1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá hiện trạng suy thoái tài nguyên nước dưới đất vùng hà nội

92 1,5K 11

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 5,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thành phố Hà Nội là Thủ Đô của cả nước, được xếp vào loại đô thị đặc biệt. Ở đây tập trung số lượng lớn dân số có mật độ dân cư cao nhất cả nước. Là trung tâm kinh tế, chính trị của cả nước nên tốc độ đô thị hóa, dân số tăng nhanh chóng, công nghiệp, nông nghiệp phát triển, dẫn đến nhu cầu về nước cho ăn uống và sinh hoạt là rất lớn. Thành phố Hà Nội (chưa mở rộng) là thành phố lớn duy nhất trong cả nước hầu như sử dụng các nguồn nước dưới đất. Có thể nói nước là nguồn sống quan trọng cho con người, nước đóng một vai trò quan trọng để suy trì hoạt động nhân sinh. Kể từ khi xuất hiện, con người đã biết dùng nước để ăn uống sinh hoạt, ngoài ra nước còn được dùng để sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi, tưới tiêu,… Với địa thế là trung tâm bể nước ngầm nhạt khổng lồ của đồng bằng châu thổ sông Hồng, thành phố Hà Nội được thiên nhiên ưu đãi có lượng nước phong phú. Cùng với thời gian và sự phát triển của thành phố việc khai thác nguồn tài nguyên nước ngày càng gia tăng. Hiện tại, lượng khai thác nước dưới đất bình quân khoảng 780.000m3ng. Việc khai thác nước dưới đất để cung cấp cho thành phố đã góp phần quan trọng cho sự phát triển kinh tế xã hội của thành phố Hà Nội nói riêng và là đầu tàu kéo cả nước đi lên nói chung. Tuy nhiên, trong quá trình khai thác nước, đô thị hóa, phát triển đô thị đã nảy sinh và tiềm ẩn nhiều nguy cơ tác động xấu tới nguồn tài nguyên nước dưới đất. Tình trạng suy giảm nguồn tài nguyên nước (ô nhiễm và cạn kiệt) đang làm ảnh hưởng không nhỏ tới tính phát triển bền vững của thủ đô Hà Nội. Để góp phần đảm bảo phát triển thủ đô một cách bền vững tài nguyên nước dưới đất, thì cần phải có chương trình và giải pháp bảo vệ nước nưới đất khỏi bị cạn kiệt, ô nhiễm. Chính vì vậy trong chiến lược quốc gia về tài nguyên nước tới năm 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 812006QĐTTg ngày 1442006 đã xác định đề án “Bảo vệ nước dưới đất ở các đô thị lớn”. Chính vì thế Em chọn đề tài “Đánh giá hiện trạng suy thoái tài nguyên nước dưới đất khu vực Hà Nội” làm khóa luận.

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC TỰ NHIÊN HÀ NỘI

******

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Đánh giá hiện trạng suy thoái tài nguyên

nước dưới đất vùng Hà Nội

GVHD: TS Phạm Hùng TiếnSVTH: Trương Thị TâmLớp: QH2007E – KTĐNHệ: Chính Quy

Hà nội, 04/2015

Trang 2

Lời mở đầu

Thành phố Hà Nội là Thủ Đô của cả nước, được xếp vào loại đô thị đặc biệt Ởđây tập trung số lượng lớn dân số có mật độ dân cư cao nhất cả nước Là trung tâmkinh tế, chính trị của cả nước nên tốc độ đô thị hóa, dân số tăng nhanh chóng, côngnghiệp, nông nghiệp phát triển, dẫn đến nhu cầu về nước cho ăn uống và sinh hoạt làrất lớn

Thành phố Hà Nội (chưa mở rộng) là thành phố lớn duy nhất trong cả nước hầunhư sử dụng các nguồn nước dưới đất Có thể nói nước là nguồn sống quan trọng chocon người, nước đóng một vai trò quan trọng để suy trì hoạt động nhân sinh Kể từ khixuất hiện, con người đã biết dùng nước để ăn uống sinh hoạt, ngoài ra nước còn đượcdùng để sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi, tưới tiêu,…

Với địa thế là trung tâm bể nước ngầm nhạt khổng lồ của đồng bằng châu thổsông Hồng, thành phố Hà Nội được thiên nhiên ưu đãi có lượng nước phong phú Cùngvới thời gian và sự phát triển của thành phố việc khai thác nguồn tài nguyên nước ngàycàng gia tăng Hiện tại, lượng khai thác nước dưới đất bình quân khoảng780.000m3/ng Việc khai thác nước dưới đất để cung cấp cho thành phố đã góp phầnquan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Hà Nội nói riêng và là đầutàu kéo cả nước đi lên nói chung Tuy nhiên, trong quá trình khai thác nước, đô thị hóa,phát triển đô thị đã nảy sinh và tiềm ẩn nhiều nguy cơ tác động xấu tới nguồn tàinguyên nước dưới đất Tình trạng suy giảm nguồn tài nguyên nước (ô nhiễm và cạnkiệt) đang làm ảnh hưởng không nhỏ tới tính phát triển bền vững của thủ đô Hà Nội

Để góp phần đảm bảo phát triển thủ đô một cách bền vững tài nguyên nước dướiđất, thì cần phải có chương trình và giải pháp bảo vệ nước nưới đất khỏi bị cạn kiệt, ônhiễm Chính vì vậy trong chiến lược quốc gia về tài nguyên nước tới năm 2020 đượcThủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 81/2006/QĐ-TTg ngày 14/4/2006

đã xác định đề án “Bảo vệ nước dưới đất ở các đô thị lớn” Chính vì thế Em chọn đề tài

“Đánh giá hiện trạng suy thoái tài nguyên nước dưới đất khu vực Hà Nội” làm khóaluận

Do diện tích thành phố Hà Nội quá rộng, nên Em chỉ lựa chọn các quận nộithành và vùng lân cận là diện tích bao trùm toàn bộ các bãi giếng khai thác tập trung.Trong giới hạn nội dung nghiên cứu, Em tập trung vào đối tượng nghiên cứu chính làtầng chứa nước trong các trầm tích Đệ Tứ bở rời (Pleistocen( qp) ; Holocen (qh)) đang

Trang 3

là đối tượng khai thác phục vụ cung cấp nước Thủ Đô Các đối tượng nghiên cứu được

đề cập đến cả 2 mặt của nó là “chất” và “lượng” với sự biến đổi theo thời gian

Trên sơ sở đó, khi nghiên cứu “hiện trạng suy thoái tài nguyên nước dưới đất”cần phải đề cập đến đầy đủ các nội dung chủ yếu sau:

Mục đích của đề tài

Trên cơ sở đánh giá tổng hợp các tài liệu về vùng nghiên cứu đã thu thập được

và khảo sát thực tế về nước dưới đất Em đặt ra mục đích của khóa luận như sau:

- Đánh giá được hiện suy giảm cả chất và lượng tài nguyên nước dưới đất vùngnghiên cứu

- Xác định được nguyên nhân cạn kiệt, nhiễm bẩn của vùng nghiên cứu

- Đề xuất các giải pháp bảo vệ nước dưới đất, đảm bảo hiệu quả và phát triểnbền vững tài nguyên nước dưới đất ở thành phố Hà Nội

Bố cục khóa luận:

Bao gồm phần mở đầu, kết luận và 5 chương:

Chương 1: Đặc điểm tự nhiên, dân cư, kinh tế - xã hội vùng nghiên cứu

Chương 2: Đặc điểm địa chất- thủy văn ku vực

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Hiện trạng suy thoái tài nguyên nước dưới đất

Trang 4

Chương 5: Các giải pháp bảo vệ tài nguyên nước dưới đất

Trong quá trình làm báo cáo không tránh khỏi những thiếu sót, vì vậy em rấtmong nhận được sự góp ý của các thầy cô

Cuối cùng, em xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới TS Nguyễn Văn Đảnngười đã giao đề tài và tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện bài khóaluận Em cũng xin được gửi lời cảm ơn tới các cô chú, anh chị công tác tại đoàn quantrắc, phòng dự án, phòng kỹ thuật của Liên đoàn Quan trắc và Điều tra tài nguyên nướcmiền Bắc đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong thời gian thực tập và nghiên cứu viết khóaluận

Em xin cảm ơn các thầy cô trong khoa Địa Chất - những người đã dẫn dắt,truyền đạt kiến thức cho chúng em trong suốt khóa học 2006-2010 Cảm ơn ban giámhiệu nhà trường đã tạo điều kiện thuận lợi trong suốt thời gian chúng em học tập dướimái trường đại học Khoa Học Tự Nhiên- ĐHQGHN

Sinh viên thực hiện Trương Thị Tâm

Trang 5

Chương 1: Đặc điểm tự nhiên, kinh tế và nhân văn

1.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên

Trang 6

Hình 1: Vị trí vùng nghiên cứu

Trang 7

1.1.2 Địa hình

Địa hình Hà Nội có tính phân bậc khá rõ nét bao gồm địa hình núi thấp, địa hình

gò đồi và địa hình vùng đồng bằng:

Địa hình núi thấp phân bố ở phía tây, tây bắc và phía bắc Hà Nội, có độ cao từ

20 đến 374 m, bị phong hoá mạnh nên địa hình ít dốc

Địa hình đồng bằng: chiếm 90 % diện tích vùng với bề mặt nghiêng thoải dần vềphía đông nam có độ cao tuyệt đối từ 2-15m, đồng bằng phân bố ở huyện Đông Anh,Sóc Sơn có độ cao thay đổi từ 6-15m, đồng bằng thấp bằng phẳng hơn có nhiều trũng

và đầm lầy phân bố ở phía đông nam thành phố Trên bề mặt của đồng bằng có mạnglưới khá dầy đặc hệ thống đê điều Đất đá cấu thành địa hình này chủ yếu là cát, bột vàsét trầm tích sông, phía bắc sông Hồng là sét Vĩnh phúc

Như vậy về tổng thể, địa hình Hà Nội là một bề mặt thấp trũng không hoàn toànthuận lợi cho việc tiêu thoát nước nhanh Chính vì thế điều kiện địa hình là một yếu tốquan trọng góp phần tạo nên ngập úng cục bộ thường xảy ra ở thành phố, nhất là vàomùa mưa dẫn đến lôi kéo các nguồn ô nhiễm tập trung và cuối cùng cung cấp chất bẩncho nước dưới đất

1.1.3 Khí hậu

Vùng nghiên cứu nằm trong miền khí hậu nhiệt đới gió mùa, hàng năm chia haimùa rõ rệt: mùa nóng ẩm mưa nhiều thường bắt đầu từ tháng 5 kết thúc vào tháng 10;

và mùa khô bắt đầu từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau

Lượng mưa hàng năm nhỏ nhất là 1015,1 mm năm 2000, lớn nhất là 2254,7 mmnăm 2001 trung bình 1500 mm; Lượng bốc hơi hàng năm nhỏ nhất là 612,9 mm năm

