Tiểu luận: Cho vay kích cầu đối với các doanh nghiệp của ngân hàng thương mại hiện nay xét trong hoàn cảnh kinh tế xã hội tỉnh Bình Dương năm 2008 trình bày lý luận về cho vay doanh nghiệp. Thực tế cho vay kích cầu đối với các doanh nghiệp của ngân hàng thương mại hiện nay xét trong hoàn cảnh kinh tế xã hội tỉnh Bình Dương.
Trang 1Tiểu luận
CHO VAY KÍCH CẦU ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP CỦA NHTM HIỆN NAY XÉT TRONG HOÀN CẢNH KINH TẾ XÃ
HỘI TỈNH BÌNH DƯƠNG NĂM 2008
Trang 2CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP
1 Các khái niệm cơ bản
1.1 Cho vay (còn gọi là tín dụng) là việc một bên (bên cho vay) cung cấp nguồn tài
chính cho đối tượng khác (bên đi vay) trong đó bên đi vay sẽ hoàn trả tài chính cho bên cho vay trong một thời hạn thỏa thuận và thường kèm theo lãi suất
1.2 Lãi suất là tỷ lệ của tổng số tiền phải trả so với tổng số tiền vay trong một
khoảng thời gian nhất định Lãi suất là giá mà người vay phải trả để được sử dụng tiền không thuộc sở hữu của họ và là lợi tức người cho vay có được đối với việc trì hoãn chi tiêu
John Maynard Keynes lập luận rằng lãi suất là một hiện tượng tiền tệ phản ánh mối quan hệ giữa cung và cầu về tiền Cung tiền được xác định một cách ngoại sinh, cầu tiền phản ánh các nhu cầu đầu cơ, phòng ngừa và giao dịch về tiền
Trái với Keynes, các nhà kinh tế học cổ điển trước đó đã coi lãi s uất là một hiện tượng thực tế, được xác định bởi áp lực của năng suất cầu về vốn cho mục đích đầu
tư và tiết kiệ m
bên đi vay gọi là con nợ
1.3 Tín dụng doanh nghiệp là các khoản tài trợ vốn của ngân hàng dành cho
doanh nghiệp để doanh nghiệp bổ sung vốn cho các hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như các dự án đầu tư của mình
2 Các loại hình cho vay đối với hoạt động của doanh nghiệp
Tùy theo góc độ xem xét và tính chất khoản vay mà ta có các loại hình cho vay cơ bản như sau
Nếu xét về tài sản bảo đảm
Cho vay có tài sản bảo đảm
Cho vay tín chấp
Trang 3 Xét về thời hạn vay
Cho vay ngắn hạn
Cho vay trung hạn
Cho vay dài hạn
Xét về tín chất tài trợ
Cho vay bổ sung vốn lưu động
Cho vay đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh
Nếu xét về tính chất trả vốn
Cho vay theo dư nợ giảm dần
Cho vay hạn mức
Vay món
3 Các sản phẩm tín dụng doanh nghiệp hiện đang áp dụng
Cho vay tài trợ xuất nhập khẩu
Cho vay chiết khấu bộ chứng từ hàng xuất
Cho vay tài trợ nhập khẩu
Cho vay bổ sung vốn lưu động trong nước
Cho vay đầu tư tài sản cố định
Cho vay dự án đầu tư
Cho vay đồng tài trợ
Bảo lãnh dự thầu
Bảo lãnh thực hiện hợp đồng
Bảo lãnh hàng thanh toán
Bảo lãnh hàng bảo hành
Bảo lãnh vay vốn
Bảo lãnh nộp thuế nhập khẩu
Bảo lãnh nước ngoài
4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định cho vay
4.1 Lãi suất:
lãi suất món vay có vay trò quyết định đến quan hệ cung cầu vốn vay trên thị
trường, nó có tính chất như chi phí của việc sử dụng khoản tín dụng đó, hay nói cách
Trang 4khác nó là cái giá mà người vay phải trả để được quyền s ử dụng món vay đó Lãi suất trên thị trường tín dụng chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, tuy nhiên, xét theo cơ chế lãi suất thỏa thuận thì các ngân hàng có khuynh hướng cho vay theo lãi suất càng cao đến mức có thể của các doanh nghiệp, và hạn chế với các khoản vay có lãi suất thấp
