1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bước đầu tìm hiểu về lễ hội hát Dậm Quyển Sơn xã Thi Sơn, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam

84 1,3K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 414,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết đề cậpđến nguồn gốc của lễ hội hát Dậm Quyển Sơn và danh tướng Lý ThườngKiệt, người đã có công lao rất lớn trong sự nghiệp đánh giặc Chiêm Thành.Đặc biệt công lao của Lý Thường

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Lễ hội là một hình thức sinh hoạt văn hoá dân gian, có lịch sử lâu đờimang tính dân tộc sâu sắc Cùng với lịch sử phát triển của dân tộc, lễ hội đãtrải qua nhiều biến đổi, những bước thăng trầm Đã có thời kì, hình thứcsinh hoạt văn hoá này phát triển rực rỡ và được coi là hình thức sinh hoạtvăn hoá chủ yếu của làng xã Việt Nam Song cũng có thời gian nó gần nhưcũng bị lãng quên, thậm chí còn bị bài xích Trong lễ hội có sự nghiêm trangcủa lễ nghi và nghi thức khá chặt chẽ, đồng thời có những trò diễn, trò chơidân gian khá vui nhộn Ngoài ra trong lễ hội có một số tục hèm rất độc đáo.Bất kì một lễ hội nào bao giờ cũng có hai phần đó là phần lễ và phần hội, haiphần này hoà quện vào nhau, hoà hợp nhau tạo ra không khí đông vui, náonhiệt của lễ hội

Lễ hội cổ truyền là một hiện tượng lịch sử văn hoá dân tộc độc đáo

và đa dạng Lễ hội là sản phẩm của làng xã Mỗi làng xã, mỗi vùng quê đều

có những lễ hội mang giá trị văn hoá sâu sắc Vì vậy nghiên cứu lễ hội làng

xã là nghiên cứu một thành tố văn hoá, làm sáng tỏ nét văn hoá độc đáo củamỗi địa phương

Trong những năm gần đây phong trào tổ chức lễ hội của nước tadiễn ra khá rầm rộ Nhân dân địa phương từ cấp xã đến cấp tỉnh đã cố gắngkhôi phục lại lễ hội tại địa phương mình Các lễ hội như hội đền, hội chùa,hội miếu… được tổ chức nhằm mục đích khôi phục lại lễ hội truyền thốngcủa đia phương mình Nhà nước ta cũng đã chú trọng đến tổ chức lễ hội,biểu hiện cụ thể là lễ hội Đền Hùng đã trở thành lễ hội cấp quốc gia được tổchức vào ngày 10 tháng 3 âm lịch Ngoài lễ hội Đền Hùng ở nước ta còn rấtnhiều lễ hội khác như: lễ hội chùa Hương, lễ hội Đền Gióng, lễ hội PhủDày…

Việc khôi phục lễ hội mang ý nghĩa rất lớn lao nhất là trong điềukiện tình hình đất nước ta trong giai đoạn hiện nay Ở nước ta lễ hội diễn ra

Trang 2

trên khắp mọi miền của đất nước Lễ nghi trong lễ hội nhằm thần thánh hoánhững người anh hùng dân tộc, thiêng liêng hoá hào khí núi sông đất nước.Những ngày hội để làm sống lại và nâng cao lòng tự hào nghề nông nghiệptrồng lúa nước Lễ hội còn là nơi đua tài, biểu dương sức khoẻ, nghệ thuật.

Mục đích khôi phục lễ hội nhằm giáo dục cho thế hệ trẻ hôm nay vàmai sau những nét đẹp cổ truyền của dân tộc, làm sống lại lễ hội truyềnthống đang ngày càng mai một đi Lễ hội đang là một nhu cầu cần thiếtkhông thể thiếu được trong cuộc sống hàng ngày của người Việt Nam

Hà Nam nằm ở phía Tây – Nam vùng đồng bằng Bắc Bộ là một tỉnh đồngbằng chiêm trũng Tỉnh Hà Nam chứa đựng kho tàng văn hoá dân gian độc đáo, làđịa danh có những lễ hội lớn nhỏ của làng xã Một trong những lễ hội đó là lễ hộihát Dậm Quyển Sơn Nghiên cứu lễ hội hát Dậm Quyển Sơn Góp phần làm sáng

tỏ lịch sử địa phương qua đó lám sáng tỏ lịch sử dân tộc

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề.

Tìm hiểu nghiên cứu về lễ hội hát Dậm Quyển Sơn đã thu hút khánhiều nhà nghiên cứu, các tác giả trong các lĩnh vực văn hoá, nghệ thuật, cácnhà văn, nhà thơ, nhà báo, nhà xã hội học, nhà nghiên cứu lịch sử…các tácgiả đã viết và nghiên cứu về lễ hội hát Dậm rất nhiều

Cuốn Hà Nam di tích và thắng cảnh NXB Sở văn hoá thông tin HàNam, 1998 Cuốn sách viết về di tích và thắng cảnh của tỉnh Hà Nam, trong

đó có đề cập đến di tích Ao Dong- Núi Cấm- thắng cảnh của Trấn Sơn Namnơi diễn ra lễ hội hát Dậm Quyển Sơn Tác phẩm đề cập đến lễ hội QuyểnSơn một cách khái quát sơ lược chứ chưa đi vào chi tiết, cụ thể

Năm 2000, Sở văn hoá thông tin Hà Nam đã xuất bản cuốn: Dân ca

Hà Nam Trong đó có đề cấp đến hát Dậm Quyển Sơn một loại hình sinhhoạt văn hoá dân gian độc đáo của tỉnh Hà Nam Đây là một loại hình dân cađặc sắc ở đồng bằng Bắc Bộ Tuy nhiên cuốn sách chỉ dừng lại ở việc nêunên hát Dậm là một loại hình dân ca chứ không đề cập đến lễ hội hát DậmQuyển Sơn

Trang 3

Nguyễn Hữu Thu với bài viết: Hát Dậm Quyển Sơn kho tàng các

lễ hội truyền thống Việt Nam Tạp chí văn hoá thông tin, Hà Nội, 2001 Bàiviết đề cập đến lễ hội hát Dậm Quyển Sơn từ góc nhìn văn hoá truyền thống,bài viết chưa đề cập đến quy trình tổ chức lễ hội, nguồn gốc lễ hội Bài viếtchỉ nêu nên một cách khái quát sơ lược về lễ hội hát Dậm

Tạp chí Văn hoá nghệ thuật số 5, 1998, bài viết viết về lễ hội hátDậm Quyển Sơn dưới góc nhìn nghệ thuật Bài viết đề cập đến hát Dậmdưới góc độ của dân ca truyền thống của người Việt Nam Đây là một loạihình văn hoá dân gian độc đáo của làng Quyển Sơn

Khảo cứu về lễ hội hát Dậm Quyển Sơn của tác giả Lê Hữu Lê.NXB Thế giới, Hà Nội, 2006 Tác phẩm đề cập đến hát Dậm Quyển Sơn vớihình thức sinh hoạt văn hoá dân gian, cung cấp cho độc giả những làn điệucủa hát Dậm Tuy nhiên tác phẩm mới chỉ dừng lại ở góc độ sơ lược

Đinh Hữu Thiện với bài viết: Hát Dậm Quyển Sơn và danh tướng

Lý Thường Kiệt Tạp chí Sông Châu, số 29, Hà Nam, 2001 Bài viết đề cậpđến nguồn gốc của lễ hội hát Dậm Quyển Sơn và danh tướng Lý ThườngKiệt, người đã có công lao rất lớn trong sự nghiệp đánh giặc Chiêm Thành.Đặc biệt công lao của Lý Thường Kiệt với dân làng Quyển Sơn ông, đãđược dân làng tôn làm Thành Hoàng làng

Ngoài những tài liệu kể trên còn rất nhiều sách báo, tạp chí khácviết về lễ hội hát Dậm Quyển Sơn Trong tất cả các công trình kể trên nhữngvấn đề liên quan đến hát Dậm Quyển Sơn rất nhiều, song các tác giả mới chỉ

đề cập đến một khía cạnh hoặc mới chỉ trình bầy một cách sơ lược, khái quát

về hát Dậm cũng như lễ hội ở làng Quyển Sơn chứ chưa đi vào chi tiết, cụthể

Trên cơ sở tham khảo nguồn tài liệu trong đề tài em cố gắng trình bày mộtcách cụ thể về những vấn đề nổi bật của lễ hội hát Dậm Quyển Sơn từ khi hìnhthành đến trước năm 1945 để người đọc có cái nhìn đầy đủ về lễ hội hát DậmQuyển Sơn không chỉ về văn hoá, nghệ thuật mà còn về lịch sử…

Trang 4

3 Đối tượng, mục đích, phạm vị nghiên cứu của đề tài.

3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài.

Từ lí do chọn đề tài, lịch sử vấn đề em đã chọn đề tài nghiên cứu là

“ Bước đầu tìm hiểu về lễ hội hát Dậm Quyển Sơn xã Thi Sơn, huyện KimBảng, tỉnh Hà Nam” nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ vấn đề đã nêu ra

3.2 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài.

Thực thiện đề tài này em nhằm các mục đích sau:

Một là sưu tầm thống kê hoá các sự kiện làm sáng tỏ vấn đề nổi bật

để thấy rõ quy trình của lễ hội hát Dậm Quyển Sơn

Hai là em cố gắng đề cập đến quá trình chuẩn bị lễ hội nhằm thấy rõtầm quan trọng của lễ hội hát Dậm đối với nhân dân làng Quyển Sơn

Ba là em đề cập đến những biến đổi của lễ hội hát Dậm Quyển Sơnhiện nay nhằm là rõ sự biến đổi của lễ hội, hát Dậm Quyển Sơn, vấn đề gìngiữ những giá trị văn hoá tinh thần của nhân dân làng Quyển nói riêng củadân tộc nói chung

3.3 Phạm vị nghiên cứu của đề tài.

Về thời gian: đề tài tập trung vào nghiên cứu về lễ hội hát DậmQuyển Sơn từ khi ra đời đến trước cách mạng tháng Tám năm 1945

Về không gian: đề tài tập trung nghiên cứu toàn bộ quy trình tổchức lễ hội hát Dậm Quyển Sơn trên địa bàn làng Quyển Sơn- Kim Bảng-

Hà Nam

4 Phương pháp nghiên cứu, nguồn tài liệu.

4.1 Nguồn tư liệu.

4.1.1 Tư liệu chữ viết.

Khoá luận có tham khảo các tác phẩm của chủ nghĩa Mác- Lênin và

tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề văn hoá, trong đó có lễ hội Mặt khác, khoáluận còn sử dụng các tư liệu gốc như: Việt Diện U Linh, Việt sử lược, ĐạiViệt sử kí toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Đại Namthực lục…

Trang 5

Ngoài ra khoá luận cũng tham khảo các tác phẩm chính như: Địa chí

Hà Nam, Thần tích thần sắc Hà Nam, Dân ca Hà Nam, Truyện dân gian KimBảng….và các tạp chí, các sách bảo ở các thư viện như: Thư viên Quốc Gia,thư viên Quân đội nhân dân, thư viện trường đại học sư phạm Hà Nội,phòng tư liệu khoa lịch sử trường Đại học sư phạm, thư viện tỉnh Hà Nam,thư viện huyện Kim Bảng…

4.1.2 Tư liệu khảo sát điền dã ở địa phương.

Để thể hiện sự phong phú, sinh động của khoá luận, em đã tham khảothông tin từ các cụ cao tuổi trong làng Quyển Sơn, các tư liệu ảnh, các ditích lịch sử về đền Trúc, đình Trung, núi Cấm, hang Ngũ Động Sơn…

4.2 Phương pháp nghiên cứu.

Xuất phát từ quan điểm của Đảng và Nhà nước về vấn đề giữ gìn vàphát triển nền văn hoá truyền thống của dân tộc trong giai đoạn hiện nay Từ

đó đề tài lấy chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là cơ sở thế giớiquan, là phương pháp nghiên cứu của đề tài

Thông qua việc thu thập thông tin từ các nguồn tài liệu khác nhaucủa đề tài sử dụng hai phương pháp là phương pháp lịch sử và phương pháplôgíc nhằm khôi phục lại quá trình hình thành và phát triển lễ hội hát DậmQuyển Sơn

Ngoài ra đề tài còn sử dụng một số phương pháp khác như phươngpháp thống kê, phương pháp đối chiếu, phương pháp phân tích, tổng hợp,phương pháp giám định tư liệu, điền dã… Từ đó rút ra kết luận phục vụ cho

đề tài nghiên cứu

5 Đóng góp của đề tài.

