đến tính tích tự lực trong tìm tòi nghiên cứu của bản thân người tự học để tìmra những kiến thức mới, tôi thiết nghĩ phải tìm mọi cách để tìm hiểu cơ sở lýluận của phương pháp này cũng n
Trang 1PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Chóng ta đang sống trong một xã hội mà nền tri thức được cung cấpnhiều hơn bao giê hết, đa dạng hơn bao giê hết Vấn đề là con người trong xãhội Êy có biết nắm bắt được nguồn tri thức đó không? Bởi vì, nếu không cómột phương pháp, một cách thức khoa học con người sẽ " chìm trong mộtbiển tri thức " hỗn độn phức tạp Trách nhiệm đó là của toàn xã hội mà trướchết là những con người làm công tác giáo dục
Nhận thức được điều đó, Nghị quyết trung ương Đảng khoá VII đã đề
ra nhiệm vụ" Đổi mới phương pháp dạy học ở tất cả các cấp học, bậc học".Nghị quyết TƯ II khoá VIII nhận định " phương pháp giáo dục đào tạo chậmđược đổi mới chưa phát huy được tính chủ động sáng tạo của người học",đồng thời cũng tiếp tục khẳng định "đổi mới phương pháp giáo dục khắcphục lối truyền thụ một chiều rèn luyện thành nề nếp, tư duy sáng tạo củangười học từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiệnđại vào quá trình dạy học đảm bảo điều kiện và thời gian tù học tù nghiêncứu trong học sinh
Thấm nhuần tư tưởng chủ trương đó toàn bộ ngành giáo dục nướcnhà đang cùng nhau tiến vào một cuộc cách mạng - Cách mạng giáo dục
mà nội dung cơ bản nhất của nó là đổi mới phương pháp dạy học Mấuchốt của cuộc cách mạng đó là không phải đưa ra một phương pháp nàomới, hoàn chỉnh để thay thế các phương pháp trước đây mà là biện pháp,cách thức để phối hợp những phương pháp đã có nhằm nâng cao tính tíchcực chủ động của người học
Mét trong những phương pháp giúp phát huy tính tích cực chủ độngcủa người học là phương pháp tự học mà đơn giản nhất dễ áp dụng nhất là tựhọc qua SGK Đây là phương pháp không mới nhưng Ýt được áp dụng trongthực tế
Trang 2đến tính tích tự lực trong tìm tòi nghiên cứu của bản thân người tự học để tìm
ra những kiến thức mới, tôi thiết nghĩ phải tìm mọi cách để tìm hiểu cơ sở lýluận của phương pháp này cũng như tìm hiểu về tính khả thi khi áp dụngphương pháp này trong dạy HS học ở các trường THCS
Vì vậy tôi lùa chọn đề tài " Biện pháp hướng dẫn học sinh tự học SGK qua kênh chữ khi dạy bài 41, 42, 43, 44 - Sinh học 9".
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Xây dựng biện pháp và quy trình để hướng dẫn học sinh tự học SGKqua dạy bài 41, 42, 43, 44 - sinh học 9
III NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
1 Hệ thống hoá cơ sở lý luận về phương pháp hướng dẫn HS tự họcSGK qua dạy học chương I Sinh học 9 để giúp học sinh tự mình lĩnh hội kiếnthức mới
2 Xác định thực trạng của việc hướng dẫn HS tự học SGK hiện nay ởcác trường THCS
3 Phân tích nội dung chương I sinh học 9 để làm cơ sở xác định nộidung hướng dẫn HS tự học SGK
4 Đề xuất các phương pháp hướng dẫn HS tự học SGK
5 Thiết kế một số bài soạn có áp dụng các phương pháp hướng dẫn HS
tự học SGK trong chương I sinh học 9 để hướng dẫn HS tự học
IV ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu các biện pháp hướng dẫn HS tự học SGK trong dạy họcchương I sinh học 9
- ảnh hưởng của các biện pháp đó tới sự hình thành và phát triển kiếnthức của HS
2 Khách thể nghiên cứu
- HS líp 9 trường THCS Đồng Lạc huyện Nam Sách - Hải Dương
Trang 3Để hoàn thành các nhiệm vụ nghiên cứu tôi đã sử dụng các phươngpháp sau:
1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Nghiên cứu các công văn chỉ thị về đường lối chủ trương chính sáchphát triển giáo dục đào tạo của Đảng và Nhà nước để nắm bắt được các quanđiểm chỉ đạo cũng như hướng đi cho đề tài
Nghiên cứu các tài liệu các công trình của các nhà nghiên cứu các bậctiền bối cũng như bạn bè đồng nghiệp về vấn đề tự học
Nghiên cứu nội dung chương I Sinh học 9 và các tài liệu có liên quan
2 Phương pháp điều tra sư phạm
Qua giê thăm líp hỏi ý kiến đồng nghiệp hiện nay có sử dụng phươngpháp hướng dẫn HS tự học nhưng kết quả chưa cao
3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
- Tiến hành thực nghiệm tại trường THCS Đồng Lạc Nam Sách HảiDương theo tiến trình soạn thảo sơ bộ đánh giá hoạt động để đưa ra nhữngnhận xét bổ sung và hoàn thiện tiến trình dạy học như đã dự kiến
- Chọn líp thực nghiệm và líp đối chứng
- Dùa vào kết quả khảo sát căn cứ vào thực trạng tổ chức hoạt độnghọc tập của HS chọn khối 9 gồm 4 líp trong đó 2 líp thực nghiệm và 2 líp đốichứng Các líp trong khối chất lượng học tập khả năng tư duy phong trào thiđua học tập tương đương nhau
Trang 4chính bản thân tôi dạy với cùng một nội dung kiến thức thời lượng cũng nhưthiết bị dạy học.
