Hợp đồng bảo hiểm con người những vấn đề lý luận và thực tiễn
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình xã hội hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đangtrong quá trình chuyển đổi và phát triển về mọi mặt của đời sống xã hội ViệtNam là một trong những quốc gia luôn coi trọng vấn đề bình đẳng giới và coi đóchính là mục tiêu mang tính chiến lược nhằm đảm bảo quyền con người nóichung và quyền bình đẳng giữa các thành viên trong gia đình nói riêng Đặc biệt
là sự bình đẳng giữa vợ và chồng Chính vì vậy, trong các văn kiện của Đảng vàtrong các văn bản pháp luật của Nhà nước, quyền bình đẳng giữa nam và nữ,giữa vợ và chồng luôn được quan tâm sâu sắc Trong lĩnh vực hôn nhân và giađình (sau đây viết tắt là HN&GĐ), nhìn chung, quyền bình đẳng giữa vợ chồng,đặc biệt là quyền bình đẳng trong việc chia tài sản giữa vợ chồng đã được đề cậpkhá cụ thể và chi tiết trong các quy định của pháp luật và ngày càng có xuhướng hoàn thiện hơn Điều đó cho thấy sự quan tâm của Đảng, của Nhà nước
và của toàn xã hội đến vấn đề này đồng thời góp phần vào mục tiêu chung làbình đẳng giới của toàn thế giới Song các quy định đó vẫn còn nhiều bất cập,chưa hoàn thiện trong từng trường hợp cụ thể khi chia tài sản của vợ chồng dẫnđến việc chia tài sản còn nhiều sai sót và chưa đảm bảo quyền bình đẳng cho cácbên
Hơn thế nữa, trong điều kiện kinh tế đang phát triển theo hướng thị trườnghóa hiện nay, khi khối lượng tài sản của công dân tăng lên, nhu cầu riêng cũngnhiều hơn, ý thức, tâm lý tài sản riêng để phục vụ cho nhu cầu cuộc sống, nghềnghiệp, sinh hoạt cá nhân được chủ động hình thành và phù hợp với tâm lý dântộc, mong muốn tạo lập cho mình một khoản tài sản độc lập không bị phụ thuộcbất cứ ai kể cả giữa vợ và chồng cùng với tình trạng ly hôn ngày một gia tăng thìviệc chia tài sản giữa vợ chồng là một yêu cầu hợp lý Và vấn đề phải đảm bảoquyền bình đẳng giữa vợ chồng là một nhiệm vụ cần thực hiện
Trước tình hình thực tế về chia tài sản giữa vợ chồng trong những nămqua mặc dù đã đạt được những kết quả tốt đẹp, đáp ứng được nhu cầu, nguyện
Trang 2vọng và đảm bảo quyền lợi cho cả đôi bên thì còn có không ít những trường hợpxảy ra mâu thuẫn, bất đồng giữa vợ chồng sau khi chia tài sản Một điều dễ thấytrong các vụ án về chia tài sản giữa vợ chồng, người vợ thường là người phảichịu thiệt thòi hơn Đó là do phong tục tập quán và tư tưởng lạc hậu luôn bảo vệquyền lợi của người chồng vốn dĩ đã ăn sâu vào tiềm thức của mọi tầng lớptrong xã hội Người phụ nữ còn có thái độ tự ti an phận không muốn tự đòiquyền lợi cho mình Bên cạnh đó là công tác tuyên truyền pháp luật vẫn chưasâu rộng dẫn đến sự hiểu biết về pháp luật còn quá ít Chính vì thế vẫn tồn tại sựbất bình đẳng giữa vợ chồng trong việc chia tài sản.
Tuân thủ và thực hiện nguyên tắc quyền bình đẳng trong việc chia tài sảngiữa vợ chồng là yêu cầu bắt buộc với tất cả các cơ quan, tổ chức và mọi cánhân trong xã hội Làm được điều đó sẽ góp phần xóa bỏ chế độ HN&GĐ phongkiến lạc hậu đồng thời củng cố và xây dựng chế độ HN&GĐ Xã Hội chủ nghĩađặc biệt là bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người phụ nữ, giải phóng họ khỏithân phận lệ thuộc và bất bình đẳng trong gia đình cũng như trong mọi lĩnh vựccủa đời sống xã hội
Nghiên cứu về quyền bình đẳng giữa vợ chồng trong việc chia tài sản làviệc làm thiết thực và có nhiều ý nghĩa Xuất phát từ lý do đó tôi chọn đề tài
“Quyền bình đẳng giữa vợ chồng trong việc chia tài sản theo pháp luật Hôn nhân gia đình hiện hành” làm đề tài cho khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Qua tìm hiểu các công trình nghiên cứu khoa học về lĩnh vực HN&GĐ đã
có nhiều bài viết về tài sản vợ chồng trên Tạp chí Luật học, Tạp chí Dân chủ vàPháp luật, Tạp chí Tòa án nhân dân… đề cập đến những khía cạnh khác nhau
của tài sản vợ chồng: Ví như “Quyền sở hữu của vợ chồng theo luật Hôn nhân
và gia đình 2000” (Nguyễn Văn Cừ, Tạp chí Luật học số 4/2000 Tr 3); “Hậu quả pháp lý của việc chia tài sản vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân” (Nguyễn
Phương Lan, Tạp chí Luật học số 6/2002)… Ngoài ra cũng đã có những khóaluận tốt nghiệp cử nhân và luận văn thạc sĩ luật học nghiên cứu về vấn đề tài sản
vợ chồng như luận văn tốt nghiệp cao học luật khóa I của Th¹c sü Hoàng Ngọc
Trang 3Huyên với nội dung “Chế độ tài sản vợ chồng theo luật Hôn nhân và gia đình”
và gần đây nhất là công trình khoa học “Chế độ tài sản vợ chồng theo luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam” được thầy giáo Nguyễn Văn Cừ bảo vệ thành công
luận án tiến sĩ vào đầu năm 2005 Đây thực sự là những công trình có giá trị vềkhoa học và thực tiễn, nhưng những công trình này chủ yếu tập trung đi vàophân tích những khía cạnh chế độ tài sản của vợ chồng theo luật HN&GĐ hiệnhành chứ chưa nghiên cứu dưới góc độ bình đẳng giới Chính vì vậy vấn đề
“Quyền bình đẳng giữa vợ chồng trong việc chia tài sản theo pháp luật Hôn nhân và gia đình hiện hành” mặc dù đã được nghiên cứu và trình bày trong giáo
trình Luật HN&GĐ Việt Nam của Trường Đại Học Luật Hà Nội và trong cácgiáo trình giảng dạy luật học tại các cơ sở đào tạo luật học ở nước ta, nhưng việctrình bày đó chỉ dừng lại ở một số vấn đề mang tính nguyên tắc mà không đi sâuvào giải quyết toàn diện vấn đề liên quan, đặc biệt là dưới khía cạnh bình đẳnggiới
3 Mục đích, phạm vi nghiên cứu đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ quyền bình đẳng giữa vợ chồngtrong các trường hợp chia tài sản của vợ chồng theo pháp luật HN&GĐ ViệtNam và đưa ra những kiến nghị về việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật nhằmđảm bảo cho quyền bình đẳng đó được triệt để tuân thủ trong thực tế
Phạm vi nghiên cứu đề tài: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đềchia tài sản của vợ chồng dưới góc độ bình đẳng giới theo pháp luật Việt Nam
Đề tài không bao gồm việc nghiên cứu những vấn đề chia tài sản của vợ chồng
có yếu tố nước ngoài
4 Phương pháp nghiên cứu
Việc nghiên cứu, đánh giá các vấn đề trong khãa luận nhất quán dựa trên
cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lê Nin về chủ nghĩa duy vật biệnchứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, các quan điểm của Đảng và tư tưởng Hồ ChíMinh Để đạt được mục đích nghiên cứu tác giả có sử dụng kết hợp nhiềuphương pháp như: phân tích, tổng hợp, so sánh…
5 Cơ cấu khóa luận
Trang 4Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo khóa luận còn
có phần nội dung được cơ cấu thành 3 chương:
Chương I: Khái quát chung về quyền bình đẳng giữa vợ chồng trong việc chia tài sản.
Chương II: Quyền bình đẳng giữa vợ chồng trong việc chia tài sản theo quy định của pháp luật hiện hành.
Chương III: Thực tiễn bảo vệ quyền bình đẳng giữa vợ chồng trong việc chia tài sản và một số giải pháp hoàn thiện pháp luật.
