- Nhóm 5 Nợ có khả năng mất vốn bao gốm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là không có khả năng thu hồi, mất vốn.Việc xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ đang ngày càng
Trang 1MỤC LỤC
Trang 2DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu Diễn giải
Sacombank Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín
BIDV Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
Vietinbank Ngân hàng Công thương Việt Nam
Vietcombank Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam
FICO Fair Isaac Corp
E & Y Công ty Trách nhiệm hữu hạn Ernst & Young Việt Nam
CIC Trung tâm thông tin tín dụng của Ngân hàng Nhà nước
NHTM Ngân hàng thương mại
Trang 3DANH MỤC BẢNG BIỂU
Giới thiệu
Ngân hàng thương mại (NHTM) là định chế tài chính trung gian thực hiện nghiệp
vụ kinh doanh tiền tệ và cung ứng các dịch vụ tài chính Tại Việt Nam, thu nhập chủ yếu tạo ra lợi nhuận cho các ngân hàng thương mại là từ hoạt động tín dụng, một hoạt động nhiều áp lực và lắm rủi ro Rủi ro tín dụng là một vấn đề hết sức quan trọng trong ngân hàng cho nên hoạt động quản trị rủi ro hết sức được chú trọng Và xếp hạng tín dụng (XHTD) là công tác vô cùng bức thiết ở ngân hàng
1 Lý do chọn đề tài.
Thực tiễn đã cho thấy thất bại của NHTM trong hoạt động tín dụng gắn chặt với sự thiếu hiểu biết về khách hàng của mình Một trong những kỹ thuật quản trị rủi ro tín dụng của NHTM là sử dụng phân tích chấm điểm xếp hạng uy tín về mặt tín dụng của mỗi khách hàng một cách thường xuyên Do vậy, vấn đề của các ngân hàng hiệ nay là phải xây dựng, hoàn thiện hệ thống xếp hạng tín dụng riêng của ngân hàng mình nhằm ngăn ngừa, hạn chế rủi ro tín dụng, giảm tỷ lệ nợ xấu trong ngân hàng
Trong thực tiễn hiện nay của Việt Nam, xếp hạng tín nhiệm do các công ty xếp hạng cung cấp thì chỉ mới dừng lại ở một số doanh nghiệp niêm yết và việc thu thập thông tin các doanh nghiệp là chưa đầy đủ dẫn tới sự đánh giá thiếu khách quan và chính xác Ngay cả trên thế giới, các công ty xếp hạng tín nhiệm có uy tín cũng có những sai lầm không tránh khỏi khi đánh giá một cá nhân hay doanh nghiệp Vì vậy công tác hoàn thiện hệ thống XHTD là vô cùng cần thiết, đặc biệt việc xếp hạng thể nhân ở Việt Nam chưa được chú trọng ở mức cần thiết Việc Ngân hàng Nhà Nước kiểm chứng hệ thống XHTD tại các ngân hàng thương mại là rất khó khăn Trong khi đó, rất nhiều ngân hàng thiếu chính xác khi sử dụng để đánh giá rủi ro thông qua hệ thống, khiến cho các NHTM
có thể quá lạc quan vào hệ khách hàng của mình mà mất cảnh giác dẫn tới hậu quả khó lường Từ những nhận định trên cho thấy sự cần thiết, tầm quan trọng của việc nghiên cứu nhằm hoàn thiện hơn nữa hệ thống XHTD nội bộ của các NHTM, và đây là công
Trang 4việc cần tiến hành một cách định kỳ nhằm đáp ứng với những thay đổi trong môi trường kinh doanh và tăng cường hơn nữa khả năng dự báo trong quản trị rủi ro tín dụng.
2 Xác định vấn đề nghiên cứu.
Basel đã nghiên cứu các yêu cầu về an toàn vốn trong đó có quy định rủi ro tín dụng và rủi ro thị trường, được ban hành lần đầu vào năm 1988 trong hiệp ước Basel I Năm 2004, hiệp ước này đã được thông qua và bổ sung thêm rủi ro hoạt động và quy định về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu liên quan nhiều tới xếp hạng tín dụng của khách hàng Theo đó NHNN Việt Nam đã có quyết định 57/2002/QĐ- NHNN triển khai thí điểm đề
án phân tích, xếp loại tín dụng doanh nghiệp Và NHNN cũng đã yêu cầu tăng kiểm soát
nợ xấu của các NHTM qua quyết định 493/2005/QĐ-NHNN về phân loại nợ, trích lập và
sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng
Thực tiễn tại Việt Nam cho thấy, hầu hết các ngân hàng thương mại vẫn đang thực hiện phân loại nợ theo điều 6 của quyết định 493/2005/QĐ-NHNN căn cứ vào thời gian quá hạn của khoản vay đang có dư nợ Nhiều khả năng nợ xấu của các NHTM có thể cao hơn con số chính thức mà các ngân hàng đưa ra nếu thực hiện theo điều 7 của quyết định 493/2005/QĐ-NHNN:
- Nhóm 1(Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn
- Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá
là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng trả nợ
- Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi đúng hạn Các khoản nợ này được tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi
Trang 5- Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gốm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là không có khả năng thu hồi, mất vốn.