- Các bước tiến hành thực nghiệm
+ Thực nghiệm thăm dò trước ngày 20 tháng 1 năm 2008
+ Thực nghiệm chính thức từ ngày 15 tháng 2 năm 2008 đến ngày 26tháng 2 năm 2008
+ Sè bài thực nghiệm gồm 4 bài: Bài 41; bài 42; bài 43; bài 44 SGKsinh học líp 9 Mỗi bài dạy 1 tiết
Sau mỗi bài tôi đều dành một khoảng thời gian để kiểm tra khả nănglĩnh hội kiến thức của HS ở cả 2 líp thực nghiệm và đối chứng Bằng cách rachung một đề kiểm tra, mét biểu điểm đánh giá với cả 2 líp này
Khi kết thúc chương I, để kiểm tra độ bền kiến thức của HS Tôi đãkiểm tra vào ngày 25/3/2008
1 1 1 2 1
x X
n
Trang 5* Độ chắc chắn của kết quả thu được (td)
Dùng để xác định mức độ chắc chắn, mức độ có ý nghĩa của sự saikhác của hai giá trị trung bình, của trường hợp thực nghiệm và đối chứng
Nếu td 3,3 thì độ chính xác cao hơn 99%
Nếu td 4 thì độ chính xác càng cao hơn nữa
- Phân tích định tính:
Chú trọng phân tích chất lượng bài làm của học sinh để thấy rõ:
+ Mức độ hiểu bài sâu sắc, lô gíc chặt chẽ kiến thức đã học
+ Năng lực tư duy, cách trình bày rõ ràng, chính xác khoa học
+ Khả năng vận dụng kiến thức chủ động, sáng tạo và thực tế
+ Độ bền kiến thức
+ Phương pháp lĩnh hội và học tập
V PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Trang 6dạy song đề tài của tôi được áp dụng với bài 41, 42, 43, 44 - sinh học 9 Đây
là phần có nội dung mang tính chất thực tiễn tuy nhiên thời gian có hạn nênchỉ tập trung vào những kiến thức cơ bản cụ thể:
1 Bài 41: Môi trường và các nhân tố
sinh thái
Môi trường
2 Bài 42: Ảnh ưởng của ánh sáng lên
đời sống của sinh vật
3 Bài 43: Ảnh hưởng của nhiệt độ và
độ Èm lên đời sống của sinh vật
4 Bài 44: Ảnh hưởng lẫn nhau giữa các
sinh vật
Trang 7PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I ĐÁNH GIÁ VỀ TÌNH HÌNH TỰ HỌC VÀ NGHIÊN CỨU TỰ HỌC Ở VIỆT NAM
1.1 Tự học trong xã hội trước cách mạng
Trong lịch sử phát triển khoa học giáo dục hoạt động tự học đã đượcchú ý từ lâu Thời phong kiến tư tưởng nho giáo là hệ tư tưởng thịnh hànhnhất ở nước ta
Thời kỳ thực dân Pháp đô hộ nền giáo dục nước ta tuy có biến đổi nhưngvÉn hạn chế vì thế mà hoạt động tự học không được nghiên cứu và phổ biến
1.2 Tự học trong thời kỳ có nền giáo dục Cách mạng
Hoạt động tự học thực sự được phát động và nghiên cứu nghiêm túctriển khai rộng rãi từ khi nền giáo dục cách mạng ra đời (1945) mà chủ tịch
Hồ Chí Minh vừa khởi xướng vừa là nêu tấm gương về tinh thần và phươngpháp tự học Người đã dạy: " Cách học tập của người học thì phải hướng dẫnhọc sinh tự học hình thành thãi quen và rèn luyện phương pháp đọc sách, cóphương pháp và kế hoạch kiểm tra việc tự học của HS Song muốn tù học cóhiệu quả, các tác giả cũng khảng định đối với người học cần hình thành ýthức tự học, bồi dưỡng phương pháp tự học, đảm bảo các điều kiện (vật chất,thời gian ) cho tự học, có chế độ kiểm tra hợp lý
Hà Thế Ngữ, Nguyễn Hoàng Yến khi nghiên cứu tư tưởng của chủ tịch
Hồ Chí Minh về giáo dục đã cho thấy tự học là tư tưởng giáo dục lớn vàthường xuyên suốt cuộc đời của Người Người đã chỉ ra muốn tự học có hiệuquả thì phải có mục đích rõ ràng lao động nghiêm túc có các điều kiện cầnthiết tích cực học tập và thực hành
Trên cơ sở nghiên cứu của lý luận và thực tiễn đào tạo, Nguyễn CảnhToàn cho rằng "Hướng dẫn tự học chủ yếu là hướng dẫn tư duy trong việcchiếm lĩnh kiến thức, hướng dẫn tự phê bình về tính cách trong quá trìnhchiếm lĩnh kiến thức đó Đó là "tự học có hướng dẫn"
Trang 8Trần Bá Hoàng, Lê Quang Long về quá trình tự học và hướng dẫn tự họccũng đã chỉ ra tính cấp thiết cơ sở khoa học và tính khả thi của hình thức đàotạo tự học có hướng dẫn Tuy nhiên tác giả chủ yếu đề cập đến đối tượngngười học là sinh viên (chủ yếu các trường ĐHSP).
Theo Lê Khánh Bằng, phương hướng cơ bản nâng cao chất lượng hiệuquả tự học tự đào tạo là: học viên phải nắm được cách học với 5 bí quyết đólà: học từng bước: tróng, nhanh; nhiều cách và kết hợp với ý thức ngẫu nhiên;học bền vững;vừa học vừa làm Đồng thời học viên cần rèn luyện 4 kỹ năng
cơ bản: Định hướng, vạch kế hoạch, thực hiện kế hoạch, tự kiểm tra
Trong lĩnh vực dạy bộ môn Sinh học các công trình nghiên cứu củaTrần Bá Hoành đã phân tích cụ thể các cơ sở khoa học, cách thiết kế bài HShọc theo phương pháp tích cực và kỹ thuật thực hiện các phương pháp tích cựcnhư kỹ thuật xác định mục tiêu bài học, sử dụng câu hỏi phát phiếu học tập, kỹthuật đánh giá Đinh Quang Báo, Nguyễn Đức Thành đã phân tích các phươngpháp hình thành các khái niệm, quá trình và quy luật sinh học theo phươngpháp tích cực đặc biệt là các hình thức học ở nhà.Đinh Quang Báo đã nêu lêncác phương pháp và tổng kết các kinh nghiệm sử dông SGK trong quá trìnhhọc tập môn Sinh học kể cả trong quá trình học tập trên líp và tự học ở nhà
Như vậy, tự học có vai trò và ý nghĩa rất lớn không chỉ trong giáo dụcnhà trường mà còn trong cuộc sống Trong nhà trường bản thân của sự học là
tự học Cũng vì vậy mà kết quả của người học tỉ lệ với năng lực tự học của
họ Ngoài ý nghĩa nâng cáo kết quả học tập, tự học còn tạo điều kiện hìnhthành và rèn luyện khả năng hoạt động độc lập, sáng tạo của mỗi người, trên
cơ sở đó tạo tiền đề và cơ hội học tập suốt đời
Để góp phần vào hoàn thiện cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tổ chứcmột hình thức dạy học còn mới mẻ tại các trường THCS chúng tôi tiến hànhnghiên cứu đề tài "Biện pháp hướng dẫn HS tự học SGK qua kênh chữ cácbài 41, 42, 43, 44 - sinh học 9" Đề tài này sẽ làm rõ những yếu tố cần thiết
Trang 9chức hoạt động làm cơ sở hoàn thiện mô hình hướng dẫn tự học bộ mônSinh nói riêng và các bộ môn văn hoá nói chung.
