Phương pháp sơ đồ đoạn thẳng để giải các bài toán đơn ở lớp 2
Trang 1I PHẦ MỞ ĐẦU
I - LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
1/ Xuất phát từ vai trò môn toán ở trường tiểu học:
Mục đích của quá trình dạy học ở bậc Tiểu học là nhằm cung cấp tớihọc sinh những kiến thức cơ bản, toàn thể về tự nhiên và xã hội Nhằm giúphọc sinh từng bước hình thành nhân cách, từ đó trang bị cho học sinh cácphương pháp ban đầu về hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn
Mục tiêu đó được thực hiện thông qua việc dạy học các môn và thựchiện theo định hướng yêu cầu giáo dục, nhằm trang bị cho trẻ những kiếnthức, kỹ năng cần thiết để trẻ tiếp tục học ở bậc Trung học hay cho công việclao động của trẻ sau này
Trong chín môn học, môn Toán đóng vai trò quan trọng, nó cung cấpnhững kiến thức cơ bản về số học, các yếu tố hình học, đo đại lượng, giảitoán, môn Toán Tiểu học thống nhất không chia thành môn khác Bên cạnh
đó khả năng giáo dục của môn Toán rất phong phú còn giúp học sinh pháttriển tư duy, khả năng suy luận, trau dồi trí nhớ, giải quyết vấn đề có căn cứkhao học, chính xác Nó còn giúp học sinh phát triển trí thông minh, tư duyđộc lập sáng tạo, kích thích óc tò mò, tự khám phá và rèn luyện một phongcách làm việc khoa học Yêu cầu đó rất cần thiết cho mọi người, góp phầngiáo dục ý chí, đức tính tốt chụi khó, nhẫn nại, cần cù trong học tập
2/ Xuất phát từ vị trí và tầm quan trọng của hoạt động giải toán trong dạy và học Toán ở Tiểu học:
Giải toán nói chung và giải toán ở bậc Tiểu học nói riêng là hoạt độngquan trọng trong quá trình dạy và học Toán, nó chiếm khoảng thời gian tươngđối lớn trong nhiều tiết học cũng như toàn bộ chương trình môn toán
Việc dạy và học giải toán ở Bậc Tiêu học nhằm giúp học sinh biết cáchvận dụng những kiến thức về toán, được rèn kỹ năng thực hành với những yêucầu được thực hiện một cách đa dạng phong phú
Trang 2Thông qua việc giải toán giúp học sinh ôn tập, hệ thống hoá, củng cốcác kiến thức và kỹ năng đã học Học sinh Tiểu học, nhất là học sinh lớp 1,2,3chưa có đủ khả năng lĩnh hội kiến thức qua lý thuyết thuần tuý Hầu hết các
em phải đi qua các bài toán, sơ đồ trực quan Từ đó mới dễ dàng rút ra kếtluận, các khái niệm và nội dung kiến thức cơ bản Các kiến thức đó khi hìnhthành lại được cũng cố, áp dụng vào bài tập với mức độ nâng dần từ dễ đếnkhó, từ đơn giản đến phức tạp
Thông qua hoạt động giải Toán rèn luyện cho học sinh tư duy logic,diễn đạt và trình bày một vấn đề toán học nói riêng trong đời sống Ở bậcTiểu học nói chung và lớp 2 nói riêng, do đặc điểm nhận thức ở lứa tuổi nàycác em hay làm việc mình thích, những việc nhanh lấy kết quả Vì vậy, trongquá trình giảng dạy toán có lời văn người giáo viên phải biết đưa ra mâuthuẫn, tình huống đặc biệt để khơi gợi trí tò mò của học sinh, khéo léo để các
em phát huy tối đa năng lực sáng tạo độc lập, tự giải quyết các vấn đề mà các
em thấy tự tin, phấn khởi Từ đó các em tự hình thành khái niệm bằng chính
sự tư duy của mình Giải toán có văn không chỉ giúp học sinh thực hành vậndụng các kiến thức đã học vào thực tế rèn luyện khả năng diễn đạt ngôn ngữthông qua việc trình bày lời giải một cách rõ ràng, chính xác và khoa học
Thông qua hoạt động giải toán hình thành nhịp cầu nối toán học trongNhà trường và ứng dụng toán học trong đời sống xã hội Các kiến thức giảitoán rất thực tế và gần gũi với cuộc sống hành ngày của học sinh Qua các ví
dụ cụ thể giúp học sinh nhận biết số và hình, phản ánh các mối quan hệ về sốlượng và hình dạng không gian của thế giới hình học Tổ chức các hoạt độngthực hành tính, đo lường, giải toán có nội dung thực tế để giúp học sinh nhậnbiết toán học có nhiều ứng dụng trong thực tiễn
