Từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành đề tài: “Xác định mật độ ương nuôi giống Baba hoa Trionyx sinensis trong hệ thống lọc sinh học hoàn lưu”.. Mục tiêu của đề tài Xác định được mật độ
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học nông nghiệp hà nội
hà nội - 2012
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan tất cả các số liệu trong luận văn đều là trung thực và chưa từng được công bố trong tất cả các báo cáo khoa học nào
Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và tất cả các dẫn liệu trong luận văn này đều được trích dẫn một cách rõ ràng
Bắc Ninh, tháng 03 năm 2012
Tác giả
Vũ Huy Hoàng
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước tiên tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới: Viện nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản I và Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã tạo điều kiện cho chúng tôi hoàn thành khoá học này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới TS Nguyễn Đức Cự đã định hướng, chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn
Tôi xin cảm ơn các thầy cô giáo đã truyền thụ những kiến thức cơ bản nhất cho chúng tôi trong quá trình học tập
Tôi xin chân thành cảm ơn các cán bộ Trạm nghiên cứu Biển Đồ Sơn - Viện Tài nguyên và Môi trường biển Hải Phòng, Trại giống Ngọc Hải đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi thực hiện luận văn này
Qua đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới toàn thể người thân, bạn bè đã giúp đỡ động viên tôi trong quá trình học tập
Cuối cùng, với tất cả tấm lòng mình con xin gửi lời biết ơn sâu sắc tới cha mẹ đã có công sinh thành, nuôi dạy và luôn mong con thành đạt
Bắc Ninh, tháng 03 năm 2012
Tác giả
Vũ Huy Hoàng
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG BIỂU v
DANH MỤC HÌNH vi
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vii
I MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu của đề tài 2
1.3 Nội dung nghiên cứu 2
II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Vị trí phân loại và đặc điểm sinh học của baba trơn 3
2.1.1 Vị trí phân loại 3
2.1.2 Sự phân bố 3
2.1.3 Đặc điểm sinh học 4
2.1.4 Bệnh và cách phòng trị 6
2.2 Tình hình sản xuất giống baba 8
2.2.1 Tình hình sản xuất giống baba trên thế giới 8
2.2.2 Tình hình sản xuất giống và nuôi baba ở Việt Nam 9
2.2.3 Cách ương baba hoa giống đang được áp dụng cho tỷ lệ sống cao hiện nay 10
2.3 Ảnh hưởng của mật độ ương nuôi đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của một số đối tượng thủy sản 12
2.4 Hệ thống hoàn lưu lọc sinh học và những ứng dụng của nó trong NTTS 14
2.4.1 Lọc sinh học 14
2.4.2 Hệ thống hoàn lưu 15
2.4.3 Ứng dụng của hệ thống hoàn lưu lọc sinh học trong NTTS 16
Trang 5III VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
3.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 18
3.2 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 18
3.3 Bố trí thí nghiệm 18
3.4 Hệ thống bể nuôi và lọc sinh học 18
3.5 Phương pháp thí nghiệm 20
3.5.1 Thí nghiệm phát hiện 20
3.5.2 Thí nghiệm ương nuôi 20
3.6 Phương pháp xác định các chỉ tiêu 22
3.6.1 Phương pháp quan trắc các yếu tố môi trường 22
3.6.2 Phương pháp quan trắc các yếu tố sinh trưởng và tỷ lệ sống 22
3.7 Xử lý và phân tích số liệu 23
IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 24
4.1 Kết quả và thảo luận 24
4.1.1 Theo dõi quá trình ấp nở 24
4.1.2 Thí nghiệm phát hiện 25
4.1.3 Giai đoạn 1 (Thí nghiệm từ lúc mới nở thành cỡ 15 - 25g) 26
4.1.4 Giai đoạn 2 (Thí nghiệm từ cỡ giống 15 - 25g thành cỡ giống 50 - 80g) 30
4.1.5 Giai đoạn 3 (Thí nghiệm từ cỡ giống nhỏ 50 - 80g thành cỡ giống lớn 100 - 150g) 35
4.1.6 Sơ bộ đánh giá hiệu quả ương nuôi baba bằng công nghệ lọc sinh học 39
4.2 Đề xuất mô hình ương nuôi baba hoa giống từ lúc mới nở đến cỡ giống 100-150g 46
V KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 49
5.1 Kết luận 49
5.2 Đề xuất 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
PHỤ LỤC 52
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 4 1 TLS của các mật độ thí nghiệm sau 10 ngày nuôi 25
Bảng 4 2 Khối lượng trung bình của baba tại các đợt thu mẫu 27
Bảng 4 3 Tăng trưởng khối lượng theo ngày của baba 27
Bảng 4 4 Tỷ lệ sống và hệ số thức ăn của baba ở thí nghiệm giai đoạn 1 29
Bảng 4 5 Giá trị trung bình các thông số môi trường chất lượng nước được quan trắc trong 5 ngày thí nghiệm giai đoạn 1 29
Bảng 4 6 Giá trị trung bình các thông số dinh dưỡng khoáng và hữu cơ được quan trắc trong 5 ngày thí nghiệm giai đoạn 1 (mg/l) 30
Bảng 4 7 Khối lượng trung bình của baba tại các đợt thu mẫu 31
Bảng 4 8 Tăng trưởng khối lượng theo ngày của baba 31
Bảng 4 9 Tỷ lệ sống và hệ số thức ăn của baba ở thí nghiệm giai đoạn 2 33
Bảng 4 10 Giá trị trung bình các thông số môi trường chất lượng nước được quan trắc trong 5 ngày thí nghiệm giai đoạn 2 34
Bảng 4 11 Giá trị trung bình các thông số dinh dưỡng khoáng và hữu cơ được quan trắc trong 5 ngày thí nghiệm giai đoạn 2 (mg/l) 34
Bảng 4 12 Khối lượng trung bình của baba tại các đợt thu mẫu 35
Bảng 4 13 Tăng trưởng khối lượng theo ngày của baba 36
Bảng 4 14 Tỷ lệ sống và hệ số thức ăn của baba thí nghiệm giai đoạn 3 36
Bảng 4 15 Giá trị trung bình các thông số môi trường chất lượng nước được quan trắc trong 5 ngày thí nghiệm giai đoạn 3 38
Bảng 4 16 Giá trị trung bình các thông số dinh dưỡng khoáng và hữu cơ được quan trắc trong 5 ngày thí nghiệm giai đoạn 3 39
Bảng 4 17 Hạch toán kinh tế cho 100 m2 ương baba giai đoạn lúc mới nở đến cỡ 15-25g 41
Bảng 4 18 Hạch toán kinh tế cho 100 m2 ương baba giai đoạn cỡ giống 15 - 25g thành cỡ giống 50 - 80g 43
Bảng 4 19 Hạch toán kinh tế cho 100 m2 ương baba giai đoạn từ cỡ giống nhỏ 50 - 80g thành cỡ giống lớn 100 - 150g 45
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 2 1 Baba hoa trưởng thành 3
Hình 2 2 Nước sản xuất chính của Trionyx sinensis (FAO Thống kê Thủy sản, 2006) 8
Hình 3 1 Hệ thống bể nuôi và lọc sinh học 19
Hình 3 2 Sơ đồ mặt cắt đứng hệ thống bể lọc sinh học 19
Hình 3 3 Sơ đồ bề mặt hệ thống bể lọc sinh học 19
Hình 3 4 Trị bệnh cho baba 21
Hình 3 5 Kiểm tra tốc dộ sinh trưởng baba 21
