1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Chương 3. Hệ thống tri thức địa lí trong nhà trường phổ thông và quá trình nắm tri thức của học sinh.

15 1,7K 20

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 155 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kiến thức địa lí a Các kiến thức thực tiễn hay kinh nghiệm là những kiến thức phản ánh những đặc điểm bên ngoài của các sự vật và hiện tượng địa lí mà học sinh có thể nhận thức được một

Trang 1

Chương III

HỆ THỐNG TRI THỨC ĐỊA LÍ TRONG NHÀ TRƯỜNG PHỔ THÔNG VÀ

QUÁ TRÌNH NẮM TRI THỨC CỦA HỌC SINH

I HỆ THỐNG TRI THỨC ĐỊA LÍ TRONG NHÀ TRƯỜNG PHỔ THÔNG

Các tri thức Địa lí được dạy trong nhà trường phổ thông gồm có một hệ thống kiến thức, kĩ năng,

kĩ xảo địa lí được lựa chọn trong hệ thống tri thức của Khoa học Địa lí và được sắp xếp theo một trình tự nhất định, nhằm cung cấp một dung lượng kiến thức và giáo dục học sinh theo mục tiêu đào tạo của nhà trường phổ thông

Tuy nhiên, nội dung môn Địa lí dạy trong nhà trường phổ thông không phải là sự tóm tắt nội

dung tri thức của Khoa học Địa lí Nó là một phần của nội dung giáo dục phổ thông, bởi vì ngoài những tri thức địa lí nó còn bao gồm nhiều tri thức khác giúp cho việc học tập Địa lí của học sinh đạt hiệu quả

Việc xác định nội dung môn Địa lí dạy trong nhà trường chủ yếu phải là nhiệm vụ của các nhà phương pháp dạy học Địa lí, bởi vì khi xác định nội dung môn học họ phải trả lời được những câu hỏi sau:

+ Nội dung môn Địa lí cần có những vấn đề gì, phục vụ cho mục tiêu đào tạo của nhà trường phổ thông?

+ Với kế hoạch dạy học đã xác định, cần lựa chọn những tri thức địa lí nào để có được một nội dung học vấn tối ưu?

+ Những kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo địa lí đưa vào nội dung môn Địa lí như thế nào là thích hợp với tâm, sinh lí lứa tuổi của học sinh?

Rõ ràng những vấn đề này mang nhiều tính lí luận dạy học phổ thông hơn là tính chất khoa học địa lí (AV.Đarinxki)

Hệ thống tri thức địa lí được lựa chọn để đưa vào chương trình học trong nhà trường phổ thông phải là những vấn đề cơ bản nhất (được hiểu là những tri thức thuộc khoa học địa lí quan trọng nhất, cần thiết nhất, giúp cho người học sinh có thể tiếp tục học tập và tham gia vào cuộc sống hiện tại và tương lai)

Trang 2

Các thành phần của nội dung học vấn địa lí dạy trong nhà trường phổ thông có thể đươc tóm tắt theo sơ đồ sau:

1 Kiến thức địa lí

a) Các kiến thức thực tiễn (hay kinh nghiệm) là những kiến thức phản ánh những đặc điểm bên

ngoài của các sự vật và hiện tượng địa lí mà học sinh có thể nhận thức được một cách tương đối dễ dàng bằng con đường kinh nghiệm, dựa vào các giác quan của bản thân Thuộc nhóm này có các

số liệu, sự kiện, biểu tượng và các mô hình sang tạo về địa lí

+ Các số liệu và sự kiện địa lí Các số liệu và sự kiện trong địa lí rất đa dạng và phong phú Đó

là những kiến thức phản ánh các thông tin về số lượng, về các đặc điểm của các sự vật và hiện tượng địa lí Ví dụ: Các số liệu về diện tích, dân cư, về chiều dài của các dòng sông, các bảng thống kê sản phẩm của các ngành sản xuất công, nông nghiệp, các sự kiện về động đất, núi lửa phun trên thế giới v.v…

Nội dung môn Địa lí

Kỹ năng kỹ xảo Kiến thức

Kiến thức

thực tiễn Kiến thức lí thuyết Kĩ năng bản đồ làm việc Kĩ năng

với các dụng cụ nghiên cứu địa lí

Kĩ năng làm việc với các tài liệu địa lí

Kĩ năng học tập và nghiên cứu địa lí

- Các số liệu,

sự kiện địa lí.

