1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo

76 2,6K 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật
Thể loại khóa luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 494,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Con người là vốn quý của tự nhiên và của xã hội Bảo vệ quyền con người

là mục tiêu của các thiết chế Nhà nước dân chủ và tiến bộ Bảo đảm thực hiện cóhiệu quả quyền công dân là tiêu chí đánh giá sự văn minh, tiến bộ của một xãhội hiện đại Ngày nay, đất nước ta đang trên đà phát triển về mọi mặt Songsong với việc phát triển kinh tế, Đảng và Nhà nước cũng chăm lo xây dựng mộtNhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân, xây dựng một hệ thống phápluật bảo đảm cho việc phát triển các quyền tự do dân chủ của công dân

Quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là một quyền quantrọng của công dân khi tham gia tố tụng với tư cách là người bị tạm giữ, bị can,

bị cáo Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa là nguyên tắc Hiến định được ghinhận trong tất cả các bản Hiến pháp đã ban hành của nước ta Đồng thời đâycũng là một nguyên tắc đặc thù của luật Tố tụng hình sự (TTHS).Việc thực hiệnnguyên tắc này trên thực tế đã góp phần không nhỏ vào việc bảo vệ các quyền

và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; giúp cơ quan điều tra(CQĐT), Viện kiểm sát (VKS) và Toà án giải quyết vụ án một cách khách quan,toàn diện và đầy đủ

Tuy nhiên, thực tiễn TTHS cho thấy, việc bảo đảm quyền bào chữa củangười bị tạm giữ, bị can, bị cáo chưa được thực hiện một cách đầy đủ, nhiều cơquan tiến hành tố tụng (THTT), người THTT và những người tham gia tố tụngvẫn còn xem nhẹ nguyên tắc này Tình trạng bắt, giam giữ, xét xử oan sai vẫncòn tồn tại trên thực tế tố tụng Mặt khác, vấn đề lý luận của nguyên tắc bảo đảmquyền bào chữa: khái niệm, chủ thể, nội dung của quyền bào chữa; khái niệmnguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo vẫncần được nghiên cứu và làm sáng tỏ

Đề tài: “Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị

can, bị cáo” là một đề tài mang tính lý luận và thực tiễn sâu sắc; đây cũng là đề

tài gây cho em nhiều hứng thú nghiên cứu và tìm hiểu trong quá trình học tập tạitrường Mục đích nghiên cứu của em khi lựa chọn đề tài này là: Nghiên cứu

Trang 2

nhằm làm rõ một số vấn đề lý luận chung về nguyên tắc bảo đảm quyền bàochữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; Làm rõ nội dung và sự thể hiện củanguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trongpháp luật TTHS hiện hành; Nghiên cứu thực trạng thực hiện nguyên tắc bảođảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, tìm hiểu những hạnchế vướng mắc, nguyên nhân của chúng từ đó đưa ra các kiến nghị, giải phápkhắc phục hạn chế và hoàn thiện pháp luật.

Để đạt được những mục đích nghiên cứu trên, trên cơ sở của phương phápduy vật biện chứng, duy vật lịch sử chúng tôi đã sử dụng những phương phápnhư: so sánh, phân tích, tổng hợp, lôgic

Kết cấu của khoá luận gồm lời nói đầu, ba chương, kết luận và danh mụctài liệu tham khảo

Đây là lần đầu tiên nghiên cứu khoa học, kiến thức lý luận và thực tế chưađầy đủ nên những thiếu sót trong khoá luận là không thể tránh khỏi, em rấtmong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo và các bạn sinhviên

CHƯƠNG I NHẬN THỨC CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM QUYỀN BÀO CHỮA CỦA NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ, BỊ CAN, BỊ CÁO

Trang 3

1 Khái niệm quyền bào chữa và nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo

Lịch sử xã hội loài người là lịch sử của các cuộc đấu tranh giành cácquyền dân chủ và tiến bộ Các quyền tự do, dân chủ mà con người có được ngàynay là kết quả của quá trình đấu tranh lâu dài, bền bỉ của những lực lượng tiến

bộ chống lại những thế lực độc tài, phản dân chủ trên thế giới Một trong nhữngquyền dân chủ mà con người giành được trong các cuộc đấu tranh này là quyềnbào chữa Ở tất cả các nước tiến bộ trên thế giới, quyền bào chữa đều đã đượcghi nhận, được coi là nguyên tắc Hiến pháp và được cụ thể hoá trong những quyđịnh của Bộ luật TTHS Tính đến nay, Nhà nước ta đã ban hành bốn bản Hiếnpháp và trong tất cả các bản Hiến pháp đó đều ghi nhận nguyên tắc bảo đảmquyền bào chữa trong TTHS

Quyền bào chữa là một chế định quan trọng của luật TTHS nhưng kháiniệm, chủ thể, nội dung của quyền bào chữa vẫn còn là những vấn đề gây tranhcãi giữa các nhà khoa học pháp lý cũng như những cán bộ làm công tác áp dụngpháp luật

Quan điểm thứ nhất là quan điểm trong luật TTHS một số nước thuộc hệthống pháp luật Common Law: TTHS được coi là bắt đầu từ thời điểm vụ ánhình sự được chuyển sang Toà án và quyền bào chữa chỉ thuộc về bị cáo

Quan điểm thứ ba cho rằng: trong TTHS, bị can, người bị tình nghi cũngnhư những công dân tham gia trong tố tụng với tư cách khác trong đó có cảngười bị hại đều cần có sự bảo vệ các lợi ích có thể bị xâm phạm Như vậy, theotác giả thì quyền bào chữa có cả trong trường hợp mà ở đó không có sự buộc tội.Cùng quan điểm như vậy, một số tác giả khác cũng cho rằng: “ Không chỉ có bịcáo mà người bị hại cũng cần đến việc bào chữa Nhân chứng, giám định viên và

pháp, H.2006, tr 33.

Trang 4

Quan điểm thứ tư: quyền bào chữa trong TTHS là tổng hoà các hành vi tốtụng do người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án thực hiện trên cơ sở phùhợp với quy định của pháp luật nhằm phủ nhận một phần hay toàn bộ sự buộc tộicủa các cơ quan THTT, làm giảm nhẹ hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự của mình

Bộ luật TTHS Liên Bang Nga quy định: “Người bào chữa được tham gia

tố tụng từ khi nhận được quyết định khởi tố bị can, trong trường hợp người bịtình nghi thực hiện tội phạm bị tạm giữ hoặc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạmgiam trước khi khởi tố bị can thì từ khi nhận được biên bản về việc bắt hoặc áp

Theo Bộ luật TTHS Nhật Bản thì quyền bào chữa chỉ thuộc về người bịtình nghi và bị cáo Điều 30 Bộ luật này quy định: “Bị cáo hoặc người bị tình

Để tìm hiểu rõ hơn về các quan điểm trên trước hết chúng ta hãy đi tìmhiểu khái niệm người bị tạm giữ, bị can, bị cáo

Người bị tạm giữ là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quảtang, người bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú vàđối với họ đã có quyết định tạm giữ (khoản 1 Điều 48 Bộ luật TTHS năm2003)

Bị can là người đã bị khởi tố về hình sự (khoản 1 Điều 49 Bộ luật TTHS năm2003)

(1) Phạm Hồng Hải, Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, Nxb Công an nhân dân, H.1999, tr.29, 30.

1999 (Bản dịch Tiếng Việt).

dịch Tiếng Việt).

Trang 5

Bị cáo là người đã bị Toà án quyết định đưa ra xét xử (khoản 1 Điều 50

Bộ luật TTHS năm 2003)

Trong các xã hội công dân, đặc biệt là trong xã hội XHCN, người côngdân được hưởng những quyền và lợi ích hết sức rộng lớn, Hiến pháp và phápluật ghi nhận và bảo đảm cho việc thực hiện các quyền này Điều 71 Hiến phápnước Cộng hoà XHCN Việt Nam quy định: “Công dân có quyền bất khả xâmphạm về thân thể, được pháp luật bảo hội về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhânphẩm…Nghiêm cấm mọi hình thức bức cung, dùng nhục hình, xúc phạm danh

dự, nhân phẩm của công dân”

Quyền bào chữa là một trong rất nhiều quyền của công dân, là bộ phận hợpthành của quyền được bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình “Bào chữa là hành vi củamột người đưa ra các tình tiết và chứng cứ chứng minh cho sự không có lỗi hoặclàm giảm lỗi của mình” Vì vậy, quyền bào chữa chỉ thuộc về người nào bị coi là

có lỗi bao gồm cả lỗi kỷ luật, lỗi hành chính, lỗi dân sự, lỗi hình sự Quyền bàochữa với ý nghĩa là khái niệm chung bao hàm cả quyền bào chữa của người bịcoi là có lỗi hành chính, lỗi kỷ luật, quyền bào chữa của bị đơn dân sự (trong tốtụng Dân sự) và quyền bào chữa của người bị coi là có lỗi hình sự (quyền bàochữa trong TTHS)

Như vậy, quyền bào chữa trong TTHS với quyền bào chữa ở trên có mốiquan hệ giữa cái chung với cái riêng Người nào bị coi là có lỗi hình sự, bị buộctội thì có quyền bào chữa trong TTHS – sau đây gọi tắt là quyền bào chữa

“Như một chức năng tố tụng, bào chữa tồn tại ở tất cả các giai đoạn của

vi của các cơ quan THTT nhằm xác định trách nhiệm hình sự đối với người

Bị can bị buộc tội bằng quyết định khởi tố bị can, phải chịu những hậuquả pháp lý: bị điều tra hình sự, có thể bị áp dụng các biện pháp cưỡng chếTTHS…Bị cáo bị buộc tội bằng bản cáo trạng của VKS, hậu quả pháp lý của

(1) Phạm Hồng Hải, Sđd, tr.23.

Phạm Hồng Hải, Sđd, tr.26.

Trang 6

việc buộc tội này là bị cáo có thể bị kết án, có thể phải chịu hình phạt…Người bịtạm giữ tuy chưa bị buộc tội bằng một văn bản có tính chất pháp lý nhưng đối với

họ đã có quyết định tạm giữ và họ đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế tố tụng làtạm giữ “Cơ sở coi một người là người bị tình nghi phạm tội là các dữ kiện kháchquan và không thể bắt giữ một người khi ĐTV và CQĐT “nghi” là họ phạm tội vì

Vậy, chúng ta có thể khẳng định rằng quan điểm của Bộ luật TTHS ViệtNam 2003 về quyền bào chữa là hoàn toàn chính xác Quyền bào chữa chỉ thuộc

về những chủ thể: người bị tạm giữ, bị can, bị cáo - những người bị buộc tội vớinội dung: đưa ra những chứng cứ chứng minh cho sự không có lỗi hoặc làmgiảm lỗi của mình (lỗi hình sự) Ngoài những chủ thể trên, những người khác –không chịu sự buộc tội thì không có quyền bào chữa, để bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp của mình họ có thể sử dụng những quyền năng khác được pháp luậtquy định và bảo đảm thực hiện

Từ những phân tích ở trên, chúng tôi đưa ra khái niệm về quyền bào chữa

trong TTHS như sau: “Quyền bào chữa trong TTHS là tổng hoà các hành vi tố tụng do người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện trên cơ sở phù hợp với các quy định của pháp luật nhằm phủ nhận một phần hay toàn bộ sự buộc tội của các cơ quan THTT, làm giảm nhẹ hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự của mình trong vụ

án hình sự”.

Khái niệm nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị

can, bị cáo có thể được xác định như sau: Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là một quy định của luật TTHS trong đó xác định người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa và nhờ người khác bào chữa đồng thời quy định các cơ quan THTT có nhiệm vụ bảo đảm cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa của họ theo quy định của pháp luật”.

2 Cơ sở của nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo

M.X.Xtrôgôvich, Giáo trình luật TTHS Xô Viết, Nxb Khoa học, M 1968, t 1, tr.196.