Qua các hoạt động giải toán, học sinh được luyện tập những kiến thứctổng hợp môn toán và các môn học khác như Tiếng việt, Địa lý, Lịch sử,Khoa học…
Trang 33/ Xuất phát từ vai trò và tầm quan trọng của việc lựa chọn phương pháp giải toán trong hoạt động giải toán:
Việc giải toán có một vị trí quan trọng trong chương trình môn toánTiểu học Để giải được toán, học sinh cần phải biết phương pháp giải toán
Giải toán là một hoạt động bao gồm những thao tác: Xác lập được mốiquan hệ giữa các dữ liệu, giữ cái đã cho và cái phải tìm trong điều kiện củabài toán, chọn được phép tính thích hợp trả lời đúng câu hỏi của bài toán
Khi giải toán ta quan tâm đến hai vấn đề lớn:
+ Nhận dạng bài toán
+ Lựa chọn phương pháp giải thích hợp
Khi học sinh đã nhận được dạng bài toán tức là học sinh đã hiểu và xáclập được mối liên hệ giữa các dữ liệu, giữa cái đã cho và cái phải tìm trongđiều kiện của bài toán Từ đó lựa chọn phương pháp giải phù hợp, ngắn gọn,độc đáo
Mỗi bài toán có lời văn, để tìm được kết quả đúng thì học sinh có thểtìm ra nhiều phương pháp giải khác nhau
Đối với học sinh Tiểu học phương pháp cho các em dễ hiểu hơn cả làphương pháp dùng sơ đồ đoạn thẳng Phương pháp này các em đã được làmquen ở lớp 1 và ít sử dụng Đến lớp 2, 3, 4, 5 các dạng toán có lời văn phongphú hơn, các đại lượng có trong bài toán đa dạng và phức tạp hơn Nên dùng
sơ đồ đoạn thẳng để giải sẽ giúp các em giải được một cách dễ dàng hơn
4/ Xuất phát từ thực trạng của việc dạy và học giải toán bằng phương pháp sơ đồ đoạn thẳng ở trường Tiểu học hiện nay:
Ở trường Tiểu học hiện nay, ngay từ lớp 1, 2, 3 các em đã được gặp rấtnhiều dạng toán được giải bằng sơ đồ đoạn thẳng Nhưng vì trường Tiểu họcmiền núi là học sinh vùng sâu, vùng xa và giáo viên là người nơi khác do vậyquá trình nhận thức và tiếp cận với giải toán còn hạn chế, do đó mà giáo viênchỉ vẽ tóm tắt lên bảng rồi hướng dẫn các em giải, không hướng dẫn kỹ các
Trang 4em vẽ sơ đồ, lên lớp 3, 4, 5 nhiều bài toán có đại lượng toán học đa dạng,phức tạp hơn cần biểu thị bằng đoạn thẳng cho dễ hiểu Nếu không có hình vẽcho học sinh sẽ khó hình dung được cách giải nên bắt buộc các em phải vẽ sơ
đồ Qua thực tế giảng dạy tôi đã thấy các em chưa có kỹ năng biểu thị bàitoán bằng sơ đồ đoạn thẳng, nếu có thì cách biểu diễn đó cũng chưa chínhxác, nên khi nhìn vào sơ đồ chưa toát lên được nội dung cần biểu đạt
Mà theo cấu trúc nội dung chương trình thì lên lớp 2 phần nội dung giảitoán đơn chiếm khoảng 20% thời gian dạy học toán ở lớp 2, trong đó có haitiết bài toán nhiều hơn và bài toán ít hơn được đưa vào dạy độc lập thành từngbài riêng ở tiết 23 tuần 5 tiết 29 tuần 6 đã sử dụng phương pháp sơ đồ đoạnthẳng để hướng dẫn học sinh nắm được mục tiêu của bài Điều càng khẳngđịnh và cho thấy việc giải toán bằng sơ đồ đoạn thẳng không phải là vấn đềđơn giản có thể làm ngay được Chính vì thế mà tỷ lệ học sinh biết cách giảitoán bằng sơ đồ đoạn thẳng còn rất thấp
Xuất phát từ những lý do thực tế đã nêu và cùng phần nào hỗ trợ choviệc dạy giải toán đơn giản ở lớp 2 đạt kết quả cao hơn nên tôi đã chọn đề tài
“ Phương pháp sơ đồ đoạn thẳng để giải các bài toán đơn ở lớp 2” Tôi
không tham vọng để đưa ra được vấn đề lớn mà chỉ mong muốn góp phần nhỏnhằm nâng cao tính tích cực sáng tạo của học sinh trong việc học toán gópphần phát triển tư duy toán học cho học sinh lớp 2
II- MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
1/ Tìm hiểu và hệ thống các phương pháp giải toán thường dùng ở Tiểu học.
