thực tiễn cấu trúc tài chính doanh nghiệp:
Trước hết ta xem xét nguồn vốn của các doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay thểhiện qua bảng sau:
VỐN BÌNH QUÂN TRÊN 1 DOANH NGHIỆP (Đơn vị: tỷ đồng)
và nhỏ Tốc độ tăng vốn của doanh nghiệp nhà nước nhanh hơn các doanh nghiệpngoài nhà nước và doanh nghiệp FDI, cho thấy doanh nghiệp nhà nước được bổ sungvốn từ ngân sách nhà nước tăng qua các năm
Trang 8Ta xem xét hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu của các doanh nghiệp Việt Nam quabảng sau:
2 Thực tiễn khuynh hướng tài trợ:
2.1 Thông qua thị trường chứng khoán:
Thị trường chứng khoán Việt Nam đã chính thức đi vào hoạt động từ ngày20/7/2000 đánh dấu một bước phát triển của thị trường tài chính Việt Nam Mặc dùquy mô còn nhỏ bé song bước đầu đã thu hút được sự quan tâm của công chúng đầu
tư trong và ngoài nước Tuy nhiên, nó cũng là một trong những kênh huy động vốntrong tổng vốn đầu tư toàn xã hội, đóng góp một phần không nhỏ trong sự phát triểnkinh tế đất nước Theo Bộ Tài Chính mức vốn hóa của thị trường chứng khoán ViệtNam tính đến cuối tháng 12/2009 vào khoảng 620 ngàn tỷ đồng tương đương gần
Trang 938% GDP năm 2009 So với cuối năm 2008 (225 ngàn tỷ đồng), mức vốn hóa đã tănggần gấp 3 lần.
Có thể thống kế nguồn vốn huy động được thông qua thị trường chứng khoántheo hình sau:
Nguồn: Ủy Ban chứng khoán nhà nước
Nguồn vốn huy động thông qua thị trường chứng khóan từ những năm mớihình thành rất ít và có sự tăng vọt trong những năm 2006, 2007 khi thị trường chứngkhoán phát triển và giảm trong năm 2008, 2009 khi Việt Nam đối mặt với khủnghoảng kinh tế toàn cầu
Tuy nhiên, chúng ta cũng gặp không ít khó khăn và những hạn chế Điều đầutiên đáng nói là thị trường của chúng ta chưa thực sự trở thành một công cụ để huyđộng vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế So với quy mô của các thị trường khác, thìthị trường của chúng ta còn quá nhỏ bé Hàng hoá trên thị trường đã tăng về quy mô,song thực sự là chưa tương xứng Có nhiều nguyên nhân cho vấn đề này, nhưng có thểthấy rõ là quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước còn chậm
Trang 10Xét về khía cạnh đóng góp của thị trường chứng khoán vào việc huy động vốncủa doanh nghiệp cũng có 2 mặt Vào thời điểm thị trường chứng khoán phát triểnnóng, việc huy động vốn dễ dàng hơn so với với thời điểm thị trường trầm lắng, cácnhà đầu tư thờ ơ với việc công ty niêm yết phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn màkhông quan tâm đến khả năng hoạt động kinh doanh thực sự của doanh nghiệp
2.2 Thông qua các trung gian tài chính:
Hoạt động tài trợ vốn thông qua các trung gian tài chính chủ yếu là các ngânhàng thương mại Tính đến tháng 11 năm 2009, cả nước có 453,800 doanh nghiệp vừa
và nhỏ chiếm 90% tổng số doanh nghiệp tại Việt Nam, lực lượng đông đảo này đãđóng góp hơn 26% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và tạo ra khoảng 26% công ăn việclàm trong cả nước Có sự đóng góp đáng kể này, nhưng hầu hết các doanh nghiệp vừa
và nhỏ này đều gặp khó khăn về nguồn vốn sản xuất kinh doanh Ở nhiều nước, doanhnghiệp ra đời bao giờ vốn tự có cũng là chính, còn ở Việt Nam doanh nghiệp ra đờivốn điều lệ rất ít (bình quân 1 doanh nghiệp vừa và nhỏ dưới 10 tỷ đồng), hoạt độngsản xuất kinh doanh chủ yếu dựa vào vốn vay