Hình 4 1 Chuẩn bị ấp trứng và baba bắt đầu nở 24
Hình 4 2 Thu baba mới nở 25
Hình 4 3 Tắm nước muối cho baba 25
Trang 8DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT Viết tắt Viết đầy đủ
1 BOD Tiêu hao ôxy sinh học
2 COD Tiêu hao ôxy hoá học
3 DO Hàm lượng oxy hoà tan trong nước (mg/l)
Trang 9I MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Nuôi trồng thủy sản nước ngọt hiện nay đang đứng trước sức ép rất lớn bởi quá trình Công nghiệp hóa cũng như quá trình đô thị hóa Diện tích nuôi trồng thủy sản nội địa của nước ta hiện nay đã khai thác gần triệt để, không thể tăng thêm được nữa và có nguy cơ giảm xuống do một phần diện tích đã được chuyển đổi sang mục đích khác, một phần diện tích nuôi đã bị ô nhiễm bởi các hoạt động của con người Trong khi đó nhu cầu về thực phẩm ngày càng tăng do sự gia tăng dân số Khi đời sống của nhân dân được nâng cao thì những sản phẩm chất lượng, sạch, an toàn ngày càng được ưa chuộng
Một trong những vấn đề cấp thiết đặt ra cho nghề nuôi trồng thủy sản nói chung và nghề nuôi cá nước ngọt nói riêng là lựa chọn tìm ra được những đối tượng có giá trị kinh tế, có khả năng nuôi công nghiệp cho năng suất cao, phù hợp với điều kiện sinh thái của từng vùng góp phần thay thế cho các đối tượng truyền thống có giá trị kinh tế thấp
Baba là một đặc sản nước ngọt rất có giá trị trên thị trường trong nước
và quốc tế Việt nam là quốc gia có diện tích nuôi Baba rất lớn và phân bố rộng khắp trong toàn quốc từ miền Bắc đến miền Nam với phương pháp và công nghệ nuôi chủ yếu là nuôi trong ao, đầm, hồ hoặc nuôi trong bể xây Đây là các phương pháp đơn giản năng suất không cao, nhưng áp dụng được
mô hình nuôi cho nhiều nông hộ với diện tích đầm hồ lớn Điều quan trọng nhất cho nghề nuôi Baba là con giống chất lượng tốt và sạch bệnh bảo đảm thời vụ và nuôi tăng trưởng nhanh và hệ số thức ăn thấp mới đem lại hiệu quả kinh tế cao Hiện nay thị trường trong nước và quốc tế có nhu cầu tiêu thụ số lượng rất lớn với giá bán của năm 2010 chủ yếu là 300.000đ - 350.000đ/kg đối với loại baba hoa da trơn mầu nâu
Trang 10Con giống hiện nay được các cơ sở sản xuất và nuôi Baba chủ yếu được ương nuôi bằng các ao, đầm, hồ hoặc bể thay nước định kỳ Các phương pháp sản xuất con giống và nuôi thương phẩm kể trên thường bị ô nhiễm gây dịch bệnh cho con giống, hơn nữa mật độ nuôi thưa 5-10 con giống/m2, năng suất không cao và hiệu quả kinh tế thấp Đặc biệt khí hậu miền Bắc và miền Trung Việt Nam về mùa đông kéo dài Baba thường không lớn và chết rét nếu nuôi thương phẩm Còn sản xuất giống cũng chỉ tập trung và mùa xuân hè và khi có được con giống thì mùa vụ nuôi lại rất ngắn Do vậy các vùng miền Bắc và miền Trung Việt Nam các hộ nuôi chủ yếu phải nhập con giống từ miền Nam ra nuôi không chủ động được mùa vụ và chất lượng con giống kém, giá thành cao do phải vận chuyển xa
Từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành đề tài: “Xác định mật độ ương nuôi
giống Baba hoa (Trionyx sinensis) trong hệ thống lọc sinh học hoàn lưu”
1.2 Mục tiêu của đề tài
Xác định được mật độ ương nuôi baba giống thích hợp trong hệ thống lọc sinh học hoàn lưu cho sinh trưởng, tỷ lệ sống, khỏe và sạch bệnh và đạt
hiệu quả kinh tế cao
1.3 Nội dung nghiên cứu
Thử nghiệm ương nuôi giống Baba từ giai đoạn mới nở đến con giống
ở các mật độ khác nhau trong hệ thống bể composite:
- Tính được hệ số FCR theo từng giai đoạn ương nuôi
- Xác định tỷ lệ sống và tốc độ sinh trưởng theo từng giai đoạn ương nuôi
- Theo dõi diễn biến dịch bệnh, biện pháp phòng ngừa và chữa trị khi con giống bị bệnh trong quá trình ương nuôi
- Sơ bộ đánh giá hiệu quả kinh tế
Trang 11II TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Vị trí phân loại và đặc điểm sinh học của baba trơn
2.1.1 Vị trí phân loại
Theo phân loại của FAO, baba trơn có tên tiếng Anh là Soft – shell, có
hệ thống phân loại như sau:
Loài: Trionyx sinensis
Hình 2 1 Baba hoa trưởng thành
2.1.2 Sự phân bố
Trên thế giới baba phân bố ở các nước khu vực Đông Nam Á, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, khu vực miền nam vùng viễn đông Nga
Ở Việt Nam có 3 loài baba:
Baba hoa còn gọi là baba trơn, phân bố tự nhiên chủ yếu ở các vùng nước ngọt thuộc đồng bằng sông Hồng
Baba gai phân bố tự nhiên chủ yếu ở sông, suối, đầm hồ, miền núi phía Bắc
Trang 12Lẹp suối, còn gọi là baba suối, thấy ở các suối nhỏ miền núi phía Bắc,
số lượng ít hơn baba gai, cỡ nhỏ hơn hai loài baba trên
Cua đinh, phân bố tự nhiên ở vùng Tây Nguyên, Đông và Tây Nam bộ, dân các tỉnh phía Bắc gọi là baba Nam bộ, baba miền Nam để phân biệt với các loài baba ở phía Bắc
2.1.3 Đặc điểm sinh học
2.1.3.1 Tính ăn
Baba thuộc loài ăn thức ăn động vật Ngay sau khi nở một vài giờ, baba
đã biết tìm mồi ăn Trong tự nhiên thức ăn chính trong mấy ngày mới nở là động vật phù du (thuỷ trần), giun nước (trùng chỉ) và giun đất loại nhỏ Khi lớn baba ăn cá, tép, cua, ốc, giun đất, trai, hến Trong điều kiện nuôi dưỡng,
có thể cho baba ăn thêm thịt của nhiều loại động vật rẻ tiền khác, đồng thời có thể huấn luyện cho baba biết ăn thức ăn chế biến (thức ăn công nghiệp) ngay
từ giai đoạn còn nhỏ (Ngô Trọng Lư, 2002)
Chúng ăn khỏe vào mùa hè, lượng thức ăn bằng 5-10% trọng lượng thân Mùa đông tháng 12 - 3 lạnh rét lượng thức ăn chỉ bằng 3-5% trọng lượng thân
Baba có khả năng chịu đói, không có hành vi tấn công kẻ thù, lúc gặp địch hại chỉ trốn vào trong hang hay lặn xuống nước, chui vào bụi rậm co rụt đầu lại (FAO, 2006)
2.1.3.2 Sinh trưởng
Baba là động vật lớn chậm, sức lớn liên quan chặt đến điều kiện môi trường như: thời tiết, nhiệt độ, chất lượng thức ăn
Baba hoa lúc mới nở có quy cỡ từ 3 - 6g/ con; Baba gai và baba Nam
bộ cỡ lớn hơn Tốc độ lớn của baba phụ thuộc vào loài, kỹ thuật nuôi và điều kiện môi trường nuôi Từ cỡ giống 100 - 200g/con, sau khi nuôi 6-8 tháng, baba hoa có thể đạt cỡ 0,5 - 0,8kg/con đối với miền Bắc; từ 0,8 - 1kg/ con đối với miền Nam Baba gai nuôi có tốc độ lớn nhanh gấp đôi hoặc trên gấp đôi baba hoa
Trang 13Từ tháng 4 - 11 là thời kỳ lớn nhanh
Trong điều kiện nuôi cho ăn bằng cá mè băm nhỏ, ở nhiệt độ 25 - 28oC,
cỡ nuôi 100g/con, có thể tăng trọng 28g/con/tháng