Đề tài được viết thành một chuyên khảo mang tính toàn diện về lễhội hát Dậm Quyển Sơn về lịch sử hình thành, quy trình tổ chức lễ hội, cáctrò thi đấu trong lễ hội…Trên cơ sở nghiên cứu một cách có hệ thống lâu dàicho phép đưa ra những nhận xét xác đáng về giá trị lịch sử, giá trị văn hoá,tinh thần của lễ hội hát Dậm Quyển Sơn

Trang 6

Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm những luận điểm

về lễ hội, làng xã Việt Nam truyền thống và hiện đại Đồng thời qua đó cũnglàm sáng tỏ thêm các vấn đề về lịch sử, văn hoá của làng Quyển Sơn nóiriêng, tỉnh Hà Nam và cả nước nói chung Đặc biệt kết quả nghiên cứu cóthể làm tài liệu học tập, tham khảo, nghiên cứu về lịch sử, văn hoá, lễ hộitruyền thống của dân tộc

6 Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, phụ lục bố cụccủa đề tài gồm có ba chương

Chương I: Giới thiệu khái quát về làng Quyển Sơn

Chương II: Lễ hội hát Dậm Quyển Sơn

Chương III: Những biến đổi trong lễ hội hát Dậm Quyển Sơn từ năm

1945 đến nay

Trang 7

NỘI DUNG CHƯƠNG I GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ LÀNG QUYỂN SƠN

1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên.

Quyển Sơn là một làng cổ, lớn, nằm dọc theo quóc lộ 21 Đây là conđường vào thời Lý- Trần chạy từ Phủ Lý qua huyện Lạc Thuỷ, Châu ĐàGiang, đạo Hưng Hoá (nay thuộc Hoà Bình) Làng Quyển Sơn có độ dài hơn

4 km Phía Tây giáp ngòi Đông Sơn, một chi lưu của sông Đáy Phía Namgiáp Ao Dong- Động Thuỷ Phía Đông giáp làng cổ Thanh Nộn Phía Bắcgiáp sông Đáy và làng Đanh Xá với chùa Bà đanh, núi Ngọc

Làng Quyển Sơn nằm ven núi Cấm nơi có các hang động tự nhiêntạo nên ở trong lòng núi Cấm Trong hang Trâu có động Ngũ Động Sơn Đó

là năm hang động thông với nhau tạo thành dãy động liên hoàn, ăn sâu tronglòng núi dài khoảng 300- 400m Động đầu tiên là Hang Trâu với cảnh sắc kì

lạ Vào lúc bình minh ánh sáng mặt trời phản chiếu vào hang tạo thànhnhiều màu sắc, vào buổi trưa ánh sáng xuyên qua tán cây rừng chiếu vàohang tạo thành màu xanh lục, lúc hoàng hôn ánh sáng chiếu vào với màu tímrất hư ảo Cuối hang Trâu theo đường độc đạo dài 40 m sẽ tới các hang độngkhác Trong hang có chứa nhiều nhũ đá với những hình thù kỳ dị

Quyển Sơn là một làng quê nằm ven sông, ven núi trong làng cónhững gò bãi, hang động điều đặc biệt là ở làng Quyển Sơn có một cánhđồng chiêm trũng nằm dọc theo quốc lộ 21 dài khoảng hơn 4 km, với diệntích vài trăm héc ta Đặc điểm tự nhiên của làng là chưa mưa đã úng, chưanắng đã hạn Do đó trước đây dân làng Quyển Sơn chỉ cấy được một vụ vào

vụ chiêm, vụ mùa hầu như bị ngập lụt không thể canh tác được Cảnh quanlàng Quyển Sơn gồm cói núi thấp, gò bãi, đất phù sa nằm dọc theo hữu ngạnsông Đáy, ruộng đất trũng những cánh đồng trũng phía Nam, Đông Nam vàTây Bắc của làng, hang động (Ngũ Động Sơn)

Trang 8

Lấy làng Quyển Sơn và núi Cấm là trung tâm thì từ đó chếch sangphía Tây chừng 500 mét là ngòi Đông Sơn- một chi lưu của sông Đáy, nốisông Đáy với sông Vũ Cố Vũ Cố là một con sông nhỏ nhưng tiềm ẩn nhiềuhuyền thoại; liền sau ngòi Đông Sơn là làng Đồng Sơn, làng Do Lễ và dãynúi Chín mươi chín ngọn Đây là núi đá liên hoàn nằm trong hệ thống sơnkhối đá vôi cổ được hình thành từ cuối kỉ Juras, đầu kỉ Bạch Phấn, do vậnđộng tạo sơn của trái đất chạy từ chân núi Ba Vì qua tỉnh Sơn Tây, Hà Đông

cũ tới phía Tây của tỉnh Hà Nam đến địa phận Ninh Bình theo hướng Bắc đông nam

Tây-Xa hơn nữa về phía Tây chừng 8km, theo đường quốc lộ 21 là một địadanh tiếp giáp với huyện Lạc Thuỷ, tỉnh Hoà Bình, huyện Mỹ Đức tỉnh HàTây Đây là vùng bạt ngàn núi non, cso đầm Tam Trúc nước xanh thẳm

Cũng từ làng Quyển Sơn chếch về phía Tây chừng 1km là Ao Động Thuỷ (còn gọi là Hang Luồn), trong dãy Chín mươi chín ngọn thuộcđại phận làng Bút Trại xã Liên Sơn; Chếch về hướng Nam chừng 3km làlàng cổ Bút Sơn với núi Voi đồ sộ, dốc Cổ Ngựa cheo leo (nay là dốc CổngTrời)

Dong-Từ núi Cấm chếch về hướng Nam chừng 4km là làng cổ Lạt Sơn vớinúi Đồng Mạ, núi Lẻ, đồi Ông Tượng, núi Dát Dâu, hang Diêm nơi đây từng

là căn cứ kháng chiến của nghĩa quân Lê Chân- nữ tướng của Hai Bà Trưng.Nét đặc sắc nhất của cảnh quan Lạt Sơn là nơi đây có nhiều hang động đẹp,hiểm trở như hang Bà Cô, hang Diêm, hang Đề Yêm, hang Trống, đều hìnhthành từ rất lâu

Ở Lạt Sơn và Châu Sơn các nhà khảo cổ học đã tìm thấy hai mộthuyền với nhiều di vật (đồ trang sức, công cụ sản xuất…) theo kết quả giámđịnh bước đầu số di vật đó thuộc văn hoá tiền Đông Sơn, mảnh đất có đềnthờ nữ tướng Lê Chân ở cạnh bờ sông Cố Vũ, cửa rừng Lạt Sơn

Từ làng Quyển Sơn chếch về hướng Đông chừng 1km là làng cổThanh Nộn chuyên canh tác nông nghiệp thuần nhất, nằm bên bờ sông Đáy

Trang 9

và chạy dọc theo quốc lộ 21, với đền Thượng thờ tướng quân Nguyễn CôngKhôi- một nhân vật truyền thuyết có công phù trợ Lý Nam Đế đánh đuổiquân xâm lược nhà Lương vào thế kỉ VI; đền thờ Quảng Thiện Bồ Tát và bà

Lê Thị Liên đã có công giúp nhà Trần đánh quân xâm lược Mông- Nguyênvào thế kỉ XIII

Từ làng Quyển Sơn, chếch về hướng Đông khoảng 8km, là núi Đọi,tên chữ là Long Đội Sơn- một trung tâm phật giáo lớn, nổi tiếng thời Lý,một danh thắng của trấn Sơn Nam xưa và nay Nơi đây có tháp Sùng ĐiệnDiên Linh do vua Lý Nhân Tông chỉ đạo xây dựng, Nguyễn Công Bật làngười chấp bút; vùng núi Đọi nơi có khu ruộng tịch điền từ thời Tiền Lê,vua Lê Đại Hành đã từng cầy tịch điền ở Đây

Chếch về phía Bắc của làng Quyển Sơn là chùa Bà Đanh- núi Ngọc

cổ kính; phía đông - bắc là làng Vân Lâm với chùa Bà Bến, với đình Trần cổxưa Vân Lâm có tên gọi khác là Quế Lâm

Ngay dưới chân núi Cấm, về phía Tây có ngôi chùa cổ, tên nôm làchùa Giỏ, tên chữ là Thi Sơn tự Gọi là chùa Giỏ vì tương truyền vì tươngtruyền chùa thờ ông Phật Giỏ nằm trong một cái giỏ, trôi lềnh bềnh trênsông, về mùa mưa, bọn trẻ chăn trâu tinh nghịch vớt lên, bày trờ chơi cúng

cụ, làm kinh động đến dân làng.Vì vậy họ phải dựng chùa thờ ông phật đóthì mới được yên ổn

Về phía Đông núi Cấm có rừng trúc, thân trúc có màu vàng óng, láxanh đậm Trong rừng Trúc có ngôi đền cổ ngoảnh về hướng Bắc, hướng cósông Đáy chảy qua Ngôi đền này thờ danh tướng Lý Thường Kiệt, cùng hai

mẹ con vị nữ thần đã từng phù trợ cho quân đội nhà Lý đánh thắng quânChiêm Thành Cạnh ngôi đền là ngôi miếu thờ Long Thần- vị thần trông coihuyệt đế vương trên đỉnh núi Cấm

Giữa làng Quyển Sơn cách núi Cấm 2km là ngôi chùa cổ thờ Phật vàmẫu và một ngôi đình cổ thờ anh hùng dân tộc Lý Thường Kiệt gọi là đìnhTrung và chùa Trung Cả hai công trình đều ngoảnh hướng nam

Trang 10

1.2 Lịch sử hình thành.

Làng Quyển Sơn xưa có tên gọi là trại Canh Dịch (hiểu theo nghĩaNôm là trại làm ruộng), sau đó lại có tên gọi là làng Cuốn Sơn nằm ở phíaNam của huyện Cổ Bảng, phủ Lỵ Nhân, lộ Sơn Nam sau đó đổi thành trấnSơn Nam Đến thế kỉ XIX, làng Cuốn Sơn thuộc tổng Thi Sơn, huyện KimBảng, phủ Lỵ Nhân, tỉnh Hà Nội từ năm 1890, khi toàn quyền Đông Dương

ra nghị quyết thành lập tỉnh Hà Nam, thì làng Cuốn Sơn đổi tên thành làngQuyển Sơn, thuộc xã Thi Sơn,huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam như ngày nay

Gọi là Quyển Sơn bởi đầu làng có một hòn núi đá to, cùng mấy núi đánhỏ toạ lạc từ thủa khai thiên lập địa, tạo thành thể “ hổ báo quần cư” câycối xanh tốt quanh năm, cạnh bờ hữu ngạn sông Đáy và gần sát dãy núi chínmươi chín ngọn Gọi là Thi Sơn ví tương truyền trên núi đá to đầu làngQuyển Sơn có giống cỏ quý hình gióng trúc, có thể chữa trị được nhiều bệnhhiểm nghèo, tên là “ cỏ Thi” (cỏ Tiên, cỏ Linh Chi) Núi có cỏ Thi mọc nêngọi là Thi Sơn

Tên gọi Cuốn Sơn là có ý nghĩa nhớ lại sự tích cờ “Soái” của LýThường Kiệt bị gió cuốn lên lưng chừng núi Khi ông chỉ huy thuỷ quân ĐạiViệt theo đường sông Đáy, đi đánh quân Chiêm Thành đang quấy phá ChâuHoan, Châu Ái vào những năm 1069- 1070.Thi Sơn còn có tên gọi khác lànúi Cấm hay Cấm Sơn Vì tương truyền dưới chân núi có doanh trại quânđội nhà Lý trấn giữ Để đảm bảo bí mật quốc phòng quan quân ra lệnh cấmnhân dân trong vùng đến chặt cây cối, săn bắt chim thú

1.3 Dân cư và sự phân bố dân cư

1.3.1 Dân cư.

Quyển Sơn là một làng lớn nhất nhì huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam

và có thể là một làng lớn nhất nhì trấn Sơn Nam xưa Toàn xã Thi Sơn cóhai làng, đó là làng Quyển Sơn và làng Phù Thuỵ Toàn xã có 2046 hộ với

7824 nhân khẩu, thì riêng làng Quyển Sơn đã có tới 1935 hộ với 7224 nhânkhẩu chiếm 80% tổng số nhân khẩu của toàn xã Ở Thi Sơn có câu ca:

Trang 11

“ Nhất cao là ngọn núi Vồng

Nhất rộng làng Quyển, nhất đông chợ Dầu”

Do đặc điểm địa hình nhân dân làng Quyển Sơn dựng nhà dọc theo

bờ sông Đáy, theo quốc lộ 21 Hầu hết cư dân đều cư trú sinh cơ lập nghiệpbên ngoài đê bên hữu ngạn sông Đáy với mật dộ dân số dày đặc ở giữa làng,hai đầu làng dân cư thưa dần Trên 80% số nhà ở của cư dân làng QuyểnSơn là ngoảnh theo hướng Đông- Nam Cách chọn hướng nhà của cư dânQuyển Sơn có nét giống với cư dân ở các làng xã khác ở đồng bằng Bắc Bộnhằm đáp ứng nhu cầu ấm cúng vào mùa đông, mát mẻ vào mùa hạ

