Về việc đánh giá chất lượng gỗ sau khi sấy tácgiả kết luận rằng với cả 2 cấp chiều dày nói trên, khi sấy ở các cấp nhiệt độ cao 60-70oC và 70 – 80oC thì độ ẩm gỗ sấy đảm bảo, thời gian s
Trang 11 ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Hiện trạng sử dụng gỗ hiện nay trên thế giới và ở Việt Nam
- Nhu cầu về gỗ trên thế giới cũng như ở Việt Nam không ngừng gia tăng đểphục vụ cho các nhu cầu về xây dựng, trang trí, các vật liệu dùng trong gia đình, Mặc dù đã có rất nhiều vật liệu mới ra đời như nhựa, sắt, nhôm, kính, nhưng vẫnkhông thể thay thế được vị trí của gỗ trong thị hiếu của người tiêu dùng bởi tínhthẩm mỹ và chất lượng của nó
- Từ nhu cầu gỗ ngày càng gia tăng đã làm tăng áp lực đến nguồn tài nguyênrừng mà đặc biệt là tài nguyên cây gỗ cả từ rừng tự nhiên và rừng trồng Nó đã đặt
ra cho toàn xã hội nói chung và nghành Lâm nghiệp nói riêng đặc biệt là các ngànhkhai thác, chế biến làm sao để cung cấp gỗ vừa đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả lại vừađáp ứng thị hiếu của người tiêu dùng cả về chất lượng lẫn số lượng
- Việc nâng cao công nghệ khai thác, công nghệ xẻ mộc, sấy đã đem lạinhiều thành công trong việc sử dụng gỗ cũng như làm tăng tỉ lệ thành khí trong việc
sử dụng gỗ
- Trong các loại hình đó sấy là một công nghệ quan trọng trong việc nângcao năng suất và chất lượng gỗ Sấy là một dạng công nghệ làm giảm độ ẩm của gỗđến mức cho phép đảm bảo tăng tính cơ lí của gỗ, rút ngắn thời gian phơi khô, tránhmối mọt,… đem lại giá trị kinh tế và giá trị sử dụng cao Do vậy việc khảo sát vàxây dựng quy trình sấy gỗ cho từng loại gỗ là một việc làm rất cần thiết và cần đượcquan tâm phát triển
1.1.2 Đặc tính riêng biệt của gỗ Bạch đàn trắng
Để giảm áp lực về nhu cầu gỗ từ rừng tự nhiên, việc đưa các loài cây gỗ cógiá trị về kinh tế cũng như về sử dụng đã và đang được quan tâm phát triển Trong
những loài cây rừng trồng đó, Bạch đàn trắng (Eucalypus camaldulensis) đang được
nghành Lâm nghiệp gây trông ở nhiều vùng trong cả nước Đây là loài cây nhậpnội, nhưng đặc biệt tỏ ra rất thích hợp với điều kiện sinh thái của Việt Nam Bạchđàn là loài cây có giá trị về nhiều mặt ngoài việc cung cấp gỗ có giá trị kinh tế cao,rừng Bạch đàn còn góp phần vào việc phủ xanh đất trống đồi núi trọc và bảo vệ môi
Trang 2trường sinh thái Qua nghiên cứu và tìm hiểu các tài liệu liên quan, đề tài thấy gỗBạch đàn trắng có các đặc tính chủ yếu sau:
- Gỗ có khối lượng, thể tích trung bình
Từ những vấn đề đã trình bày ở trên, để góp phần trong việc sử dụng gỗBạch đàn trắng một cách có hiệu quả nhất, được sự phân công của khoa Nông lâm
và sự hướng dẫn của thầy giáo Thạc sĩ Trần Trọng Bắc, tôi thực hiện đề tài: "Khảo sát và xây dựng quy trình sấy gỗ Bạch đàn trắng được trồng trên địa bàn Lâm Trường Eakar, huyện Eakar, tỉnh Đăk Lăk".
1.2 Ý nghĩa của việc khảo sát và xây dựng quy trình sấy gỗ
- Việc khảo sát và xây dựng quy trình sấy gỗ sẽ làm tăng giá trị sử dụng vàkinh tế của gỗ Bạch đàn trắng
Trang 32 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Các nghiên cứu về sấy gỗ Bạch đàn
2.1.1 Trên thế giới
Theo các tác giả Walter G.Kauman, Jean Geraro, Husiging, Wang HuaiJun:các loại gỗ Bạch đàn chiếm tỷ lệ nhiều nhất trên thế giới là ở Australia, sau đó lànhững địa danh có nguồn Bạch đàn và có đầu tư nghiên cứu sử dụng chúng từ năm
1788 là đảo Islands, Philippinnes, Australia, gỗ rừng trồng Bạch đàn đã mở rộng rakhắp nơi trên thế giới Sau đó nó được trồng ở các nước như Miến Điện, Bắc vàNam Phi, Nam Mỹ và California với diện tích xấp xỉ 8 – 12 triệu ha, trong đó cóhơn 4 triệu ha ở Brazin.[1]
Những năm trước đây gỗ Bạch đàn chủ yếu được sử dụng để làm nguyên liệusản xuất giấy, các trụ cột điện tạm thời ở nông thôn,… Đến năm 1928, viện côngnghiệp rừng của Australia đã nghiên cứu công nghệ chế biến và sử dụng gỗ Bạchđàn vào nhiều mục đích khác nhau, đặc biệt là sản xuất hàng mộc và dùng trong xâydựng Trong số hơn 500 loài Bạch đàn trên thế giới, đã nghiên cứu và đưa vào sửdụng 200 loài theo khuyến cáo của Fao và của Australia, khối lượng thể tích của cácloài Bạch đàn biến động từ (450 – 1000) kg/m3
Hiện nay có nhiều công trình nghiên cứu của một số tác giả về sấy gỗ đã đượcđưa vào áp dụng thành công trong sản xuất:
- Tác giả R.L.Northway, khi nghiên cứu về gỗ Bạch đàn và gỗ Sồi năm 1996
đã đưa ra chế độ sấy cho hai loại gỗ nói trên ở hai cấp chiều dày (27 – 30) mm và(50 – 55) mm Ông đã đưa ra các thông số về nhiệt kế khô và độ ẩm tương đối củachế độ sấy phù hợp các mức độ ẩm khác nhau của gỗ Theo ông trong quá trình sấytuỳ theo diễn biến độ ẩm của gỗ mà điều chỉnh các thông số liên quan cho phù hợp
để giảm khuyết tật của gỗ đến mức thấp nhất
- Các tác giả Paris Alexiou, John F.Marchant khi nghiên cứu về các loại ván
có kích thước (100 x 50) mm đã đưa ra những vấn đề cần chú ý trong quá trình sấy
đó là:
+ Mối quan hệ giữa độ ẩm của môi trường sấy và nhiệt độ sấy
Trang 4+ Kiểm tra độ ẩm và khuyết tật gỗ một cách định kì trong quá trình sấy đểtìm ra biện pháp khắc phục kịp thời.