Khi nhiệt độ xuống thấp dưới 10oC, sức ăn giảm, sinh trưởng chậm Trong cùng điều kiện nuôi dưỡng con cái lớn nhanh hơn con đực (Ngô Trọng Lư, 2002)
2.1.3.3 Sinh sản
Baba đẻ trứng trên cạn, thụ tinh trong Cỏ thể kéo dài thời gian thụ tinh tới 6 tháng, nên khi cho đẻ tỉ lệ con đực thường ít hơn con cái
Mùa sinh sản chính: cuối xuân đầu thu
Đẻ rộ vào những ngày mưa to, sấm chớp nhiều Muốn tìm trứng chỉ cần đi ven các bãi sông, ven đầm hồ, ao thấy rõ đất mới và các vết móng đào đất lấp ổ trứng mới đẻ của baba cái, lấy que nứa nhẹ nhàng lật những lớp đất mỏng phủ phía trên, thấy lỗ nhỏ, đường kính miệng 4 - 5cm, sâu 10 - 15cm Trứng xếp lần lượt từ đáy lên miệng, lúc mới đẻ thường dính vào nhau, vỏ hơi mềm
Đẻ xong baba bò xuống ở nơi gần nhất nghỉ và canh giữ, nhân dân ta thường nói là baba "ấp bóng"
Cỡ 2.000g mỗi lứa đẻ 10 - 15 trứng
Baba mẹ đẻ sau 5 - 7 ngày lại tiếp tục giao phối
Cỡ 4.000 - 5.000g có thể đẻ 4 - 5 lứa trong 1 năm
Thời gian baba đẻ ở miền Bắc từ tháng 4-9, đẻ rộ tháng 5, 6, 7 đôi khi hết tháng 10 dương lịch
Đường kính trứng cỡ lớn 17 - 20mm, nặng 6-6,5g/quả
Nhiệt độ đẻ thích hợp là: 25 - 32oC
2.1.3.4 Tập tính sống
Baba là dộng vật thay đổi thân nhiệt, nhiệt độ thân của baba thay đổi từ
từ và thường theo sau nhiệt độ không khí
Trang 14Chúng thường sống ở đáy sông, suối, đầm, hồ, ao lặn giỏi, có thể bơi
ở đáy nước hàng giờ nhờ vùng họng có nhiều mạch máu Chúng bò nhanh và
đi xa vượt qua đê vào đầm hồ, hay từ ao này sang ao khác
Baba phàm ăn nhưng chậm lớn Chúng thở bằng phổi, sống ở dưới nước
là chính, thích chui rúc vào các hang hốc ở bờ kè đá, thường tập trung ở các đoạn sông tiếp giáp các cửa kênh, rạch dẫn nước vào đồng ruộng Ban đêm yên tĩnh, baba hay lên bờ, ban ngày có thể thấy nó nhô đầu lên mặt nước, có khi bò lên bờ Baba có tính hung dữ như nhiều loài ăn thịt khác, nhưng lại nhút nhát thường chạy chốn khi nghe có tiếng động hay bóng người và súc vật qua lại Khi đói chúng ăn thịt lẫn nhau, có khi một con bị thương chảy máu thì các con khác xúm lại cắn xé một cách tàn bạo
Cách trị:
Cho baba bò lên cạn phơi nắng để diệt nấm, bảo đảm nước ao sạch sẽ Ngâm baba bị bệnh trong dung dịch KMnO4 15 - 20 ppm hoặc CuSO4 7-10 ppm trong 30 phút/ngày, trong khoảng thời gian 3-4 ngày [15]
2.1.4.2 Bệnh loét da
Bệnh do nhiễm trùng vết thương gây ra, do vi khuẩn làm loét da chân,
cổ, nách khi nặng còn lòi cả xương
Cách phòng trị:
- Đảm bảo nước ao luôn sạch sẽ
- Cách ly con bệnh với con khỏe
Trang 15- Ngâm con bị bệnh trong dung dịch thuốc kháng sinh 10 ppm Sulfamid, trong 48 giờ
- Hạn chế baba cắn nhau dễ gây bị thương
2.1.4.3 Bệnh nấm lông (bệnh đốm trắng)
Là bệnh truyền nhiễm do nấm gây ra Bốn chân và viền mép có đốm, lúc đầu xuất hiện ở viền áo sau đó lan rộng thành đốm trắng làm cho da bị thối rữa, rùa kém ăn, hoạt động không bình thường Nếu bệnh phát sinh ở hầu làm nó khó thở, mà chết
Bệnh xảy ra thường vào tháng 5-7
Cách chữa:
Khi có bệnh dùng vôi tẩy ao, đảm bảo nước luôn sạch baba bị bệnh dùng thuốc mỡ xanh Methylen 1%, hay thuốc mỡ Tetracycline 1% bôi vào chỗ nấm Dùng Refamicine bôi trực tiếp vào vết loét sau khi bóp kén ra
2.1.4.4 Bệnh lở cổ
Là loài bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn gây ra, chỗ bị bệnh bị sinh vật bám như miếng bông Cổ hoạt động khó khăn, kém ăn, có con không cử động, nếu không chữa sau vài ngày là chết
Cách chữa: Dùng nước muối 5% tắm cho baba 1 giờ, hay tắm trong xanh Methylen 5 ppm trong 15 phút, hay dùng các loại thuốc mỡ Peliciline bôi vào chỗ bị bệnh
đỏ, mắt đục trắng, bị mù, không bao lâu thì chết
Cách chữa: Khi phát hiện bệnh lập tức cách ly con bệnh, dùng vôi tẩy
ao và thay nước mới Dùng các loại kháng sinh Biomyxin, tetracycline,
Trang 16Peniciline Mỗi cân trọng lượng tiêm 15000 UI (tiêm vào đùi) Nếu thấy không giảm thì dùng tiếp một liều nữa hoặc thay kháng sinh khác Hoặc trộn thuốc vào thức ăn Mỗi cân trọng lượng cho ăn 0,2g Sulfamid, qua ngày thứ hai giảm một nửa, cho ăn liên tục 6 ngày
2.2 Tình hình sản xuất giống baba
2.2.1 Tình hình sản xuất giống baba trên thế giới
Trên thế giới, baba được nuôi phổ biến ở Trung Quốc (Liêu Ninh, Thiểm Tây, An Huy, Chiết Giang, Quảng Đông); Đài Loan; ở phía Nam của vùng Viễn Đông Nga, Hàn Quốc, quần đảo Bonin, Indonesia (Timor), Nhật Bản và Thái Lan Baba cũng đã được đưa vào Tây Malaysia và Mỹ (Hawaii) Riêng ở khu vực miền Nam của Trung Quốc người ta đã thống kê có hơn 1000 trang trại nuôi
và sản xuất baba giống (FAO, 2006) Loài này được ủng hộ cho sản xuất thương mại vì tiềm năng sinh sản của nó cao, thị trường tiêu thụ rộng
Hình 2 2 Nước sản xuất chính của Trionyx sinensis (FAO Thống kê
Thủy sản, 2006)
Trang 172.2.2 Tình hình sản xuất giống và nuôi baba ở Việt Nam
Ở Việt Nam, trước những năm 1990 baba chưa được quan tâm là một đối tượng nuôi Đến năm 1991-1992 giá baba tăng cao nên đã xuất hiện những hộ nuôi đối tượng đầu tiên Đến năm 1992 tỉnh Hải Dương đã có gần
200 gia đình nuôi có kết quả và có hiệu quả kinh tế khá, một số gia đình thuộc các tỉnh Bắc Ninh, Hải Phòng, Hà Tây cũ, Yên Bái học tập làm theo [13]
Năm 1993 tổ chức khuyến ngư trung ương (Vụ Nghề Cá ) Bộ thuỷ sản
cũ đã tổng kết chung và tổng kết kinh nghiệm một số hộ gia đình nuôi khá ở một số tỉnh, tổ chức hội nghị toàn quốc khuyến khích phát triển, sản xuất ba
ba giống, nuôi ba ba thương phẩm trong các gia đình Sau 5 năm khuyến khích hướng dẫn nhân dân đã phát triển lên trên 6.000 hộ Trước đây chỉ phát triển ở một số tỉnh miền bắc, sau 5 năm đã phát triển ra 3 miền Bắc, Trung, Nam [13]
Giống nuôi: Từ một động vật hoang dã, sinh sản tự nhiên, số lượng giống
ít Khi phát động phong trào nuôi chủ động, yêu cầu con giống đặt ra lớn, khuyến ngư đã khuyến khích, tổng kết kinh nghiệm các gia đình nuôi vỗ ba ba
bố mẹ và cho đẻ, tự sản xuất lấy giống nuôi Sau 2 năm một số hộ của Hải Dương cho ba ba đẻ, ương ấp được con giống, đã được mở rộng ra các tỉnh Bắc, Trung, Nam cho đẻ và sản xuất được 30 vạn con năm 1994, đến năm 1997 đã sản xuất được 2 triệu con giống, tăng gấp hơn 6 lần năm 1994 [13]