Trang 7

2.1 Cơ sở lý luận

Ý thức về nhân quyền và việc thực hiện nhân quyền có một quá trình lịch

sử lâu dài gắn với lịch sử xã hội loài người và giải phóng con người qua cáchình thái kinh tế - xã hội và các giai đoạn đấu tranh giai cấp qua đó quyền conngười trở thành giá trị chung của nhân loại Xuất phát từ con người là một thựcthể thống nhất - một “sinh vật – xã hội”, theo chủ nghĩa Mác – Lê nin quyền conngười là sự thống nhất biện chứng giữa “quyền tự nhiên” (như một đặc quyềnvốn có và chỉ con người mới có) và “quyền xã hội” - sự chế định bằng các quychế pháp lý nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội Mác cũng khẳng địnhkhông có quyền con người chung cho mọi chế độ xã hội mà quyền con ngườiphụ thuộc vào từng phương thức sản xuất nhất định với từng chế độ chính trị xãhội – kinh tế - văn hoá nhất định

Khái niệm nhân quyền có nguồn gốc từ thời Hy Lạp cổ đại dưới dạng cácquyền tự nhiên của con người như quyền được sống… Dưới chế độ chiếm hữu

nô lệ, người nô lệ không được coi là con người, không có và không được thừanhận các quyền con người Chế độ phong kiến so với chế độ nô lệ đã là mộtbước tiến trong việc giành lại tự do và giải phóng con người Giai cấp tư sản lànhững người đầu tiên nêu ngọn cờ nhân quyền, biết lợi dụng những tư tưởng tự

do, bình đẳng, bác ái, vốn là yêu cầu bức thiết của nhân dân lao động, tuyệt đốihoá tự do cá nhân, nhấn mạnh các yếu tố cá nhân trong khái niệm quyền conngười – “quyền tư hữu thiêng liêng” Lần đầu tiên các quyền con người đượcghi nhận trong các văn kiện quan trọng như Tuyên ngôn độc lập của Mỹ 1776,Tuyên ngôn về quyền con người và quyền công dân của Pháp 1789… Tuy vậygiai cấp Tư sản chỉ tập trung nhấn mạnh quyền dân sự, chính trị, coi nhẹ quyềnkinh tế, văn hoá, xã hội - những cơ sở và điều kiện quan trọng để người lao độngthoát khỏi đói nghèo và bóc lột Cách mạng Tháng Mười Nga đã tạo nên mộtphạm trù mới về quyền con người: đó là các quyền kinh tế, văn hoá, xã hội Từsau chiến tranh Thế giới thứ II, các nước XHCN đã đi đầu trong việc nêu bật cácquyền dân tộc cơ bản như một bộ phận thiết yếu của quyền tập thể, đưa ra cách

Trang 8

đề cập toàn diện và biện chứng hơn về nhân quyền Cùng với sự phát triển kinh

tế - xã hội của loài người, các quyền con người cũng tiếp tục phát triển

Trong mỗi quốc gia, quyền công dân là một nội dung cơ bản của quyền conngười, là sự thể hiện cụ thể của quyền con người Chúng ta có thể thấy rõ điều nàyqua Điều 50 Hiến pháp 1992 của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam: “Ở nước Cộnghoà XHCN Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và

xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiếnpháp và luật”

Quyền con người, quyền công dân được chia thành các nhóm chính sau :+ Các quyền tự do, dân chủ về chính trị: tham gia quản lý Nhà nước, bầu

cử, bình đẳng nam nữ…

+ Các quyền về kinh tế - xã hội: quyền lao động, quyền tự do kinh doanh,quyền sở hữu tài sản hợp pháp, quyền thừa kế…

+ Các quyền dân sự (quyền tự do cá nhân): quyền được pháp luật bảo hộ

Các quyền con người đã trở thành một giá trị pháp lý được quốc tế hoákhi Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua bản Tuyên ngôn về nhân quyềnngày 10/12/1948 Khoản 1 Điều 11 tuyên ngôn này khẳng định: “Bị cáo về mộttội hình sự được suy đoán là vô tội cho đến khi có đủ bằng chứng phạm pháptrong một phiên toà xét xử công khai với đầy đủ bảo đảm cần thiết cho quyềnbiện hộ”(2)

Như vậy trước khi có bản án kết tội của Toà án có hiệu lực pháp luật,người bị tạm giữ, bị can, bị cáo vẫn chưa bị coi là người có tội, họ vẫn là nhữngcông dân, những con người, chỉ khác là họ đang chịu sự buộc tội và phải chịunhững biện pháp tố tụng Những biện pháp tố tụng được tiến hành đối với họ cóthể hạn chế quyền tự do hay động chạm đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể,quyền được pháp luật bảo hộ về danh dự, nhân phẩm… - những nội dung cơ bảncủa quyền con người Để đảm bảo các biện pháp đó được tiến hành một cách cần

2004.

http://www.vietnamhumanrights.net/, Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền (1948).

Trang 9

thiết và hợp pháp tránh được sự độc đoán một chiều từ phía các cơ quan THTT,pháp luật đã quy định người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền bào chữa và cơchế bảo đảm quyền bào chữa được thực hiện

Có thể thấy rằng quyền bào chữa là một nội dung cơ bản thể hiện quyềncon người và quyền con người là cơ sở lý luận của nguyên tắc bảo đảm quyềnbào chữa trong TTHS Việt Nam

2.2 Cơ sở thực tiễn

Trong TTHS, quá trình nhận thức vụ án diễn ra từ thấp đến cao, từ chỗchưa nhận thức đến chỗ nhận thức được, từ chỗ nhận thức ít tới chỗ nhận thứcnhiều và cuối cùng là từ nhận thức chưa đầy đủ, chưa đúng đắn tới nhận thứcđầy đủ và đúng đắn Việc xác định chân lý khách quan của vụ án không thể thựchiện được nếu chủ thể không sử dụng biện pháp so sánh, đánh giá các dữ kiện và

cọ sát các quan điểm khác nhau giữa bên buộc tội và bên bào chữa

Trong TTHS, chức năng bào chữa tồn tại song song với chức năng buộctội như một nhu cầu tất yếu khách quan Nó xuất phát từ mục đích, nhiệm vụ củaTTHS được đặt ra đối với tất cả các cơ quan, những người THTT và nhữngngười tham gia tố tụng Sẽ không xuất hiện sự tranh tụng nếu TTHS chỉ đơnthuần hoặc là bào chữa hoặc là buộc tội Nếu quan niệm buộc tội là chức năngduy nhất của TTHS thì sẽ dẫn đến sai lầm là người ta chỉ chú ý tới các chứng cứbuộc tội mà không chú ý tới các chứng cứ gỡ tội (giảm tội) Điều này đến lượt

nó lại gây ra các hiện tượng tiêu cực có thể có như mớm cung, bức cung, hoặchậu quả tai hại hơn là truy tố, xét xử người vô tội Ngược lại, nếu quan niệm bàochữa là chức năng duy nhất của TTHS thì có thể dẫn tới hậu quả bỏ lọt tội phạm,không xử lý công minh các hành vi phạm tội và người phạm tội Cả hai quanniệm trên đều không đúng và rõ ràng, chúng có thể làm giảm hiệu quả của hoạtđộng TTHS Nghiêm trọng hơn, chúng là những cản trở cho quá trình xác địnhchân lý khách quan của vụ án và thực hiện mục đích của TTHS như đã nêu trongĐiều 1 của Bộ luật TTHS nước ta

Chúng ta chắc hẳn đã ít nhiều nghe về “ Vụ án Vườn Điều” - một vụ ánkéo dài vào loại nhất nhì trong lịch sử tố tụng, hơn 12 năm, qua 4 lần xét xử, đến

Trang 10

nay chấm dứt bằng quyết định đình chỉ điều tra vào tháng 12/2006 Năm 1993, từphát hiện của người dân, CQĐT Công an Bình Thuận phát hiện nạn nhân nằmchết tại vườn điều nhà ông Hai Hoàng là bà Dương Thị Mỹ Công an Bình Thuận

đã ra quyết định khởi tố vụ án nhưng sau đó phải đình chỉ điều tra vì không tìmđược thủ phạm Năm năm sau, cũng tại địa phương trên lại xảy ra 1 vụ giết, cướp.Hung thủ trong vụ án Công an Bình Thuận bắt được là Huỳnh Văn Nén (sinh

1962, người địa phương) Qua quá trình tạm giam Nén và điều tra vụ án này xuấthiện nhiều chi tiết cho thấy Nén có biết vụ án tại vườn điều nhà ông Hai Hoàngtrước đó Từ lời khai của Nén, Công an Bình Thuận đã phục hồi điều tra vụ ángiết bà Mỹ tại vườn điều nhà ông Hai Hoàng, đồng thời đưa ra một kết luận khátròn trịa Hung thủ được CQĐT xác định là một tập thể gồm 9 người, đều làngười nhà phía vợ ông Trần Văn Sáng - người tình của nạn nhân Vụ án đã từngđược đưa ra xét xử phúc thẩm tới lần thứ 2, và tại phiên toà này, đồng loạt các bịcáo đều phản cung và chối tội Tại phiên toà, bị cáo Trần Thanh Vân cho biết đãđược ĐTV dạy cho 1 tháng mới có các thông tin để khai trong băng video Còn bịcáo Lâm cho biết CQĐT đã quay 7 cuộn băng và bắt bị cáo khai đi khai lại nhiềulần để chọn được cuộn băng hoàn chỉnh nhất Bị cáo Lâm khi phản cung cũngkhẳng định rằng, mình nhận tội trước đây là do ĐTV đã đánh gãy răng bị cáo vàhứa hẹn với bị cáo: “Bà già rồi, không ai bắt bà làm gì, nếu bà khai ra sẽ được

Rõ ràng việc không tôn trọng nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa củangười bị tạm giữ, bị can, bị cáo như trên mà vụ án đã rơi vào bế tắc, gây ảnhhưởng nghiêm trọng tới tự do, danh dự, nhân phẩm của 9 con người trong 1 giađình

Từ những phân tích ở trên chúng ta có thể đi đến kết luận rằng việc quyđịnh nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo làrất cần thiết xuất phát từ nguyên tắc bảo đảm quyền con người và từ thực tiễn củaquá trình tố tụng

1(1) http://vietnamnet.vn/xahoi/phapluat/2005/03/387390/

Trang 11

3 Ý nghĩa của nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ,

bị can, bị cáo

Thứ nhất, nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can,

bị cáo là sự thể hiện cụ thể của việc bảo đảm quyền con người, quyền công dântrong TTHS

Vấn đề nhân quyền luôn là điểm nóng của hầu hết các quốc gia trên thếgiới Đặc biệt, các thế lực phản động và hiếu chiến luôn lấy vấn đề nhân quyền

để kích động nhân dân, chống phá cách mạng Hiện nay, đất nước ta đang trên

đà phát triển mạnh mẽ về kinh tế - xã hội nhưng song song với đó, Nhà nướcluôn chú ý tới việc phát huy toàn diện quyền tự do, dân chủ của công dân, bảođảm các quyền con người Việc Hiến pháp và các văn bản pháp luật có liên quanghi nhận quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trước các cơ quanTHTT và cơ chế bảo đảm việc thực hiện là nhiệm vụ của cơ quan đó đã chứng

tỏ bản chất ưu việt của Nhà nước ta

Thứ hai, nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị

can,bị cáo thể hiện tính nhân đạo XHCN

Tính nhân đạo được thể hiện, trong những trường hợp theo quy định củapháp luật, nếu bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mờingười bào chữa thì CQĐT, VKS hoặc Toà án yêu cầu Đoàn luật sư cử người bàochữa cho họ Các trường hợp đó là: bị can, bị cáo về tội theo khung hình phạt cómức cao nhất là tử hình theo quy định tại Bộ luật hình sự; bị can, bị cáo là ngườichưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất

Thứ ba, nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can,

bị cáo là biểu hiện của tính dân chủ XHCN trong hoạt động TTHS

Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đãtạo điều kiện thuận lợi cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có cơ hội đưa ra nhữngchứng cứ minh oan hoặc làm giảm nhẹ tội cho mình, cơ hội được tranh tụng bìnhđẳng trước Toà án