1.3.2 Tính cách của người dân.

Do môi trường sống của người dân làng Quyển Sơn là vùng bán sơnđịa, các thế hệ người dân làng Quyển Sơn nhìn chung đều cần cù, siêngnăng chịu thương, chịu khó Người dân làng Quyển Sơn có tính cách nhẫnlại, trọng tín nghĩa, có khiếu văn nghệ, ca hát hò vè Nam- nữ thanh niêngiỏi võ nghệ, có bản lĩnh…Tính cách ấy đã được ca dao Hà Nam ghi lại:

“ Voi lan lừng lững đứng ngồiThế mà tiếng nói lời mời dễ ngheMúa gậy dựng đứng cây treVung gươm chặt đứt cả bè gỗ lim” (1) (Văn nghệ dân gian Hà Nam)Người phụ nữ làng Quyển Sơn có những phẩm chất thật đáng chân trọng biết bao Điều đó được thể hiện qua câu ca dao:

“ Nhất đẹp con gái Bù NâuCứng cổ Đanh Xá, cơ cầu Quyển Sơn”. (2)

Trang 12

Trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước, người dân làng QuyểnSơn cũng giống như người dân ở nhiều làng quê khác có lòng yêu quêhương đất nước thiết tha Truyền thống yêu nước đã được hun đúc trongsuốt chiều dài lịch sử Song song với truyền thống yêu nước là truyền thốnghiếu học, hiểu biết, ham học hỏi

đỗ, vừng, mía…kết hợp với chăn nuôi gia súc, gia cầm

Trước Cách mạng tháng Tám nhân dân làng Quyển Sơn hầu như chỉcấy được một vụ chiêm, rất hiếm khi cấy được vụ mùa bởi vì thường xuyên

bị lũ lụt hạn hán Ngay cả vụ chiêm cũng dễ mất mùa Tình trạng đó diễn rathường xuyên và rất phổ biến với người dân làng Quyển Sơn Đây là mộttrong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng người nông dân làng QuyểnSơn gặp nhiều khó khăn thiếu thốn trong đời sống trong suốt chiều dài lịchsử

Vụ chiêm cấy các loại lúa nếp hoa vàng, nếp rắng, cườm tép, tép caomại, thòi đường…

Vụ mùa cấy các loại lúa: Tám Xoan, Tám Nghiểm, Nếp Cái (thầudầu, răng ngựa, hạt mây…Lúa tẻ có hai loại lúa cho năng suất cao Loại nếpcái cấy chân ruộng thổ, mật điền năng suất có vụ đạt 1,4 tạ- 1,5 tạ /sào Bìnhquân năng suất là một tạ/ sào Nhìn chung năng suất lúa rất thấp vụ chiêmbình quân năng suất đạt 50- 60 kg/ sào, vụ mùa đạt 40- 50 kg/sào Ngoài cấylúa người dân Quyển Sơn còn làm một số nghề khác như: dệt vải, trồng dâunuôi tăm, làm hàng sáo, nuôi lợn…

Về tằm tang, canh cửi nghề này đã xuất hiện từ hàng nghìn năm nay

ở làng Quyển Sơn Công việc trồng dâu nuôi tằm là một công việc vất vả

Trang 13

nhân dân ta có câu “ nuôi lợn ăn cơm nằm, nuôi tằm ăn cơm đứng” Tuynhiên thu nhập từ nuôi tằm có cao hơn so với làm ruộng Mấy chục năm trởlại đây nhân dân làng Quyển Sơn đã bỏ nghề nuôi tằm tang và thay vào đó

là nghề trồng mía, ngô, đậu các loại…

Ngoài nghề nông nghiệp người dân làng Quyển Sơn còn là các nghềphụ như: nghề thợ mộc, nghề thợ xây Một số người có sức khoẻ thì vàorừng chặt củi về bán để thêm thu nhập

Sau kháng chiến chống thực dân Pháp giành thắng lợi, miền Bắc đượcgiải phóng Miền Bắc đi lên xã hội chủ nghĩa, xây dựng hợp tác xã nôngnghiệp một số ngành nghề mới được phát triển Đồng ruộng được cải tạo,nhiều giống lúa mới được đưa vào sản xuất , năng suất lúa tăng lên đáng kể

1.5 Văn hóa, tín ngư ỡng, phong tục, tập quán

1.5.1 Phong tục, tập quán.

Quyển Sơn là một làng quê bán sơn địa trong vùng đồng bằng sôngHồng Vì vậy phong tục, tập quán của làng Quyển Sơn về cơ bản có néttương đồng với các làng xã khác ở đồng bằng Bắc Bộ nói chung và ở KimBảng nói riêng Ở làng Quyển Sơn có tục khao vọng, tục mừng thọ, tínngưỡng thờ Thành Hoàng làng, thờ tổ tiên, tục hút thuốc lào, tục nhuộmrăng ăm trầu….như nhiều làng xã khác thuộc đồng bằng Bắc Bộ

Một trong những phong tục, tập quán lớn có tính chất bao trùm lêntoàn bộ đời sống vật chất tinh thần của cộng đồng cư dân làng xã Quyển Sơnnói riêng của người Việt nói chung là phong tục trồng cấy lúa nước QuyểnSơn là một làng cổ, được hình thàng từ rất sớm trong lịch sử Người dân nơiđây đã biết trồng cấy lúa nước, cùng những cây hoa màu như: ngô, lạc,vừng, khoai, sắn… từ hàng nghìn năm qua Phong tục trồng cây lúa nước đã

có ảnh hưởng đến đời sống, tình cảm, cùng hàng loạt những phong tục,tậpquán, lối sống, tôn giáo, tín ngưỡng của cư dân nơi đây Tất cả đã được hátDậm ghi nhận, phản chiếu qua nhiều lời ca, nhiều làn điệu

Trang 14

Trước tiên là việc hỷ: về cơ bản các bước dẫn đến hôn nhân của đôinam nữ làng Quyển Sơn không có khác biệt nhiều so với cac làng quê khác Song trước đây làng Quyển Sơn có tục rước dâu đêm Nhà trai đi đôi tuổihỏi xem cô dâu chú rể có hợp nhau hay không, xem giờ đón dâu rồi thôngtin cho nhà gái biết để chuẩn bị và phối hợp thực hiện Đến giờ tốt ngày tốt,một- hai vị đại diện của nhà trai dẫn chàng rể cùng một số người là cô, dì,chú, bác, anh, em của chàng rể đến nhà gái đón dâu Do tiến hành đón dâuvào ban đêm cho nên số lượng người tham dự không đông, khách khứa,nghi thức đơn giản, ăn uống qua loa gọi là có, chứ không linh đình như đámcưới ban ngày Khoảng hơn ba chục năm trở lại đây tục rước dâu đêm ở làngQuyển Sơn đã chấm dứt.

Tiếp đến là việc hiếu: Về việc hiếu của người dân làng Quyển Sơn thờixưa cũng có nét riêng so với việc hiếu ở các làng lân cận Khi gia đình cóviệc hiếu khi cha, mẹ qua đời thì phải đốt pháo lúc chuẩn bị đưa linh cữu rakhỏi nhà Rồi khi bốc mộ, cải cát cũng có nhà đốt pháo Vì người dân làngQuyển Sơn cho rằng làm như vậy là để xua tan âm khí, sát trùng

Về ẩm thực: người dân làng Quyển Sơn có những net đặc thù riêng sovới nhiều địa phương khác Đó là mốn “ tái chó”phần đông dân làng đềuthích thú với món “ tái chó” Vì người ta không nấu thịt chó chín hẳn màchỉ dùng nhiệt độ là cho nó chín khoảng 60% Họ nấu món tái chó có kèmvới các gia vị như: giềng, mẻ, xả, rau mơ, rau húng, óc chó hấp khi ăn

1.5.2 Tôn giáo, tín ngưỡng.

Đời sống tâm linh của người dân làng Quyển Sơn khá phong phú và phứctạp Ngoài tín ngưỡng thờ gia tiên ông bà, cha mẹ Người dân làng QuyểnSơn còn thờ thần, Phật, thờ Mẫu, thờ Thành Hoàng làng tại các đình chùa,đền, miếu Trước năm 1945, làng Quyển Sơn có hai ngôi chùa thờ Phật, thờMẫu, là chùa Giỏ và chùa Trung; một ngôi đình thờ Thành Hoàng làng làđình Trung; một ngôi đền thờ thần; một ngôi miếu thờ Long Thần Hầu hếtcác ngôi đình, đền, chùa, miếu…đều quay quần xung quanh núi Cấm

Trang 15

Nổi bật trong thế giới tâm linh của người dân làng Quyển Sơn là thờ đathần, trong đó tôn giáo và tín ngưỡng đan xen vào nhau đến mức khó có thểphân biệt được rạch ròi Chùa Giỏ thờ ông Phật Giỏ, thờ Tam Bảo…ChùaTrung thờ Phật cũng thờ Tứ Phủ ở cạnh bái đường, gọi là “ tiền thần hậuPhật”; đền Trúc thờ nhân vật lịch sử nhưng cũng thờ hai vị nữ thần của địaphương, có nguồn gốc tự nhiên; miếu thờ Long Thần- vị thần có chức năngtrông nom huyệt Đế Vương trên đỉnh núi Cấm; đình Trung thờ ThànhHoàng làng, song vào dịp lễ hội, người dân làng Quyển Sơn cũng rước bài

vị Phật, Mẫu, Thần ở chùa, đền, miếu về hội tế Cho đến nay tính chất đanxen vẫn còn hầu như nguyên vẹn, không bị thay đổi, mai một hay mất đi Đó

là nét đặc sắc của tôn giáo, tín ngưỡng ở Quyển Sơn

có lời ca “ Dẹp quỷ liên ma”; làn điệu Phong ống có lời ca “ Sát quỷ trừma”….Hàng loạt các nghi lễ chủ yếu là nghi lễ Sa Man Giáo (phù thuỷ)được tiến hàng như: yểm bùa, trấn trạch, đốt pháo, cung tên, gươm giáo Tín ngưỡng thờ nữ thần: Thờ nữ thần, thờ mẫu là một trong những tínngưỡng phổ biến ở Đông Nam Á, của người Việt Cư dân làng Quyển Sơn là

Trang 16

một trong những làng quê ở đồng bằng Bắc Bộ tôn thờ nữ thần Mặc dù nóchưa trở thành một tôn giáo song tín ngưỡng thờ nữ thần, thờ Mẫu vẫn rấtđược người nông dân tôn sùng Hát Dậm có một số làn điệu trực tiếp hoặcdán tiếp nói đến hiện tượng thờ nữ thần như: Trấn ngũ phương, Hoá sắc Ởlàn điệu Trấn ngữ phương “ Tôi mời ngũ phương thần kì” (tôi mời ba vị nhàvua); Hoá sắc “ Rước lấy ba vị đứ vua về hộ làng đây…” Ba vị nhà vua ởđây là ba vị Thành Hoàng làng được thờ ở đình Trung, đồng thời cùng là ba

vị thánh được thờ ở đền Trúc Vị thứ nhất là Lý Thường Kiệt, vị thứ hai làHoàng Thái Hậu, vị thứ ba là Hoàng Công Chúa Dân làng Quyển Sơn vẫnquen gọi là “ ba vị Đại vương” Theo truyền thuyết “ Núi Cấm và hát DậmQuyển Sơn” kể lại Hoàng Thái Hậu và Hoàng Công Chúa là hai vị nữ thần

đã từng âm phù giúp Lý Thường Kiệt chiến thắng quân Chiêm Thành ởChâu Hoan, Châu Ái Điều đó cho thấy dân làng Quyển Sơn đã từng thờ hai

mẹ con Hoàng Thái Hậu làm thần trước khi thờ Lý Thường Kiệt Khi LýThường Kiệt qua đời dân làng Quyển Sơn đã thờ ông ở đền Trúc làm Thánh;làm Thành Hoàng làng ở đình Trung, đồng thời cũng thờ hai vị nữ thần.Ngoài ra dân làng Quyển Sơn còn thờ Long Thần ở ngôi miếu sau đền Trúc.Tương truyền đây chính là vị thần long giữ huyệt Đế Vương trên đỉnh núiCấm Long có nghĩa là rồng (thần mưa) Cư dân nông nghiệp hay thờ vị thầnmưa đó

Tín ngưỡng thờ Thành Hoàng làng: Thành Hoàng làng là vị thần đượcthờ ở đình làng, là ông vua tinh thần của làng xã Tín ngưỡng thờ ThànhHoàng làng có nguồn gốc từ Trung Quốc, được truyền vào Việt Namkhoảng thế kỉ VII, dưới thời nhà Đường, Sách Việt điện u ninh do Lý TếXuyên biên soạn thời trần có ghi rõ “ viên quan đô hộ của nhà Đường đãdực theo mô hình thần điện Trung Quốc mà phong cho thần sông Tô Lịch là

Đô phủ Thành hoàng thần quân ” (1) [28; Tr 23]

Đến thế kỉ XV, khi vường triều Lê Sơ đề cao Nho giáo, thì tín ngưỡngthờ Thành Hoàng làng phát triển phổ biến Làng xã nào cũng xây cất đình

Trang 17

làng để thờ Thành Hoàng làng Nhà nước không cấm mà còn phong sắcphong cho các Thành Hoàng, chính thức hoá nghi lễ thờ Thành Hoàng theođiển lễ Nho giáo, qua đó quản lý làng xã chặt chẽ hơn Hát Dậm là hệ thốngcác nghi lễ, các trò chơi, biểu diễn nghệ thuật để thờ cúng, tưởng niệmThành Hoàng làng Lý Thường Kiệt cùng hai nữ thần Ban đầu dân làng thờ

ba vị ở đền Trúc Đến thế kỉ XV, khi có đình làng rồi thì dân làng thờ ba vị

ở cả hai nơi Rất nhiều làn điệu hát Dậm có lời ca ca ngợi công đức củaThành Hoàng làng Cả ba vị Thành Hoàng làng với vị trí cao thấp khác nhau

sẽ đem đến cho dân làng nhiều điều tôt lành , may mắn, phúc lộc đề huề, xuađuổi điều xấu, điều không may, những rủi do…Niềm tin của dân làng vào vịThành Hoàng làng thật to lớn Rõ ràng lễ hội hát Dậm phản ánh quá trìnhxác lập giao thoa giữa tín ngưỡng thờ Mẫu, thò nữ thần

Tín ngưỡng thờ Thánh: Tín ngưỡng thờ Thánh tại đền Trúc của nhândân làng Quyển Sơn thuộc lớp văn hoá cổ, có thứ bậc cao hơn tín ngưỡngthờ Thành Hoàng làng tại đình Trung, vì vua chỉ có thể phong thần (ThànhHoàng làng) chứ không bao giờ phong Thánh Đối với Thánh vua chỉ có suytôn, tôn vinh Thánh

• Tôn giáo.