+ Khi sấy được 1/2 thời gian sấy thì cần kiểm tra mẫu thí nghiệm
+ Ở giai đoạn 2 của quá trình sấy,khi độ ẩm gỗ còn 63% thì kiểm tra khuyết tật
mo móp của gỗ
+ Các tác giả cũng đề cập đến vấn đề sức căng, theo các ông thì chính sức căng
là nguyên nhân làm nứt bờ mặt gỗ Đầu tiên là nứt ở dạng răn mặt, sau đó nếu sứccăng vẫn tiếp tục phát triển thì vết nứt sẽ sâu hơn
+ Các tác giả cũng đã tìm ra được nguyên nhân của sức căng bề mặt là do dốcsấy (U) quá lớn, sấy quá nhanh làm tăng sự chênh lệch độ ẩm giữa các lớp bêntrong so với lớp bên ngoài của ván
- Tác giả Rodolfo J.Newman người Chi Lê đã đưa ra kết quả thí nghiệm củaviệc sấy loại gỗ Bạch đàn Globulus còn non, tươi theo các chế độ sấy khác nhau Nếuván dày 30mm, thời gian sấy 35 ngày thì phải sấy với chế độ nhiệt rất thấp mới có thểhạn chế được khuyết tật của gỗ sấy, còn nếu hong phơi trong không khí, gỗ có chiềudày 30mm thì thời gian hong phơi phải mất tới (8 – 15 ) tuần, tuỳ theo thời tiết Trên thế giới việc nghiên cứu sấy đặc biệt là các loại gỗ rừng trồng được quantâm từ lâu Bước đầu tạo tiền đề, cơ sở vững chắc cho việc nghiên cứu, phát hiện vàứng dụng sau này
2.1.2 Ở Việt Nam
Việc nghiên cứu các quy trình sấy gỗ trên thế giới đã được nhiều nhà nghiêncứu quan tâm phát triển từ khá lâu Tuy nhiên ở Việt Nam việc nghiên cứu các quytrình sấy gỗ rừng trồng, đặc biệt là gỗ Bạch đàn trắng thì vẫn là một vấn đề khá mới
mẻ, nó chỉ được quan tâm và phát triển trong một vài thập niên gần đây
- Tác giả Hứa Thị Huần (tháng 3/2001), trong đề tài nghiên cứu cấp bộ củamình tác giả đã tiến hành nghiên cứu quy trình sấy loại gỗ Bạch đàn trắng(E.camaldulensis) tại Nông trường Sông Hậu Quá trình thí nghiệm được thực hiệnnhư sau:
Gỗ Bạch đàn trắng sau khi chặt hạ được đem xẻ ở các cấp chiều dày (35 –45) mm và (50 – 60) mm Sau đó đưa vào sấy ở 4 cấp nhiệt độ (45 – 55)oC, ( 50 –60)oC, ( 60 – 70)oC, ( 60 – 80)oC, thời gian sấy để đạt (8 – 12)% của cấp chiều dày
Trang 5(35 – 45) mm lần lượt theo các cấp nhiệt độ trên là: 20 ngày, 17 ngày, 15 ngày và
10 ngày Còn đối với cấp chiều dày (50 – 60) mm thì thời gian sấy tương ứng là 30ngày, 25 ngày, 20 ngày và 15 ngày Về việc đánh giá chất lượng gỗ sau khi sấy tácgiả kết luận rằng với cả 2 cấp chiều dày nói trên, khi sấy ở các cấp nhiệt độ cao (60-70)oC và (70 – 80)oC thì độ ẩm gỗ sấy đảm bảo, thời gian sấy được rút ngắn nhưngkhuyết tật của gỗ sấy rất cao Còn nếu sấy ở nhiệt độ (45 – 55)oC thì khuyết tật íthơn nhiều nhưng thời gian sấy dài ảnh hưởng tới sức sản xuất và tính kinh tế
- Tác giả Hồ Xuân Các: đã có nhiều công trình nghiên cứu và cũng đã đưa ranhiều chế độ sấy cho rất nhiều loại gỗ khác nhau, bao gồm cả gỗ tự nhiên và gỗ rừngtrồng Ông đã phân các loại gỗ thành các nhóm khác nhau Theo ông, gỗ Bạch đàntrắng được xếp vào nhóm 3 là loại gỗ có khối lượng riêng trung bình, tuy nhiên cómột đặc thù đó là rất dễ nảy sinh các khuyết tật sấy Quy trình sấy gỗ Bạch đàn (đãqua hong phơi 1 tuần) cho một số cấp chiều dày đã được tác giả đưa ra là: Từ (65 –75) mm thì sấy ở nhiệt độ (40 – 50)oC thời gian sấy là 25 ngày, từ (50 – 60) mm thìsấy ở nhiệt độ (40 – 60)oC thời gian sấy là 20 ngày, độ ẩm cuối cùng đạt (10 - 15)%
- Tác giả Trần Trọng Bắc cũng đã thực hiện đề tài nghiên cứu giải phápcông nghệ khắc phục khuyết tật do sấy gỗ Bạch đàn trắng Cùng với việc khắc phụccác khuyết tật cho gỗ sau khi sấy, tác giả đã đưa ra các chế độ sấy khác nhau vớikích thước bề dày 25 mm ở các cấp nhiệt độ: (40 – 50)0C thời gian sấy là 15 ngày,(50 – 60)0C thời gian sấy là 13 ngày, (60 – 70)0C thời gian sấy là 10 ngày
- Tác giả Trần Tuấn Nghĩa trong bài “Nghiên cứu hoàn thiện chế độ sấy một
số loại gỗ rừng trồng” đăng trên tạp chí Nông Nghiệp va Phát Triển Nông Thôn(tháng 1/2006) cũng đã đưa ra chế độ sấy cho một số loại gỗ Bạch đàn với cùng mộtcấp chiều dày là 50mm nhưng sấy ở các thông số nhiệt độ, độ ẩm môi trường vàthời gian sấy khác nhau
2.1.3 Ở Đăk Lăk
Việc nghiên cứu, kế thừa, ứng dụng các quy trình sấy gỗ cũng được các lâmtrường, công ty, xí nghiệp quan tâm thực hiện và phát triển mạnh trong những nămgần đây Hiện nay, trong địa bàn tỉnh có nhiều cơ sở chế biến và gia công gỗ trong
đó sấy là một công đoạn quan trọng được các cơ sở đặt lên hàng đầu Đã có một số
cơ sở lắp ráp và vận hành các lò sấy gỗ hiện đại như Lâm trường Ma Đrăk được sự
Trang 6hổ trợ của chương trình Lâm nghiệp Việt - Đức, đã xây dựng một lò sấy gỗ sử dụngbằng năng lượng mặt trời với kinh phí 95 nghìn USD (khoảng 1,5 tỷ đồng) Đây là