Trang 12

Thứ tư, thực hiện nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm

giữ, bị can, bị cáo góp phần tích cực vào việc bảo vệ pháp chế XHCN, củng cốlòng tin của quần chúng nhân dân vào hoạt động của hệ thống Tư pháp hình sự

Thứ năm, thực hiện nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm

giữ, bị can, bị cáo góp phần vào việc xác định sự thật khách quan của vụ án, bảođảm trong quá trình tố tụng không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội,bảo đảm điều tra, truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật

4 Lịch sử hình thành và phát triển của nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo ở Việt Nam

Theo nhận xét của một số nhà nghiên cứu thì quyền bào chữa xuất hiệnsớm nhất ở Châu Âu cùng với sự xuất hiện của Toà án và người biện hộ xuấthiện cùng Thẩm phán Trong Nhà nước Hy Lạp cổ, khi mà tổ chức Toà án đãhình thành, bị cáo được nhờ người thân thuộc của mình bào chữa trước Toà án.Vào giai đoạn đầu của nền Cộng hoà thứ IV trước Công nguyên, chế độ bàochữa bắt đầu phát triển Việc bào chữa xuất phát tự nhiên nhằm minh oan chobạn bè, người thân bị giai cấp thống trị bắt giam vô cớ và trừng phạt một cáchđộc đoán Nó xuất phát từ quyền lợi của nhân dân bị áp bức nên được nhân dân

Trong lịch sử, pháp luật thừa nhận nhiều cách bào chữa khác nhau, nhưng ở cácchế độ xã hội và kiểu nhà nước khác nhau, trong mỗi giai đoạn phát triển khác nhau củalịch sử do quan điểm giai cấp không giống nhau, quyền bào chữa cũng được quan niệmkhác nhau

Thuở xa xưa, khi một người bị tình nghi là phạm tội, họ được bào chữabằng cách trói chân, trói tay rồi quẳng xuống nước mà không chìm thì họ đượccoi là vô tội “Cách bào chữa mỏng manh theo ý trời này đối với số phận mộtcon người thực chất là lời buộc tội họ một cách hùng hồn nhất, vì dẫu có vô tội,

1(1) Nguyễn Văn Tuân, Luật sư và hành nghề Luật sư, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, H 2001,

tr 5, 6.

Vũ Đức Khiển, Phạm Xuân Chiến, Họ vẫn chưa bị coi là có tội, Nxb Pháp lý, H.1989, tr 50.

Trang 13

Thế kỷ I trước Công nguyên đến thế kỷ II sau Công nguyên, tại Hy Lạp

và La Mã đã xuất hiện một loại hiệp sĩ đặc biệt - họ không dùng khí giới hay bắpthịt để chiến thắng mà chỉ dùng thiên tài ngôn ngữ, sự hiểu biết rộng rãi về cổluật để đứng ra bênh vực cho những kẻ nghèo nàn, yếu thế, thấp cổ bé họnghoặc phụ nữ bị ngược đãi trước các thế lực đương thời Họ được gọi làAdvocatus (người biện hộ)

Ở Việt Nam, các nhà sử học và luật học phần lớn đi đến nhận định, xã hộingười Việt trong khoảng 1000 năm trước Công nguyên, pháp luật thành văn nếu

có cũng không nhiều và trong một thời gian dài nguồn pháp luật chủ yếu là tục

thầy kiện không được coi trọng bởi cách nhìn không đúng về loại người này,trong đó nguyên nhân chính xuất phát từ quan niệm các bậc vua, chúa phongkiến luôn tự coi mình là “kẻ bảo vệ dân và bảo vệ sự công bằng”, ý chí của vua

là luật cao nhất… Tuy nhiên, hệ thống pháp luật thành văn thời phong kiến, đặcbiệt là bộ Quốc triều Hình luật đã ghi nhận nhiều quan điểm mới, tiến bộ về việcbảo vệ các quyền lợi hợp pháp của người phạm tội, cho phép họ tự bào chữa vàbảo đảm việc tranh biện kỹ lưỡng Điều 691 Bộ luật Hồng Đức quy định:

“Những án xét rồi mà còn nghi ngờ thì chuyển qua quan viện thẩm hình, hộiđồng nghị xét, hỏi tội phạm nhân đến khi họ nhận tội, nếu họ không chịu nhậntội thì cho phép họ tự bào chữa rồi xét lại kỹ càng…” Điều 670 còn quy định:

“Các quan xét án, phải theo tờ cáo trạng mà xét hỏi, nếu ra ngoài tờ cáo trạng,

Phải nói rằng, những điểm mới, tiến bộ nêu trên đã đi trước hàng thế kỷ

so với các nguyên tắc nêu trong Tuyên ngôn độc lập của Mỹ 1776 và Tuyênngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp 1789

1 (1) Đinh Gia Trinh, Sơ thảo lịch sử Nhà nước và pháp quyền Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, H.1968, t.1, tr.36; Phan Đăng Thanh – Trương Thị Hoà, Lịch sử các chế định chính trị và pháp quyền Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, H.1997, t.1, tr.32

Trang 14

4.1 Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa trong luật TTHS Việt Nam từ sau Cách mạng Tháng Tám 1945 đến trước khi Bộ luật TTHS năm 1988 có hiệu lực thi hành

Trước bối cảnh thế giới thuận lợi, cùng với sự lãnh đạo tài tình của ĐảngCộng sản Việt Nam, Cách mạng Tháng Tám 1945 đã thành công và Nhà nướcViệt Nam Dân chủ Cộng hoà – Nhà nước đầu tiên của giai cấp công nhân vànông dân ở Đông Nam Á được thành lập Nhiệm vụ của Nhà nước non trẻ lúcnày là củng cố chính quyền, kịp thời ban hành pháp luật cách mạng làm vũ khíchống lại thù trong, giặc ngoài, xây dựng xã hội mới Mặc dù trong những ngàyđầu khi cách mạng mới thành công có biết bao nhiệm vụ cần giải quyết trong đó

có nhiệm vụ đấu tranh chống các loại tội phạm nhưng chính quyền dân chủ nhândân vẫn rất quan tâm tới nhiệm vụ bảo vệ các quyền dân chủ của công dân trong

đó có quyền bào chữa trước Toà án

Ngày 13/09/1945 tức là chỉ sau ngày khi nước Việt Nam Dân chủ Cộnghoà được thành lập đúng 11 ngày, Nhà nước đã ban hành Sắc lệnh 33c về việcthiết lập các Toà án quân sự Đoạn 4, Điều V Sắc lệnh này quy định: “Bị cáo cóthể tự bào chữa hay nhờ một người khác bênh vực cho”

Ngày 10/10/1945, Sắc lệnh số 46-SL về việc quy định tổ chức các đoànthể luật sư ra đời Theo Điều thứ 2 sắc lệnh này thì: “Các luật sư có quyền bàochữa ở tất cả các Toà án hàng tỉnh trở lên và trước các Toà án quân sự”

Tiếp theo, ngày 23/11/1945, Nhà nước ban hành Sắc lệnh thiết lập mộtban thanh tra đặc biệt, trong đó quy định, một Toà án đặc biệt được thành lập để

xử những nhân viên của Uỷ ban nhân dân hay các cơ quan của Chính phủ bị banthanh tra truy tố (Điều III) Và trước các Toà án này “bị cáo có thể tự bào chữalấy hay nhờ luật sư bênh vực Ông Hội thẩm thuyết trình có thể cử một luật sư rabào chữa không cho bị cáo” (Điều V)

Sắc lệnh số 13-SL ngày 24/01/1946 về tổ chức Toà án và các ngạch Thẩmphán, tại Điều thứ 44 quy định : “Trong việc đại hình, nếu trước toà thượngthẩm một bị can không có ai bênh vực, ông Chánh án sẽ cử một luật sư để bào

Trang 15

chữa cho hắn” Còn tại Điều thứ 46: “Các luật sư có quyền biện hộ trước tất cảcác Toà án trừ những Toà án sơ cấp”.

Trong sắc lệnh số 40 ngày 29/03/1946 về việc bảo vệ tự do cá nhân, tiết IInhững phương pháp đề phòng đặc biệt, tại Điều thứ 7 quy định: “Trong tình thếđặc biệt hiện thời cho đến khi có lệnh khác, chủ tịch Uỷ ban hành chính kỳ đặccách được phép ra lệnh bắt những người xét ra lời nói hay việc làm có thể làmhại cho sự đấu tranh giành độc lập, cho chế độ dân chủ, cho sự an toàn của côngchúng và cho sự đoàn kết của quốc gia, để đem trừng trị trong những trại giamđặc biệt” Đối với những người này sẽ có “nghị định giam” Và trong 15 ngày,

họ (đương sự) có thể nộp đơn “kháng nghị nghị định giam” để hội đồng phúcthẩm giải quyết Điều thứ 11 Sắc lệnh 40 quy định : “Hội đồng phúc thẩm sẽ báongay cho đương sự biết ngày hội đồng sẽ xét đơn kháng nghị Người đó cóquyền gửi bài trần tình hoặc nhờ vợ hay chồng, ông bà con cháu, anh em ruột,chú bác cô dì, anh em thúc bá hay luật sư đại diện bào chữa cho mình”

Ngày 23/08/1946, Nhà nước ban hành Sắc lệnh số 163-SL về việc tổ chứcToà án binh lâm thời đặt tại Hà Nội Điều thứ 10 Sắc lệnh này quy định: “Bị can

có thể tự bênh vực lấy hay nhờ một luật sư hoặc một người khác bào chữa cho.Đối với những tội có thể phạt trên 5 năm tù mà bị can không có luật sư bào chữacho thì Toà sẽ yêu cầu hội đồng luật sư chỉ định một luật sư bào chữa cho hắn”

Như vậy, pháp luật TTHS của Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám đã là

vũ khí, là cơ sở pháp lý để bảo vệ và củng cố các quyền của công dân trong đó

có quyền bào chữa trước Toà án Có thể thấy rằng, dù chưa rõ ràng và được quyđịnh ở các văn bản pháp luật khác nhau nhưng qua các quy định đã dẫn ở trên,bước đầu quyền bào chữa đã được xác định bao hàm quyền tự bào chữa, quyềnnhờ người khác bào chữa, và một số trường hợp đã được chỉ định người bàochữa; người bị bắt giam cũng được quy định là có quyền bào chữa Tuy nhiên,bảo đảm quyền bào chữa chưa được quy định như là một nguyên tắc của luậtTTHS Việt Nam; việc nhờ người khác bào chữa mới chỉ được quy định cho một

số bị cáo; khái niệm bị can, bị cáo chưa được làm rõ và chưa được sử dụng mộtcách thống nhất trong các văn bản pháp luật; các trường hợp được chỉ định

Trang 16

người bào chữa mới bước đầu được đề cập, các quy định chưa cụ thể và việc chỉđịnh luật sư bào chữa xem ra phụ thuộc nhiều vào ý kiến của Toà án.