Đạo giáo: Đạo giáo có nguồn gốc từ Trung Quốc, được truyền vào nước takhoảng thế kỉ III sau công nguyên Do Đạo giáo về bản chất rất gần gũi vớicác tín ngưỡng bản địa Cho nên khi du nhập vào nước ta Đạo giáo phù thuỷ

đã nhanh chóng hoà nhập vào tín ngưỡng dân gian, cụ thể là hoà nhập vớicác ma thuật yểm bùa, phù chú để phát huy tác dụng trong tầng lớp dânchúng lao động Đạo giáo thần tiên thì biến tướng thành các nghi lễ thờthánh tại các đền, miếu…một trong những biểu hiện đó là thờ Ngọc HoàngThượng Đế, Thái Thượng Lão Quân, Mẫu Liễu Hạnh…Hát Dậm QuyểnSơn có một số làn điệu chứng tỏ Lý Thường Kiệt, Hoàng Thái Hậu, HoàngCông Chúa không chỉ được dân chúng làng Quyển Sơn suy tôn làm ThànhHoàng làng vào thế kỉ XV, mà còn được suy tôn làm Thánh ở đền Trúc vào

Trang 18

cuối Thế kỉ XI Khi sáng tạo làn điệu hát Dậm các nghệ nhân dân gian đãxưng tụng Lý Thường Kiệt là Thánh với tất cả tấm lòng kính trọng, mến mộ.Trong làn điệu Chèo quỳ có ghi “ Bốn mừng Thái Hậu Đế kinh; Tôi đã độiđức Thánh minh trong triều”; làn điệu Giáo hương “ Mà đời đời tướngtướng; cho Thánh thọ vô cương” Những người có công với làng với nướctrở thành bât tử trong tư duy của nhân dân

Đạo giáo phù thuỷ trong trong hát Dậm qua các làn điệu Trấn ngũphương; Hoá sắc; Phong pháo; Phong ống…Trấn ngũ phương là làn điệunói về thuật dùng bùa để trấn trạch, dùng diêm sinh, cung tên, dao kéo đểdiệt trừ ma quỷ của thầy phù thuỷ, tẩy trừ điều xấu, điều dữ, đón điều lành,điều may Làn điệu Phong pháo, Phong ống ngoài ý nghĩa mô phỏng tiếngpháo ngoài mặt trận, mô phỏng tiếng sấm gọi mưa, ngoài ra còn có mụcđích dùng diêm sinh để thanh trừ ma quỷ Làn điệu Hoá sắc chứa nội dungtrừ ma quỷ bằng bùa phép của Thái Thượng Lão Quân- Giáo chủ Đạo giáo Đạo Phật: Làng Quyển Sơn cũng như nhiều làng quê ở đồng bằng Bắc

Bộ dân chúng tin theo đạo Phật rất đông Điều này đã được chứng minhthông qua lễ hội hát Dậm Quyển Sơn Đây vừa là một lễ hội đồng thời làmột dân ca nghi lễ Hát Dậm có một số làn điệu chứa đựng liên quan đếnPhật Giáo, đáng kể các làn điệu như: Phong pháo, Giáo hương Trong lànđiệu Giáo hương cho thấy việc lên chùa, lễ phật cầu lành, cầu may, cầu nhânduyên là một sinh hoạt văn hoá tương đối nhộn nhịp của mọi tầng lớp nhândân trong làng:

“ Vào chùa thụ oản trở ra về Gặp khách tình nhân

Lê quẩn, lê quân

Hoa nở mùa xuân….”

(Trích làn điệu Giáo hương)

Nho giáo: Lễ hội hát Dậm Quyển Sơn trong đó có một số làn điệu dân

ca khẳng định vai trò của Nho giáo trong việc trừ ma quỷ, trong tế lễ Thành

Trang 19

Hoàng làng Các trình tự Sơ hiến lễ, Á hiễn lễ và Chung hiến lễ đều cónguồn gốc từ cácn nghi thức tế lễ do vua tiến hành ở nhà Thái miếu, tuynhiên có giản lược đi đôi chút cho phù hợp với lễ hội dân gian Các nghithức trong lễ hội Hát Dậm Quyển Sơn đều có liên quan đến các điển lễ màChu Công thời Tây Chu (Trung Quốc) đã đặt ra, sau đó được Khổng Tử, rồiTrình Hiệu, Chu Đôn Di kế thừa và nâng cao

Tóm lại, từ thế kỉ XI trở đi, không chỉ một tôn giáo hay một tín ngưỡng

cụ thể nào mà là cả ba tôn giáo, ba hệ tư tưởng hiện đại, hoà quyện vàonhau, cùng với tín ngưỡng dân gian tác động ảnh hưởng đến đời sống vănhoá tinh thần của người dân làng Quyển Sơn, thể hiện qua lễ hội hát DậmQuyển Sơn

Tiểu kết chương I

Nằm trong cái nôi của văn minh sông Hồng làng Quyển Sơn là một làng

cổ, giàu truyền thống văn hoá Sự lưu truyền các di tích và các giá trị vănhoá truyền thống của địa phương đã thể hiện điều đó Làng Quyển Sơn vớinhững di tích lịch sử núi Cấm, đền Trúc, đình Trung, chùa Giỏ …đã đi vàolịch sử dân tộc Qua đó ta có thể hiểu được phần nào về lịch sử, văn hoá làngQuyển Sơn, góp phần hiểu thêm lịch sử văn hoá dân tộc

Là một làng cổ, có bề dày văn hoá dân gian, sơn thuỷ hữu tình LàngQuyển Sơn đã trở thành địa danh có sức lôi cuốn mạnh với nhiều du kháchthập phương Nơi đây đã thu hút rất nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà nho… đếnviếng thăm, ngắm cảnh, làm thơ, vịnh cảnh về núi Cấm và các địa danh củalàng Quyển Sơn

Làng Quyển Sơn là là một làng nhất xã nhất thôn, lớn nhất nhì huyệnKim Bảng, tỉnh Hà Nam Cơ cấu làng xã ở Quyển Sơn ta có những néttương đồng với nhiều làng xã khác ở đồng bằng Bắc Bộ Cơ cấu tổ chức cónhiều thiết chế đã xen trong đó Giáp giữ vai trò quan trọng, đặc biệt là giáptrưởng

Trang 20

Về phong tục, tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng làng Quyển Sơn cũng cónhững nét tương đồng giống như nhiều làng quê khác ở đồng bằng Bắc Bộ.Tuy nhiên về phong tục tập quán ở làng Quyển Sơn cũng có những nét khácbiệt như tục rước dâu vào ban đêm, tục lệ ăn món “tái chó”… đây là nhữngphong tục, tập quán riêng tạo nên sự độc đáo trong văn hoá ở làng QuyểnSơn

Cùng với sự đa dạng trong đời sống kinh tế, với sức mạnh của tinhthần cố kết cộng đồng, gắn bó mọi người dân, mọi tầng lớp trong làng ỞQuyển Sơn đã là nên một kho tàng văn hoá quý báu văn hoá quý báu về cảvật chất lẫn tinh thần với đặc trưng riêng của Quyển Sơn Đó là nhữngphong tục thuần hậu, chất phác, mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc, làtruyền thống yêu nước, truyền thống văn hiến, văn hoá dân tộc, văn hoá ứng

xử và đời sống sinh hoạt tinh thần phong phú Vì vậy không ai bảo ai nhưngngười dân làng Quyển Sơn luôn luôn tâm niệm, gìn giữ và phát huy nhữngtruyền thống tôt đẹp của quê hương làng xóm Nổi bật nên trong đó là lễ hộihát Dậm Quyển Sơn

Trang 21

CHƯƠNG II

LỄ HỘI HÁT DẬM QUYỂN SƠN

2.1 Khái niệm lễ hội.

Lễ hội dân tộc là một truyền thống lâu đời , là mộ sinh hoạt có giátrị nghệ thuật thẩm mỹ trong đời sống nhân dân lao động ngày nay ở mọimiền đất nước “ Lễ hội cổ truyền là một hoạt động sinh hoạt văn hoá dângian mang tính dân tộc sâu sắc Đây là một hoạt động văn hóa có bề dầy lịch

sử, đa dạng, phong phú và phức tạp Lễ hội cổ truyền gồm ba thành tố: lễ,hội, phong tục, đan chéo nhau hoà quện vào nhau, gắn bó cùng phát triểntrong mối tương giao chặt chẽ” (1) [19; tr 9]

Trong truyền thống xưa và nay, làng là môi trường sinh thành của lễhội Nói đến hội làng có thể hiểu ngay đó là lễ hội được tổ chức ở làng.Làng cơ sở, là gốc của xã hội người Việt là một kết cấu có tính cộng đồngcao: cộng đồng lãnh thổ; cộng đồng kinh tế (tự cấp, tự túc); cộng đồng vănhoá Nền tảng của hội làng, trước hết là do con người muốn dâng thần linh,cáo trình kết quả công việc làm ăn của mình Tính thiêng liêng của nó là dolòng thành kính và mọi hành vi trong quá trình từ lúc chế biến đến lúc dâng

lễ do con người tạo ra Đồng thời đây cũng là một dịp để con người tự hào

về thành quả lao động và tài năng chế biến sản phẩm của mình Ban đầu lễhội không thể xã dời không gian và thời gian cư trú cùng hoạt động kiếmsống của con người Tín ngưỡng dân gian cũng có vị trí quan trọng, như nềntảng tư tưởng lễ hội cổ truyền Con người ban đầu sùng bái tự nhiên qua tụcthờ đá, thờ Mặt Trời, thờ nước…Bởi ánh sang mặt trời và nước là hai yếu tốkhông thể thiếu trong nghề nông nghiệp trồng lúa nước Đặc biệt tín ngưỡngphồn thức cũng xuất hiện cùng nội dung cầu mùa nông nghiệp: con người,gia súc, cây trồng Là cư dân nông nghiệp nên trước hết lễ hội của cư dânhướng về nội dung nông nghiệp Trong quá trình vận động và phát triển củalịch sử dân tộc Việt Nam, nhân dân ta luôn phải chiến đấu chống giặc ngoại

Trang 22

xâm, bảo vệ nền độc lập dân tộc Vì vậy nhu cầu giữ nước đã được phản ánhsâu sắc trong lễ hội, nhất là các làng thuộc trung du và đồng bằng Bắc Bộ.