- Các biểu

tượng địa lí.

- Các mô

hình sang tạo

về địa lí

- Các khái niệm, quy luật, mối quan hệ nhân quả.

- Các thuyết trong địa lí.

- Những tư tưởng, những quan điểm trong địa

lí học.

- Những kiến thức về phương pháp học tập và nghiên cứu địa lí

Trang 3

Giá trị chủ yếu của các số liệu và sự kiện địa lí là ở chỗ: chúng làm cơ sở để minh hoạ, dẫn chứng và khái quát các kiến thức địa lí lí thuyết Ví dụ: muốn chứng minh sự phong phú về tài nguyên khoáng sản của một quốc gia cần dựa vào các số liệu về trữ lượng của từng loại khoáng sản hoặc muốn khái quát về đặc điểm khí hậu của một địa phương thì những thong tin về các sự kiện xảy ra trong lớp khí quyển ở địa phương đó như chế độ nhiệt, gió, mưa v.v…trong các thời gian khác nhau không thể thiếu được

Tuy nhiên, có một điều cần lưu ý là bản than các số liệu và các sự kiện địa lí không có tính khoa học Chúng cỉ có giá trị chứng minh, minh hoạ cho các kiến thức (hiện tượng) địa lí, vì vậy việc sử dụng chúng cần có mức độ, đúng lúc, đúng chỗ, nghĩa là phải có mục đích rõ ràng

Khuynh hướng phổ biến hiện nay trong việc nâng cao trình độ khoa học của môn Địa lí trong nhà trường là tăng cường các kiến thức lí thuyết và giảm bớt các số liệu, sự kiện

+ Các biểu tượng địa lí Các biểu tượng địa lí là những hình ảnh về các sự vật và hiện tượng địa

lí được tri giác, được phán ánh vào trong ý thức và giữ lại trong trí nhớ Chúng có khả năng tái tạo theo ý muốn Do kết quả của thực tiễn đới sống và của giáo dục trong nhà trường, trong ý thức của học sinh được hình thành nhiều biểu tượng đa dạng: một con sông ở đầu làng, một bãi biển ở quê hương, quang cảnh nhộn nhịp của một xưởng máy đang giờ làm việc v.v…Những biểu tượng này

là những hình ảnh có thực, cụ thể mà học sinh có thể quan sát được bằng chính đôi mắt của mình Tuy nhiên, không phải bao giờ học sinh cũng có thể quan sát trực tiếp các đối tượng và hiện tượng địa lí xảy ra ở khắp nơi trên thế giớí Chính vì vậy, phần lớn các biểu tượng về các sự vật và hiện tượng địa lí thường được hình thành một cách gián tiếp bằng con đường tư duy qua tưởng tượng

Ví dụ: biểu tượng về dãy núi Anpơ ở châu Âu, hoang mạc Xahara ở châu Phi v.v…Do cách hình thành loại biểu tượng do các giác quan nhận thức trực tiếp nên chúng cũng có những đặc điểm riêng, cần phải chú ý trong quá trình giảng dạy Địa lí Trước hết, các biểu tượng địa lí tưởng tượng không giống các biểu tượng địa lí cụ thể ở chỗ: chúng là sản phẩm của tư duy, được hình thành nhờ các thao tác tư duy như so sánh, phân tích và tổng hợp với những biểu tượng mẫu đã có sẵn nên chúng thường không có độ chính xác cao và kém bền chặt Cùng một biểu tượng về hoang mạc Xahara, nhưng khi được tái hiện thì hình ảnh hoang mạc Xahara trong ý thức của mỗi học sinh có khác nhau Điều đó tuỳ thuộc vào hoàn cảnh nhận thức và vào trí tưởng tượng của từng em