2/ Tìm hiểu khái niệm và ứng dụng của phương pháp sơ đồ đoạn thẳng để giải toán đơn ở lớp 2 - chương trình Tiểu học mới.
3/ Trên sơ đồ tìm hiểu và phân tích thực trạng nhằm đề xuất một
số ý kiến và ứng dụng phương pháp sơ đồ đoạn thẳng để dạy giải toán
Trang 5đơn có lời văn ở lớp 2 góp phần nâng cao chất lượng dạy học toán ở Tiểu học.
III- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
1/ Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Đọc giáo trình, tài liệu có liên quanđến nội dung nghiên cứu trong đề tài
2/ Phương pháp quan sát, phương pháp điều tra, tìm hiểu thực trạng củaviệc dạy toán lớp 2- chương trình Tiểu học mới
3/ Phương pháp thực nghiệm: Kiểm tra tính khả thi của việc ứng dụngphương pháp sơ đồ đoạn thẳng để giải các bài toán đơn lớp 2- chương trìnhTiểu học mới
IV- TÓM TẮT NỘI DUNG ĐỀ TÀI:
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận đề tài gồm có 3 phần:
Chương I, Chương II, Chương III
Chương I: Tìm hiểu các phương pháp giải toán thường dùng ở Tiểu
V- MỘT SỐ KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC TRONG ĐỀ TÀI:
Trên cơ sởnghiên cứu tài liệu, đề tài này đã tổng kết, hệ thống các nộidung, các yêu cầu của mạch giải toán đơn lớp 2 ứng dụng sơ đồ đoạn thẳng.Tìm hiểu nội dung và phương pháp dạy học về giải toán lớp 2 Tìm hiểu một
Trang 6số bài được thiết kế theo cách dạy ứng dụng sơ đồ đoạn thẳng để giải toán,tìm hiểu thực trạng việc triển khai dạy học giải toán có lời văn, phát hiện ranhững ưu điểm, khuyết điểm còn tồn tại để tìm hướng khắc phục.
Qua quá trình thực nghiệm, tôi đã đưa ra một số đề xuất và nội dung,phương pháp về giải toán có văn ở lớp 2 bằng ứng dụng sơ đồ đoạn thẳng vàogiải toán và mong muốn góp phần hoàn thiện hơn về phương pháp giải toán
VI- TRIỂN VỌNG NGHIÊN CỨU SAU ĐỀ TÀI:
Nghiên cứu tìm hiểu ứng dụng phương pháp sơ đồ đoạn thẳng vào giảicác bài toán có văn một cách hoàn thiện ở Tiểu học
II- NỘI DUNG ĐỀ TÀI CHƯƠNG I: TÌM HIỂU CÁC PHƯƠNG PHÁP GIẢI TOÁN
THƯỜNG DÙNG Ở TIỂU HỌC
Việc giải toán trong chương trình môn toán ở Tiểu học có vị trí quantrọng Để giải được toán học sinh cần phải biết lựa chọn phương phápgiảitoán phù hợp
Dưới đây là một số phương pháp giải toán thường dùng ở Tiểu học
1/ Phương pháp sơ đồ đoạn thẳng ( sẽ được nêu rõ ở chương II) 2/ Phương pháp rút về đơn vị - phương pháp tỷ số:
Là một phương pháp giải toán dùng để giải các bài toán về tỷ lệ thuận
Trang 7tạo sô, số thập phân, cấu tạo phân số, và cả bài toán có lời văn về hình học,chuyển động đều, toán tính tuổi….