Trang 5CHƯƠNG I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN BÌNH ĐẲNG GIỮA VỢ CHỒNG
TRONG VIỆC CHIA TÀI SẢN
1 Khái niệm chung
1.1 Khái niệm giới, giới tính, bình đẳng giới
1.1.1 Khái niệm giới
“Giới” là phạm trù chỉ mối quan hệ xã hội giữa nam giới và phụ nữ, biểu
hiện cách thức phân định xã hội giữa hai đối tượng này, có liên quan đến cácvấn đề thuộc về thể chế xã hội
Các vai trò giới khác với các vai trò giới tính – mang đặc điểm sinh học.Những vai trò khác nhau này chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố lịch sử, tôn giáo,kinh tế, văn hóa và chủng tộc Do vậy, vai trò giới của chúng ta không phải có từkhi chúng ta được sinh ra mà là những điều chúng ta được dạy dỗ và thu nhận từkhi còn nhỏ và trong suốt quá trình trưởng thành
Các vai trò giới là sự hội tụ của những hành vi ứng xử được dạy dỗ vềmặt xã hội, mong muốn về những đặc điểm và năng lực xã hội coi là thuộc vềđàn ông hoặc thuộc về đàn bà (bé trai hay bé gái) trong một xã hội hay một nềnvăn hóa cụ thể nào đó Đó cũng là các mối quan hệ giữa phụ nữ và nam giới: ainên làm gì, ai là người ra quyết định, tiếp cận nguồn lực và các lợi ích Thôngthường mọi người phải chịu rất nhiều áp lực buộc phải tuân thủ các quan niệm
xã hội này
Đặc điểm giới và các mối quan hệ giới là các khía cạnh quan trọng củamột nền văn hóa bởi chúng quyết định lối sống trong một gia đ×nh, ngoài cộngđồng và nơi làm việc Điều quan trọng là – các xã hội, các nền văn hóa, vai trò
và mối quan hệ giới liên tục được tái tạo và thay đổi Nó sẽ thay đổi theo thờigian, chịu tác động của nhiều nhân tố: xã hội, kinh tế, pháp lý, chính sách và đờisống dân sự Trong tiến trình đó, một số giá trị được tái khẳng định như quyềnbình đẳng giữa vợ chồng, trong khi một số khác bị xem xét lại không còn phù
Trang 6hợp nữa Và tất nhiên khi giới đã có sự bình đẳng thì trong quan hệ vợ chồngcũng sẽ có xu hướng bình đẳng hơn.
1.1.2 Khái niệm giới tính
Giới tính là “những đặc điểm chung phân biệt nam với nữ, giống đực với giống cái” (1)
“Giới tính là phạm trù chỉ sự khác biệt về mặt sinh học giữa nam giới và phụ nữ, thể hiện các đặc điểm bẩm sinh mà khi con người sinh ra đã có Ví dụ,
Các đặc điểm giới tính là tự nhiên và là đặc điểm sinh học Vì vậy, đặcđiểm đó sẽ là thống nhất (ở mọi nơi đều giống nhau) và không thể thay đổi (dù ởchâu Á hay châu Âu chỉ phụ nữ mới có thể sinh con) Từ những đặc điểm là tựnhiên ấy của giới tính cũng đã ít nhiều chi phối sự bình đẳng giữa nam và nữ,giữa vợ và chồng nói chung Bởi lẽ, khi các yếu tố sinh học của giới tính tácđộng đến quan hệ vợ chồng thì xét ở một phương diện nào đó người vợ sẽ khó
có được sự bình đẳng với chồng ví dụ vấn đề thể lực Và khi cần có sự bìnhđẳng giữa vợ chồng trong việc chia tài sản thì yếu tố giới tính đã ít nhiều có sựtác động đến
1.1.3 Khái niệm bình đẳng giới
Bình đẳng giới là sự thừa nhận và coi trọng như nhau các đặc điểm giống
và khác nhau giữa phụ nữ và nam giới Họ cùng có vị thế ngang nhau và đượctôn trọng như nhau, có điều kiện và cơ hội bình đẳng để tham gia, đóng góp vàthụ hưởng các thành quả phát triển trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
Bình đẳng giới không có nghĩa nam giới và phụ nữ là hoàn toàn giốngnhau, được chia đều nhau quyền lực, quyền năng, nghĩa vụ hoặc trách nhiệmtrong mọi trường hợp, bởi họ không đồng nhất về đặc điểm sinh lý, thể trạng sứckhỏe, nhu cầu, chức năng xã hội, lợi ích… Bình đẳng giới đòi hỏi sự công bằng,
sự nhận biết và đánh giá đúng những mặt mạnh, mặt yếu của mỗi giới để từ đó
có cách xử lý phù hợp Nếu nam giới và phụ nữ có điều kiện và năng lực ngang
1 Viện ngôn ngữ học, từ điển tiếng việt, NXB Đà Nẵng, Trung tâm từ điển học Hà Nội – Đà Nẵng, 2003, Tr.405
2 Ts Đào Thị Hằng “Vấn đề bình đẳng giới và những đảm bảo trong pháp luật lao động Việt Nam” – Đặc san về
Trang 7nhau, họ phải được tạo cơ hội hoặc có trách nhiệm như nhau Mặt khác, sự khácbiệt giữa phụ nữ và nam giới về các mặt cũng phải được thừa nhận và được tínhđến đầy đủ khi hoạch định và thực hiện các chính sách nhất định nhằm tạo điềukiện và cơ hội đầy đủ cho các chủ thể; chủ thể yếu hơn phải được ưu tiên hơn đểtạo thế cân bằng Bình đẳng giới vừa là vấn đề cơ bản về quyền con người, vừa
là yêu cầu về sự phát triển xã hội một cách công bằng, hiệu quả và bền vững
Nói cách khác, bình đẳng giới là “phụ nữ và nam giới được coi trọng như
Bình đẳng giữa vợ chồng trong việc chia tài sản được xem là một khíacạnh của bình đẳng giới Công nhận và bảo vệ quyền bình đẳng về việc chia tàisản giữa vợ chồng bằng pháp luật là điều kiện tiên quyết để xác lập quyền bìnhđẳng về kinh tế giữa vợ và chồng trong thực tiễn Đây cũng là cơ sở để phụ nữ
có thể tiếp cận, kiểm soát, tham gia và ra quyết định với nguồn lực kinh tế này
1.2 Khái niệm thời kỳ hôn nhân
Theo Khoản 1 §iều 8 Luật HN&G§ n¨m 2000 thì “Thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, tính từ ngày đăng kí kết hôn đến
Thời kì hôn nhân bắt đầu từ khi vợ chồng kết hôn và kết thúc khi hônnhân chấm dứt do vợ chồng ly hôn, do vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố
là đã chết Trong trường hợp vợ chồng ly hôn hoặc vợ, chồng bị Tòa án tuyên bố
là đã chết thì hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản án hoặc quyết định của Tòa án
có hiệu lực pháp luật
Việc xác định thời kỳ hôn nhân trong trường hợp đặc biệt: Nam nữ chungsống như vợ chồng thì theo Nghị Quyết 35/2000/NQ-QH10 ngày 9/6/2000 củaQuốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về việc thi hành LuậtHN&G§ và Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTPngày 3/1/2001 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và
Bộ Tư Pháp hướng dẫn thi hành Nghị Quyết 35/2000 đã quy định như sau:
3 Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam “Giáo trình dành cho giảng viên về lồng ghép giới trong hoạch định và thực thi chính sách”, Hà Nội 2004 Tr41
4 Luật Hôn nhân và gia đình và các văn bản hướng dẫn thi hành, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.2002 Tr.13.
Trang 8Quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 3/1/1987 sau đó họ mới đăng
kí kết hôn thì quan hệ vợ chồng của họ được công nhận là đã xác lập kể từ ngày
họ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng mµ không phải từ ngày đăng kíkết hôn
Nam nữ chung sống như vợ chồng từ sau ngày 1/1/2003 mà không đăng
kí kết hôn thì họ không được công nhận là vợ chồng và không được xác lập thời
kỳ hôn nhân
Nam nữ chung sống như vợ chồng từ sau ngày 1/1/2003 họ mới đăng kíkết hôn thì quan hệ vợ chồng của họ chỉ được công nhận là đã xác lập kể từ ngày
họ đăng kí kết hôn Vµ thời kỳ hôn nhân được bắt đầu kể từ ngày đăng kí kết hôn
Nam nữ chung sống như vợ chồng bắt đầu từ ngày 1/1/2001 trở đi màkhông đăng kí kết hôn thì pháp luật không công nhận là vợ chồng và thời kỳ hônnhân không được xác lập
Như vậy việc xác định thời kỳ hôn nhân có ý nghĩa rất quan trọng trongviệc giải quyết các vụ kiện liên quan đến quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đặcbiệt là trong việc chia tài sản §ã lµ mét trong nh÷ng c¬ së đảm bảo quyền bìnhđẳng và quyền lợi chính đáng cho cả hai bên
1.3 Khái niệm tài sản, quyền sở hữu tài sản của vợ chồng, chia tài sản của
vợ chồng
1.3.1 Khái niệm tài sản
Có nhiều cách định nghĩa về tài sản:
“Tài sản là của cải vật chất hoặc tinh thần có giá trị đối với chủ sở hữu” (5)
Theo cách định nghĩa này thì tài sản bao gồm những thứ hiện hữu, có giátrị trực tiếp phục vụ cho đời sống của con người và những giá trị tinh thần khôngđem ra đo đếm được Tài sản luôn có giá trị, đặc biệt đối với người sở hữu nó
Còn theo Bộ Luật Dân Sự n¨m 2005 quy định: “Tài sản bao gồm vật,
5 Viện ngôn ngữ học, Từ điển tiếng việt 2003, Nxb Đà Nẵng Trung tâm từ điển học, Hà Nội – Đà Nẵng 2003
Tr 884
Trang 9- Vật chính là đối tượng của thế giới vật chất có thể đáp ứng được nhu cầunào đó (vật chất) của con người, nằm trong sự chiếm hữu của con người và cóđặc trưng giá trị để con người sử dụng.