Các biểu tượng địa lí còn khác nhau với các biểu tượng khác ở chỗ: chúng có tính không gian, nghĩa là chúng không những biểu hiện hình ảnh cụ thể của các sự vật và hiện tượng địa lí mà còn biểu hiện cả vị trí, phạm vi phân bố không gian của chúng trên lãnh thổ Do tính không gian là một

Trang 4

đặc điểm có lien quan chặt chẽ đến vị trí được xác định trên bản đồ nên người ta thường gọi các biểu tượng địa lí là: biểu tượng bản đồ

+ Các mô hình sang tạo trong địa lí: Là một loại kiến thức thực tiễn nữa cũng thuộc nội dung

môn Địa lí học trong nhà trường là các mô hình sáng tạo Đó là những mẫu thành công cụ thể của việc vận dụng các tri thức địa lí vào thực tiễn (tri thức nghiên cứu, học tập, thực tiễn cuộc sống) Trong môn Địa lí, những mẫu này có thể biểu hiện ở nhiều mức độ khác nhau, từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao Ví dụ: những sơ đồ biểu hiện các mối quan hệ giữa các thành phần tự nhiên, giữa các ngành sản xuất; những bản vẽ, lát cắt tổng hợp một lãnh thổ, những mẫu trình bày địa lí địa phương, những sơ đồ quy hoạch lãnh thổ v.v…Vai trò của những mẫu sang tạo này, một mặt có giá trị thực tiễn và trực quan, giúp cho học sinh hiểu được cách làm, cách vận dụng tri thức, mặt khác cũng khêu gợi được ở học sinh tuy duy sáng tạo, tìm tòi những cách vận dụng mới v.v…

b) Các kiến thức lí thuyết Là những kiến thức đã được khái quát hoá phản ánh bản chất của

các sự vật, hiện tượng địa lí với những đặc điểm và những mối quan hệ bên trong của chúng Thuộc các kiến thức địa lí lí thuyết có các khái niệm địa lí, các mối quan hệ nhân quả, các quy luật, các thuyết, các tư tưởng, các vấn đề phương pháp luận của Địa lí học, các kiến thức về phương pháp học tập và nghiên cứu Địa lí

+ Các khái niệm địa lí Khái niệm địa lí là thành phần cơ bản của kiến thức địa lí Nó là sự phản

ánh trong tư duy những sự vật và hiện tượng địa lí đã được trừu tượng hoá và khái quát hoá, dựa vào các dấu hiệu bản chất sau khi đã tiến hành các thao tác tư duy (so sánh, phân tích, tổng hợp v.v…) Lấy một ví dụ: khái niệm “mùa hạ”chỉ một hiện tượng địa lí trừu tượng Mùa hạ không thể nhìn thấy được mà chỉ có thể cảm nhận được qua thời tiết, nhiệt độ, ánh sang của Mặt Trời, qua sự biểu hiện của động, thực vật v.v…Tất cả các biểu hiện đó đều là các thuộc tính của mùa hạ nó cũng không phải là hiện tượng thời tiết chỉ xảy ra trong một năm riêng biệt nào đó, mà có thuộc tính là năm nào cũng xảy ra vào một thời kì nhất định, khi Mặt Trời di chuyển đến một vị trí nào

đó trnê quỹ đạo…

Như vậy, khía niệm địa lí cũng giống như tất các các khái niệm khoa học khác, trước hết, nó chính là kết quả của tư duy trừu tượng, là đơn vị cơ sở của tri thức địa lí Tuy nhiên, cũng như các

biểu tượng địa lí, các khái niệm địa lí cũng có tính không gian hoặc có lien quan đến sự phân bố

trong không gian Đó chính là dấu hiệu phân biệt chúng với các khái niệm khoa học chung.