1995 đến 1069,2 mm năm 1998 trung bình 933 mm Nhìn chung lượng mưa hàng nămlớn hơn lượng bốc hơi Độ ẩm không khí trung bình hàng năm đạt hơn 79,32%, độ ẩmcao nhất đạt 99%, độ ẩm thấp nhất đạt 22%; Nhiệt độ trung bình các tháng đạt 24,3oc, cóngày nhiệt độ lên đến 39,6 oc, nhiệt độ thấp nhất đạt 7,6 oC (Tài liệu trạm khí tượng HàNội)

Trang 8

Bảng 1: Tổng lượng bốc hơi và lượng mưa hàng năm (mm)

1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005

Năm

(mm)

Lượng mưa Lượng bốc hơi

Hình 2: Biểu đồ tổng lượng mưa, lượng bốc hơi từ 1995- 2005 trạm khí tượng Hà Nội

Như vậy có thể nhận thấy trong một năm lượng mưa phân bố không đồngđều, các tháng mưa nhiều nhất rơi vào tháng VII, VIII, IX Chính đây là thời kỳ thường

Trang 9

đe dọa ngập úng và gây ô nhiễm môi trường đô thị do lượng mưa lớn kéo dài cộngvới khối lượng nước thải xả ra hàng ngày đã vượt quá sức tiêu thoát của các cốngrãnh, ao hồ, kênh mương trong khu vực Trong mùa này nước mưa là nguồn cungcấp chính cho nước bề mặt và nước dưới đất Vì vậy khả năng hòa tan và tiếp xúcvới các nguồn gây bẩn từ phía trên thuận lợi.

1.1.4 Thủy văn

Vùng nghiên cứu có hệ thống sông hồ khá dày đặc mật độ sông trung bình 0,7 ÷1km/km2, độ uốn khúc mạnh, lòng sông rộng, nước mưa sau khi rơi xuống mặt đấtnhanh chóng ra sông, Các sông chính chảy qua là sông Hồng, sông Đuống, sông Nhuệ,sông Câu, sông Cà Lồ Ngoài 5 sông kể trên còn có các con sông nhỏ, sông đào khácnhư sông Tô Lịch, sông Kim Ngưu, sông Lừ, sông Sét và rất nhiều hồ Chúng giữ vaitrò thu nhận, chứa đựng, truyền dẫn và tiêu thoát các nguồn nước trên mặt ( bao gồm cảnước mưa và các nguồn nước thải )

Các hệ thống này đều có những tương tác rất rõ trong mối quan hệ nước mặt vànước ngầm đặc biệt là sông Hồng Đây vừa là nguồn bổ sung chủ yếu vừa là miền thoátcủa nước dưới đất

Hiện nay chất lượng nước trên các hệ thống sông của Hà Nội đều xảy ra tìnhtrạng ô nhiễm ở các mức độ khác nhau

Bảng 2: Một số đặc trưng hình thái sông ngòi, kênh, mương Hà Nội

Tên sông Chiều dài

(km)

Chiều rộng(m)

Độ sâu(m)

Trang 10

Chiều rộng của sông thay đổi từ 480m đến 1440 m (Trạm Hà Nội)

Hàng năm sông Hồng tải một lượng phù sa lớn ra biển trung bình khoảng96,46.106 tấn/ năm, nước sông rất đục, lượng chất lơ lửng lớn nhất 13200kg/s(14/7/2001), chiều dày lớp bùn phù sa của sông lớn

Tài liệu nghiên cứu nhiều năm của mỏ nước Hà Nội cho thấy, lượng ngấm vàocông trình lấy nước ven sông của nước sông Hồng chiếm tỷ lệ lớn trong khối lượngnước hút lên: nhà máy nước Lương Yên chiếm 74%; nhà máy nước Yên Phụ chiếm79% mùa khô và 81,45 mùa mưa; nhà máy nước đồn Thuỷ là 79% và càng xa sông tỷ

lệ % càng giảm đi Điều đó một lần nữa khẳng định nước sông Hồng là nguồn bổ cậpchính của nước dưới đất và có quan hệ rất chặt với nước dưới đất

Nước sông Hồng thuộc nước nhạt, mềm kiểu bicarbonat calci

Công thức Kurlov có dạng :

6 , 7 13 22 59

7 , 8

3 83 146

,

Na Mg Ca

Cl HCO M

 Sông Nhuệ:

Là phân lưu của sông Hồng, mực nước và lưu lượng phụ thuộc chủ yếu vàosông Hồng thông qua cống Thuỵ Phương Sông rộng trung bình là 15-20m, nhỏ nhất là13m (cầu Noi), lớn nhất là cầu Hà Đông 34m Chiều dày lớp nước trong sông mùa khô

Trang 11

trung bình 1,52m, lớn nhất là 3,46m Lưu lượng dòng nhỏ nhất mùa khô là 4,08 đến17,44 m3/s Chiều dày lớp bùn càng xa thượng lưu càng dày (cầu Noi 0,48m; cầu HàĐông 0,87m) Thành phần bùn chủ yếu là bột sét, hệ số thấm của lớp bùn từ 0,012m/ng (cầu Hà Đông) đến 0,0149 m/ng (cầu Noi).

Nước sông nhạt có kiểu bicarbonat calci

Công thức Kurlov có dạng :

75 , 7 22 22 43

23

3 73 147

,

Mg Na Ca

Cl HCO M

 Sông Đuống

Là một phân lưu của sông Hồng, bắt đầu từ làng Xuân Canh (Gia Lâm), sông cóchiều dài 67 km, chảy theo hướng Đông rồi đổ vào sông Thái Bình ở Phả Lại Đoạnsông nằm trên địa phận nghiên cứu có chiều dài 30km, do lòng sông rộng và sâu, độdốc lớn nên hàng năm sông Đuống chuyển một lượng nước và phù sa rất lớn từ sôngHồng sang sông Thái Bình Dòng chảy trung bình nhiều năm đo ở Thượng Cát khoảng

915 m3/s, đặc biệt là trận lũ năm 1971 lưu lượng đạt tới 9.150m3/s Trong mùa kiệt lưulượng giảm xuống chỉ còn 91,5m3/s Năm 2004 lưu lượng dòng chảy lớn nhất là 5930

m3/s (ngảy 24/7) thấp nhất là 402 m3/s (ngày 6/4) Theo tài liệu thuỷ văn mực nước caonhất năm 2004 là 8,31 m (ngày 24/8) thấp nhất là 1,32m (ngày 6/4) trung bình là 2,78m

Do là nhánh của sông Hồng, nên sông Đuống có hàm lượng phù sa nhiều, vàomùa mưa trung bình cứ 1m3 nước có 1,0 kg phù sa

Nước Sông Đuống nhạt có kiểu Bicarbonat Calci

Công thức Kurlov có dạng

M0,152 57 17 16 7,7

8 9 4 82

3

pH Mg

Na Ca

Cl SO HCO

Ngoài ra Hà Nội còn có 4 con sông nhỏ là sông Lừ, sông Sét, sông Kim Ngưu

và sông Tô Lịch Đây cũng chính là 4 trục thoát nước chính với tổng chiều dài 36,8km.Các sông này đều đổ vào sông Nhuệ

 Sông Cà Lồ

Trang 12

Sông Cà Lồ là một sông nhánh trong hệ thống sông Cầu, bắt nguồn từ dãy ThằnLằn (nhánh của dãy Tam Đảo), chảy qua các huyện Mê Linh (Vĩnh Phúc cũ), Sóc Sơn(Hà Nội) Sông Cà Lồ nằm ở phía Đông Bắc dài khoảng 60 km, dòng sông quanh couốn khúc, lòng sông hẹp, hai bên bờ dốc, độ dốc lòng sông nhỏ Đoạn sông chảy quađịa phận Hà Nội ở Sóc Sơn Theo tài liệu quan trắc trạm Phú Cường năm gần đây chothấy:

Về mùa mưa: mực nước sông vào mùa lũ thay đổi từ 3,07 đến 5,96m, mực nướcnhỏ nhất từ 1,15 đến 1,35 m, lòng sông chảy xiết Lưu lượng cao nhất 130 m3/s, thấpnhất 43,3 m3/s

Nhìn chung nước sông được cung cấp bởi các nguồn nước trên mặt, nước mưa

và được nước dưới đất thoát ra cung cấp vào mùa khô

Nước sông Cà Lồ thuộc loại hình: Bicacbonat Calci

Công thức Kurlov có dạng:

05 , 7 20

12

4 13 73 3 16

,

Ca

Cl SO HCO M

vô cơ như axit, kiềm, ammoniac, sulfua hydro, các kim loại nặng (Mn,As, Zn,Hg, Pb,Cu…) Hệ số thấm lớp bùn đáy sông phân tích thay đổi từ 0,0106 ÷ 0,023 m/s Lưulượng mùa khô từ 2,339 ÷4,143 m3/s

Công thức Kurlov có dạng:

6,726 33 41

31 63 3 335

,

Mg Ca Na

Cl HCO M

Trang 13

 Sông Kim Ngưu:

Sông được bắt nguồn từ các hồ nội thành chảy theo ướng Bắc Nam tới Thanh trìnhập với sông tô lịch, sông rộng 6 đến 12 m, chiều dày lớp nước trong sông từ 0,5 ÷1,35 m Lưu lượng dòng về mùa khô 3,4 m3/s, chiều dày lớp bùn là 1m Hệ số thấm là0,0113 ÷ 0,013 m/ng Giống như sông Tô Lịch sông Kim ngưu cũng đã và đang đượccải tạo nhưng nước thải do sinh hoạt hay nước thải công nghiệp vẫn thải trực tiếpxuống sông nên nước sông cũng bị ô nhiễm nặng

Công thức Kurlov có dạng:

3,718 36 39

22 77 3 42

,

Mg Ca Na

Cl HCO M

b) Hệ thống đầm hồ

Hà Nội có hàng trăm hồ lớn nhỏ: hồ như hồ Tây, hồ Bảy Mẫu, hồ Hoàn Kiếm,

hồ Thuyền Quang, hồ Văn Chương, hồ Giảng Võ, hồ Thủ Lệ và nhiều hồ nhỏ khácnhưng nay hồ đã bị lấp nhiều vì đô thị hoá.(chi tiết xem bảng 3)

Hồ Tây có diện tích mặt nước khoảng 526 ha, lớp nước hồ biến đổi từ 1,5 đến2,3 m, kết quả quan trắc trạm thuộc mạng quan trắc chuyên Hà Nội cho thấy mực nướclớn nhất vào mùa mưa trung bình là 6,34 m, mức nước nhỏ nhất trung bình 5,56 m -