- Tiền và giấy tờ có giá được xác định là những loại tài sản có tính chất làcác phương tiện thanh toán có giá trị với con người
- Quyền tài sản: Đây là những quyền gắn liền với tài sản mà khi thực hiệncác quyền đó chủ sở hữu sẽ có được một tài sản Đó là các quyền đòi nợ, quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu đối với phát minh, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp,nhãn hiệu hàng hóa Các quyền này phải giá trị được bằng tiền và có thể chuyểngiao trong giao lưu dân sự
1.3.2 Khái niệm quyền sở hữu tài sản của vợ chồng
Dưới góc độ pháp lý, tài sản của vợ chồng có thể hiểu là tổng hợp các quyphạm pháp luật điều chỉnh về vấn đề tài sản vợ chồng bao gồm các quy định vềcăn cứ xác lập tài sản vợ chồng, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sảnchung, tài sản riêng, căn cứ thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ về tài sản của
vợ chồng
Dưới góc độ pháp luật HN&G§ thì quyền sở hữu tài sản của vợ chồngđược hiểu là quyền sở hữu đối với tài sản chung và quyền sở hữu đối với tài sảnriêng của vợ chồng
Quyền sở hữu đối với tài sản chung của vợ chồng: Tài sản chung của vợ
chồng bao gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân, thu nhập dolao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của
vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân Tài sản được tặng cho chung, được thừa kếchung hoặc tài sản mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung Quyền sử dụng đất
mà vợ chồng có sau khi kết hôn cũng là tài sản chung của vợ chồng (Điều 27Luật HN&GĐ năm 2000)
Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất Vợ chồng cóquyền ngang nhau trong việc sở hữu tài sản chung đó Như vậy, bình thườngchúng ta không thể xác định được phần tài sản nào là của vợ, phần tài sản nào làcủa chồng mà chỉ khi cần phải chia tài sản chung vợ chồng thì mới xác định
Trang 10được phần tài sản của từng người trong khối tài sản chung ấy Trong gia đình,
vợ chồng là “đồng sở hữu chủ” đối với tài sản chung nên “vợ chồng đều có quyền vµ nghÜa vô ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung” (Điều 28 Luật Hôn nhân gia đình 2000), nhằm đảm bảo nhu cầu đời
sống chung của gia đình
Sự “ngang nhau” trong việc sử dụng tài sản chung nhưng không có nghĩa
là tài sản chung đó phải do cả hai vợ chồng cùng chiếm giữ, quản lý Tài sảnchung của vợ chồng có thể do một bên chiếm hữu, sử dụng và định đoạt theonhững điều kiện mà pháp luật cho phép
Vợ chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc sử dụng tài sảnchung Đó là sự khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản chungnhưng phải vì lợi ích của vợ chồng và các thành viên trong gia đình Vợ chồngphải có nghĩa vụ sử dụng tài sản chung đúng mục đích luật định Nếu có sự giandối trong việc sử dụng tài sản chung làm ảnh hưởng đến lợi ích của vợ, chồng vàgia đình đều bị coi là trái pháp luật
Vợ chồng có quyền ngang nhau trong việc định đoạt tài sản chung Mọigiao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn hoặc dùng tài sảnchung để đầu tư kinh doanh, hoặc tài sản chung là nguồn sống duy nhất của giađình thì về nguyên tắc phải có sự thỏa thuận của hai vợ chồng Đó chính là sựbình đẳng giữa vợ và chồng trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sảnchung
Quyền sở hữu đối với tài sản riêng của vợ chồng: Tài sản riêng của vợ,
chồng bao gồm tài sản có trước khi kết hôn, tài sản được tặng cho riêng, đượcthừa kế riêng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản được chia riêng trong thời kỳ hônnhân, đồ dùng tư trang cá nhân… (Điều 32 Luật HN&GĐ năm 2000) Vợ,chồng có toàn quyền trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản riêngcủa mình phù hợp với quy định của pháp luật Vợ, chồng có quyền tặng, cho,mua bán, trao đổi tài sản riêng của mình với bất cứ chủ thể nào một cách độc lập
Trang 11và bình đẳng “Vợ chồng có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung”(7).
Quyền “tự định đoạt” của vợ, chồng đối với tài sản riêng của mình chính
là sự bình đẳng mà pháp luật đã thừa nhận và bảo đảm thực hiện Nó cho phépngười có tài sản riêng nhập hay không nhập tài sản đó vào khối tài sản chung mà
không bên nào có quyền ép buộc bên nào Mặc dù “Tài sản riêng của vợ, chồng cũng được sử dụng vào các nhu cầu thiết yếu của gia đình trong trường hợp tài sản chung không đủ đáp ứng” (Khoản 4 Điều 33 LuËt HN&G§ n¨m 2000) thực
chất đã hạn chế quyền sở hữu tài sản riªng của vợ chồng, nhưng quy định đókhông làm ảnh hưởng đến quyền bình đẳng của vợ chồng trong sở hữu tài sảnriêng vì nó nhằm đảm bảo nhu cầu đời sồng chung của gia đình
1.3.3 Khái niệm chia tài sản của vợ chồng
Chia tài sản của vợ chồng theo Luật HN&G§ là tổng hợp các quy phạmpháp luật do Nhà nước ban hành quy định về nguyên tắc phân chia, căn cứ phânchia, phương thức ph©n chia cũng như hậu quả pháp lý của việc chia tài sản vợchồng nhằm đảm bảo nhu cầu và lợi ích chính đáng của các bên vợ chồng
Chia tài sản của vợ chồng được xác định trong các trường hợp: Chia tàisản chung trong thời kỳ hôn nhân; Chia tài sản khi ly hôn; Chia tài sản khi mộtbên vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết Ngoài ra luật còn quyđịnh một số trường hợp chia tài sản đặc biệt nhằm thỏa mãn yêu cầu và phù hợpvới thực tế cuộc sống khi giải quyết các vụ án liên quan đến vấn đề chia tài sản
có sự tham gia của vợ, chồng
2 Ý nghĩa của quyền bình đẳng giữa vợ chồng trong việc chia tài sản
2.1 Ý nghĩa về mặt pháp lý
Quyền bình đẳng giữa vợ chồng trong việc chia tài sản là cơ sở để cơquan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết các vấn đề liên quan đến quan hệ vợchồng như: giải quyết tranh chấp tài sản, giải quyết ly hôn… Một trong nhữngnguyên tắc hoạt động của Tòa án nhân dân là độc lập xét xử và chỉ tuân theopháp luật, nên khi giải quyết các án kiện vÒ HN&G§ thì Tòa án phải xét xử trên
7 Luật Hôn nhân và gia đình 2000 Khoản 2 Điều 32 Nxb Chính tri quốc gia Hà Nội 2002 Tr 23.
Trang 12cơ sở các quy định của Luật HN&G§ VD: Luật HN&G§ n¨m 2000 dựa trênnguyên tắc vợ chồng bình đẳng đã quy định ra nguyên tắc chia tài sản chung của
vợ chồng khi ly hôn Hơn nữa đây còn là cơ sở để các cơ quan Nhà nước cóthẩm quyền ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể giúp cho việc giải quyếttranh chấp về HN&G§ được khách quan, thống nhất, đúng pháp luật, đảm bảoquyền lợi cho các bên
Quyền bình đẳng giữa vợ chồng trong việc chia tài sản là cơ sở pháp lýthực hiện quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản trong gia đình Họđược hưởng những quyền ngang nhau, thực hiện nghĩa vụ như nhau về tài sản
Đó là các quyền mà họ được Nhà nước trao cho và bảo đảm thực hiện
Quyền bình đẳng giữa vợ chồng trong việc chia tài sản là cơ sở để banhành các văn bản pháp luật liên quan đến quyền lợi của người phụ nữ nhằm đảmbảo tính khả thi các quyền của phụ nữ được thực hiện trên thực tế đời sống, làm
ổn định quan hệ HN&G§ Đó chính là cơ sở để đảm bảo một gia đình dân chủ,hòa thuận và hạnh phúc
Quy định về quyền bình đẳng trong việc chia tài sản của vợ chồng gópphần thúc đẩy quá trình xã hội hóa theo xu hướng bình đẳng thực sự từ trong giađình đến cả xã hội, tiến tới mục tiêu bình đẳng giới trên toàn thế giới
2.2 Ý nghĩa về xã hội
Từ thực tế cuộc sống cho thấy, do bị ảnh hưởng bởi những tư tưởng lạchậu, phong kiến nên vẫn tồn tại trong xã hội sự bất bình đẳng giữa nam và nữ,giữa vợ và chồng Sự bất bình đẳng ấy đã đẩy người phụ nữ vào tình trạng lệthuộc, không có sự đảm bảo về quyền lợi chính đáng của mình Quyền bìnhđẳng giữa vợ và chồng trong việc chia tài sản được khẳng định và thể hiện làmột nhu cầu cấp thiết, góp phần bảo vệ quyền lợi của người vợ, đẩy lùi tư tưởnglạc hậu phong kiến, xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa thực sự dân chủ và bìnhđẳng ở nước ta
Đặc biệt trong điều kiện kinh tế, xã hội đang phát triển theo hướng thịtrường hóa hiện nay, sự đa dạng hóa các mối quan hệ đã ảnh hưởng không nhỏtới vấn đề tài sản của vợ chồng Đó là, khi họ muốn kinh doanh riêng cần phải
Trang 13sử dụng một phần tài sản chung mà không muốn ly hôn hay vì một lý do nàokhác thì việc đảm bảo quyền bình đẳng khi chia tài sản giữa vợ chồng là hoàntoàn cần thiết và phù hợp với thực tiễn.
