Trong giáo dục đại học việc đánh giá và đưa ra các tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục đại học được tiến hành ở nhiều cấp độ khác nhau, trên những đối tượng khác nhau, với những mục đí
Trang 1Tiểu luận: Bình luận về Thang bậc đánh giá Chất lượng dạy học đại học.
Lấy ví dụ minh hoạ.
Năm 1989, Jean Marie De Kelete cho rằng: “Đánh giá có nghĩa là thu thập một tập hợp thông tin đầy đủ, thích hợp có giá trị và đáng tin cậy
và xem xét mức độ phù hợp giữa tập hợp thông tin này và tập hợp tiêu chí phù hợp với các mục tiêu định ra ban đầu hay điều chỉnh trong quá trình thu thập thông tin nhằm ra một quyết định”.
Như vậy để đánh giá được đối tượng chúng ta cần phải có những thông tin đầy đủ, chớnh xác, có giá trị về đối tượng để so sánh với các
mục tiờu định ra ban đầu nhằm mục đích đưa ra những quyết định có liên
quan đến mục tiêu đó
Trong giáo dục đại học việc đánh giá và đưa ra các tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục đại học được tiến hành ở nhiều cấp độ khác nhau, trên những đối tượng khác nhau, với những mục đích khác nhau, như các đánh giá và tiêu chí đánh giá về hệ thống giáo dục, chương trình giáo dục, giảng viên, sinh viên, đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục … Trong khuôn khổ bài viết tiểu luận này tôi chỉ xin được đưa ra các bình luận về tiêu chí đánh giá chất lượng việc dạy và việc học ở bậc đại học
Trang 2PHẦN 1.
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ
CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
1 Mục đích
Đưa ra các tiêu chí đánh giá là một khõu không thể thiếu được trong quá trình đánh giá nói chung và quá trình dạy học đại học nói riêng.Việc đưa ra các tiêu chí đó nhằm mục đích:
Cho giảng viên và sinh viên thấy rừ được các mục tiêu và tiêu chí của các quá trình dạy và học, từ đó cố gắng thực hiện tốt các mục tiêu đó
Làm sáng tỏ mức độ đạt được và chưa đạt được về mục tiêu dạy
và học, phát hiện nguyên nhõn sai sót, giúp giảng viên điều chỉnh lại hoạt động dạy học, sinh viên điều chỉnh lại hoạt động học tập
Tiêu chí đánh giá chất lượng quá trình học tập là cơ sở để công khai hoá các nhận định về năng lực và kết quả học tập của mỗi sinh viên
và tập thể lớp, tạo cơ hội cho sinh viên phát triển kĩ năng tự đánh giá, giúp cho sinh viên nhận ra sự tiến bộ của mình, khuyến khích, động viên sinh viên trong quá trình học tập
Giảng viên dựa và các tiêu chí có cơ sở thực tế để nhận ra những điểm mạnh và điểm yếu của mình, trên cơ sở đó tự điều chỉnh, tự hoàn thiện hoạt động dạy, phấn đấu không ngừng nõng cao chất lượng và hiệu quả quá trình dạy học
Như vậy, đề ra các tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục đại học không chỉ nhằm mục đích là cơ sở để nhận định thực trạng dạy của giảng viên và học của sinh viên ở bậc đại học mà cũn định hướng quá trình dạy
và học đó
Trang 32 Ý nghĩa
Dựa trên cơ sở các tiêu chí đánh giá các đối tượng có liên quan tới chất lượng dạy học là giảng viên, sinh viên và cán bộ quản lý giáo dục sẽ
có được những thông tin “liên hệ ngược”
a Đối với sinh viên
Việc so sánh với các tiêu chí đánh giá ban đầu sẽ cho sinh viên thấy những thông tin “liên hệ ngược trong”, giúp sinh viên điều chỉnh hoạt động học của mình
Về mặt giáo dục: tiêu chí đánh giá có tác dụng điều chỉnh, uốn nắn,
tạo dựng tớnh cách của sinh viên
Về mặt giáo dưỡng: Sinh viên thấy được mình đã tiếp thu những
phần mình đã học đến mức độ nào, có những khiếm khuyết nào cần phải
bổ xung để đáp ứng được các tiêu chí, yêu cầu của quá trình học tập
Về mặt phát triển năng lực nhận thức: Sinh viên đánh giá khả năng
thao tác trí tuệ của mình đến đâu, như là ghi nhớ, tái hiện, khái quát hoá,
hệ thống hoá, khả năng sáng tạo và vận dụng tri thức của mình vào tình huống thực tế như thế nào
b Đối với giảng viên
Tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục giúp cho giảng viên đánh giá
và điều chỉnh hoạt động dạy của mình:
Giúp cho giảng viên thấy được sinh viên có những sự tiến bộ hay sút kém để động viên, giúp đỡ, uốn nắn, điều chỉnh kịp thời
Thúc đẩy giảng viên xem lại phương pháp, hình thức tổ chức dạy học của mình Từ đó có nhu cầu cải tiến phương pháp và hình thức tổ chức hiện hành
Trang 4c Đối với cán bộ quản lý
Là cơ sở để đánh giá thực trạng dạy và học trong một đơn vị giáo dục để có những quyết định chỉ đạo kịp thời, uốn nắn, động viên khuyến khích giảng viên và sinh viên thực hiện tốt các mục tiêu dạy học
PHẦN 2.