Hồ Trúc Bạch có diện tích 26 ha, chiều dày lớp trung bình là 2,0 m

Hồ Quảng Bá có chiều sâu lớn nhất khoảng 15,8 m

Các hồ ở ngoại thành (hồ Yên Sở, Linh Đàm, Hạ Đình, Pháp Vân ) thườngđược sử dụng để nuôi cá Do việc bơm trực tiếp nước thải từ các sông mương vào, nênvùng đầu hồ thường có BOD5 lớn (trên 30 mg/l), hàm lượng NH4 từ 5 - 15 mg/l

Phía Bắc sông Hồng có đầm Vân Trì dạng chữ V chỗ rộng nhất đến 300 m dài 7

km có diện tích khoảng 1,5 km2, chiều dày lớp bùn đáy hồ trung bình 0,3 m

Kết quả nghiên cứu cho thấy nhìn chung mực nước các sông và hồ những nămgần đây đều có dấu hiệu suy giảm, nguyên nhân là do thời tiết khô hạn kéo dài, sự pháttriển đô thị hoá gây cản trở các dòng mặt thậm chí rất nhiều hồ bị lấp và thu hẹp vềdiện tích 64,49% và bị ô nhiễm nghiêm trọng từ chất thải sinh hoạt và công nghiệp

Bảng 3: Các hồ trong nội thành Hà Nội ( hecta)

Trang 14

TT Tên hồ Diện tích hồ TT Tên hồ Diện tích hồ

sooss

(Nguồn Công ty Thoát nước Hà Nội - 2002)

1.2 Đặc điểm kinh tế- xã hội

1.2.1 Đặc điểm dân cư

Thành phố Hà Nội là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội của cả nước, đócũng là nơi thu hút dân cư từ các vùng nông thôn làm cho mật độ dân cư ngày càng cao

Số dân của thành phố Hà Nội là 3055300 người trong đó dân nội thành chiếm53%, ngoại thành chiếm 47% Mật độ dân số phân bố rất không đều, các quân nộithành trung bình là 19163 người /km2, đông nhất là quận Hoàn Kiếm mật độ lên tới

37265 người /km2, ở ngoại thành là 1721 người /km2 Là thành phố có mật độ cao nhấtViệt Nam dẫn tới lượng nước khai thác nước ngày càng tăng, lượng chất thải côngnghiệp và sinh hoạt càng lớn có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cũng như trữ lượngnước dưới đất

Trang 15

1.2.2 Đặc điểm kinh tế

Thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII Đảng bộ Thành phố trong 5 năm qua,

Hà Nội đã đạt được những thành tựu quan trọng, tiếp tục tạo ra những biến đổi tích cựctrên các lĩnh vực:

Kinh tế thủ đô đã phát triển nhanh và khá toàn diện: cơ cấu kinh tế công nghiệp

- dịch vụ - nông nghiệp hình thành rõ rệt và đang chuyển dịch sang dịch vụ - côngnghiệp - nông nghiệp theo hướng hiện đại hoá Năm 2005, Hà Nội đạt hơn 8% GDP,hơn 10% giá trị sản lượng công nghiệp, 8% kim ngạch xuất khẩu, 13,8% tổng thu ngânsách nhà nước, gần 11% vốn đầu tư toàn xã hội của cả nước; GDP bình quân đầu ngườiđạt gấp gần 2,4 lần cả nước… đến năm 2007 tổng sản phẩm nội địa (GDP) tăng 11,5%,trong đó giá trị tăng thêm công nghiệp và xây dựng tăng 13%, dịch vụ tăng 11%, nônglâm thuỷ sản tăng 1,1%

a) Sản xuất công nghiệp

Sản xuất công nghiệp có bước phát triển mới, giá trị sản xuất công nghiệp tăng16,5%; một số ngành sản xuất có mức tăng trưởng cao: sản xuất thiết bị văn phòngtăng 77,2%, sản suất phương tiện vận tải khác tăng 21% Bước đầu triển khai tích cựcchương trình hỗ trợ phát triển nhóm sản phẩm công nghiệp chủ lực của các ngành thiết

bị điện - điện tử - công nghệ thông tin liên lạc, cơ khí, chế biến thực phẩm đồ uống, dệtmay cao cấp, hoá dược… Các doanh nghiệp công nghiệp ngoài nhà nước và doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài dẫn đầu về tốc độ tăng trưởng sản xuất

Có nhiều loại xí nghiệp công nghiệp bao hàm nhiều loại hình sản xuất từ cơ giớikhí mạ điện, hợp chất sơn, phân bón, năng lượng thủy tinh, vật liệu xây dựng đến cácngành dệt, nhuộm thuộc da, chế biến thực phẩm… đang là nguồn phát sinh các chấtthải nguy hại gây ô nhiễm môi trường, đặc biệt là môi trường nước

Rác thải công nghiệp thường làm cho hàm lượng Mn, Cr, NH4…trong nướcdưới đất tăng lên

b) Sản xuất nông nghiệp

Đất nông nghiệp chiếm 47,3%, phân bố ở các huyện ngoại thành: Thanh Trì(5600ha), Từ Liêm (4600ha), Gia Lâm (9200ha), Đông Anh (khoảng 10000ha), và SócSơn (13000ha)

Trang 16

Trong sản xuất nông nghiệp, người ta dùng nhiều phân bón, thuốc bảo vệ thựcvật, trừ sâu, diệt cỏ Hiện có 90% đất canh tác được dùng thuốc bảo vệ thực vật và khốilượng dùng ngày càng nhiều Nhiều loại thuốc chứa chlorhữu cơ, thuỷ ngân, arsen vàcác kim loại nặng khác, Nhóm lân hữu cơ có độc tính rất cao Lượng phân bón dùngtrong sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi gia súc chủ yếu làm tăng nồng độ nitrat, NH+

4trong nước dưới đất Một vấn đề đáng chú ý về loại chất thải trong nông nghiệp đó làlượng thuốc phân bón và thuốc trừ sâu, diệt cỏ Đây là những loại có tính độc hại cao

và là nguồn nhiễm bẩn cho nước dưới đất khi ngấm xuống Tùy vào độ sâu thế nằmcủa tầng chứa nước mà mức độ, mối đe dọa nhiễm bẩn nước dưới đất khác nhau

1.2.3 Quá trình đô thị hóa

Quá trình đô thị hóa ở nước ta đã và đang làm biến đổi mạnh mẽ các điều kiệnmôi trường và tài nguyên ở cả thành thị lẫn nông thôn Tại thành phố Hà Nội, tìnhtrạng ô nhiễm môi trường đang trở nên trầm trọng bởi các hoạt động công nghiệp, sảnxuất năng lượng và giao thông Ô nhiễm bởi khí thải, bụi đã đến mức báo động; ônhiễm do chất thải rắn đang trở thành mối lo ngại của cả cộng đồng Bên cạnh đó, tìnhtrạng suy giảm nguồn tài nguyên nước (ô nhiễm và cạn kiệt) đang làm ảnh hưởngkhông nhỏ tới tính phát triển bền vững của các đô thị

Nhằm phục vụ quá trình đô thị hóa, công nghiệp đang diễn ra với tốc độ nhanh,các hoạt động xây dựng đường giao thông, nhà cửa diễn ra mạnh mẽ đã làm bê tônghóa bề mặt, dẫn đến diện tích cung cấp nước từ nước mưa, nước mặt cho nước nướcdưới đất ngày càng bị thu hẹp, gây cạn kiệt nguồn bổ cập cho nước dưới đất Đặc biệtvới các hoạt động khoan, khai đào cho mục đích xây dựng, thăm dò địa chất, tìm kiếmkhai thác nước ngầm diễn ra sôi động Nhiều nhà cao tầng mọc lên với hệ thống cáccác lỗ khoan khảo sát địa chất công trình, hệ thống móng khoan cọc nhồi được pháttriển Đây cũng chính là một trong những con đường dẫn đến tình trạng gây ô nhiễmnguồn nước dưới đất chưa được quan tâm và quản lý

Các hoạt động kinh tế- nhân sinh đã tạo ra chất thải, nước thải chứa đựng nhiềuchất bẩn gây ô nhiễm môi trường

Về nước thải:

Hiện nay mỗi ngày toàn vùng nội thành thải ra khoảng 400- 500.000m3 nướcthải sinh hoạt và công nghiệp chưa được xử lý, trong đó có cả nước thải của các bệnhviện Lượng nước thải này trực tiếp đổ vào các hồ nằm sâu trong vùng nội thành sau đó

Trang 17

chảy vào các sông Lừ, Sét, Kim Ngưu, rồi tất cả đều đổ vào sông Tô Lịch và chảy rasông Nhuệ, làm cho sông hồ đều trở thành những “ sông chết”

Nước thải ở thành phố Hà Nội là một trong những tác động chính gây nên tìnhtrạng ô nhiễm nguồn nước và có xu hướng ngày càng xấu đi

Về chất thải rắn

Lượng rác thải sinh hoạt ở thành phố Hà Nội ước tính khoảng 3500 tấn là chấtrác thải sinh hoạt đô thị và khoảng 1500 tấn chất thải sinh hoạt nông thôn Số rác nàyđược đem chôn lấp tại 6 bãi rác: Nam Sơn (Sóc Sơn) với khối lượng trung bình khoảng

3000 tấn/ngày, Kiêu Kỵ (Gia Lâm), Xuân Sơn (Sơn Tây), núi Thoong (Chương Mỹ) vànhà máy xử lý rác Cầu Diễn, Seraphin Sơn Tây

Chất rắn công nghiệp khoảng 750 tấn/ngày, mới thu gom khaorng 637-675 tấn/ngày và mới xử lý khoảng 60% lượng chất thải rắn công nghiệp thu gom được Chủyếu chất thải rắn công nghiệp được xử lý ở bãi Nam Sơn

Về chất thải rắn y tế nguy hại của một số bệnh viện, hiện đã thu gom và xử lýtập trung tại lò đốt chất rắn thải y tế Cầu Diễn với công suất 5 tấn/ngày, phần tro xỉđược đóng rắn và đem chôn lấp

Nghĩa trang Văn điển hoạt động từ năm 1958 đến nay mỗi năm chôn cất khoảng

2700 người chết ngoài ra còn nhiều nghĩa trang nhỏ ở các vùng ngoại thành, gây ônhiễm nghiêm trọng và bệnh tật cho dân cư quanh vùng và đó cũng là nguồn gây ônhiễm nặng đối với nước dưới đất đặc biệt là các tầng nông Bãi rác Mễ trì, Sóc sơn cónguy cơ gây ô nhiễm nặng nguồn nước

Như vậy ta thấy công tác thu gom xử lý nước thải, chất thải rắn tại các đô thịchưa được triệt để và còn nhiều bất cập Điều này đã dẫn đến tình trạng gây ô nhiễmnguồn tài nguyên nước dưới đất ở một số các đô thị