Quyền bình đẳng giữa vợ và chồng trong việc chia tài sản là một trongnhững cơ sở góp phần triển khai các chương trình bình đẳng về giới, tránh bạolực trong gia đình như: Hội Liên Hiệp Phụ Nữ Việt Nam đã phát động phong
trào “Vì sự nghiệp giải phóng phụ nữ”, “Vì sự tiến bộ của phụ nữ” Tất cả
những ý nghĩa xã hội đó đều hướng tới sự bình đẳng giữa vợ chồng, sự bìnhđẳng trong xã hội – cái mà xã hội ta đang vươn tới
3 Sơ lược sự phát triển của pháp luật Việt Nam về quyền bình đẳng giữa
vợ chồng trong việc chia tài sản
3.1 Quyền bình đẳng giữa vợ và chồng trong việc chia tài sản theo pháp luật thời kỳ phong kiến
Trong cổ luật Việt Nam – ngay từ thời Lý – Trần (Thế kỉ XI – Thế kỉXIV) đã có quy định liên quan đến HN&G§ nhưng sử liệu ghi chép không toàndiện nên rất khó cho việc tìm hiểu và nghiên cứu Vì vậy, Bộ Quốc Triều HìnhLuật (thường gọi là Bộ Luật Hồng Đức) ban hành dưới thời Lê (thế kỉ XV) vàHoàng Việt Luật Lệ (thường gọi là Bộ Luật Gia Long) ban hành dưới thờiNguyễn (năm 1815) ra đời được coi là hai bộ luật tiêu biểu nhất cho chế độHN&GĐ phong kiến Việt Nam
Chế độ tài sản được thể hiện trong hai bộ luật này là chế độ tài sản cộngđồng toàn sản Bao gồm:
- Tài sản người chồng có trước khi kết hôn gọi là phu điền sản
- Tài sản người vợ mang từ nhà mẹ đẻ về nhà chồng khi kết hôn gọi là thêđiền sản
- Tài sản vợ chồng cùng nhau tạo ra trong thời gian chung sống gọi là tầntảo điền sản
Như vậy tài sản chung của vợ chồng trong thời kì này gọi là tần tảo điềnsản Trong một số quy định của Bộ Quốc Triều Hình Luật và Hoàng Việt Luật
Lệ thì vợ chồng có thể chia tài sản chung khi một bên chết hoặc khi vợ chồng ly
Trang 14hôn: Trường hợp vợ chồng ly dị nếu có con chung thì tài sản sẽ để lại nuôi con,người vợ không có con thì có thể được mang tài sản về nhưng nếu là thời giansống dài mà không sinh con Nhưng nếu phạm vào thất suất sẽ không đượcmang thê điền sản về nhà mình.
Đó là sự bất bình đẳng trong việc chia tài sản giữa vợ chồng Yếu tố lỗicủa người vợ là yếu tố quyết định phần tài sản mà người vợ được mang về khi lyhôn, thể hiện sự coi trọng quyền lợi của người chồng mà coi nhẹ vị trí của người
vợ Người vợ luôn phải chịu thiệt thòi khi chia tài sản chung với chồng
Trong pháp luật phong kiến, sự bất bình đẳng giữa vợ chồng trong việcchia tài sản là không tránh khỏi bởi ảnh hưởng của tư tưởng nho giáo, người
chồng được coi là chủ gia đình (gia trưởng) còn người vợ thì phải “tứ đức” và tuân theo thuyết“tam tòng” Vì vậy vai trò của người phụ nữ rất mờ nhạt, họ
hoàn toàn lệ thuộc vào người chồng nên người chồng có toàn quyền trong việcquản lý, sử dụng tài sản trong gia đình, kể cả khi tài sản đó là cộng đồng tài sản
Tuy nhiên, bên cạnh sự bất bình đẳng ấy thì chúng ta còn tìm thấy một sốquy định tiến bộ, thể hiện sự bình đẳng nhằm bảo vệ quyền lợi của người vợtrong việc chia tài sản giữa vợ chồng Về nguyên tắc, chỉ vợ chồng được xácđịnh là những chủ thể trong việc chia tài sản chung Việc phân định thê điền sản,phu điên sản và cho phép người vợ khi ly hôn có thể lấy lại thê điên sản đượccoi là một bước tiến bộ đặc biệt của pháp luật thời kỳ này, quyền sở hữu tài sảncủa người vợ đã được thừa nhận
Điều 375 Bộ Quốc Triều Hình Luật quy định: “Tài sản của vợ chång làm
ra thì chia làm hai, vợ chồng mỗi người được một phần nếu một trong hai người chết mà chưa có con”, và khi ly hôn thì người vợ giữ lại tài sản của mình, kể cả
những gì trước đây đã được chồng tặng… Đó là một quan điểm tiến bộ ghi nhận
sự bình đẳng tương đối trong hai bộ luật mang sắc thái Việt Nam thuần túy Đócũng là một sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa hướng nho và phong tục tập quándân tộc bản địa Sự tiến bộ ấy là một trong những cơ sở quan trọng để hìnhthành nên quyền bình đẳng giữa vợ chồng trong việc chia tài sản được quy địnhtrong pháp luật hiện hành
Trang 153.2 Quyền bình đẳng giữa vợ chồng trong việc chia tài sản theo pháp luật thời kỳ pháp thuộc
Trước cách mạng tháng 8 năm 1945 Việt Nam là một nước thuộc địa nửaphong kiến Với việc duy trì quan hệ sản xuất phong kiến thì nền kinh tế, xã hộicủa đất nước luôn ở trình độ lạc hậu đi liền với những hủ tục đã ăn sâu từ nhiềuthế kỷ trước Thực dân pháp và giai cấp địa chủ phong kiến đã lợi dụng chế độHN&GĐ phong kiến đang tồn tại ở nước ta để củng cố nền thống trị của chúng
Sau khi đề ra chính sách “chia để trị” thực dân pháp đã tiến hành chia
nước ta làm ba miền với ba sự cai quản riêng: Bắc kỳ và Trung kỳ là xứ bảo hộcủa pháp, Nam kỳ là thuộc địa của pháp, cùng với đó thực dân pháp đã cho banhành ba bộ dân luật ở ba miền:
- Ở Bắc kỳ theo Bộ Dân Luật 1931
- Ở Trung kỳ theo Bộ Dân Luật 1936
- Ở Nam kỳ theo Tập Giản Yếu 1883
Mặc dù mỗi bộ luật được ban hành để áp dụng riêng cho từng miền nhưngnội dung của ba bộ luật trên đều toát lên những điểm chung của chế độ HN&G§Việt Nam thời bấy giờ Một trong những điểm chung đó là sự bảo vệ quyền lợi
của người chồng “thực hiện nguyên tắc bất bình đẳng giữa vợ với chồng với
Tại Điều 112 Dân Luật Bắc Kỳ quy định:
“Khi nào vì sự ly hôn mà thành ra tiêu việc giá thú, nếu người vợ bị ly hôn đã có con thì được một phần trong tài sản chung, phần ấy sẽ tùy theo kỷ phần của người vợ đã góp vào hoặc đã tăng thêm cho của chung Nếu người vợ
vì sự gian thông mà bị ly hôn thì cái phần ấy sẽ bị bớt đi một nửa”.
