Nghiệp vụ huy động vốn của các ngân hàng thương mại bao gồm: cơ sở lý luận chung về huy động vốn trong ngân hàng thương mại; thực trạng huy động vốn tại ngân hang nông nghiệp và phát triển nông thôn; một số giải pháp nhằm nâng cao huy động vốn tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam
Trang 2Bài Luận
Đề Tài:
Nghiệp vụ huy động vốn của các
ngân hàng thương mại
MỤC LỤC
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Bất kỳ một nước nào muốn tăng trưởng và phát triển đều cần một điều kiệnkhông thể thiếu được đó là phải tạo vốn cho nền kinh tế Việt Nam cũng nằmtrong qui luật đó, hay nói cách khác Việt Nam muốn thực hiện được các mục tiêucông nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước là phải có vốn Nguồn vốn đó có thể làvốn trong nước hay vốn nước ngoài Tiết kiệm để tạo vốn là vấn đề bức bách cótính chiến lược cho sự phát triển kinh tế xã hội của nước ta
Thể hiện mục tiêu tổng quát của chiến lược phát triển kinh tế xã hội của nước
ta bước sang thế kỉ 21 là ổn định và phát triển kinh tế xã hội, cải thiện đời sốngnhân dân thoát khỏi tình trạng nước nghèo nàn và kém phát triển, củng cố quốc
Trang 4nguồn vốn, xét về mặt chiến lược thì nguồn vốn trong nước là chủ yếu, vững chắc,quyết định và nguồn vốn từ bên ngoài là quan trọng.
Nếu xét ở góc độ của Ngân hàng thương mại thì nguồn vốn là cơ sở để tổchức hoạt động kinh doanh quyết định đến quy mô của hoạt động Ngân hàng nóichung và quy mô các hoạt động tín dụng nói riêng, nguồn vốn dồi dào là cơ sở tạo
uy tín đảm bảo khả năng cạnh tranh của Ngân hàng thương mại Về phía Ngânhàng muốn giải quyết tốt vấn đề huy động vốn trong dân cư cần phải tìm ra nhữnggiải pháp tốt nhất, công cụ lãi suất và các hình thức huy động vốn Vì vậy nguồnvốn là sự cần thiết không thể thiếu được của Ngân hàng thương mại
Xuất phát từ thực tiễn của Ngân hàng Việt Nam, trước yêu cầu của đời sốngkinh tế xã hội đất nước, trước sự cạnh tranh gay gắt trong nước và trên thị trườngquốc tế nên yêu cầu cấp thiết Ngân hàng thương mại phải xây dựng chiến lược
“Huy động vốn” cho những năm mới của thế kỷ XXI
Qua quá trình nghiên cứu, trên cơ sở lý luận qua các tài liệu; tạp chí Ngânhàng, tài liệu môn lý thuyết tiền tệ Ngân hàng và kiến thức học tập từ cô giáo bộ
môn, em mạnh dạn làm đề tài “Nghiêp vụ huy động vốn của các Ngân hàng
thương mại”
Trong quá trình viết, do trình độ nhận thức và hiểu biết có hạn nên bài viếtnày còn có nhiều những thiếu sót, vì vậy em rất mong nhận được sự giúp đỡ của
cô giáo để bài viết này được hoàn thiện hơn
Nội dung bài gồm:
Chương 1: cơ sở lý luận
Chương 2: thực trạng huy động vốn ở Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triểnnông thôn
Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị đối với việc huy động vốn của Ngânhàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Trang 5CHƯƠNG I:
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG
1 SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI, VAI TRÒ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI:
1.1 Sự ra đời và phát triển của Ngân hàng thương mại:
Nghề kinh doanh tiền tệ tiền thân của Ngân Hàng ra đời gắn liền với thươngmại, khi có sự giao lưu hàng hoá giữa các vùng, các quốc gia với các loại tiền tệkhác nhau gây trở ngại cho việc mua bán thanh toán và đặc biệt phức tạp trongviệc chuyển đổi bảo quản tiền tệ.Vì thế thúc đẩy sự ra đời của những tổ chứcchuyên kinh doanh tiền tệ, để đảm nhận những tổ chức kinh doanh la thực hiệnviệc chuyển đổi tiền tệ giữa các vùng các nước để phục vụ công việc giao lưuhàng hoá Đổi các loại tiền tệ khác nhau ra vàng bạc và ngược lại, theo yêu cầucủa sự phát triển các quan hệ tiền tệ hàng hoá Nghiệp vụ đổi tiền tệ đã kéo theocác nghiệp vụ khác mà trước hết là nhận tiền gửi, nhận bảo quản vàng bạc đã tạo
ra những chuyển biến về chất trong hoạt động của các tổ chức kinh doanh tiềntệ.Việc nhận tiền gửi và bảo quản vàng bặc ngày càng phát triển,tạo điều kiện chocác tổ chức kinh doanh tiền tệ phát hàng những chứng phiếu (giấy nhận nợ) làphương tiện thanh toán thay cho tiền Lúc đầu các giấy nhận nợ chỉ là những biênlai xác định quyền sở hữu số tiền vàng đó, tiến tới phát hành các loại chứng phiếuđảm bảo cho khách hàng có thể sử dụng nó trong việc mua bán, thanh toán thaycho việc rút tiền vàng Nghiệp vụ nhận tiền gửi phát triển cùng với việc sử dụngrộng rãi các chứng phiếu thanh toán thay cho tiền mặt đã tạo nên nguồn dự trữ đãđược sử dụng để cho vay sinh lời Đây là một sự kiện quan trọng trong việcchuyển các tổ chức hoạt động dịch vụ tiền tệ một cách thuần tuý thành các tổ chứcNgân hàng chuyên kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ tín dụng
Ngân hàng được hình thành phát triển qua một quá trình lâu dài với nhiều hìnhthái kinh tế xã hội khác nhau Trong thời kỳ đầu, vào khoảng thế kỷ 15 đến thế kỷ
Trang 6như nhau, đó là làm trung gian tín dụng, trung gian thanh toán trong nền kinh tế
và phát hành giấy bạc Ngân hàng Sang thế kỷ 18, lưu thông hàng hoá ngày càng
mở rộng và phát triển, việc các Ngân hàng cùng thực hiện chức năng phát hànhgiấy bạc Ngân hàng làm cho lưu thông có nhiều loại giấy bạc Ngân hàng khácnhau đã gây cản trở cho quá trình lưu thông hàng hoá và phát triển kinh tế Chínhđiều đó đã dẫn đến sự phân hoá trong hệ thống Ngân hàng và Ngân hàng thươngmại cũng ra đời từ đó
Thời kỳ đầu, các Ngân hàng thương mại thực hiện tất cả các hoạt động của nónhư nhận tiền gửi và làm dịch vụ thanh toán Ban đầu chủ yếu là nhận tiền gửikhông kỳ hạn, có kỳ hạn và cho vay ngắn hạn, về sau, các Ngân hàng thương mạithực hiện cả cho vay trung - dài hạn bằng nguồn vốn trung hạn, dài hạn do huyđộng tiền gửi trung hạn, dài hạn và phát hành trái khoán
Cho đến cuối những năm 1960, đặc điểm đặc thù để phân biệt một Ngân hàngthương mại với một Ngân hàng trung gian khác là ở chỗ Ngân hàng thương mại làmột đơn vị duy nhất được phép mở tài khoản tiền gửi không kỳ hạn cho côngchúng Ngân hàng thương mại có thể tồn tại dưới nhiều dạng sở hữu khác nhau.Ngân hàng thương mại có thể được thành lập bằng 100% vốn của tư nhân, 100%vốn của Nhà nước hoặc là sự hùn vốn giữa tư nhân với Nhà nước hoặc với ngườinước ngoài Ngân hàng thương mại gắn liền với sự phát triển của sản xuất và lưuthông hàng hoá, qua đó khẳng định hoạt động kinh doanh của Ngân hàng bắt đầu