Song song với việc ban hành các văn bản pháp luật để điều chỉnh nhữngquan hệ xã hội trong tất cả các lĩnh vực, Nhà nước đã quan tâm xúc tiến nhữngcông việc cần thiết chuẩn bị cho việc dự thảo và ban hành Hiến pháp Ngày09/11/1946, tại kỳ họp thứ hai, Quốc hội khoá 1 đã thông qua bản Hiến phápđầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Với ý nghĩa là luật cơ bản, Hiếnpháp 1946 đã quy định nhiều nguyên tắc quan trọng trong đó có nguyên tắc bảođảm quyền bào chữa của bị cáo: “ Người bị cáo được quyền tự bào chữa lấyhoặc mượn luật sư” (Đoạn 2, Điều thứ 67) Như vậy lần đầu tiên trong lịch sửViệt Nam, vấn đề bảo đảm quyền bào chữa cho bị cáo được quy định là mộtnguyên tắc Hiến pháp – đây là nền móng cho quá trình phát triển và hoàn thiệnnguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa trong luật TTHS Việt Nam Quyền bàochữa được Hiến pháp 1946 xác định gồm hai nội dung: tự bào chữa và nhờ luật

sư bào chữa

Ngày 18/06/1949, Nhà nước ban hành sắc lệnh số 69-SL, tại Điều thứ haiquy định: “Nếu bị can không có ai bênh vực, ông Chánh án có thể, tự mình haytheo lời yêu cầu của bị can, cử ra một người bào chữa cho bị can” Còn Điều thứnhất của sắc lệnh này đã được sửa đổi bổ sung bởi sắc lệnh số 144-SL ngày22/12/1949 như sau: “…Từ nay, trước các Toà án thường và Toà án đặc biệt xửcác việc tiểu hình, đại hình, trừ các Toà án binh tại mặt trận,… bị cáo và bị can

có thể nhờ một công dân không phải là luật sư bênh vực cho mình Công dân đóphải được ông Chánh án thừa nhận” Có thể nói sắc lệnh số 69-SL và sắc lệnh số144-SL đã bước đầu đặt nền móng cho việc xây dựng chế độ bào chữa viên nhândân ở nước ta

Tiếp theo đó, ngày 12/01/1950, Bộ Tư pháp đã ban hành nghị định số 1/

NĐ về việc ấn định điều kiện để làm bào chữa viên Theo Điều 1 nghị định này,những công dân sau đây có thể được cử ra hay thừa nhận để bào chữa trước Toàán:

- Có quốc tịch Việt Nam, không phân biệt đàn ông hay đàn bà;

Trang 17

- Ít nhất 21 tuổi;

- Hạnh kiểm tốt và chưa can án

Khi được phép tham gia tố tụng (bắt đầu từ khi hồ sơ vụ án được chuyểnsang Toà án), bào chữa viên nhân dân cũng có địa vị pháp lý như luật sư

Khoản 1, Điều 4 Nghị định trên còn quy định: “Người bào chữa được cử

ra hoặc thừa nhận để bào chữa có quyền đến phòng lục sự xem xét và chép hồsơ”

Việc thừa nhận, khi tham gia tố tụng, bào chữa viên nhân dân có địa vịpháp lý như luật sư là một trong những điểm mới, tiến bộ nhằm thu hút quầnchúng nhân dân tham gia vào việc đấu tranh phòng chống tội phạm, đặc biệt làxác định sự thật khách quan của vụ án cũng như bảo vệ các quyền và lợi ích hợppháp của bị cáo

Năm 1956, khi cả nước đang tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứunước, thì ngày 20/06/1956 một văn bản quan trọng đã được thông qua tại hội nghị

tư pháp toàn quốc Đó là “Đề án về quyền bào chữa của bị cáo” Đặc biệt trong đề

án đã ghi nhận các quyền cụ thể của người bào chữa khi tham gia tố tụng: ngườibào chữa có thể bắt đầu công tác từ khi mở cuộc thẩm cứu; được có mặt cùng với

bị cáo trong các cuộc hỏi cung; được yêu cầu điều tra thêm nếu chứng cứ khôngđầy đủ, không rõ ràng; sau khi công bố việc luận tội, người bào chữa được trìnhbày lời bào chữa của mình, đề ra những điểm không đồng ý với công tố viện vàbiện bác, xuất phát từ quan điểm bảo vệ pháp luật, chính sách và quyền lợi của bịcan; được chống án thay cho bị can nếu bị can yêu cầu hoặc được sự đồng ý của

bị can; có quyền tiếp tục bênh vực cho bị can tại Toà án cấp trên…So với các vănbản trước đây, “Đề án về quyền bào chữa của bị cáo” đã quy định tương đối cụthể quyền của người bào chữa khi tham gia tố tụng nhằm bảo đảm cho bị cáo thựchiện quyền bào chữa của mình một cách có hiệu quả

Mặt khác, để tạo điều kiện cho bị cáo có đủ thời gian chuẩn bị bào chữatại phiên toà, ngày 24/10/1956 Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư 2225/HCCPtrong đó quy định “việc giao bản cáo trạng cho bị cáo chậm nhất là 3 ngày trướckhi mở phiên toà” Đây là quy định rất cần thiết để bị cáo và người bào chữa của

Trang 18

họ có thể nghiên cứu, chuẩn bị trước những tình tiết, những chứng cứ có lợi khitham gia phiên toà.

Hiến pháp 1959 ra đời, quyền bào chữa của bị cáo một lần nữa được ghinhận tại Điều 101 với nội dung : “quyền bào chữa của người bị cáo được bảođảm” Như vậy, nếu Hiến pháp 1946 chỉ dừng lại ở việc quy định quyền bào chữacho bị cáo thì Hiến pháp 1959 đã tiến bộ hơn - khẳng định cả cơ chế bảo đảmquyền bào chữa của bị cáo

Cùng với sự ra đời của Hiến pháp, ngày 15/07/1960, Quốc hội ban hànhluật Tổ chức TAND quy định cụ thể hơn nữa quyền bào chữa của bị cáo:

“Quyền bào chữa của bị cáo được bảo đảm, ngoài việc tự bào chữa ra, bị cáo cóthể nhờ luật sư bào chữa cho mình Bị cáo cũng có thể nhờ một công dân đượcđoàn thể nhân dân giới thiệu hoặc được TAND chấp nhận bào chữa cho mình.Khi cần thiết, TAND chỉ định người bào chữa cho bị cáo”

Để thực hiện quy định trên, TAND đã ban hành Thông tư 06/TC ngày09/09/1967 hướng dẫn việc bảo đảm quyền bào chữa cho bị cáo trong đó cónhiều vấn đề mới, cụ thể và tiến bộ hơn so với các văn bản trước đây như:trong phiên toà, Toà án phải xem bị cáo đã được tống đạt bản cáo trạng haychưa; bị cáo có quyền yêu cầu Toà án thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân,nếu nhận thấy những người này có quan hệ đối với vụ án có thể làm cho việcxét xử không được công bằng; trình bày chứng cứ, đề xuất những lời thỉnh cầu

và phát biểu lời cuối cùng trước khi Toà án vào nghị án Toà án có nhiệm vụgiải thích cho bị cáo biết những quyền đó trong phần chuẩn bị phiên toà xét xử.Sau khi VKS luận tội, Toà án cần để cho bị cáo trình bày lời bào chữa nếu họkhông có người bào chữa; Toà án phải chú ý sắp xếp lịch phiên toà để ngườibào chữa có thời gian cần thiết chuẩn bị bào chữa; người bào chữa có thể xinhoãn phiên toà, nếu nhận thấy không có đủ thời gian cần thiết cho việc bàochữa …

Ngoài những hướng dẫn cụ thể trên, Thông tư 06 còn hướng dẫn việc thựchiện chế độ bào chữa chữa viên nhân dân: danh sách bào chữa viên nhân dân docác đoàn thể nhân dân giới thiệu Đây là những người có trình độ chính trị khá,

Trang 19

có khả năng làm công tác bào chữa, có nhiệt tình và điều kiện thiết thực và có tưcách đạo đức tốt Điểm đáng chú ý là, mặc dù đã có danh sách những người bàochữa nhưng bị cáo vẫn có thể yêu cầu Toà án chấp nhận một công dân không cótên trong danh sách bào chữa cho mình Toà án có thể chấp nhận hoặc khôngchấp nhận người được bị cáo cử ra để bào chữa; Thông tư 06 cũng đã có quyđịnh về các trường hợp phải chỉ định người bào chữa cho bị cáo.

Ngày 27/08/1974, TAND tối cao đã ban hành Thông tư số 16-TATC, bảnhướng dẫn trình tự tố tụng sơ thẩm về hình sự ban hành kèm theo Thông tư nàykhẳng định: quyền bào chữa là quyền của bị cáo nên Toà án phải bảo đảm cho

họ thực hiện đầy đủ quyền đó và phải nghiên cứu những lời bào chữa của bị cáomột cách khách quan Theo Thông tư 16-TATC thì thời gian giao bản cáo trạngcho bị cáo không chỉ là “3 ngày trước khi mở phiên toà” như văn bản trước đây,

mà là “chậm nhất là 5 ngày trước khi xét xử, bị cáo phải nhận được bản cáotrạng” Thông tư cũng hướng dẫn cụ thể hơn những trường hợp TAND phải chỉđịnh người bào chữa cho bị cáo, đó là các trường hợp: bị cáo có thể bị phạt tùchung thân hoặc tử hình; bị cáo là vị thành niên hoặc người có nhược điểm vềthể chất (ví dụ: mù, câm, điếc) hoặc về tinh thần (ví dụ: có bệnh động kinh, hoặctrước khi phạm pháp đã bị điên nhưng đã chữa khỏi…); vụ án có tính chấtnghiêm trọng, phức tạp và có ảnh hưởng lớn đến dư luận của nhân dân

Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, Bộ Tư pháp của Chính phủ Cáchmạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam đã có Thông tư số 06 ngày11/06/1976 về việc thực hiện chế độ bào chữa ở miền Nam

Hiến pháp 1980 ra đời, tiếp tục khẳng định quyền bào chữa của bị cáo tạiĐiều 133: “Quyền bào chữa của bị cáo được bảo đảm, tổ chức luật sư đượcthành lập để giúp bị cáo và các đương sự về mặt pháp lý”

Sau khi Việt Nam thống nhất về mặt Nhà nước, Bộ Tư pháp đã ban hànhThông tư số 691/QLTA ngày 31/10/1983 về công tác bào chữa trong toàn quốc,trong đó xác định đoàn bào chữa và bào chữa viên có trách nhiệm góp phần bảo

vệ chân lý, bảo vệ pháp chế XHCN thông qua hoạt động của mình

Trang 20

Ngày 18/12/1987, một văn bản pháp luật quan trọng về công tác bào chữađược ban hành, đó là Pháp lệnh tổ chức luật sư và tiếp theo đó là Quy chế Đoànluật sư kèm theo Nghị định 15-HĐBT ngày 21/02/1989 đã giải thích cụ thểquyền, nghĩa vụ, cơ chế hoạt động của luật sư và tổ chức luật sư.

Như vậy, giai đoạn từ sau Cách mạng Tháng Tám 1945 đến trước khi Bộluật TTHS năm 1988 có hiệu lực thi hành là giai đoạn lịch sử dài từ khi Nhà nướcViệt Nam Dân chủ Cộng hoà non trẻ được thành lập, chống thù trong giặc ngoài,xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ ởmiền Nam, đấu tranh giành độc lập dân tộc và thống nhất đất nước Cùng với quátrình đó, mặc dù có rất nhiều khó khăn nhưng nguyên tắc bảo đảm quyền bàochữa trong TTHS vẫn được phát triển theo hướng dân chủ và ngày càng hoànthiện Quyền bào chữa của bị cáo đã được mở rộng, phát triển và được bảo đảmthể hiện tính nhân đạo và dân chủ trong pháp luật TTHS nước ta Tuy nhiên,những quy định về quyền bào chữa trong thời kỳ này không tránh khỏi những hạnchế nhất định như quy định quyền bào chữa chỉ thuộc về bị cáo và việc thực hiệnquyền bào chữa chỉ được thực hiện ở giai đoạn xét xử

4.2 Giai đoạn từ khi Bộ luật TTHS năm 1988 có hiệu lực thi hành đến năm 2003

Kế thừa và phát triển pháp luật TTHS nước ta từ Cách mạng tháng Tám

1945 đến năm 1988, và để phù hợp với những đổi mới về mọi mặt của đời sống

xã hội, ngày 20/06/1988, tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội thông qua Bộ luật TTHS đầutiên của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, Bộ luật này có hiệu lực thi hành từ01/01/1989 Đây là một bước tiến lớn trong lịch sử lập pháp TTHS nói chung vàchế định bào chữa nói riêng ở nước ta, nó đánh dấu sự thay đổi về chất củanguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa Điều 12 với tên gọi: “Bảo đảm quyền bàochữa của bị can, bị cáo” quy định: “bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặcnhờ người khác bào chữa CQĐT,… Bộ luật TTHS năm 1988 xác định khôngchỉ có bị cáo mà bị can cũng có quyền bào chữa; Bộ luật cũng đã phân biệt rõkhái niệm bị can, bị cáo, theo đó: “bị can là người đã bị khởi tố về hình sự Bịcáo là người đã bị Toà án quyết định đưa ra xét xử” (khoản 1, Điều 34) Đồng