Việc xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ đang ngày càng trở nên cần thiết
và quan trọng đối với công tác quản lý rủi ro nói chung, đặc biệt là rủi ro tín dụng nói riêng của các Ngân hàng Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương tín (Sacombank) đã xây dựng và áp dụng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ từ năm 2005 nhằm thực hiện phân loại các khoản nợ, đánh giá chất lượng tín dụng, trích lập dự phòng trong các hoạt động tín dụng của Sacombank
Trong năm 2010, công ty Ernst & Young Việt Nam sẽ tư vấn cho Sacombank hoàn thiện hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ bao gồm các mô hình chấm điểm đối với các khách hàng doanh nghiệp, cá nhân và các định chế tài chính Ngoài ra, hệ thống này cũng xây dựng các bộ tiêu chí để chấm điểm xếp hạng tín dụng đối với các khách hàng theo từng nhóm ngành nghề khác nhau Bên cạnh đó, hệ thống cũng được thiết kế một số sản phẩm tín dụng đặc thù riêng của Sacombank Đây là công cụ hiệu quả trong công tác thẩm định, ra quyết định cho vay và giúp Sacombank có thể đánh giá chính xác mức độ rủi ro của từng khoản vay, phân loại nợ theo thông lệ quốc tế, và cũng là cơ sở để nâng cao chất lượng quản lý tín dụng và trích lập dự phòng phù hợp Tuy nhiên, tình trạng nợ xấu trong 2011 vẫn có xu hướng gia tăng cho thấy hệ thống này còn nhiều khuyết điểm dẫn đến sàng lọc khách hàng chưa hiệu quả Ngoài ra ở đa số các ngân hàng công tác xếp hạng tín dụng cá nhân chưa được coi trọng Đó là lý do cần thiêt chọn đề tài nghiên cứu :
“Hoàn thiện hệ thống xếp hạng tín dụng cá nhân tại ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương
tín”.
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài.
Qua việc so sánh với các hệ thống xếp hạng của tổ chức, ngân hàng khác cùng với nghiên cứu thực tiễn đề tài sẽ cho thấy những thành tựu cũng như những hạn chế tồn tại của hệ thống XHTD đang sử dụng tại Sacombank Qua đó đề tài nghiên cứu mạnh dạn đưa ra những đề xuất, giải pháp góp phần hoàn thiện hệ thống bằng việc tiếp thu những tiến bộ trong kinh nghiệm xếp hạng tín dụng của các tổ chức, NHTM khác
Trang 64 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là mô hình các chỉ tiêu đánh giá tính điểm XHTD khách hàng cá nhân đang áp dụng tại Sacombank từ năm 2010
5 Phương pháp nghiên cứu và tiếp cận vấn đề.
Chuyên đề sử dụng phương pháp nghiên cứu so sánh, tình huống để tiếp cận chuyên môn về đối tượng nghiên cứu theo nội dung, phương pháp và kỹ thuật xếp hạng tín dụng cá nhân của Sacombank Ngoài ra, chuyên đề có sử dụng phương pháp phân tích
số liệu định tính để làm rõ hiện trạng hệ thống XHTD nội bộ Sử dụng phương pháp so sánh với các tiêu chuẩn đánh giá phổ biến trên thị trường xếp hạng tín nhiệm quốc tế và trong nước qua đó, nghiên cứu để đưa ra các nhận định, đề xuất, giải pháp hoàn thiện hệ thống XHTD cá nhân của Sacombank
6 Kết cấu của chuyên đề.
Bố cục của đề tài: “Hoàn thiện hệ thống xếp hạng tín dụng cá nhân tại Sacombank” gồm phần giới thiệu, ba chương nội dung chi tiết và phần kết luận.
Phần giới thiệu gồm các nội dung sơ lược lý do nghiên cứu, xác định đề tài nghiên cứu, đối tượng và mục tiêu nghiên cứu, các phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa và tính thực tiễn của đề tài
Chương 1 trình bày các vấn đề về hệ thống XHTD bao gồm tổng quan về XHTD, kinh nghiệm XHTD ở các tổ chức, ngân hàng khác
Chương 2 trình bày về ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương tín, thực trạng hệ thống
Trang 7được những thành tựu cũng như hạn chế cần khắc phục hoàn thiện nhằm tăng cường hiệu quả ngăn ngừa và giảm thiểu rủi ro tín dụng qua hệ thống sàng lọc khách hàng.
Chương 3 trình bày các giải pháp thực tiễn góp phần hoàn thiện hệ thống XHTD
cá nhân của Sacombank
Cuối cùng là phần kết luận của đề tài
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài.
Chuyên đề đưa ra sự cần thiết phải hoàn thiện hệ thống XHTD cá nhân tại Sacombank Đề tài nghiên cứu tập trung vào phương pháp tính điểm và xếp hạng, đưa ra hướng kiểm chứng các chỉ tiêu nhằm nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng bằng công cụ tiến tiến nhất
Kết quả của đề tài có thể được áp dụng vào công tác thực tễn vì Sacombank đang
nỗ lực để trở thành Ngân hàng bán lẻ hàng đầu thông qua việc giảm rủi ro tín dụng, mà muốn vậy ngân hàng cần hoàn thiện hệ thống XHTD đặc biệt là hệ thống XHTD cá nhân bởi đây là mảng quan trọng nhưng ít được quan tâm ở ngân hàng
Đồng thời, đề tài cũng góp phần hoàn thiện lý luận về quản trị rủi ro tín dụng của NHTM thông qua XHTD Xây dựng thành công hệ thống giúp NHTM phân loại nợ một cách trung thực hơn, là công cụ tư vấn giúp các nhà quản trị có định hướng chiến lược kinh doanh rõ ràng phù hợp với từng nhóm khách hàng
Trang 8Tuy nhiên xếp hạng tín nhiệm chỉ phát triển nhanh ở Mỹ sau cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1929 – 1933 khi hàng loạt các công ty vay nợ bị phá sản, vỡ nợ Thời kỳ này chính phủ Hoa Kỳ đã có nhiều quy định về việc cấm các định chế đầu tư (Các quỹ hưu trí, các quỹ bảo hiểm, ngân hàng dự trữ) bỏ vốn đầu tư mua trái phiếu có độ tin cậy thấp dưới mức an toàn trong bảng xếp hạng tín nhiệm Những quy định này đã làm cho uy tín của các công ty xếp hạng tín nhiệm ngày một lên cao Song trong suốt hơn 50 năm, việc xếp hạng tín nhiệm chỉ được phổ biến ở Mỹ, chỉ từ những năm 1970 đến nay, dịch vụ xếp hạng tín nhiệm mới được mở rộng và phát triển khá mạnh ở nhiều nước.