1.2.4 Tình hình khai thác nước

Thành phố Hà Nội hầu như sử dụng 100% các nguồn nước dưới đất Với tốc độ

đô thị hoá, dân số gia tăng nhanh chóng, công nghiệp, nông nghiệp phát triển Việckhai thác nước dưới đất tăng lên rất mạnh với hình thức khai thác đa dạng Hiện nay có

ba hình thức khai thác nước dưới đất chủ yếu: khai thác tập trung, khai thác côngnghiệp đơn lẻ và khai thác cung cấp nước ở vùng nông thôn

a) Hình thức khai thác nước dưới đất tập trung:

Trang 18

Có đặc điểm là khai thác với số lượng lớn do các cơ quan chuyên môn (cácCông ty Kinh doanh nước sạch) quản lý, cung cấp cho các nhu cầu ăn uống, sinh hoạt

và sản xuất Đây là hình thức khai thác chủ yếu cung cấp phần lớn nhu cầu nước củathành phố Các giếng khai thác được sắp xếp theo các hình dạng khác nhau (chủ yếu làdạng đường thẳng và diện tích) tập trung ở các khu vực riêng gọi là bãi giếng Nướckhai thác từ giếng khoan lên là nước thô được dẫn đến nơi xử lý là nhà máy nước.Nước sau khi xử lý theo mạng phân phối đến các hộ tiêu dùng

Hiện nay đang tồn tại 12 bãi giếng lớn và hàng loạt các nhà máy nước nhỏ ( còngọi là trạm cấp nước)

Hình thức khai thác nước tập trung có lịch sử phát triển lâu dài và ngày càngphát triển về số lượng bãi giếng cũng như số lượng lỗ khoan và lưu lượng khai thác

Sớm nhất là nhà máy nước Yên Phụ được xây dựng từ 1909 ở khu vực ven sôngHồng từ cầu Long Biên đến đầu đường Thanh Niên với công suất khai thác ban đầu là20.000m3/ng Sau đó, các nhà máy nước khác cũng được xây dựng như Đồn Thuỷ(1931), Bạch Mai (1936, Ngọc Hà (1939), Ngô Sĩ Liên (1944) Khi tiếp quản Thủ Đônăm 1954, tổng lượng nước khai thác từ các nhà máy kể trên vào khoảng 40.000m3/ng

Sau hoà bình (1954) cùng với công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa, tốc độ đôthị hoá thủ đô Hà Nội phát triển nhanh chóng: gia tăng dân số và phát triển côngnghiệp, nông nghiệp, du lịch, dịch vụ, kéo theo sự tăng lên nhanh tổng nhu cầu vềnước Do đó, việc khai thác nước dưới đất tập trung đã được đẩy mạnh như cải tạo ( bổsung giếng khoan mới, cải tạo hoặc khoan lại giếng cũ, ở các bãi giếng đã xây dựng),

và xây thêm bãi giếng mới

Trong những năm 50, xây dựng và đưa vào hoạt động bãi giếng Lương Yên(1958), những năm 60 – bãi giếng Tương Mai (1961), Hạ Đình (1965), những năm 80-bãi giếng Mai Dịch (1985), Pháp Văn (1985), những năm 90 mở rộng bãi giếng MaiDịch (1992), Ngọc Hà và Lương Yên (1993), Yên Phụ (1997), Gia Lâm (1998), nhữngnăm 2000 xây dựng và đưa vào hoạt động bãi giếng Cáo Đỉnh (2001), và các bãi giếngNam Dư (2004), Bắc Thăng Long, mở rộng các nhà máy nước Cáo Đỉnh, Gia Lâm vàhàng loạt các trạm nước nhỏ khác như Yên Viên, Khương Trung, Đại Kim,…

Lưu lượng nước dưới đất khai thác bình quân tăng theo thời gian, được tổng hợpthống kê ở bảng 4 và hình 3 dưới đây

Trang 19

Nhà máy nước

Công suất khai thác (m3/ng)

Nhà máy nước

Công suất khai thác (m3/ng)

Trang 20

Nhà máy nước

Công suất khai thác (m3/ng)

Nhà máy nước

Công suất khai thác (m3/ng)

Khương Trung

Trang 21

Hình 4: Bản đồ vị trí các bãi giếng khai thác tập trung ở Hà Nội (chưa mở rộng).Quản lý vận hành việc khai thác nước tập trung do công ty kinh doanh nướcsạch Hà Nội quản lý có đội ngũ cán bộ kỹ thuật và công nhân lành nghề về cấp thoátnước đảm nhiệm từ khâu bơm khai thác từ giếng, truyền dẫn về khu xử lý, nước saukhi xử lý đạt tiêu chuẩn ăn uống, phân phối bán cho các hộ tiêu dùng.

b) Khai thác công nghiệp đơn lẻ

phố không đáp ứng được nhu cầu nước cho ăn uống và sinh hoạt, đặc biệt là để sảnxuất, các đơn vị công ty sản xuất kinh doanh, các đơn vị hành chính sự nghiệp hoặc lựclượng vũ trang tự khoan để giải quyết vấn đề cung cấp nước cho mình Theo số liệuđiều tra của Liên đoàn Quy hoạch và điều tra Tài nguyên nước Miền Bắc năm 2007 có

531 giếng khoan khai thác kiểu này Hầu hết các cơ quan không lưu trữ tài liệu giếng( tài liệu về hồ sơ giếng khoan khai thác, các kết quả thí nghiệm thăm dò về trữ lượng,chất lượng nước dưới đất) không tính toán ghi chép thời gian khai thác, lưu lượng khaithác, không theo dõi diễn biến động thái nước dưới đất và các tác động môi trườngtrong quá trình khai thác, ) Việc khảo sát chủ yếu là dò hỏi các cán bộ quản lý và côngnhân vận hành để xác định áng chừng về thời gian khai thác, sau đó dựa vào công suấtmáy bơm để tính toán lưu lượng khai thác bình quân

72 12

17

23

5 23

Gia L©m 20.000

L ¬ng Yªn 49.080

T­ ¬ng­Mai 25.000 Ph¸p­V©n 22.464

Yªn Phô 110.000

NS.Liªn 50.000

Ngäc Hµ 40.000

H¹ §×nh 28.000

Mai DÞch 45.000

C¸o §Ønh 62.000

20.000 BTLong

BTLong 20000

Q62(2)

Q23a

Q64(2) Q67

Q65(3)

Q66(3)

Q32Q121Q33 Q34(2) Q35

Q.75a

Q.119b

Trang 22

Kết quả khảo sát cho thấy:

Vùng phía nam sông Hồng có 388 giếng khai thác với lưu lượng bình quân124.000m3/ng

Vùng phía bắc sông Hồng có 60 giếng khai thác với lưu lượng bình quân

c) Khai thác nước dưới đất vùng nông thôn

Phát triển chủ yếu ở các huyện ngoại thành cung cấp cho các hộ gia đình ở cácvùng nông thôn Nhân dân vùng nông thôn của thành phố Hà Nội từ xa xưa thường sửdụng các nguồn nước mưa, nước mưa, nước mặt để ăn uống sinh hoạt Đầu những năm

60 phát triển loại hình giếng khơi để khai thác các tầng chứa nước nông Đến nhữngnăm 80 thì khoan các lỗ khoan đường kính nhỏ và khai thác các tầng chứa nước sâuhơn Những năm gần đây được sự tài trợ của Nhà nước đã xuất hiện và phát triển hìnhthức cung cấp nước tập trung với giếng khoan đường kính lớn cung cấp cho cả tụ điểmdân cư như thôn, xã, song chưa được phổ biến Giếng đào và giếng khoan đường kínhnhỏ là hình thức khai thác phổ biến nhất hiện nay theo mô hình mỗi nhà một giếng Kết

Trang 23

quả điều tra năm 2008 của Đề án Xây dựng cơ sở dữ liệu Tài nguyên nước trong địabàn thành phố Hà Nội để phục vụ công tác quản lý có khoảng 200.000 giếng khoanđường kính nhỏ và khoảng 40 giếng khoan cấp nước tập trung cho cụm dân cư.

Nếu tính trung bình 1 giếng khoan khai thác đường kính nhỏ khoảng 1m3/ng thìlượng khai thác này khoảng 200.000m3/ng Đối với các giếng khai thác tập trung phục

vụ cấp nước cho các tụ điểm dân cư, tính trung bình khoảng 2000m3/ng thì tổng lượngkhai thác khoảng 80000m3/ng Tổng lượng khai thác nước nông thôn vào khoảng280.000m3/ng

Khai thác nước dưới đất vùng nông thôn có các đặc điểm sau:

Các giếng khai thác tập trung cho cụm dân cư có đường kính lớn (trên 100mm),khoan sâu, khai thác vào tầng chứa nước pleistocen (qp1), đã có hệ thống xử lý nước

Đa phần các giếng khoan Unicef có đường kính nhỏ ( 48-60mm) khai thác tầngchứa nước Holocen (qh) hoặc phần trên của tầng chứa nước Pleistocen

Đại đa số các trường hợp mỗi lỗ khoan cung cấp cho một gia đình để ăn uống,sinh hoạt, ngoài ra có thể tưới cây trong vườn, phục vụ chăn nuôi Phương tiện khaithác và xử lý thủ công đơn sơ, đại đa số các trường hợp là bơm tay

Trang 24

Chương 2: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT- ĐỊA CHẤT THỦY VĂN 2.1 Đặc điểm địa chất

Tổng hợp các nguồn tư liệu nghiên cứu địa chất ở tỷ lệ 1:200 000 và 1:50 000

… thuộc diện tích thành phố Hà Nội cũ và vùng phụ cận (1973,1989,1994) có thểthấy: Nhìn chung, thành phố Hà Nội nằm trên một cấu trúc địa chất khá phức tạp.Trong diện tích thành phố Hà Nội có mặt không liên tục các phân vị địa tầng từNeoproteozoi đến Kainozoi với tổng bề dày trên 3600m

Dưới đây em trình bày cụ thể điều kiện địa chất thành phố Hà Nội

2.1.1 Địa tầng

Trong diện tích Hà Nội có mặt không liên tục các phân vị địa chất từNeoproterozoi đến Kainozoi gồm 16 phân vị địa tầng, có 7 phân vị địa tầng trước Đệ tứ

và 9 phân vị địa tầng Đệ tứ được mô tả từ cổ đến trẻ như sau:

a) Các thành tạo địa chất trước kỷ Đệ Tứ

Đó là các loại đá gốc gắn kết lộ ra trên bề mặt chiếm diện tích hơn 100km2,phân bố ở một số vùng đồi núi huyện Sóc Sơn và một vài đồi sót huyện Đông Anh.Còn các loại đá gắn kết khác, kể cả đá biến chất cao nằm chìm ở các độ sâu khác nhau( có chỗ gần 200m) và bị các trầm tích Đệ Tứ bở rời phủ lên trên

Theo thời gian thành tạo ta có thể sắp xếp các đá gắn kết có tuổi từ cổ đến trẻnhư sau:

NEPROPOTEROI – CAMBRI HẠ

Loạt sông Chảy( NP-1sc)