tư tín dụng, Ngân hàng thương mại đã phát triển mạnh mẽ cả về số lượng, chấtlượng và trở thành trung gian tài chính lớn nhất
1.2 Vai trò của Ngân hàng thương mại:
- Với tư cách là một doanh nghiệp, để hoạt động kinh doanh tốt thì phải cóvốn, để có vốn hoạt động thì Ngân hàng thương mại phải tìm cách để huy độngđược một số vốn lớn từ các chủ thể kinh tế có vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế để
bù lại Ngân hàng thương mại phải trả lại cả vốn và lãi cho chủ sở hữu khi đếnhạn Với tư cách là người đi vay, Ngân hàng thương mại phải đảm bảo trả đúnghạn vốn huy động hoặc đáp ứng phương thức thanh toán của khách hàng với mộtmón lợi tức hợp lý kèm theo Còn với tư cách người cho vay thì Ngân hàng
Trang 7thương mại sử dụng vốn đi thuê để cho thuê lại, tức là tạm thời bán quyền sửdụng vốn cho người khác và Ngân hàng thương mại cũng luôn mong muốn kháchhàng của mình sử dụng vốn này có hiệu quả và hoàn trả đầy đủ vốn và lãi đúng kỳhạn theo quy định đã cam kết Qua đó Ngân hàng thương mại là một trong nhữngtrung gian tài chính lớn nhất, một trong những trung tâm thanh toán của nền kinh
tế Vai trò của Ngân hàng thương mại còn góp phần giảm chi phí lưu thông, nângcao hiệu quả sử dụng vốn, góp phần thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng, thúc đẩylực lượng sản xuất phát triển, góp phần mở rộng quan hệ giao lưu kinh tế
- Ngân hàng thương mại còn có vai trò tập trung vốn của nền kinh tế: Trongnền kinh tế có những chủ thể có dư tiền và khoản tiền đó chưa được sử dụng mộtcách triệt để ( ví dụ như vẫn còn cất giấu trong gia đình chưa được mang ra lưuthông) nhưng họ vẫn muốn tiền này sinh lời cho mình và họ nghĩ là cho vay và cónhững chủ thể cần tiền để hoạt động kinh doamh Nhưng những chủ thể nàykhông quen biết nhau và cũng có thể không tin tưởng nhau nên tiền vẫn chưađược lưu thông Ngân hàng thương mại với vai trò trung gian của mình, nhận tiền
từ người muốn cho vay, trả lãi cho họ và đem số tiền ấy cho người muốn vay Thự hiện được điều này Ngân hàng thương mại huy động và tập trung cácnguồn vốn nhà rỗi trong nền kinh tế, mặt khác với số vốn này Ngân hàng thươngmại sẽ đáp ứng được nhu cầu vốn của nền kinh tế để sản xuất kinh doanh Qua đó
nó thúc đẩy nền kinh tế phát triển
Ngân hàng thương mại vừa là người cho vay vừa là người đi vay với số lãisuất chênh lệch có được nó sẽ duy trì hoạt dộng của mình.Vai trò trung gian nàytrở nên phong phú hơn với việc phát hành thêm cổ phiếu, trái phiếu,… Ngân hàngthương mại có thể làm trung gian giữa công ty và các nhà đầu tư; chuyển giaomệnh lệnh trên thị trường chứng khoán; đảm nhiệm việc mua bán trái phiếu côngty…
Trang 82 NỘI DUNG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI:
Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, nó hoạt động trên cơ
sở huy động vốn và đầu tư vốn Ngân hàng thương mại đi vay để cho vay, thựchiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán Việc Ngân hàng thươngmại đi vay để cho vay cũng nhằm mục đích trọng yếu nhất là tìm kiếm lợi nhuận