Tại nhiều nước trên thế giới, hầu hết các công ty lớn và các tổ chức cho vay đều thiết lập bảng xếp hạng tín nhiệm đối với các khách hàng hiện tại cũng như tương lai của họ
1.1.2 Đối tượng xếp hạng tín dụng
Hệ thống XHTD tiếp cận tới tất cả các yếu tố có liên quan tới rủi ro tín dụng, các NHTM không sử dụng kết quả XHTD nhằm thể hiện giá trị của người đi vay mà đơn thuần đưa ra ý kiến theo các nhân tố rủi ro từ đó có các quyết định tín dụng phù hợp Sự xếp hạng không đảm bảo về khả năng thu hồi nhanh, đầy đủ mà đây chỉ là cơ sở để đưa
ra quyết định có cơ sở về tín dụng Giả sử khách hàng A đến ngân hàng xin vay, A được xếp hạng tín dụng rất cao lúc bấy giờ cho nên đa số các ngân hàng sẽ mở rộng tín dụng cho A, tuy nhiên về việc thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn là không thể đoán biết
mà chỉ là có xác suất trả được nợ cao
Cơ sở của xác suất trả nợ này là dữ liệu về các khoản nợ quá khứ của khách hàng, gồm khoản đã trả, khoản trong hạn và khoản không được thu hồi Dữ liệu được chia làm
Trang 9hình định sẵn để xử lý, từ đó tính được xác suất không trả được nợ của khách hàng Đó
có thể là mô hình tuyến tính, mô hình probit… và thường được xây dựng bởi các tổ chức chuyên nghiệp
Xếp hạng khoản vay dựa trên cơ sở xếp hạng người vay và các yếu tố bao gồm tài sản đảm bảo, thời hạn khoản vay, tổng mức dư nợ tại các tổ chức tín dụng, năng lực tài chính Tổn thất cũng là đối tượng để ý tới trong xếp hạng tín dụng Tổn thất này bao gồm tổn thất về khoản vay và các tổn thất khác phát sinh như chi phí lãi suất đến hạn nhưng không được thanh toán, chi phí xử lý tài sản bảo đảm, chi phí dịch vụ pháp lý và một số chi phí liên quan khác
1.1.3 Vai trò xếp hạng tín dụng
Cơ sở để lựa chọn khách hàng cho vay.
Thông qua kết quả xếp hạng tín nhiệm khách hàng, ngân hàng sẽ đánh giá được mức độ tín nhiệm của từng khách hàng vay vốn, xác định được mức độ rủi ro khi cung cấp khoản vay, khả năng trả nợ vay Dựa vào kết quả xếp hạng tín nhiệm ngân hàng sẽ quyết định cho vay hay từ chối cho vay đảm bảo tính khách quan, khoa học
Xây dựng chính sách khách hàng.
Mỗi nhóm khách hàng ngân hàng sẽ có những cách ứng sử khác nhau vừa nhằm thu hút khách hàng vừa đảm bảo quản lý rủi ro, thông qua kết quả xếp hạng tín nhiệm khách hàng, ngân hàng sẽ phân chia khách hàng thành những nhóm dựa trên mức độ rủi
ro Những khách hàng có tín nhiệm cao, mức độ rủi ro thấp sẽ được hưởng nhiều chính sách ưu đãi hơn so với những khách hàng có mức độ rủi ro cao hơn Chính sách khách hàng bao gồm chính sách về cơ chế tín dụng, chính sách về lãi suất vay vốn, các loại chi phí khác
Xây dựng danh mục tín dụng.
Dựa và kết quả xếp hạng tín nhiệm ngân hàng sẽ đánh giá được mức độ rủi ro của từng doanh nghiệp, từng lĩnh vực hoạt động kinh doanh của khách hàng từ đó mà xây dựng danh mục tín dụng phù hợp
Phân loại nợ và quản lý nợ.
Hiện nay phần lớn các ngân hàng thương mại thực hiện việc phân loại nợ và trích
dự phòng rủi ro theo Điều 6 Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của
Trang 10ngân hàng nhà nước Tuy nhiên khi các tổ chức tín dụng đã xây dựng được hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ của riêng mình thì sẽ phân loại nợ và trích dự phòng rủi ro theo kết quả xếp hạng của hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ.