Được Đovjikov A.E xác lập năm 1965 là một phức hệ sau đó được mô tả là hệtầng sông chảy

Trên diện tích Hà Nội, loạt sông chảy chỉ mới phát hiện được qua lỗ khoan ởphía bắc, tây bắc Đông Anh Thành phần gồm đá hoa xám đen đến xám sáng cấu tạokhối và đá gneis, vùng ven đô còn gặp đá phiến kết tinh, quaczít Bề dày của loạt chỉquan sát được 83,5 m trong các lỗ khoan Dựa vào thành phần thạch học, tướng đátầng được xếp vào phân vị địa chất thuỷ văn tương đối giàu nước

Trang 25

Mặt cắt lộ ra ở núi Am Lom từ sông Đồng ca đến núi Dõm đến Thanh Hà , từdưới lên gồm 4 tập:

Tập 1: bột kết màu tím nhạt, nâu đỏ, phân lớp dày, xen các lớp mỏng, cát kết hạtnhỏ đến vùa, chứa các kết hạch, thế nằm khá bình ổn với góc dốc 15 ÷ 200, dày 170 m

Tập 2: cát kết hạt nhỏ, màu vàng nâu, phân lớp dày,xen với bột kết màu nâunhạt Bột kết, cát kết hạt mịn bị lục hoá, phần hạt vụn gồm thạch anh chiếm 45%, thànhphần Plagiocclas, felspat kali 25%, mảng quắc zít 25%, Silic 3%, turmalin 3%,muscovit 1%, xi măng chủ yếu là silíc tái kết tinh Thành phần sét bị biến đổi thànhbiotit dạng vẩy, sét còn lại có màu nâu bẩn Dày 200 m

Tập 3: bột kết tuf màu xám, phân lớp dày 10 ÷ 15 cm, xen lớp mỏng cát kết tuf.Phần trên của tập có xen thấu kính phun trào xít và felsít dày 4÷ 10 m, màu tím nhạt,vàng nâu, xám xanh đá phun trào ryolit porphyr ít nhiều đã biến đổi , nhưng vẫn còn

để lại nhứng ban tinh

Bột kết bị biến chất yếu, đá bị vò nhàu uốn nếp mạnh Dày 200 m

Tập 4: cát bột kết màu xám phân lớp dày 10 ÷ 15 cm, bột kết ít khoáng màu tímđen đỏ, sét kết,phân lớp mỏng đến vừa 10 ÷ 20 cm hoặc dày 40 cm Dày 250 m

Tổng công bề dày của hệ tầng 650 ÷ 845 m

Tại vùng Ba Tương, Am Lom, núi Quán quan sát được hệ tầng nằm chỉnh hợpdưới hệ tầng Nà Khuất, ranh giới dưới của hệ tầng chưa quan sát được Dựa vào quan

hệ địa tầng kể trên cvà đối sánh vơi mặt cắt Tría chưa phun trào felsichệ tầng KhônLàng được định tuổi là Anisi, thuộc Trias Tầng được cấu tạo bởi là bột kêt, cát kếtnhưng đã bị biến chất mạnh nên tầng được xếp vào loại nghèo nước

Hệ tầng Nà Khuất (T 2nk)

Trang 26

Hệ tầng Nà Khuất do Jamoida A.I xác lập theo mặt cắt nằm ở đông nam thị xãLạng Sơn trong diện tích thuộc thành phố Hà Nội, các đá của hệ tầng phân bố ở cácnúi phía bắc và tây băc Sóc Sơn.

Hệ tầng gồm các trầm tích lục nguyên chưa phong phú hoá thạch hai mảnh.trong phần trên của mặt cắt, trầm tích hạt thô chiếm ưu thế Hệ tầng chia làm 2 phân hệtầng

Phân hệ tầng dưới(T2nk): phân bố thành những dải kéo dài theo phương á

tuyến( núi Dõm và TB-ĐN( núi Cánh Tay, núi Vành, suối Bầu, núi Quán, núi Dền,ngoài ra còn phân bố ở Thuỳ Lôi ( Đông Anh) Mặt cắt ở núi Đền cho thấy các trầmtích của phân hệ địa tầng được phân bố thành 3 tập

Tập 1: cát kết màu xám sáng, hồng nhạt, rắn chắc, phân lớp dày 0,5 ÷ 1 m, bột

kết, sét kết màu xám tím, xám nâu, vàng nâu,phân lớp mỏng (2 ÷ 3 cm) Các đá nàyxen kẽ thành nhịp.Dày 175 m

Tập 2: cát bột kết màu vàng, xen kẽ đều đặn với các lớp mỏng (10 ÷ 20 cm) cát

kết màu xám vàng đến xám nâu Dày 150m

Tập 3: chủ yếu là bột kết màu xám vàng khi phong hoá có màu tím nhạt, phân

lớp mỏng (2 ÷ 3 cm), có chỗ dày 40 cm Trên bề mặt lớp thường có những lỗ hổng li tilấp đầy ôxyt sắt đá thường nứt nẻ theo đường vuông góc với mặt lớp Dày 125 m

Bề dày tổng cộng của phân hệ tầng dưới : 350 ÷ 450 m

Phân hệ tầng trên ( T 2 nk): Phân hệ tầng trên phân bố chủ yếu ở các vùng Phú

Thịnh, Xuân Bằng Thành phần chủ yếu là cát kết, cát bột kết xen những lớp mỏng sétkết Lớp cát kết màu xám vàng phân lớp dày 4 m, ở dưới cùng được xem là lớp đánhdấu và là lớp cơ sở nằm trên phân hệ dưới

Hệ tầng gồm 3 tập:

Tập 1: Cát kết hạt vừa màu xám nâu, xám vàng, nằm chỉnh hợp lên phân hệ tầng

dưới chuyển lên trên có xen bột kết , sét kết chứa kết hạch Dày 100 ÷ 140 m

Tập 2: cát bột kết màu xám nưâu đỏ, phân lơp dày 0,2 ÷ 0,4 m, trên mặt lớp có

những lỗ hổng li ti lấp đầy ôxit sắt Cát bột kết kể trên xen kẽ khá đều đặn với sét kết.Dày 150 ÷ 200 m

Trang 27

Tập 3: cát kết thạch anh màu xám đến xám vàng, hạt nhỏ đến hạt vừa, dạng khối

dày 2 ÷ 3 m, chuyển lên bột kết màu xám vàng, trên mặt lớp có các ổ ốyt sắt màu vàng lấpđầy các lỗ hổng li ti, và sét kết màu xám đen, vàng xen cát lớp mỏng cát kết hạt nhỏ trêncùng là bột kết màu tím nhạt xen các lớp mỏng cát kết hạt nhỏ, trên cùng là bột kết tímnhạt xen ít cát kết cùng phân lớp dày 40 ÷ 100 cm bề dày 150 m

Bề dày của phân tầng trên 250 ÷ 490 m

Tổng bề dày của hệ tầng Nà Khuất là 600 ÷ 940 m

Hệ tầng Nà khuất nằm chỉnh hợp lên hệ tầng Khôn Làng

Hệ tầng Nà Khuất được cấu tạo bởi cát kết, bột kết dạng khối xen kẹp các lớpbột kết mỏng, ít nứt nẻ bản thân tầng đã được xếp vào loại nghèo nước

Jura hạ trung

Hệ tầng Hà Cối( J 1-2hc)

Hệ tầng Hà Cối do Jamoida A.I xác lập theo đường từ Hà Cối vào Tấn Mài.Trên diện tích thành phố Hà Nội, hệ tầng Hà Cối lộ ra không liên tục với diện tích nhỏhẹp ở vùng đồi thấp phía tây Hiền Ninh và Tân Dân huyện Sóc Sơn

Hệ tầng gốm sỏi sạn kết, cát kết, bột kết và sét kết xen kẽ nhau dạng phân nhịp.Sạn sỏi kết đa khoáng, độ mài tròn kém, kích thuớc sạn sỏi không đồng đều, thànhphần sạn sỏi là thạch anh,si líc và đá phun trào, cát kết thạch anh hạt nhỏ đến lớn, màuxám vàng, có cấu tạo phân lớp xiên bột kết và sét kết màu nâu đỏ, phân lớp dày Hệtầng dày 120 m Hệ tầng này phân bố với diện tích rất nhỏ không có ý nghĩa về ĐCTV

Jura thượng – Creta hạ

Hệ tầng Tam Lung( J 3 - K 1tl)

Hệ tầng do Vũ khúc và Đặng trần Huyên (1995) xác lập ở Tam Lung (LạngSơn) Diện tích thành phố Hà Nội các đá của hệ tầng chỉ lộ ra với diện nhỏ hẹp ở NamCường, Hiền Lương, Dốc Diều huyện Sóc Sơn

Hệ tầng gồm các đá phun trào ryođacít, ryolít porphyur màu xám, thường bịphân phiến Hệ tầng dày 100m Thành phần của đất đá của hệ tầng cho thấy tầng khôngchứa nước hoặc rất nghèo nước

GIƠÍ KAINOZOI

Trang 28

xu hướng gắn kết chặt, ở bờ trái các trầm tích thường gắn kết yếu hơn mẫu lấy lênthường bở rời Trong các trầm tích Neogen ở khu vực Định Công, Linh Đàm tồn tạicác đới nứt nẻ, mẫu lõi khoan lấy lên thường vỡ vụn hoặc tạo thành thỏi ngắn 1 ÷ 5cm.

Qua tổng hợp, phân tích các tài liệu thu thập được có thể chia các trầm tích của

Tập 2 (N 2 vb 2 ): phân bố rộng rãi và ở nhiều nơi các trầm tích của tập 2 lộ ngay

dưới lớp phủ Đệ tứ Thành phần trầm tích của tập bao gồm phần dưới là các lớp cuội,sạn sỏi phần trên là các lớp cát kết bột kết màu xám xanh, xám ximăng

Trang 29

Chiều dày tập 70 ÷ 100m.