Trang 5

Hiện nay, các khái niệm địa lí được phân biệt ra 3 nhóm: khái niệm địa lí chung, khái miệm địa

lí riêng và khái niệm địa lí tập hợp

- Các khái niệm địa lí chung là những khái niệm được hình thành để chỉ không phải những sự

vật và hiện tượng địa lí đơn nhất mà toàn bộ một loạt các sự vật và hiện tượng địa lí cùng loại có những thuộc tính giống nhau như: sông, núi, biển…Các khái niệm địa lí chung được hình thành và

sử dụng chủ yếu trong phân môn Địa lí đại cương và trong các môn Địa lí bộ phận như: khí hậu, thuỷ văn, địa mạo, địa chất v.v…

- Các khái niệm địa lí riêng là những khái niệm chỉ các sự vật, hiện tượng địa lí đơn nhất, cụ

thể Mỗi khái niệm địa lí riêng chỉ lien quan đến một đối tượng và phản ánh tính độc đáo của nó

Ví dụ: sông Hồng, thành phố Đà Nẵng v.v…

Mỗi khái niệm địa lí riêng thường lien quan đến một địa danh nhất định Ở một số trường hợp, ngay chính ý nghĩa của địa danh cũng đã phản ánh một tính chất riêng biệt nào đó của sự vật hay hiện tượng địa lí Ví dụ: núi Phan Xi Păng, miền Tây Nam Bộ v.v…

Các khái niệm địa lí riêng đều có quan hệ chặt chẽ với các khái niệm địa lí chung, do những khái niệm địa lí riêng, ngoài những tính chất độc đáo của chúng, cũng có thuộc tính chung của các đối tượng cùng loại Ví dụ: khái niệm :thành phố Hồ Chí Minh”, vừa có tính chất riêng là mamg tên Chủ tịch Hồ Chí Minh, vừa có những tính chất chung của các thành phố khác, như: có hầu hết dân số không làm nông nghiệp, có nhiều cơ sở công nghiệp lớn v.v…Ngược lại, những khái niệm địa lí chung, khi cụ thể hoá them với các tính chất độc đáo về tên gọi, về vị trí của đối tượng sẽ trở thành các khái niệm riêng Ví dụ: núi Ba Vì, miền Tây Nam Bộ…Trong môn Địa lí, các khái niệm riêng được nói đến nhiều nhất trong các môn Địa lí khu vực như Địa lí châu Âu, Địa lí Việt Nam…

- Các khái niệm địa lí tập hợp là những khái niệm địa lí trung gian giữa các khái niệm địa lí

chung và các khái niệm địa lí riêng Ví dụ: “sông” là khái niệm địa lí chung, “sông Hồng” là khái niệm địa lí riêng, còn “sông châu Á, sông châu Âu…” là những khái niệm địa lí tập hợp Nhóm khái niệm địa lí này được dùng nhiều trong các phần Địa lí khu vực, trong các tài liệu về phân vùng địa lí Trước kia, người ta thường chỉ nói đến hai loại khái niệm chung và riêng, bởi vì khái niệm địa lí tập hợp thực chất có thể coi như khái niệm địa lí riêng Nhưng sau này, khi công tác phân vùng địa lí phát triển, người ta thấy cần phải có những khái niệm có thể khái quát được những đặc điểm chung của các sự vật và hiện tượng địa lí chỉ riêng cho từng vùng, từng khu vực, lúc đó các khái niệm địa lí tập hợp mới trở thành một nhóm riêng