II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
2.1 Cơ sở lý luận của đề tài.
2.1.1 Khái niệm về tự học và hướng dẫn tự học.
2.1.1.1 Hoạt động tự học.
Học là hoạt động đặc trưng của con người trong đó con người đóng vaitrò chủ thể và tri thức là đối tượng để chiếm lĩnh Bản chất của hoạt động tùhọc và sự chiếm lĩnh kiến thức khoa học của người học, điều này xuất phát từbản chất lao động học tập, người học tự cải biến mình về kiến thức, kỹ năngthái độ Tuy vậy trong hoạt động học cũng có 2 trạng thái là học thụ động vàhọc chủ động (học tích cực)
Hoạt động tự học (self learning) là quá trình tự giác tích cực tù họcchiếm lĩnh tri thức khoa học bằng hành động của chính mình hướng tớinhững mục đích nhất định Do đó để hoạt động tự học có hiệu quả quá trình
tổ chức dạy học phải làm cho hoạt động của học sinh chuyển từ trạng tháihọc thụ động sang học chủ động
Như vậy hoạt động dạy học dù được tổ chức dưới hình thức nào thìquá trình học cũng bao hàm tính tự học Trong hình dạy học tập trung, giáoviên trực tiếp tổ chức và hướng dẫn quá trình nhận thức của người học, cònngười học phải đóng vai trò chủ thể nhận thức, tích cực huy động mọi phẩmchất tâm lý cá nhân của mình để tiến hành các hoạt động học tập cụ thể nhằmchiếm lĩnh tri thức, hình thành kỹ năng thái độ Nếu không có sự vận độngtích cực các thao tác tư duy của bản thân thì người học không thể chiếm lĩnhđược khái niệm khoa học và dĩ nhiên là không thể hoàn thiện nhân cáchđược Tuy nhiên trong quá trình tự học ở hình thức dạy học tập trung HS đãđược GV làm hộ rất nhiều công việc như xác định nhiệm vụ nhận thức, trìnhbày nội dung tri thức đến các bước đi và các yêu cầu kế hoạch cụ thể Đồng
Trang 10qua các hình thức kiểm tra trong giê lên líp Còng do tiếp xúc thường xuyêngiữa GV và HS theo kế hoạch dạy học chặt chẽ nên yếu tè " nội lực" được sự
hỗ trợ của yếu tè " ngoại lực" (từ GV)
Ngoài những giê lên líp có GV trực tiếp giảng dạy quá trình học tậpkhi không có GV, người học phải chủ động, tự sắp xếp kế hoạch phù hợp vớicác điều kiện mình có, huy động trí tuệ, kỹ năng của bản thân, để học tậptheo yêu cầu hướng dẫn của GV: Ôn tập mở rộng, giải quyết các bài tập đểhoàn thành tri thức nhằm hoàn thiện nhiệm vụ học tập Nói cách khác GV đãđiều khiển gián tiếp quá trình tự học của HS thông qua các nhiệm vụ học tậpđược giao về nhà sau những bài giảng
Trong dạy học, ngoài những chương trình học tập theo cấp líp để họcsinh thi lấy văn bằng chứng chỉ của Nhà nước việc học tập thường xuyên quahoạt động thực tiễn và cuộc sống để nâng cao khả năng thích Ých với cuộcsống hầu như phải hoàn toàn tự học
Như vậy khái niệm hoạt động tự học là rất rộng, nó có thể diÔn ra vớingười học khi có GV trực tiếp giảng dạy hoặc khi có sự điều khiển gián tiếpcủa GV thậm chí không có GV hướng dẫn Nó có thể áp dụng với việc họctập mở rộng hiểu biết tăng khả năng thích ứng với cuộc sống
Căn cứ vào mục tiêu nhiệm vụ đề ra, đề tài đi sâu nghiên cứu hoạtđộng tự học trong hình thức tự học có hướng dẫn nhằm giúp HS lĩnh hội trithức Như vậy tự học ở đây là hoạt động tự học của HS để chiếm lĩnh tri thứckhoa học đã được quy định thành kiến thức học tập trong chương trình vàSGK dưới sự hướng dẫn trực tiếp của GV thông qua các phương tiện học tập
2.1.1.2 Hướng dẫn tự học
Trong hoạt động hướng dẫn, dạy chính là sự tổ chức và điều khiển tối
ưu cho quá trình chiếm lĩnh tri thức khoa học để hình thành và phát triểnnhân cách cho người học Hoạt động dạy học có 2 chức năng trực tiếp luônxoắn kết chặt chẽ với nhau là: "truyền đạt thông tin dạy học và điều khiển
Trang 11phát triển của phương pháp dạy học Trong hướng dẫn tự học chức năng điềukhiển của GV Ýt mang tính " quyền uy" hay " Mệnh lệnh" như trong dạy họctập trung nên có thể gọi là chức năng chỉ đạo
(Hình 1): Sơ đồ mối quan hệ các thành tè trong mô hìh tự học có hướng dẫn
Từ quan niệm về dạy học trên đây có thể hiểu khái niệm hướng dẫn tựhọc là sự hỗ trợ của GV trong việc định hướng tổ chức chỉ đạo nhằm giúpngười học tối ưu hoá quá trình tự lực chiếm lĩnh kiến thức, hình thành kỹnăng kỹ xảo thông qua đó để hình thành và phát triển nhân cách của HS Nộidung việc định hướng bao gồm: Định hướng mục tiêu, nội dung phương pháphọc tập để HS tự phát hiện, lùa chọn Nội dung công việc
Trang 12Tổ chức dẫn dắt của GV bao gồm kế hoạch hành đéng, hệ thống hoábài toán nhận thức sự hỗ trợ của GV, tập thể nhóm líp (khi cần thiết) trọng tài
cố vấn để HS tự tổ chức hoạt động nhận thức nhằm giải quyết nhiệm vụhọc tập (tự thể hiện, tự điều khiển, tự đánh giá )
Qua những phân tích trên đây có thể biểu diễn mối quan hệ các thành
tố theo sơ đồ như trên (Hình 1)
* Hình thức tổ chức dạy học tự học có hướng dẫn
Phát huy tính tích cực không phải là vấn đề mới Từ thời cổ đại khi cácnhà sư phạm như Khổng Tử, Ari stot đã từng nói đến tầm quan trọng to lớncủa việc phát huy tính tích cực chủ động của HS và đề cập nhiều biện phápphát huy tính tích cực nhận thức J Akomenski, nhà sư phạm lỗi lạc thế kỷXVII đã đưa ra những biện pháp dạy học bắt học sinh phái tìm tòi suy nghĩ
để nắm bắt được bản chất của sự vật hiện tượng J.Jrotxo còng cho rằng phảihướng dẫn HS tích cực dành kiến thức bằng cách tìm hiểu, khám phá và sángtạo A.Disecvec thì cho rằng người GV tồi là người cung cấp cho HS chân lý,người GV giỏi là người giúp cho HS tìm ra chân lý K.D.U.sinski nhấn mạnhtầm quan trọng của việc điều khiển dẫn dắt HS của GV
Chính vì thế hình thức dạy học "tự học SGK có hướng dẫn" là mộttrong những biện pháp để phát huy tính tích cực học tập của HS Hình thức tổchức dạy học là hình thái tồn tại của quá trình dạy học trong đó cốt lõi là cáchdạy và cách học
Tự học SGK có hướng dẫn là mét hình thức tổ chức dạy học mà trong
đó người thầy đóng vai trò người định hướng, dẫn dắt để học sinh phát huynéi lực của mình tự chiếm lĩnh tri thức của một chương trình hay một phầncủa bài nào đó Trong hình thức này thời gian giảng của GV sẽ Ýt hơn so vớicác hình thức khác chủ yếu dành thời cho HS tự học Như vậy tự học vàhướng dẫn tự học ở đây được xem xét không phải ở góc độ phương pháp haybiện pháp hỗ trợ dạy học mang tính đơn lẻ mà là một phương pháp có sựthống nhất giữa hoạt động tổ chức chỉ đạo của GV với hoạt động tự tổ chức
Trang 13tự điều khiển của HS tạo thành một chỉnh thể nhằm đạt mục đích: HS đạthiệu quả tự học cao nhất.
* Nguyên tắc cơ bản trong hướng dẫn tự học SGK và tự học SGK.
Hướng dẫn tự học là hoạt động của GV trong tự học có hướng dẫn do
đó cùng với việc tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc dạy học nói chung, hoạtđộng hướng dẫn tự học cho HS cần đặc biệt chú ý một số nguyên tắc sau:
* Nguyên tắc đảm bảo tính logic nội dung và mục tiêu chương trình.
Trong tự học có hướng dẫn dễ xảy ra tình trạng GV hạ thấp yêu cầuđối với HS Do vậy muốn thoả mãn nguyên tắc này cần phải đảm bảo tôntrọng nội dung và tính logic cấu trúc chương trình đã được nhà nước quyđịnh
* Nguyên tắc sự hướng dẫn của GV phải phát huy tối đa nội lực của HS.