lò sấy thuộc loại hiện đại thực hiện nguyên lý bức xạ nhiệt (hiệu ứng nhà kính) vớibảng điều khiển tự động Tuỳ theo từng loại gỗ và độ dày của sản phẩm mà đặtchương trình sấy khác nhau Mỗi lần sấy được 50m3 với thời gian 15 ngày, tiết kiệmhơn 60% chi phí và thời gian Trong trường hợp thiếu năng lượng mặt trời lò sấy sẽđược nồi hơi cung cấp nước nóng để bổ sung năng lượng nhiệt giúp cho lò hoạtđộng bình thường
Ngoài ra còn có một số cơ sở sấy như Xí nghiệp chế biến gỗ Buôn Mê Thuột
sử dụng lò sấy nhiệt đã thực hiện các quy trình sấy Tràm bông vàng, Cao su,… Công
ty chế biến gỗ Tây Nguyên sử dụng lò sấy hơi nước c đã thực hiện quy trình sấy Cao
su, Tếch, Dầu,… Tuỳ theo yêu cầu của khách hàng cũng như mục đích gia công của
gỗ mà người ta quyết định kích thước, thời gian và độ ẩm cuối cùng mà sản phẩm đạtđược như gỗ Tếch dày 30mm với nhiệt độ 58oC thời gian sấy là 30 ngày
Như vậy việc thực hiện các quy trình sấy gỗ hiện nay trong tỉnh ta rất đadạng, không chỉ tập trung sấy các loại gỗ từ rừng tự nhiên như truớc đây mà cònquan tâm, nghiên cứu các quy trình sấy gỗ rừng trồng Đây là một minh chứng cho
ta thấy việc gây trồng, kinh doanh các cây gỗ rừng trồng đã được người dân, công
ty, lâm trường quan tâm phát triển Trong đó Bạch đàn trắng với nhiều ưu thế nhưmọc nhanh, thân thẳng, ít sâu bệnh, thích hợp với nhiều loại đất đặc biệt là đất đồinúi đang được gây trồng nhiều nơi Do đó việc nghiên cứu, vận dụng các quy trìnhsấy gỗ rừng trồng mà đặc biệt là quy trình sấy gỗ Bạch đàn trắng đang là một hướng
đi đúng và cần được quan tâm phát triển
2.2 Cơ sở lí luận về sấy gỗ
2.2.1 Qúa trình di chuyển nước bên trong gỗ
Khi sấy gỗ thì phần nước trong gỗ chuyển dịch dần ra ngoài lớp mặt, rồi sau
đó từ lớp mặt ngoài của gỗ nước tiếp tục bay hơi đi và làm giảm ẩm trong gỗ.Nhưng tốc độ chuyển dịch và tốc độ bay hơi này không giống nhau, tốc độ chuyểndịch của nước từ bên trong gỗ ra ngoài thường chậm hơn hơn nhiều so với tốc độbay hơi của nước ở ngoài mặt gỗ Chính vì vậy mà ta thấy lớp ngoài mặt của gỗthường nhanh khô hơn lớp gỗ bên trong Nếu nhiệt độ của không khí xung quanh
Trang 7càng cao (nhiệt độ của môi trường sấy), độ ẩm tương đối của không khí càng thấpthì tốc độ bay hơi của nước ở lớp gỗ bề mặt càng nhanh, lớp gỗ ngoài càng chóngkhô Mặt khác, do cấu tạo của gỗ cũng hạn chế sự di chuyển của nước từ bên trong
gỗ ra ngoài mặt Do đó trong giai đoạn đầu của quá trình sấy, hình thành nên sựchênh lệch về độ ẩm của các lớp gỗ bên trong và lớp gỗ bên ngoài Mức độ chênhlệch đó càng lớn thì sự di chuyển nước tứ bên trong ra bên ngoài mặt càng mạnh và
gỗ sẽ càng chóng khô
Như vậy sự chênh lệch về độ ẩm trong tấm gỗ là động lực của tốc độ di chuyểnnước bên trong gỗ ra ngoài mặt Mức độ chênh lệch này càng lớn thì tốc độ di chuyểncủa nước càng nhanh Mặt khác, khi gỗ khô xuống dưới điểm bão hoà thớ gỗ thì gỗ sẽbắt đầu co rút, trong giai đoạn này nước trong gỗ bay hơi nhanh dẫn đến co rút lớn vàhay xảy ra không đồng đều giữa các lớp trong gỗ dễ sinh ra hiện tượng nứt nẻ và congvênh Vì vậy trong suốt quá trình sấy ta cần phải chú ý giai đoạn này đây là giai đoạn
mà độ ẩm của lớp gố ngoài xuống dưới điểm bảo hoà của thớ gỗ
Ngoài ra sự chênh lệch của nhiệt độ giữa lớp gỗ trong và lớp gỗ ngoài làđộng lực thứ hai thúc đẩy tốc độ di chuyển nước trong gỗ Dưới điều kiện chênhlệch nhiệt độ như vậy, nước sẽ di chuyển từ lớp gỗ có nhiệt độ cao đến lớp gỗ cónhiệt độ thấp, tức là di chuyển cùng hướng với hướng chuyển dịch của nhiệt độ
Nhưng khi sấy theo phương pháp sấy bình thường, hướng di chuyển củanhiệt lại ngược với hướng di chuyển của nước làm mất tác dụng của động lực nàydẫn đến hạn chế sự di chuyển của nước Để tận dụng hiệu quả động lực thứ hai này,người ta tiến hành phương pháp sấy cao tần, dưới tác dụng của nó gỗ sẽ được làmnóng dần lên tránh được sự chênh lệch về nhiệt độ làm cản trở sự di chuyển củanước ra phía ngoài
Cuối cùng sự chênh lệch của sử áp suất giữa áp suất hơi nước bên trong gỗ vào
áp suất của môi trường không khí là động lực thứ ba thúc đẩy tốc độ di chuyển củanước từ lớp gỗ bên trong ra lớp gỗ ngoài mặt Sấy chân không và sấy trong môi trườngchất lỏng có nhiệt độ lớn hơn 1000C là phương pháp phát huy triệt để động lực này
2.2.2 Qúa trình bay hơi nước bên trên bề mặt gỗ
Hiện tượng bay hơi nước trên bề mặt nước hoặc trên bề mặt một vật ướt chỉxảy ra khi xung quanh chưa đạt đến trạng thái bão hoà, tức là khi < 100% ( là độ