“ Là một dân tộc bị xâm lược và chống ngoại xâm thường xuyên nênchiến tích các anh hùng lịch sử được người dân tuyên dương ghi nhận Lễhội thêm nội dung mới, tưởng niệm anh hùng có công dựng nước và giữnước” (1) [15; tr 36]

Làng là môi trường nuôi dưỡng, gìn giữ và phát huy truyền thống của

lễ hội theo một thiết chế nhất định Người dân trong cộng đồng làng xã lànhững người có đóng góp rất lớn cho sự thành công của lễ hội Do đó hộilàng thu hút mọi lứa tuổi, mọi lớp người Nó mang tính quần thể sâu sắc,hoà hợp giữa con người với con người, con người với môi trường sống Nókhông chỉ có giá trị tuyên truyền giáo dục, giải trí, mà còn luôn luôn bảolưu các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc

Tóm lại, hội làng là một sinh hoạt cộng đồng kết tinh nhiều bìnhdiện: kinh tế, chính trị, văn hoá, tôn giáo, nghệ thuật…lễ hội bộc lộ tinh thầncao cả, nghiêm túc; trang trọng và bình dị, thiêng liêng và trần tục…Trongkhông khí tưng bừng giữ khung cảnh của cờ quạt nghi trượng, giữa âmthanh sôi động rền vang của chiêng trống và nhất là giữa tấm lòng nồngnhiệt hưởng ứng của toàn thể dân làng Tất cả đều xuất phát từ nhu cầu cuộcsống, từ sự tồn tại và phát triển cho cả làng, sự bình yên cho từng cá nhân,niềm hạnh phúc cho từng gia đình, sự vững mạnh cho từng dòng họ, sự sinhsôi của gia súc, sự hội tụ của mùa màng…

Lễ hội truyền thống của nhân dân ta từ xưa đã gắn bó một cách trựctiếp với nghề nông nghiệp trồng lúa nước Đó là lễ hội nông nghiệp, vìchúng bắt nguồn từ những cư dân với nền văn minh nông nghiệp lúa nước,diễn ra trong không gian và một thời gian nhất định

Thông thường hội làng được mở vào mùa sản xuất nên gọi là hội mùa.Khi lúa mùa cấy xong, vụ gặt chưa tới, bão lũ qua đi chúng ta có hội mùathu Khi đã cấy song lúa chiêm, trời đất kết thúc vòng quay bốn mùa cũng là

Trang 23

lúc nông nhàn là thời điểm các làng xã mở hội mùa xuân Một bức tranh dângian Đông Hồ, nhan đề “du xuân đồ” (bức vẽ chơi xuân) đã ghi bốn câu thơNôm:

“ Thái bình muôn thủa

Nô nức quyết xã gần Nhạc dâng ca trong điện Trò thưởng vật ngoài sân”

Bốn câu thơ đã diễn tả hội xuân truyền thống với tế, lễ, nhạc ca, đấuvật, có văn, có nghệ, có võ đều đủ cả Ngày nay khi nói đến hội hè đình đám

là nói đến hội xuân, là nghĩ đến mùa xuân Do đó tháng Giêng, tháng hai,tháng ba là các tháng chảy hội xuân, nhân dân khắp các vùng đều nô nứcchảy hội trong không khí linh thiêng của lễ hội và sự nhộn nhịp say mê,cuốn hút của các trò diễn trong lễ hội

Lễ hội ca ngợi một anh hùng dân tộc, anh hùng văn hoá, giáo dụclòng yêu nước, chí căm thù, truyền thống lịch sử của dân tộc Do đó lễ hộigóp phần tạo nên truyền thống tôn thờ anh hùng dân tộc, ngược lại thì truyềnthống tôn thờ anh hùng dân tộc đã là cho nhiều ngày hội thực sự trở nên có ýnghĩa biểu hiện tâm hồn tình cảm và củng cố lòng tự hào về truyền thốngcủa cha ông, về văn hiến dạng rỡ lâu đời của dân tộc Do đó “ Lễ hội khôngphải là một hoạt động rời rạc, bột phát Lễ hội là hoạt động chiều sâu củalịch sử, có chiều rộng không gian, hội gắn với đời sống tâm linh của dântộc” (1) [4; tr 65]

Việc thờ phụng anh hùng lịch sử ở các đình, đền của làng từ Nam đã thể hiện ý thức của nhân dân ta về sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổquốc từ xưa đến nay Đó là một tín ngưỡng có cơ sở xã hội rộng rãi, có nộidung tích cực Ở Vĩnh Phúc, Phú Thọ có trên 700 nơi thờ các vua Hùng, các

Bắc-vị khai sáng văn hoá và các anh hùng lịch sử của nước Văn Lang- Âu Lạc.Cũng ở nơi đây có trên 200 nơi có đền thờ Hai Bà Trưng và các tướng lĩnhcủa hai bà Ở các tỉnh Hà Nam, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Hải

Trang 24

Phòng, Quảng Ninh …có hàng mấy trăm nơi thờ Trần Quốc Tuấn và cáctướng lĩnh, chiến sĩ của ba lần kháng chiến chống quân xâm lược MôngNguyên.

“ Có thể nói rằng việc thờ phụng anh hùng lịch sử, danh nhân vănhoá… và việc mở lễ hội nhằm tôn vinh các vị anh hùng, danh nhân văn hoá

ở khắp nơi trên đất nước ta là một nét độc đáo của văn hoá Việt Nam, thểhiện một sức mạnh tinh thần của nhân dân ta Đó chính là một chất keo gắn

bó mọi người Việt Nam chúng ta thành một dân tộc thống nhất Đó chính làmột trong những biểu hiện nổi bật của bản sắc văn hoá Việt Nam ” (1) [5; tr95- 96]

2.2 Nguồn gốc của lễ hội Quyển Sơn

Theo truyền thuyết kể lại lễ hội Quyển Sơn xuất hiện từ thời Lý vàonăm 1069, quân Chiêm Thành theo đường biển vào cướp phá vùng biển ảiChâu Hoan, Châu Ái của Đại Việt Quân Đại Việt trấn thủ hai châu dù rất cốgắng, cũng không đủ sức chống lại, khiến dân chúng lâm vào tình cảnh loạnlạc, chết chóc, ly tán Tin đó bay đến kinh thành Thăng Long, nhà vua sai LýThường Kiệt đem quân đi đánh quân Chiêm Thành Đại quân đi bằng đườngthuỷ theo sông Đáy ra cửa biển Thần Phù (nơi giáp gianh giữa Nam Định vàNinh Bình), sau đó theo ven biển vào Châu Hoan, Châu Ái Khi đoàn chiếnthuyền đi đến khúc ngoặt của trại Canh Dịch, dưới chân núi Cấm (nay thuộc

xã Thi Sơn), thì có một trận cuồng phong nổi nên làm cho đoàn người dù cốgắng hết sức cũng không thể đi tiếp được Trận gió đã cuốn cột buồm củachiến thuyền chỉ huy của Lý Thường Kiệt, cuốn là cờ của ông lên chừngnúi Ông cho quân ghé thuyền vào bên bờ hữu ngạn sông Đáy rồi lên núixem tình hình Trước mắt ông chỉ thấy núi cao và cây cối um tùm, rừng trúcxanh rợp bốn bề yên tĩnh đến kì lạ Ngài sai quân hạ trại sửa sang lễ vật tựmình viết và đọc văn tế trời đất, xin thần linh phù hộ để đánh thắng quânChiêm Thành Đêm hôm ấy, Lý Thường Kiệt cùng quân lính ngủ lại trong

Trang 25

doanh trại dưới rừng trúc Trong giấc mơ Lý Thường Kiệt đã gặp hai mẹcon vị thần mách bảo cách đánh thắng quân Chiêm Thành.

Buổi hành quân hôm sau, của quân đội nhà Lý rất thuận lợi, chỉtrong một thời gian ngắn đã đến Châu Hoan, Châu Ái.Cách đánh của quânĐại Việt, theo lời dặn của chủ tướng Lý Thường Kiệt như trong giấc mơ củaông đã có kết quả làm cho quân giặc hốt hoảng bỏ chạy toán loạn Quân nhà

Lý đại thắng, giặc Chiêm Thành buộc phải đầu hàng

Trên đường về kinh thành Lý Thường Kiệt một mặt sai quân trở vềThăng Long báo tin cho triều đình, mặt khác ông cho dừng đoàn thuyền ởdưới chân ngọn núi mà gió lớn đã từng cuốn ngọn cờ của mình Lý ThườngKiệt cùng một số người thân cận lên rừng trúc xem xét tình hình rồi ông choquân dựng doanh trại ngay tại đấy Ông sai quân mổ trâu, bò, lợn, gà sửa lễlớn để tạ ơn trời đất, đặc biệt là tạ ơn vị thần đã giúp ông đánh thắng trận,kết hợp khao thưởng tướng sĩ Dân chúng tại trại Canh Dịch cùng được mờiđến chung vui Lễ mừng công kéo dài hàng tháng trời Trong lễ hội, các bôlão trong Canh Dịch đã chọn vài chục chàng trai, cô gái trẻ; các chàng traithì đánh vật bơi chải dưới sông Đáy, các cô gái hát múa một số làn điệu dân

ca địa phương, nghe tình tứ êm ái Một số người khác thì chơi cờ người,chọi gà, thi đấu vật, thi thổi cơm…Khung cảnh diễn ra nhộn nhịp đông vui,náo nhiệt nhằm ca ngợi chiến công to lớn của nghĩa quân đã đánh thắngquân Chiêm Thành, thể hiện ước mơ một cuộc sống no đủ

Sau lễ hội, Lý Thường Kiệt đã cùng một số tướng lĩnh đi dạo chơitrong rừng trúc, bỗng gặp một ngôi đền nhỏ, cổ kính rêu phong, ngoảnh nhìn

về hướng Bắc Trong đền có ghi bài vị “ Hoàng Thái Hậu và Hoàng CôngChúa”, không biết có nguồn gốc từ thời nào Ông cho rằng đó là những thầnlinh đã từng giúp mình thắng trận Vì vậy Lý Thường Kiệt đã cho người sửasang lại ngôi đền Ông cho người lập trại ở dưới chân núi làm nơi nghỉ ngơilúc tuổi già

Trang 26

Cứ vào những ngày thư nhàn, Lý Thường Kiệt sai người vào cácnhà dân ở trong Trại Canh Dịch dạy họ cách chăm sóc ngô, lúa, tằm tangcanh gửi Nghề trồng dâu nuôi tằm ở trại Canh Dịch bắt đầu có từ đó Để ghinhớ công lao của Lý Thường Kiệt dân làng đã dựng đền thờ ông ngay tạinền của ngôi đền cũ Đền ngoảnh hướng Bắc, có dòng sông Đáy chảy qua.Trong đền ngoài bài vị Lý Thường Kiệt được đặt ở gian trung tâm, còn cóbài vị của song thân vị tướng và bài vị của hai mẹ con vị nữ thần ở hai gian

tả hữu Bên cạnh đền Trúc dân làng còn lập một ngôi đình ở giữa làng đểthờ Lý Thường Kiệt làm Thành Hoàng làng gọi là đình Trung (vào thế kỉXV) Cách đình trúc vài trăm mét có dựng một đền nhỏ gọi là đình Trầndùng để tế lễ mỗi khi rước kiệu từ đền Trúc về đền đình Trung vào dịp hộilàng Hàng năm dân làng Cuốn Sơn mở hội để tưởng nhớ công đức LýThường Kiệt trong hai ngày mồng 5 tháng 2 âm lịch và ngày 2 tháng 5 âmlịch đặt tên là hai ngày (Đại kì Phúc) Đây là hai ngày đại thắng của quânđội nhà Lý chiến thắng quân Chiêm Thành do Lý Thường Kiệt chỉ huy Saunày dân làng chỉ mở hội vàp dịp đầu năm mới để tưởng nhớ công lao của LýThường Kiệt Vào ngày hội dân làng tổ chức tế lễ, múa hát Dậm, bơi trải,đấu vật, múa lân, chọi gà, cờ tướng…lễ hội được tổ chức trang trọng, thànhkính, đông vui, náo nhiệt

2.3 Quy trình tổ chức lễ hội

2.3.1 Thời gian không gian của lễ hội Quyển Sơn.

Lễ hội hát Dậm Quyển Sơn là một lễ hội truyền thống, được tổ chứcđầu tiên tại đình Trung (đình Cháy), sau đó là ở đền Trúc, vào thời điểm từngay mồng 1 tháng 2 âm lịch đến mồng 10 tháng 2 âm lịch hàng năm.Nhưng trên thực tế ngay sau Tết Nguyên Đán, khi công việc đồng áng đã ổnđịnh nhân dân làng Quyển Sơn đã bắt đầu chuẩn bị cho lễ hội Từ sángmồng 1 đến mồng 10 tháng 2 âm lịch là những ngày lễ hội chính thức được

mở Lễ hội được tổ chức ở đền Trung từ ngày mồng 1 đến ngày mồng 6, sau

đó tổ chức ở đền Trúc từ mồng 7 đến mồng 10 Chiều mồng 10 thì kết thúc

Trang 27

đóng cửa đình Trong ngày đầu và cuối của lễ hội, lễ rước chân nhang Phật

ở hai ngôi chùa, thần ở đền về hội tế ở đình Trung, vì vậy không gian lễ hội

mở rộng tới 7 xóm quanh núi Cấm Hàng năm qua, lễ hội Quyển Sơn vẫndiễn ra theo một trình tự thời gian, không gian địa điểm như vậy, không thayđổi, hoặc thay đổi không đáng kể Về thời gian và không gian diễn ra lễ hội