Nội lực ở đây là tổng thể các yếu tố bên trong của con người HS cóảnh hưởng đến quá trình tự học như: Mục đích, động cơ, thái độ, vốn tri thức
và kinh nghiệm, ý trí vượt khó khăn của HS Chính vì thế nội lực của HS cóvai trò quyết định đến kết quả tự học của họ Trong thực tế nhiều khi HSkhông ý thức được đầy đủ và phát huy hết tiềm năng vốn có cũng như biếtcách khắc phục những hạn chế của mình khi tự học do đó sự hướng dẫn của
GV có vai trò rất to lớn đối với việc nâng cao hiệu quả tự học Nếu GV cãphương pháp hướng dẫn phù hợp, giúp HS khắc phục các nhược điểm, pháthuy thế mạnh của mình sẽ làm cho nội lực của HS được nâng lên và chỉ cónhư vậy thì hoạt động tự học mới đem lại hiệu quả Nói cách khác quá trìnhhướng dẫn tự học chỉ đem lại kết quả khi có GV giúp sức để chính bản thân
HS tự khơi dậy và phát huy được nội lực của mình phục vụ cho tự học Đểđạt được điều này trong quá trình hướng dẫn tự học GV cần định hướng cho
HS phát huy nội lực của mình tập trung đúng vào các mục tiêu cụ thể Sựhướng dẫn của GV có thể sự điều khiển trực tiếp trên líp, phô đạo nhóm hoặcgián tiếp thông qua các tài liệu học tập, song dù trực tiếp hay gián tiếp đều
Trang 14phải đảm bảo nguyên tắc là: Mỗi hành động hướng dẫn của GV đều phảitương ứng với một hoặc nhiều hành động tự học của HS Để đảm bảo sự điềukhiển của GV một cách hiệu quả đối với hoạt động tự học một yếu tố rấtquan trọng là: Phải đảm bảo có đủ tài liệu học tập cần thiết cho HS.
* Nguyên tắc đảm bảo hiệu quả việc tự kiểm tra đánh giá và duy trì thường xuyên thông tin ngược chiếu từ HS đến GV.
HS tự kiểm tra, nếu HS nắm vững nội dung phương pháp tự đánh giáthì họ sẽ điều chỉnh kịp thời hoạt động tự học của mình sao cho có hiệu quảnhất đồng thời duy trì bồi dưỡng thường xuyên ý chí tự học Năng lực tựđánh giá là một yếu tố quan trọng của tự học trong HS và không thể thiếu đốivới HS tù học Để hình thành và phát triển năng lực tự đánh giá cho HS,trong quá trình hướng dẫn tự học, người GV phải hướng dẫn HS cách phânchia các mục tiêu chung thành các mục tiêu bộ phận trong đó có các tiêu chí
rõ ràng để sau khi giải quyết mỗi nhiệm vô tù học HS có thể tự biết rằngmình đã hoàn thành nhiệm vụ đó ở mức độ nào Một yếu tố quan trọng nữa
mà giáo viên cần quan tâm hình thành và củng cố cho HS đó là thãi quen tựđánh giá kết quả tự học của mình Tuy việc đánh giá có vai trò rất quan trọng,song việc đánh kết quả tự học của HS từ phía giáo viên vẫn là không thểthiếu vì nó vừa có giá trị chỉ đạo, điều khiển vừa để khẳng định thành tíchhọc tập của HS, GV đánh giá kết quả tự học chính là biện pháp rÌn luyện kĩnăng tự đánh giá cho HS, đồng thời giúp cho việc đánh giá chất lượng tự họcchuẩn xác, khách quan hơn Việc đánh giá của GV còn là nguồn thông tinphản hồi để qua đó GV đánh giá hiệu quả và điều chỉnh phương pháp hướngdẫn HS tự học kịp thời, đồng thời bổ sung, uốn nắn những khiếm khuyếttrong quá trình tự học của HS, đặc biệt về phương pháp tự học Giáo viên cóthể thực hiện việc kiểm tra kết quả tự học của HS trong các buổi hướng dẫn
tự học trên líp, qua các phiếu hướng dẫn tự học, các bài kiểm tra
2.1.2 Cơ sở của tự học và hướng dẫn tự học.
Trang 15Như ta đã biết bản chất của tự học là lĩnh hội tri thức Do vậy GVkhông nên áp đặt cho HS mà phải tổ chức một cách hệ thống các hoạt độnghọc tập nhằm giúp HS tự lĩnh hội những kiến thức mới bởi " chóng ta khôngthể xây dựng tương lai cho tuổi trẻ nhưng chúng ta có thể xây dựng líp trẻcho tương lai" (Fank lind Rooselt)
Nhà trường không chỉ dạy tri thức cho HS mà qua các hoạt động còndạy cho HS biết cách tự lãnh hội và tiếp thu tri thức " cách tự tìm ra chân lí"biết suy nghĩ tìm tòi, tự nghiên cứu khám phá thế giới các sự vật hiện tượng
và khám phá xã hội, "trí tuệ không phải là trí tuệ nếu chỉ rót ra từ sách vở"(Horase)
Để đạt được yêu cầu này GV phải là người có vai trò tổ chức, chỉ đạohướng dẫn cho HS Trong quá trình tổ chức GV không phải là người truyềnđạt tri thức mà là người định hướng, đạo diễn cho HS tự khám phá kiến thức
và cách tìm ra kiến thức, như Sơcattos đã nói: " Tôi không thể dạy cho ai bất
cứ điều gì, tôi có thể bắt họ suy nghĩ" Làm được như vậy, đấy mới là thầygiáo tốt
Dạy học cho học sinh không chỉ đơn thuần nhằm mục tiêu duy nhất làgiúp HS có một kiến thức nào đó mà nên nghĩ rằng: " Mục tiêu giáo dụckhông phải là dạy cách hay cung cấp công cụ để đạt được sự giàu có, mà đóphải là con đường dẫn tới tâm hồn con người, vươn tới cái chân thực và thựchành cái thiện" (Vậy Lakshini Panrt) hay Visa: "Dạy học không chỉ đơnthuần là cung cấp tri thức mà phải hướng dẫn hành động" - Nguyễn ĐứcThành Hành động không chỉ đáp ứng yêu cầu cá nhân mà cho cả cộng đồng,địa phương và toàn xã hội, chương trình học phải giúp cho từng cá nhânngười học tham gia vào các chương trình hoạt động của cả cộng đồng
Do vậy, trong dạy học GV có vai trò quan trọng trong việc giúp đỡ cho
sự hình thành cơ sở định hướng khái quát các hành động của HS
Học là sự hoạt động nhận thức mang tính tích cực, tự lực bao gồm cáchoạt động của chủ thể thích ứng với các tình huống qua đó chủ thể chiếm lĩnh
Trang 16kinh nghiệm xã hội lịch sử biến thành năng lực thể chất và tinh thần của cánhân hình thành và phát triển nhân cách cá nhân, do vậy kiến thức là kết quảcủa sự thích ứng mới, là bằng chứng của sự học.