Đây là trường hợp chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn nhưng quy định
đó không đảm bảo được quyền lợi của người vợ Vì khi ly hôn nếu người vợ đã
có con thì được một phần trong tài sản chung và phần ấy được nhiều hay ít tùythuộc vào công sức đóng góp trước đó của người vợ là bao nhiêu vào khối tàisản chung của vợ chồng mà không phải là sự chia đôi, ngang bằng Mặt khác,
8 Trường Đại Học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội
2002 Tr.58
Trang 16yếu tố lỗi của người vợ là một yếu tố quan trọng để quyết định “kỷ phần” mà
người vợ được mang theo hay không khi ly hôn, Đó là trường hợp nếu người vợ
“gian thông” Mặc nhiên quy định này hoàn toàn không đề cập đến lỗi của
người chồng và điều đó cũng chính là sự bất bình đẳng mà pháp luật thừa nhậngiữa vợ với chồng khi chia tài sản Song do điều kiện kinh tế, xã hội còn quánghèo nàn, dưới ách thống trị của chế độ thực dân nửa phong kiến và ảnh hưởngcủa tư tưởng nho giáo luôn bảo vệ quyền lợi của người người chồng và giai cấpthống trị thì sự bất bình đẳng với người vợ là điều khó tránh khỏi
3.3 Quyền bình đẳng giữa vợ chồng trong việc chia tài sản theo pháp luật thời kỳ từ Cách mạng tháng tám năm 1945 đến nay
3.3.1 Giai đoạn 1945 – 1954
Cách mạng tháng tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa rađời, đồng thời với đó là sự ra đời của Hiến pháp năm 1946 Với tính chất là đạoluật cơ bản tạo cơ sở pháp lý để Nhà nước ta ban hành các văn bản pháp luậtkhác nhau điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong xã hội, trong đó có các quan
hệ về HN&GĐ
Điều 9 Hiến pháp năm 1946 quy định: “Đàn bà ngang quyền với đàn ông
về mọi phương diện” nhưng vào thời điểm đất nước đang gặp khó khăn trong tình trạng “ngàn cân treo sợi tóc” với ba thứ giặc tràn lan thì chúng ta chưa xây
dựng ngay được một văn bản Luật HN&GĐ để thể chế hóa quy định tại Điều 9Hiến pháp năm 1946
Đến năm 1950, Nhà nước ta đã ban hành sắc lệnh đầu tiên điều chỉnhquan hệ HN&GĐ, đó là Sắc lệnh 97- SL ngày 22/2/1950 về sửa đổi một số quy
lệ và chế định trong dân luật và Sắc lệnh số 159- SL ngày 17/11/1950 quy định
về vấn đề ly hôn Một trong những nội dung của hai sắc lệnh này là phản ánh
nguyên tắc “nam nữ bình đẳng” và nguyên tắc “ người chồng và người vợ có địa vị bình đẳng trong gia đình”.
Rõ ràng đây là những quy định mới và tiến bộ trong pháp luật vềHN&GĐ đã góp phần đáng kể vào việc xóa bỏ chế độ HN&GĐ phong kiến lạchậu, góp phần vào sự nghiệp giải phóng phụ nữ khỏi chế độ đó, thúc đẩy sự phát
Trang 17triển của xã hội Việt Nam trong thời kỳ Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân.Tuy nhiên cả hai sắc lệnh này vẫn chưa thể hiện đầy đủ và chặt chẽ về chế độ tàisản cũng như vấn đề chia tài sản giữa vợ chồng nên quyền bình đẳng giữa vợchồng trong việc chia tài sản cũng chưa được thể hiện một cách rõ nét.
3.3.2 Giai đoạn 1954 – 1975
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta đã thắng lợi (n¨m1954) nhưng đất nước ta vẫn tạm thời bị chia cắt làm hai miền với hai chế độchính trị khác biệt Miền bắc được giải phóng, bước vào thời kỳ quá độ xâydựng chủ nghĩa xã hội Miền nam tiếp tục cuộc Cách mạng dân tộc, dân chủ,đấu tranh thống nhất nước nhà Chính sự khác biệt đó làm cho hệ thống phápluật điều chỉnh hai miền cũng khác nhau
Ở miền Bắc, chế độ HN&G§ phong kiến lạc hậu vẫn còn ảnh hưởng sâusắc trong đời sống nhân dân nên cần phải xóa bỏ triệt để những tàn tích đó, xâydựng chế độ HN&GĐ xã hội chủ nghĩa Cùng với việc ban hành Hiến pháp năm
1959 vào 31/12/1959 Quốc hội khóa I đã chính thức thông qua dự luật HN&GĐngày 29/12/1959 Một trong những nguyên tắc cơ bản được đề ra đó là nguyêntắc nam nữ bình đẳng, bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ trong gia đình
Vấn đề chia tài sản giữa vợ chồng trong Luật HN&GĐ năm 1959 đã có sựquy định cụ thể hơn so với các văn bản pháp luật về HN&GĐ trước đó Ví dụ
“Khi ly hôn, việc chia tài sản sẽ căn cứ vào sự đóng góp công sức vào của mỗi bên, vào tình hình tài sản và tình trạng cụ thể của gia đình Lao động trong gia đình được kể như lao động sản xuất Khi chia phải bảo vệ quyền lợi của người
vợ, của con cái và lợi ích của việc sản xuất” (Điều 29 Luật HN&GĐ năm
1959) Nhưng luật không quy định chi tiết về cách chia tài sản giữa vợ chồngnhư thế nào và sự bình đẳng ở đây còn mờ nhạt, không rõ ràng Tuy nhiên đóvẫn là công cụ pháp lý của Nhà nước ta phục vụ lợi ích của nhân dân lao động,
là cơ sở mới để từng bước xây dựng quyền bình đẳng giữa vợ chồng trong hệthèng pháp luật HN&GĐ nước ta Việc căn cứ vào công sức đóng góp mà luậtHN&GĐ năm 1959 đề cập đến cũng chưa thể hiện sự bình đẳng của vợ chồngtrong việc chia tài sản khi ly hôn §ång thêi còng không hề đề cập đến nguyên
Trang 18tắc chia đôi tài sản của vợ chồng khi ly hôn Cã thể do Luật HN&GĐ năm 1959quy định tài sản chung của vợ chồng là tài sản có trước và sau khi cưới nên khi
ly hôn phải chia theo công sức đóng góp để đảm bảo quyền và lợi ích của mỗibên vợ chồng, phần nào tránh được việc kết hôn vì mục đích kinh tế Tuy nhiên,điều này cũng cho thấy việc quy định về vấn đề tài sản của vợ chồng theo LuậtHN&GĐ năm 1959 là chưa hoàn toàn phù hợp, chưa thể hiện được triệt đểnguyên tắc vợ chồng bình đẳng, đặc biệt là bình đẳng trong việc chia tài sản của
vợ chồng
Ở miền Nam, sau năm 1954 Đế Quốc Mỹ đã thay chân thực dân Phápthực hiện âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta, tiến hành cuộc chiến tranh xâmlược kiểu mới Các văn bản pháp luật HN&G§ do Nhà nước tay sai phản độngcủa ngụy quyền Sài Gòn ban hành như:
- Luật Gia đình ngày 2/1/1959 (Luật số 1-59) dưới chế độ Ngô ĐìnhDiệm
- Sắc luật 15/64 ngày 23/7/1964 về Giá thú, tử hệ và tài sản cộng đồng
- Bộ dân luật 20/12/1972 dưới chế độ Nguyễn Văn Thiệu
Cả ba văn bản pháp luật này tuy đã hủy bỏ chế độ đa thê song vẫn duy trìquyền gia trưởng của người chồng Những quy định về chế độ tài sản cũng chỉnghiêng về bảo vệ quyền lợi cho người chồng Người vợ có toàn quyền quản lýtài sản khi người chồng không thể bày tỏ ý chí được vì thất tung hoặc đi xavắng Tuy về mặt quản lý tài sản thì người vợ không được bình đẳng như ngườichồng nhưng khi ly hôn hoặc ly thân thì người vợ sẽ được nhận lại phần tài sảnriêng của họ (Điều 204, Dân Luật Sài Gòn) Và ngay cả trong khi hôn nhân đangtồn tại thì cả vợ và chồng đều có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết chế độ biệtsản, nhưng đều phải có lý do theo luật định và phải được Tòa án công nhận bằngmột án biệt sản (Điều 165 - Dân Luật Sài Gòn)
Như vậy, vấn đề chia tài sản giữa vợ chồng đã được đề cập đến trongnhững văn bản pháp luật này nhưng cũng còn rất khái quát, mờ nhạt, chưa thểhiện được quyền bình đẳng giữa vợ chồng thậm chí vẫn là sự bất bình đẳng vốn
đã tồn tại lâu đời ở nước ta
Trang 193.3.3 Giai đoạn 1975 – 2000
Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thắng lợi (30/4/1975), cả nướcthống nhất đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội Với tình hình mới đó thì việc ápdụng Luật HN&GĐ năm 1959 có một số điều không phù hợp nữa Vì vậy ngày29/12/1986 Dự Luật HN&GĐ mới đã được Quốc hội Khóa VII kỳ họp thứ 12thông qua Luật HN&GĐ năm 1986 được xây dựng và thực hiện trên cácnguyên tắc tiến bộ Và một trong những sự tiến bộ đó là nguyên tắc vợ chồngbình đẳng mà nhất là bình đẳng trong việc chia tài sản giữa vợ chồng
Theo luật này, việc chia tài sản giữa vợ chồng được quy định tại các §iều
17, 18, 42 mà nội dung là sự ghi nhận việc thanh toán tài sản chung của vợchồng trong các trường hợp luật định, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối vớitài sản đó Việc chia tài sản chung của vợ chồng khi hôn nhân đang tồn tại làquy định mới của Luật HN&G§ n¨m 1986 so với Luật HN&GĐ năm 1959 Điều
18 Luật HN&GĐ năm 1986 đã quy định: “Khi hôn nhân tồn tại, nếu một bên có yêu cầu và có lý do chính đáng thì có thể chia tài sản chung của vợ chồng …”
Như vậy phải có yêu cầu của một bên vợ, chồng và có lý do chính đángthì Tòa án mới giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng khi hôn nhânđang tồn tại Khi nhận được đơn của vợ, chồng, Tòa án phải xem xét xem lý do
chia tài sản chung của vợ chồng đã là “lý do chính đáng” chưa Nếu là lý do
chính đáng thì Tòa án phải xác minh xem thực tế có đúng như vậy không hoặc
đó chỉ là hình thức để vợ chồng trốn tránh nghĩa vụ về tài sản …
Nghị quyết 01/NQ- HĐTP 20/1/1988 hướng dẫn:
“Lý do chính đáng: vợ chồng tính tình không hợp nhưng con cái đã lớn nên không muốn ly hôn mà chỉ muốn ở riêng, do đó một bên hoặc cả hai bên xin chia tài sản thì tài sản được chia như khi xử về ly hôn”.