5/ Phương pháp khử:
Để giải được bài toán bằng phương pháp này ta điều chỉnh cho hai giátrị của một đại lượng trong hai cặp là như nhau Dựa vào sự chênh lệch giữahai giá trị của đại lượng còn lại, ta tìm được giá trị tương ứng với một đơn vịcủa đại lượng này
6/ Phương pháp giả thiết:
Dùng để giải các bài toán về tìm hai số khi biết tổng của hai số và kếtquả của phép tính thực hiện trên cặp số hiệu của hai số cần tìm
7/ Phương pháp thế:
Dùng để giải các bài toán về tìm hai số khi biết tổng và hiệu giữa các số đó
8/ Phương pháp ứng dụng nguyên lý Di Ric Lê:
Dùng để giải các bài toán về lý luận
9/ Phương pháp diện tích và các bài toán có nội dung hình học:
Phương pháp diện tích dùng để giải các bài toán về tính diện tích bằngcách vận dụng các tính chất của diện tích, bài toán về nhận dạng các hình học,bài toán về chu vi và diện tích các hình , bài toán về cắt và ghép hình, bài toán về thểtích
10/ Phương pháp tính ngược từ cuối:
Khi giải các bài toán này bằng phương pháp tính ngược từ cuối, ta thựchiện liên tiếp các phép tính ngược với các phép tính đã cho trong bài toán.Kết quả tìm được trong các bước trước chính là thành phần đã biết của phéptính liền sau đó Sau khi thực hiện hết dãy các phép tính ngược với các phéptính đã cho trong đề bài, ta nhận được kết quả cần tìm Phương pháp này tínhngược từ cuối để giải các bài toán số học toán có văn, toán vui và toán cổ
11/ Phương pháp ứng dụng sơ đồ:
Trang 8Trong một số bài toán ở Tiểu học, ta gặp các đối tượng hoặc một sốnhóm đối tượng khác nhau mà giữa chúng có mối quan hệ nào đó Để giảiđược các bài toán dạng này người ta dùng hình vẽ để biểu diễn mối quan hệgiữa các đối tượng…
Khi thực hiện lời giải bằng cách sử dụng sơ đồ nói trên ta nên gọi làgiải bằng phương pháp sơ đồ
Phương pháp này dùng để giải các bài toán số học, toán có văn, toánsuy luận logic
12/ Phương pháp dùng chữ thay số:
Trong khi giải các bài toán, số cần tìm được ký hiệu với biểu tượng nàođó( có thể là? hoặc các chữ a, b, c , x, y…) Từ cách chọn số liệu nói trên,theo điều kiện của đề bài, người ta đưa về một phép tính hay dãy tính chứacác biểu tượng này Dựa vào quy tắc tìm thành phần chưa biết phép tính tatính được số cần tìm
Phương pháp này dùng để tìm thành phần chưa biết của một phép tính,các bài toán về điền chữ số vào phép tính, tìm các chữ số chưa biết của một số
tự nhiên, giải toán có văn
13/ Phương pháp lập bảng:
Thường xuất hiện hai nhóm đối tượng( chẳng hạn tên học sinh và loạihoa, tên người và nghề nghiệp, giải thưởng…) khi giải các bài toán này bằngphương pháp lập bảng, ta thiết lập một bảng gồm các hàng và cột, các cột taliệt kê các đối tượng thuộc nhóm thứ nhất, còn các hàng ta liệt kê các đốitượng thuộc nhóm thứ hai