Còn dạy học không chỉ là hoạt động truyền thụ kiến thức những sảnphẩm có sẵn cho HS nhằm hình thành cho họ nhu cầu thường xuyên học tập,tìm tòi chiếm lĩnh tri thức, kích thích cho họ năng lực tổ chức lao động trí ócmột cách hợp lý, để họ định hướng vào những thông tin hết sức rộng lớn,phong phú và tự khám phá hình thành thãi quen tự kiểm tra, tù đánh giá hoạtđộng nhận thức
Như vậy, để tự học và hướng dẫn tự học đem lại hiệu quả cần thiếtphải căn cứ vào lứa tuổi HS, mục tiêu, nội dung.Trình đé hiện có của HS để
từ đó HS lùa chọn phương pháp, cách thức tù học, GV lưa chon phươngpháp, cách thức truyền đạt, hướng dẫn nhằm đạt kết quả cao nhất
Trong dạy học, chuyển từ GV thông báo kiến thức, HS thụ động tiếp thusang việc GV hướng dẫn cho HS tự tìm ra kiến thức, chuyển từ GV truyền thômét chiều độc thoại sang việc hợp tác, đối thoại, GV tổ chức đối thoại khôngchỉ GV- HS mà cả HS -HS trên tình thần hợp tác để giúp học sinh tự chiếmlĩnh tri thức; chuyển từ việc chỉ nắm kiến thức mà còn học cách học, cách điđến kiến thức, cách ứng xử, cách giải quyết vấn đề, cách sống; chuyển từ GVđộc quyền đánh giá sang HS tự đánh giá lẫn nhau, có tác dụng khuyến khích
HS tự học và cung cấp liên hệ được cho GV đánh giá chuyển từ quan niệm GVtạo điều kiện để học sinh tự học và cung cấp liên hệ người cho GV là thầy học,chuyên gia vÒ việc học, dạy cách học cho học sinh tự học theo tinh thần triết lí
giáo dục của thế kỷ XXI về 4 trụ cột của giáo dục là: Học để biết, Học để làm, Học để cùng chung sống với nhau, Học để làm người.
Muốn chuyển đổi theo mô hình dạy học như trên cần phải sử dụngphương pháp học tích cực mà một trong những đặc trưng của phương phápdạy học tích cực là: Dạy học chú trọng rèn luyện cho HS phương pháp tựhọc
Trang 17Về tự học của HS có thể dùa trên sự hướng dẫn, chỉ đạo của GV, cóthể sử dụng tài liệu như SGK, STK qua hệ thống thông tin như sách báo,Internet mỗi hình thức cần có những phương pháp riêng để tự học nhằmlĩnh hội kiến thức Trong đó việc tự học SGK dưới sự thống nhất của GV làbước khởi đầu và cơ bản nhất giúp HS tiếp thu kiến thức khoa học cơ bản.
2.1.3 Vai trò của việc hướng dẫn học sinh tự học.
Trên thế giới trong những năm gần đây nền kinh tế mới được hìnhthành và phát triển với những tên gọi khác nhau như nền kinh tế học tập, nềnkinh tế tri thức Nền kinh tế học tập coi động lực chủ yếu của nền kinh tế là
sự học tập suốt đời của tất cả mọi người trong xã hội Nền kinh tế tri thức coitri thức là lực lượng sản xuất, trực tiếp sản xuất ra các sản phẩm mang hàmlượng trí tuệ cao
Cùng với sự hình thành nền kinh tế mới là sự hình thành quan điểmmới về giáo dục và đào tạo Tiêu biểu là triết lí giáo dục thế kỉ XXI, đó là "học suốt đời", " xây dựng xã hội học tập"
Ở nước ta sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế đòi hỏi ngành giáo dụcphải tạo ra một líp người năng động, sáng tạo đáp ứng yêu cầu phát triển nguồnnhân lực phục vô đắc lực cho các mục tiêu kinh tế xã hội của đất nước
Để học thường xuyên, học suốt đời thì phải biết dạy cách tự học cho
HS có vai trò và ý nghĩa rất lớn vì khi rèn luyện được năng lực tự học cho HSbên cạnh HS nắm được tri thức trên líp HS còn học được lĩnh hội được kiếnthức ngoài xã hội, từ đó nâng cao chất lượng học tập, tạo tiền đÒ cho sự pháttriển năng lực, nhận thức, sáng tạo của HS, gây được sự hứng thó học tậpkích thích tư duy tích cực, giúp HS không ngừng lĩnh hội tri thức một cáchchủ động vững chắc mà còn phát triển kĩ năng tư duy, tổng hợp, khái quát nộidung kiến thức một cách tốt nhất
2.1.4 Cách rèn luyện kĩ năng tự học:
Trang 18Có nhiều cách tù học qua nhiều phương tiện nhưng việc học tập quaSGK là cơ bản nhất Do vậy đối với HS trong trường THCS cần hướng dẫnhọc sinh tự học qua SGK là điều cần thiết.
Trước hết ta cần xác định rõ vai trò của SGK trong dạy học SGK lànguồn tri thức quan trọng cho HS, nã quy định liều lượng kiến thức cần thiếtcủa môn học, là phương tiện hỗ trợ đắc lực cho GV và HS
SGK sử dụng để: ôn tập và củng cố kiến thức đã học trên líp; đọc vàtra cứu số lượng; tra cứu các định nghĩa; định lí; công thức để làm tư liệu;khái quát nội dung từ các phần các chương, các bài theo mét chủ đÒ nhấtđịnh; hệ thống hoá các tài liệu theo mét quan điểm thống nhất nào đó; HS giacông lại các tài liệu trong SGK nhằm giải quyết một vấn đề nhất định do GVđặt ra…
Do vậy HS tù thu nhận kiến thức, chính là rèn luyện cho các emphương pháp đọc sách, kĩ năng, kĩ xảo đọc sách
Để HS sử dụng tốt SGK cũng như tài liệu tham khảo, cần rèn luyệncho các em một số kỹ năng cơ bản sau:
- Dạy HS ký năng tạo được nội dung cơ bản từ tài liệu đọc được nghĩa
là HS luôn đặt ra câu hỏi: "ở đây nói lên cái gì?"; ở đây đề cập đến nhữngkhía cạnh nào?"; "trong những khía cạnh đó thì khía cạnh nào là khía cạnhchủ yếu và cơ bản?" Như vậy HS phải diễn đạt được ý chính của nội dungđọc được, đọc tên đề mục cho phần, đoạn đã đọc sao cho tên mục phản ánhđược ý chính
- Dạy HS biết cách phân tích những bài đọc được nghĩa là dùa trênnhững phân tích cấu trúc lôgic của bài đọc, chia thành những luận điểm khoahọc khác nhau, cùng những dẫn chứng chứng minh cho những luận điểm đó,đồng thời phân chia những kiến thức khác nhau và nêu ra được ý nghĩa củanó
- Dạy HS biết cách trả lời câu hái dùa trên những tư liệu đọc được, khitrả lời câu hỏi HS sử dụng tài liệu học qua sách và vốn kiến thức đã có bằng
Trang 19cách tái hiện hoặc phân tích so sánh thiết lập mối quan hệ nhân quả, tuỳthuộc vào yêu cầu câu hỏi đặt ra.
- Dạy HS biết cách lập một dàn bài qua tài liệu SGK, nghĩa là phải lậpmột tổ hợp các đề mục thÓ hiện các ý cơ bản trong tài liệu, để xây dựng mộtdàn bài cần tách ra những ý chính, sau đó thiết lập mối quan hệ giữa chúng
và trên cơ sở đó chia bài học nhỏ dần rồi lùa chọn cho từng mục tương ứng
- Dạy kĩ năng soạn đề cương: Còng như cách thiết lập dàn ý, nhưngtrong mỗi ý nhỏ có nội dung tóm tắt thường gọi là lập đề cương chỉ ghi lạinhững ý cơ bản được giải thích và chứng minh
- Dạy tóm tắt tài liệu đọc được: Để tóm tắt tốt phải phân tích bài họctách ra những ý chính ý phụ rồi từ đó thiết lập mối quan hệ giữa chúng
- Dạy kỹ năng đọc và phân tích bảng số liệu biểu đồ, đồ thị, hình vẽtrong sách
Áp dụng cụ thể vào các trường hợp sau đây:
* Sử dụng từ SGK trong khâu nghiên cứu tài liệu mới.