Về lý thuyết doanh nghiệp Việt Nam đa phần là các doanh nghiệp vừa và nhỏ,với đặc thù vốn ít, nhưng là đối tượng khách hàng đầy tiềm năng của các ngân hàng.Bằng chứng là, ước tính có đến 80% lượng vốn cung ứng cho doanh nghiệp vừa vànhỏ là từ kênh ngân hàng Còn về phía Ngân hàng, cho vay dựa trên tính hiệu quả, khảthi của phương án, đề án kinh doanh của doanh nghiệp
Nhưng trên thực tế thì doanh nghiệp vừa và nhỏ rất khó tiếp cận vốn ngânhàng Theo thống kê số vốn ngân hàng mà doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận chỉ đápứng 30% nhu cầu Mặc dù là đối tượng khách hàng tiềm năng nhưng rõ ràng giữadoanh nghiệp vừa và nhỏ và Ngân hàng vẫn còn một khoảng cách Theo điều tra củaCục Phát Triển Doanh Nghiệp – Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư vào tháng 9 năm 2007 thìchỉ có 33 % doanh nghiệp có khả năng tiếp cận vốn vay ngân hàng, 49% doanhnghiệp khó tiếp cận và 18% doanh nghiệp không tiếp cận được Nguyên nhân của vấn
đề này có thể là do:
Trang 11- Doanh nghiệp vừa và nhỏ năng lực tài chính hạn chế, vốn thấp, trình độ quản
lý kinh doanh thấp, tính minh bạch chưa cao, chưa có khả năng lập dự án…
- Ngân hàng chưa thực sự đổi mới cách phục vụ đối tượng doanh nghiệp vừa
và nhỏ, còn thụ động trong tiếp cận, nắm bắt và phân tích hoạt động của các doanhnghiệp, chính sách khách hàng chưa rõ, chưa sát, chưa cụ thể (thể hiện trong quy định
về xếp loại khách hàng, lãi suất) Cơ chế tín dụng vẫn giữ nguyên từ quốc doanh sangcác thành phần kinh tế khác
Vì thế bản thân doanh nghiệp vừa và nhỏ cần nâng cao trình độ quản lý, kinhdoanh, đặc biệt cần có cơ chế tài chính minh bạch; các ngân hàng cần đổi mới cungcách cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ, tích cực tham gia cùng doanh nghiệp
từ khâu lập dự án, giám sát thực hiện, thậm chí đào tạo cho doanh nghiệp
Đối với các doanh nghiệp nhà nước: hoạt động chưa hiệu quả, năng lực điềuhành còn yếu kém, cơ chế sáp nhập phân chia không rõ ràng Giai đoạn 2000-2003
dư nợ cho vay của hệ thống ngân hàng (chủ yếu là Ngân hàng thương mại quốcdoanh) đối với các doanh nghiệp nhà nước chiếm tỷ trọng cao 70%/tổng dư nợ của hệthống ngân hàng và tỷ lệ này giảm dần qua các năm đến tháng 3 năm 2009 chỉ còn36% Nguyên nhân là do giai đoạn 2000, các ngân hàng rất ưu ái cho các doanhnghiệp nhà nước, do cơ chế cho vay đảm bảo bằng tài sản nhà nước, vay theo chỉ thịtheo chương trình của chính phủ Về sau, các ngân hàng càng nhận thấy các doanhnghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ không hiệu quả và theo xu hướng của cơ chế thịtrường cũng như sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống các ngân hàng thương mại, thìcác ngân hàng cũng phải lựa chọn kênh đầu tư cho vay hiệu quả và an toàn hơn
Nguồn: Ngân hàng nhà nước
Trang 12% Dư nợ cho vay/tổng dư nợ của hệ thống ngân hàng đối với DNNN qua các năm
Như vậy, doanh nghiệp nhà nước cần có sự thay đổi về thể chế, cơ cấu tổ chức,điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh để có thể tiếp cận vốn
3 Thực trạng xác định giá trị doanh nghiệp:
Từ 1992 đến nay, việc xác định giá trị doanh nghiệp có nhiều diễn biến phứctạp, có thể được xem xét qua các giai đoạn sau:
3.1 Giai đoạn từ 08/06/1992 đến 07/05/1996:
Trong giai đoạn này, việc xác định giá trị doanh nghiệp chủ yếu phục vụ choquá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước Xác định giá trị doanh nghiệp tronggiai đoạn này chủ yếu được tiến hành theo phương pháp có điều chỉnh theo thông tư
số 36/TC-CN hướng dẫn xử lý một số vấn đề tài chính khi thực hiện thí điểm chuyểnmột số doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần theo tinh thần nghị quyết số202/CT ngày 08/06/1992, là hướng dẫn đầu tiên từ phía cơ quan nhà nước Theothông tư này, giá trị doanh nghiệp bao gồm giá trị tài sản cố định, tài sản lưu động,được đánh giá lại sau kiểm kê và chi phí ban đầu về quyền sử dụng đất, lợi thế doanhnghiệp Về nguyên tắc căn cứ xác định giá trị doanh nghiệp là thực trạng những tàisản thuộc nguồn vốn nhà nước, hệ thống giá sau tổng kiểm kê theo quy định của nhànước Các yếu tố tạo ra hiệu quả, triển vọng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp(như uy tín của doanh nghiệp, vị trí địa lý…), các khoản thuộc phạm vi thua lỗ, nợnần, hàng hóa tồn kho kém, mất phẩm chất… nằm trong giá trị doanh nghiệp
Giai đoạn này là giai đoạn thí điểm nên việc định giá tài sản còn phụ thuộc vàoviệc phân loại tài sản và phải đảm bào nguyên tắc không thực hiện cổ phần hóa nhữngtài sản thuộc nguồn vốn vay (nếu người cho vay không đồng ý) và những tài sản chưa
đủ cơ sở pháp lý về quyền sở hữu đối với doanh nghiệp Ngoài ra, việc xác định giá trịdoanh nghiệp cổ phần hóa còn phải dựa trên số liệu quyết toán có xác nhận về kiểmtoán của cơ quan nhà nước có thẩm quyền như quy định của chỉ thị số 84/TTG ngày14/03/1993 của thủ tướng chính phủ về việc xúc tiến thực hiện thí điểm cổ phần hóa
Trang 13doanh nghiệp nhà nước và các giải pháp đa dạng hóa các hình thức sở hữu đối vớidoanh nghiệp nhà nước.
Trong điều kiện công tác quản lý vốn và tài sản nhà nước tại các doanh nghiệp
có yếu kém, nguồn gốc hình thành tài sản nhà nước tại doanh nghiệp quá phức tạp( do cải tạo công thương nghiệp, trưng thu, trưng mua, tiếp quản doanh nghiệp vô chủ,doanh nghiệp của tư nhân trốn ra nước ngoài, doanh nghiệp mua bằng vốn vay hìnhthành từ nguồn chiếm dụng của khách hàng,…) cộng thêm những thủ tục rườm rà vềquyền sở hữu, kết quả kiểm toán nên thời gian xác định giá trị doanh nghiệp trongthời gian này thường kéo dài từ 8 tháng đến 2 năm
Bên cạnh đó, các quy định hướng dẫn chưa hình dung hết các vấn đề phức tạpkhi xác định giá trị doanh nghiệp như vấn đề định giá thiết bị chuyên dùng, đất đainhà cửa lợi thế doanh nghiệp, mặt khác lại chưa cho phép loại trừ ra khỏi giá trị doanhnghiệp cổ phần hóa các khoản tổn thất trong doanh nghiệp như: các khoản công nợkhó đòi, các khoản lỗ năm trước, tài sản và hàng hóa không còn dùng và kém phẩmchất thanh lý,…Cho nên dẫn đến tình trạng giá trị được xác định không phản ánh giátrị thực của nó dẫn đến sự không thống nhất giữa người mua và người bán
3.2 Giai đoạn từ 07/05/1996 tới 29/08/1998:
Để khắc phục những tồn tại trong quá trình thí điểm, ngày 07/05/1996, chínhphủ ban hành nghị định 28/CP về chuyển đổi 1 số công ty nhà nước thành công ty cổphần, trong đó giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa được xác định theo nguyên tắc: “ Giátrị của doanh nghiệp cổ phần hóa được xác định là giá trị thực tế của doanh nghiệp mà
cả người bán và người mua đều chấp nhận được” và do cơ quan quản lý vốn và tài sảnnhà nước tại doanh nghiệp – Bộ tài chính phối hợp với các bộ ngành cùng thực hiện,theo nguyên tắc căn cứ để xác định giá trị thực tế của doanh nghiệp là số liệu trên sổsách kế toán của doanh nghiệp tại thời điểm cổ phần hóa đã được cơ quan kiểm toánhợp pháp xác nhận, hệ số lợi thế doanh nghiệp trên cơ sở tỷ suất lợi nhuận trên vốnkinh doanh bình quân trong 3 năm cuối của doanh nghiệp nhà nước trước khi cổ phầnhóa và giá trị quyền sử dụng đất tính theo quy định của luật đất đai và các văn bảnhướng dẫn Ngoài ra Bộ tài chính đã ban hành thông tư số 50/TC/TCDN ngày30/08/1996 hướng dẫn vấn đề tài chính trong việc chuyển đổi một số doanh nghiệpnhà nước thành công ty cổ phần theo nghị định 28/CP
Trang 14Có thể nói, phương pháp định giá trong giai đoạn này xây dựng trên cơ sở kếthợp giá trị tài sản thuần (Tổng tài sản có- Tổng tài sản nợ) và phương pháp so sánhtrực tiếp để đưa ra những điều chỉnh thích hợp như: mức độ giảm giá do vô hình, doquan hệ cung cầu … nên cũng đã khắc phục được 1 số hạn chế của các phương phápđịnh giá đã xác định trước đây và phản ánh tương đối đúng đắn và trực quan giá trị tàisản hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm định giá, rút ngắn thời gian định giádoanh nghiệp xuống còn dưới 3 tháng, góp phần đấy nhanh tiến trình cổ phần hóadoanh nghiệp giai đoạn 1996- 1998 Trong giai đoạn này đã triển khai định giá được
40 doanh nghiệp
3.3 Giai đoạn 29/08/1998 – đến nay:
Để đẩy nhanh tiến trình cố phần hóa, ngày 29/08/1998, chính phủ ban hànhnghị định 44/1998/ND-CP về chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổphần Việc xác định giá trị doanh nghiệp trong giai đoạn này đã tiến một bước xa, giátrị doanh nghiệp được xác định chính xác hơn, hoàn thiện hơn
Việc xác định giá trị đã được nâng cao lên một bước nữa trong nghị định của64/2002/ND-CP, giá trị doanh nghiệp còn bao gồm cả giá trị quyền sử sụng đất, giá trịlợi thế kinh doanh của doanh nghiệp
Sau đó, Nghị Định này được thay thế bởi nghị định 187/2004/NĐ-CP vớithông tư 126/2004/TT-BTC hướng dẫn nghị định 187
Tiếp theo đó nghị định 109/2007/NĐ-CP ra đời, thay thế cho nghị định187/2004/NĐ-CP, về chuyển đổi 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần Nghịđịnh này được hướng dẫn thi hành bởi các văn bản sau:
- Thông tư 146/2007/TT-BTC: về việc hướng dẫn thực hiện một số vấn đề vềtài chính khi thực hiện chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổphần theo quy định tại Nghị định số 109/2007/NĐ-CP ngày 26/06/2007 của Chínhphủ
- Thông tư 20/2007/TT-BLĐTBXH: Về việc Hướng dẫn thực hiện chính sáchđối với người lao động theo Nghị định số 109/2007/NĐ-CP ngày 26/06/2007 củaChính phủ về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần
Trang 15- Nghị định này được sửa đổi bổ sung bởi nghị định 123/2007/NĐ-CP: Về việcsửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 vềphương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất.