Như vậy: hệ thống XHTD của NHTM nhằm cung cấp những dự đoán khả năng xảy ra rủi ro tín dụng có thể được hiểu là sự khác biệt về mặt kinh tế giữa những gì mà người đi vay hứa thanh toán với những gì mà NHTM thực sự nhận được Khái niệm rủi
ro ở đây là một sự không chắc chắn hay là một tình trạng bất ổn có thể ước đoán được xác suất xảy ra Tín dụng được hiểu là quan hệ chuyển giao quyền sử dụng vốn lẫn nhau giữa người cho vay và người đi vay trên nguyên tắc có hoàn trả Quan hệ tín dụng dựa trên nền tảng tin tưởng lẫn nhau giữa các chủ thể Khi rủi ro tín dụng ảnh hưởng nặng nề tới hoạt động của ngân hàng sẽ gây tâm lý hoang mang lo sợ của người gửi tiền và gây nên hành động rút tiền ồ ạt Sự hoảng loạn này làm cho hệ thống ngân hàng gặp khó khăn
và ảnh hưởng nghiêm trọng tới nền kinh tế
Hệ thống XHTD giúp ngân hàng quản trị rủi ro tín dụng bằng phương pháp tiên tiến, giúp kiểm soát mức độ tín nhiệm của khách hàng, thiết lập mức lãi suất cho vay phù hợp với dự báo khả năng thất bại của từng nhóm khách hàng NHTM có thể đánh giá hiệu quả danh mục cho vay thông qua giám sát sự thay đổi dư nợ và phân loại nợ trong từng nhóm khách hàng đã được xếp hạng, qua đó điều chỉnh danh mục theo hướng ưu tiên nguồn lực vào những nhóm khách hàng an toàn
1.1.4 Nguyên tắc xếp hạng tín dụngCác nguyên tắc chủ yếu của XHTD bao gồm: phân tích tín nhiệm trên cơ sở ý thức và thiện chí trả nợ của người vay và từng khoản vay, đánh giá rủi ro dài hạn dựa trên ảnh hưởng của chu kỳ kinh doanh và xu hướng khả năng trả nợ trong tương lai, đánh giá rủi ro toàn diện và thống nhất dựa vào hệ thống ký hiệu xếp hạng Trong phân tích XHTD cần thiết sử dụng phân tích định tính để bổ sung cho những phân tích định lượng Các dữ liệu định lượng là những quan sát dược đo bằng số, các quan sát không thể đo lường bằng số được xếp vào dữ liệu định tính Các chỉ tiêu phân tích có thể thay đổi phù hợp với sự thay đổi của trình độ công nghệ và yêu cầu quản trị rủi ro
Trang 11Căn cứ vào chính sách tín dụng và các quy định có liên quan của từng ngân hàng nhằm xác lập quy trình XHTD Một quy trình XHTD bao gồm các bước cơ bản sau:
Bước 1: Thu thập thông tin liên quan đến các chỉ tiêu sử dụng trong phân tích đánh giá, thong tin xếp hạng của các tổ chức tín nhiệm khác liên quan đến đối tượng xếp hạng
Bước 2: Phân tích bằng mô hình để kết luận mức xếp hạng Mức xếp hạng cuối cùng được quyết định sau khi tham khảo ý kiến Hội đồng xếp hạng Trong XHTD của các NHTM thì kết quả xếp hạng không được công bố rộng rãi
Bước 3: Theo dõi tình trạng tín dụng của đối tượng được xếp hạng để điều chỉnh mức xếp hạng Tổng hợp kết quả xếp hạng so sánh với thực tế rủi ro xảy ra, và dựa trên tần suất phải điều chỉnh mức xếp hạng đã thực hiện đối với khách hàng để xem xét điều chỉnh mô hình xếp hạng
1.2 Một số nghiên cứu về xếp hạng tín dụng cá nhân.
1.2.1 Nghiên cứu của Stefanie Kleimeier về mô hình điểm số tín dụng cá
nhân áp dụng cho ngân hàng bán lẻ Việt Nam Stefanie Kleimeier đã tiến hành nghiên cứu chi tiết nguồn số liệu được tổng hợp
từ các ngân hàng bán lẻ Việt Nam theo 22 biến số Trong đó bao gồm độ tuổi, thu nhập, trình độ học vấn, nghề nghiệp, thời gian công tác, tình trạng cư ngụ, giới tính, tình trạng hôn nhân, mục đích vay, quan hệ với ngân hàng,…để xác định mức ảnh hưởng của các biến số này đến rủi ro tín dụng và qua đó thiết lập một mô hình điểm số tín dụng cá nhân
áp dụng cho các ngân hàng bán lẻ tại Việt Nam.Nghiên cứu của Stefanie Kleimeier đã xây dựng mô hình chấm điểm tín dụng cá nhân gồm hai phần là chấm điểm nhân thân và năng lực trả nợ, chấm điểm quan hệ với ngân hàng
Trang 12Bảng 1.01: Ký hiệu XHTD cá nhân theo Stefanie Kleimeier
251-300 Bbb Cho vay theo Tài sản đảm bảo
201-250 Bb Cho vay theo Tài sản đảm bảo và đánh giá đơn vay vốn
151-200 B Yêu cầu đánh giá thận trọng đơn vay vốn, và có Tài sản đảm bảo đầy đủ
( Nguồn: Dinh Thi Huyen Thanh & Stafanie Kleimeier, 2006 Credit Scoring for
Vietnam’s Retail Banking Market)
Tuy nhiên, công trình nghiên cứu này không đưa ra cách tính điểm cụ thể cho từng chỉ tiêu, để vận dụng mô hình đòi hỏi các NHTM phải thiết lập thang điểm cho từng chỉ tiêu đánh giá phù hợp với thực trạng và hệ thống cơ sơ dữ liệu cá nhân tại ngân hàng mình
Bảng 1.02: Chỉ tiêu XHTD cá nhân bước một theo Stefanie Kleimeier.