Cho đến nay, nghề nuôi baba đang rất phát triển trên cả nước Nhiều trang trại nuôi có quy mô lớn hàng vạn con đã được xây dựng (Trại nuôi baba Hải Vân thị trấn Lái Thiêu, huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương là một điển hình) Nhiều hộ nuôi đã nghiên cứu tìm hiểu kỹ thuật nuôi baba ở Thái Lan, sau đó mở rộng hoạt động nuôi baba ở các tỉnh miền Nam Cùng với sự phát triển của nghề nuôi baba thì nhu cầu về con giống trong những năm qua tăng lên nhiều, nhất là con giống có chất lượng, sạch bệnh, tăng trưởng nhanh
Trang 18Cho đến nay từng gia đình có thể tự sản xuất baba giống để nuôi hoặc để bán Những năm vừa qua đã có khoảng 10-15% số hộ gia đình nuôi baba chuyên sản xuất baba giống để bán, có người bán loại từ mới nở đến 1 tháng tuổi là chính, có người mua loại mới nở về ương thành con giống cỡ 15-20g hoặc từ 50-150g để bán kiếm lời, có người mua giống nhỏ về ương thành giống lớn hoặc mua giống về nuôi thành baba thịt Từ năm 1996 trở về trước, giống baba khá đắt nhưng vẫn không đủ cung cấp cho người nuôi Sang năm 1997, giá baba giống giảm hơn các năm trước, một phần do ảnh hưởng của giá baba thịt giảm, một phần do nhiều người sản xuất, lượng baba giống trên thị trường nhiều hơn các năm trước, đồng thời cũng bị ảnh hưởng ít nhiều của baba giống nhập nội thấp
Những năm tới muốn phát triển sản xuất baba giống có lãi nhiều cần đặc biệt lưu ý áp dụng tiến bộ kỹ thuật để tăng năng suất, hạ giá thành sản xuất baba giống Sản xuất baba giống gồm 3 khâu kỹ thuật chủ yếu: nuôi vỗ baba bố mẹ sinh sản, thu trứng và ấp trứng, ương nuôi baba giống
2.2.3 Cách ương baba hoa giống đang được áp dụng cho tỷ lệ sống cao hiện nay
Trong thực tế sản xuất giống baba hiện nay, khi ương từ baba mới nở thành baba giống người ta chia thành 3 giai đoạn ương
Giai đoạn 1: Ương từ lúc mới nở cỡ 4-6g thành cỡ 15-25g
Thời gian ương nhanh từ 25-30 ngày Chăm sóc kém thời gian có thể kéo dài gấp đôi
Ương trong bể nhỏ có diện tích từ 1m2 đến 10m2 Mức nước trong bể ương từ 10-15cm mấy ngày đầu tăng dần đến 40cm vào cuối tháng
Mặt bể có thể thả bèo tây non, sạch cho baba con nằm thở giáp mặt nước
Mật độ ương trung bình 50 con/m2, có thể ương dày 100-150 con/m2nhưng sau 10-15 ngày phải san thưa, cho ăn đầy đủ và thay nước luôn
Trang 19Thức ăn: trùng chỉ, giun đất, thả vào khay đưa xuống bể cho baba ăn vào sáng sớm hoặc chiều tối
Quản lý chăm sóc tốt, tỷ lệ sống đạt 90-100%
Giai đoạn 2: Ương từ cỡ giống 15-25g thành cỡ giống 50-80g, thời gian ương
nuôi cần 2-3 tháng với baba nở đầu vụ
Ương trong bể xây cỡ 20-30m2 hoặc trong ao nhỏ cỡ 50-100m2
Mật độ ương trung bình 25-30 con/m2
Thức ăn: giun đất, cá mè luộc chín, gỡ ra thả xuống bể cho baba vào sáng, chiều
Quản lý chăm sóc tốt có thể đạt tỷ lệ sống 90-100% Ương nuôi kém,
sau 3 tháng chưa đạt quy cỡ nêu trên
Giai đoạn 3: Ương cỡ giống nhỏ 50-80g thành cỡ giống lớn 100-150g, con to trên
200g Thời gian ương cần 2-3 tháng, nếu thả qua mùa đông thì mất 5-6 tháng
Giai đoạn này nuôi trong ao đất lớn nhanh hơn trong bể xây
Diện tích bể ương trên dưới 50m2, diện tích ao ương 100-150m2
Mật độ ương trung bình 7-10 con/m2, cao nhất 15 con /m2
Thức ăn: cá mè luộc, gỡ cho ăn, cũng có thể cá băm nhỏ cho ăn vào
sáng, chiều Quản lý chăm sóc tốt, tỷ lệ sống có thể đạt 90-100%
Nhìn chung, với phương pháp ương nuôi như trên có những ưu điểm và nhược điểm:
Trang 20- Khi con giống chuyển sang nuôi thương phẩm cần phải có thời gian làm quen với thức ăn công nghiệp
Để khắc phục những nhược điểm trên, chúng ta có thể áp dụng hệ thống hoàn lưu lọc sinh học vào ương với mật độ cao
2.3 Ảnh hưởng của mật độ ương nuôi đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của một số đối tượng thủy sản
Mật độ cá thả là nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến năng suất ao và việc sử dụng thức ăn Năng suất cao nhất có thể đạt được với mật độ thích hợp, mật độ nuôi thay đổi sẽ ảnh hưởng đến năng suất cá nuôi Nếu mật độ quá thấp thì sẽ gây lãng phí diện tích và thức ăn trong ao Nếu mật độ quá cao thì sẽ cho năng suất thấp vì cá chậm lớn [1] Đối với các đối tượng thủy sản, thông thường người ta ương nuối nhân tạo với mật độ ở giai đoạn con giống ban đầu rất cao để tận dụng thức ăn, tiết kiệm chi phí chăm sóc; càng đến giai đoạn sau người ta san thưa bớt mật độ ra Tuy nhiên, mật độ như thế nào để đảm bảo cho chúng vẫn sinh trưởng bình thường cho từng đối tượng nuôi vẫn là một dấu hỏi lớn Nhất là đối với các đối tượng có sự nhạy cảm cao khi ương nuôi dày vì chúng thường cạnh tranh thức ăn, không gian sống nên thường cắn nhau: các loài cá dữ, cua biển, baba,
Mật độ nuôi có thể ảnh hưởng đến năng suất và tỷ lệ sống của một số đối tượng nào đó theo nhóm kích cỡ khác nhau Theo tác giả Nguyễn Thị Xuân Thu và cs (2009) khi nghiên cứu Ảnh hưởng của nhiệt độ và mật độ ương tới
tốc độ tăng trưởng của cá Hồi vân (Oncorhynchus mykis) trong hệ thống nuôi
tuần hoàn Thí nghiệm được bố trí ở năm mật độ khác nhau trong các bể composite hình chữ nhật, thể tích 0,8 m3 (2m x 0,4m x 1m): 5.000, 7.000, 8.000, 9.000 và 12.000 con/m3 Kết quả đã chỉ ra rằng: trong cùng điều kiện nuôi như nhau, sự tăng trưởng của cá ở các mật độ khác nhau thì khác nhau, mật độ càng cao thì tốc độ tăng trưởng càng chậm; tốc độ tăng trưởng cao nhất
ở mật độ 5.000 con/m3 (5,55 cm/ ngày và 3,65g/ngày) và thấp nhất ở mật độ
Trang 2112.000 con/m3 (4,92 cm/ngày và 2,27 g/ngày) Tuy nhiên theo kết quả phân tích thống kê cho thấy với P < 0,05 sự sai khác về tăng trưởng của cá giữa các
lô thí nghiệm chỉ có ý nghĩa khi so sánh giữa mật độ 5.000 con/m3 và 9.000 con/m3 và 12.000 con/m3 Vì vậy, mật độ thích hợp ở giai đoạn giống kích cỡ < 0,5 – 6 g/con thích hợp là từ 5.000 – 8.000 con/m3 Khi theo dõi tỷ lệ sống của
cá ở các lô thí nghiệm cho thấy không có sự sai khác đáng kể giữa các mật độ,
kể cả so sánh giữa mật độ thấp nhất (5.000 con/m3) và mật độ cao nhất (12.000 con/m3) Điều đó chứng tỏ mật độ nuôi không ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của cá
ở nhóm kích cỡ này [5]
Theo tác giả Nguyễn Đức Tuân (2007) khi nghiên cứu mật độ nuôi
thương phẩm cá lăng chấm Hemibagrus guttatus ở một số kích cỡ khác nhau