II Đánh giá quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam:
1 Tổng quan doanh nghiệp nhà nước:
Theo Luật Doanh nghiệp nhà nước số 14/2003/QH11 ngày 26 tháng 11 năm
2003 thì doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốnđiều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhànước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn
Theo số liệu thống kê tính đến năm 2006 cả nước có 2.176 doanh nghiệp 100%vốn Nhà nước.Trong đó có 1.546 doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh, 355doanh nghiệp quốc phòng an ninh và sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích
và 295 nông, lâm trường quốc doanh
Thực trạng hoạt động của các Doanh nghiệp Nhà nước có thể khái quát nhưsau:
- Tốc độ tăng trưởng bình quân của doanh nghiệp nhà nước sau một thời gianliên tục đạt 13%, đến năm 1998 và đầu năm 1999 giảm xuống còn 8-9%
- Hiệu quả sử dụng vốn giảm: năm 1995 một đồng vốn nhà nước tạo ra được3,46 đồng doanh thu và 0,19 đồng lợi nhuận; đến năm 1998 một đồng vốn chỉ làm rađược 2,9 đồng doanh thu và 0,14 đồng lợi nhuận
- Tổng số nợ mà các doanh nghiệp Nhà nước phải trả trên 181.000 tỷ đồng tínhđến năm 2008, trong đó tỷ lệ nợ phải trả trên tổng nguồn vốn bình quân hơn 60%, tỷ
lệ bình quân phải thu trên tổng tài sản là 10,8% và trên vốn chủ sở hữu là 29,03%
Trang 16Quan sát biểu đồ dưới đây cho chúng ta cái nhìn về kết quả hoạt động củaDoanh nghiệp nhà nước qua các năm:
PHẦN TRĂM DOANH NGHIỆP THUA LỖ
2 Mục tiêu cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước:
Mục tiêu của quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đã được Đảng taxác định: đây là phương tiện để vừa đạt được mục tiêu phấn đấu, vừa khẳng định chứcnăng nhiệm vụ trước mắt cũng như lâu dài của doanh nghiệp nhà nước, cụ thể như:
- Đa sở hữu để nâng cao chất lượng quản trị doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn và sức cạnh tranh của doanh nghiệp
- Thay đổi cách thức tổ chức các quan hệ quản lý nội bộ doanh nghiệp, có sựphân công, phân cấp và giám sát lẫn nhau chặt chẽ
- Thay đổi căn bản về quan hệ quản lý giữa Nhà nước và doanh nghiệp Từ chỗdoanh nghiệp bị chi phối toàn diện trong quá trình sản xuất kinh doanh bởi Nhà nước
Trang 17với tư cách là chủ sở hữu duy nhất, sang quyền tự chủ kinh doanh được mở rộng vàtính chịu trách nhiệm được đề cao.
3 Thực trạng cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước:
3.1 Cơ sở pháp lý cho quá trình cổ phần hóa:
Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là một trong những mục tiêu của chínhphủ nhằm cải tổ doanh nghiệp nhà nước hoạt động không hiệu quả trong một thời giandài Chính vì vậy năm 1990, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ra Quyết định số143/HĐBT ngày 10 tháng 5 năm 1990 lựa chọn một số doanh nghiệp nhỏ và vừa đểthử chuyển đổi thành công ty cổ phần
Năm 1991, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng lại ra Quyết định số 202 ngày 8 tháng
6 năm 1992 yêu cầu mỗi bộ ngành trung ương và mỗi tỉnh thành chọn ra từ 1-2 doanhnghiệp nhà nước để thử cổ phần hóa
Nghị định 28/CP được Chính phủ ban hành ngày 7 tháng 5 năm 1996 yêu cầucác bộ, ngành trung ương và các chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc trung ươnglập danh sách doanh nghiệp nhà nước do mình quản lý sẽ được cổ phần hóa cho đếnnăm 1997 Tinh thần của Nghị định 28/CP là chọn những doanh nghiệp mà Nhà nướcthấy không còn cần thiết phải nắm giữ 100% vốn nữa làm đối tượng Nghị định số 25/
CP ngày 26 tháng 3 năm 1997 của Chính phủ cho phép các lãnh đạo bộ, ngành, địaphương có thêm quyền hạn trong việc tiến hành cổ phần hóa các doanh nghiệp đượcchọn làm thử Theo đó, đối với doanh nghiệp có vốn từ 10 tỷ đồng trở xuống thì lãnhđạo bộ, ngành, địa phương có quyền tự tổ chức thực hiện cổ phần hóa trên cơ sở Nghịđịnh số 28/CP
Ngày 29 tháng 6 năm 1998, Chính phủ ban hành Nghị định số 44/1998/NĐ-CP
về chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần Nghị định này quy địnhrằng đối với cổ phần phát hành lần đầu của doanh nghiệp được chuyển đổi nhưng Nhànước vẫn muốn nắm quyền chi phối, cá nhân không được phép mua quá 5% và phápnhân không được phép mua quá 10% Đối với doanh nghiệp mà Nhà nước không cầnnắm quyền chi phối, cá nhân được phép mua tới 10% và pháp nhân được phép muatới 20% tổng cổ phần phát hành lần đầu Riêng đối với các doanh nghiệp mà Nhànước hoàn toàn không còn muốn sở hữu, cá nhân và pháp nhân được phép mua không