ở làng Quyển Sơn cũng giống như thời gian và không gian của nhiều lễ hộikhác ở đồng bằng Bắc Bộ, Bắc trung Bộ như hát Xoan (Phú Thọ), hát Quan

Họ (Bắc Ninh), hát Đo, hát Vè (Hà Tây)…

Từ sau năm 1945, sau khi thực dân Pháp đã cho đốt cháy đìnhTrung Vì vậy dân làng Quyển Sơn chỉ tổ chức lễ hội Hát Dậm ở đền Trúc

từ ngày mồng 1 đến ngày 6 tháng 2 âm lịch, ít hơn 4 ngày so với trước đây.Trong lễ hội một số trò chơi có bỏ đi và không gian tổ chức lễ hội cũng thuhẹp hơn, chỉ giới hạn ở chân núi Cấm và khúc sông Đáy trước cửa đền Trúc

Trong thời gian tổ chức lễ hội từ mồng 1 đến mồng 6 vào các buổisáng dân chúng tổ chức tế lễ vào các buổi sáng, vào buổi chiều tổ chức thiđấu, biểu diễn các trò chơi Sự phân đinh thời gian đó không mang tính rạchròi mà xâm nhập vào nhau Trong lễ có hội và trong hội có lễ

2.3.2 Hoạt động chuẩn bị cho lễ hội.

2.3.2.1 Chuẩn bị lễ vật.

Để có lễ vật tiến dâng thần linh trong mười ngày diễn ra lễ hội, đặcbiệt là trong sáu ngày đầu từ mồng 1 đến mồng 6 Dân làng Quyển Sơn thựchiện phân bổ theo giáp, theo đầu đinh Là một làng quê lớn và đông dân vàoloại nhất nhì tỉnh Hà Nam, Quyển Sơn có bốn giáp, mỗi giáp có mấy trămxuất đinh, do một vị quan viên đứng đầu điều hành gọi là Giáp trưởng vàohội mỗi giáp phải chuẩn bị một mâm lễ vật thịnh soạn bao gồm: thịt lợn (sỏlợn thiến đen tuyền), thịt gà (là gà sống thiến hoặc gà mái tơ), xôi, oản, chè

đỗ xanh, bánh trưng, bánh giày, hương hoa, rượu như lễ làng quy định,không được phép thiếu vắng, chậm trễ Vì năm nào làng cũng mở hội, nămnào cũng phải có lễ vật dâng cúng thần linh, cho nên giáp trưởng phải lựa

Trang 28

chọn cách phân bổ sắm sửa lễ vật theo xuất đinh trong giáp theo vòng tròn.Mỗi lần mỗi lần một số đầu đinh của từng gia đình cụ thể, hết vòng lại phân

bố lại từ đầu Những gia đình goá bụa, không có con trai thì không phảigánh vác công việc trên

Do thời gian tổ chức lễ hội theo đinh kì hàng năm cho nên ngay saukhi vãn hội, giáp trưởng đã phải thông báo danh sách những đầu đinh đếnphiên phải đóng góp lễ vật cho hội làng vào năm sau, để họ cùng gia đìnhchuẩn bị nuôi gà, nuôi lợn, trồng cấy lúa nếp, đậu xanh…

Lễ vât đem dâng thần được quy đinh rất chặt chẽ, nghiêm ngặt Lợndâng thần phải là lợn ỷ thiến đen tuyền, béo nục, chứ không thể là lợnkhoang đen trắng, loang nổ như lợn Thái Bình, hay lợn móng cái; gạo nếpphải là gạo nếp quýt hay nếp cái hoa vàng, hạt gạo to đều, mười hạt như mộtchứ không có tình trạng hạt to hạt nhỏ; đậu xanh phải là đậu hạt tiêu, đều,nhiều bột, độ ngậy cao Gạo nếp và đậu xanh dùng để gói bánh chưng, bánhgiầy, đò xôi, nấu chè, đóng oản Bánh chưng kích cỡ 20x20, phải được góibằng lá dong bánh tẻ, to bản, màu xanh thẫm, không bị rách hay bị xước.Lạt buộc bánh phải đước chẻ tư ống giang bánh tẻ, dóng dài được luộc quanước sôi, hong khô rồi đem nhuộm phẩm hồng Nhân bánh chưng được làmbằng đậu xanh, thịt ba chỉ thái nát mỏng, có chộn thêm ít bột hạt tiêu Bánhgiày được chế biến công phu, khuôn hình bầu dục, màu trắng mịn, to bằngcái mâm đồng, bên trong co nhân đậu tằm và đường phèn màu nâu đậm.Vàng hương, rượu, trầu cau, phải được chọn lọc cẩn thận Đầu đinh nào, giađình nào vi phạm quy định đó sẽ bị trách phạt Chỉ trường hợp có sự cố dothiên tai như lợn gà bị toi, dịch, lúa đậu mất mùa, gia đình phải trình báo vớilàng, được các quan viên làng xã cho phép mới được mua các thứ trên ởchợ, hay ở người khác, để thay thế

Lễ hội Hát Dậm làng Quyển Sơn kéo dàii 10 ngày nhưng chỉ có haingày là quan trọng đó là ngày (Khai hội) là ngày mồng 1 tháng 2 âm lịch vàngày mồng 6 (ngày việc làng)

Trang 29

Ngay từ chiều ngày 30 tháng giêng và mồng 5 tháng 2 âm lịchnhững gia đình thuộc diện đóng góp lễ vật cho làng đã xem giờ để chế biếnthực phẩm với tinh thần khẩn trương và cầu kì nhất Sáng mồng 1 và mồng

6 các gia đình cử người đội các mâm lễ vật ra đình Tại đình đã có các vịquan viên, chức sắc, chức dịch như tiên chỉ, lý trưởng, phó lý…tiếp nhận đặt

lễ lên ban thờ trung tâm trình diện Thành Hoàng làng Thông thường người

ta chỉ dâng tiến Thành Hoàng làng mâm xôi, sỏ lợn, bánh chưng, bánh giày,rượu, trầu cau và vàng hương mà thôi

Những mâm cỗ dâng cúng, phải để ở đó chừng ba giờ Khi các quanviên dâng cúng, tế lễ xong, mới được hạ ban Lúc đó các chức sắc, chứcdịch chấm cỗ đinh thứ bậc, nhì, ba, tư Sau đó giữ lại một số để khao vọngcác quân viên và họ Dậm, còn những lễ vật khác thì cho gia chủ đem về.Dưới sự hướng dẫn của giáp trưởng các gia đình đem chia đều cho các đầuđinh, gọi là “ thụ lộc thánh”, cầu may, cầu phúc Người dân trong làng tinrằng, được hưởng những thứ đó thì trong năm đó họ sẽ gặp may mắn, thuậnlợi Những ngày tiếp theo ở đình Trung và đền Trúc quan viên chỉ dâng lễvật chay tịnh, không kèm theo đồ mặn Lễ vật nói chung không cầu kì linhđình như hai ngày lễ trọng mồng 1 và mồng 6

2.3.2.2 Luyện tập tế lễ, rước kiệu, múa hát Dậm

Khi tiến hành lễ hội dù ở Quyển Sơn hay bất kì một làng xã nàokhác ở đồng bằng Bắc Bộ thì việc tế lễ, rước kiệu bao giờ cũng được coi làmột việc quan trọng Hoạt động tế lễ và rước kiệu bao giờ cũng được coi làmột hoạt động đặt ra yêu cầu là phải nghiêm chỉnh, thành thạo Do đó phảiluyện tập trước khi tổ chức lễ hội

Ở làng Quyển Sơn việc luyện tập cho lễ hội diễn ra từ rất sớm, một

số tổ hội, nhóm hội như các quan viên trong ban tế lễ, phường bát âm,phường trống, họ Dậm, phường chèo, phường bơi chải đã luyện tập từ đầutháng Giêng

Trang 30

Luyện tập tế lễ.

Trong lễ hội Quyển Sơn, khi mở hội Dậm, công việc tế lễ ThànhHoàng làng và các thần linh luôn được nhìn nhận là công việc hệ trọng.Công việc đó từ hàng ngàn năm nay vẫn do các quan viên Kỳ mục như Tiênchỉ, Chánh hội, Thứ chỉ, Lý trưởng, Phó lý và các thành viên hội tư văn đảmnhiệm Thông thường, ban tế của làng có trên 20 người, đều là nam giới,tuổi từ bốn mươi tuổi trở nên bao gồm: chủ tế, bồi tế, đông xướng, tâyxướng, nội tán và các chấp sự Chủ tế thường do tiên chỉ đảm nhiệm, trongtrường hợp tiên chỉ ốm đau,vắng mặt, thì thứ chỉ thay thế Đây là người cóvai trò chủ chốt trong buổi tế lễ, cho nên ngoài động tác đi đứng khoan thai,đĩnh đạc, còn phải thêm điều kiện vợ chồng xong toàn, con trai, con gái đầy

đủ Sau chủ tế có một đến hai bô lão làm bồi tế Theo quy ước bồi tế đứngsau chủ tế mà làm theo Đi sau chủ tế và bồi tế có hai người làm đông xướng

và tây xướng, đứng hai bên nghi án để xướng lễ nghi Dân làng thường gọihai người này là (thông xướng)và (hoạ hưng) Bên tả và hữu của chủ tế cóhai vị quan viên làm trợ tán, có nhiệm vụ dẫn chủ tế đi ra đi vào chi nhịpnhàng, đúng quy cách tăng vẻ long trọng Phía sau chủ tế và bồi tế có 16- 20chấp sự, đứng cách đều ở hai bên, theo hàng thẳng, ngoài sân đình, mặthướng vào chủ tế và hương án thờ Thành Hoàng làng Họ có nhiệm vụ dângrượu, dâng hương chuyển văn tế

Dưới sự chỉ dẫn của tiên chỉ, các quan viên trong ban tế chăm chútập từng bước đi, từng dáng đứng, từng động tác, cử chỉ dù nhỏ nhất, trêntinh thần cẩn trọng, nghiêm túc Mỗi buổi tập ở sân đình, các thành viên ban

tế lễ chỉ nghỉ giải lao ít phút, sau đó lại tiếp tục tập tiếp Việc luyện tập kéodài hai ba tuần lễ, từ mồng 10 tháng Giêng cho đến hết tháng Giêng.Khoảng 5 ngày trước khi hết tháng, các quan viên luyện tập tế lẽ đan xenvới múa hát Dậm, bởi vì trong hai ngày đại lễ vào mồng 1 và ngày mồng 6tháng 2 âm lịch, lệ làng đòi hỏi phải có sự kết hợp giữa tế lễ và múa hát thờthần ở mức hoàn thiện nhất có thể để khi vào lễ hội không bị mắc lỗi

Trang 31

Luyện tập múa hát Dậm.

Để hội làng diễn ra thành công, cũng như các quan viên trong ban tế

lễ, họ Dậm cũng tổ chức luyện tập, thời gian luyện tập khoảng ba tuần, từmồng 6 tháng Giêng cho đến hết tháng, chủ yếu là vào buổi chiều vàonhững ngày cuối tháng họ Dậm múa đan xen với tế lễ, dưới sự chỉ đạo củatiên chỉ tại đình làng

Tham dự luyện tập, ngoài bà Trùm (là một phụ nữ đứng tuổi), háthay, thuộc nhiều làn điệu, từng trải, lịch lãm, kinh tế gia đình khá giả, họDậm còn có từ 16 đến 20 cô gái son trẻ, thanh tân, mới được múa hát nơicửa đình, cửa đền Vì vậy năm nào bà Trùm hát Dậm cũng phải tuyển chọnthêm những cô gái mới lớn thay thế cho những cô gái đã đi lấy chồng Việcluyện tập diễn ra rất nghiêm túc ở đền Trúc, do ở đình đã có quan viên tập tế

lễ Vào những buổi tập luyện, Bà Trùm phải chỉ bảo từng lời ca điệu múa,uốn nắn từng động tác cho các cô gái

Luyện tập bơi trải, rước kiệu và một số trò chơi khác.

Là một hội làng có quy mô tương đối lớn, lễ hội hát Dậm không chỉ

có tế lễ, rước kiệu, múa hát Dậm mà còn có bơi trải, múa lân, tổ tôm, múarối…Vì vậy muốn lễ hội thành công, các phường hội phải luyện tập

Tại hội Dậm Quyển Sơn, bơi trải được xem là trò chơi, trò thi đấuthể thao vào loại đông vui, náo nhiệt đứng sau rước kiệu Thiếu trò bơi trảihội Dậm sẽ không đông vui và được xem là không thành công Do đó ngay

từ mồng 10 tháng Giêng hàng năm, bốn thuyền đua của bốn giáp, dưới sựchỉ dẫn của bốn quan viên thạo nghề sông nước, đã luyện tập ở khúc sôngĐáy trước cửa đền Trúc Tham dự luyện tập trên mỗi thuyền đua là các đinhtráng, ai nấy đều khoẻ mạnh, tháo vát, nhanh nhẹn Họ luyện tập rất hăngsay, từ tư thế ngồi, vị trí ngồi, động tác sải thay chèo, động tác bẻ lái, láchtrườn, tất cả đều được thế hệ trước chỉ bảo, uốn nắn tận tình, tỉ mỉ, chu đáo.Nhằm mục đích để thăm dò địa hình, chỗ nông, chỗ sâu, chõ nước chảy xiết,chỗ nước chảy yếu, phát hiện các trướng ngại vật để tháo gỡ như bèo tây,

Trang 32

rau muống, rong đuôi chó, rong tóc tiên…Ngoài ra luyện tập là để cho quentay, đều nhịp, đẩy thuyền đua nhanh hơn.