- Cách thứ nhất: Tổ chức cho HS làm việc với sách ngay sau khi GV
ra bài tập nhận thức hoặc sau khi ra lời mở đầu của GV hay ngay khi GV tạotình huống có vấn đề Qua phân tích tài liệu đọc mà học sinh có thể phát hiệnđược vấn đề cuối cùng tìm ra được phương thức tối ưu
- Cách thứ hai: Tổ chức cho HS đọc mô tả những sự kiện, còn những
vấn đề khó phức tạp GV cần giải thích cho sáng tỏ Thực chất là sự hoạt độngđộc lập của HS với sự trình bày xen kẽ của GV
- Cách thứ ba: GV tổ chức giải đáp án hoặc đề HS độc lập nghiên cứu
SGK trước khi cho các em nghiên cứu nội dung mới mà nội dung này có liênquan đến tài liệu trước đã đọc trước đây
- Cách thứ tư: Đọc SGK sau khi quan sát thí nghiệm hay quan sát các
phương tiện trực quan khác Qua đọc sách mà HS có tư liệu để giải thích kếtquả, thiết lập mối quan hệ trong thí nghiệm
Trang 20- Cách thứ năm: Đọc SGK để giải bài tập nghĩa là tìm lời giải đáp cho
bài tập mà lời giải đáp chứa đựng trong SGK là nội dung kiến thức mới cầnlĩnh hội
* Sử dụng SGK trong khâu củng cố kiến thức, rèn luyện kỹ năng kỹ xảo.
- Cách thứ nhất: Sau khi giới thiệu nội dung tài liệu thì HS đọc SGK.
Sau khi đọc SGK, HS thấy cần thiết chiếu lời giảng của thầy với nội dungđọc được từ sách Mặt khác, biện pháp này giúp HS hình thành kỹ năng đọcsách đối chiếu vở ghi với sách để bổ sung, chỉnh lý chuẩn xác kiến thức biến
sự trình bày của GV và sách thành tài sản tri thức riêng của mình
Cách thứ hai: Tổ chức HS làm việc với SGK nhằm mục đích ôn tập
củng cố tài liệu trên cơ sở hệ thống kiến thức của một chương hay nhiềuchương
Cách thứ ba: GV ra các dạng bài tập khác nhau để tổ chức HS nghiên
cứu SGK có thể là:
+ Bài tập yêu cầu HS sưu tầm các tài liệu trực quan, mẫu vật để minhhoạ, khẳng định một khái niệm, một quy luật đã trình bầy trong sách
+ Bài tập luyện tập một quy tắc, mét định luật
+ Bài tập đòi hỏi biến đổi hành động cũ tìm ra những mặt mới của đốitượng nghiên cứu để di chuyển kiến thức kĩ năng, kĩ xảo sang tình huốngmới
+ Bài tập yêu cầu HS đọc SGK, ôn lại những kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo
đã đọc để lĩnh hội kiến thức mới, khi hoàn thành bài tập này HS đưa ra trithức đã có vào hệ thống các điều kiện mới
2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
2.2.1 phương pháp nghiên cứu.
Tôi đã tiến hành tìm hiểu thông qua trò chuyện với GV - HS, nghiêncứu hồ sơ của HS, cũng như phát phiếu điều tra đến cán bộ GV của 5 trườngTHCS trong huyện:
Trang 21Trường THCS Đồng Lạc Nam Sách - Hải Dương Trường THCS An Lâm Nam Sách - Hải Dương Trường THCS thị trấn Nam Sách -Nam Sách - Hải Dương Trường THCS Quốc Tuấn Nam Sách - Hải Dương
Trường THCS Hồng Phong Nam Sách - Hải Dương
Qua các phiếu điều tra (ở phần phụ lục) cho 25 GV và 15 câu hỏi với kết quả dưới đây, tôi rót ra một số nhận xét và kết luận sau:
Bảng 1: Kết quả thu được qua phiếu điều tra phỏng vấn
Phương án
Câu hái
Số lượng %
Số lượng %
Số lượng %
Số lượng %
Số lượng %
Số lượng %
- Kết quả cho thấy hầu hết GV đều có nhận thức đúng đắn định nghĩa
về phương pháp dạy học (PPDH) cũng như dạy học tích cực Do đó GV chorằng dù sử dụng PPDH nào thì mục đích cần đạt tới sau mỗi giê học là HSphải nắm vững được tri thức
Trang 22cơ sở nào cả mà phải dùa trên nhiều yếu tố chi phối để góp phần nâng cao kếtquả tiết dạy Trong các yếu tố đó có 3 yếu tố quan trọng nhất là: Năng lực của
GV, trình độ của HS và mục đích nội dung bài học
- Phần lớn cán bộ GV cho rằng cần phối hợp đủ các yếu tố của PPDHtích cực đã phát huy được tính tích cực, chủ động của học sinh qua việc vấnđáp - tìm tòi bộ phận
- Hầu hết GV đều xác định cần áp dụng các biện pháp hướng dẫn HS tựhọc song mức độ áp dụng của họ lại không nhiều và không thường xuyên vàobài giảng Hoặc có tiến hành dưới hình thức đọc SGK, cho về nhà nghiên cứunhưng không đưa ra câu hỏi đồng thời không kiểm tra nên HS không quan tâmđến phần tự nghiên cứu này có khi HS còn không học nên kết quả không cao
- Hầu hết GV được hỏi đều đồng ý với ý kiến sử dụng biện pháp hướngdẫn HS tự học trong bài 1, bài 2, bài 3 Từ kết quả trên ta thấy việc:
" Hướng dẫn HS tự học " ở những mục và bài cụ thể:
Qua kiểm tra đánh giá đa số GV đều cho rằng sẽ đạt kết quả từ khá trởlên Khi trò chuyện tôi thấy hầu hết các GV đều đồng tình, ủng hộ khi tiếnhành theo biện pháp này
Đa sè GV đều thấy được ưu điểm của việc " Hướng dẫn HS tự học ".Thực tế còng đã chứng minh: khi GV ở bất kì môn học nào nếu rèn luyện kĩnăng tự học ngay từ đầu thì mức độ học tập của HS đó sẽ tốt HS tích cựchoạt động để tự tìm kiến thức cho mình tạo điều kiện cho HS hăng hái phátbiểu và ngược lại
- Tuy nhiên, nhiều GV cho rằng khó khăn lớn nhất sử dụng phương phápcho học sinh tự học là trình độ học sinh Một số khác cho rằng khó khăn dothiếu thốn về phương tiện vì Sinh học là bộ môn rất gần gũi với học sinh
Tóm lại:
Qua phiếu điều tra, đại đa số GV ủng hộ phương pháp rèn luyện nănglực tự học cho HS ở tất cả các môn học chung và đặc biệt là bộ môn Sinh học
Trang 23hiệu quả chưa cao.