Tập 3(N 2 vb 3 ): phân bố rải rác tại phía bắc và trung tâm vùng tại các khu vực Hà

Đông, Định Công, Giang Biên và ở phía nam thì phân bố rất rộng rãi Đây là phần caonhất của các trầm tích Neogen Chúng lộ ra ngay dưới lớp phủ Đệ tứ Thành phần trầmtích bao gồm cuội kết, sạn kết cát kết lẫn ít bột, sét Đây là tầng cuội bẩn trước đâyđược Hoàng Ngọc Kỷ (1973) xếp vào tuổi Plestocen sớm hệ tầng Thái Thụy

Chiều dày tập thay đổi từ 10 ÷ 30m

Kết quả phân tích mẫu lấy được từ các lỗ khoan của báo cáo thành lập bản đồĐịa chất tỷ lệ 1:50 000 thành phố Hà Nội cho thấy trong các trầm tích hạt mịn của hệtầng Vĩnh Bảo chứa rất nhiều di tích vi cổ sinh, tảo, bào tử phấn Chúng có mặt ở hầuhết các lỗ khoan và phân bố ở độ sâu từ 95m ÷ 134m Các phức hệ Feraminifera bao

gồm: Pseudorotalia sp.; Elphidium cf adeverum (Cushm.); Cbicides sp.; Nonionella sp.; Clobigerina sp.; Bolivina sp.; Quiqueloculina sp.; … đặc trưng cho điều kiện biển

nông ấm áp ven bờ cho tuổi Pliocen (N2) Ngoài ra trong các mẫu lõi khoan còn chứa

rất nhiều tảo, đó là: Cylotella omarensis (tảo nước mặn), Hantazachia, Centrophyceae

(tảo nước mặn, lợ) Bên cạnh đó trong các đá còn chứa phong phú các di tích bào tử

phấn như: Polypodiaceae, Gleichenia, Lycopodium, Pinus, Betula, Carpinus, Carya, Quercus, Castanea, cho tuổi N2

Căn cứ vào địa tầng địa chất, thành phần thạch học của trầm tích neogen đặcbiệt là đối với hệ tầng trẻ nhất cho thấy tương đối giàu nước, mức độ chứa nước khôngđồng đều Ngoài ra nước khai thác trong các trầm tích này phần lớn là nước nhạt cóchất lượng tốt Như vậy, có có thể đưa ra ý kiến là hệ tầng Vĩnh Bảo ngoài nguồn gốcbiển còn có thể có có nguồn gốc sông

Căn cứ vào kết quả phân tích ở trên các trầm tích của hệ tầng Vĩnh Bảo đượcxếp vào tuổi Pliocen là hợp lý

Về quan hệ địa tầng, hệ tầng Vĩnh Bảo nằm phủ lên trên các đá có tuổi cổ hơn

Trang 30

Bảng 5: Thang địa tầng Đệ TứGiới Hệ Thống Phụ thống Ký hiệu Niên đại tuyệt đối

(năm trước ngày nay)

Hệ tầng Lệ Chi (aQ 1lc)

Hệ tầng Lệ Chi do Ngô Quang Toàn xác lập năm 1989 Khối lượng của hệ tầng

là phần thấp nhất của hệ tầng Hà Nội do Hoàng Ngọc Kỷ xác lập năm 1973

Các trầm tích của hệ tầng không lộ trên mặt mà chỉ bắt gặp tại các lỗ khoan.Chúng phân bố dọc theo lòng sông Hồng cổ, bắt đầu xuất hiện tại Nhổn, phát triển rộng

về phía đong và đông nam vùng nghiên cứu

Mặt cắt điển hình của hệ tầng Lệ Chi được chia làm 3 tập:

Tập 1: cuội, sỏi, lẫn ít cát, bột sét màu xám nâu thuộc tướng lòng sông miền núi

và chuyển tiếp Thành phần cuội sỏi là thạch anh, silic, đa hoa Cuội có kích thước từ3-5cm độ mài tròn tốt Chiều dày tập 10m

Tập cuội này năm chuyển tiếp trên tập cuội bẩn có tuổi Pliocen muộn của hệtầng Vĩnh Bảo

Tập 2 : Cát hạt mịn, cát bột màu xám vàng Cát có độ chọn lọc và mài tròn tốt,

thành phần khoáng vật bao gồm chủ yếu là thạch anh (90-97%) còn lại là các mảnh đá

và một phần không đáng kể là fenspat và một ít khoáng vật nặng Chúng có tướng lòngsông, được thành tạo trong môi trường có dòng chảy, phân dị mạnh Chiều dày tập 3-5m

Tập 3: bột, sét, cát màu xám, xám vàng, xám đen chứa mùn thực vật Độ chọn

lọc và mài tròn kém, thuộc tướng bãi bồi

Trang 31

Trong tập này chứa phong phú di tích bào tử phấn hoa và một ít tảo nước ngọtxác định tuổi Plestocen sớm Chiều dày tập thay đổi từ 0,2-1,5m.

Về quan hệ địa tầng, các trầm tích của hệ tầng Lệ Chi nằm bất chỉnh hợp lêntrên bề mặt bào mòn của tầng cuội bẩn của hệ tầng Vĩnh Bảo và phía trên bị các trầmtích của hệ tầng Hà Nội phủ bất chỉnh hợp

Thống Plestocen

Hệ tầng Hà Nội (aQ 1 2-3hn)

Hệ tầng Hà Nội do Hoàng Ngọc Kỷ xác lập lần đầu tiên năm 1973 khi thành lập

tờ bản đồ địa chất tờ Hà Nội tỷ lệ 1: 200 000

Trong vùng nghiên cứu các trầm tích của hệ tầng Hà Nội cũng không lộ trên mặt

mà bị phủ bởi các trầm tích có tuổi trẻ hơn Chúng được chia làm ba tập, từ dưới lêntrên như sau:

Tập 1: cuội lẫn tảng, sỏi, sạn lẫn ít cát, bột Cuội thường rất sạch, kích thước

7-10cm đôi chỗ tới 15cm Đây là sản phẩm của thời kỳ xâm thực dữ dội Các trầm tích cótướng lòng sông của sông miền núi và chuyển tiếp xen kẽ các pha lũ tích.Thành phầncuội chủ yếu là thạch anh, silic và đá phun trào Độ mài tròn kém đến trung bình, độchọn lọc từ trung bình đến kém

Chiều dày tập 5 - 10m

Tập cuội này nằm không chỉnh hợp lên trên các trầm tích của hệ tầng Lệ Chi

Tâp 2: sỏi nhỏ, cát hạt thô, cát bột có màu vàng, xám vàng, nâu gạch Các trầm

tích có tướng gần lòng sưông của sông miền núi và chuyển tiếp Thành phần chủ yếu làthạch anh, một ít silic, fenspat và khoáng vật nặng Chúng là sản phẩm của pha xâmthực thứ hai, nằm phủ trực tiếp lên trên tầng cuội tảng của pha xâm thực thứ nhất

Chiều dày tập từ 10-20m

Tập 3: bột sét bột cát màu xám vàng, vàng gạch, vàng nâu, xen các thấu kính sét

bột lẫn mùn thực vật màu đen, xám đen Các trầm tích này đặc trưng cho tướng bãi bồinước ngọt

Chiều dày tập 4-5m

Trong các thành tạo trầm tích của hệ tầng Hà Nội chứa phong phú các di tích

của phổ phấn nước ngọt như: Quercus, Umus, Pterit,Tilia, Larix, Pturium, Dicksonia,

Trang 32

Polypodium…Tảo nước ngọt như: Aulacosira, Agranulata, Navicula, Pennatrophyceae…Tảo nước mặn và nước lợ như: Cylotella striata, C.radiatus, C.atylosum, Coscinodiscus…Các di tích này đều cho tuổi Plestocen giữa - muộn.

Về quan hệ địa tầng, các trầm tích của hệ tầng Hà Nội phủ bất chỉnh hợp lêntrên hệ tầng Vĩnh Bảo và bên trên lại bị các trầm tích của hệ tầng Vĩnh Phúc phủ bấtchỉnh hợp

Hệ tầng Vĩnh Phúc (aQ 1vp)

Hệ tầng Vĩnh Phúc do Hoàng Ngọc Kỷ xác lập lần đầu tiên năm 1973

Trong diện tích nghiên cứu hệ tầng Vĩnh Phúc không lộ ra trên mặt mà chỉ bắtgặp trong các lỗ khoan Trầm tích hệ tầng Vĩnh Phúc được chia làm 4 tập từ dưới lêntrên như sau:

Tập1: cuội, sỏi nhỏ, cát lẫn ít sét bột màu vàng xám Thành phần chủ yếu là

thạch anh ở trong tập này tại các lỗ khoan thường chứa các di tích tảo nước ngọt:

Navicula, Gomphonema, Centrophyceae; di tích phổ phấn: Polypodiaceae, Licopodium, Crystomaria, Pinus, Taxus, Rubia, Biota…

Các trầm tích này đặc trưng cho tướng lòng sông, phân lớp đồng hướng và phânlớp xiên chéo Chúng nằm không chỉnh hợp lên trên các trầm tích của hệ tầng Hà Nội

Chiều dày tập 3-5m

Tập 2: gồm cát, bột lẫn ít sét, cát vàng đôi chỗ có thấu kính sỏi nhỏ màu vàng

nâu, xám nâu Các trầm tích này thuộc tướng lòng sông và gần lòng sông vùng đồngbằng, cấu tạo phân lớp xiên chéo, độ chọn lọc và mài tròn từ trung bình đến tốt, thànhphần ít khoáng chủ yếu là thạch anh và các mảnh đá Đặc biệt trong tập này gặp nhiềumảnh vụn laterit thứ sinh, là sản phẩm của quá trình phong hoá các vỏ laterit cổ hơn

Trong tập này thường chứa bào tử phấn hoa: Polypodium, Cyathea, Taxodium, Ginkgo, Carix, Pinus, Compositae, Kabia…

Chiều dày tập 33m

Tập 3: sét kaolin màu xám trắng sét bột có xám vàng thuộc tướng bãi bồi và tích

tụ hồ móng ngựa Chúng thường bị phong hoá có màu loang lổ đặc trưng Trong tập

này thường chứa các bào tử phấn hoa: Licopodiaceae, Licopodium, Alsophium,

Trang 33

Taxodium, Larix, Capirus, Palamae, Glamirae, Cyperus… và tảo nước ngọt: Hanzachia amphioxys, Pennatrophyceae, Stauroneis, Pinclastria sp…

Chiều dày tập 2-10m

Tập 4: sét đen, bột sét lẫn mùn thực vật màu đen, bột sét xám vàng Chúng là

sản phẩm của dòng sông khi đã đạt đến trắc diện cân bằng

2.1.2 Kiến tạo

Chuyển động tân kiến tạo, núi lửa hiện đại và động đất có thể ảnh hưởng đếnđiều kiện hình thành dòng ngầm, điều kiện cung cấp và thoát nước dưới đất Nhưngcho đến nay vấn đề này vẫn chưa được nghiên cứu

Chuyển động tân kiến tạo diễn ra rất chậm Ảnh hưởng của nó đến sự hình thànhtrữ lượng động tự nhiên chỉ có thể phát hiện khi có các trạm quan trắc chuyên lâu dài ởcác vùng mặt đất bị nâng lên hay hạ xuống

Vị trí vùng nghiên cứu trong bình đồ cấu trúc khu vực

Vùng nghiên cứu nằm trong miền kiến tạo đông bắc Bắc Bộ và một phần nhỏcủa miền kiến tạo tây bắc Bắc Bộ Hai miền kiến tạo này được ngăn cách với nhau bởiđứt gẫy sâu Sông Chảy và mỗi miền lại được chia làm nhiều đới kiến tạo Đây là mộtvùng có lịch sử phát triển địa chất khá phức tạp Theo Dovjikov A.E.(1965) xếp vùngnghiên cứu thuộc đới kiến tạo Hà Nội, còn theo Trần Văn Trị (1977) thì chúng nằmtrọn trong võng địa hào Hà Nội Võng địa hào Hà Nội nằm phủ chờm lên cả hai miềnkiến tạo Đông Bắc Bộ, Tây Bắc Bộ và được chia làm ba đới