Trang 6

Ngoài cách phân loại trên người ta còn phân biệt các khái niệm địa lí cụ thể và khái niệm địa lí

trừu tượng Các khái niệm địa lí cụ thể bao gồm những khái niệm về các sự vật và hiện tượng địa lí

có thể tri giác được bằng các giác quan như: đá vôi, bờ song, suối v.v…Còn các khái niệm địa lí trừ tượng là những khái niệm về các sự vật và hiện tượng địa lí mà chúng ta không thể trực tiếp tri giác được bằng giác quan Ví dụ: cơ cấu công nghiệp, đường đẳng nhiệt, khí áp v.v…

Do đặc điểm của chúng nên mỗi loại khái niệm đều có phương pháp hình thành riêng trong quá trình dạy học

+ Các mối liên hệ địa lí Môn Địa lí nghiên cứu chủ yếu các mối liên hệ vốn có giữa các sự vật

và hiện tượng địa lí về mặt không gian, vì vậy hầu hết các kiến thức địa lí chính là các mối liên hệ địa lí Hiện nay, các mối liên hệ địa lí có thể phân ra hai loại: các mối lien hệ địa lí bình thường và các mối liên hệ địa lí nhân quả

- Mối liên hệ địa lí bình thường là những mối liên hệ vốn có giữa các yếu tố địa lí với nhau về một mặt nào đó, chẳng hạn như mối liên hệ về số lượng (ví dụ: nước ta có trên 2500 con sông), về

cấu trúc (ví dụ: thỗ nhưỡng là một thành phần tự nhiên của lãnh thổ), hoặc về mặt so sánh (ví dụ:

diện tích nước ta nhỏ hơn diện tích nước Pháp) v.v…

- Mối liên hệ nhân quả Đó là những mối liên hệ biểu hiện mối tương quan phụ thuộc một chiều

giữa các sự vật, hiện tượng và quá trình địa lí Trong mối quan hệ nhân quả có hai thành phần: một

nên là nhân và một bên là quả Chỉ có nhân mới sinh ra quả, trái lại quả không sinh ra nhân Ví dụ:

hiện tượng khí hậu khô khan hiếm mưa ở các vùng chí tuyến, có khí áp cao bao phủ đã làm cho các vùng này trở thành hoang mạc, nhưng hiện tượng hoang mạc không phải là nguyên nhân của hiện tượng khí hậu khô khan, hiếm mưa

Một trong những nhiệm vụ chủ yếu của môn Địa lí trong nhà trường là phải giải thích các hiện tượng, các quá trình của tự nhiên và xã hội có tính chất không gian và xảy ra trong môi trường tự nhiên và kinh tế xã hội Vì vậy., trong nội dung học vấn của nó có rất nhiều mối lien hệ nhân -quả

Các mối liên hệ nhân quả trong địa lí có thể phân ra:

- Mối quan hệ nhân - quả đơn giản và mối liên hệ nhân - quả phức tạp

- Mối quan hệ nhân quả trực tiếp và mối lien hệ nhân quả gián tiếp

Trong ví dụ: “Do Trái Đất có dạng hình cầu (nguyên nhân), nên ánh sáng Mặt Trời chiếu sang được một nửa (kết quả)” thì mối liên hệ giữa “hình cầu của Trái Đất” và “ánh sáng Mặt Trời chỉ

Trang 7

chiếu được một nửa” là mối liên hệ nhân - quả địa lí đơn giản (một nguyên nhân sinh ra một kết quả)

Trong ví dụ: “Do Trái Đất có dạng hình cầu (nguyên nhân 1) và do sự tự quay của nó quanh trục (nguyên nhân 2) nên ở khắp nơi trên Trái Đất đều có hiện tượng ngày đêm (kết quả)”, thì mối liên hệ giữa “có dạng hình cầu” và “sự tự quay quanh trục của Trái Đất” với hiện tượng “có ngày đêm ở khắp nơi trên Trái Đất” là một mối liên hệ địa lí nhân - qủa phức tạp (hai nguyên nhân sinh

ra một kết quả) Trong địa lí, còn có nhiều mối liên hệ phức tạp, trong đó hai, ba, hoặc bốn nguyên nhân mới sinh ra một kết quả, hoặc ngược lại, một nguyên nhân có thể sinh ra hai, ba, hoặc bốn kết quả v.v…