4.2 Tình hình thanh khoản của ngân hàng
Thông thường, những ngân hàng có thanh khoản tốt, nguồn vốn dồi dào thì các quyết định cho vay sẽ thoáng hơn Ngược lại, các ngân hàng nào thiếu hụt nguồn vốn khả dụng thì buột các ngân hàng thận trọng hơn trong các quyết định tài trợ của mình Tính pháp lý và Tình hình tài chính của doanh nghiệp: đây là tiêu chí quan trọng,
là cơ sở xem xét trong các quyết định cho vay Thông thường, ngân hàng chỉ cho vay đối với các doanh nghiệp được thành lập hợp pháp, cơ cấu tổ chức và nhân sự rõ ràng
Về t ình hình tài chính, các doanh nghiệp phải có các bảo cáo tài chính minh bạch, rõ ràng và kết quả kinh doanh khả quan, có phương án sản xuất kinh doanh hiệu quả bảo đảm có khả năng thanh toán nợ vay và lãi vay khi đến hạn
4.3 Mức độ rủi ro của ngành nghề mà doanh nghiệp đó hoạt động
Với doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực có nhiều rủi ro, chịu tác động nhiều bời các rủi ro thị trường,như kinh doanh sắt thép, xăng dầu, cao su nguyên liệu, nhựa, bất động sản, đầu tư chứng khoán,… thường các ngân hàng rất thận trọng trong các quyết định cho vay Đi kèm trong các quyết định cho vay đối với các doanh nghiệp trong các ngành nghề trên thường đi kèm với các ràng buột về mục đích sử dụng vốn, phương thức giải ngân rất chặt chẽ nhằm giúp ngân hàng kiểm soát được mục đích sử dụng vốn của doanh nghiệp, hạn chế đến mức thấp nhất rủi ro cho ngân hàng
4.4 Các yểu tố khác
Sự can thiệp trong các quyết định cho vay của chính phủ: thông thường, để
thực hiện một số biện pháp ổn định kinh tế vĩ mô hay các chính sách phát triển một số ngành nghề mang tính chất hỗ trợ, chính phủ thường chỉ định các ngân hàng thương mại đặc biệt là các ngân hàng thương mại quốc doanh thực hiện việc cho vay đối với các ngành mà chính phủ cần hỗ trợ mà không xét đến các yếu tố như năng lực tài chính, hiệu quả của phương án,… việc cho vay như thế thường rất rủi ro cho ngân
Trang 5hàng bởi thông thường các dự án được hỗ trợ thường có tính khả thi thấp và rủi ro ngành rất cao
Các chi phí ngầm: tuy là không chính thức tuy nhiên, các chi phí ngầm có ảnh rất
lớn đến các quyết định tài trợ của các ngân hàng đối với doanh nghiệp, chi phí ngầm
có tác động rất xấu đến chất lượng các khoản tín dụng được tài trợ
5 Các rủi ro c ó thể gặp phải khi cho vay đối với doanh nghiệp
5.1 Nhóm các Rủi ro về bên trong
Đó là các rủi ro liên quan đến khả năng quản lý và điều hành doanh nghiệp của chủ doanh nghiệp, các chiến lược đầu tư và các quyết định tài chính của doanh nghiệp
có thể ảnh hưởng rất lớn đến khả năng thu hồi vốn của ngân hàng Thông thường, khi quyết định cho vay, các ngân hàng tiến hành kiểm tra, thẩm định rất kỹ tính pháp lý của doanh nghiệp cũng như năng lực quản lý của chủ doanh nghiệp hoặc ban điều hành của doanh nghiệp được tài trợ Các rủi ro gặp phải có thể là:
Trình độ quản lý của chủ doanh nghiệp
Tính trung thực của các dự án đầu tư: thông thường, các ngân hàng rất