Việc quy định về chia tài sản chung khi hôn nhân đang tồn tại là rất “cô đọng” Hướng dẫn của Nghị quyết 01 chưa đầy đủ, mới chỉ đưa ra một lý do
chính đáng Điều ấy không tránh khỏi sự vân dụng tùy tiện của các cơ quan Tòa
án gây sai sót và không đảm bảo quyền lợi cho các bên
Trang 20Tuy nhiên so với Luật HN&G§ n¨m 1959 thì Luật HN&G§ n¨m 1986 đãquy định chi tiết và rõ ràng hơn về quyền bình đẳng giữa vợ chồng trong việc
chia tài sản Thể hiện ở quy định sự “chia đôi” tài sản của vợ chồng khi ly hôn
và việc chia tài sản, sử dụng, quản lý tài sản khi một bên vợ chồng chết Điều đó
đã khẳng định đường lối của Đảng và Nhà nước trong việc giải phóng người phụ
nữ, là cơ sở pháp lý để Luật HN&G§ n¨m 2000 tiếp tục kế thừa, phát triển vàđảm bảo quyền bình đẳng giữa vợ chồng trong việc chia tài sản được thực hiệntrong thực tế đời sống hiện nay
3.3.4 Giai đoạn từ năm 2000 đến nay
Sau hơn 10 năm thực hiện Luật HN&GĐ năm 1986, bước đầu quyền bìnhđẳng giữa vợ chồng đã được khẳng định và thực thi Tuy nhiên thực tiễn ápdụng Luật HN&GĐ năm 1986 cho thấy những quy định còn mang tính kháiquát, định khung, chưa cụ thể Việc áp dụng luật để giải quyết các tranh chấp từcác quan hệ HN&GĐ đặc biệt là vấn đề chia tài sản vợ chồng gặp nhiều vướngmắc Tình hình đó đòi hỏi Nhà nước ta phải sửa đổi, bổ sung Luật HN&GĐ năm
1986 một cách toàn diện Theo đó, Quốc hội khóa X kỳ họp thứ 7 chính thứcthông qua dự luật HN&GĐ năm 2000 vào ngày 9/6/2000
Luật HN&G§ năm 2000 tiếp tục kế thừa và phát triển hệ thống pháp luật
HN&GĐ, nguyên tắc “vợ chồng bình đẳng” tiếp tục được khẳng định là nguyên
tắc cơ bản của Luật Theo Luật này, việc chia tài sản của vợ chồng được quyđịnh ở các Điều 29, 30, 31, 32, 95 Ngoài sù ghi nhận việc chia tài sản của vợchồng khi ly hôn thì Luật còn quy định cả việc chia tài sản vợ chồng khi hônnhân đang tồn tại cũng như khi một bên vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố
là đã chết Hơn thế cách chia mà Luật HN&GĐ năm 1986 áp dụng còn quáchung chung, chưa cụ thể nguyên tắc chia đôi tài sản cũng như phương thức chiatài sản khi một bên vợ, chồng chết và khi vợ chồng ly hôn Bởi vậy, quyền bìnhđẳng giữa vợ chồng trong việc chia tài sản theo Luật HN&GĐ năm 2000 quyđịnh là phù hợp với thực tế, đáp ứng được nhu cầu, tâm lý của mỗi cá nhân trong
xã hội Đã góp phần xóa bỏ những phong tục tập quán lạc hậu của xã hội phongkiến Việt Nam, xóa bỏ quyền gia trưởng, bảo vệ quyền bình đẳng cho phụ nữ
Trang 21cũng như bảo vệ quyền bình đẳng cho cả hai vợ chồng khi chia tài sản trong thờiđại kinh tế hội nhập như ngày nay.
Tóm lại, theo từng giai đoạn lịch sử, để phù hợp với sự nghiệp Cách mạngcủa đất nước, phù hợp với tình hình phát triển của nền kinh tế và thực tiễn cácquan hệ HN&GĐ, Nhà nước ta đã kịp thời ban hành các văn bản pháp luật vềHN&GĐ, đặc biệt là các quy định bảo vệ quyền bình đẳng giữa vợ chồng trongviệc chia tài sản Đó là công cụ pháp lý của Nhà nước ta nhằm bảo vệ quyền vàlợi ích hợp pháp của nhân dân lao động trong xã hội nói chung và bảo vệ quyềnbình đẳng trong việc chia tài sản giữa vợ chồng nói riêng Góp phần xây dựngđất nước vững mạnh, phát triển phồn vinh và những gia đình ấm no, bình đẳng
và hạnh phúc
CHƯƠNG II QUYỀN BÌNH ĐẲNG GIỮA VỢ CHỒNG TRONG VIỆC CHIA TÀI SẢN
THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH
Trang 221 Nguyên tắc chung về quyền bình đẳng giữa vợ chồng trong việc chia tài sản
1.1 Nguyên tắc hiến định
1.1.1 Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật
Điều 52 Hiến pháp năm 1992 đã quy định: “Mọi công dân đều bình đẳng
trình thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình Bất cứ công dân nào, không phânbiệt người đó là ai, thành phần xã hội như thế nào, tình trạng tài sản ra sao, nắmgiữ chức vụ gì trong bộ máy nhà nước, theo tín ngưỡng tôn giáo nào đều cóquyền và nghĩa vụ như nhau Luật pháp Nhà nước không thừa nhận bất kỳ một
pháp luật còn bao hàm cả nội dung bình đẳng nam nữ, bình đẳng vợ chồng Đó
là một trong những tiêu chuẩn cơ bản để đánh giá mức độ tiến bộ của một xã hội
là mức độ giải phóng phụ nữ, giải phóng vị trí lệ thuộc của người vợ trong giađình
1.1.2 Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật Xuất phát từ Điều 57 Hiến Pháp năm 1992 công nhận: “Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật” Cụ thể hóa quyền này, Bé
Luật Dân sự, Luật Doanh Nghiệp và một số văn bản pháp luật khác đã quy địnhcho các chủ thể khi tham gia vào hoạt động kinh doanh có các quyền như:
“thành lập doanh nghiệp, lựa chọn ngành nghề, hình thức đầu tư, kinh doanh những ngành nghề mà pháp luật không cấm” Nền kinh tế thị trường mở ra
nhiều cơ hội làm giàu cho nhiều người, nhưng với sự vận động và những quyluật riêng thì kinh tế thị trường đòi hỏi những người tham gia phải nắm bắt các
cơ hội, nhạy bén với thị trường và phải chủ động về vốn, có như vậy mới tồn tạiđược Do vậy, việc quy định của pháp luật HN&G§ về quyền bình đẳng trongviệc chia tài sản của vợ chồng để vợ chồng chủ động hơn trong việc tham gia
9 Hiến Pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (sửa đổi), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
2004, Tr.32.