Hai ví dụ nói trên cũng là những mối liên hệ nhân - quả trực tiếp bởi vì chính những nguyên nhân đó đã trực tiếp sinh ra những kết quả đó

Trong các mối liên hệ nhân - quả gián tiếp, thì mối liên hệ giữa nguyên nhân và kết quả không

dễ dàng nhận thấy được Ví dụ: “Khi các khối khí di chuyển” (nguyên nhân), thì “thời tiết ở những nơi chúng đi qua thay đổi” (kết quả) Muốn hiểu được mối lien hệ này, cần phải nắm được một số liên hệ trung gian Nếu phân tích ra sẽ như sau: thời tiết là kết quả tổng hợp của các yếu tố nhiệt

độ, gió, độ ẩm v.v…Mỗi khối khí đều có đặc điểm riêng về nhiệt độ, khí áp và độ ẩm Vậy khi khối khí di chuyển, những đặc tính của nó sẽ ảnh hưởng đến mặt đất tiếp xúc làm cho các chế độ nhiệt, gió, mưa thay đổi (tức thời tiết thay đổi) Như vậy, phải nắm được các mối liên hệ trung gian thì mới hiệu được mối liên hệ nhân -quả: “khi các khối khí di chuyển” thì “thời tiết ở những nơi chúng đi qua thay đổi” một cách đầy đủ

Trong quá trình dạy học Địa lí, nếu không nhận thức được đúng các mối liên hệ nhân - quả thì

sẽ dẫn đến hiện tượng giải thích sai, khó hiểu, không làm cho người nghe nắm được chính xác mọi diễn biến của hiện tượng

+ Các quy luật địa lí Các quy luật địa lí là những kiến thức đã được khái quát hoá, biểu hiện

các mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng và quá trình địa lí có bản chất cố định, không thay đổi trong những điều kiện nhất định mỗi khi lặp lại Ví dụ: quy luật địa đới, quy luật thay đổi thời tiết theo mùa v.v Các mối liên hệ nhân - quả trong địa lí nói chung nếu phổ biến sẽ là các quy luật địa lí

- Các thuyết, các tư tưởng và quan điểm địa lí Các thuyết, các tư tưởng và quan điểm địa lí là

những kiến thức hoặc hệ thống kiến thức có liên quan đến địa lí, được tập hợp, sắp xếp theo một cách nhìn, cách suy nghĩ nhất định Ví dụ: thuyết Big Bang về quá trình hình thành vũ trụ, quan điểm địa sinh thái, quan điểm kinh tế trong địa lí v.v

Trang 8

Việc nắm vững một thuyết, một quan điểm v.v là một việc làm không dễ đối với học sinh, bởi

vì trước đó nó đòi hỏi phải có sự khái quát hoá các khái niệm, tài liệu đến một mức độ nhất định

+ Các kiến thức về phương pháp học tập và nghiên cứu địa lí Những kiến thức này là một bộ

phận không thể thiếu được trong nội dung môn Địa lí ở nhà trường phổ thông Chúng cũng là cơ sở

để hình thành kĩ năng, nếu không có những kiến thức này thì học sinh không có khả năng tự học tập cũng như vận dụng tri thức vào việc tìm tòi, nghiên cứu những vấn đề địa lí (dù ở hình thức đơn giản nhất)

Các kiến thức này là những hướng dẫn về các phương pháp thực tiễn và lí thuyết chung như: quan sát, thực nghiệm, phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễn dịch v.v và các phương pháp nghiên cứu đặc trưng của bộ môn như: sử dụng bản đồ, khảo sát, nghiên cứu địa lí địa phương v.v