Trang 21

thời, tại khoản 2 Điều 34, nhà làm luật khẳng định lại một lần nữa: “bị can, bịcáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình” Như vậy,nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa trong Bộ luật TTHS năm 1988 đã thể hiện

rõ 3 nội dung: thứ nhất, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa; thứ hai, bị can, bịcáo có quyền nhờ người khác bào chữa; thứ ba, CQĐT, VKS và Toà án cónhiệm vụ bảo đảm cho bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa của họ

Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa tiếp tục được khẳng định tại Điều

132 Hiến pháp 1992: “quyền bào chữa của bị cáo được bảo đảm Bị cáo có thể

tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình Tổ chức luật sư đượcthành lập để giúp đỡ bị cáo…”

Từ khi có hiệu lực thi hành, Bộ luật TTHS năm 1988 đã qua 3 lần sửa đổi

bổ sung vào các năm 1989, 1992, và năm 2000 Các lần sửa đổi bổ sung nàynhằm làm cho Bộ luật TTHS phù hợp hơn với Hiến pháp 1992 và tiến trình pháttriển của xã hội, tuy nhiên nội dung nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa tại điều

12 của Bộ luật vẫn không thay đổi

Bảo đảm quyền bào chữa cũng được ghi nhận trong Điều 9 Luật tổ chứcTAND năm 1992 và năm 2002 với nội dung: “Toà án bảo đảm quyền bào chữacủa bị cáo”

Pháp lệnh Luật sư năm 2001 thay thế cho Pháp lệnh Luật sư 1987 là mộtđảm bảo pháp lý, góp phần quan trọng cho nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữacủa bị can, bị cáo được thực hiện trên thực tế

4.3 Giai đoạn từ khi có Bộ luật TTHS năm 2003 đến nay

Qua gần 15 năm thi hành với 3 lần sửa đổi, bổ sung, Bộ luật TTHS năm

1988 đã là một trong những căn cứ pháp lý giúp CQĐT, VKS, Toà án tiến hànhcác hoạt động của mình một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ góp phần vàoviệc bảo đảm phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử ký công minh, kịp thờimọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội Tuynhiên, trong công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước trên tất cả các lĩnh vựctrong đó có cải cách tư pháp, Bộ luật TTHS năm 1988 đã không còn phù hợpnữa và bộc lộ những hạn chế nhất định Trước tình hình đó, Quốc hội khoá XI

Trang 22

tại kỳ họp thứ tư đã thông qua Bộ luật TTHS 2003, Bộ luật có hiệu lực thi hành

từ 01/07/2004

Tại Bộ luật TTHS năm 2003 nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa đượcquy định theo hướng mở rộng hơn Điều 11 với tiêu đề: Bảo đảm quyền bàochữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo quy định: “Người bị tạm giữ, bị can, bịcáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa CQĐT, VKS, Toà án

có nhiệm vụ bảo đảm cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện quyền bàochữa của họ theo quy định của bộ luật này” Như vậy, theo Bộ luật TTHS năm

2003, chủ thể của quyền bào chữa được mở rộng bao gồm cả người bị tạm giữ

Ngoài việc mở rộng quyền bào chữa cho người bị tạm giữ thì Bộ luậtTTHS năm 2003 còn có nhiều quy định thể hiện sự tiến bộ và phát triển củanguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa như: người bào chữa được tham gia tố tụngsớm hơn so với quy định của Bộ luật TTHS năm 1988; quy định cụ thể thủ tụcchỉ định người bào chữa trong những trường hợp phải chỉ định người bào chữacho bị can, bị cáo; thủ tục cấp giấy chứng nhận bào chữa được bổ sung một cáchđầy đủ hơn; mở rộng thêm quyền của người bào chữa; đặc biệt nhấn mạnhquyền mới của người bào chữa là được thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liênquan tới việc bào chữa từ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người thân thích củanhững người này hoặc từ cơ quan, tổ chức, cá nhân theo yêu cầu của người bịtạm giữ, bị can, bị cáo…

Năm 2006, Quốc hội ban hành Luật Luật sư và Luật trợ giúp pháp lý thểhiện sự phát triển ngày càng hoàn thiện của quyền bào chữa và nguyên tắc bảođảm quyền bào chữa ở nước ta

Qua nghiên cứu một số khái niệm về quyền bào chữa, lịch sử hình thành

và phát triển của nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bịcan, bị cáo trong luật TTHS có thể rút ra một số nhận xét:

1 Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa đã được ghi nhận trong các điềuước quốc tế và trở thành một giá trị pháp lý được quốc tế hoá Quy định nguyêntắc bảo đảm quyền bào chữa là một sự tất yếu thể hiện xu thế của thời đại

Trang 23

2 Quyền bào chữa là một trong những chế định quan trọng không thểthiếu được của pháp luật TTHS Việt Nam Mặc dù quyền bào chữa ngày nayđược quy định và thừa nhận trong pháp luật của các nước trên thế giới nhưngxung quanh khái niệm và nội dung của nó còn nhiều ý kiến khác nhau cần đượcxem xét và làm rõ từ góc độ lý luận và thực tiễn.

3 Quyền bào chữa thuộc về người bị tạm giữ, bị can, bị cáo - nhữngngười bị buộc tội với nội dung đưa ra những chứng cứ, tình tiết chứng minh cho

sự không có tội hoặc làm giảm nhẹ tội của mình, những người khác tham gia TTHSkhông có quyền bào chữa

4 Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bịcáo được quy định xuất phát từ việc bảo đảm thực hiện quyền con người vànhững quyền cơ bản của công dân Đồng thời, việc thực hiện tốt nguyên tắc bảođảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo còn giúp các cơ quanTHTT xác định được sự thật khách quan của vụ án, giúp TTHS được tiến hànhđúng mục đích xét xử công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tộiphạm, không làm oan người vô tội

5 Quyền bào chữa ở Việt Nam có tính ổn định và tính hoàn cảnh lịch sử.Tính ổn định thể hiện: nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa được ghi nhận trongtất cả các bản Hiến pháp của nước ta Tính hoàn cảnh lịch sử thể hiện ở nhữngđảm bảo pháp lý và trách nhiệm của các cơ quan THTT trong việc bảo đảmquyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can bị cáo được tính toán, cân nhắc phùhợp với điều kiện hoàn cảnh lịch sử cụ thể của từng giai đoạn

6 Sự phát triển của nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bịtạm giữ, bị can, bị cáo gắn liền với sự phát triển và dân chủ hoá mọi mặt của đờisống xã hội nước ta

Trang 24

CHƯƠNG II NỘI DUNG CỦA NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM QUYỀN BÀO CHỮA CỦA NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ, BỊ CAN, BỊ CÁO TRONG PHÁP LUẬT

TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

1 Bảo đảm quyền tự bào chữa

Quyền bào chữa trước hết là quyền tự bào chữa của người bị tạm giữ, bị can,

bị cáo Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự mình thực hiện các quyền màpháp luật giành cho họ để chống lại việc buộc tội hoặc làm giảm trách nhiệm hình

sự cho mình

Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là những người hơn ai hết biết đượcnhững tình tiết liên quan tới vụ án nói chung và những tình tiết liên quan tới họnói riêng Vì vậy, quy định người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bàochữa là một bảo đảm pháp lý hết sức cần thiết giúp cho họ có thể đưa ra nhữngchứng cứ và lý lẽ biện minh, gỡ tội cho mình Quyền tự bào chữa của người bịtạm giữ, bị can, bị cáo được bảo đảm thực hiện xuyên suốt quá trình tố tụng từgiai đoạn điều tra đến khi Toà án ra bản án và bản án đó có hiệu lực pháp luật.Quyền tự bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo cũng không bị hạn chế,

kể cả khi có người bào chữa bào chữa cho họ thì quyền năng này cũng vẫn đượcpháp luật bảo đảm Khoản 2 Điều 217 Bộ luật TTHS đã thể hiện rõ điều này:

“…nếu bị cáo có người bào chữa thì người này bào chữa cho bị cáo Bị cáo cóquyền bổ sung ý kiến bào chữa”

1.1 Bảo đảm quyền tự bào chữa trong giai đoạn điều tra, truy tố

Quyền tự bào chữa được thực hiện từ giai đoạn điều tra vụ án hình sự.Trong giai đoạn này, quyền bào chữa thuộc về người bị tạm giữ và bị can

1.1.1 Đảm bảo quyền bào chữa của người bị tạm giữ

- Người bị tạm giữ được biết lý do mình bị tạm giữ.

Để bảo đảm cho người bị tạm giữ thực hiện quyền tự bào chữa của mình,pháp luật quy định: “Người bị tạm giữ có quyền được biết lý do mình bị tạmgiữ” (điểm a, khoản 2 Điều 48), ngay từ lúc bị bắt, họ được nghe đọc biên bản

Trang 25

bắt người và có quyền ghi ý kiến không đồng ý của mình vào biên bản và ghi ýkiến xác nhận Lý do tạm giữ được ghi trong quyết định tạm giữ và khi có quyếtđịnh này người bị tạm giữ được giao một bản Lý do tạm giữ này cũng được bảođảm về tính cần thiết và có căn cứ pháp luật khi pháp luật quy định trong thờihạn 12 giờ kể từ khi ra quyết định tạm giữ, quyết định tạm giữ được gửi choVKS cùng cấp Nếu thấy việc tạm giữ không có căn cứ hoặc không cần thiết thìVKS ra quyết định huỷ bỏ quyết định tạm giữ và người ra quyết định tạm giữphải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ.

- Người bị tạm giữ có quyền được giải thích về quyền và nghĩa vụ.

Không phải người nào khi tham gia tố tụng với tư cách người bị tạm giữđều có những hiểu biết về pháp luật nói chung cũng như quyền và nghĩa vụ củamình trong TTHS nói riêng Giải thích quyền và nghĩa vụ một cách cụ thể và cặn

kẽ cho người bị tạm giữ biết sẽ khiến họ yên tâm hơn, tin tưởng vào pháp luật và

có thể sử dụng pháp luật để bảo vệ những quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Để đảm bảo quyền này cho người bị tạm giữ, pháp luật quy định, người thi hànhquyết định tạm giữ phải giải thích quyền và nghĩa vụ cho người bị tạm giữ theoquy định tại điều 48 Bộ luật TTHS

- Người bị tạm giữ có quyền trình bày lời khai.

Trong lời khai trước CQĐT, người bị tạm giữ trình bày về những tình tiếtliên quan đến việc họ bị nghi thực hiện tội phạm Cơ quan ra quyết định tạm giữ

có trách nhiệm lập biên bản ghi lời khai của người bị tạm giữ Lời khai củangười bị tạm giữ chỉ được coi là một loại nguồn chứng cứ trong TTHS khi nóđược thể hiện hợp pháp với biên bản kèm theo Biên bản ghi lời khai của người

bị tạm giữ được ĐTV đọc lại cho người bị tạm giữ nghe, đồng thời ĐTV giảithích cho họ biết quyền được bổ sung và nhận xét về biên bản Biên bản lời khaicủa người bị tạm giữ chỉ hợp pháp khi có chữ ký của ĐTV và chữ ký hoặc điểmchỉ của người bị tạm giữ (nếu người bị tạm giữ không biết chữ) Nếu người bịtạm giữ vì nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần hoặc vì lý do khác mà khôngthể ký vào biên bản thì trong biên bản phải ghi rõ lý do

- Người bị tạm giữ có quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu.