thận trọng khi quyết định tài trợ cho một dự án của doanh nghiệp, đặc biệt
là các dự án mới, do đó, để tránh trường hợp doanh nghiệp sử dụng vốn tài trợ cho các mục đích khác, ngân hàng thường yêu cầu chủ doanh nghiệp chứng minh phần vốn tự có của mình tham gia vào dự án trước khi ngân hàng giải ngân phần vốn tài trợ của mình bên cạnh việc thường xuyên kiể m tra tiến độ thực hiện dự án của doanh nghiệp
Tính khả thi của dự án: v iệc một dự án được quyết định tài trợ còn gặp phải
một rủi ro nữa là t ính khả thi của dự án khi đưa vào hoạt động các rủi ro
mà ngân hàng gặp phải trong trường hợp này là các khả năng xảy ra việc ngân hàng tài trợ một dự án xấu hoặc ngược lại là từ chối một dự án tốt
5.2 Nhóm các rủi r o thị trường ( bên ngoài doanh nghiệ p)
Đó là các rủi ro xuất phát từ thị trường, từ những biến động về giá sản phẩm, nhu cầu sản phẩm hay sự biến động của các yếu tố đầu vào cũng ảnh hưởng rất lớn đến tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp từ đó ảnh hưởng đến khả năng thanh toán các khoản nợ Ngân hàng đến hạn của doanh nghiệp các rủi ro này có thể là:
Trang 6 Biến động giá nguyên vật liệu đầu vào
Sự suy giảm khả năng tr ả nợ của các đối tác quan trọng
Sự sụt giảm giá bán sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường
Thị hiếu của khách hàng đến sản phẩm của doanh nghiệp
6 Tầm quan trọng của tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp
Với vay trò là trung gian tài chính của nền kinh tế, các ngân hàng thương mại có vai trò quan trọng đối với hoạt động của các doanh nghiệp xét về khía cạnh tài trợ vốn, hoạt động cho vay của ngân hàng có các vai trò tích cực sau:
Giúp doanh nghiệp giảm bớt áp lực trong việc tìm kiế m nguồn tài trợ Với sự phát triển của dịch vụ ngân hàng, việc tìm kiế m nguồn tài trợ từ phía ngân hàng thương mại ngày càng thuận tiện và nhanh chóng
Góp phần sàn lọc, loại bỏ các dự án xấu: với trình độ quản lý và công tác thẩm định xác minh hồ sơ vay của các ngân hàng thương mại đã góp phần giúp nền kinh tế sàn lọc và loại bỏ các dự án xấu, không khả thi, tiết tiệm công sức và tiền của của nền kinh tế tránh gây ra lãng phí cho nền kinh tế
Hỗ trợ doanh nghiệp trong việc hoàn thiện cơ cấu tài chính và lành mạnh các báo cáo tài chính Thông qua các quyết định tài trợ và các điều kiện ràng buột của khoản vay, các ngân hàng thương mại thường tư vấn giúp các doanh nghiệp hoàn thiện các báo cáo tài chính của mình, góp phần nâng cao năng lực quản lý tài chính của các doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trang 7CHƯƠNG 2 TÌNH HÌNH PHÁT TRIÊN KINH TẾ VÀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH BÌNH DƯƠNG
1 Tổng quan về tình hình kinh tế các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh
1.1 Khó khăn