Công cụ để bơi chải, để đấu chải là những con thuyền và nhữngchiếc dầm, gọi là tay chèo Tất cả đều được làm bằng gỗ tốt, có khả năngchịu nước Vì mỗi năm làng tổ chức lễ hội một lần vào thời gian và địa điểm

đã định sẵn, cho nên ngay từ tháng 10 âm lịch, các giáp đã chủ động đóngthuyền mới hoặc sửa chữa thuyền cũ Mỗi giáp một thuyền, cộng với mộtthuyền của giám khảo là năm thuyền Cả năm con thuyền đều được ghépbằng ba tấm gỗ dài, nên có tên là (thuyền tam bản) Phía mũi các conthuyền đều trang trí hoa văn hình đầu rồng - một biểu tượng rất gần gũi củacác cư dân lúa nước và sông nước

Cũng như tế lễ, múa hát Dậm, việc tập luyện bơi chải đến cuốitháng Giêng là tạm ổn Sức người đã dẻo, tay dầm đã đều, các chàng trai bơisải đã sẵn sàng cho một cuộc thi đấu hào hứng quyết liệt

Cùng thời điểm trên, một số phường hội như phường chèo, phườngđồng văn (phường trống), phường bát âm, phường hát tuồng, hội cờ…cũngbắt đầu tổ chức diễn tập Phường chèo thường luyện tập các vở Lưu Bình –Dương Lễ, Trương Viên, Suý Vân giả dại, Quan Âm Thị Kính ; phườngđồng văn tập đánh trống rước, trống đổ hồi, trống tế…phường bát âm luyệntập các làn điệu lưu thuỷ hành vân phục vụ cho rước kiệu và tế lễ

Từ ngày 27 tháng Giêng, Hội tư văn và các Kì dịch đã bắt đầu tổchức rước kiệu, đây là công việc to lớn và phức tập hơn cả Nó chỉ được tiếnhành sau khi công việc tế lễ, múa hát Dậm, bơi chải đánh trống, hát tuồng,hát chèo đã tương đối thành thục, công việc này có ý nghĩa như là một cuộctổng diễn tập Mục đích của việc rước kiệu là cho nghi lễ hoàn chỉnh, đảmbảo tính chất trang trọng, thiêng liêng, đông vui, tránh những thiếu xót xảy

ra khi lễ hội diễn ra

Thông thường mộ lễ hội bao gồm nhiều công đoạn, trong đó côngđoạn rước kiệu được coi là một công đoạn phức tạp nhất Ý thức được điều

Trang 33

đó hội tư văn và các kì dịch, kì lão trong làng Quyển Sơn đã cắt cử một quanviên thông hiểu phong tục để để điều hành là người điều hành chương trình(tạm thời) Để công việc thành công, trong những buổi tập người ta dùngđầy đủ các nghi tượng như rước kiệu thực Dưới sự chỉ huy của quan viên,thường là tiên chỉ hay thứ chỉ trong làng, cuộc diễn tập diễn ra theo trình tự:

đi đầu là đội múa kì lân, tiếp theo là phường đồng văn, với các loại trống,tiếp đến là các đội vác chấp kích, bát bửu và kiệu hình bầu dục, có thêudòng chữ “ Thượng đẳng tối linh thần”, sau đó là phường bát âm, sau đếnkiệu long đình, cuối cùng là các quan viên, bô lão và dân làng Đám rướcQuyển Sơn có tới bốn kiệu long đình, một kiệu rước thần vị Lý ThườngKiệt, một kiệu rước chân nhang chư Phật từ chùa Giỏ, một kiệu rước chânnhang song thân Lý Thường Kiệt, một kiệu rước chân nhang Phật từ chùaTrung Hoà, hoà nhập thành dòng, hướng về đình Trung (đình Cháy) ở giữalàng Về đến Đình thì hội tế cầu phúc, cầu an, cầu thịnh Việc luyện tậpthường kéo dài 3- 4 ngày thì thành thạo Dân làng Quyển yên tâm bắt tayvào mở hội

2.3.2.3 Công tác sửa sang.

Ngay từ cuối tháng Chạp, nhân dân làng Quyển đã lo sửa sang lại,sắm sửa thêm một số thứ cần thiết cho lễ hội như: các đình, chùa, đền,miếu đặc biệt là đình và đền các quan viên Kì mục, Kì dịch cho người xemxét, tìm hiểu cho quét lai vôi trên tường, mại ngói chỗ nào bị dột cho đảo lại,

cờ quạt nếu thiếu chiếc nào thì cho may mới thêm, đồ thờ được lau chùi cẩnthận, kiệu được sơn lại cho mới…

Trong các phường hội cho sắm thêm đạo cụ, quần áo, mũ…Ở cácgia đình thì may trang phục đồ trang sức Nhìn chung không khí làng Quyểntrước và sau tết Nguyên Đán đông vui, náo nhiệt, sôi động Đây là mộtkhông khí phổ biến của nhiều lễ hội ở các làng xã ở đồng bằng Bắc Bộ

• Thành Phần tham dự.

Trang 34

Đối với người dân làng Quyển lễ hội bao giờ cũng là một cái gì đórất thiêng liêng Do đó khi mở hội, tất cả cộng đồng làng xã từ già đến trẻ, từquan viên kì dịch đến người nông dân, già, trẻ, nam, nữ đều nhiệt tình tham

dự Nếu vì một lí do nào đó, một thành viên làng xã không tham dự đượctrong lễ hội, thì suốt năm ấy họ sẽ thấy day dứt không yên

Tham dự nghi lễ Thành Hoàng làng ở đình Trung, ở đền Trúc có cácquan viên như: Tiên chỉ, Thứ chỉ, Chánh hội, Lí trưởng, Phó lí và các thànhviên hội tư văn, tầng lớp trí thức làng xã…

Tham sự trức tiếp múa hát Dậm có bà Trùm và hai mươi cô gáichưa chồng, số lượng linh hoạt nhưng là số chẵn Tất cả tụ họp thành họ gọi

là “ họ Dậm” Bên cạnh những người tham dự tế lễ và múa hát Dậm, còn cómột số người tham gia các trò chơi Số người này đông đảo, thuộc nhiềutầng lớp xã hội khác nhau Bô lão và trung niên thì chơi tổ tôm, đấu cờngười nam thanh niên trai tráng thì thi đấu vật, bơi chải, leo dây múa rối,chọi gà Nữ giới thì hát chèo, cổ vũ các trò thi đấu

tạ và xin mở lễ hội

Lễ mộc dục là thủ tục bắt buộc ở làng Quyển Sơn trước khi mở hội.Tuy nhiên đây chỉ là nghi thức tượng trưng chứ không có thao tác tắm rửathực cho thần Phật như ở chùa Dâu, chùa Đậu, chùa Giàn…

• Cử người viết văn tế.

Trang 35

Trong lễ hội, dù ở làng Quyển hay ở bất cứ làng xã nào của đồng bằngBắc Bộ,tế lễ bao giờ cũng được coi là một nghi thức cơ bản và quan trọng.Không có tế lễ thì không thành lễ hội Muốn tế lễ ngoài lễ vật ra thì không thểthiếu văn tế (văn chúc) được viết bằng chữ Hán theo lối văn biền ngẫu.

Ở làng Quyển Sơn trước khi lễ hội diễn ra khoảng một tuần, cácquan viên đã họp và cử một người trong hội tư văn viết văn tế Người được

cử phải là người giỏi chữ Hán nhất làng, chữ đẹp, nếu trải qua con đườngkhoa cử đỗ đạt quan trường, vợ chồng song toàn, con cái duề huề thì càngtốt Công việc soạn thảo văn tế được gọi là “ tả văn”, người soạn văn tếđược gọi là “điển văn” là người có uy tín trong làng, được dân làng tôntrọng không kém chủ tế

Lễ hội làng Quyển Sơn tuy kéo dài mười ngày, nhưng chỉ tổ chức tế

kì phúc và kì yên vào hai ngày, là ngày mồng 1 và mồng 6 tháng 2 âm lịch

Đó là hai ngày đại tế Từ sáng sớm ngày mồng 1, người ta đã rước một kiệunhỏ đến nhà ông điển văn để rước văn tế, đưa về đình Trung Việc đón rướcvăn tế được tiến hành trọng thể, chứng tỏ lòng ngưỡng mộ chân thành củadân làng đối với Thành Hoàng làng, thần linh

2.4 Phần lễ trong lễ hội hát Dậm Quyển Sơn.

Lễ hội hát Dậm Quyển Sơn, cũng như hầu hết các lễ hội truyềnthống khác ở đồng bằng sông Hồng, về cơ bản được tổ chức theo ba phươngdiện chính là:

- Tế lễ (Tế kì yên, tế kì phúc, đại tế kỳ yên, kỳ phúc)

- Diễn xướng các trò chơi

- Tiệc tùng, ẩm thực, thụ lộc

Trên phương diện tế lễ có các nghi thức sau: rước kiệu, tế lễ (tế lễkết hợp với múa hát Dậm), lễ túc trực, lễ tất, múa hát Dậm thờ Thành Hoànglàng

Trên phương diện diễn xướng có các trò chơi như: bơi chải, đấu vật,

tổ tôm điếm, chọi gà, đấu cờ người, múa lân, múa rối, leo dây…

Trang 36

2.4.1 Rước kiệu

Rước thần là một nghi lễ di chuyển từ đền đến đình, từ đình đến chùa vàngược lại Đây là một nghi lễ trọng thể của lễ hội Đám rước thần trong lễ hộiQuyển Sơn do những đinh tráng trong làng tuổi từ 18 tuổi đến 22 ttuổi đảmnhiệm, không có nữ giới Những đinh tráng được chọn rước kiệu gọi là phu kiệu.Tất cả phu kiệu chịu sự chỉ huy của một người là cai kiệu

Sáng mồng 1 và mồng 6 vào giờ tốt, dưới sự chỉ dẫn của các quanviên, kỳ dịch, kỳ mục, các phu kiệu phường đồng văn, phường bát âm, độicờ… xuất phát từ đình Trung, chia làm ba đám lớn, một đám đên chùaTrung, một đám đến chùa Giỏ, một đám đến đền Trúc, xin cáo yết đưa thần

vị của thần Phật lên long kiệu, rước về đình để hội tế Sáng mồng 7 tháng 2,tất cả các đinh tráng các phường hội lại rước thần vị và chân nhang thần,Phật về an vị chỗ cũ

Trước khi rước thần từ đền Trúc khởi hành, chiêng trống nổi vangrền, pháo nổ đùng đoàng Dứt tiếng pháo, các phu kiệu bắt đầu rước longkiệu từ đền Trúc ra quốc lộ 21 (trước đây là đường cái lớn), sau đó dừng lạichờ đám rước kiệu từ chùa Giỏ đi tới, gặp nhau rồi hai đám hợp lại làm mộtcùng hướng về đình làng Khi đám rước đi đến đình Trần thì dừng lại Một

vị quan viên bưng lễ vật, vàng hương, vào trình báo, rồi mới cho đám rước

đi tiếp (gọi là lễ trình)

Quan sat từ xa đi đầu đám rước là tốp đinh tráng múa kì lân gồmbốn thanh niên, hai người đội đầu kì lân , một người cầm chuỳ đấu võ, mộtngười đi sau nâng tấm vải tượng trưng cho thần kì lân Họ chít khăn đầudầu, mặc quần áo nâu hoặc gụ, thắt lưng vải nhiễu xanh, chân quấn xà cạp,nhìn gọn và khỏe

Tiếp sau tốp múa lân, đến nghi trượng Cũng giống như đám rướclàng Thanh Nộn, làng Phú Viên, làng Đanh Xá….nghi tượng trong đámrước làng Quyển có hai lá cờ Tiết và Mao, tượng trưng cho uy linh củathần, Phật ; sau hai lá cờ là cờ ngũ hành với năm màu xanh, đỏ, trắng, vàng,

Trang 37

đen tượng trưng cho năm chất cơ bản hợp thành vũ trụ Sau cư ngũ hành là

cờ tứ linh, có thêu hình long, ly, quy, phụng

Tiếp sau nghi tượng là đến dàn trống và chiêng Trống đại do hainam thanh niên khiêng, có sơn son thiếp vàng Đi liền với trống là một quanviên, gọi là thủ hiệu có nhiệm vụ tay cầm dùi to, để đánh trống theo quyđịnh giành riêng cho trống rước Song song với trống là chiêng do hai thanhniên khiêng, một thanh niên cầm lọng che đầu Đánh chiêng là một quanviên, vận quần áo xanh, đầu chít khăn đầu rầu, tay cầm dìu để đánh theonhịp đôi cùng với trống cứ một tiếng tùng thì lại có một tiếng cheng, tạo âmthanh vang dội, tạo không khí náo nhiệt