Bước 1: Chấm điểm nhân thân và năng lực trả nợ
1.Tuổi 18-25 tuổi 26-40 tuổi 41-60 tuổi > 60 tuổi
2.Trình độ học vấn Sau đại học Đại học,
cao đẳng Trung học Dưới trung học3.Nghề nghiệp Chuyên môn Giúp việc Kinh doanh Hưu trí
4.Thời gian công tác < 0,5 năm 0,5-1 năm 1-5 năm > 5 năm
5.Thời gian làm công việc
hiện tại < 0,5 năm 0,5-1 năm 1-5 năm > 5 năm
6.Tình trạng cư trú Nhà riêng Nhà thuê Sống cùng
gia đình Khác7.Số người phụ thuộc Độc thân 1-3 người 3-5 người >5 người
8.Thu nhập hàng năm < 12 triệu đồng 12-36 triệu
đồng
36-120 triệu đồng
> 120 triệu đồng9.Thu nhập hàng năm của 24-72 triệu 72-240 triệu > 240 triệu
Trang 13Bước 2: Chấm điểm quan hệ với ngân hàng
1.Thực hiện cam kết với
ngân hàng( Ngắn hạn)
Khách hàng mới
Chưa bao giờ trễ hạn
Có trễ hẹn ít hơn 30 ngày
Có trễ hạn hơn 30 ngày2.Thực hiện cam kết với
ngân hàng( Dài hạn)
Khách hàng mới
Chưa bao giờ trễ hạn
Có trễ hạn trong 2 năm gần đây
Có trễ hạn trước 2 năm gần đây3.Tổng giá trị khoản vay
chưa trả
< 100 triệu đồng
100-500 triệu đồng
500 triệu đồng-
1 tỷ đồng > 1 tỷ đồng4.Các dịch vụ khác đang
sử dụng
Tiền gửi tiết kiệm Thẻ tín dụng
Tiền gửi tiết kiệm, thẻ tín dụng
Không
5.Số dư bình quân TKTK
trong năm trước đây
< 20 triệu đồng
20-100 triệu đồng
100-500 triệu đồng
> 500 triệu đồng
( Nguồn: Dinh Thi Huyen & Stefanie Kleimeier, 2006, Credit Scoring for
VietNam’s Retail Banking Market) 1.2.2 Mô hình điểm số tín dụng cá nhân của FICO( Fair Isaac Corp).
Điểm số tín dụng cá nhân là một phương tiện kiểm soát tín dụng được gán cho mỗi
cá nhân tại một số nước phát triển giúp tổ chức tín dụng ước lượng mức độ rủi ro khi cho vay Điểm tín dụng càng thấp thì mức rủi ro của nhà cho vay càng cao Fair Isaac Corp đã xây dựng mô hình điểm số tín dụng FICO thấp nhất là 300 và cao nhất là 850 áp dụng cá nhân dựa vào tỷ trọng của 5 chỉ số phân tích sau:
Trang 14Bảng 1.03: Tỷ trọng các tiêu chí đánh giá trong mô hình điểm số tín dụng FICO
35% Lịch sử trả nợ: Thời gian trễ hạn càng dài và số tiền trễ hạn càng
cao thì điểm số tín dụng càng thấp30% Dư nợ tại các tổ chức tín dụng: Nợ quá nhiều so với mức cho phép
đặc biệt là với thẻ tín dụng sẽ làm giảm điểm số tín dụng15% Độ dài của lịch sử tín dụng: Thông tin càng nhiều năm càng đáng
tin cậy và điểm số tín dụng càng cao10% Số lần vay nợ mới: Vay nợ thường xuyên bị xem là dấu hiệu có
khó khăn tài chính nên điểm số tín dụng càng thấp10% Các loại tín dụng được sử dụng: Các loại nợ khác nhau sẽ được
số tín dụng thấp hơn 620 sẽ có thể bị ngân hàng e ngại khi xem xét cho vay
1.2.3 Hệ thống xếp hạng tín nhiệm CIC
Để phục vụ cung cấp thông tin cho các ngân hàng thương mại về khách hàng vay vốn, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã thành lập Trung tâm Thông tin Tín dụng (CIC: Credit Information Center) Trong những năm đầu tiên CIC chỉ cung cấp cho các tổ chức tín dụng thông tin khách hàng về số tổ chức tín dụng quan hệ, dư nợ tại các tổ chức tín dụng đó và những thông tin này không đầy đủ và không cập nhật cho nên ý nghĩa của các thông tin này để phục vụ cho hoạt động phòng ngừa rủi ro tín dụng không cao Hiện nay thông tin do CIC cung cấp đã đầy đủ hơn, bao gồm thông tin phân tích tài chính, số ngân hàng quan hệ, dư nợ, tình trạng nợ đã phần nào đáp ứng được một phần yêu cầu của các
tổ chức tín dụng
Trang 15Đối tượng phân tích, xếp loại tín dụng là doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh
tế bao gồm doanh nghiệp nhà nước, công ty trách nhiện hữu hạn, công ty cổ phần, công
ty có vốn đầu tư nước ngoài, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân
Trung tâm Thông tin được phép cung cấp thông tin về phân tích, xếp hạng tín dụng cho các đơn vị thuộc ngân hàng nhà nước, các tổ chức tín dụng, một số tổ chức khác khi có yêu cầu; các doanh nghiệp có nhu cầu tự xếp hạng có thể sử dụng thông tin này là tài liệu tham khảo khi có nhu cầu vay vốn từ các tổ chức tín dụng hoặc để tự đánh giá năng lực hoạt động