Trang 8ẩm không khí) độ ẩm của không khí xung quanh càng bé thì quá trình bay hơi càng
dễ dàng, nước bay hơi càng nhanh, càng mạnh
Tuy thế dưới điều kiện không khí bảo hoà ( = 100%) nước cũng có khảnăng bay hơi, nhưng với điều kiện là nhiệt độ của nước hoặc của vật ướt phải lớnhơn nhiệt độ của không khí xung quanh
Tốc độ bay hơi của nước trên bề mặt nước tự do còn phụ thuộc vào mức độchênh lệch áp suất hơi của lớp sát trên bề mặt nước tự do (thường ở trạng thái bãohoà hơi nước) và áp suất của không khí tương ứng với độ ẩm của không khí hiệntại Tức là phụ thuộc vào ∆P = Ph - Pn Bên trên bề mặt nước tự do luôn luôn phủmột lớp không khí mỏng bão hoà hơi nước, lớp đó dày hay mỏng là do tốc độ luânhồi và di chuyển của không khí quyết định Nếu như lớp tiếp cận với bề mặt nước bịgió làm di chuyển đi (gió gây nên sự chuyển động tuần hoàn), thì bề dày của lớpkhông khí ấy sẽ mỏng đi, nồng độ hơi nước trong lớp ấy sẽ loảng đi, do đó tạo điềukiện thuận lợi cho hơi nước từ bề mặt nước đi vào không khí xung quanh dễ dànghơn Tốc độ tuần hoàn của không khí trên bề mặt nước hoặc trên bề mặt vật ướtcàng nhanh thì nước bay hơi càng mạnh
Từ đó ta thấy rằng, tốc độ chuyển động của không khí là nhân tố thứ haiquyết đinh cường độ bay hơi trên bề mặt nước tự do cũng như trên bề mặt gỗ ướt
Dưới áp suất của không khí bình thường, lượng nước bay hơi trong một giờtrên diện tích 1m2 có thể tính bằng công thức sau:
m = b( P h - P n ) (kg/m 2 h)
Trong đó:
b: hệ số bay hơi bề mặt
b = 0,00168 + 0,00128 ω
ω: là tốc độ tuần hoàn của không khí chuyển động dọc theo bề mặt bay hơi
Ph: áp suất hơi nước của lớp sát trên bề mặt nước tự do
Pn: áp suất hơi nước trong không khí
2.2.3 Qúa trình sấy
Trong quá trình sấy, tốc độ biến đổi của hàm lượng nước trong gỗ khônggiống nhau trong từng giai đoạn của quá trình sấy Nó được thể hiện ở hai đồ thị sau:
Trang 9Tốc độ sấy nói lên sự biên thiên độ ẩm của gỗ trong từng đơn vị thời giansấy Nhìn vào hai đồ thị ta thấy:
+ Đoạn OA: biểu thị thời gian làm nóng nguyên liệu của quá trình sấy, đây làgiai đoạn khởi lò, nước trong gỗ hầu như không bay hơi ra ngoài môi trường khôngkhí Trong giai đoạn này nhiệt lượng cung cấp chủ yếu làm cho gỗ nóng lên đếnmột nhiệt độ nhất định đảm bảo sự thoát hơi nước sau khi này dễ dàng hơn Do đótốc độ thoát hơi nước trong giai đoạn này bằng 0
+ Đoạn AB: biểu thị giai đoạn sấy đẳng tốc, tốc độ sấy đồng đều như nhau.Trong giai đoạn sấy đẳng tốc, nước tự do trong gỗ thoát ra ở lớp bề mặt gỗ, độ ẩmcủa nó giảm dần và đạt đến độ ẩm của điểm bão hoà thớ gỗ Trong giai đoạn nàynước tự do trong gỗ còn đủ và kịp thời di chuyển từ những lớp gỗ gần lớp gỗ ngoài
đi ra bề mặt gỗ và giữ được mức nước liên tục đủ để bù lại cho lượng nước trên bềmặt gỗ đã bay hơi đi
Tốc độ sấy giữ đều và liên tục mãi cho đến khi độ ẩm của gỗ đạt đến độ ẩmgiới hạn WK
Điểm uốn trên đồ thị hình 2.1 và điểm gãy trên đồ thị hình 2.2 tương ứng với
độ ẩm giới hạn ấy gọi là điểm giới hạn K
Do sự phân bố của độ ẩm theo bề dày của ván không đồng đều, độ ẩm giới hạn
WK thường lớn hơn điểm bão hoà thớ gỗ và khi độ ẩm của các phần của ván càngkhông đồng đều thì giá trị của WK sẽ càng lớn và lớn hơn nhiều so với điểm bão hoà
Hình 2.1 Sự thay đổi độ ẩm của gỗ
sấy theo từng thời gian sấy
Trang 10thớ gỗ của độ ẩm theo bề dày của ván không đồng đều, độ ẩm gới hạn WK thường lớnhơn điểm bão hoà thớ gỗ Khi độ ẩm trong các thành phần của ván càng không đồngđều thì giá trị của WK sẽ càng lớn và lớn hơn nhiều so với điểm bão hoà thớ gỗ.+ Đoạn BC: biểu thị giai đoạn sấy giảm tốc đây là giai đoạn chủ yếu của quátrình sấy gỗ, nó là giai đoạn dài nhất và có tính chất quyết định đến thời gian vàchất lượng gỗ sấy Độ ẩm của gỗ ngoài mặt ván trong giai đoạn này giảm dầnxuống thấp hơn điểm bão hoà thớ gỗ Tốc độ bay hơi trong giai đoạn này phần lớnphụ thuộc vào lượng nước từ bên trong di chuyển ra ngoài mặt gỗ và phụ thuộcvào tốc độ của quá trình khuyếch tán hơi nước (nước thấm) ở lớp gần lớp ngoàimặt và lớp ngoài mặt Do cấu tạo của gỗ mà quá trình mao dẫn của nước bị đứtlàm hạn chế sự di chuyển của nước từ bên trong ra và không kịp để bù đắp lạiđược lượng nước bay hơi trên bề mặt Do đó tốc độ sấy trong giai đoạn này giảmdần và đạt đến giá trị bằng không, khi độ ẩm của gỗ đạt đến độ ẩm thăng bằng củamôi trưòng tương ứng như điểm C trên đồ thị Vì gỗ đã đạt đến độ ẩm thăng bằngvới môi trường sấy bên ngoài và sự bay hơi dưới điều kiện ấy sẽ không xảy ra nữa