NỘI DUNG CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG
GIÁO DỤC ĐẠI HỌC LIÊN HỆ THỰC TẾ.
Chất lượng giáo dục trường đại học là sự đáp ứng mục tiêu do nhà
trường đề ra, đảm bảo các yêu cầu về mục tiêu giáo dục đại học của Luật Giáo dục, phù hợp với yêu cầu đào tạo nguồn nhõn lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và cả nước
Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường đại học là mức độ
yêu cầu và điều kiện mà trường đại học phải đáp ứng để đạt được công nhận đạt tiêu chuẩn giáo dục
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về lĩnh vực đánh giá và các bộ tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục đại học, nhưng về cơ bản nội dung các tiêu chí gồm các tiêu chí đánh giá về kiến thức, kĩ năng và thái độ Dưới đõy chỉ là một trong những quan niệm về tiêu chí đánh giá chất lượng dạy học đại học và dưới góc độ cá nhõn cũng xin được áp dụng và
so sánh vào môn học Địa lý và một số môn học thuộc các lĩnh vực khác
1 Tiêu chí đánh giá kiến thức
Cần phải xác định được sinh viên lĩnh hội được ở mức độ nào, theo thang mức độ của Bloom:
Trang 5Thang mức độ về tiêu chuẩn đánh giá của Bloom được trình bày theo các dạng bậc thang để thể hiện rằng các mức độ đánh giá và việc áp dụng các thang bậc đánh giá hoàn toàn có thể linh hoạt theo từng mục đích, từng đối tượng, từng thời điểm, từng hoàn cảnh cụ thể …
Theo Bloom kiến thức trong từng môn học bao gồm các kiến thức
cơ bản, tri thức cơ sở của chuyên ngành, tri thức chuyên ngành và tri thức công cụ trên lí thuyết và trong thực tiễn, các mức độ lĩnh hội kiến thức bao gồm:
Biết: là thang bậc nhận thức ở mức độ đơn giản nhất của kết quả
học tập trong lĩnh vực nhận thức, tức là biết được những dấu hiệu cơ bản theo mức độ từ đơn giản đến phức tạp của đối tượng đã được đọc, nghe,
nhìn thấy Qua đó người học phải nhớ, nhắc lại được lại các dấu hiệu của
đối tượng đó Ví dụ: thuộc một bài thơ, nhớ được một sự kiện, một biểu tượng, biết được cấu trúc của hạt nhõn nguyên tử, …
Ở trình độ của các sinh viên đại học thì đõy là một mức độ đơn giản, tối thiểu mà các sinh viên có thể dễ dàng đạt được
Đối với môn Địa lý, “biết” tức là biết được các dấu hiệu cơ bản của đối tượng địa lý, ghi nhớ được một số địa danh, số liệu, các khái niệm cơ bản, …
BiÕt
HiÓu
VËn dông
Ph©n tÝch
§¸nh gi¸ Tæng hîp
Trang 6Hiểu: là đi sõu vào bản chất vấn đề, như là so sánh các điểm giống
nhau và khác nhau của các đối tượng, giải thích sự khác nhau của các đối tượng, chứng minh, …
Nhìn chung đây là một mức yêu cầu không khó đối với các sinh viên, đặc biệt là những kiến thức thuộc về chuyên ngành
Trong môn học địa lý, các yêu cầu của mức độ “hiểu” vấn đề bao gồm các yêu cầu như là chứng minh các quy luật địa lý (quy luật thống nhất và hoàn chỉnh của lớp vỏ địa lý, quy luật địa đới, quy luật phi địa đới, … ), so sánh và giải thích sự giống và khác nhau của các đối tượng, hiện tượng địa lý (so sánh nội lực và ngoại lực, quần cư nông thôn và quần cư thành thị …)
Áp dụng: là sử dụng kiến thức ( bao gồm các quy tắc, phương pháp,
khái niệm, nguyên lí, định luật và lí thuyết …) và kĩ năng đã học để giải quyết những tình huống, thậm chí là những tình huống mới nảy sinh trong thực tế