(31,67 g/con và 406,97 g/con) Kết quả thu được là khi mật độ cá thả tăng thì tốc độ tăng trưởng và khối lượng trung bình của cá tại các lần thu mẫu giảm dần Có sự sai khác rõ rệt về tốc độ tăng trưởng theo ngày và khối lượng trung bình của cá tại các lần thu mẫu và khác biệt này có ý nghĩa (P < 0,05) Khi mật độ tăng thì hệ số thức ăn tăng theo và có sự sai khác có ý nghĩa (P < 0,05)
về hệ số thức ăn giữa các mật độ thả cá Đối với cỡ cá thả 406,97 g/con thì năng suất thu hoạch tăng theo mật độ thả, cao nhất tại mật độ thả 2,0 con/m2
là 11.929 kg/ha nhưng lợi nhuận thu được cao nhất tại mật độ thả 1,0 con/m2 Trong khi đó mật độ nuôi 1,5 con/m2 cũng thu được lợi nhuận, thấp hơn mật
độ 1,0 con/m2 nhưng cao hơn khoảng 2,0 triệu đồng/1000m2 so với mật độ 0,5 con/m2 Bên cạnh đó, tỷ suất sinh lời tại mật độ thả 1,5 con/m2 thấp hơn khá nhiều so với mật độ thả 0,5 và 1,0 con/m2 [6]
Mật độ thả giống còn ảnh hưởng đến tăng trưởng, năng suất nuôi của một số đối tượng thủy sản khác như giáp xác, nhuyễn thể Nghiên cứu của tác
giả Yusufzai & Singh (2005) khi ương ấu trùng tôm sú Paneus monodon cỡ
12 mm cới mật độ dao động 100, 200 và 400 con/m2 trong lồng nổi đặt trong
ao cho thấy sau 30 ngày ương thì khối lượng, chiều dài và tốc độ tăng trưởng
Trang 22tuyệt đối của tôm tỷ lệ nghịch với mật độ thả Khối lượng và chiều dài tôm đạt cao nhất tại mật độ thả 100 con/m2 và thấp nhất tại mật độ 400 con/m2 và
có sự sai khác có ý nghĩa thống kê mức P < 0,05 về chiều dài và khối lượng khi thu của tôm giữa các mật độ thả Tỷ lệ sống cũng giảm dần khi mật độ thả tăng nhưng không có ý nghĩa thống kê giữa các mật độ thả [11]
Đối với ấu trùng loài tôm he Nhật Bản Paneus japonicus Coman và ctv
(2004) đã thí nghiệm về sự ảnh hưởng của mật độ đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của chúng Thí nghiệm đã ương với mật độ 48 và 144 con/m2 trong thời gian 30 ngày cho tốc độ tăng trưởng tuyệt đối (Specific Growth Rate) với mật
độ ương 48 con/m2 là 1,93%/ngày, cao hơn 18% so với tôm ương tại mật độ
144 con/m2 là 1,64%/ngày và sự sai khác này có ý nghĩa (P < 0,05) Tỷ lệ sống với mật độ 48 con/m2 đạt 99% so với 93,6% tại mật độ 144 con/m2 và sự sai khác này có ý nghĩa (P < 0,05) [8]
Theo kết quả nghiên cứu của Koch và cộng tác viên (2005) khi ương
điệp Nodipecten subnodosus với các mật độ 1650, 3300 và 6600 con/m2 cho thấy tăng trưởng của điệp giảm dần khi mật độ thả tăng, sự sai khác về tốc độ tăng trưởng này có ý nghĩa thông kê ở mức P < 0,0001 và không có sự sai khác
về tỷ lệ sống giữa các mật độ thả Theo đánh giá của tác giả, tốc độ tăng trưởng của điệp thấp khi ương với mật độ cao là do không đáp ứng được nhu cầu thức
Trang 23*Chức năng và nhiệm vụ của Lọc sinh học
Chức năng và nhiệm vụ của các màng lọc sinh học tuỳ thuộc vào mô hình thiết kế mà thực hiện được các nội dung làm sạch nước thải như sau:
- Chuyển amoniac (NH3), amoni (NH4+) và nitrit (NO2-) thành nitrat (NO3-)
- Chuyển nitrit (NO2-) và nitrat (NO3-) thành khí nitơ (N2)
- Chuyển các chất rắn hữu cơ lơ lửng và hoà tan thành khí cacbonic (CO2)
Ngoài ra, hệ thống hoàn lưu lọc sinh học được thiết kế phải thực hiện được các chức năng khác không phụ thuộc vào các vi sinh vật được nuôi trong hệ thống là:
- Cung cấp thêm oxy hoà tan (DO)
- Loại trừ khí cacbonic (CO2)
- Loại trừ được khí N2, và các loại khí khác H2S, NH3, CH4
- Loại trừ được chất rắn lắng đọng và lơ lửng là sản phẩm của thức ăn thừa và phân không hoà tan trong hệ thống nuôi
*Quản lý chất lượng nước trong hệ thống lọc sinh học
Trong hệ thống lọc sinh học, chất lượng nước tốt phải được duy trì ở mức cao nhất cho sự sinh trưởng, sự phát triển của cá và điều kiện tối ưu cho
sự phát triển của màng lọc sinh học Các yếu tố chất lượng nước cần phải được giám sát thường xuyên bao gồm: nhiệt độ, độ mặn, oxy hoà tan (DO),
pH, amoni, nitrit, nitrat và các chất rắn
2.4.2 Hệ thống hoàn lưu
Theo Thomas M.Losordo, Michel P Masser, James Rakocy (1998), hệ thống hoàn lưu lọc sinh học sử dụng trong ương nuôi là hệ thống thiết bị tự động hoặc bán tự động, đưa nước thải sau nuôi vào bể lọc sinh học và cung cấp nước sau lọc đã được làm sạch trở lại hệ thống bể nuôi Cứ tuần hoàn như vậy tạo thành một hệ thống khép kín hoàn lưu nước cho ương nuôi Các chất thải ô nhiễm hữu cơ và dinh dưỡng liên tục được làm sạch bằng lọc sinh học
Trang 24và chất lượng nước liên tục được duy trì bảo đảm tiêu chuẩn trong quá trình ương nuôi
Hệ thống hoàn lưu phải bảo đảm được cung cấp oxy hoà tan liên tục, đáp ứng được yêu cầu hoạt động sống và phát triển của vi khuẩn trong bể lọc sinh học đạt sinh khối lớn để thực hiện tối đa các phản ứng sinh hoá
Hệ thống thải nước vào và cấp nước ra khỏi bể lọc sinh học luôn cân bằng và loại trừ được các chất rắn lơ lửng và hoà tan, cấp thêm oxy, loại bỏ các khí CO2, N2 và các khí độc khác
Như vậy, hệ thống hoàn lưu là thiết bị đồng bộ trong đó có bể lọc sinh học để xử lý nước thải sau nuôi Đó là hệ thống tự động duy trì chất lượng nước cho các bể ương nuôi cá biển
2.4.3 Ứng dụng của hệ thống hoàn lưu lọc sinh học trong NTTS
Lọc sinh học là một trong số các phương pháp xử lý nước nhằm nâng cao chất lượng nước trước khi sử dụng hoặc trước khi thải ra môi trường xung quanh
Ở nhiều nước trên thế giới, hệ thống lọc sinh học được áp dụng rộng rãi
để xử lý nước thải sinh hoạt và công nghiệp Những ứng dụng hệ thống hoàn lưu lọc sinh học cho nuôi và lưu giữ cá mới được nghiên cứu trong ba thập kỷ gần đây (Michael P M., James R and Thomas M Losordo., 1992), và phát triển mạnh trong hơn 10 năm qua tại Mỹ, Anh, Úc, Canada, Nhật Bản, Đài Loan và Trung Quốc Các hệ thống lọc sinh học áp dụng cho nuôi trồng thuỷ sản đều là các hệ thống lọc sinh học hiếu khí Do trong quá trình hoạt động, lượng oxi cần phải đủ để cung cấp cho quá trình hoạt động của vi khuẩn trong lọc sinh học để đảm bảo thực hiện chức năng chính của lọc sinh học là làm sạch nước Mặt khác, oxi cần phải được bổ sung cho hệ thống nuôi để đảm bảo cho sự sinh trưởng và phát triển bình thường của các đối tượng nuôi thuỷ sản
Ở Việt Nam, Trạm sản xuất giống cá biển tại Cửa Lò, Nghệ An thuộc Viện nghiên cứu Nuôi trồng thuỷ sản 1 là một trong những cơ sở sản xuất giống đầu tiên trong cả nước sử dụng hệ thống lọc sinh học cho ương nuôi cá