2 Các kĩ năng, kĩ xảo địa lí

Kĩ năng, kĩ xảo theo tâm lí học nói chung là phương thức thực hiện một hành động nào đó thích hợp với mục đích và những điều kiện hành động Kĩ năng và kĩ xảo địa lí thực chất là những hoạt động thực tiễn mà học sinh thực hiện được một cách có ý thức, trên cơ sở những kiến thức địa lí đã có

Muốn có kĩ năng, kĩ xảo, trước hết học sinh phải có kiến thức và biết cách vận dụng chúng vào thực tiễn

Kĩ năng, nếu được thường xuyên rèn luyện và được lặp đi, lặp lại nhiều lần sẽ trở thành kĩ xảo.

Trong kĩ xảo, hành động của học sinh đã trở thành máy móc, có tính chất tự động Ví dụ: khi đọc

bản đồ, nếu học sinh biết đối chiếu các kí hiệu trên bản đồ với các kí hiệu trong bản chú giải để

hiểu ý nghĩa của chúng thì họ đã có kĩ năng ban đầu về đọc các kí hiệu trên bản đồ Nhưng nếu khi

nhìn vào bản đồ mà không phải dò dẫm để giải mã các kí hiệu thì việc đọc bản đồ bước đầu của các em đã trở thành kĩ xảo

Trong những năm gần đây, các nhà tâm lí học và nghiên cứu phương pháp giảng dạy đã phân

biệt ra hai loại kĩ năng: kĩ năng ban đầu có trước kĩ xảo và kĩ năng hoàn thiện thường được hình

thành sau khi đã có kĩ xảo Kĩ năng ban đầuthực chất là năng lực vận dụng tri thức vào hành động một cách đơn giản, còn kĩ năng hoàn thiện là loại kĩ năng đã có tính phưứctạp và cao hơn kĩ năng ban đầu vì nó khó hơn và đòi hỏi ở học sinh phải có kinh nghiệm và một mức độ sáng tạo nhất định trong hành động

Mối quan hệ giữa kĩ năng ban đầu, kĩ xảo và kĩ năng hoàn thiện có thể biểu hiện trong sơ đồ (hình 3):

Trang 9

Hình 3- Mối quan hệ giữa kĩ năng ban đầu, kĩ xảo và kĩ năng hoàn thiện

Theo sơ đồ này thì trong kĩ năng hoàn thiện ngoài các thành phần: kiến thức, kĩ năng ban đầu,

kĩ xảo ra, còn có thêm hai thành phần nữa là: kinh nghiệm thực tiễn và yếu tố sáng tạo Lấy ví dụ:

muốn có kĩ năng hoàn thiện bản đồ, trước hết học sinh phải có kiến thức về bản đồ, có kĩ năng ban đầu là giải mã các kí hiệu, có kĩ xảo xác định vị trí các đối tượng rồi sau đó phải biết cách xác lập các mối quan hệ theo kinh nghiệm ở những mức độ sang tạo nhất định, từ đó mới phát hiện ra được các kiến thức mới, ẩn chứa trong bản đồ

Hiện nay, trong môn Địa lí, việc hình thành kĩ năng, kĩ xảo cho học sinh đều nhằm vào bốn hướng sau:

a) Kĩ năng làm việc với bản đồ, khai thác kiến thức địa lí tàng trữ trong bản đồ

Trong nhóm kĩ năng này có các kĩ năng định hướng trên bản đồ, đo tính tìm toạ độ địa lí trên bản đồ, xác định vị trí các đối tượng địa lí trên bản đồ, đọc bản đồ và sử dụng bản đồ v.v…

b) Kĩ năng khảo sát các hiện tượng địa lí ngoài thực địa

Thuộc nhóm kĩ năng này có các kĩ năng quan sát, phân tích hiện tượng, đo đạc với các dụng cụ quan trắc đơn giản về thời tiết, thỗ nhưỡng địa hình, thuỷ văn v.v…

c) Kĩ năng nghiên cứu, làm việc với các tài liệu địa lí như

Kĩ năng đọc, lập các biểu đồ, phân tích các số liệu thống kê, các mô hình, lát cắt v.v…

d) Kĩ năng học tập, nghiên cứu địa lí

Trong đó có các kĩ năng làm việc với sách giáo khoa địa lí, với các tài liệu tham khảo địa lí, kĩ năng mô tả, viết và trình bày những vấn đề địa lí