và quá trình bay hơi kết thúc
Trong thực tế sản xuất, quá trình sấy kết thúc tương đối sớm hơn một ít và khisấy độ ẩm của gỗ sẽ cao hơn độ ẩm thăng bằng Wtb khoảng vài phần trăm, vì tốc độsấy càng về sau càng chậm Vì vậy muốn gỗ đạt đến độ ẩm thăng bằng thì sẽ mấtmột thời gian khá dài làm tăng chi phí sản xuất ảnh hưởng đến giá trị kinh tế Tức lànếu muốn sấy gỗ khô, ví dụ đến 10% thì ta phải khống chế chế độ sấy trong lò sấy ởgiai đoạn cuối tương ứng với độ ẩm thăng bằng 8% để khi kết thúc quá trình sấysớm hơn vài phần trăm sẽ lợi hơn về mặt thời gian và vẫn đảm bảo sấy đến độ ẩmcuối cùng mong muốn là 10%
Trang 11
3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quy trình sấy gỗ Bạch đàn trắng đượctrồng trên địa bàn Lâm Trường Eakar, huyện Eakar, tỉnh Đăk Lăk
3.1 Điều kiện tự nhiên của khu vực nghiên cứu
Khu vực tiến hành lấy mẫu nghiên cứu là đồi Chư Cúc thuộc sự quản lý củalâm trường Ea Kar, huyện Ea Kar, tỉnh Đăk Lăk
3.1.1 Vị trí địa lí
Phía Đông giáp xã CưNi và thị trấn EaKar
Phía Tây giáp thị trấn EaKar và huyện Krông Păk
Phía Nam giáp thị trấn EaKar
Phía Bắc giáp xã EaÔ
3.1.2 Các điều kiện khác: đất đai, khí hậu, thuỷ văn,
Đất đai: tình hình phân bố đất tương đối đồng nhất, loại đất chính là đấtferalit màu vàng đỏ phát triển trên đá granit, tầng đất dày, có lẫn nhiều đá sỏi
Thực bì: chủ yếu là cây lau lách, cây bụi, cây gỗ nhỏ mọc rải rác
Khí hậu: được chia làm hai mùa rõ rệt Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đếntháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau
+ Chế độ nhiệt: nhiệt độ của vùng có sự giao động khá lớn với mức biếnđộng từ 70 - 130C Nhiệt độ bình quân tháng thấp nhất là có thể xuống (14 – 15)0C,tháng cao nhất có nhiệt độ là (34 – 35)0C Nhiệt độ bình quân năm là 23,40C
+ Chế độ mưa: lượng mưa tập trung chủ yếu vào các tháng của mùa mưa,đặc biệt là các tháng 8, 9, 10 Lượng mưa bình quân là 1800 mm/năm
+ Chế độ gió: tại khu vực đồi Chư Cúc có hai hướng gió chính tương ứngvới hai mùa trong năm Gió mùa Đông Bắc trong mùa khô và gió Tây Nam trongmùa mưa
Thủy văn: tại khu vực lấy mẫu nghiên cứu nằm cạnh hồ Ea Kar với trữ lượngnước lớn, đặc biệt là vào các tháng có lượng mưa lớn, có nhiều sông suối nhỏ đổ về
Vì địa hình tại khu vực này có độ dốc khá lớn nên mùa mưa hay xảy ra xói mòn đất
và mùa khô có nhiều tháng không mưa hoặc mưa với một lượng rất ít Do đó dễ xảy
ra cháy rừng đặc biệt là tại khu vực đỉnh đồi
Trang 123.2 Mục đích của lô rừng
Đồi Chư Cúc với vị thế một phần tiếp giáp thị trấn Ea Kar, một phần lớn lạitiếp giáp với đất nông nghiệp của các xã lân cận Do đó, nó được trồng với mụcđích chủ yếu là làm rừng phòng hộ chống xói mòn đất, rừng cảnh quan Với loại câytrồng chủ yếu là Bạch đàn trắng chiếm khoảng 70% tổng diện tích với độ tuổi từ 8đến 16 tuổi Ngoài ra, tại khu vực này còn trồng các loài Keo, Xà cừ, Đây là khuvực được bảo vệ nghiêm ngặt và cấm khai thác dưới mọi hình thức đối với tất cảcác loại cây gỗ có trong lô rừng
Biện pháp kỹ thuật tác động chính ở đây là tỉa cành nhánh và phát quangthực bì vào đầu mùa khô để phòng chống cháy rừng
3.3 Các đặc trưng của lô rừng
Diện tích: khoảng 2500 ha
Trữ lượng: khoảng 20000 m3 (chủ yếu là Bạch đàn trắng)
Tuổi của khu rừng: từ 8 đến 16 tuổi
Đặc điểm của lô rừng: có một số khu vực đã khép tán, một số khu vực còntrong giai đoạn rừng sào Mật độ tương đối đồng đều, tuy nhiên một số chỗ mật độvẫn còn thưa do cây chết vì sâu bệnh hoặc ngã đổ do gió bão, tại những chỗ nàythảm thực bì mọc dày chủ yếu là lau lách Vì vậy, cần phải tiến hành trồng dặm vàphát quang cây bụi
3.4 Điều kiện kinh tế - xã hội của khu vực lấy mẫu nghiên cứu
Thành phần dân tộc sinh sống: các cộng đồng dân tộc sinh sống xung quanhkhu vực lấy mẫu nghiên cứu rất đa dạng gồm 11 cộng động dân tộc khác nhau chủyếu là Kinh, Ê Đê, Tày, Nùng,
Số hộ: khoảng 600 hộ, bình quân 5 khẩu/hộ
Mức thu nhập: thu nhập bình quân còn thấp, 700 đến 800 ngànđồng/năm/người Tình trạng thiếu ăn vào các tháng giáp hạt vẫn còn, mỗi năm thiếu
ăn từ 2 đến 3 tháng
Trình độ văn hóa: còn thấp, mới chỉ phổ cập hết cấp I, do trình độ nhận thứccủa người dân còn hạn chế, đặc biệt là các hộ đồng bào dân tộc thiểu số
Y tế: đã có trạm y tế xã, mỗi trạm có từ 5 đến 10 giường bệnh, cán bộ y tế vàthuốc men còn thiếu
Trang 13Giao thông: khu vực đồi Chư Cúc nằm tiếp giáp với tuyến quốc lộ 26, thuậntiện cho việc đi lại Nhưng ở các xã thì đường đất là chính, về mùa mưa thường lầylội trơn trượt gây khó khăn cho việc đi lại.