Trang 25biển Đây là thiết bị nhập ngoại, công suất lớn nên giá thành sản xuất rất cao,
sẽ không phù hợp nếu chỉ áp dụng cho giai đoạn nuôi cá nhỏ
Từ năm 2004, Viện Tài nguyên và Môi trường Biển đã áp dụng thành công hệ thống lọc sinh học với lớp vật liệu lọc ngập nước vào ương nuôi một
số giống cá biển có giá trị kinh tế như cá Giò, cá Hồng Mỹ và đã đạt được tỷ
lệ sống cao (Nguyễn Đức Cự và cs, 2004) Tiếp thu những thành tựu đó, tại trại giống cá Ngọc Hải - Hải Phòng, từ tháng 2 đến tháng 10 năm 2006 đã áp dụng công nghệ lọc sinh học cho ương nuôi cá Vược từ giai đoạn cá bột lên
cá giống Hiệu quả ương nuôi đạt mật độ cao 1200 con/m3 ở giai đoạn cá giống kích thước 9 - 11 cm, tỷ lệ sống đạt 11 % (Lê Danh Minh, 2006)
Những năm gần đây hệ thống lọc sinh học đã được áp dụng cho nhiều trại giống cũng như các trong nghề nuôi cá cảnh, nuôi cá nước lạnh Tuy rằng dù là thiết bị nhập ngoại hay lắp đặt trong nước, quy mô lớn hay nhỏ đều thể hiện được ưu điểm của công nghệ này Trong thời gian tới việc áp dụng công nghệ này để đưa vào sản xuất giống cũng như nuôi thương phẩm các đối tượng đặc sản, các đối tượng có giá trị cao sẽ là hướng đi hay cho nghề nuôi thủy sản
Trang 26III VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
• Địa điểm: Trại sản xuất giống thủy sản Ngọc Hải – Đồ Sơn – Hải Phòng
• Thời gian nghiên cứu: Từ 05/2011 – 11/2011
3.2 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu
• Đối tượng nghiên: chính là loài Baba hoa
• Vật liệu nghiên cứu:
- Hệ thống bể nuôi (bể composite và bể xi măng)
- Thức ăn chính dùng cho bố trí thí nghiệm: cá biển tạp và cám công nghiệp
- Nguồn giống là trứng Baba hoa đã được ấp tại Trại Hải Vân của Tỉnh Bình
Dương chuyển về Trại Ngọc Hải – Đồ Sơn – Hải Phòng ấp nở thành Baba con
3.4 Hệ thống bể nuôi và lọc sinh học
- Hệ thống bể nuôi gồm các bể composite 0,65m3 và 3,5m3 mỗi loại 4 chiếc, hoàn toàn đáp ứng đầy đủ điều kiện cho ương nuôi baba thử nghiệm từ giai đoạn mới nở đến giai đoạn con giống
- Hệ thống bể lọc sinh học là hệ thống lọc ngập nước được xây dựng với nhiều bể lọc khác nhau Giá thể cho vi khuẩn bám vào được làm từ zeolite
và đá san hô Hệ thống lọc sinh học được bố trí theo hình 3.2 và 3.3
Trang 27Hình 3 1 Hệ thống bể nuôi và lọc sinh học
Hình 3 2 Sơ đồ mặt cắt đứng hệ thống bể lọc sinh học
Hình 3 3 Sơ đồ bề mặt hệ thống bể lọc sinh học
Trang 28- Thời gian thí nghiệm 10 - 15 ngày
3.5.2 Thí nghiệm ương nuôi
- Sau khi có kết quả từ thí nghiệm phát hiện mật độ thí nghiệm ở các giai đoạn được bố trí như sau:
Giai đoạn 1 Thí nghiệm từ lúc mới nở cỡ 4 - 6g thành cỡ 15 - 25g Thời gian
ương nuôi thí nghiệm 1 tháng với 4 mật độ thí nghiệm: MD11: 1.200 con/m2, MD12: 1.000 con/m2, MD13: 800 con/m2 và MD14: 600 con/m2 Thức ăn là trùng chỉ (giun đỏ), thịt cá mè tươi và thịt cá biển tạp
Giai đoạn 2 Thí nghiệm từ cỡ giống 15 - 25g thành cỡ giống 50 - 80g, thời
gian ương nuôi thí nghiệm 2 tháng với 4 mật độ thí nghiệm: MD21: 1.000
con/m2, MD22: 800 con/m2, MD23: 600 con/m2 và MD24: 400 con/m2 Thức
ăn là thức ăn công nghiệp và được bổ sung thêm thức ăn thịt cá biển tạp
Giai đoạn 3 Thí nghiệm từ cỡ giống nhỏ 50 - 80g thành cỡ giống lớn 100 -
150g, thời gian ương cần 2 tháng với 4 mật độ thí nghiệm: MD31: 800 con/m2, MD32: 600 con/m2, MD33: 400 con/m2 và MD34: 200 con/m2 Thức
ăn bao gồm thức ăn công nghiệp (50%) và cá biển tạp (50%)
* Quản lý chăm sóc baba thí nghiệm
Hàng ngày cho baba ăn, đối với thí nghiệm giai đoạn 1 và 2 thì ngày cho ăn 3 lần 7h, 11h30, 16h (riêng thí nghiệm giai đoạn 2 thì cho ăn 1 bữa cám công nghiệp, 2 bữa cá tạp); đối với thí nghiệm giai đoạn 3 thì ngày cho
ăn 2 lần 8h và 16h (một bữa cá tạp, một bữa cám công nghiệp) Khẩu phần ăn
Trang 29của baba được cho ăn như sau: ở giai đoạn 1 cho ăn 12% trọng lượng cơ thể,
ở giai đoạn 2 là 10% trọng lượng cơ thể và ở giai đoạn 3 là 7% trọng lượng cơ thể Thức ăn công nghiệp là cám viên nổi protein thô 36% của công ty Newhope Hà Nội Cá biển tạp được nghiền nhỏ có bổ sung thêm hỗn hợp vitamin, tỏi tươi cho ăn trong ngày, nếu ăn không hết sẽ được bảo quản trong
tủ đá
Hàng ngày cọ rửa bể sạch thức ăn dư thừa và chất thải baba Định kỳ
bổ sung chế phẩm vi sinh vào bể lọc Sau một thời gian nuôi phải tiến hành thay nước của hệ thống lọc
Để tăng diện tích và có chỗ trú ẩn cho baba, tránh hiện tượng cắn nhau, chúng ta có thể sử dụng tàu dừa đã được phơi khô, hoặc sử dụng xốp, làm nơi đậu và trú ẩn cho baba Khi sử dụng các tàu dừa và xốp sẽ làm giảm đáng
kể tỷ lệ hao hụt do cắn nhau, tránh stress cho baba
Hình 3 4 Trị bệnh cho baba Hình 3 5 Kiểm tra tốc dộ sinh
trưởng baba
Trang 303.6 Phương pháp xác định các chỉ tiêu
3.6.1 Phương pháp quan trắc các yếu tố môi trường
Do hệ thống bể nuôi và bể lọc được bố trí hoàn toàn trong nhà, các yếu
tố môi trường trong hệ thống lọc rất ổn định, ít chịu tác động của các yếu tố môi trường bên ngoài nên các thông số được thu và phân tích như sau:
- Nhiệt độ (T0) được đo bằng nhiệt kế thủy ngân, được xác định hàng ngày với tần suất 2 lần/ngày lúc 7h và 17h
- Oxy hòa tan (DO), pH được đo bằng bộ KIT thử nhanh, thu với tần suất
5 ngày liên tiếp trong 1 giai đoạn thí nghiệm (mỗi ngày 2 lần/ ngày lúc 7h và 17h) Giai đoạn 1 đo sau khi tiến hành thí nghiệm được 15 ngày, giai đoạn 2 và giai đoạn 3 đo sau khi tiến hành thí nghiệm được 36 ngày
- Các dinh dưỡng khoáng hoà tan N-NH4+, N-NO2-, N-NO3-, P-PO43- và tiêu hao oxi sinh hoá (BOD5, COD) thu với tần suất 5 ngày liên tiếp trong 1 giai đoạn thí nghiệm (mỗi ngày 2 lần/ ngày lúc 7h và 17h) Giai đoạn 1 thu sau khi tiến hành thí nghiệm được 15 ngày, giai đoạn 2 và giai đoạn 3 thu sau khi tiến hành thí nghiệm được 36 ngày Mẫu được bảo quản và đưa về phòng thí nghiệm của Trạm Biển Đồ Sơn, Viện Tài nguyên và Môi trường Biển phân tích
* Yêu cầu chất lượng nước trong bể ương (theo tiêu chuẩn của lọc sinh học)
(ClarissaL Marti, Pairoj Sirimontaporn):
+ pH: 7,5 - 8,2 + BOD5 < 5 mgO2 / l
+ Oxy hoà tan (DO) > 5 mg/l + COD < 10 mgO2 / l
+ N-NH4+ < 0,5 mg/l + N-NO3- < 100 mg/l
+ N-NO2- < 0,5 mg/l + P-PO4-3 < 1 mg/l