Trang 26

Trong thời gian bị tạm giữ, người bị tạm giữ có quyền đưa ra những tàiliệu, đồ vật nhằm chứng minh họ không liên quan đến vụ việc mà vì đó họ bị bắtgiữ, họ cũng có quyền yêu cầu xác minh lại sự việc, yêu cầu CQĐT đưa ranhững bằng chứng được coi là căn cứ bắt giữ họ…

- Người bị tạm giữ có quyền khiếu nại về việc tạm giữ, quyết định, hành vi

tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền THTT.

Nếu như Bộ luật TTHS năm 1988 quy định người bị tạm giữ chỉ có quyềnkhiếu nại về việc tạm giữ thì Bộ luật TTHS năm 2003 đã đưa thêm quyền khiếunại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền THTT Quyếtđịnh trên thể hiện sự mở rộng quyền, mở rộng tính dân chủ trong TTHS, tạođiều kiện cho người bị tạm giữ thực hiện quyền tự bào chữa của mình

1.1.2 Bảo đảm quyền tự bào chữa của bị can

Khi bị khởi tố về hình sự một người sẽ tham gia tố tụng với tư cách là bịcan

- Bị can có quyền được biết mình bị khởi tố về tội gì.

Được biết mình bị khởi tố về tội gì, bị can sẽ có những chuẩn bị tốt hơncho việc gỡ tội và minh oan cho mình Ngay sau khi khởi tố bị can, trong thời hạn

24 giờ, CQĐT phải gửi ngay quyết định khởi tố và tài liệu liên quan tới việc khởi

tố bị can cho VKS cùng cấp để phê chuẩn việc khởi tố CQĐT cũng phải giaongay quyết định khởi tố bị can của mình hoặc quyết định khởi tố bị can của VKS(trong trường hợp VKS ra quyết định khởi tố bị can) cho bị can Và sau khi nhậnđược quyết định phê chuẩn hoặc quyết định huỷ bỏ quyết định khởi tố bị can củaVKS, CQĐT phải giao ngay cho người đã bị khởi tố - đây là một quy định mớicủa Bộ luật TTHS năm 2003 so với Bộ luật TTHS năm 1988 giúp tránh đượcnhững sai sót trong việc ra quyết định khởi tố bị can, sự chặt chẽ này cũng làmcho bị can tin tưởng hơn vào tính nghiêm minh của pháp luật

- Bị can có quyền được giải thích về quyền và nghĩa vụ.

Nếu như Bộ luật TTHS năm 1988 quy định gián tiếp quyền được giảithích về quyền và nghĩa vụ của bị can tại khoản 3 Điều 103: “Cơ quan ra quyếtđịnh khởi tố bị can phải… và giải thích quyền và nghĩa vụ cho bị can” thì Bộ

Trang 27

luật TTHS 2003 đã quy định quyền này cho bị can một cách trực tiếp tại điểm b,khoản 2 Điều 49 đồng thời Bộ luật cũng quy định trách nhiệm cho CQĐT -những người trực tiếp tiến hành những hành vi tố tụng với bị can phải giải thíchquyền và nghĩa vụ cho bị can.

- Bị can có quyền được trình bày lời khai.

Bị can được khai về những tình tiết của vụ án Lời khai của bị can là mộtloại nguồn chứng cứ và chúng được kiểm tra và đánh giá theo những quy địnhchung Theo quy định của Bộ luật TTHS, việc lấy lời khai của bị can phải doĐTV tiến hành ngay sau khi có quyết định khởi tố bị can Trước khi hỏi cung,ĐTV đọc phải đọc quyết định khởi tố bị can, và giải thích cho bị can biết rõquyền và nghĩa vụ và “việc này phải được ghi vào biên bản” Quy định mới nàycủa Bộ luật TTHS năm 2003 giúp bị can thực hiện tốt hơn quyền tự bào chữacủa mình cũng như nâng cao trách nhiệm của ĐTV trong việc đảm bảo quyền tựbào chữa của bị can trong quá trình hỏi cung

Trong khi hỏi cung, bị can có thể thú nhận một phần hay toàn bộ tội lỗicủa mình Tuy nhiên, lời nhận tội của bị can cần phải được kiểm tra, đối chiếuvới các chứng cứ khác của vụ án Pháp luật quy định không được dùng lời nhậntội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất để kết tội (Điều 72 Bộ luật TTHS)

Mỗi lần hỏi cung đều phải lập biên bản, biên bản phải ghi đầy đủ lời trìnhbày của bị can, các câu hỏi và câu trả lời Và để đảm bảo những lời khai này làđược chính xác, thể hiện ý chí thật sự của bị can, pháp luật quy định nghiêmcấm ĐTV tự mình thêm, bớt hoặc sửa chữa lời khai của bị can Sau khi hỏicung, ĐTV đọc lại biên bản cho bị can nghe hoặc để bị can tự đọc Trong trườnghợp có bổ sung, sửa chữa biên bản thì ĐTV và bị can cùng ký xác nhận Nếubiên bản có nhiều trang thì bị can ký vào từng trang của biên bản Nếu việc hỏicung được ghi âm thì sau khi hỏi cung phải phát lại để ĐTV và bị can cùngnghe Biên bản phải ghi lại nội dung việc hỏi cung, bị can và ĐTV cùng ký xácnhận (Điều 132 Bộ luật TTHS) Để tạo điều kiện cho bị can đưa ra chứng cứ, lờikhai và những lời giải thích, bị can có thể tự viết lời khai của mình (Điều 131 Bộ

Trang 28

luật TTHS) Không được hỏi cung vào ban đêm trừ trường hợp không thể trìhoãn được nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản.

Cũng cần nhấn mạnh rằng, việc đưa ra lời khai, hay nói cách khác là trìnhbày về những tình tiết của vụ án là quyền của bị can chứ không phải trách nhiệmcủa họ Nguyên tắc xác định sự thật của vụ án tại Điều 10 Bộ luật TTHS quy định:

“Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan THTT, bị can, bị cáo cóquyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội” Pháp luật không quyđịnh trách nhiệm với bị can về hành vi từ chối khai báo hoặc khai báo gian dối,trong khi đó pháp luật nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình (Điều 6 Bộluật TTHS) và quy định khi hỏi cung bị can, ĐTV hoặc KSV bức cung hoặc dùngnhục hình đối với bị can thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy đinh tại Điều

299 hoặc 298 của Bộ luật hình sự

Tuy nhiên, trên thực tế, việc mớm cung và ép cung vẫn xảy ra, vi phạmnghiêm trọng tới quyền tự bào chữa của bị can Hoàng Linh, một bị cáo trong vụ

án Năm Cam khi đứng trước vành móng ngựa đã nói “Cáo trạng và kết luận điềutra chủ yếu dựa vào 4 văn bản gồm: bản tự khai, bản cung, bản cam kết và thưcảm ơn Bản tự khai của tôi phải khai theo chỉ dẫn của các ĐTV, nếu khai khôngđúng theo ý của họ, họ đều xé bỏ, bắt khai lại Bản cung cũng vậy, và đều bị hỏivào lúc 12h đêm, nhưng khi ký vào biên bản, công an đều ghi hỏi lúc 8h sáng.Các ĐTV còn ép tôi phải viết bản cam kết là lời khai của tôi không phải do bị épcung, hù dọa… Sau đó còn ép tôi viết thư cảm ơn đến các cơ quan THTT”.Hoàng Linh diễn tả: “Trong phòng hỏi cung, một cán bộ điều tra đã nói với tôi:

ông từng viết bài bênh vực cho con nhỏ bán vé số và đánh công an Tiền Giang Nay ông đã lọt vào tay chúng tôi, nếu không khai đúng ý, chúng tôi sẽ treo ông lên Anh ta diễn tả việc treo lên rất ghê rợn và nói lại đến 6-7 lần, tôi không thể

tả nổi tại đây”.(1)

- Bị can có quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu.

Bị can có quyền cung cấp những tài liệu, đồ vật có liên quan đến vụ án,CQĐT khi nhận được các tài liệu, đồ vật do bị can cung cấp phải tiến hành kiểm

Trang 29

tra, đánh giá một cách khách quan để xác định các tài liệu, đồ vật đó có phải làchứng cứ trong vụ án hay không? Bị can cũng có quyền đưa ra những yêu cầunhư: yêu cầu thông báo về nội dung kết luận giám định; được trình bày những ýkiến của mình về kết luận giám định; được yêu cầu giám định bổ sung, giámđịnh lại Trong trường hợp CQĐT, VKS không chấp nhận yêu cầu của bị can thìphải nêu rõ lý do và phải thông báo cho họ biết (Điều 158); Nếu việc điều tra bịđình chỉ theo quy định tại điểm 5 và điểm 6 Điều 107 Bộ luật TTHS mà bị cankhông đồng ý và yêu cầu điều tra lại thì CQĐT hoặc VKS ra quyết định phụchồi điều tra (Điều 165)…

- Bị can có quyền đề nghị thay đổi người THTT, người giám định, người phiên dịch.

Trong quá trình điều tra, bị can có quyền đề nghị thay đổi những ngườiTHTT, người giám định, người phiên dịch nếu có căn cứ rõ ràng cho rằng họ cóthể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ; việc họ tiến hành hoặc tham gia tố tụng

có thể làm cho vụ án được giải quyết theo hướng không có lợi cho bị can Các cơquan THTT phải xem xét, giải quyết yêu cầu của bị can nếu đề nghị của bị can là

có căn cứ Đồng thời với việc quy định quyền đề nghị thay đổi người THTT,người giám định, người phiên dịch cho bị can, Bộ luật TTHS cũng quy địnhnhững trường hợp những người THTT phải từ chối THTT hoặc bị thay đổi (Điều

42 Bộ luật TTHS) và người giám định, người phiên dịch phải từ chối tham gia tốtụng hoặc bị thay đổi (Điều 62, 61 Bộ luật TTHS)

- Bị can có quyền được nhận quyết định khởi tố; quyết định áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn; bản kết luận điều tra; quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ điều tra; quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án; bản cáo trạng; quyết định truy tố; các quyết định tố tụng khác theo quy định của Bộ luật TTHS.

Quy định cho bị can có quyền nhận được tất cả các quyết định tố tụngtheo quy định của Bộ luật TTHS là một việc hết sức quan trọng giúp cho bị canthực hiện tốt quyền bào chữa của mình Có đọc và nắm được tất cả những tàiliệu và tình tiết của vụ án liên quan đến bản thân và liên quan đến những bị cáokhác (nếu có) thì bị can mới có được khả năng chuẩn bị ý kiến để bào chữa cho

Trang 30

mình Phù hợp với quy định này, khoản 2 Điều 160 Bộ luật TTHS quy địnhCQĐT ra quyết định tạm đình chỉ điều tra phải gửi quyết định này cho bị can;khoản 4 Điều 162 quy định trong thời hạn 2 ngày kể từ ngày ra bản kết luận điềutra, CQĐT phải gửi bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc quyết định đìnhchỉ điều tra cho bị can; khoản 1 Điều 166 quy định trong thời hạn 3 ngày kể từngày ra một trong những quyết: truy tố bị can trước toà bằng bản cáo trạng; trả

hồ sơ để điều tra bổ sung; đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án; VKS phải thông báocho bị can, giao bản cáo trạng, quyết định đình chỉ vụ án hoặc tạm đình chỉ vụ

có thể khiếu nại đối với những quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người cóthẩm quyền THTT

Ngày 08/09/2006, TAND Thành phố Hà Nội mở phiên toà xét xử vụ ánnhận hối lộ, trong đó bị cáo Trần Lê Sơn bị VKS Thành phố Hà Nội truy tố vềhành vi môi giới hối lộ Trước vành móng ngựa, Sơn trình bày rành rẽ : “VKStống đạt cáo trạng tới bị cáo, nhưng hôm sau lại thay bằng một bản khác Cáotrạng đọc tại toà hôm nay là bản cũ” Theo Sơn cáo trạng còn trích dẫn khôngchính xác nhiều lời khai cũng như thời gian xảy ra vụ án và thời điểm bắt các bịcáo…Bị bất ngờ trước việc này, Thẩm phán chủ toạ phiên toà đã cho đối chấtgiữa đại diện VKS và bị cáo Và khi được luật sư cung cấp cả hai bản cáo trạng

và so sánh thì Toà án thấy rằng hai bản cáo trạng được tống đạt cho bị cáo Sơn

là không giống nhau Ngày 11/09/2006, sau 3 ngày xét xử, TAND Thành phố

Hà Nội tuyên trả hồ sơ về VKSND Thành phố Hà Nội để tống đạt lại cho các bị

1 (1) http://vnexpress.net/Vietnam/Phap-luat/2006/09/3B9EE1FA/

Trang 31

- Bị can có quyền tham gia một số hoạt động điều tra.