Nếu như nắm chắc được các kiến thức lý thuyết và kĩ năng thì việc
áp dụng các kiến thức và kĩ năng vào các tình huống cụ thể là không khó Theo đánh giá chủ quan của cá nhõn thì thấy rằng trong hệ thống giáo dục Việt Nam hiện nay thì sinh viên Việt Nam nhìn chung là được trang bị khá tốt về kiến thức, tuy nhiên các kĩ năng thì chưa được nhiều và thường xuyên cho nên nhiều sinh viên cũn thấy khó khăn khi giải quyết các tình huống nảy sinh trong hoạt động thực tế
Trong môn Địa lý việc “áp dụng” các kiến thức đã học vào thực tế trong thể hiện khá rừ trong quá trình đi thực địa, ví dụ như sinh viên đã được học các kiến thức về bản đồ, cách thành lập, vẽ một bản đồ địa hình trong môn học bản đồ và các kiến thức đó để đo vẽ, tớnh toán, xử lý số liệu để hình thành bản đồ địa hình một khu vực nhỏ nào đó; hoặc là
Trang 7phương pháp thu thập và xử lý các số liệu, thông tin về một khu vực địa lý
cụ thể, …
Phân tích: tức là chia nhỏ vấn đề thành các phần để tỡm ra nguyên
nhõn hay kết quả của hiện tượng, tỡm kiếm những bằng chứng cho một luận điểm … (những điều này sinh viên chưa được cung cấp trước đó)
Nhìn chung đõy là một tiêu chí khá cao so với các tiêu chuẩn biết, hiểu, vận dụng vì nó đòi hỏi sự thấu hiểu cả nội dung và hình thái cấu trúc
của vấn đề Đối với yêu cầu này sinh viên phải có tư duy và các kĩ năng cần thiết, như là cần phải xác định xem nên chia vấn đề theo những hướng nào, thành các bộ phận như thế nào, phõn tích những khía cạnh nào của vấn đề, phõn tích vấn đề đó đến đâu, …
Trong môn Địa lý, yêu cầu “phõn tích” cũng là một yêu cầu khá cao và rất cần thiết đối với sinh viên, các yêu cầu về phõn tích khá đa dạng Ví dụ như: phõn tích ảnh hưởng của một nhõn tố địa lý tới một hoặc nhiều nhõn tố khác, phõn tích ảnh hưởng của nhiều nhõn tố tới sự hình thành và phát triển của một nhõn tố, phõn tích mối quan hệ giữa các đối tượng địa lý, …
Ví dụ cụ thể: Phõn tích mối quan hệ giữa “cung” và “cầu” trong quy luật “cung - cầu”
Tổng hợp: là khả năng sắp xếp các bộ phận lại thành một tổng thể
mới, yêu cầu người học vận dụng phối hợp các kiến thức đã có để giải đáp một số vấn đề khái quát hơn bằng sự suy nghĩ sáng tạo của bản thõn
Tiêu chí đánh giá này nhấn mạnh tới các hành vi sáng tạo, đặc biệt tập trung chủ yếu và việc hình thành các mô hình hoặc cấu trúc mới Với yêu cầu này yêu cầu sinh viên phải biết huy động các kiến thức đã có và tổng hợp thành vấn đề mang tớnh khái quát cao hơn, có thể vấn đề đó là
Trang 8vấn đề mới mà người học chưa được biết do quá trình tổng hợp các kiến thức đã có tạo nên
Yêu cầu “tổng hợp” các kiến thức địa lý thể hiện khá rừ trong việc hình thành các quy luật Ví dụ trong thực tế mọi người đều thấy rằng các địa hình, khí quyển, thuỷ quyển, thổ nhưỡng quyển và sinh quyển có sự thay đổi từ xích đạo về hai cực, từ đó phát biểu các biểu hiện của quy luật địa đới là sự thay đổi có quy luật về các thành phần địa lý và cảnh quan địa lý theo vĩ độ, …
Đánh giá: là yêu cầu sinh viên phải đưa ra các nhận định, phán
đoán về ý nghĩa của một kiến thức, giá trị của một tư tưởng, vai trò của một học thuyết, giá trị của một vấn đề mới được đặt ra trong quá trình học tập… Việc đánh giá dựa trên các tiêu chí nhất định Đó là các tiêu chí bên trong (cách tổ chức) hoặc các tiêu chí bên ngoài (phù hợp với mục đích),