Tiếp sau là đôi ngựa gỗ, kích cỡ to như ngựa thật, một con sơn màu

đỏ, một con sơn màu vàng, được đặt trên bốn bánh xe, có người kéo Sau haicon ngựa là hai cái tán xanh, đỏ do hai người vác Trên mỗi tán đều thêuhình tứ linh

Sau hai cái tán là chấp kích, bát bửu Chấp kích gồm thương, đao,gươm giáo Bát bửu thì có dùi đồng, phủ việt, đàn sáo, lẵng hoa, thư kiếm,quạt…Cả hai thư đều tượng trưng cho quyền lực, uy linh của thần, tựa nhưtay văn, tay võ Đi giữa hai hàng chấp kích, bát bửu là một quan viên mạngchiếc biển đề “ thượng đẳng tối linh thần” hơn chục đinh tráng vác chấpkích, bát bửu ăn vận quần ào the hoặc lục xanh đỏ, đầu đội nón dấu, chânquấn xà cạp Vị quan viên mạng biển hiệu của thần thì mặc áo thụng xanh,quần ống xớ trắng, trên đầu có lọng che

Sau đội chấp kích và bát bửu là đến phường đồng văn (phườngtrống) gồm có cai cai cầm trống khẩu đánh nhịp, một quan viên cầm thanh

la Ngoài ra có khoảng tám đinh tráng đeo trống bản, hai đinh tráng đeotrống cơm Đám rước làng Quyển không có sinh tiền Chừng ấy người đềumặc áo lụa đỏ, quần luạ xanh hoặc đỏ Cả đám vừa đi vừa đánh trống thanh

la theo lối trống rước

Trang 38

Kế tiếp là quan viên mặc quần áo thụng cầm cờ tướng lệnh và mộtquan viên cầm một thanh gươm Cờ và gươm ấy đều tượng trưng cho uyquyền của thần Vì thế nên bên cạnh mỗi quan viên đều có đinh tráng cầmlọng che.

Tiếp theo đến phường bát âm, có tám người với tám loại nhạc cụkhác nhau Người thổi sáo, người kéo nhị, người chơi đàn tam, người đánhtiu, người gõ cảnh, người thổi kèn….Suốt dọc đường họ chỉ tấu hai bản nhác

cổ truyền là lưu thuỷ và hành vân

Kế sau là kiệu long đình Kiệu thứ nhất bầy bài vị Lý Thường Kiệt,kèm theo ngũ quả, hương hoa…kiệu hứ hai bầy bài vị song thân của ngàicùng dầu, rượu, hương hoa, ngũ qủa…kiệu thứ ba bấy bài vị Phật Tam Thế

và Phật Giỏ Kiệu thứ tư bầy bài vị hai mẹ con vị nữ thần là Hoàng TháiHậu và Công Chúa cùng hương hoa…Mỗi kiệu có tám đinh tráng khiêng vàtám đinh tráng dự bị đi cùng Trên mỗi kiệu đều có tám lọng che rất uy nghi.Khoảng cách giữa các kiệu đều có nghi trượng, biển hiệu vua ban Riêngkhoảng cách từ kiệu thứ hai đến kiệu thứ ba chỉ có nghi trượng, không cóbát bửu, chấp kích, thay vào đó là một biển có thêu hình bánh xe luân hồi,biểu tượng thời gian mười đời chín kiếp của con người

Đi sau long kiệu là các quan viên, kì mục, kì dịch, bô lão Ai lấy đầuvận áo thụng quần ống xớ chân đi guốc hoặc đi giầy vải Gia Định, đầu chítkhăn nhiễu tam giang hình chữ nhân Liền sau họ là các tín lão phụ nữ, trẻ

em số lượng rất đông đảo Đám rước với sắc màu rực rỡ, không khí náonhiệt đông vui

Đám rước thần trong lễ hội hát Dậm làng Quyển Sơn về cách thức

tổ chức và kết về cơ bản giống các đám rước trong lễ họi làng Thanh Nộn,làng Phú Viên, làng Đang Xá…Tuy nhiên đám rước lễ hội làng Quyển cũng

có nhiều điểm khác biệt so với các lễ hội khác Chẳng hạn không có diễnxướng các động tác liên quan đến tín ngưỡng phồn thực như hội làng Đồng

Kỵ, Quế Võ (Bắc Ninh), làng Dị Lâu (Phú Thọ)

Trang 39

2.4.2 Tế lễ.

Khi đám rước kiệu về đế đình Trung, thì cũng là lúc nhóm đinhtráng đi rước văn chúc từ nhà ông điển văn về đến nơi Cuộc tế lễ ThànhHoàng làng bắt đầu được tiến hành với những nghi thức trang trọng nhất Sốlượng các quan viên tham dự tế lễ khoảng hơn hai chục người với các thànhphần trong làng xã Về y phục theo quy ước của làng chủ tế mặc áo lụa đỏ,quần cũng bằng lụa đỏ, độ mũ đỏ, chân đi hia đen Bồi tế ăn vận trang phụcgiống hệt chủ tế Đông xướng, tây xướng mặc quần áo the đỏ, áo lụa xanh,đầu đội mũ đỏ, chân đi hia đen Các chấp sự mặc quần áo lụa ống sớ màutrắng , áo nhiễu tím than, chân đi hia đen, đội mũ xanh không trang trí hủphù như chủ tế Tất cả đều uy nghi nghiêm, long trọng họ lần lượt đứng vào

vị trí đã được phân công Nghi thức tế lễ được cử hành trọng thể khoảng mộtcanh rưỡi Bao gồm các nghi thức sau:

2.4.2.1 Lễ nghênh thần.

Đông xướng - củ soát lễ vật (kiểm tra lại các lễ vật) đã bầy biện đầy đủthịnh soạn chưa Chủ tế cùng hai trợ án đi xem xét lại một lượt, nếu thấy đầy

đủ rồi thì thôi, còn nếu thiếu lễ vật thì cho tìm lễ vật bổ xung Xong việc chủ

tế và hai trợ tán tở lại vị trí của mình

Đông xướng - Khải sắc (mở hòm sắc, lấy thần phả và sắc phong của thầnra) Chủ tế có hai trợ tán giúp đỡ mở hòm lấy sắc phong của thần ra để tuyênđọc trang trọng

Đông xướng- Chấp sự giả các tư kì sự (các vị thủ hiệu, người đánhchiêng ra bái trước hương án, rồi trở về vị trí của mình)

Đông xướng- Nhạc sinh tựu vị! (phường bát âm vào trước hương án báiThành Hoàng làng) rồi tất cả phường trở về quê cũ

Tây xướng- họ Dậm tựu vị Bà Trùm cùng hơn trục gái Dậm họ Dậm vàobái lạy trước hương án thần Tây xướng- Hưng bình thân! Họ Dậm trở về vịtrí quy định Đông xướng- Khởi hương chĩnh cổ tam liên đánh chiêng trống

Trang 40

Chiêng trống luân phiên nhau dóng lên ba hồi Không khí trong đình nghiêmtrang hẳn.

Đông xướng- Nhạc sinh khởi nhạc (tấu nhạc) Phường bát âm tấu bảnnhạc lưu thuỷ Đông xướng - Niệm hương đăng tựu vị (những người thắphương đăng ra mắt thần) Hai trợ án bước lên trước hương án bái lạy rồi trở

về chỗ cũ

Đông xướng- Chủ tế, bồi tế tựu vị (chủ tế, bồi tế ra mắt Thành Hoànglàng) Đông xướng ,Tây xướng dời vị trí Một quan viên thay Đông xướng

hô Sau đó chủ tế đi cách điệu trở lại vị trí của mình

2.4.2.2 Khởi tuần hương đăng

Đông xướng tiến đăng vị tiền thắp đèn, nến Chủ tế thắp đèn, nến hai trợ

án thận trọng đỡ đèn, nén từ tay chủ tế, kính cẩn đặt nên bàn thờ ThànhHoàng làng Tây xương- Phủ phục (cúi lạy) Chủ tế cùng hai trợ án đều cúilạy bốn lần, hai tay chắp vào nhau tạo thành búp sen

Đông xướng - Thượng hương vị tiền (thắp hương) Chủ tế thắp hương, haitrợ án đỡ những nén hương từ tay chủ tế, kính cẩn cắm lên bát hương thờThành Hoàng làng Đông xương- Phủ phục (cúi đầu xuống) Chủ tế và haitrợ án đều cúi đầu thấp xuống

Đông xướng- Cúc cung bái (xướng bốn lần, lạy bốn lần) Tây xướng hưngbình thân (đứng dậy) Chủ tế và các trợ án đứng dậy Đông xướng phục vịtrở về chỗ cũ Chủ tế, các trợ án về đúng vị trí quy định, chờ hiệu lệnh

2.4.2.3 Sơ hiến lễ

Đông xướng- Hành sơ hiến lễ (dâng rượu tuần đầu) Nhạc bát âm tấuđiệu lưu thuỷ trống, chiêng dóng theo nhịp Chủ tế, bồi tế, các trợ án, cácchấp sự đều rót rượu vào ly, hai tay nâng đài ngang mặt vẻ kính cẩn Theonhịp trống, cac chấp sự đi cách đều hàng ngang, hàng dọc, tưng bước cáchđiệu trịnh trọng, từ ngoài sân đình hướng vào gia trung tâm, nơi đặt hương

án Thành Hoàng làng

Ngày đăng: 23/04/2015, 21:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Xuân Đính: Phép nước lệ làng. NXb Hà Nội, 1984 Khác
2. Bùi Xuân Đính: Bàn về mối quan hệ giữa làng xã- quy mô cấp xã thời phong kiến. NXb Thế giới, Hà Nội, 1998 Khác
3. Bùi Đình Thảo: Hát Dậm Quyển Sơn. Tạp chí Sông Châu, số 1, 1997 Khác
4. Đăng Văn Lung: Từ văn hoá truyền thống và hiện đại. NXb Khoa học xã hội, 1997 Khác
5. Đinh Gia Khánh: Văn hoá dân gian Việt Nam. Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội, 1995 Khác
6. Đinh Hữu Thiện: Hát Dậm Quyển Sơn và danh tướng Lý Thường Kiệt. Tạp chí sông Châu số 29, Hà Nam, 2001 Khác
7. Đỗ Hạ, Quang Vinh: Các lễ hội truyền thống Việt Nam. NXb Thanh Hoá, Thanh Hoá, 2006 Khác
8. Đỗ Văn Rỡ: Nghi thức lễ hội truyền thống Việt Nam. NXb TP Hồ Chí Minh, TP HCM, 1997 Khác
9. Đỗ Văn Thọ: Hát Dậm Quyển Sơn. Tạp chí VHTT Hà Nam số 45, 1997 Khác
10. Hoàng Xuân Hãn: Lý Thường Kiệt- Lịch sử ngoại giao và tôn giáo thời Lý . NXb Hà Nội, 1996 Khác
11. Lại Văn Toàn, Trần Thị Băng Thanh (chủ biên)Tần tích, thần sắc Hà Nam. NXb Khoa học xã hội, 2004 Khác
12. Lê Hữu Bách: Hát Dậm Quyển Sơn. Tạp chí văn hoá nghệ thuật số 5, 1998 Khác
13. Lê Hữu Bách: Hát Dậm Quyển Sơn, một loại hình nghệ thuật nguyên hợp. Tạp chí VHTT Hà Nam, số 6, 1998 Khác
14. Lê Hữu Lê: Khảo cứu về lễ hội hát Dậm Quyển Sơn. NXb Thế giới, Hà Nội, 2006 Khác
15. Lê Vũ Tung: Hội làng- hội lễ. Tạp chí Văn học dân gian, số 1, 1984 Khác
16. Nguyễn Từ Chi: Cơ cấu tổ chức làng Việt cổ truyền . NXb Văn hoá dân tộc, 1986 Khác
17. Nguyễn Quang Lê: Lễ hội cổ truyền nội dung lịch sử và phương pháp khai thác sử liệu. Luận văn thạc sĩ ĐHSP Hà Nội, 1995 Khác
18. Nguyễn Quang Lê: Văn hoá ẩm thực trong lễ hội truyền thống Việt Nam. NXb Văn hoá thông tin, 2003 Khác
19. Nguyễn Hữu Thu: Hát Dậm Quyển Sơn kho tàng các lễ hội cổ truyền Việt Nam. Tạp chí văn hoá nghệ thuật, NXb Văn hoá thông tin, Hà Nội, 2001 Khác
20. Phan Đại Doãn: Mấy vấn đề về văn hoá làng xã Việt Nam trong lịch sử. NXb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w