Qua đây ta thấy, đời sống của người dân còn gặp nhiều khó khăn, đó cũng làmột nguyên nhân quan trọng làm ảnh hưởng đến nguồn tài nguyên của khu rừng
Do đó, một mặt cần nâng cao dân trí, một mặt cần tiến hành giao đất giao rừng chongười dân quản lý và chăm sóc bảo vệ dưới sự giám sát của lâm trường để tạo công
ăn việc làm, tăng thu nhập, giảm áp lực đến nguồn tài nguyên của khu rừng, đặc biệt
là nguồn tài nguyên cây gỗ
Trang 144 MỤC TIÊU, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1 Mục tiêu
- Khảo sát và xây dựng quy trình sấy gỗ Bạch đàn trắng có chất lượng gỗ sấyđảm bảo dung làm gỗ dân dụng (các thanh của tủ Gacmarê, dùng để làm rải bànSalông, các thanh ở hai đầu giường,…)
4.2 Giới hạn của đề tài
- Loại gỗ: Bạch đàn trắng với độ tuổi khoảng (10- 11) tuổi
- Gỗ Bạch đàn trắng dùng để làm đồ mộc dân dụng trồng tại Lâm trườngEaKar, huyện EaKar, tỉnh Đăk Lăk
- Kích thước gỗ sấy dày 20 mm, rộng 40 mm, dài 460 mm (20x40x460) mm
- Phương pháp điều hành sấy: đề tài sử dụng phương pháp diều hành sấy haicấp, cấp đầu sấy ở nhiệt độ thấp, cấp sau sấy ở nhiệt độ cao
4.3 Nội dung
4.3.1 Khảo sát một số quy trình sấy tại Công ty Chế biến gỗ Tây Nguyên
4.3.2 Xây dựng biểu đồ giảm ẩm của 3 quá trình sấy
- Sau khi lựa chọn, lấy mẫu, xẻ mẫu phù hợp với mục đích, xác định kíchthước thích hợp Tiến hành sấy 30 mẫu có kích thước (10x25x25) mm để xác định
độ ẩm ban đầu (được thực hiện ở phòng thí nghiệm bộ môn Cơ Khí – CNSTH) Sau
đó đưa các thanh gỗ nghiên cứu có kích thước (20x40x460) mm sấy tại Công tyChế biến gỗ Tây Nguyên sau khi đã xác định được chế độ nhiệt của 3 quy trình sấy.Sấy đến khi nào độ ẩm các thanh gỗ đạt từ (10 – 12)% là đạt yêu cầu
- Dùng phương pháp đồ thị để vẽ biểu đồ ở 3 quy trình
4.3.3 Xác định các quá trình sấy gỗ Bạch đàn trắng
- Dựa trên kiến thức tham khảo tài liệu, thực tế cơ sở sấy gỗ để từ đó xácđịnh các thông số công nghệ cho từng quá trình sấy cụ thể
4.3.4 Đánh giá chất lượng gỗ sấy
Đánh giá riêng trong từng quy trình sấy, chủ yếu đánh giá ở hai dạng khuyết tật:
- Mức độ nứt (đơn vị tính %)
- Độ móp (đơn vị tính mm)
Trang 154.4 Phương pháp nghiên cứu
- Đề tài sử dụng phương pháp thực nghiệm và phương pháp lí thuyết kết hợp
kế thừa những tài liệu đã có, để thực hiện phương pháp nghiên cứu này, chúng tôitiến hành như sau:
4.4.1 Trang thiết bị và dụng cụ thí nghiệm
- Cân kỹ thuật, độ chính xác 0,01g dùng để cân gỗ trong phòng thí nghiệmnhằm xác định độ ẩm ban đầu của gỗ
- Tủ sấy dùng để sấy 30 mẫu có kích thước (25x25x10)mm để xác định độ
ẩm ban đầu của gỗ
- Lò sấy: Dùng để sấy 30 thanh gỗ nghiên cứu có kích thước (20x40x460) mm + Loại lò sấy: Lò sấy hơi đốt
+ Dung tích: 24m3
+ Sơ đồ cấu tạo:
+ Nguyên lý hoạt động: Lò đốt (1) đốt nhiên liệu, cung cấp nhiệt cho lò sấytrong toàn bộ quá trình sấy Khi nhiệt từ lò đốt được truyền vào lò sấy qua hệ thốngống dẫn ruột gà (3) (hệ thống này thường được làm bằng những hợp kim có khảnăng toả nhiệt lớn) và nhiệt sẽ được hệ thống quạt (2) quạt và lượng nhiệt đó sẽđược đưa vào buồng sấy (5) và gỗ nhận nhiệt (quá trình giảm ẩm của gỗ sấy bắt đầu
1 3
2 Hình 4.1 Sơ đồ cấu tạo lò sấy (theo hình chiếu đứng)
Trang 16diễn ra từ đây) Trong suốt quá trình sấy tuỳ thuộc vào từng giai đoạn mà người tađiều chỉnh các bộ phận hoạt động cho phù hợp Trong lò sấy, hệ thống thoát dẫn khí(4) được điều chỉnh một cách hợp lý, giai đoạn sấy đầu, để hâm nóng gỗ, tăng nhiệt
độ cho lò sấy người ta đóng thoát dẫn khí lại, nhằm mục đích ổn định độ ẩm gỗ saukhi ra lò Trong lò sấy, hệ thống quạt dùng để điều chỉnh tốc độ gió (lưu thông khí)trong lò sấy, giai đoạn sấy đầu người ta không bật quạt mục đích làm cho nhiệt độ
lò sấy nhanh nóng hơn sau đó một ngày người ta mới bắt đầu bật quạt và điều chỉnhtốc độ theo thời gian Quạt gió còn có tác dụng quạt nhiệt làm cho nước chuyểntrạng thái lỏng thành khí trong các thời kỳ phun ẩm trong suốt qua trình sấy