3.6.2 Phương pháp quan trắc các yếu tố sinh trưởng và tỷ lệ sống
Ở giai đoạn 1, định kỳ 15 ngày cân khối lượng 1 lần; ở giai đoạn 2 và 3 định kỳ 20 ngày cân 1 lần Ở giai đoạn 1, mỗi lần cân ngẫu nhiên 52 con, loại bỏ giá trị lớn nhất và nhỏ nhất (chỉ lấy 50 mẫu); ở giai đoạn 2, mỗi lần cân ngẫu nhiên 32 con, loại bỏ giá trị lớn nhất và nhỏ nhất (chỉ lấy 30 mẫu)
Trang 31• Tốc độ tăng trưởng theo ngày W (g/con/ngày)
W =
Trong đó:
W là mức độ tăng trưởng theo ngày
Wtbc, Wtbd là khối lượng của baba (g) trung bình tại thời điểm cuối và đầu của thí nghiệm
T là thời gian nuôi (ngày)
• Tỷ lệ sống (TLS%):
TLS% = X 100
• Hệ số chuyển đổi thức ăn FCR
FCR =
• Giá thành sản xuất (đ/con =
• Tỷ suất sinh lời (%) = x 100
• Lãi = Tổng thu – Tổng chi
3.7 Xử lý và phân tích số liệu
Ghi chép đầy đủ các số liệu thu được trong quá trình thí nghiệm, các số liệu được xử lý theo phương pháp phân tích ANOVA của bằng phần mềm Excell 2003 Các giá trị trung bình kèm theo độ lệch chuẩn (SE) Các so sánh dựa trên giá trị trung bình nhỏ nhất (LSD)
W tbc – W tbd
T
Số baba còn lại + số baba hao hụt do phân tích
Số baba ban đầu Khối lượng thức ăn sử dụng Khối lượng baba tăng thêm
Tổng số con sống cuối giai đoạn Tổng chi phí VN đ
Lãi thu được Tổng vốn đầu tư
Trang 32IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Kết quả và thảo luận
4.1.1 Theo dõi quá trình ấp nở
Để có được số lượng mẫu cần thiết cho việc bố trí thí nghiệm, chúng tôi
đã nhập về hơn 10500 quả trứng baba đã ấp được 40 ngày từ Trại giống Hải Vân, tỉnh Bình Dương về tiếp tục cho ấp trong cát ẩm
Sau 15 ngày ấp ở nhiệt độ trung bình 27,60C trứng bắt đầu nở, tỷ lệ
nở trung bình đạt trên 85%
Trong quá trình theo dõi ấp chúng tôi có một số nhận xét như sau:
- Thời gian baba nở chủ yếu từ chiều tối đến đêm
- Những ngày mưa ẩm thì số lượng baba nở tăng lên rõ rệt
- Sau khi baba đã có dấu hiệu nở bói được 2 - 3 ngày, chúng tối đã kích thích cho baba nở bằng 2 cách:
+/ Phun nước ẩm vào cát
+/ Bới trứng ra khỏi cát
Kết quả đều cho thấy số lượng baba nở tăng nên rõ rệt
Điều này chứng tỏ trong quá trình ấp nở thì độ ẩm có sự ảnh hưởng đến
tỷ lệ nở của baba Và chúng ta có thể kích thích baba nở bằng cách thay đổi đột ngột độ ẩm
Hình 4 1 Chuẩn bị ấp trứng và baba bắt đầu nở
Trang 33* Thu con giống
Baba con sau khi nở sẽ tự bò đi tìm nước (khay nước được bố trí ở vị trí thuận lợi trong khu ấp để baba con dễ dàng tìm thấy) và được thu lại, sau đó tắm trong nước muối 2.5% Sau đó đưa baba vào bể ương
4.1.2 Thí nghiệm phát hiện
Thí nghiệm phát hiện được bố trí ở 4 mật độ khác nhau: 2000 con/m2,
1500 con/m2, 1000 con/m2 và 500 con/m2 Qua 10 ngày theo dõi thí nghiệm với chế độ chăm sóc hoàn toàn như nhau ta thấy có sự khác biệt giữa tỷ lệ sống giữa các mật độ thí nghiệm
Bảng 4 1 TLS của các mật độ thí nghiệm sau 10 ngày nuôi
Mật độ (con/m 2 ) ) 2 0 0 1 0 0 1 0 0 5 0 0 Thời gian nuôi
(ng y) ) 1 0 1 0 1 0 1 0
TLS (%) ) 8 ,5 5 8 ,2 2 9 ,3 3 9 ,6 6
Tỷ lệ sống của baba khi nuôi ở các mật độ 2000 con/m2 và 1500 con/m2
là thấp nhất, chỉ đạt 80,5% và 86,2% Nguyên nhân do có sự cạnh tranh về nơi ở cũng như thức ăn Khi nuôi ở mật độ quá dày thì baba thường cắn nhau
Trang 34gây tổn thương ở chân và cổ làm cho tỷ lệ chết cao Tỷ lệ sống cao nhất ở mật
độ 500 con/m2 (97,6%) sau đó đến mật độ 1000 con/m2 (95,3%) Khi nuôi ở mật độ thấp hơn thì hiện tượng baba cắn nhau cũng giảm đáng kể
Qua thí nghiệm phát hiện chúng tôi đã xác định được mật độ thích hợp
để bố trí cho các thí nghiệm hoàn toàn giống với dự tính ban đầu
4.1.3 Giai đoạn 1 (Thí nghiệm từ lúc mới nở thành cỡ 15 - 25g)
4.1.3.1 Khối lượng trung bình và tốc độ tăng trưởng của baba theo ngày
Kết quả theo dõi tăng trưởng về khối lượng của baba ở thí nghiệm giai đoạn 1 bố trí trong thời gian từ 15/05 đến 14/06/2011 được thể hiện tại bảng 4.2
và 4.3
Nhìn chung tốc độ tăng trưởng của baba trong 15 ngày đầu tiên khá chậm Điều này có thể lý giải là do đây là giai đoạn đầu tiên, baba mới nở đang trong giai đoạn thích nghi với môi trường sống bên ngoài (cả dinh dưỡng lẫn điều kiện chăm sóc) Khối lượng trung bình và tốc độ tăng trưởng
tỷ lệ nghịch với mật độ ương Tại mật độ 1200 con/m2 khối lượng trung bình đạt 7,13 g/con, tốc độ tăng trưởng theo ngày chỉ đạt 0,22 g/ngày trong khi tại mật độ 600 con/m2 khối lượng trung bình baba đạt 9,63 g/con và tốc độ tăng trưởng theo ngày đạt 0,38 g/ngày Ngay trong 15 ngày đầu tiên đã có sự khác biệt có ý nghĩa (P < 0,05) về khối lượng trung bình của baba tại các mật độ ương khác nhau Kết quả phân tích cho thấy khối lượng trung bình của baba chia thành 4 nhóm khác biệt theo 4 mật độ thí nghiệm (Bảng 4.2)
Trong 15 ngày tiếp theo tốc độ tăng trưởng của baba tăng lên rõ rệt Tốc độ tăng trưởng theo ngày của baba tại mật độ ương 600 con/m2 cao hơn
so với 15 ngày trước là 2,03 lần và trung bình cả giai đoạn đạt 0,38 g/con/ngày, tại mật độ ương 1200 con/m2 là 2,45 lần và trung bình cả giai đoạn đạt 0,77 g/con/ngày Khối lượng trung bình và tốc độ tăng trưởng của baba vẫn tỷ lệ nghịch với mật độ ương Tại mật độ ương cao nhất 1200 con/m2 thì khối lượng trung bình của baba sau 15 ngày nuôi tiếp theo đạt
Trang 35trung bình 15,18 g/con, tốc độ tăng trưởng trong 15 ngày nuôi tiếp theo ngày đạt 0,54 g/ngày Khối lượng trung bình và tốc độ tăng trưởng của baba tăng cao dần và cao nhất khi mật độ ương giảm xuống tại 600 con/m2 đạt 21,21 g/con và 0,77 g/con/ngày
Bảng 4 2 Khối lượng trung bình của baba tại các đợt thu mẫu
Kết quả theo dõi Khối lượng baba thí nghiệm gđ 1
15/5 3,80±0,09a 3,94±0,08a 3,85±0,08a 3,90±0,08a
30/5 7,13±0,13a 7,60±0,14b 8,65±0,17c 9,63±0,20d
14/6 15,18±0,32a 16,06±0,26a 18,06±0,33b 21,21±0,37c
Giá trị trung bình ± sai số chuẩn giữa các lần đo
Giá trị trung bình trong cùng một hàng khác nhau nếu có số mũ khác nhau, nếu số mũ giống nhau thì không khác nhau; mọi so sánh ở nức α =0,05 a là mức thấp nhất, d là mức cao nhất
Bảng 4 3 Tăng trưởng khối lượng theo ngày của baba
Tăng trưởng theo ngày (g/con/ngày)
độ 1200 con/m2 và 1000 con/m2, tiếp đến là nhóm 2 tại mật độ 800 con/m2 và nhóm 3 tại mật độ 600 con/m2