Dựa vào điều kiện đã cho trong đề bài, ta loại dần (ghi số 0) các ô (làgiao của mỗi hàng và cột) trong bảng Những ô còn lại (không bị loại bỏ) sẽ làkết quả của bài toán
14/ Phương pháp biểu đồ ven:
Trang 9Khi giải một số bài toán, người ta thường dùng những đường cong kín
để mô tả mối quan hệ giữa các đại lượng trong bài toán Nhờ sự mô tả này, ta
đi đến lời giải của bài toán một cách tường minh và thuận lợi Những đườngcong như thế gọi là biểu đồ ven Phương pháp giải toán dùng biểu đồ ven tagọi là phương pháp biểu đồ ven
15/ Phương pháp suy luận đơn giản:
Suy luận đơn giản là những lý luận không dùng công cụ của logic mệnh
đề Khi giải bài toán bằng phương pháp suy luận đơn giản chỉ đòi hỏi học sinhbiết vận dụng sáng tạo nhũng kiến thức toán học đơn giản, những hiểu biết vềthiên nhiên, xã hội và phong tục tập quán trong sinh hoạt hàng ngày để từnhững điều kiện đã cho trong đề bài, phân tích và lập luận lời giải của bàitoán
16/ Phương pháp lựa chọn tình huống:
Trong một số bài toán, người ta đưa ra một số tình huống có thể xảy ra
và yêu cầu ta lựa chọn và yêu cầu ta chọn tình huống hợp lý nhất theo điềukiện của đề bài
Khi giải bài toán bằng phương pháp lựa chọn tình huống ta dần loại bỏcác tình huống đã cho trong đề bài bằng cách chỉ ra các mâu thuẫn với tìnhhuống khác Tình huống cuối cùng không bị loại bỏ ra sẽ chỉ ra nó thoả mãncác yêu cầu của đề bài
Trong các phương pháp trên thì phương pháp sơ đồ đoạn thẳng đượcứng dụng để giải rất nhiều dạng toán ở Tiểu học Chẳng hạn như các bài toánđơn giản, các bài toán hợp và một số dạng toán có văn điển hình
Trang 10CHƯƠNG II:
ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP SƠ ĐỒ ĐOẠN THẲNG ĐỂ GIẢI CÁC
BÀI TOÁN ĐƠN LỚP 2 - CHƯƠNG TRÌNH TIỂU HỌC MỚI
I- KHÁI NIỆM VỀ PHƯƠNG PHÁP SƠ ĐỒ ĐOẠN THẲNG
Phương pháp sơ đồ đoạn thẳng là một phương pháp giải toán ở Tiểuhọc, trong đó mối quan hệ giữa các đại lượng đã cho và đại lượng phải tìmtrong bài toán được biểu diễn bởi các đoạn thẳng
Việc lựa chọn độ dài của các đoạn thẳng để biểu diễn các đại lượng vàsắp xếp thứ tự của các đoạn thẳng trong sơ đồ hợp lý sẽ giúp học sinh tìmđược lời giải một cách tường minh
Phương pháp sơ đồ đoạn thẳng dùng để giải rất nhiều dạng toán khácnhau, chẳng hạn các bài toán đơn, các bài toán hợp và một số dạng toán có lờivăn điển hình
Ví dụ 1: Bài toán đơn
Hàng trên có 5 quả cam, hàng dưới có nhiều hơn hàng trên 2 quả cam.Hỏi hàng dưới có mấy quả cam? (bài toán trang 24 SGK toán 2)
Trang 11Ở bài toán này chỉ đề cập đến cách dùng phương pháp sơ đồ đoạn thẳng
Số quả cam hàng dưới là:
5 + 2 = 7 (quả)
Đáp số: 7 quả
Ví dụ 2: Vườn nhà Mai có 17 cây cam, vườn nhà Hoa có ít hơn vườn
nhà mai 7 cây Hỏi vườn nhà Hoa có mấy cây cam? (Bài 1 trang 30 SGK)
Trang 12Ví dụ 3: Đội văn nghệ lớp 2A có 6 bạn nam Số bạn nữ gấp hai lần số
bạn nam Hỏi đội văn nghệ có bao nhiêu bạn nữ?