Đới rìa đông bắc

Chiếm diện tích nhỏ ở phía đông bắc vùng nghiên cứu và được ngăn cách vớiđới trung tâm bởi đứt gãy Sông Lô Các trầm tích Neogen tại đây phủ trực tiếp lên cácthành tạo của hệ Trias

Trang 34

Đới trung tâm

Chúng được ngăn cách với đới rìa đông bắc bởi đứt gãy Sông Lô và với đới rìatây nam bởi đứt gãy sông Chảy Vùng nghiên cứu nằm chủ yếu trong đới kiến tạo này.Đới này được chia làm hai dải là dải nâng Tiền Hải và dải sụt Đông Quan

Do đặc điểm nguồn gốc đa dạng nên trong khu vực nếp lồi hình thành nên cácthấu kính nước nhạt nằm xen kẽ với các tầng chứa nước mặn

Đới rìa tây nam

Chiếm một diện tích nhỏ của vùng nghiên cứu Ở góc tây nam các trầm tíchMesozoi lộ ngay dưới lớp phủ Đệ tứ, phần còn lại là các trầm tích Neogen, được ngăncách với đới trung tâm bởi đứt gãy sâu Sông Chảy Theo tài liệu địa vật lý tổng chiềudày trầm tích Neogen trong đới 20 60m

Các phức hệ thạch kiến tạo

Vùng địa hào Hà Nội có các phức hệ thạch kiến tạo sau :

Phức hệ thạch kiến tạo móng trước Kainozoi

Gồm các thành tạo không đồng nhất về thành phần lộ rải rác ven vùng trũngdưới dạng các đồi sót Trong vùng nghiên cứu chúng chỉ lộ ra phía bắc vùng nghiêncứukhu vực Sóc Sơn

Phức hệ thạch kiến tạo lớp phủ chồng Kainozoi

Được chia làm hai tầng cấu trúc

- Tầng cấu trúc Neogen: phủ không chỉnh hợp lên trên các thành tạo cổ hơn.

Chúng được đặc trưng bởi các trầm tích lục địa và vũng vịnh của hệ tầng Phong Châu(N1pch) và hệ tầng Phủ Cừ (N1pc), thành hệ molat chứa than nâu tướng lục địa của hệ

tầng Tiên Hưng (N13th) và trầm tích tướng sông biển của hệ tầng Vĩnh Bảo (N2vb).

Tổng chiều dày của tầng khoảng 1502000m Các đá thường có thế nằm ngang hoặchơi nghiêng 10o 15o, đôi nơi gần đứt gãy có thể tới 40o 50o

- Tầng cấu trúc Đệ tứ: gồm các trầm tích lục địa có tuổi từ Pleistocen sớm cho

đến nay Chúng phủ không chỉnh hợp lên trên các cấu trúc cổ hơn và đặc trưng bởi cáctrầm tích bở rời có nhiều nguồn gốc khác nhau

Dày 60 140m

Trang 35

Các đứt gãy chính

Các đứt gãy phương Tây Bắc - Đông Nam

Các đứt gãy sâu trong vùng chủ yếu thuộc hệ thống đứt gãy này, chúng bịphủ hoàn toàn bởi các trầm tích Đệ tứ và chỉ được phát hiện qua các phương phápđịa vật lý

Hệ thống này bao gồm ba đứt gãy chính như sau :

- Đứt gãy Sông Chảy (F3)

Đây là một đứt gãy sâu phân miền kiến tạo Trong diện tích nghiên cứu nó kéodài từ phía Bắc xã Tây Mỗ đến xã Chương Dương, huyện Phú Xuyên

Độ sâu phá huỷ của đứt gãy là 40km, cắm về phía đông bắc với góc dốc là 60o,biên độ dịch chuyển 1  1,5km Tại đây thế nằm của các lớp đất đá bị biến đổi mạnh, gócdốc thay đổi từ 40o  50o

- Đứt gãy Sông Lô (F6)

Đây là đứt gãy sâu, nghiêng về phía đông bắc 80o, độ sâu phá huỷ 16km Trongvùng nghiên cứu chúng kéo dài từ Yên Viên, Hà Nội đến đến xã Nguyệt Đức, BắcNinh Hoạt động của nó góp phần hình thành khối sụt Đông Quan, được lấp đầy cáctrầm tích Neogen

Ngoài ra trong hệ thống này còn có một số đứt gãy nhỏ, có tính chất địa phươngnhư các đứt gãy F1, F2, F5 là ranh giới phân chia các phân vị địa tầng và hoạt động củachúng cũng góp phần làm phức tạp hoá cấu trúc địa chất của vùng, làm hình thành nêncác đới dập vỡ, các khe nứt là cơ sở cho sự tồn tại và lưu thông của nước dưới đất

Các đứt gãy phương đông bắc - tây nam

- Đứt gãy Chương Mỹ - Gia Lâm (F8)

Trang 36

Đứt gãy này phát hiện nhờ tài liệu địa vật lý Trong vùng chúng kéo dài từ khuvực xã Thanh Mai đến Yên Viên Đây là đứt gãy đứng, trượt bằng trái, cự ly dịchchuyển hàng trăm mét.

Các đứt gãy có quy mô nhỏ như F7, F9 cũng thuộc hệ thống đứt gãy này Trongvùng chúng kéo dài vài km đến vài chục mét Chúng đóng vai trò phá huỷ các cấu trúcnội đới, hình thành các đới dập vỡ và tạo ra các hệ thống khe nứt

Tóm lại: đặc điểm địa chất có ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành của nướcdưới đất, các trầm tích đệ tứ hạt thô chứa nước tốt hơn trầm tích hạt mịn và trầm tíchhạt mịn thường là cách nước Đối với các trầm tích trước đệ tứ ngoài thành phần đất đácòn phụ thuộc rất nhiều vào các hoạt động kíến tạo, chiều dày vỏ phong hoá, địa hình,mạng xâm thực và mức độ chứa nước rất không đồng đều do nhứng hoạt động đứtgãy , kiến tạo gây ra Đặc điểm địa chất là yếu tố quan trọng nhất trong sự hình thànhnước dưới đất

2.2 Đặc điểm địa chất thủy văn

Đặc điểm địa chất thuỷ văn nổi bật của vùng Hà Nội là có nhiều tầng chứa nướcnhưng đóng vai trò quan trọng là các tầng chứa nước trầm tích bở rời tuổi Đệ Tứ phân

bố rộng khắp trên toàn vùng nghiên cứu với bề dày khá lớn Các thành tạo chứa nướckhe nứt có diện phân bố nhỏ hẹp ở phần phía bắc thuộc huyện Sóc Sơn, Đông Anh vàđóng vai trò thứ yếu trong cung cấp nước

Dựa trên cơ sở các thành tạo địa chất, đặc điểm chứa nước, tính thấm, đặc tínhthuỷ lực, thành phần thạch học có thể xếp các thành tạo địa chất trong khu vực nghiêncứu ra 11 phân vị địa chất thuỷ văn, trong đó có 6 đơn vị chứa nước và 5 phân vị chứanước kém và cách nước (Bảng 6 và hình 5)

Bảng 6: Các phân vị địa chất thuỷ văn khu vực Hà Nội

TT

Dạng tồn tại của nước Phân vị địa chất thuỷ văn Ký hiệu1

Nước lỗ hổng

Tầng chứa nước các trầm tích Holocen qh

4 Tầng chứa nước trầm tích Jura hệ tầng Hà Cối J1-2

Trang 37

Nước khe nứt

5 Tầng chứa nước các thành tạo Trias trung, các

hệ tầng Nà Khuất, Khôn Làng

t2

6 Tầng chứa nước các thành tạo Neoproterozoi

– Cambri hạ loạt sông chảy

8 Thành tạo cách nước Holocen dưới –giữa

trầm tích hồ-đầm lầy hệ tầng Hải Hưng

Trang 38

Theo tài liệu của Vũ Nhật Thắng và nnk Hình 5: Bản đồ địa chất thủy văn

Trang 39

Trong phạm vi Thành phố Hà Nội, tài nguyên nước dưới đất chủ yếu trong trầmtích Đệ tứ Căn cứ vào thành phần thạch học, tướng đá các thành tạo và các đặc điểmđịa chất thuỷ văn như tính thấm, tính chứa, độ giàu nước, đặc điểm thuỷ động lực củanước Thành phố Hà Nội được chia ra các tầng chứa nước sau.

2.2.1 Các tầng chứa nước

2.2.1.1 Các tầng chứa nước lỗ hổng

Trên địa bàn Hà Nội và vùng phụ cận trầm tích Đệ tứ phân bố khá rộng rãi Vềmặt địa chất thuỷ văn có 2 tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Đệ tứ: tầng chứanước lỗ hổng, không áp Holocen (qh) bên trên, tầng chứa nước lỗ hổng có ápPleistocen (qp) (chi thành 2 tầng chứa nuớc qp2 bên trên và qp1 dưới cùng)

1- Tầng chứa nước các trầm tích Holocen (qh)

Là tầng chứa nước thứ nhất kể từ mặt đất và có tuổi trẻ nhất Phân bố khá rộngrãi ở Hà Nội ( phía nam Hà Nội phủ kín trừ Cổ Nhuế và Xuân Đỉnh, phía bắc Hà Nộitầng phân bố rộng rãi ở vùng Chèm, gia Lâm, còn ở các nơi khác vắng mặt hoặc tồn tạithành các cỏm nhỏ rải rác) dải ven sông Hồng và các sông Đuống, sông Đáy, sôngCầu, sông Cà Lồ

Nhìn chung tầng chứa nước Holocen thuộc loại giàu nước trung bình trở lên,nhưng độ chứa nước không đồng đều theo diện tích cũng như chiều sâu.đây là đốitượng cấp nước sinh hoạt chủ yếu ở ngoại thành Hà Nôi

Thành phần thạch học thường có hai tập Tập trên phân bố không liên tục gồmsét pha thuộc tầng trên của hệ tầng Thái Bình (Q2tb) có chiều dày từ rất nhỏ đến 10m,

đất đá do có tính thấm yếu với hệ số thấm từ 0,0036 đến 0,065, trung bình 0,023m/ngnên chứa nước kém; tập dưới là cát các hạt khác nhau lẫn sạn sỏi, chiều dày trung bình

ở vùng bắc song Hồng, song Đuống là 9,2m; Gia Lâm là 10,1m và nam sông Hồng là13,3m, chứa nước tốt

Hệ số dẫn (kh) của đất đá chứa nước từ 20 đến 800m2/ng, cá biệt có nơi đến hơn1000m2/ng, hệ số nhả nước trọng lực (µ) thay đổi từ 0,01 đến 0,17

Chiều sâu thế nằm mực nước dưới đất thường là 3-4m, riêng vùng phía namsông Hồng thì sâu hơn do ảnh hưởng khai thác từ tầng dưới Nước dưới đất nhìn chung

là không có áp lực hoặc áp lực cục bộ nhưng rất nhỏ Tỷ lưu lượng của (q) các lỗ

Trang 40

khoan thí nghiệm từ rất nhỏ đến 4,5 l/sm, đôi nơi lớn hơn, đánh giá chung tầng chứanước vào loại giàu nước trung bình.