Để tạo điều kiện cho bị can thực hiện quyền bào chữa, Bộ luật TTHS quyđịnh, khi khám nghiệm hiện trường và khi tiến hành thực nghiệm điều tra trongtrường hợp cần thiết bị can cũng có thể tham gia (Điều 150, 153 Bộ luật TTHS)

1.2 Đảm bảo quyền tự bào chữa trong giai đoạn xét xử

Sau khi Toà án quyết định đưa vụ án ra xét xử, bị can trở thành bị cáo vàquyền bào chữa của họ tiếp tục được bảo đảm bằng các quy định của Bộ luậtTTHS

- Bị cáo có quyền được nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định

áp dụng, thay đổi, hoặc huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn; quyết định đình chỉ vụ án; bản án, quyết định của Toà án; các quyết định tố tụng khác theo quy định của

Bộ luật TTHS

Các quyết định, các văn bản kể trên liên quan trực tiếp tới quyền lợi vànghĩa vụ của bị cáo nói chung và quyền bào chữa của bị cáo nói riêng Nhậnđược đầy đủ các quyết định này nhằm tạo điều kiện cho bị cáo có thể thực hiệntốt quyền bào chữa cũng như các quyền và nghĩa vụ tố tụng khác của mình.Đồng thời quy định này cũng đòi hỏi các cơ quan THTT phải giải quyết vụ ántheo đúng thủ pháp luật, các văn bản, các quyết định được ban hành phải có căn

cứ và hợp pháp

Quyền được nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử là quyền quan trọng của

bị cáo Theo quy định tại khoản 1 Điều 182 Bộ luật TTHS, quyết định đưa vụ án

ra xét xử phải được giao cho bị cáo chậm nhất là 10 ngày trước khi mở phiêntoà Quyết định đưa vụ án ra xét xử có những nội dung rất cần thiết cho bị cáotrong việc chuẩn bị bào chữa: tội danh và điều khoản của Bộ luật Hình sự màVKS áp dụng đối với hành vi của bị cáo; ngày, giờ, tháng, năm, địa điểm mởphiên toà; họ tên Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Toà án, KSV, người bào chữa,người phiên dịch nếu có; họ tên người được triệu tập tới phiên toà để xét hỏi; vậtchứng cần đưa ra xem xét tại phiên toà… (Điều 178 Bộ luật TTHS) Cùng vớinhững điều đã biết về kết luận điều tra, các tình tiết và tài liệu vụ án nêu trong

Trang 32

bản cáo trạng, việc nghiên cứu quyết định đưa vụ án ra xét xử cũng là cơ sở để

bị cáo có thể thực hiện được các quyền của mình như quyền tham gia phiên toà,quyền đề nghị thay đổi người THTT, quyền yêu cầu xem xét thêm vật chứngmới… Quyết định đưa vụ án ra xét xử là một quyết định rất quan trọng với bịcáo nên trong trường hợp bị cáo chưa được giao nhận quyết định đưa vụ án raxét xử trong thời hạn 10 ngày trước khi mở phiên toà và bị cáo có yêu cầu thìHĐXX phải hoãn phiên toà (Điều 201) Pháp luật cũng quy định đảm cho bị cáođược nhận các quyết định khác của Toà án theo Điều 182 Bộ luật TTHS

- Bị cáo có quyền tham gia phiên toà

Trong TTHS, giai đoạn xét xử là giai đoạn quan trọng nhất, trong giaiđoạn này tội trạng của bị cáo sẽ được xác định một cách công khai trước phiêntoà với sự tham gia của các bên tố tụng Thay mặt Nhà nước, HĐXX sẽ quyếtđịnh những vấn đề quan trọng nhất của TTHS là xác định tội danh và quyết địnhhình phạt đối với bị cáo dựa trên những chứng cứ đã thu thập được tại phiên toà.Tại phiên toà, bị cáo bình đẳng với KSV và những người tham gia tố tụng kháctrong việc đưa ra các chứng cứ, đồ vật, tài liệu, đưa ra yêu cầu và tranh luận dânchủ tại phiên toà… Như vậy, thực hiện quyền bào chữa tại phiên toà có thể coi

là hành vi tố tụng quan trọng nhất trong các hành vi tố tụng của bị cáo Và để bịcáo có thể thực hiện được hành vi đó pháp luật quy định tham gia phiên toà làquyền của bị cáo và Toà án chỉ được phép xét xử vắng mặt bị cáo trong nhữngtrường hợp được quy định tại khoản 2 Điều 187 Bộ luật TTHS còn các trườnghợp khác nếu bị cáo vắng mặt đều phải hoãn phiên toà Tham gia phiên toà cũng

là nghĩa vụ của bị cáo, nếu bị cáo vắng mặt tại phiên toà mà không có lý dochính đáng thì sẽ bị áp giải

- Bị cáo có quyền được giải thích về quyền và nghĩa vụ.

Đây là quyền của bị cáo được ghi nhận trực tiếp tại điểm a, khoản 2 Điều

50 Bộ luật TTHS Trong phần thủ tục bắt đầu phiên toà, chủ toạ phiên toà sẽthay mặt HĐXX giải thích quyền và nghĩa vụ cho bị cáo Biết mình có nhữngquyền gì và phải thực hiện những nghĩa vụ gì sẽ giúp cho bị cáo chủ động, hoànhập tốt hơn vào diễn biến phiên toà

Trang 33

- Bị cáo có quyền đề nghị thay đổi người THTT, người giám định, người phiên dịch theo quy định của Bộ luật TTHS.

Bị cáo là đối tượng bị đưa ra xét xử, là đối tượng bị buộc tội trong vụ ánhình sự, việc xét xử như thế nào ảnh hưởng trực tiếp tới quyền và nghĩa vụ của bịcáo, vì vậy, bị cáo có quyền được đề nghị thay đổi người THTT, người giámđịnh, người phiên dịch khi có căn cứ rõ ràng để cho rằng họ không vô tư trongkhi làm nhiệm vụ Bị cáo có thể thực hiện quyền này trước hoặc tại phiên toà khiHĐXX hỏi Trước khi mở phiên toà, trong thời gian chuẩn bị xét xử, nếu bị cáoyêu cầu thay đổi KSV, thành viên HĐXX, Thư ký Toà án thì Viện trưởng VKS

và Chánh án Toà án xem xét giải quyết yêu cầu của bị cáo (Điều 60, 61 Bộ luậtTTHS) Tại phiên toà, khi bị cáo có yêu cầu thay đổi người THTT, người giámđịnh, người phiên dịch thì HĐXX phải xem xét quyết định

- Bị cáo có quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu.

Bị cáo có quyền đưa ra các tài liệu, đồ vật tại phiên toà xét xử Những tàiliệu, đồ vật mà bị cáo đưa ra thông thường có ý nghĩa gỡ tội cho bị cáo, chứngminh bị cáo không phạm tội hoặc chứng minh những tình tiết giảm nhẹ tráchnhiệm hình sự cho bị cáo… HĐXX phải kiểm tra, xác minh và đánh giá các đồvật, tài liệu đó có phải là chứng cứ trong vụ án không và giá trị của nó trong việcxác định sự thật của vụ án

Bị cáo có thể đưa ra những yêu cầu: yêu cầu triệu tập thêm người làmchứng; yêu cầu đưa thêm vật chứng và tài liệu ra xem xét; yêu cầu hoãn phiên toà(Điều 205); yêu cầu xem biên bản phiên toà và yêu cầu ghi những sửa đổi, bổsung vào biên bản phiên toà và ký xác nhận (Điều 200) HĐXX xem xét và giảiquyết yêu cầu của bị cáo

Hai ngày trước khi mở phiên phúc thẩm lần 2 vụ tai nạn giao thông thảmkhốc trên đường cao tốc Láng - Hoà Lạc vào ngày 25/2, TAND tối cao đã raquyết định hoãn phiên xử Một trong những lý do quan trọng là toà chưa gửigiấy triệu tập được hết tới hơn 20 người làm chứng như yêu cầu của gia đình 2

1 (1)

Trang 34

- Bị cáo có quyền trình bày ý kiến tranh luận tại phiên toà.

Đây là một điểm mới, một quyền mà Bộ luật TTHS năm 2003 quy địnhtrực tiếp cho bị cáo (tại điểm g, khoản 2 Điều 50 Bộ luật TTHS) giúp bị cáo pháthuy cao nhất quyền tự bào chữa của mình tại phiên toà Bị cáo có quyền trìnhbày ý kiến về luận tội của KSV và đưa ra đề nghị của mình Khi trình bày ý kiếntranh luận tại phiên toà, bị cáo bình đẳng với KSV và những người tham giatranh luận khác Theo nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Toà án - Điều

19 Bộ luật TTHS và theo quy định tại Điều 218 Bộ luật TTHS thì Toà án, chủtoạ phiên toà có trách nhiệm tạo điều kiện cho bị cáo tranh luận, trình bày hết ýkiến nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ án

- Bị cáo có quyền nói lời sau cùng trước khi nghị án.

Sau khi HĐXX kết thúc xét hỏi và tranh luận, bị cáo được nói lời saucùng trước khi nghị án Pháp luật quy định quyền này là để tạo điều kiện cho bịcáo có cơ hội được trình bày thái độ, nguyện vọng của mình trước khi HĐXXđưa ra những quyết định đối với vụ án Trong khi nói lời sau cùng, bị cáo cóquyền trình bày mọi vấn đề liên quan tới vụ án, tỏ thái độ của mình đối với việcbuộc tội…

Khi được nói lời sau cùng trước khi HĐXX nghị án, nguyên thứ trưởng BộThương Mại Mai Văn Dâu nghẹn ngào nhắc lại khoảng thời gian 2 năm 4 thángsống trong trại giam Đó là những lúc "tưởng như không sống nổi" khi bệnh tậtdày vò nhưng vẫn "mong chờ đến ngày ra tòa để được trình bày đúng sự thật" Đó

là những lúc phải khai đại theo yêu cầu của cán bộ điều tra để mong được tạingoại Trong lời phát biểu của mình ông Dâu còn nhắc đến những ngày gắn bóvới Bộ Thương mại Ông nghẹn ngào: "Tôi đã có những đóng góp nhất định đốivới sự phát triển của Bộ Bộ vừa được tặng Huân chương sao vàng và tôi tự hào là

có phần đóng góp của mình trong đó Sau những việc đã xảy ra, tôi thấy mình cólỗi Xin toàn thể cán bộ nhân viên hãy tha lỗi cho tôi Phải đứng trước vành móngngựa vì những sai sót của bản thân là tôi đã mắc tội lỗi lớn Tôi xin nhận lỗi với

Trang 35

HĐXX phải chú ý và tôn trọng quyền nói lời nói sau cùng của bị cáotrước khi nghị án Nhiều trường hợp, khi nói lời sau cùng, bị cáo lại đưa ranhững tình tiết có ý nghĩa quan trọng với vụ án, khi đó HĐXX phải quyết địnhtrở lại việc xét hỏi.

- Bị cáo có quyền kháng cáo bản án, quyết định của Toà án.