Trang 23hoạt động đầu tư, kinh doanh là hoàn toàn phự hợp với những quy định của Hiến
phỏp, làm cho cỏc quyền của cụng dõn được thực thi trong cuộc sống
1.1.3 Nguyờn tắc nam nữ bỡnh đẳng trong mọi lĩnh vực của xó hội
Điều 63 Hiến phỏp năm 1992 quy định: “Cụng dõn nữ và nam cú quyền ngang nhau về mọi mặt chớnh trị, kinh tế, văn húa, xó hội và gia đỡnh” Đõy là
sự ghi nhận quyền bỡnh đẳng về giới, với tư cỏch là cụng dõn của nước ViệtNam xó hội chủ nghĩa, phụ nữ và nam giới đều bỡnh đẳng trước phỏp luật
Ghi nhận và bảo đảm thực hiện quyền bỡnh đẳng giữa vợ chồng là vấn đềluụn được Đảng và Nhà nước quan tõm Điều 64 Hiến Phỏp năm 1992 đó thể
hiện rừ điều đú: “Gia đỡnh là tế bào của xó hội, nhà nước bảo hộ hụn nhõn và gia đỡnh theo nguyờn tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bỡnh đẳng…” HN&GĐ luụn là một vấn đề được sự quan tõm đặc biệt của một quốc
gia nếu quốc gia đú muốn ổn định và phỏt triển Và vấn đề phải làm sao đảmbảo được quyền bỡnh đẳng cho cỏc cặp vợ chồng trong mọi lĩnh vực mà đặc biệt
là trong việc chia tài sản vợ chồng là một nhiệm vụ cần phải thực hiện như Hiếnphỏp đó quy định
1.2 Nguyờn tắc chung của Luật Dõn Sự
1.2.1 Nguyờn tắc bỡnh đẳng
Tại Điều 5 Bộ Luật Dõn Sự năm 2005 đó ghi nhận trong quan hệ dõn sựcỏc chủ thể đều bỡnh đẳng, khụng được lấy bất cứ lý do nào về sự khỏc biệt đểđối xử khụng bỡnh đẳng Cỏc chủ thể bỡnh đẳng về năng lực phỏp luật, về hỡnhthức sở hữu khi giao kết hợp đồng dõn sự, đều được hưởng cỏc quyền và phảigỏnh vỏc những nghĩa vụ như nhau Điều 8 Bộ luật này cũng quy định, trongquan hệ vợ chồng, vợ, chồng là những chủ thể độc lập khi tham gia bất kỳ mộtgiao dịch hợp phỏp mà bờn kia khụng cú quyền ngăn cản, cỏc bờn luụn phải tụntrọng quyền bỡnh đẳng đú Cú như vậy, thỡ gia đỡnh mới hạnh phỳc và xó hộimới phỏt triển được Mặt khỏc, cỏc chủ thể phải luụn tụn trọng lợi ớch của nhànước, lợi ớch cụng cộng, quyền và lợi ớch hợp phỏp của người khỏc (Điều 10 BộLuật Dõn Sự năm 2005) Cú nghĩa rằng, quyền bỡnh đẳng luụn nằm trong khuụnkhổ phỏp luật Quyền bỡnh đẳng của vợ chồng trong việc chia tài sản luụn được
Trang 24tôn trọng phát huy, luôn hướng tới sự đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của cácchủ thể, và trong một chừng mực có thể, bảo vệ lợi ích chung của gia đình và xãhội.
1.2.2 Nguyên tắc quyền bình đẳng của vợ chồng
Điều 40 Bộ Luật Dân Sự năm 2005 quy định: “Vợ chồng bình đẳng với nhau, có quyền, nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình và trong quan
hệ dân sự, cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc,
trong gia đình, cũng như phải có sự bình đẳng trong việc chia tài sản của vợchồng Có như vậy thì mới xây dựng được một gia đình no ấm, tiến bộ, hạnhphúc và bền vững Đồng thời hạn chế được các mâu thuẫn phát sinh trong đờisống vợ chồng và đảm bảo quyền lợi chính đáng cho các bên
1.3 Nguyên tắc vợ chồng bình đẳng theo Luật HN&GĐ năm 2000
Nguyên tắc vợ chồng bình đẳng đã được quy định tại Điều 19 Luật
HN&GĐ năm 2000: “Vợ chồng bình đẳng với nhau, có nghĩa vụ và quyền ngang nhau về mọi mặt trong gia đình” Có nghĩa vợ chồng không chỉ được
bình đẳng trong quan hệ nhân thân mà còn được bình đẳng trong quan hệ tàisản: chiếm hữu, sử dụng, định đoạt cũng như phân chia tài sản Đây là nguyêntắc cơ bản của Luật HN&GĐ, đã được Luật HN&GĐ năm 2000 kế thừa và tiếptục phát triển ngày một hoàn thiện hơn trên cơ sở của Hiến Pháp năm 1992 cũngnhư của Bộ Luật Dân Sự và các Luật HN&GĐ trước đó Nghiên cứu về quyềnbình đẳng giữa vợ chồng trong việc chia tài sản chính là sự cụ thể hóa nguyêntắc chung về quyền bình đẳng giữa vợ chồng
2 Quyền bình đẳng giữa vợ chồng trong các trường hợp chia tài sản
Trang 252.1 Quyền bình đẳng giữa vợ chồng khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
2.1.1 Căn cứ chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
Dưới góc độ bình đẳng thì việc chia tài sản của vợ chồng trong thời kỳhôn nhân là hoàn toàn cần thiết khi nền kinh tế của đất nước đang phát triểnmạnh mẽ như hiện nay Vai trò của người đàn ông trong gia đình cũng khôngcòn chiếm được vị trí gia trưởng như trước nữa, giữa phụ nữ và đàn ông cóquyền ngang nhau và được nhà nước thừa nhận, bảo vệ Khi người vợ hay ngườichồng muốn đầu tư kinh doanh riêng mà không muốn ảnh hưởng đến ngườikhác cũng như để tránh những rủi ro tiềm ẩn như phá sản và những hậu quả củaphá sản trong kinh doanh thì việc đảm bảo quyền bình đẳng khi chia tài sảnchung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là hoàn toàn cần thiết Đồng thời cónhững trường hợp mâu thuẫn gia đình không thể hòa giải được nhưng do vợchồng đã tuổi cao mà không muốn ly hôn vì ngại dư luận nên giải pháp chia tàisản chung của vợ chồng là phù hợp nhất Hoặc trường hợp người vợ, hay ngườichồng phải thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng như trả nợ, cấp dưỡng, bồi thườngthiệt hại… mà bản thân người đó lại không đủ tài sản riêng để thực hiện nghĩa
vụ này thì việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân cũng là một giải pháp.Chính vì vậy cần thiết phải quy định về các vần đề liên quan đến quyền bìnhđẳng giữa vợ chồng khi chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân nhằm đảm bảo đượccác quyền năng về tài sản của mỗi người và giúp cho cuộc sống gia đình bềnvững, hôn nhân đạt được mục đích
Tại Khoản 1 Điều 29 Luật HN&G§ n¨m 2000 quy định:
“Khi hôn nhân tồn tại trong trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý do chính đáng khác thì vợ chồng có thể thỏa thuận chia tài sản chung, việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản, nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu tòa án giải quyết”.
Như vậy, theo quy định trên thì vợ chồng có quyền chia tài sản chung khihôn nhân đang tồn tại khi có các căn cứ sau:
Trang 26+ Vợ, chồng đầu tư kinh doanh riêng:
Xuất phát từ việc tôn trọng quyền tự do kinh doanh của các cá nhân, nếumột trong hai vợ chồng muốn đầu tư kinh doanh riêng thì có thể chia tài sảnchung của vợ chồng, tạo điều kiện cho vợ, chồng có tài sản riêng làm vốn đầu tưkinh doanh Mặt khác, quy định này còn nhằm bảo vệ lợi ích của gia đình, bảođảm cuộc sống ổn định của các thành viên trong gia đình tránh khỏi những ảnhhưởng tiêu cực của hoạt động đầu tư kinh doanh gây ra Vợ chồng có quyền yêucầu chia tài sản chung trong trường hợp này mà không bên nào được cản trở bênnào, khẳng định sự bình đẳng cũng như phải đảm bảo được sự ngang bằng nhaukhi chia tài sản chung giữa vợ chồng
+ Vợ, chồng phải thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng:
Nếu vợ, chồng phải thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng mà họ không có tàisản hoặc tài sản riêng không đủ để thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng thì vợ chồng
có thể chia tài sản chung để giúp người có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ củamình Việc chia tài sản chung trong trường hợp này là hoàn toàn phù hợp đểđảm bảo quyền lợi của vợ chồng và người thứ ba có liên quan đến nghĩa vụ tàisản riêng mà một trong hai vợ, chồng phải thực hiện nghĩa vụ đó
+ Có lý do chính đáng khác:
Hiện nay chưa có một văn bản pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩmquyền hướng dẫn thế nào là lý do chính đáng Nếu như Nghị Quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 20/1/1988 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướngdẫn áp dụng một số quy định của Luật HN&G§ năm 1986 quy định tại Mục 3
Khoản b: “trong khi hôn nhân còn tồn tại, điều 18 cho phép chia tài sản của vợ chồng nếu có lý do chính đáng (như: vợ chồng tính tình không hợp nhưng con cái đã lớn nên không muốn ly hôn mà chỉ muốn ở riêng)” Lý do có thể được
xem là chính đáng phải không trái pháp luật, phong tục tập quán, hơn nữa cònphải xuất phát từ lợi ích gia đình, lợi ích của vợ chồng hoặc của người thứ ba.Tuy nhiên, vì chưa có một văn bản cụ thể hướng dẫn thế nào là lý do chính đángnên sẽ không tránh khỏi sai sót khi áp dụng căn cứ này Mặt khác, luật hiện hànhkhông có quy định về vấn đề cơ quan nào có thẩm quyền xem xét, thẩm định thế