và người đánh giá phải tự xác định hoặc được cung cấp các tiêu chí
Đõy là yêu cầu cao nhất trong các mục tiêu của quá trình dạy và học vì nó chứa các yếu tố của các cấp bậc khác Việc đưa ra các đánh giá tuỳ thuộc vào trình độ của từng cá nhõn người học Để có được những đánh giá chính xác về một nội dung kiến thức đòi hỏi sinh viên phải có những một thế giới quan sõu rộng, đầy đủ, hoàn thiện, khách quan và lập trường đúng đắn về vấn đề đó và các vấn đề liên quan tới nó
“Đánh giá” cũng là một tiêu chí đánh giá cao nhất trong quá trình dạy và học bộ môn Địa lý Nội dung đánh giá bao gồm việc đưa ra các dự đoán, nhận định ví dụ như về: sự phát triển dõn số của một quốc gia, một lónh thổ; vai trò học thuyết về sự hình thành Trái Đất của Căng, La-plat hay của Ôt-tô Xmit; hay “thuyết trôi lục địa” của A Vê-ghê-nê; thuyết
“nhật tõm hệ” của Cô-péc-níc… Đòi hỏi sinh viên địa lý phải có sự hiểu biết sõu rộng về tình hình dõn số của một quốc gia, vai trò của các học
Trang 9thuyết trong sự tiến bộ của xã hội loài người đồng thời cũn phải hiểu cả về tác giả các học thuyết, tư tưởng triết học, động cơ chớnh trị của các tác giả đó, …
Túm lại, việc đánh giá xem sinh viờn đã đạt được mức độ nào trong việc nhận thức hệ thống kiến thức có ý nghĩa rất quan trọng trong các tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục ở bậc đại học, và quan trọng hơn nữa đõy chớnh là cơ sở để giảng viên và sinh viên thấy được những điểm cũn khiếm khuyết cần phải cải tạo, thay đổi và phát triển hệ thống kiến thức của mình
Theo quan điểm cá nhõn: quá trình nhận thức của sinh viên là có
tớnh chất nghiên cứu, trong quá trình nghiên cứu, thực nghiệm khoa học tất yếu có thể khám phá ra những điều mới lạ Vì vậy có thể bổ xung vào
các cấp bậc này những tiêu chí đánh giá khả năng sáng tạo trong quá
trình nhận thức của sinh viên, trong thực tế đã có rất nhiều sinh viên trong quá trình học tập, nghiên cứu đã có những chuyên đề, những đề tài, phương pháp mới có tớnh chất sáng tạo, thậm chí là những vấn đề hoàn toàn mới
2 Tiêu chí đánh giá kĩ năng
Trên cơ sở mục tiêu đào tạo nói chung, mục đích và nhiệm vụ dạy học nói riêng, các trường đại học phải xác định rừ các hệ thống kĩ năng, kĩ xảo nền tảng, hệ thống kĩ năng, kĩ xảo chuyên biệt Theo yêu cầu của từng chuyên ngành đào tạo, cần hình thành và rốn luyện cho sinh viên hệ thống những kĩ năng, kĩ xảo chung, khái quát và hệ thống những kĩ năng, kĩ xảo riêng, chuyên biệt về một lĩnh vực khoa học nhất định Các kĩ năng cơ bản là: kĩ năng nắm bắt, trao đổi thông tin và giao tiếp xã hội, kĩ năng làm
Trang 10việc theo nhúm, nhận thức về xã hội và nhõn văn, nhận thức về tự nhiên
và toán học, ngoại ngữ và vi tớnh, kĩ năng tự học, tự nghiên cứu, …
Các kĩ năng Địa lý cần rốn luyện cho các sinh viên là: kĩ năng đọc
và sử dụng bản đồ, kĩ năng đo vẽ ngoài trời; kĩ năng sử dụng số liệu thống
kê, lập biểu đồ, đồ thị; kĩ năng quan sát, điều tra, tỡm hiểu ngoài thực địa, khảo sát địa phương, …
Đánh giá kĩ năng: là mức độ hiểu và vận dụng được các kĩ năng,
biết khai thác các nguồn tri thức từ hệ thống tri thức đã học vào thực tế
Kĩ xảo là kĩ năng đạt đến mức thành thục.