Cho đến nay hệ thống thông tin tín dụng Ngân hàng Nhà nước đã đi vào nề nếp và đạt được kết quả đáng kể, đã thu thập được hơn 1,5 triệu hồ sơ khách hàng, trong đó gần 150.000 bộ hồ sơ khách hàng là doanh nghiệp, với tổng dư nợ khoảng 450 ngàn tỷ đồng Việc cung cấp thông tin theo yêu cầu của tổ chức tín dụng cũng tăng rất mạnh, năm 2005 CIC cung cấp hơn 61.000 bản tin trả lời (bình quân 200 bản tin/ngày), tăng 128% so với năm 1994
Thời gian qua các tổ chức tín dụng đánh giá đúng tầm quan trọng của thông tin tín dụng trong việc an toàn hệ thống Một số tổ chức tín dụng đã đưa vào quy trình tín dụng việc triển khai thông tin tín dụng đối với từng khoản cấp tín dụng, để góp phần giảm thiểu rủi ro trong hoạt động tín dụng
1.2.4 Hệ thống xếp hạng tín dụng cá nhân của ngân hàng đầu tư và phát
triển Việt NamNgân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV) xây dựng hệ thống XHTD theo nguyên tắc hạn chế tối đa ảnh hưởng chủ quan của các chỉ tiêu tài chính bằng cách thiết
kế các chỉ tiêu phi tài chính và cung cấp những hướng dẫn chi tiết cho việc đánh giá chấm điểm các chỉ tiêu
Mô hình chấm điểm XHTD cá nhân của BIDV bao gồm hai phần là: nhóm các chỉ tiêu chấm điểm nhân thân với trọng số 0,4 và nhóm chỉ tiêu chấm điểm quan hệ với ngân hàng có trọng số 0,6
Các chỉ tiêu đánh giá, điểm ban đầu và trong số từng chỉ tiêu được trình bày như sau:
Trang 16Bảng 1.04: Các chỉ tiêu chấm điểm tín dụng cá nhân tại ngân hàng đầu tư và phát
triển Việt Nam
Phần 1: Thông tin nhân thân
Sống cùng gia đình khác
Chuyên môn
Lao động được đào tạo nghề
Lao động thời vụ
Trang 17Phần 2: Quan hệ với ngân hàng
5-10 triệu đồng
3-5 triệu đồng 1-3 triệu đồng
Đã bị gia hạn, hiện trả nợ tốt
Đã có nợ quá hạn/khách hàng mới
Đã có nợ quá hạn, khả năng trả nợ không
ổn định
Đang có
nợ quá hạn
Chỉ sử dụng dịch vụ thanh toán
Không
sử dụng 15%
(Nguồn: Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam)
Căn cứ vào tổng điểm đạt được nhân với trọng số : Phần 1 nhân với 0,4; phần 2 nhân với 0,6 Từ đó ta có kết quả xếp hạng khách hàng cá nhân theo mười mức như sau:
Bảng 1.05: Hệ thống ký hiệu XHTD cá nhân của BIDV
Trang 18(Nguồn: Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam)
Mô hình xếp hạng khoản vay cá nhân trong hệ thống XHTD của BIDV là một ma trận kết hợp giữa kết quả XHTD với kết quả đánh giá tài sản đảm bảo Việc đánh giá tài sản đảm bảo được chấm điểm theo ba chỉ tiêu là loại tài sản, tỷ suất giữa giá trị tài sản so với khoản vay và rủi ro giảm giá trị tài sản đảm bảo
Bảng 1.06: Các chỉ tiêu chấm điểm tài sản đảm bảo của BIDV.
do Chính phủ hoặc BIDV phát hành
Giấy tờ có giá
do tổ chức phát hành
Bất động sản (Nhà ở)
Bất động sản(Không phải nhà ở) Động sản,
cổ phiếu
Không
có tài sản đảm báo2.Giá trị TSĐB/
Tổng nợ vay > 200% 150-200% 100-150% 70-100% < 70%3.Rủi ro giảm giá
tài sản đảm bảo 2
năm gần đây
0% hoặc có
xu hướng tăng
(Nguồn: Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam)
Bảng 1.07: Ma trận kết hợp giữa kết quả XHTD với kết quả đánh giá tài sản đảm bảo
của BIDV
Trang 19(Nguồn: Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam)
Bảng 1.08: Hệ thống ký hiệu đánh giá tài sản đản bảo của BIDV.
( Nguồn: Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam)
1.2.5 Hệ thống xếp hạng tín dụng cá nhân của Vietinbank
Ngân hàng Công thương Việt Nam cũng xây dựng hệ thống XHTD áp dụng riêng cho từng cá nhân Vietinbank sử dụng kết hợp các chỉ tiêu định tính để chấm điểm bổ sung cho các chỉ tiêu định lượng, có các hướng dẫn chi tiết để thực hiện chấm điểm và XHTD nhằm hạn chế chủ quan trong đánh giá các chỉ tiêu Giống BIDV, hệ thống các chỉ tiêu tài chính được đánh giá trong mô hình xếp hạng dựa trên khung hướng dẫn của Ngân hàng nhà nước và có vài điều chỉnh cho phù hợp với ngân hàng mình Mô hình chấm điểm XHTD cá nhân của Vietinbank gồm hai phần là các chỉ tiêu chấm điểm thông tin cá nhân và chấm điểm quan hệ với ngân hàng
Bảng 1.09: Các chỉ tiêu chấm điểm XHTD cá nhân của Vietinbank.