Nhìn vào sơ đồ đoạn thẳng trên ta thấy:
+ Nhà Hải nuôi được 8 con gà mái
Trang 13Dựa vào sơ đồ trên ta dễ dàng suy luận được cách giải bài toán như sau:
Để tìm được số gà trống (bằng cách lấy số gà mái trừ đi 3) Sau đó cộng số gàmái và gà trống đã tìm được ta được tất cả số gà của nhà bạn Hải nuôi được
Bài toán giải bằng hai phép tính như sau:
Ví dụ 5: Dạng toán có văn điển hình
Tuổi của hai cha con là 36 Biết rằng cha gấp 5 lần tuổi con Tính tuổicủa mỗi người (Bài 7 trang 83 Sách toán chọn lọc Tiểu học)
36 : 6 = 6 ( tuổi)Tuổi cha là
36 - 6 = 30 (tuổi)
?
36
?
Trang 14Đáp số: Cha: 30 tuổi
Con: 6 tuổi
II - CÁC BƯỚC GIẢI TOÁN BẰNG SƠ ĐỒ ĐOẠN THẲNG:
Để giải bài toán bằng sơ đồ đoạn thẳng ta thường thực hiện qua bốn bướcsau:
Bước 1: Tìm hiểu nội dung bài toán
Việc tìm hiểu nội dung bài toán( đề toán) thường thông qua đọc bài.(dù bài toán cho dưới dạng có lời văn hoàn chỉnh hoặc bằng dạng tóm tắt sơđồ)
Học sinh cần phải đọc kỹ , hiểu rõ đề toán cho biết gì ? Cho biết điềukiện gì ? Bài toán hỏi gì ? Từ đó học sinh xuất hiện hoạt động trí tuệ lôgíc đểtìm ra cách giải bài toán
Bước 2: Tìm cách giải bài toán.
a/ Tóm tắt nội dung bài toán bằng sơ đồ đoạn thẳng:
Tức là dùng các đoạn thẳng cho các số (số đã cho, số phải tìm trong bàitoán) để minh hoạ rõ các mối quan hệ giữa các đại lượng đã cho và đại lượngphải tìm của bài toán
Nhìn vào sơ đồ tóm tắt ta có thể đọc lại được nội dung đề toán
b/ Lập kế hoạch giải toán:
Tức là xác định trình tự tự giải quyết, thực hiện các phép toán số họcdựa trên sơ đồ tóm tắt Phải xác định xem để giải được bài toán này phải cái
gì trước , cái gì sau
+ Dựa vào sơ đồ tóm tắt xem bài toán cho biết cái gì? (yếu tố đã biết)+ Dựa vào sơ đồ xem xét bài toán yêu cầu tìm cái gì? (yếu tố chưabiết)
+ Muốn tìm được yếu tố chưa biết phải dựa trên yếu tố đã biết và phảixác định lời giải phù hợp vơí phép tính
Bước 3: Thực hiện cách giải bài toán.
Trang 15Hoạt động này bao gồm việc thực hiện các phép tính đã nêu trong kếhoạch giải toán và trình bày bài toán.
Bước 4: Kiểm tra cách giải bài toán.
Việc kiểm tra này nhằm phân tích cách giải đúng hay sai, nếu sai ở chỗnào sửa chữa (về cách đặt lời giải, đặt phép tính và tính), sau đó nêu cách giảiđúng thì ghi đáp số Gồm có các hình thức thực hiện như sau:
+ Thiết lập tương ứng các phép tính giữa các số tìm được trong quátrình giải với các số đã cho cuả bài toán
+ Xét tính hợp lý của đáp số
Ví dụ: Bao ngô cân nặng 35kg, bao gạo nặng hơn bao ngô 9 kg Hỏi
bao gạo cân nặng bao nhiêu kg? (Bài 4 trang 100- SGK toán 2)
Bước 1: Tìm hiểu nội dung đề toán (Đọc kỹ đề toán xác định cái đã
cho và cái phải tìm)
Ở đây bài toán cho biết 2 điều kiện:
1/ Bao ngô cân nặng là: 35kg
2/ Bao gạo cân nặng hơn bao ngô là: 9kg
Bài toán gỏi gì? (Hỏi bao gạo cân nặng bao nhiêu kg)
Ở đây ta cần chú ý đến điều kiện thứ 2 là: Số bao gạo nặng hơn số baongô là 9kg
Bước 2: Tìm tòi cách giải bài toán
a/ Tóm tắt nội dung bài toán bằng sơ đồ đoạn thẳng:
Giải:
Ta có sơ đồ sau:
Bao ngô :
Bao gạo:
b/ Lập kế hoạch giải toán:
Dựa vào sơ đồ ta thấy:
35kg
9 kg
?