Đã là một doanh nghiệp hoạt động trên thị trường tài chính, quá trình hoạt độngnghiệp vụ tín dụng, thanh toán và các nghiệp vụ kinh doanh khác và dùng làmnguồn vốn để kinh doanh Bản chất của nguồn vốn huy động là tài sản của cácchủ sở hữu khác, không thuộc quyền sở hữu của Ngân hàng nhưng Ngân hàng cóquyền sử dụng trong thời gian hoạt động và có trách nhiệm hoàn trả cả gốc và lãi.Ngân hàng thương mại xây dựng chiến lược huy động vốn bằng nhiều hình thức:
2.1 Nhận tiền gửi:
Đây là nguồn vốn chủ yếu, chiếm tỉ trọng lớn trong tổng nguồn vốn huy độngnói riêng và trong nguồn vốn kinh doanh của các Ngân hàng thương mại nóichung Các Ngân hàng thương mại huy động tiền gửi của các tổ chức kinh tế, cơquan, dân cư dưới nhiều hình thức khác nhau
Tiền gửi thanh toán (tiền gửi không kỳ hạn) là loại tiền được thể hiện trên cáctài khoản tiền gửi của khách hàng để thực hiện chi trả về mua hàng hoá và thựchiện các dịch vụ khác trong hoạt động kinh doanh của mình Ngân hàng mở chokhách hàng một tài khoản tiền gửi thanh toán séc hay tài khoản vãng lai để quản
lý tài sản của khách hàng
Tiền gửi không kỳ hạn thuần tuý là khoản tạm thời nhàn rỗi ở khách hàng Họgửi vào Ngân hàng không mang tính chất của tài khoản tiền gửi thanh toán, chỉnhằm mục đích an toàn tài sản cho khách hàng hoạt động vì mục đích lợi nhuậnnên để có lợi nhuận Ngân hàng thương mại phải kinh doanh có hiệu quả Hành vi
đi vay để cho vay thực chất là đi mua quyền sử dụng vốn để bán lại quyền sửdụng vốn đó cho một chủ thể thiếu vốn khác trong nền kinh tế
Trang 9Trước hết để có vốn hoạt động thì Ngân hàng thương mại phải huy động vốnbằng cách nhận tiền gửi: Tiền gửi có thể phát hành séc, tiền gửi tiết kiệm không
kỳ hạn và có kỳ hạn Sau đó họ cho vay thế chấp và để mua các trái khoán Chínhphủ, trái khoán của chính quyền địa phương Huy động vốn và đầu tư vốn là cóquan hệ không thể tách rời, để có nguồn vốn lớn thì các Ngân hàng thương mạiphải tìm nhiều biện pháp hữu hiệu thu nạp một cách nhanh chóng Sau đó dùng sốvốn đó cho vay mà chủ yếu là cho vay ngắn hạn, đầu tư vốn có hiệu quả haykhông sẽ quyết định sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng thương mại
2.2 Nguồn vốn của Ngân hàng thương mại bao gồm :
Nguồn vốn huy động, nguồn vốn đi vay, nguồn vốn tự dó Ngoài ra còn có cácnguồn vốn được hình thành trong quá trình hoạt động Trong đó mỗi nguồn vốnđều có một tính chất và vai trò riêng trong tổng nguồn vốn hoạt động của Ngânhàng thương mại
Trang 10sử dụng để hùn vốn liên doanh, mua cổ phần, mua tài sản cố định cho Ngân hàngcũng như các mục đích khác ngoài kinh doanh
2.2.2 Nguồn vốn đi vay:
Vốn đi vay là vốn được hình thành qua việc vay vốn trên thị trường và vaycủa Ngân hàng Trung ương Trong tổng số vốn hoạt động của Ngân hàng có một
bộ phận vốn bổ sung chiếm tỷ trọng đáng kể đó là vốn đi vay Các Ngân hàngthương mại đi vay vốn để bổ sung vào nguồn vốn hoạt động của mình khi đã sửdụng hết vốn tự có, vốn huy động tiền gửi, vốn huy động khác mà vẫn không có
đủ để hoạt động và khi cần sử dụng họ rút tiền ra để chi tiêu
Tiền gửi có kỳ hạn: Là tiền gửi của các doanh nghiệp, các đơn vị kinh doanh,