Kĩ năng hoàn thiện

Trang 10

II QUÁ TRÌNH NẮM TRI THỨC CỦA HỌC SINH

Nắm tri thức là hoạt động nhận thức, hướng vào việc tự giác tiếp thu một cách chắc chắn những kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo và biến chúng thành vốn riêng của mỗi học sinh

1 Nắm kiến thức là một quá trình phức tạp

Một trong những dấu hiệu nắm kiến thức là khả năng trình bày lại được bằng lời, bằng dẫn chứng để cụ thể hoá những kiến thức lí thuyết đã học Nhưng đó chỉ là mức độ sơ đẳng của việc nắm kiến thức Mức độ cao hơn là khả năng vận dụng được các kiến thức đó một cách có kết quả vào thực tiễn trong những trường hợp học tập bình thường cũng như trong cuộc sống Vận dụng vào thực tiễn, mặc dù rất quan trọng, nhưng vẫn chưa phải là dấu hiệu cao nhất của việc nắm kiến thức Mục đích cuối cùng của việc nắm kiến thức phải là niềm tin hướng dẫn hành động và cách

xử sự, kiến thức lúc đó mới trở thành vốn riêng, là kiến thức thực sự của người học học sinh Xuất phát từ sự phân tích bản chất tâm lí và giáo dục của quá trình nắm kiến thức, người ta có thể phân nó ra các thành phần cơ bản sau: tri giác tài liệu học tập, hiểu tài liệu học tập, ghi nhớ, khái quát hoá, hệ thống hoá…

Do tính chất toàn vẹn của quá trình nên những thành phần nói trên có quan hệ chặt chẽ với nhau Ngay trong thành phần tri giác tài liệu đã có sự hiểu biết sơ bộ, có thể có cả sự ghi nhớ và khái quát hoá bước đầu v.v…Bởi vậy, trong quá trình nắm kiến thức khó có thể phân ra những khâu riêng biệt Tuy nhiên, trong mỗi giai đoạn của quá trình nắm kiến thức có những thành phần trội lên so với các thành phần khác Ví dụ: thành phần khái quát hoá có trong toàn bộ quá trình nắm kiến thức ở tất cả các giai đoạn, nhưng việc kháí quát hoá rộng rãi, sâu sắc nhất, gắn liền với việc hệ thôíng hoá là giai đoạn kết thúc

Để nghiên cứu được tính toàn vẹn của quá trình này và làm rõ tính trội của các thành phần trong từng giai đoạn, chúng ta cần xét kĩ hơn những đặc điểm của mỗi thành phần một cách riêng biệt

a) Thành phần tri giác

Gồm có tri giác cảm tính và tri giác lí tính Tri giác cảm tính được hiểu là sự phản ánh các sự vật, hiện tượng, một quá trình cụ thể, trực quan, tác động vào các giác quan con người trong một thời gian nhất định còn tri giác lí tính là sự tri giác gián tiếp qua lời nói, chữ viết mô tả các đối tượng trên

Trong tri giác cảm tính, toàn bộ những thuộc tính của đối tượng địa lí (không kể bản chất hay không bản chất) đều được phản ánh Ví dụ: Khi vào rừng, học sinh trông thấy đủ loại cây cối, lớn,

Ngày đăng: 24/04/2015, 23:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình sang tạo - Chương 3. Hệ thống tri thức địa lí trong nhà trường phổ thông và quá trình nắm tri thức của học sinh.
Hình sang tạo (Trang 2)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w