Khi không đồng ý với toàn bộ hoặc một phần bản án hoặc quyết định sơthẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án, pháp luật quy định cho bị cáo cóquyền kháng cáo bản án, quyết định này để Toà án cấp phúc thẩm xét xử lại Bịcáo có quyền kháng cáo về tất cả các vấn đề mà bản án sơ thẩm đề cập tới như:tội danh, loại hình phạt chính, hình phạt bổ sung, mức hình phạt chính, hình phạt

bổ sung… Bị cáo cũng có quyền kháng cáo quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ

án chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án Khi kháng cáo của bị cáo là hợp lệ,Toà án cấp phúc thẩm phải xem xét và giải quyết yêu cầu kháng cáo của bị cáo

Để bị cáo có thể yên tâm thực hiện quyền kháng cáo của mình, luật TTHS quyđịnh nếu chỉ có kháng cáo của bị cáo mà không có kháng cáo, kháng nghị theohướng tăng nặng nào khác thì Toà án cấp phúc thẩm không có quyền sửa án theohướng bất lợi cho bị cáo

- Bị cáo có quyền khiếu nại quyết định, hành vi của cơ quan, người có thẩm quyền THTT.

Bị cáo có quyền khiếu nại quyết định của cơ quan, người có thẩm quyềnTHTT Những quyết định này không thuộc đối tượng kháng cáo như quyết định

áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn, quyết định hoãn phiên toà… Bịcáo cũng có quyền khiếu nại hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyềnTHTT nếu các hành vi đó là trái pháp luật

2 Đảm bảo quyền nhờ người khác bào chữa

Như đã phân tích ở trên, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có thể sử dụngcác biện pháp do luật định để tự bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình

và pháp luật cũng quy định các cơ chế bảo đảm cho họ thực hiện quyền tự bàochữa Nhưng trên thực tế do hạn chế về hiểu biết pháp luật hay do bị áp dụngcác biện pháp cưỡng chế tố tụng: tạm giữ, tạm giam nên người bị tạm giữ, bị

Trang 36

can, bị cáo không thể thực hiện được đầy đủ và có hiệu quả quyền tự bào chữacủa mình Chính vì vậy sự tham gia của người bào chữa trong TTHS là rất cầnthiết trong việc thực hiện nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạmgiữ, bị can, bị cáo; tạo điều kiện để TTHS đạt được mục đích đặt ra trong đó cómục đích bảo vệ hiệu quả các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

Tuy Bộ luật TTHS không nêu khái niệm thế nào là người bào chữa nhưngcăn cứ vào quy định tại các Điều 56, 57 và 58 Bộ luật TTHS thì người bào chữa

là người được cơ quan THTT cấp giấy chứng nhận bào chữa tham gia vào quátrình TTHS để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bịcáo, góp phần làm sáng tỏ các tình tiết gỡ tội hay làm giảm nhẹ tội cho người bịtạm giữ, bị can, bị cáo đồng thời giúp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo những vấn

đề pháp lý cần thiết

Hiện nay do trình độ dân trí và ý thức pháp luật của nhân dân ta còn hạnchế nên khi nói đến người bào chữa người ta chỉ nghĩ đến luật sư còn nhữngngười khác không phải luật sư thì không phải là người bào chữa Tuy nhiên, luật

sư là khái niệm nghề nghiệp còn người bào chữa là khái niệm tố tụng Theo điều

56 Bộ luật TTHS, người bào chữa có thể là luật sư, bào chữa viên nhân dân,người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo

Luật sư là những người có đủ điều kiện hành nghề theo quy định của luậtnày, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan tổ chức (sau đâygọi chung là khách hàng) (Điều 2 Luật Luật sư) Tiêu chuẩn luật sư: là công dânViệt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ nghiêm Hiến pháp và pháp luật, cóphẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã quathời gian tập sự hành nghề luật sư, có sức khoẻ bảo đảm hành nghề thì có thể trởthành luật sư (Điều 10 Luật Luật sư) Điều kiện hành nghề luật sư: người có đủtiêu chuẩn quy định tại điều 10 của luật này muốn hành nghề luật sư thì phải cóchứng chỉ hành nghề luật sư và gia nhập một Đoàn luật sư Khoản 1 Điều 22 củaLuật Luật sư quy định luật sư có thể tham gia tố tụng với tư cách là người bàochữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo

Trang 37

Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là cha mẹ,anh chị em ruột, người giám hộ của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.

Bào chữa viên nhân dân là người được tổ chức, đoàn thể xã hội cử ra đểbào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo

Khi tham gia TTHS, bằng những hiểu biết pháp luật, bằng kỹ năng nghềnghiệp của mình, người bào chữa giúp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiệntốt hơn quyền bào chữa của họ theo quy định của pháp luật đồng thời giúp cho cơquan THTT giải quyết vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, tránhthiên về buộc tội và xem xét một chiều Khi tham gia TTHS, người bào chữakhông chỉ bảo vệ quyền lợi cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo còn có nhiệm vụbảo vệ pháp luật, bảo vệ pháp chế XHCN Hai nhiệm vụ này có mối quan hệ mậtthiết với nhau Muốn bảo vệ tốt quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị tạm giữ,

bị can, bị cáo thì phải tôn trọng sự thật, tôn trọng pháp luật, ngược lại, muốn gópphần vào việc bảo vệ pháp chế XHCN thì phải làm tốt nhiệm vụ bảo vệ quyền vàlợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong vụ án trên cơ sở củapháp luật Khi tham gia tố tụng, người bào chữa luôn phải chú ý cả hai nhiệm vụtrên Nếu chỉ chú trọng nhiệm vụ bảo vệ quyền và lợi ích cho người bị tạm giữ, bịcan, bị cáo thì dễ dẫn đến tình trạng nguỵ biện Ngược lại, nếu chỉ chú ý đến việcbảo vệ pháp luật, pháp chế thì có thể biến mình thành “công tố” buộc tội tại phiêntoà Như vậy, đặc trưng cơ bản trong vai trò của người bào chữa khi tham gia tốtụng bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là sự kết hợp nhuần nhuyễngiữa việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáovới việc bảo vệ chân lý và tôn trọng pháp luật, pháp chế

2.1 Đảm bảo quyền nhờ người khác bào chữa trong giai đoạn điều tra, truy tố

- Người bào chữa có quyền tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can, trong trường hợp bắt người theo quy định tại Điều 81 và Điều 82 Bộ luật TTHS thì người bào chữa tham gia từ khi có quyết định tạm giữ.

Việc quy định người bào chữa có quyền tham gia tố tụng từ khi có quyếtđịnh tạm giữ, khi khởi tố bị can là cần thiết để đảm bảo cho việc tạm giữ và khởi

Trang 38

tố bị can là có căn cứ và hợp pháp, đồng thời cũng đảm bảo việc áp dụng cácbiện pháp cưỡng chế là cần thiết, tránh tình trạng tạm giữ, tạm giam bừa bãi vàkhông đúng mục đích Đồng thời, quy định thời điểm tham gia tố tụng từ rấtsớm của người bào chữa nhằm đảm bảo cho người bào chữa có thể tiếp cận vụ

án từ giai đoạn đầu và có cái nhìn toàn diện hơn về vụ án, quy định này cũngnhằm bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ Tuy nhiên,không phải lúc nào người bào chữa cũng được tham gia tố tụng sớm như vậy,trong trường hợp cần giữ bí mật điều tra đối với tội phạm xâm phạm an ninhquốc gia thì Viện trưởng VKS quyết định để người bào chữa tham gia tố tụng từkhi kết thúc điều tra

- Người bào chữa có quyền có mặt khi lấy lời khai của người bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu ĐTV đồng ý thì được hỏi người bị tạm giữ, bị can và

có mặt trong những hoạt động điều tra khác.

Được có mặt khi lấy lời khai của người bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can,người bào chữa có cơ hội được trực tiếp nghe người bị tạm giữ, bị can trình bày vềnhững tình tiết của vụ án Trong quá trình xét hỏi, người bào chữa có thể phát hiện

ra những tình tiết có ý nghĩa có lợi cho người bị tạm giữ, bị can Khi được ĐTVcho phép, người bào chữa có thể dùng những câu hỏi khéo léo của mình làm sáng

tỏ những tình tiết minh oan cho người bị tạm giữ, minh oan hoặc làm giảm nhẹ tộicho bị can Mặt khác, sự có mặt của người bào chữa trong khi lấy lời khai củangười bị tạm giữ, trong khi hỏi cung bị can sẽ làm cho người bị tạm giữ, bị can ổnđịnh hơn về mặt tâm lý, yên tâm khai báo chính xác sự việc Đồng thời, sự có mặtcủa người bào chữa cũng ngăn ngừa những vi phạm pháp luật từ phía ĐTV, tránhtình trạng ĐTV dụ cung, mớm cung, dùng nhục hình, ép cung đối với người bị tạmgiữ, bị can Khi phát hiện ĐTV vi phạm pháp luật trong quá trình lấy lời khai củangười bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can thì người bào chữa có quyền khiếu nại tới cơquan có thẩm quyền để xử lý

Người bào chữa được có mặt trong những hoạt động điều tra khác, đó làcác hoạt động điều tra quy định tại các chương XI, XII, XIII của Bộ luật TTHSkhi được ĐTV đồng ý Khi tham gia các hoạt động này người bào chữa có điều

Ngày đăng: 05/04/2013, 09:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Báo Thanh Niên, Số ra thứ tư ngày 26/12/2001, “Hơn 70% phiên toà không có Luật sư” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hơn 70% phiên toà không có Luật sư
2. Bộ Công an, Tổng cục Cảnh sát, Báo cáo sơ kết một năm thực hiện Pháp lệnh Điều tra hình sự trong lực lượng cảnh sát nhân dân, H. 2006 Khác
3. Bộ Tư pháp - Viện khoa học pháp lý, Từ điển luật học, Nxb. Từ điển Bách khoa - Nxb Tư pháp, H. 2006 Khác
4. Bộ Tư pháp, Báo cáo tổng kết thi hành Pháp lệnh Luật sư 2001 Khác
5. Bộ Tư pháp-Vụ pháp luật hình sự-hành chính, Bảo vệ quyền của người chưa thành niên trong pháp luật hình sự và tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb.Tư pháp, H. 2006 Khác
6. Chức năng bào chữa trong TTHS Xô Viết, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Số 1/1978 Khác
7. Đỗ Đức Hồng Hà, Một số đặc điểm tội phạm học của tội giết người, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Số 6/2004, tr. 72 Khác
8. Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (sửa đổi), Nxb. Chính trị Quốc gia, H. 2004 Khác
9. Hoàng Thị Sơn, Thực hiện quyền bào chữa của bị can, bị cáo trong luật Tố tụng hình sự Việt Nam, Luận án Tiến sĩ luật học, H. 2003 Khác
10. Hoàng Thị Sơn, Thực trạng thực hiện nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo, Tạp chí Luật học, Số 4/2002 Khác
24. Một số vấn đề về cơ sở bảo đảm dân chủ trong tranh luận tại phiên toà hình sự, tạp chí Kiểm sát, VKS nhân dân tối cao, Số 3/2002 Khác
25. Nguyễn Hà Thanh, Vai trò hạn chế của luật sư trong giai đoạn Điều tra vụ án hình sự - nguyên nhân và giải pháp, Tạp chí TAND Số 3/2007, tr. 2 Khác
26. Nhà Pháp luật Việt-Pháp, Hội thảo Pháp luật về tổ chức Điều tra hình sự, H. 2002 Khác
27. Phạm Hồng Hải, Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, Nxb. Công an nhân dân, H.1999 Khác
28. Phan Trung Hoài, Hoàn thiện pháp luật về Luật sư ở Việt Nam, Nxb. Tư pháp, H. 2006 Khác
29. Quốc triều Hình luật (Luật Hình triều Lê), Nxb. Pháp lý, H.1991 Khác
30. TAND Tối cao, Báo cáo tổng kết công tác năm 2006 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2007 của ngành TAND, H. 2007 Khác
31. Tổng cục cảnh sát nhân dân, Cục chính trị, Báo cáo tổng kết Khác
32. Trần Ngọc Đường, Bàn về quyền con người quyền công dân, Nxb. Chính trị Quốc gia, H. 2004 Khác
33. Vụ bổ trợ tư pháp, Nội dung cơ bản của dự án Luật về luật sư so sánh với pháp luật của một số nước, Nxb. Tư pháp, H.2006 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w