nó được chia làm nhiều kỳ hạn khác nhau: ngắn hạn, dài hạn và trung hạn, nhưnghiện nay chủ yếu là kỳ hạn ngắn Tuy vậy do tính chất tương đối ổn định của nónên tiền gửi có kỳ hạn thực sự là nguồn vốn quan trọng đối với Ngân hàng thươngmại Nếu lãi suất hấp dẫn, tiền gửi có kỳ hạn sẽ có xu hướng phát triển, song nếulãi suất không hấp dẫn hoặc bị lãi suất của tín phiếu kho bạc, trong đó có trunghạn sẽ dẫn đến bị biến động đột ngột làm đảo lộn nguồn vốn của Ngân hàngthương mại và gây khó khăn không nhỏ cho công tác chi trả của Ngân hàng Tiền gửi tiết kiệm: Là khoản tiền để dành của một cá nhân hay một gia đìnhgửi vào Ngân hàng nhằm hưởng lãi suất theo định kỳ Nguồn vốn huy động nàychủ yếu là tiền gửi của những người tiêu dùng Các Ngân hàng thương mại thựchiện huy động tiền gửi tiết kiệm dưới nhiều hình thức, thời hạn khác nhau:
- Tiền gửi tài khoản không kỳ hạn
- Tiền gửi tài khoản có kỳ hạn
2.3 Nguồn vốn huy động khác:
Khi nguồn vốn tự có và nguồn vốn huy động ở các khoản tiền gửi trên không
đủ để đáp ứng cho nhu cầu sử dụng vốn của mình, các Ngân hàng thương mạiđược phép huy động vốn của Ngân hàng, đòi hỏi các Ngân hàng thương mại phảitạo ra một quỹ dự trữ cần thiết
Trang 11Bên cạnh việc mở rộng nguồn vốn thì các Ngân hàng thương mại phải đảmbảo an toàn vốn trong hoạt động kinh doanh của mình để tránh được những rủi ro
và tổn thất trong việc đầu tư vốn của Ngân hàng thương mại, rủi ro lãi suất khi có
sự chênh lệch về thời hạn giữa nguồn vốn và sử dụng vốn, sự không cân xứng vềtài sản có và tài sản nợ xảy ra trong quá trình hoạt động
Nói cách khác, khi tạm thời thiếu vốn khả dụng thì Ngân hàng thương mại cóthể đi vay của các tổ chức tài chính, tín dụng trong nước, vay của các tổ chức, cánhân ở nước ngoài Nếu vẫn không đáp ứng đủ trong các trường hợp trên thìNgân hàng thương mại sẽ đi vay của Ngân hàng Trung ương Ngân hàng trungương đóng vai trò là người đi cho vay cuối cùng phù hợp với chính sách tiền tệ tạithời điểm đó
2.4 Các nguồn vốn khác:
Ngoài các nguồn vốn kể trên, các Ngân hàng thương mại còn có một số vốnkhác có thể sử dụng để cho vay Đó là nguồn vốn hình thành trong quá trình thanhtoán của Ngân hàng, giao dịch trong thanh toán chênh lệch giữa thời gian từ lúcnhận vốn thanh toán đến khi thanh toán thì Ngân hàng thương mại tận dụng đượcmột khoản vốn rồi sử dụng trong kinh doanh Quản lý tốt nguồn vốn này sẽ tạođược nguồn vốn để cho vay ngắn hạn mà không phải trả lãi suất
2.5 Vai trò của nguồn vốn huy động đối với hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại:
Ngân hàng thương mại luôn đóng vai trò làm trung gian tài chính đó là thunhận tiền gửi tạo nguồn vốn Nguồn vốn trong Ngân hàng thương mại khôngnhững là phương tiện kinh doanh chính mà còn là đối tượng kinh doanh chủ yếucủa các Ngân hàng thương mại Do vậy nguồn vốn của Ngân hàng thương mại cóvai trò quyết định khả năng thanh toán và chi trả của một Ngân hàng, gây thanhthế và uy tín cho Ngân hàng đó Để có một khối lượng vốn lớn từ nhiều nguồnvốn phong phú đa dạng phục vụ cho mục đích mở rộng quy mô hoạt động tíndụng của Ngân hàng thương mại mà vẫn đảm bảo khả năng thanh toán
Trang 122.6 Chức năng của ngân hang thương mại.