2.2.2 Kết quả xác định thực trạng
* Tình hình dạy của GV:
Đa sè GV thường quan niệm kiến thức là mục đích của quá trình dạyhọc nên chỉ quan tâm đến phương pháp truyền thụ kiến thức của bài đúng vớinội dung SGK Mét sè GV chưa có kỹ năng soạn bài, vẫn áp dụng một cáchrập khuôn máy móc lối dạy học "truyền thống " chủ yếu giải thích, minh hoạ
sơ sài, nghèo nàn, tái hiện, liệt kê kiến thức theo SGK là chính, Ýt sử dụngcâu hỏi tìm tòi, tình huống có vấn đề coi nhẹ rèn luyện thao tác tư duy,năng lực thực hành, Ýt sử dụng các phương tiện dạy học nhất là các phươngtiện trực quan để dạy học và tổ chức cho HS nghiên cứu thảo luận trên cơ sở
đó tìm ra kiến thức và con đường để chiếm lĩnh kiến thức của HS
Để có một tiết dạy tốt thì GV chuẩn bị bài giảng phải tốt, phải dự kiếnđược các tình huống, cách sử dụng các phương tiện dạy học hợp lí, giúp HS
dÔ hiểu dễ nhớ, mở rộng kiến thức, rót ra những thông tin cần thiết phù hợpđối với nội dung của từng bài giảng
Thực tế, GV thường soạn bài giảng bằng cách sao chép lại SGK hay từthiết kế bài giảng, không dám khai thác sâu kiến thức, chưa sát với nội dungchương trình, hướng dẫn HS vận dụng kiến thức giải quyết những vấn đề từnhỏ đến lớn trong thực tế đời sống và sản xuất Khi dạy thường nặng vềthông báo, không tổ chức hoạt động học tập cho các em, không dự kiến đượccác biện pháp hoạt động, không hướng dẫn được phương pháp tự học
Mặt khác, phương pháp dạy học phổ biến hiện nay vẫn theo "lèi mòn",
GV truyền đạt kiến thức, HS thụ động lĩnh hội tri thức Thậm chí có GV cònđọc hay nghi phần lớn nội dung lên bảng cho HS chép nội dung SGK Việc
Trang 24sử dụng các phương tiện dạy học: phiếu học tập, tranh ảnh, băng hình chỉdùng khi thi GV giỏi hay có đoàn thanh tra, kiểm tra đến dự, còn các tiết họcthông thường hầu như " dạy chay".
Khi dạy chương I Sinh học 9 rất cần phương tiện trực quan minh hoạ,
có như thế HS mới hiểu được nội dung bài giảng một cách sâu sắc Nhưngviệc sử dụng phương tiện như một nguồn tri thức chiếm tỷ lệ thấp Với cách
sử dụng đó HS Ýt có các hoạt động tự học, hoạt động chủ yếu là GV, tạokhông khí líp học buồn tẻ nhạt, không gây được hứng thó học tập cho HS, HSthụ động lĩnh hội kiến thức truyền đạt từ GV
Do việc truyền đạt kiến thức của GV theo kiểu thụ động nên rèn luyện
kỹ năng tự học cũng như việc hướng dẫn tự học của GV không được chú ýlàm cho chất lượng giê học không cao
* Tình hình học tập của HS
Hiện nay việc học tập của HS về môn Sinh học nói chung và chương Inói riêng chưa được học sinh chó ý quan tâm, không hứng thó với môn học,chỉ coi là nhiệm vô Trong giê Sinh học có hiện tượng nói chuyện riêng, họccác môn học khác, hoặc luôn học ở tình trạng thụ động, máy móc tái hiệnkiến thức, Ýt vận dụng linh hoạt vào các tình huống khác nhau do đó hiệuquả lĩnh hội còn thấp, làm giảm hiệu quả học tập bộ môn
Qua trò chuyện, trao đổi với GV và HS thấy nếu GV nào có biện pháphoạt động học tập cho HS bằng cách sử dụng phương tiện dạy học và cácphương pháp tích cực hoá hoạt động học tập cho HS để tự nghiên cứu, thảoluận để xây dựng và hình thành kiến thức thì học sinh hứng thó học tập, tíchcực phát biểu ý kiến còn những giê mà GV dùng phương pháp thuyết trình,
sù dụng phương tiện để minh hoạ kiến thức SGK được sử dụng như thôngbáo không có sù gia công giê học kém sôi nổi và hiệu quả không cao
Còng qua điều tra cho thấy trong giê lên líp các hoạt động tập trungchủ yếu vào GV, GV không hướng dẫn HS nghiên cứu để tự lĩnh hội, tù tìmlấy tri thức mà đóng vai trò là người lĩnh hội tri thức một cách thụ động
Trang 25Còng từ đây ta thấy việc tự học của HS không theo một phương pháp nào cảnên hiệu quả không cao, HS chưa được rèn những kỹ năng cần thiết để xử lýnhững thông tin thu thập được từ các nguồn khác nhau trong cuộc sống Dovậy từ quá trình dạy HS tù học ở trên, ta thấy cần thiết phải thay đổi phươngpháp dạy học theo hướng phát huy tích cực chủ động học tập của HS Đòi hỏiviệc tổ chức các phương pháp hướng dẫn HS tự học ở trường THCS là cầnthiết và phải có phương tiện dạy học áp dụng hệ thống các phương tiện trongdạy học để tích cực hoá hoạt động của HS là thực sự cấn thiết đối với quátrình dạy học, góp phần cải tiến nâng cao chất lượng dạy và học.
- Nhiều trường chưa có phòng thí nghiệm nếu có còn rất thô sơ, dụng
cụ hoá chất còn thiếu nhiều
2.2.3 Nguyên nhân của thực trạng.
- Do điều kiện cơ sở vật chất của một số trường chưa đầy đủ nên việc
áp dụng theo phương pháp tích cực chưa cao
- Do GV giao bài tập yêu cầu về nhà nhưng chưa có sự kiểm tra mộtcách sát sao nên ý thức tự học của mét số HS không cao
III BIỆN PHÁP HƯỚNG DẪN HS TỰ HỌC SGK QUA KÊNH CHỮ CÁC BÀI 41; 42; 43; 44 - SINH HỌC 9 - THCS
Với đặc điểm của SGK mới là bên cạnh nội dung kiến thức không chỉđược nêu ra dưới dạng kênh chữ mà còn ở dạng kênh hình, bảng biểu Vìthế khi nghiên cứu SGK nếu không có biện pháp cụ thể, khoa học thì ngườihọc rất khó lĩnh hội nắm bắt hết nội dung mà tác giả muốn truyền đạt Đốivới môn Sinh học thì điều đó càng thể hiện rõ hơn Trên cơ sở nghiên cứu tài
Trang 26liệu, hỏi ý kiến đồng nghiệp cũng qua áp dụng thực tiễn, tôi xin đưa ra một sốbiện pháp hướng dẫn HS tự học SGK.