Mặc dù năm 2008, tình hình kinh tế xã hội Bình Dương gặp phải nhiều khó khăn trong xu hướng chung của tình hình kinh tế của cả nước sau một thời gian dài lạm phát, bằng hàng loạt các giải pháp can thiệp của chính phủ, nền kinh tế xuất hiện các dấu hiệu của tình trạng giảm phát, kinh tế suy giảm, tỷ lệ thất nghiệp gia tăng ở hầu hết các địa phương Bên cạnh đó, hoạt động ngân hàng của tỉnh gặp rất nhiều khó khăn, lãi suất liên tục tăng, có lúc lên đến 21% năm, các ngân hàng thương mại thắt chặt cho vay, các dự án đầu tư trung dài hạn bị hoãn giải ngân khiến các doanh nghiệp lâm vào tình trạng thiếu hụt vốn đầu tư trầm trọng bên cạnh đó, tình trạng thiếu hụt vốn lưu động phục vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trở nên nghiêm trọng, hàng loạt doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh ngừng sản xuất hoặc sản xuất cầm chừng, nhiều doanh nghiệp nợ lương công nhân, tình trạng mất việc làm diễn ra phổ biến ở các khu công nghiệp
1.2 Các kết quả đạt được
Năm 2008, bên cạnh các doanh nghiệp hoạt động ổn định đầu tư cải tiến mẫu mã sản phẩm, nâng cao trình độ công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh, có 140 doanh nghiệp mới đi vào hoạt động trong đó có 110 doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tập trung vào các ngành sản xuất các sản phẩm giường, ghế, đồ gỗ, trang phục, sản phẩm từ trang phục,…góp phần gia tăng giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh trong năm 2008
Kết quả đạt được từ hoạt động sản xuất công nghiệp:
Trang 8 Tốc độ tăng trưởng của một số ngành sản xuất
Hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệ p
Trang 92 Những tồn tại trong công tác cho vay doanh nghiệp hiện nay
2.1 Trong năm 2008, các ngân hàng tập trung vào sự an toàn của hệ thống mà quay lưng với các khó khăn của các doanh nghiệp
Trong năm 2008, các ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh lâm vào tình trạng thiếu hụt thanh khoản trầm trọng, dẫn đến việc các ngân hàng thương mại ngừng cho vay mới, hủy các cam kết tài trợ đã ký với doanh nghiệp, đẩy các doanh nghiệp lâm vào tình trạng khó khăn về vốn phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của mình ( nhập nguyên vật liệu, trả lương công nhân,…), các dự án đầu tư bị ngưng trệ, Bên cạnh đó, các ngân hàng đẩy nhanh tiến độ điều chỉnh lãi s uất vay, đẩy áp lực tài chính của mình cho các doanh nghiệp gánh chịu trong chính các ngân hàng phải chịu gánh nặng ấy do công tác quản lý thanh khoản yếu kém của mình
2.2 Công tác thẩm định đề xuất cho vay còn quá phụ thuộc vào tài sản bảo đảm, chủ yếu là bất động sản
Những khó khăn thanh khoản tạm thời tại một số TCTD trong những tháng đầu năm 2008 khẳng định một lần nữa là trong điều kiện nền kinh tế đi xuống, việc TCTD nắm giữ nhiều tài sản đảm bảo từ khách hàng vay không làm cho TCTD an toàn hơn
Trang 10Tình hình kinh tế khó khăn làm cho tính thanh khoản của các tài s ản đảm bảo giảm theo và TCTD sẽ khó tìm kiế m được các nhà đầu tư để mua lại các tài sản đảm bảo thu hồi từ người vay, kể cả khi TCTD sẵn sàng chấp nhận giảm giá tài s ản đảm bảo Vì thế, việc các TCTD, nhất là TCTD có quy mô nhỏ, cho khách hàng vay mà chỉ tập trung vào đánh giá tài sản đảm bảo s ẽ chứa đựng những yếu tố rủi ro rất lớn Tài s ản đảm bảo nên được coi là phương tiện cuối cùng và mang tính ràng buộc để người vay gia tăng trách nhiệm trả nợ của mình đối với TCTD, còn bản thân TCTD vẫn cần phải thực hiện các quy trình đánh giá phương án kinh doanh, đánh giá nguồn trả nợ từ phương án kinh doanh một cách chặt chẽ trước khi quyết định cho vay