Trang 27nào là một lý do chính đáng để vợ chồng được chia tài sản trong thời kỳ hônnhân Từ đó, dễ dẫn đến trên thực tế vợ chồng tự do thoả thuận, đưa ra một lý dobất kỳ để chia tài sản, do đó, tính chất cộng đồng hôn nhân bị đe doạ, chế độ tàisản chung của vợ chồng cũng bị biến dạng… Có thể thấy rằng, việc quy địnhchia tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là thể hiện quyền bình đẳngcủa vợ chồng nhưng nhất thiết phải có những cơ chế điều chỉnh hợp lý để đảmbảo quyền bỡnh đẳng và các quyền lợi hợp phỏp khỏc của cỏc bờn cũng nhưquyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên khác trong gia đình, các chủ thểkhác có liên quan…
Tuy nhiên trong những trường hợp vợ chồng thỏa thuận chia tài sản chung
để nhằm trốn tránh nghĩa vụ về tài sản thì không được pháp luật công nhận Ví
dụ nhiều trường hợp các quan chức đã tham ô tài sản của nhà nước sau đó vì sợ
bị kê khai tài sản trước pháp luật nên đã thỏa thuận chia tài sản chung với vợnhằm giảm bớt khối tài sản thuộc về mình Vì vậy việc chia tài sản chung nàykhông được pháp luật công nhận
2.1.2 Phương thức chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 29 Luật HN&GĐ năm 2000 thì vợ chồng
có thể thỏa thuận về việc chia tài sản chung và thỏa thuận đó phải lập thành vănbản Như vậy quyền bình đẳng thể hiện ở sự thỏa thuận của vợ chồng trong việcđịnh đoạt tài sản chung và việc vợ chồng có thể thỏa thuận chia một phần haytoàn bộ tài sản chung tùy theo nhu cầu và mục đích của mỗi bên Tuy nhiên LuậtHN&GĐ năm 2000 không đưa ra phương thức chia tài sản chung trong thời kỳhôn nhân một cách cụ thể nên vợ chồng không thỏa thuận được theo pháp luật
Vì vậy cần phải có những quy định cụ thể hơn về cách chia và nên chia tài sảnchung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân như chia tài sản của vợ chồng khi lyhôn Đó là chia đôi tài sản để đảm bảo được sự bình đẳng và các quyền lợi hợppháp khác cho các bên
Trường hợp vợ chồng không thể thỏa thuận được thì có thể yêu cầu tòa ángiải quyết Quyền yêu cầu này là quyền độc lập và bình đẳng như nhau giữa vợ
Trang 28và chồng, do vợ, chồng tự quyết định Tuy nhiên điều luật cũng không quy định
rõ tòa án sẽ áp dụng nguyên tắc nào khi giải quyết Vì vậy, cần phải có văn bảnhướng dẫn cụ thể về vấn đề này, tạo cơ sở pháp lý cho các tòa khi giải quyếtviệc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân Trước mắt để đáp ứng nhu cầuthực tế, tòa án sẽ giải quyết nh theo tinh thần của Điều 18 Luật HN&GĐ năm
1986 là chia theo nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn
Bên cạnh việc tôn trọng quyền tự định đoạt tài sản chung của vợ chồng,Luật HN&GĐ năm 2000 đã dự liệu đến trường hợp vợ chồng lạm quyền củamình trong việc chia tài sản chung có thể gây hậu quả xấu, xâm phạm đến lợiích hợp pháp khác được pháp luật bảo vệ Vì vậy khoản 2 Điều 29 Luật
HN&GĐ năm 2000 quy định: “Việc chia tài sản chung của vợ chồng nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ về tài sản không được pháp luật công nhận”.
2.1.3 Hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
+ Quan hệ nhân thân:
Việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân không làm chấm dứt quan
hệ vợ chồng trước pháp luật, do đó giữa hai bên vẫn tồn tại mọi quyền và nghĩa
vụ của vợ chồng như nghĩa vụ chăm sóc, nghĩa vụ yêu thương giúp đỡ nhau,nghĩa vụ chung thủy và có quyền chung sống với nhau tại một nơi… Vì vậy,việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân không có nghĩa là gián tiếp quyđịnh về ly thân Sau khi chia tài sản chung, vợ chồng có ở riêng hay không là tùythuộc vào đời sống cụ thể của vợ chồng, do vợ, chồng tự quyết định Đây cũng
là một yếu tố thể hiện quyền bình đẳng giữa vợ chồng khi vợ chồng tự quyếtđịnh việc tiếp tục sống chung hay sống riêng của mình Tuy nhiên đa số cáctrường hợp sau khi chia tài sản chung, vợ chồng vẫn chung sống bình thườngvới nhau, cùng nhau chăm lo đời sống chung của gia đình phù hợp với tình cảm
và nguyện vọng của bản thân
+ Quan hệ tài sản:
Theo quy định tại Điều 30 Luật HN&G§ n¨m 2000: “Trong trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng thì hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã được
Trang 29chia thuộc sở hữu riêng của mỗi người, phần tài sản còn lại không chia vẫn thuộc sở hữu chung của vợ chồng”.
Tiếp sau đó Điều 8 Nghị định 70/2001/NĐ-CP ngày 03/10/2001 củaChính phủ quy định chi tiết thi hành Luật HN&G§ n¨m 2000 như sau:
“Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã được chia thì thuộc sở hữu riêng của mỗi người, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ phần tài sản chung còn lại vẫn thuộc sở hữu chung của vợ chồng Thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của
vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác”
Như vậy, việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân sẽdẫn đến tình trạng vợ chồng bị phân chia và tách biệt về tài sản Phần tài sảnchung đã chia sẽ thuộc về mỗi người, nếu họ chia toàn bộ khối tài sản chung và
sẽ không còn tài sản chung Nếu họ chia một phần tài sản chung thì phần còn lạivẫn là tài sản chung của vợ chồng Cả hai người vẫn có quyền đối với phần tàisản chung không chia, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản chung đã chia này vẫnthuộc quyền sở hữu của hai vợ chồng Đối với phần tài sản chung đã chia thì hoalợi, lợi tức phát sinh thuộc quyền sở hữu của mỗi người trừ trường hợp có thỏathuận khác (Khoản 1 Điều 8 Nghị định 70/2001/NĐ-CP ngày 03/10/2001)
Ngoại trừ những tài sản chung được chia đã được luật quy đÞnh thuộc về
ai thì luật còn quy định vÒ tài sản riêng của vợ chồng Căn cứ vào Khoản 2 Điều
8 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 03/10/2001 quy định chi tiết thi hành LuậtHN&GĐ năm 2000, sau khi đã chia một phần hoặc chia toàn bộ tài sản chung,thì những thu nhập do lao động, do hoạt động sản xuất kinh doanh và những thunhập hợp pháp khác của mỗi bên là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp
vợ chồng có thỏa thuận khác Đây là quy định mới so với Luật HN&G§ n¨m
1986, song việc quy định này có mâu thuẫn với những quy định của LuậtHN&GĐ năm 2000 hay không? và có đảm bảo quyền bình đẳng của vợ chồng
hay không? Theo Điều 27 Luật HN&GĐ năm 2000 thì: “Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản
Trang 30xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân” Khi có sự kiện chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn
nhân thì những thu nhập về tài sản lại trở thành tài sản riêng trừ trường hợp vợchồng có thỏa thuận khác Như vậy chế độ tài sản chung của vợ chồng có thểdần dần dẫn đến chế độ tự thỏa thuận Có thể coi hậu quả pháp lý trên của việcchia tài sản trong thời kỳ hôn nhân là một trường hợp ngoại lệ khi xác định tàisản chung của vợ chồng Việc quy định hậu quả pháp lý như vậy, ở một góc độnào đó, cũng đảm bảo quyền bình đẳng giữa vợ chồng, bởi trong một quan hệ,đặc biệt là quan hệ pháp luật HN&GĐ thì quyền thường gằn liền với nghĩa vụ vàtrách nhiệm Khi chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân, đặc biệt là chia tài sản đểđầu tư kinh doanh riêng thì việc xác định hậu quả như vậy là tương đối phù hợp.Các bên tự do thực hiện quyền đối với tài sản và phải tự chịu trách nhiệm khi córủi ro, thiệt hại xảy ra…
Pháp luật nên chỉ cho phép chia tài sản chung của vợ chồng khi hôn nhântồn tại trong những trường hợp thật sự cần thiết vì lợi ích của gia đình, hoặc lợiích của người thứ ba, và cần phải xác định một cách kỹ lưỡng lý do chia tài sản.Nếu áp dụng việc chia tài sản chung giữa vợ chồng khi hôn nhân tồn tại mộtcách rộng rãi dễ phá vỡ thể chế gia đình, ảnh hưởng không tốt tới tính cộngđồng trong quan hệ hôn nhân Cho dù, việc chia tài sản chung của vợ chồngtrong thời kỳ hôn nhân là đòi hỏi khách quan, nhằm đáp ứng những yêu cầu của
vợ chồng trong việc quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản chung một cách có hiệuquả
2.1.4 Thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung
Theo Điều 7 Nghị Định 70/2001/NĐ-CP ngày 3/10/2001 của Chính Phủquy định :
- Nếu văn bản thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng không xác định
rõ thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản, thì hiệu lực được tính từ ngày,tháng, năm lập văn bản
- Nếu văn bản thoả thuận đó được công chứng hoặc chứng thực theo yêucầu của vợ chồng, thì hiệu lực được tính từ ngày xác định trong văn bản thỏa