3.1 Hướng dẫn HS tù tra cứu SGK để tìm ý trả lời.
Trong biện pháp này,GV hướng dẫn HS tự đọc SGK, tìm ý để trả lờicác câu hỏi của GV Trên cơ sở các câu hỏi của GV cũng chính là các gợi ý
để HS tìm ra nội dung kiến thức cần lĩnh hội
Biện pháp này có thể tiến hành theo các bước sau đây:
Bước 1: HS phải tự đọc thông tin SGK Việc tự đọc thông tin SGK có
thể tiến hành ở nhà hoặc đọc thầm trên líp trong quá trình nghiên cứu GVkhông nên cho một vài HS đứng dạy đọc nội dung vì như thế nhiều em cóthãi quen ỷ lại không phát huy năng lực tự học của học sinh
Bước 2: GV nêu câu hỏi, HS xác định được nội dung câu hỏi nhằm
vào vấn đề nào, mục đích để làm gì ? Việc này có thể mỗi HS tìm ra, có thểthảo luận nhóm thống nhất tìm ra ý kiến trả lời
Bước 3: Dùa vào thông tin vừa nghiên cứu HS trả lời câu hỏi Việc trả
lời câu hỏi có thể do mỗi cá nhân tự xung phong phát biểu, có thể đại diệnnhóm thảo luận phát biểu sau đó nhóm khác nhận xét bổ xung để đi đến kếtluận cuối cùng chính là nôi dung cần lĩnh hội
3.2 Biện pháp hướng dẫn HS tự đọc SGK, tự lập dàn ý của một đoạn bài (một mục bài).
ĐÓ HS có thể tự đọc SGK, tự lập dàn ý của một đoàn bài (một mụcbài) cần thực hiện các bước sau:
Bước 1: HS phải đọc nhanh một lượt của đoạn của mục cần lập dàn ý Bước 2: HS tự đọc kỹ lại nội dung để xác định được bản chất của nội
dung cần lập dàn ý (nhấn mạnh các ý trọng tâm, bỏ qua các ý tình tiết nhá )
Bước 3: Tách các ý chính thiết lập mối quan hệ giữa các ý đó rồi đặt
lại đề mục nếu nội dung bài đó quá dài
3.3 Biện pháp hướng dẫn học sinh tự học SGK tù tóm tắt nội dung.
Trang 27bài hay một chương trình HS cần thực hiện các bước sau:
Bước 1: HS cũng cần đọc qua nhanh nội dung của đoạn, của đề mục
hay của bài, của chương cần nghiên cứu (nếu nội dung quá dài có thể đọccác đề mục)
Bước 2: Vạch ý chính, ý cốt lõi của bài.
Bước 3: Tách các ý chính rồi thiết lập mối quan hệ giữa chúng rồi nêu
lại nội dung ngắn gọn dễ hiểu
3.4 Biện pháp hướng dẫn HS tự nghiên cứu SGK ở nhà.
Biện pháp này có thể dùng trong trường hợp GV dành một ý nào đóhay một đề mục nào đó để HS về nhà tự nghiên cứu đối với những nội dung(dÔ hoặc có trong thực tiễn) Hay trường hợp chuẩn bị cho việc nghiên cứumột nội dung mới mà nội dung đó có liên quan đến kiến thức đã học Theotôi cần phải làm:
Bước 1: GV nêu câu hỏi.
Bước 2: HS xác đinh câu hỏi đó hướng vào nội dung nào? cần hỏi vấn
đề gì ? ở mức độ nào?
Bước 3: HS về nhà tự đọc, tự tìm nội dung trong SGK để tìm ý trả lời
câu hỏi mà GV đã nêu ra, sau đó đánh dấu hoặc ghi thành nội dung câu trả lời
3.5 Các bài soạn có áp dụng các biện pháp trên:
Đ 41 MÔI TRƯỜNG VÀ CÁC NHÂN TỐ SINH THÁI
I MỤC TIÊU:
1.Kiến thức:
- Phát biểu được khái niệm chung về môi trường sống, các loại môitrường sống của sinh vật
- Phân biệt được các nhân tố sinh thái
- Trình bày được khái niệm về nhân tố sinh thái
2 Kỹ năng:
Trang 28niệm về môi trường sống của sinh vật.
- Liên hệ và vận dụng để làm một số bài tập quan sát
- Làm việc nhóm nhỏ và trình bày kết quả làm việc trước líp
III.CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC:
Đặt vấn đÒ: Sinh vật và môi trường nghĩa là nghiên cứu mối quan hệ
qua lại giữa các sinh vật với môi trường sống Vậy môi trường sống là gì ? cómấy loại môi trường sống của sinh vật Để hiểu rõ vấn đề này chúng tanghiên cứu bài "Môi trường và các nhân tố sinh thái"
1 Môi trường sống của sinh vật
* Mục tiêu: Học sinh định nghĩa được khái niệm chung về môi trườngsống, các loại môi trường sống của sinh vật
* Ti n h nh:ến hành: ành:
Hoạt động của giáo viên Hoạt động của HS
- Yêu cầu học sinh nghiên cứu nội
dung thông tin mục I SGK trang 118,
kết hợp quan sát hình 41.1 trả lời các
câu hái: Môi trường là gì? Có mấy
loại môi trường sống của sinh vật?
- Giáo viên giải thích thêm:
Môi trường sống là nơi sống của sinh
- Học sinh nghiên cứu thông tin vàquan sát hình vẽ, trả lời độc lập, họcsinh khác nhận xét bổ sung
* Yêu cầu học sinh nêu được:
Môi trường là nơi sống của sinh vật,nơi sinh vật lấy nguồn sống, sinh
Trang 29quanh sinh vật?
VD: Ruột người là môi trường sống
của giun sán
- Giáo viên treo bảng phụ (bảng 41.1
SGK) yêu cầu học sinh hoàn thành
- Treo bảng chuẩn bị để học sinh đối
chiếu
- Nhận xét rót ra kết luận
+ Có 4 loại môi trường: nước, trong
đất, trên mặt đất - không khí và môi
trường sinh vật
+ Động vật: Nơi sống rộng lớn và cókhả năng di chuyển
+ Thực vật: Nơi sống nhỏ hẹp hơn+ Trong 4 loại môi trường thì môitrường sinh vật có nghĩa là động vật,thực vật, con người là nơi sống củasinh vật ký sinh cộng sinh, bì sinh
- Học sinh hoạt động theo nhóm
- Đại diện 1 - 2 nhóm trình bầy
Có 4 loại môi trường: Môi trường trên mặt đất - khôngkhí
Môi trường sinh vật
2 Các nhân t sinh thái c a môi tr ố sinh thái của môi trường ủa môi trường ường ng
Hoạt động của GV Hoạt động của học sinh
Trang 30con ngêi
Nh©n tèc¸c SVkh¸c
- Giáo viên nhận xét treo bảng chuẩn
Từ thông tin và bảng 41.2 cho biết:
Nhân tè sinh thái được chia thành
những nhóm nào? Vì sao nhân tố con
người được tách thành nhóm riêng?
+ Có hai nhóm nhân tố sinh thái:
Nhân tố vô sinh ( không sống)
Nhân tố hữu sinh (sống)
+ Vì hoạt động của con người khác với
hoạt động của các sinh vật khác do con
người có ý thức trí tuệ
- Ánh sáng mặt trời chiếu trên mặt đất
tăng dần từ sáng đến trưa giảm
- Hoạt động nhóm để hoàn thànhbảng
- Nhóm khác nhận xét bổ sung
- Yêu cầu học sinh tiếp tục đọcthông tin mục II trang 120 SGK vàtrả lời các câu hỏi sau:
1 Trong một ngày, ánh sáng mặttrời chiếu trên mặt đất thay đổi nhưthế nào?
2 Ở nước ta độ dài ngày về mùa hè
và mùa đông có gì khác nhau?
3 Sù thay đổi nhiệt độ trong mộtnăm diễn ra như thế nào?
4 Nhân tố sinh thái tác động nhưthế nào đến đời sống sinh vật
Độ dài ngày thay đổi theo mùa: mùa
hè dài hơn mùa đông
" Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng Ngày tháng mười chưa cười đã tối"
- Nhiệt độ thay đổi theo mùa:
+ Mùa hè: nóng nực+ Mùa thu: mát mẻ+ Mùa đông: lạnh giá+ Mùa xuân: ấm áp
- Học sinh suy nghĩ trả lời