Trang 16+ Số bao ngô nặng 35kg
+ Số bao gạo nặng hơn số bao ngô 9kg
Bài toán yêu cầu tìm gì?
Muốn tìm được số bao gạo nặng hơn bao nhiêu kg ta làm tính gì? (Talam phép tính cộng lấy 35 + 9)
Bước 3: Thực hiện cách giải bài toán
Giải
Bao gạo cân nặng là:
35 + 9 = 44 9kg)
Đáp số: 44kg
Bước 4: Kiểm tra kết quả
+ Xét tính hợp lý của đáp số: Bao gạo cân nặng 44kg nhiều hơn baongô là 9kg Như vậy bài giải trên là đúng Ghi đáp số: 44kg
III - CÁC VÍ DỤ MINH HỌA VỀ CÁCH ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP SƠ ĐỒ ĐOẠN THẲNG ĐỂ GIẢI TOÁN ĐƠN LỚP 2:
- Bài toán cho biết gì? - Đội 2 trồng được 92 cây
- Đội 1 trồng được 48 cây
- Bài toán hỏi gì? (Tìm số cây của cả 2 đội)
Bước 1: Tìm cách giải bài toán
Trang 17Muốn tìm được số cây của cả 2 đội ta làm thế nào? (cộng số cây đượccủa 2 đội lại).
Bước 2: Trình bày bài giải
Giải
Cả 2 đội trồng được số cây là:
92 + 48 = 140 (Cây)
Đáp số: 140 cây Bước 3: Kiểm tra kết quả
Thiết lập phép tính tương ứng giữa số tìm được và các số đã cho hoặc:
140 - 48 = 92 cây
140 - 94 = 48 câyNhư vậy đáp số đúng ta ghi đáp số
Ví dụ 3: Đặt bài toán theo tóm tắt rồi giải
Vải hoa
Vải xanh:
Hướng dẫn học sinh giải theo các bước sau:
Đề toán dạng này nhằm nâng cao một bước năng lực của học sinh trong hoạtđộng giải toán
Bằng hệ thống câu hỏi phát vấn, giáo viên dẫn dắt học sinh đến với đề toán
Bước 1: Tìm hiểu nội dung bài toán dựa trên tóm tắt Nhìn vào sơ đồ tóm tắt
trên, suy nghĩ xem bài toán cho biết gì?
Tấm vải hoa dài: 92mTấm vải xanh dài: 90mBài toán yêu cầu tìm gì? (Cả 2 tấm vải dài bao nhiều mét)
Đây là dạng toán tìm gì? (Tìm tổng của 2 số)
90m
? m92m
Trang 18Dựa vào tóm tắt trên ta phải đặt đề toán như thế nào?
Ta có thể đặt bài toán theo nhiều cách (nhiều văn cảnh khác nhau nhưng sốliệu cụ thể đã cho không được thay đổi)
Chẳng hạn ta đặt đề toán như sau:
Đặt đề: Tấm vải hoa dài 92m, tấm vải xanh dài 90m Hỏi cả 2 tấm vải dàibao nhiêu mét?
Bước 2: Tìm cách giải toán
Theo sơ đồ trên thì bài toán được giải bằng phép tính gì? (Tính cộng)
Bài toán này thuộc dạng nào? Tìm tổng của 2 số)
Trong dạng toán đơn tìm tổng của 2 số ta thường dùng lời giải như thế nào?(Tất cả hoặc “cả 2”…)
Bước 3: Trình bày bài giải
Giải
Cả hai tấm vải dài là:
92 + 90 = 182(m)
Đáp số: 182 mét vải Bước 4: Kiểm tra kết quả
Thiết lập phép tính tương ứng giữa số đã tìm và số đã cho trong bàitoán:
182 - 92 = 92(m)Hoặc 182 - 92 = 90(m)
Vậy đáp số đúng
VD 4: Đặt thành đề toán theo sơ đồ sau rồi giải bài toán đó:
?