4.4.2 Phương pháp lấy mẫu gỗ sấy
Gỗ Bạch đàn trắng được lấy tại Lâm trường EaKar, huyện EaKar, tỉnh ĐăkLăk Chặt một cây có đường kính D1.3 là 18cm ở độ tuổi 10
Chặt cây tại vị trí 1.3m, cắt bỏ 1m ngọn tính từ cành đầu tiên trở xuống Tađược phần còn lại dùng để làm mẫu Sau đó cắt thành các khúc có chiều dài 1m,đánh dấu cắt khúc theo thứ tự từ gốc đến ngọn là 1, 2, 3
Sau khi có các khúc gỗ tròn như trên ta tiến hành xẻ thành các tấm ván có bềdày 20 mm Trung tâm các tấm ván này nằm trên các vòng năm như nhau Như vậy
4 thanh lấy ra từ một khúc cơ bản có cấu tạo cùng vòng năm và 4 thanh này lấy ở 4góc xoay đều quanh trục khúc gỗ
Trang 17C 2 3 4 5 6 7 8 1
Hình 4.3 Cách lấy mẫu xác định độ ẩm ban đầu.
Ta lấy các tấm ván của các khúc gỗ ở các vị trí khác nhau xẻ ra thành cácthanh có kích thước dày 10 mm, rộng 25 mm, dài 460 mm (10x25x460) mm Sau
đó dùng cưa tay cắt thành các mẫu có kích thước (10x25x25) mm Tiến hành cắt 30mẫu có kích thước như trên để xác định độ ẩm ban đầu tại phòng thí nghiệm bộmôn Cơ Khí – CNSTH Dùng bút lông đánh số theo thứ tự từ 1 đến 30
Các tấm ván còn lại ta cũng cắt thành các thanh có các kích thước(20x40x450) mm Ta cũng tiến hành cắt 30 mẫu, sau đó chia các mẫu này thành 3nhóm ngẫu nhiên, mỗi nhóm đều có các thanh gỗ ở các vị trí khác nhau của cáckhúc gỗ ban đầu Dùng bút lông đánh số thứ tự từ 1 đến 30: Nhóm 1 gồm các thanh
4.4.3.1 Độ ẩm ban đầu của mẫu sấy
Mẫu dùng để xác định độ ẩm ban đầu có kích thước (10x25x25) mm đượcthực hiện tại phòng thí nghiệm bộ môn Cơ Khí – CNSTH
Trước khi đem 30 mẫu này vào sấy ta dùng cân kỹ thuật với sai số 0.01 gam
để xác định khối lượng ban đầu của các mẫu Ứng với 30 mẫu sấy ta có 30 khốilượng ban đầu khác nhau Sau đó cho vào lò sấy ở nhiệt độ (85-90)0C và tiến hànhtheo dõi Sau khi tiến hành sấy 24 giờ thì cứ 2 tiếng cân định kỳ một lần và ghi lại
số liệu đã cân được ứng với từng mẫu Đến khi nào cân 3 lần liên tiếp nhau mà khốilượng của từng mẫu gỗ sấy không thay đổi thì ta coi như gỗ khô kiệt Chọn khốilượng tại thời điểm gỗ khô kiệt là m0 Ứng với 30 mẫu ta có 30m0 khác nhau
Sau khi đã có khối lượng ban đầu, khối lượng gỗ khô kiệt của 30 mẫu khácnhau ta dùng công thức sau để xác định độ ẩm ban đầu của từng mẫu gỗ:
W Bđ1 = (m Bđ1 - m 01 )*100/m 01 (%) (1)
Trang 18Trong đó:
WBđ1 là độ ẩm ban đầu của mẫu gỗ thứ nhất (%)
mBđ là khối lượng gỗ trước khi đem sấy của mẫu gỗ thứ nhất (g)
m0 là khối lượng gỗ khô kiệt của mẫu thứ nhất (g)Tương tự, ta cũng dùng công thức trên đối với các mẫu gỗ còn lại để xácđịnh độ ẩm ban đầu của từng mẫu Sau đó ta tiến hành xác định độ ẩm ban đầuchung cho cả 30 mẫu sấy với công thức sau:
W Bđ = (W Bđ1 + W Bđ2 + + W Bđ30 )/30 (%) (2)
Trong đó:
WBđ là độ ẩm ban đầu trung bình cho cả 30 mẫu sấy Đây là độ ẩm mà
ta cần nghiên cứu
WBđ1, WBđ2, theo thứ tự là độ ẩm ban đầu của 30 mẫu sấy
4.4.3.2 Xác định khối lượng gỗ khô kiệt (m 0 ) thông qua W Bđ đã tìm ở trên của từng thanh gỗ trước khi đem vào lò sấy
Ta tiến hành cân khối lượng gỗ ban đầu của các thanh gỗ có kích thước(20x40x460) mm Ghi lại khối lượng của từng mẫu đã cân được theo thứ tự
Sau đó đem các mẫu sấy trên vào sấy tại Công ty Chế biến gỗ Tây Nguyênvới các quy trình sấy khác nhau, cứ 2 ngày ta lại đo độ ẩm một lần để theo dõi sựgiảm ẩm của gỗ theo thời gian, rồi đối chiếu với độ ẩm ban đầu được thực hiện tạiphòng bộ môn
Đến khi nào độ ẩm trung bình của các mẫu sấy trong từng quy trình đạt (10 –12)% là kết thúc quá trình sấy
Cách xác định mo như sau: Ta cân riêng các mẫu của ba nhóm gỗ sấy cho 3quy trình ta được mbđ và từ công thức (1) ta suy ra:
m o = 100*m bđ /(100+ W Bđ ) (g) (3)
Trong đó:
mo là khối lượng gỗ khô kiệt của mỗi thanh sấy (g)
mbđ là khối lượng gỗ trước khi đem sấy (g)
Từ công thức này ta xác định được tất cả các mo của các thanh sấy làm cơ sởcho việc xác định độ ẩm tức thời của các thanh sấy theo thời gian