Quản lý luồng tiền có khả năng thu hồi từ khoản cho vay trong hoạt động tín dụng: Áp lực của suy thoái kinh tế trong thời gian vừa qua và dự báo những diễn biến không mấy thuận lợi trong thời gian sắp tới sẽ làm cho khách hàng của các TCTD gặp nhiều khó khăn hơn trong việc đảm bảo đúng lịch trình trả nợ đã cam kết Có thể nói, hiện nay các TCTD đều quản lý và đánh giá khách hàng dựa nhiều vào các thông tin quá khứ và hiện tại, ví dụ như dựa theo lịch sử trả nợ của khách hàng hoặc dựa vào phương án trả nợ ban đầu mà khách hàng gửi cho TCTD trước khi khoản vay được giải ngân Rất ít TCTD có khả năng thực hiện phân tích khả năng trả nợ thực tế của khách hàng trong tương lai theo tình hình kinh doanh thực tế của khách hàng Đây là một vấn đề rất quan trọng, liên quan đến khả năng dự báo và quản lý rủi ro tín dụng của các TCTD Việt Nam Việc chưa phân tích, đánh giá và định lượng định kỳ các nguồn tiền có thể thu hồi được trong tương lai từ các khoản cho vay làm cho danh mục tín dụng của các TCTD chứa đựng yếu tố không chắn chắn về khả năng thu hồi vốn cho vay Điều này là không có lợi cho TCTD nói riêng cũng như cho hệ thống tài
2.3 Tỷ lệ nợ xấu đang tăng cao mặc dù các ngân hàng đã có nhiều cố gắn trong việc quan lý nợ quá hạn
Tính đến cuối năm 2008, nợ xấu của hệ thống ngân hàng Việt Nam ở khoảng 43.500 tỷ đồng, chiếm 3,5% tổng dư nợ tín dụng
Đây là số liệu có từ hội nghị toàn ngành ngân hàng tổ chức tại Hà Nội hôm qua (30/12)
Trang 11Ngân hàng Nhà nước cho biết, về số nợ xấu nói trên, cơ bản đã được các ngân hàng trích lập đủ dự phòng rủi ro
Liên quan đến tình hình hoạt động của các ngân hàng thương mại, cũng theo thông tin từ hội nghị trên, trong năm 2008 không có ngân hàng nào rơi vào thua lỗ; một số chỉ số chính cho thấy hệ thống vẫn an toàn và đạt kết quả khả quan trong năm này
Cụ thể, đến cuối năm 2008, vốn chủ sở hữu của toàn hệ thống đã tăng 30% so với cuối năm 2007; tỷ lệ an toàn vốn tăng từ 8,9% lên 9,7%; vốn đảm bảo thanh toán thường xuyên lớn hơn mức phải dự trữ bắt buộc; tỷ lệ khả năng chi trả ngắn hạn lớn hơn 100%; khả năng sinh lời tiếp tục được cải thiện do tốc độ tăng tổng tài sản có và vốn chủ sở hữu thấp hơn tốc độ tăng chênh lệch thu – chi
Trong năm 2009, yêu cầu mà Ngân hàng Nhà nước đưa ra là tiếp tục kiểm soát chặt chẽ chất lượng tín dụng, thực hiện tăng trưởng tín dụng phù hợp với mức độ kiểm soát lạm phát
Các ngân hàng thương mại s ẽ thực hiện chuyển dịch cơ cấu tín dụng theo hướng tập trung nguồn vốn cho các dự án có hiệu quả thuộc lĩnh vực sản xuất, xuất khẩu, phát triển nông nghiệp, nông thôn, mở rộng cho vay các doanh nghiệp nhỏ và vừa
Trong năm 2008, theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước, vốn tín dụng đầu tư vào khu vực dân doanh tăng khoảng 35% 37%, lĩnh vực xuất khẩu có mức tăng tương ứng, khu vực sản xuất tăng 34% 36%, khu vực nông nghiệp và nông thôn tăng 30%, cho vay hộ nghèo và đối tượng chính sách khác tăng 40% 42%; riêng khu vực doanh nghiệp nhà nước có mức tăng thấp nhất, chỉ tăng 12% 14%