Phần 1: Thông tin cá nhân
Trang 20Sống cùng một số gia đình khác
36-120 triệu đồng
12-36 triệu đồng < 12 triệu đồng
72-240 triệu đồng
24-72 triệu đồng < 24 triệu đồng
( Nguồn: Ngân hàng Công thương Việt Nam)
Trang 21nợ gốc mới quá hạn ngày
2.Tình hình trả
lãi
Khách hàng mới
Chưa bao giờ chậm trả
Chưa bao giờ chậm trả trong
2 năm gần đây
Đã có thời gian chậm trả trong 2 năm gần đây
3.Tổng dư nợ < 100 triệu
đồng
100-500 triệu đồng
Chỉ sử dụng thẻ
100-500 triệu đồng
20-100 triệu đồng < 20 triệu đồng
(Nguồn: Ngân hàng Công thương Việt Nam)
Khác với hệ thống chấm điểm của BIDV, mô hình chấm điểm khách hàng cá nhân của Vietinbank không sử dụng trọng số đối với từng chỉ tiêu mà thay vào đó là sử dụng điểm âm để giảm trừ điểm đạt được nếu khách hàng có những tiêu chí xếp hạng nằm trong vùng nguy hiểm ảnh hưởng nặng nề tới khả năng tài chính dành cho việc trả nợ ngân hàng, và mỗi chỉ tiêu đánh giá tùy theo mức độ quan trọng sẽ có mức điểm tối đa khác nhau từ 10 điểm tới 40 điểm
Từ đó có kết quả xếp hạng khách hàng như sau:
Bảng 1.10: Hệ thống ký hiệu XHTD cá nhân của Vietinbank.
Trang 22(Nguồn: Ngân hàng Công thương Việt Nam)
1.2.6 Hệ thống xếp hạng tín dụng cá nhân của Vietcombank
Mô hình chấm điểm tín dụng trong xếp hạng tín nhiệm khách hàng cá nhân của ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam đang sử dụng là mô hình một biến số sử dụng các chỉ tiêu tài chính theo phân tích định lượng và phi tài chính theo phân tích định tính
để đánh giá nhằm bổ sung cho những hạn chế về số liệu thống kê của phương pháp định lượng Việc chấm điểm XHTD cá nhân được thực hiện theo hai nhóm chỉ tiêu về nhân thân và quan hệ với ngân hàng Những khách hàng có tổng điểm < 0 ở các chỉ tiêu xếp hạng nhân thân sẽ bị loại và chấm dứt quá trình xếp hạng.Quá trình tính điểm như trình
bày trong Bảng 1.11 và căn cứ vào tổng điểm đạt được của cá nhân để quy đổi theo mười mức xếp hạng tương ứng như trình bày trong Bảng 1.12.
Bảng 1.11: Các chỉ tiêu chấm điểm XHTD cá nhân của Vietcombank.
Phần 1: Chỉ tiêu chấm điểm thông tin cá nhân
1.Tuổi 18-25 tuổi 25-40 tuổi 40-60 tuổi > 60 tuổi
Trang 23Sống với một gia đình khác
Sống với > một gia đình khác
36-120 triệu đồng
12-36 triệu đồng < 12 triệu đồng
10.Thu nhập
gia đình/ năm
> 240 triệu đồng
72-240 triệu đồng
24-72 triệu đồng < 24 triệu đồng
( Nguồn: Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam)
Nếu khách hàng có tổng điểm trong Phần 1 âm thì ngân hàng ngừng xếp hạng, không cấp tín dụng Các khách hàng có tổng điểm lớn hơn 0 tiếp tục sang Phần 2
Phần 2: Các chỉ tiêu chấm điểm quan hệ với ngân hàng
2.Tình hình
chậm trả lãi Chưa giao dịch
Chưa bao giờ chậm trả lãi
Chưa bị chậm trả lãi 2 năm gần đây
100-500 triệu đồng
500-1000 triệu đồng > 1 tỷ đồng
Trang 2425 10 5 -5
4.Các dịch vụ
sử dụng
Chỉ gửi tiết kiệm
Chỉ sử dụng thẻ
100-500 triệu đồng
20-100 triệu đồng < 20 triệu đồng
( Nguồn: Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam)
Bảng 1.12: Hệ thống ký hiệu XHTD cá nhân của Vietcombank
Có thể cấp tín dụng với việc xem xét hiệu quả phương
án vay vốn và đảm bảo tiền vay
Trang 25Vietcombank hệ thống này cũng không sử dụng trọng số chỉ sử dụng thang điểm khác nhau cho mỗi tiêu chí Tiêu chí nào có mức điểm tối đa cao cho thấy mức độ quan trọng của chỉ tiêu đó Tại mỗi tổ chức, ngân hàng đều áp dụng hệ thống sao cho phù hợp nhất với thực trạng của ngân hàng mình để đi tới một quyết định chính xác nhất và giảm thiểu rủi ro tín dụng.
1.2.7 Mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng
Trong mô hình này, có các yếu tố quan trọng liên quan tới khách hàng bao gồm:
Hồ sơ tín dụng, tuổi đời, trạng thái tài sản, số người phụ thuộc, sở hữu nhà, thu nhập, điện thoại cố định, số tài khoản cá nhân, thời gian công tác
Sau đây là hạng mục và điểm số được sử dụng nhiều tại các ngân hàng Mỹ
Bảng 1.13: Hạng mục và điểm số trong mô hình điểm số tiêu dùng.
1.Nghề
nghiệp
người vay
Chuyên gia/Phụ trách kinh doanh
Công nhân(CN)
có kinh nghiệm
Nhân viên văn phòng
Sinh viên
CN không
có kinh nghiệm
CN bán thất nghiệp
Trang 26Bảng 1.14: Hệ thống ký hiệu và quyết định tín dụng.