4.4.3.3 Xác định độ ẩm tức thời tại thời điểm kết thúc quá trình sấy
Trang 19Từ m0 của mỗi thanh sấy ta tiến hành xác định độ ẩm tức thời thông qua việccân các mẫu sấy định kỳ 2 ngày cân một lần và được tính như sau:
W tt = (m tt – m 0 )*100/m 0 (%) (4)
Trong đó:
Wtt là độ ẩm tức thời của gỗ tại thời điểm ta xét (%)
mtt là khối lượng của gỗ ta cân được tại thời điểm đang xét (g)Dựa vào công thức trên kết hợp với việc cân định kỳ khối lượng mỗi thanh
gỗ m1, m2, m3, , mn trong suốt quá trình sấy ta suy ra được độ ẩm tương ứng củamỗi thanh là Wtt1, Wtt2, Wtt3, , Wttn Đây là cơ sở để xác định biểu đồ giảm ẩm trongsuốt quá trình sấy
Cũng dựa vào công thức (4) xác định tại thời điểm độ ẩm tức thời trung bìnhcủa các thanh gỗ sấy đạt (10 – 12)% thì kết thúc quá trình sấy và ta tính được thờigian của quá trình sấy đó
4.4.4 Phương pháp xác định khuyết tật của gỗ sấy
Theo các tài liệu nghiên cứu của nhiều tác giả cũng như qua tìm hiểu nghiêncứu thực tế về sấy gỗ thì gỗ Bạch đàn trắng là loại gỗ khó sấy Khi sấy thường mắcphải những khuyết tật như nứt (nứt mặt, nứt đầu), mo móp, Mức độ mỗi loạikhuyết tật được xác định theo các tiêu chí sau:
4.4.4.1 Xác định mức độ nứt của gỗ trong quá trình sấy
Gỗ Bạch đàn trắng sau khi sấy thường xảy ra 2 loại nứt đó là nứt đầu và nứt mặt
L
Nm
Hình 4.4 Cách xác định mức độ nứt mặt
L
Trang 20Nđ
Hình 4.5 Cách xác định mức độ nứt đầu
Nứt mặt: bao gồm các vết nứt xuất hiện trên bề mặt thanh gỗ sấy Mức độnứt mặt được tính bằng cách đo chiều dài vết nứt dài nhất so với chiều dàithanh gỗ sấy:
MĐNM = (N m /L)*100 (%) (5)
Trong đó:
MĐNM là mức độ nứt mặt (%)
Nm là vết nứt dài nhất trên mặt (mm)
L là chiều dài thanh gỗ sấy (mm)
Nứt đầu: bao gồm các vết nứt xuất hiện trên đầu thanh gỗ Được tính bằngchiều dài của vết nứt dài nhất so với chiều dài thanh gỗ sấy:
MĐNĐ = (Nđ / L)* 100 (%) (6)
Trong đó:
MĐNĐ là mức độ nứt đầu (%)
Nđ là vết nứt dài nhất trên đầu thanh gỗ (mm)
L là chiều dài thanh gỗ sấy (mm)
Trang 21HMAX1, HMAX2 là độ sâu lớn nhất của 2 vết mo móp sâu nhất trên thanh
5 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THẢO LUẬN
5.1 Khảo sát một số quy trình sấy gỗ tại Công ty chế biến gỗ Tây Nguyên 5.1.1 Quy trình sấy gỗ Tếch
Trang 22Nhận xét: Đây là loại gỗ khô nhanh, khuyết tật sấy ít, gỗ sau khi sấy đạt chất
lượng tốt Nhưng gỗ được sấy với chế độ sấy ở cùng một cấp nhiệt độ do đó thờigian sấy dài Theo đề tài nhận thấy đây là một nhược điểm cần được khắc phục đểrút ngắn thời gian đến mức có thể mà vẫn đảm bảo được chất lượng gỗ sấy mongmuốn Vì vậy để rút ngắn thời gian sấy nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao thì ta cóthể tăng nhiệt độ sấy lên (70 – 80)0C khi độ ẩm gỗ xuống dưới 25% (do gỗ khi độ
ẩm xuống dưới mức này thì các tính chất cơ lí tương đối ổn định, khuyết tậ sấy hìnhthành ít)
5.1.2 Quy trình sấy gỗ Dầu
- Loại gỗ sấy: Dầu
- Tuổi gỗ: 40 tuổi
- Bề dày ván: 19mm
- Độ ẩm ban đầu: 60%
- Độ ẩm cuối: 6%
- Giai đoạn sấy đầu: 50oC
- Giai đoạn sấy sau: 60oC
- Th i gian s y: 12 ngày ời gian sấy: 12 ngày ấy: 12 ngày
Trang 23Từ việc tham khảo một số tài liệu liên quan, đề tài nhận thấy:
+ Gỗ này có thể bít được hình thành nhiều Khi sấy dễ nảy sinh hiện tượngchai cứng bề mặt
Tuy nhiên cả ở hai quy trình sấy trên thì cơ sở sấy chưa thực hiện việc đo độ
ẩm cho gỗ theo thời gian, chưa có dốc sấy, độ ẩm tương đối của không khí và độ ẩmthăng bằng của gỗ Vì vậy theo đề tài thì đây là một khó khăn cho việc điều khiểncác quy trình sấy thuận lợi và chính xác
Qua hai quy trình sấy mà đề tài đã thu thập tại cở sấy cộng với việc thamkhảo các tài liệu về cấu tạo, tính chất của gỗ Bạch đàn trắng cùng với các quy trìnhsấy gỗ, đề tài đã xây dựng một số quy trình sấy gỗ Bạch đàn như sau:
5.2 Xây dựng biểu đồ giảm ẩm
5.2.1 Cấu tạo và tính chất cơ lí của gỗ Bạch đàn trắng
5.2.1.1 Đặc điểm cấu tạo thô đại của gỗ Bạch đàn trắng