2.6.1 Chức năng làm trung gian tín dụng
Với chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng thương mại làm "cầu nối" giữangười thừa vốn và người thiếu vốn và nó đã không chỉ đem lại lợi ích cho nhữngngười dư thừa vốn và những người thiếu vốn mà còn đem lại lợi ích kinh tế chobản thân nó và nền kinh tế Đối với ngân hàng, họ sẽ tìm được lợi nhuận cho bảnthân mình từ chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi hoặc hoa hồngmôi giới, 80% lợi nhuận của Ngân hàng Công thương - Ngân hàng thương mạiQuốc Doanh là thông qua hoạt động cho vay Lợi nhuận này chính là cơ sởcho Ngân hàng thương mại tồn tại và phát triển Đối với nền kinh tế, chức năngnày có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vì nó đáp ứngnhu cầu vốn để đảm bảo quá trình sản xuất được thực hiện liên tục và để mởrộng quy mô sản xuất Với chức năng này, Ngân hàng đã biến vốn nhàn rỗi khônghoạt động thành vốn hoạt động, kích thích quá trình luân chuyển vốn, thúc đẩysản xuất kinh doanh
2.6.2 Chức năng trung gian thanh toán.
Chức năng trung gian thanh toán có nghĩa là ngân hàng đứng ra thanhtoán hộ cho khách hàng bằng cách chuyển tiền từ tài khoản này sang tài khoảnkhác theo yêu cầu của họ Thông qua chức năng này Ngân hàng đóng vai trò làngười "thủ quỹ" cho các doanh nghiệp và cá nhân bởi ngân hàng là người giữtiền của khách hàng, chi tiền hộ cho khách hàng Nền kinh tế thị trường càngphát triển thì chức năng này của ngân hàng ngày càng được mở rộng
Thông qua chức năng trung gian thanh toán, hệ thống Ngân hàng thươngmại góp phần phát triển nền kinh tế Khi khách hàng thực hiện thanh toán quangân hàng sẽ làm giảm rủi ro, giảm chi phí thanh toán cho khách hàng đồng thờitốc độ luân chuyển vốn kinhgóp phần tăng lợi nhuận của ngân hàng thông quaviệc thu lệ phí thanh toán Hơn nữa, nó lại tăng nguồn vốn cho vay của ngânhàng thể hiện trên số dư có tài khoản tiền gửi của khách hàng Chức năng nàycũng chính là cơ sở để hình thành chức năng tạo tiền của Ngân hàng thương mại
Trang 132.6.3 Chức năng tao tiền.
Đây là hệ quả của hai chức năng trên trong hoạt động ngân hàng: Từ một
số dự trữ ban đầu thông qua quá trình cho vay và thanh toán bằng chuyểnkhoản của ngân hàng thì lượng tiền gửi mới được tạo ra và nó lớn hơn so vớilượng dự trữ ban đầu gấp nhiều lần, gọi là quá trình tạo tiền của hệ thống ngânhàng
Một ngân hàng sau khi nhận một món tiền gửi, trên tài khoản tiền gửicủa khách hàng tại ngân hàng sẽ có số dư Với số tiền này sau khi đã để lại mộtkhoản dự trữ bắt buộc, ngân hàng sư đem đi đầu tư, cho vay từ đó nó sẽchuyển sang vốn tiền gửi của ngân hàng khác Với vòng quay của vốn thôngqua chức năng tín dụng và thanh toán của ngân hàng Ngân hàng thương mạithực hiện được chức năng tạo tiền
Trang 14CHƯƠNG II THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG NGUỒN VỐN Ở NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM.