Chúng ta có thể tham khảo thang bậc đánh giá kĩ năng sau:
Mẫu: là mức yêu cầu sinh viên ghi nhớ và làm lại một hoặc nhiều hành động đơn giản đã quan sát, sự thực hiện theo mẫu hay cũn gọi là bắt trước, sự bắt trước này đòi hỏi sự vận động của cơ bắp nhưng thiếu sự kết
hợp với hệ thần kinh
Đõy là kĩ năng khá đơn giản đối với các sinh viên đại học vì đõy chỉ là yêu cầu làm lại hoạt động mà sinh viên vừa đuợc nghe, được nhìn Các yêu cầu làm lại theo mẫu thể hiện khá rừ trong các môn học có các hoạt động thí nghiệm thực hành như bộ môn giáo dục thể chất, vật lý và hoá học
MÉu
Thao t¸c
Thµnh th¹o
C¶i tiÕn
§¸nh gi¸
S¸ng t¹o
Trang 11Trong bộ môn Địa lý đó là các kĩ năng đọc bản đồ theo yêu cầu cụ thể, xử lý số liệu theo công thức có sẵn đã được xem giảng viên vừa làm mẫu một phép tớnh, …
Thao tác: là việc sinh viên tự thực hiện một hành động khá phức tạp theo sự chỉ dẫn, theo những yêu cầu cho trước Trong kĩ năng thao tác
thể hiện một số sự phối hợp giữa cơ bắt và hệ thần kinh
Đõy vẫn là một kĩ năng đơn giản nếu như sinh viên được trang bị đầy đủ về kiến thức, các yêu cầu và trình tự của thao tác Tuy nhiên với yêu cầu này thì sự phối hợp giữa hệ cơ bắp và hệ thần kinh là chưa nhiều
Thành thạo: là việc thực hiện một hành động nhiều lần và đạt đến
mức độ chuẩn xác, cõn đối và chớnh xác Để đạt đến mức độ này thì sinh viên cần phải thao tác nhiều lần đến mức là không cần phải xem lý thuyết,
trình tự, cách làm Khi đó việc thực hiện kĩ năng có thể coi là kĩ xảo.
Việc vẽ biểu đồ trong Địa lý nếu như sinh viên làm việc này nhiều lần đến mức độ thành thạo thì khi gặp một yêu cầu vẽ một biểu đồ nào đó thì người học sẽ xác định ngay được dạng biểu đồ cần vẽ, trình tự vẽ, cách
xử lý số liệu, trình bày biểu đồ sao cho chớnh xác, đẹp và mất ít thời gian nhất
Cải tiến: cải tiến những hành động đã từng thực hiện ở một mức độ
nào đó, nhằn mục đích đạt hiệu quả cao hơn, đõy là mức độ yêu cầu khá cao Tuy nhiên bản chất của của quá trình học ở bậc đại học là quá trình nghiên cứu, trong quá trình học tập, nghiên cứu sinh viên hoàn toàn có thể tỡm ra những cải tiến trong cách làm cũ Ví dụ như về kĩ năng thành lập bản đồ địa hình của một vực nhỏ, trước đây sinh viên phải ra thực tế đo bằng các dụng cụ bàn đạc và phải di chuyển bàn đạc rất nhiều lần, nhưng bằng cách xử dụng máy thuỷ bình thì việc đo vẽ trở nên rất đơn giản,