Nguồn cung cấp cho tầng là nước mưa, nước tưới, riêng dải ven sông Hồng thì

do có quan hệ thủy lực chặt chẽ nên nước song là nguồn cung cấp chính (về mùa lũ),thoát ra các sông (về mùa khô), bay hơi và cung cấp cho các tầng chứa nước nằm dưới

Ở vùng ven sông Hồng, sông Đuống và một số nơi khác do tầng chứa nước bị vátmỏng hoặc vắng mặt hoàn toàn thì tầng chứa nước qh có quan hệ thủy lực chặt chẽ vớitầng chứa nước qp ở phía dưới

Nước tàng trữ trong tầng là nước nhạt với độ tổng khoáng hóa thường là nhỏhơn 0,5g/l, nước mềm đến hơi cứng có kiểu bicacbonat canxi Hàm lượng sắt trongnước từ 0,4- 9,2g/l, mangan từ0,2- 0,57mg/l; hàm lượng NH4+ đôi nơi rất cao, vùngphía nam thuộc huyện Thanh Trì đạt đến vài chục mg/l thậm chí đến 100mg/l

Tầng chứa nước có ý nghĩa cung cấp nhỏ đặc biệt vùng nông thôn ngoại thànhthường đào giếng, khoan các giếng đường kính nhỏ khai thác trong tầng này Tầngchứa nước do vậy dễ bị nhiễm bẩn

2- Tầng chứa nước có áp các trầm tích pleistocen (qp)

Tầng có diện phân bố khắp vùng nghiên cứu trừ khoảng 20 km2 ở phía bắc lộ đágốc Tầng chứa nước qp được cấu thành bởi hai lớp:

* Lớp trên (qp 2 ): Là lớp chứa nước nằm giữa qh và qp1 Đất đá cấu thành chủyếu là cát các loại đa phần là cát trung, thô đáy có lẫn sạn sỏi tướng lòng sông Lớp cóchiều dày nhỏ nhất 1,6 m (YL3), lớn nhất 33 m (LK33-PY) trung bình là 13,45 m

Tính thấm của đất đá thuộc loại trung bình đến cao có nơi rất cao Tỷ lưu lượnggiếng khoan hút nước thay đổi từ 0,08 (M3-Cổ Bi) đến 4,94 l/sm (T40-Yên Viên)

Động thái mực nước của tầng phụ thuộc vào điều kiện khí tượng, thủy văn vàchịu ảnh hưởng rõ rệt của việc khai thác nước lớp qp1 Biên độ dao động mực nướchàng năm thay đổi từ 1,6m đến 4,1m Kết quả hút nước thí nghiệm tại 30 giếng khoancho thấy nước trong lớp thuộc loại giàu đến trung bình Nước nhạt khoáng hoá thường

từ 0,2-0,3g/l, cao nhất 0,56 g/l Hàm lượng sắt khá cao từ 2,16 mg/l (M1) đến 25mg/l(M24C) Hàm lượng NH4 nhiều nơi cao hơn tiêu chuẩn nước dùng cho ăn uống nhưTM9b, M24C Hàm lượng NO2- từ không có đến 3,1 mg/l (M24C) Nước thuộc kiểubicarbonat canxi

Ngày đăng: 24/04/2015, 22:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Văn Đản và nnk.Về khả năng xây dựng các công trình khai thác thấm lọc ven sông Hồng cung cấp cho thành phố Hà Nội. Tạp chí Địa chất, A/260:43-49, Hà Nội 2000 Khác
2. Nguyễn Văn Đản, Nguyễn Thị Hạ, 2005. Tài nguyên nước dưới đất vùng Hà Nội và định hướng khai thác, sử dụng. Báo cáo tại Hội nghị khoa học kỷ niệm 60 năm ngày thành lập ngành Địa chất, Hà Nội Khác
3. Nguyễn Văn Đản và nnk. Evaluation and management of groundwater Resources for water supply in Hà Nội city. Symposium on groundwater management, Hà Nội 28/5/2001 Khác
4. Tạ Ngọc Hiến và nnk. Báo cáo kết quả thăm dò sơ bộ nước dưới đất vùng Đông Anh - Đa Phúc, Lưu trữ địa chất 1984 Khác
5. Lê Văn Hiển và nkk. Chuyên khảo nước dưới đất đồng bằng Bắc Bộ. Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam xuất bản. Hà Nội 2000 Khác
6. Trần Minh và nnk. Báo cáo điều tra địa chất đô thị thành phố Hà Nội, chuyên đề địa chất thủy văn ( phụ lục 5), lưu trữ địa chất 2000 Khác
7. Đỗ Trọng Sự, 1993. Đánh giá độ nhiễm bẩn và đề xuất các biện pháp bảo nguồn nước dưới đất ở một số khu vực trọng điểm thuộc đồng bằng Bắc Bộ. Lư trữ địa chất Khác
8. Tống Ngọc Thanh và nnk. Báo cáo đánh giá nguồn nước dưới đất vùng thành phố Hà Nội bằng phương pháp mô hình số ,2008 Khác
9. Vũ Nhật Thắng và nnk.2003. Địa chất và tài nguyên khoáng sản thành phố Hà Nội. lưu trữ địa chất 2003 Khác
10. Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ngầm QCVN09:2008 BTNMT 11. Chất lượng phân tích mẫu nước báo cáo quan trắc đồng bằng Bắc bộ và quan trắc Hà Nội, năm (2001÷2009) Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Vị trí vùng nghiên cứu - Đánh giá hiện trạng suy thoái tài nguyên nước dưới đất vùng hà nội
Hình 1 Vị trí vùng nghiên cứu (Trang 6)
Hình 3: Đồ thị diễn biến lượng khai thác tập NDĐ trung bình quân theo thời - Đánh giá hiện trạng suy thoái tài nguyên nước dưới đất vùng hà nội
Hình 3 Đồ thị diễn biến lượng khai thác tập NDĐ trung bình quân theo thời (Trang 19)
Hình 4: Bản đồ vị trí các bãi giếng khai thác tập trung ở Hà Nội (chưa mở rộng). - Đánh giá hiện trạng suy thoái tài nguyên nước dưới đất vùng hà nội
Hình 4 Bản đồ vị trí các bãi giếng khai thác tập trung ở Hà Nội (chưa mở rộng) (Trang 21)
Hình 8: Đồ thị dao động mực nước công trình quan trắc Q68 tầng qh, Q68a tầng - Đánh giá hiện trạng suy thoái tài nguyên nước dưới đất vùng hà nội
Hình 8 Đồ thị dao động mực nước công trình quan trắc Q68 tầng qh, Q68a tầng (Trang 54)
Hình 9: Đồ thị dao động mực nước công trình quan trắc Q67 tầng qh và Q67a - Đánh giá hiện trạng suy thoái tài nguyên nước dưới đất vùng hà nội
Hình 9 Đồ thị dao động mực nước công trình quan trắc Q67 tầng qh và Q67a (Trang 54)
Hình 12: Đồ thị dao động mực nước tại điểm quan trắc Q.23 (Hải Bối- Đông - Đánh giá hiện trạng suy thoái tài nguyên nước dưới đất vùng hà nội
Hình 12 Đồ thị dao động mực nước tại điểm quan trắc Q.23 (Hải Bối- Đông (Trang 56)
Hình 14:  Đồ thị dao động mực nước tại điểm quan trắc Q.64 (P. Kim Liên- - Đánh giá hiện trạng suy thoái tài nguyên nước dưới đất vùng hà nội
Hình 14 Đồ thị dao động mực nước tại điểm quan trắc Q.64 (P. Kim Liên- (Trang 57)
Hình 16: Đồ thị dao động mực nước tại điểm quan trắc Q.66 (Ngũ Hiệp- Thanh - Đánh giá hiện trạng suy thoái tài nguyên nước dưới đất vùng hà nội
i ̀nh 16: Đồ thị dao động mực nước tại điểm quan trắc Q.66 (Ngũ Hiệp- Thanh (Trang 58)
Hình17: Sơ đồ phễu hạ thấp mực nước ở vùng phía nam Hà Nội - Đánh giá hiện trạng suy thoái tài nguyên nước dưới đất vùng hà nội
Hình 17 Sơ đồ phễu hạ thấp mực nước ở vùng phía nam Hà Nội (Trang 61)
Bảng 8: Kết quả phân tích thành phần hoá học nước dưới đất tầng qh, mg/l - Đánh giá hiện trạng suy thoái tài nguyên nước dưới đất vùng hà nội
Bảng 8 Kết quả phân tích thành phần hoá học nước dưới đất tầng qh, mg/l (Trang 62)
Bảng 9: Kết quả phân tích thành phần hoá học của nước dưới đất tầng qp,mg/l - Đánh giá hiện trạng suy thoái tài nguyên nước dưới đất vùng hà nội
Bảng 9 Kết quả phân tích thành phần hoá học của nước dưới đất tầng qp,mg/l (Trang 63)
Hình 19: Bản đồ hiện trạng nhiễm bẩn Amoni nước dưới đất tầng chứa nước qp - Đánh giá hiện trạng suy thoái tài nguyên nước dưới đất vùng hà nội
Hình 19 Bản đồ hiện trạng nhiễm bẩn Amoni nước dưới đất tầng chứa nước qp (Trang 70)
Hình 20: Hàm lượng vi khuẩn trong nước dưới đất năm 1993 Kết quả nghiên cứu cho thấy: - Đánh giá hiện trạng suy thoái tài nguyên nước dưới đất vùng hà nội
Hình 20 Hàm lượng vi khuẩn trong nước dưới đất năm 1993 Kết quả nghiên cứu cho thấy: (Trang 71)
Bảng 13: Độ oxy hóa nước dưới đất vùng Hà Nội thời kỳ 1996- 2005 - Đánh giá hiện trạng suy thoái tài nguyên nước dưới đất vùng hà nội
Bảng 13 Độ oxy hóa nước dưới đất vùng Hà Nội thời kỳ 1996- 2005 (Trang 72)
Hình 21: Đồ thị biến đổi độ oxyhóa trung bình nước dưới đất ở phía nam sông - Đánh giá hiện trạng suy thoái tài nguyên nước dưới đất vùng hà nội
Hình 21 Đồ thị biến đổi độ oxyhóa trung bình nước dưới đất ở phía nam sông (Trang 73)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w