1.3 Bài học kinh nghiệm rút ra từ các mô hình XHTD cá nhân.
Các mô hình XHTD cá nhân thông thường được chia thành hai nhóm chỉ tiêu đánh giá đó là nhóm chỉ tiêu về nhân thân người vay và nhóm chỉ tiêu về khả năng trả nợ/quan
hệ với ngân hàng Trong đó nhóm nhân thân người vay thường có tỷ trọng khoảng 40%,
mô tả các tiêu chí đánh giá về nhân thân người vay như tuổi tác, nghề nghiệp, thu nhập…
Và nhóm khả năng trả nợ/quan hệ ngân hàng thường có tỷ trọng khoảng 60%, mô tả các tiêu chí đánh giá về khả năng tài chính và uy tín trả nợ như tình hình trả nợ gốc và lãi, tỷ trọng mức trả nợ trên tổng thu nhập, các dịch vụ NH đang sử dụng…
Các mức điểm đánh giá thông thường được chia theo năm mức đánh giá đó là 0;
Trang 27chất quan trọng của chỉ tiêu đó ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của người vay cao hay thấp thì chiếm tỷ trọng cao hay thấp tương ứng trong nhóm chỉ tiêu đó.
Trong số các mô hình trên, chỉ có mô hình XHTD cá nhân của BIDV là đánh giá khách hàng thông qua việc kết hợp mức điểm XHTD của người vay với TSĐB cho khoản vay đó, tuy nhiên mức kết hợp đánh giá này quá xem trọng trị giá TSĐB của khoản vay hơn là bản chất khách hàng đó có khả trả nợ tốt hay không, do vậy nên cần có một sự kết hợp đánh giá khách hàng vay thông qua XHTD của khoản vay đó với tình hình trả nợ của khách hàng, có như vậy thì việc đánh giá/chấm điểm khách hàng sẽ hợp lý và chính xác hơn
Như vậy trong chương này, đề tài đã đi sâu vào trình bày thực trạng các mô hình xếp hạng tín dụng cá nhân của các tổ chức, ngân hàng để từ đó chúng ta có cái nhìn tổng quan hơn về XHTD và chúng ta có cơ sở so sánh với hệ thống xếp hạng tín dụng của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương tín
Trang 28Chương 2: Thực trạng hệ thống xếp hạng tín dụng cá nhân tại
Sacombank- Chi nhánh Thủ Đô.
2.1 Khái quát về ngân hàng.
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển Sacombank
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín được thành lập ngày 21/12/1991 với số vốn điều lệ ban đầu là 3 tỷ đồng Qua 20 năm hoạt động và phát triển, đến nay Sacombank đã đạt số vốn điều lệ khoảng 9.179 tỷ đồng và trở thành ngân hàng TMCP hàng đầu tại Việt Nam với 366 điểm giao dịch, trong đó có 67 Chi nhánh/Sở giao dịch, 295 Phòng giao dịch và 01 tại Lào và 01 chi nhánh tại Campuchia( Tính đến ngày 31/12/2010) Ngày 12/07/2006 Sacombank là ngân hàng đầu tiên chính thức niêm yết cổ phiếu trên Trung tâm giao dịch chứng khoán TP.HCM (nay là Sở Giao dịch Thành phố
Hồ Chí Minh), đây là sự kiện rất quan trọng và có ý nghĩa cho sự phát triển của thị trường vốn Việt Nam, cũng như tạo tiền đề cho việc niêm yết cổ phiếu của các ngân hàng TMCP khác Đến năm 2008, Sacombank cũng là ngân hàng Việt Nam tiên phong công
bố hình thành và hoạt động theo mô hình Tập đoàn tài chính tư nhân với 5 công ty trực thuộc và 5 công ty liên kết Với việc khai trương chi nhánh Lào vào năm 2008, chi nhánh Campuchia năm 2009, Sacombank trở thành ngân hàng Việt Nam đầu tiên thành lập chi nhánh tại nước ngoài Đây được xem là bước ngoặt trong quá trình mở rộng mạng lưới
Trang 29Sacombank cũng vinh dự được nhận rất nhiều bằng khen và giải thưởng có uy tín:
- Ngân hàng quản lý tiền mặt tốt nhất Việt Nam năm 2010 do tổ chức Finance
- Ngân hàng nội địa tốt nhất Việt Nam 2008 do The Asset bình chọn;
- Ngân hàng tốt nhất Việt Nam 2008 do Global Finance bình chọn;
- Ngân hàng tốt nhất Việt Nam 2008 do Finance Asia bình chọn;
- Ngân hàng tốt nhất Việt Nam 2007 do Euromoney bình chọn;
- Ngân hàng bán lẻ của năm tại Việt Nam 2007 do Asian Banking & Finance bình
chọn;
- Ngân hàng tốt nhất Việt Nam về cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ 2007 do Cộng
đồng các Doanh nghiệp vừa và nhỏ Châu Âu (SMEDF) bình chọn;
- Ngân hàng có hoạt động ngoại hối tốt nhất Việt Nam năm 2007 do Global
Finance bình chọn;
- Được đánh giá và xếp loại A trong bảng xếp loại của Ngân hàng Nhà nước cho năm 2006 và xếp thứ 04 trong ngành tài chính ngân hàng tại Việt Nam do chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc UNDP đánh giá cho năm 2007;
- Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ năm 2008 vì có những đóng góp tích cực vào các hoạt động kiềm chế lạm phát trong nền kinh tế;
- Cờ thi đua của Thủ tướng Chính phủ về những thành tích dẫn đầu phong trào thi đua ngành ngân hàng trong năm 2007
…
Sacombank đã xây dựng mạng lưới phủ khắp 45/63 tỉnh, thành trong cả nước và nước ngoài (tại Lào và Campuchia) Tính đến 31/12/2010, Sacombank có 366 điểm giao dịch, bao gồm 01 Sở giao dịch, 67 Chi nhánh và 295 PGD trong nước, cùng 01 Chi nhánh tại Lào, 01 Chi nhánh và 1 PGD tại Campuchia