Trang 36Đánh giá chung cho thấy, mật độ ương nuôi baba đã có sự ảnh hưởng ngay từ đầu đến khối lượng trung bình và tốc độ tăng trưởng theo ngày của baba Mật độ càng cao thì khối lượng trung bình và tốc độ tăng trưởng theo ngày của baba khi kết thúc giai đoạn thí nghiệm càng giảm Có sự sai khác có ý nghĩa (P<0,05) về khối lượng trung bình của baba giữa các mật độ ương khác nhau
4.1.3.2 Tỷ lệ sống và hệ số thức ăn của baba thí nghiệm giai đoạn 1
Baba sau khi nở được 2-3 ngày thì tập cho ăn lòng đỏ trứng gà chín Sau đó chuyển dần sang thức ăn tươi sống là thịt cá biển tươi Theo kinh nghiệm của những người ương giống baba thì cho ăn lòng đỏ trứng vào giai đoạn đầu sẽ tốt cho baba vào giai đoạn đầu vì chúng đầy đủ chất dinh dưỡng Qua theo dõi, baba thích nghi khá nhanh với loại thức ăn tươi sống, chúng rất phàm ăn
Kết quả tỷ lệ sống và hệ số thức ăn của baba thí nghiệm mật độ ương baba giai đoạn 1 được trình bày ở bảng 4.4 Tỷ lệ sống của baba tại các mật độ thí nghiệm nhìn chung khá cao, dao động từ 86,23 đến 90,2% Trong quá trình thí nghiệm số baba chết chủ yếu do hiện tượng cắn nhau và bỏ ăn Càng nuôi ở mật
độ dày thì hiện tượng này xảy ra càng nhiều Điều này hoàn toàn đúng như tập tính sinh sống ngoài tự nhiên của baba Tỷ lệ sống của baba tỷ lệ nghịch với mật
độ ương nuôi, có sự khác biệt đáng kể về tỷ lệ sống giữa các mật độ Tỷ lệ sống đạt cao nhất khi ương ở mật độ 600con/m2 đạt 90,2% tiếp đó là tại mật độ 800con/m2, 1000con/m2 (89,55%, 87,36%) và thấp nhất tại mật độ 1200 con/m2(Bảng 4.4)
Hệ số thức ăn của baba cũng tăng dần theo mật độ ương nuôi Hệ số thức ăn thấp nhất tại mật độ ương 600 con/m2 đạt 1,56 và cao nhất tại mật độ 1200con/m2 đạt 2,01 Trong suốt quá trình ương nuôi không xuất hiện bệnh
Trang 37Bảng 4 4 Tỷ lệ sống và hệ số thức ăn của baba ở thí nghiệm giai đoạn 1
Bảng 4 5 Giá trị trung bình các thông số môi trường chất lượng nước
được quan trắc trong 5 ngày thí nghiệm giai đoạn 1
DO
BOD5 (mgO 2 /l)
COD (mgO 2 /l)
Nhiệt độ là một trong những yếu tố môi trường có sự ảnh hưởng tới tốc
độ sinh trưởng của baba và được kiểm tra hàng ngày Qua theo dõi, kết quả cho thấy nhiệt độ trung bình trong suốt quá trình thí nghiệm đạt giá trị 27,13 0C vào 7h và 27,740C vào lúc 17h Đây là khoảng nhiệt độ thích hợp cho sự phát triển của baba
Trang 38Dinh dưỡng khoáng hoà tan chứa nitơ, phốtpho như amoni, nitrit, nitrat, phốt phát và COD và BOD5 là các thông số rất quan trọng trong quan trắc về chất lượng nước cho nuôi trồng thuỷ sản Chúng được sinh ra trực tiếp
từ sự vô cơ hoá các hợp chất hữu cơ có nguồn gốc từ thức ăn dư thừa hoặc từ sản phẩm bài tiết của cá trong quá trình sinh trưởng Hàm lượng của các thông số này có ý nghĩa quyết định đến chất lượng nước trong ao nuôi Trong giai đoạn này, thức ăn của baba cá biển tạp, tuy nhiên do thường xuyên vệ sinh loại bỏ thức ăn thừa nên nguồn gốc các hợp chất hữu cơ trong bể nuôi chủ yếu là
từ sản phẩm bài tiết của baba với lượng không đáng kể Vì vậy, các thông số dinh dưỡng và hữu cơ trong giai đoạn này có hàm lượng thấp, được duy trì bảo đảm chất lượng nước và nằm trong giới hạn cho phép; các thông số của hệ thống
bể lọc đều thấp hơn hệ thống nước thải (Bảng 4.5 và Bảng 4.6)
Bảng 4 6 Giá trị trung bình các thông số dinh dưỡng khoáng và hữu cơ
được quan trắc trong 5 ngày thí nghiệm giai đoạn 1 (mg/l)
4.1.4 Giai đoạn 2 (Thí nghiệm từ cỡ giống 15 - 25g thành cỡ giống 50 - 80g)
4.1.4.1 Khối lượng trung bình và tốc độ tăng trưởng của baba theo ngày
Kết quả về khối lượng trung bình và tốc độ tăng trưởng theo ngày của baba thể hiện tại bảng 4.7 và 4.8
Trang 39Kết quả phân tích cho thấy có sự sai khác rõ rệt về khối lượng trung bình của baba trong tất cả các lần thu mẫu tại các mật độ nuôi khác nhau và sự sai khác này có ý nghĩa (P<0,05) Khối lượng trung bình và tốc độ sinh trưởng theo ngày của baba có chiều hướng giảm dần khi mật độ ương tăng lên
Bảng 4 7 Khối lượng trung bình của baba tại các đợt thu mẫu
Kết quả theo dõi Khối lượng baba thí nghiệm gđ 2
Giá trị trung bình ± sai số chuẩn giữa các lần đo
Giá trị trung bình trong cùng một hàng khác nhau nếu có số mũ khác nhau, nếu số mũ giống nhau thì không khác nhau; mọi so sánh ở nức α =0,05 a là mức thấp nhất, d là mức cao nhất
Bảng 4 8 Tăng trưởng khối lượng theo ngày của baba
Tăng trưởng theo ngày (g/con/ngày)
Trang 40độ tăng trưởng theo ngày của baba nhìn chung không cao, chỉ đạt 0,52 g/con/ngày tại mật độ 1000 con/m2 và tăng dần lên 0,67 g/con/ngày tại mật độ
400 con/m2
Trong 20 ngày tiếp theo khối lượng trung bình và tốc độ tăng trưởng theo ngày của baba ở mật độ 1000 con/m2 và 800 con/m2 không có sự sai khác nhưng lại có sự sai khác có ý nghĩa (P<0,05) với 2 mật độ nuôi còn lại Khối lượng trung bình cao nhất tại mật độ 400 con/m2 44,07g/con và thấp nhất tại mật độ 800 con/m2 chỉ đạt 39,45g/con Tuy nhiên nếu so sánh với cùng mật độ ở thí nghiệm giai đoạn 1 thì đã tăng đáng kể Kết quả về tốc độ tăng trưởng theo ngày của baba cúng cao nhất tại mật độ 400 con/m2 đạt 0,67g/con/ngày nhưng lại không lớn hơn so với đợt đo trước và thấp nhất tại mật độ 1000 con/m2 đạt 0,59 g/con/ngày
Khi kết thúc thí nghiệm khối lượng trung bình của baba có sự sai khác
có ý nghĩa và phân thành 4 nhóm riêng biệt Tuy nhiên sự sai khác giữa các nhóm mật độ liền nhau là không nhiều, trung bình chỉ sai khác từ 2-4g Khối lượng trung bình của baba cao nhất tại mật độ 400 con/m2 đạt 60,4 g/con, trong khi tại mật độ 800 con/m2 là 51,16g/con (sai khác gần 10g)
Tốc độ tăng trưởng trung bình của baba tính cho cả giai đoạn thí nghiệm cao nhất tại mật độ 400 con/m2 đạt 0,72 g/con/ngày và thấp nhất tại mật độ 800 con/m2 chỉ đạt 0,57 g/con/ngày
4.1.4.2 Tỷ lệ sống và hệ số thức ăn của baba thí nghiệm giai đoạn 2
Baba trong giai đoạn thí nghiệm này bắt đầu tập cho ăn kèm với thức
ăn công nghiệp dạng viên nổi Newhope 636 hàm lượng protein thô 36% và thức ăn này chiếm 1/3 khẩu phần trong ngày (cho ăn vào bữa trưa) Qua theo dõi, sau 3 ngày baba đã bắt đầu ăn quen với thức ăn công nghiệp
Tỷ lệ sống và hệ số thức ăn của baba được thể hiện trong bảng 4.8 Kết quả theo dõi trong suốt quá trình thí nghiệm cho thấy, tỷ lệ sống của baba nhìn chung thấp chỉ đạt từ 71,48 % ở mật độ 800 con/m2 đến 80,08