Trong quá trình tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đưa nước tathành một nước có nền kinh tế phát triển mạnh, Nhà nước ta đã xác định mục tiêuhàng đầu và quan trọng đó là phải có nguồn vốn và trong số nguồn vốn của ngânhàng thương mại thì số vốn huy động chiếm số lượng lớn, hoạt động của các ngânhàng thương mại Việt Nam hiện nay về vấn đề huy động vốn đang diễn ra trongđiều kiện khá thuận lợi vì có thị trường chứng khoán ra đời, tiền nhàn rỗi của dân
cư tăng lên Nhưng bên cạnh đó cũng có nhiều khó khăn và thử thách Trong một
số năm trở lại đây thì huy động vốn trong nước của các ngân hàng thương mại cóvai trò quyết định và bằng các hình thức huy động truyền thống như nhận tiền gửicòn có thêm các loại hình huy động mới đó là huy động bằng ngoại tệ, phát hành
kỳ phiếu, trái phiếu
1. Khái quát về Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam.
1.1Lịch sử hình thành vá phát triển.
- Năm 1988: Được thành lập ngày 26/03/1988 với tên gọi Phát triển Nông nghiệpViệt Nam
- Năm 1990: Đổi tên thành Nông nghiệp Việt Nam
- Năm 1995: Đề xuất thành lập Ngân hàng phục vụ người nghèo, nay là Ngân hàngChính sách xã hội
- Năm 1996: Đổi tên thành Ngân hàng Nông nghiệp va Phát triển Nông thôn ViệtNam
- Năm 2003: Được phong tặng danh hiệu Anh hung Lao động thời kỳ đổi mới
Trang 15CÔNG TY CON
TỔNG GIÁM ĐỐC
ỦY BAN QUẢN LÝ RỦI RO
HỆ THỐNG KIỂM TRA KIỂM SOÁT NỘI BỘ
HỘI ĐỒNG THÀNH VIÊN
- Năm 2006: Đạt giải thưởng Sao Vàng đất việt
- Năm 2008:Đảm nhiệm chức chủ tịch APRACA; Đạt Top 10 Giải thưởng SaoVàng đầt việt
- Năm 2009: Khai trương hệ thống IPCAS II, kết nối trực tuyến toàn bộ hệ thống
Vinh dự được Tổng Bí thư tớ thăm và làm việc Là ngân hàng đầu tiên lần thư 2liên tiếp nhận đạt giải thưởng Top 10 Sao Vàng đất việt
- Năm 2010: Top 10 trong 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam, tiếp tục là Địnhchế tài chính có vốn điều lệ lớn nhất việt Nam Agribank bứt phá vươn lên vị tríngân hàng số 1 Việt Nam trong lĩnh vực phát triển chủ thẻ Ngày 28/6/2010,Agribank chính thức khai trương Chi nhánh nước ngoài đầu tiên tại Campuchia
Agribank chính thức công bố thành lập Trường Đào tạo Cán bộ (tiền thân là Trungtâm Đào tạo) vào dịp 20/11/2010 2010 cũng là năm Agribank tổ chức thành côngĐại hội Đảng bộ lần thứ VIII (nhiệm kỳ 2010 – 2015), Hội nghị điển hình tiên tiếnlần thứ III, Hội thao toàn ngành lần thứ VI
- Năm 2011: Chuyển đổi theo mô hình công ty Trách nhiệm hữu hạn một thànhviên do Nhà nước làm chủ sở hữu
1.2Hệ thống tổ chức.
15
Trang 162 Các hình thức huy động vốn.