Trong những năm qua, văn hoáChăm đã được các nhà khoa học trong và ngoài nước quan tõm nghiên cứu.Đặc biệt về nghề gốm cổ truyền của người Chăm ở Bầu Trúc – đay là một disản văn hóa độc
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
Đất nước ta đang trong qua trình mở cửa và hội nhập vào nền kinh tếthế giới Chỳng ta đang tích cực thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đểphát triển đất nước Tuy vậy, bên cạnh các ngành công nghiệp hiện đại đòihỏi trình độ khoa học kỹ thuật cao, nhà nước cũn rất quan tõm đến việc pháttriển các ngành nghề thủ công truyền thống Đặc biệt việc quan tõm pháttriển các làng nghề truyền thống có một vai trò rất quan trọng
Trong bối cảnh kinh tế nước ta hiện nay, việc tồn tại của các làng nghềthủ công truyền thống có một vai trò quan trọng Nó góp phần giải quyết việclàm cho lao động, tăng thêm thu nhập cho người dõn Đồng thời một số làngnghề không chỉ có vai trò về mặt kinh tế mà cũn có vai trò về mặt văn hoá.Làng gốm Chăm Bầu Trúc là một điển hình Người Chăm là một dõn tộcthiểu số có khoảng trên 100 ngàn người và hiện nay họ vẫn cũn bảo lưu nhiềutập tục truyền thống mang bản sắc riêng Trong những năm qua, văn hoáChăm đã được các nhà khoa học trong và ngoài nước quan tõm nghiên cứu.Đặc biệt về nghề gốm cổ truyền của người Chăm ở Bầu Trúc – đay là một disản văn hóa độc đáo của dõn tộc Làng gốm Chăm không phải chỉ là một làngnghề đơn thuần mà cũn là một điểm đến cho du khách tham quan nữa Sự tồntại và phát triển của làng nghề gốm Chăm Nầu Trúc có ý nghĩa quan trọng cả
về kinh tế và văn hoá, đòi hỏi phải có sự quan tõm đúng mức của Đảng vànhà nước
Vơi lý do trên, em chọn đề tài “ Bước đầu tìm hiểu về làng gốm của người Chăm ở Bầu Trúc” làm đề tài tiểu luận của mình
Trang 2PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – XÃ HỘI VÀ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH
VÀ PHÁT TRIỂN LÀNG GỐM CHĂM BẦU TRÚC
1.1 Điểu kiện tự nhiên và xã hội.
1.1.1 Điều kiện tự nhiên.
Thôn Bầu Trúc nằm chung trên toạ độ địa lý tỉnh Ninh Thuận ở giữa vĩ tuyến
11018’ và 12002’, giữa đông kinh tuyến 108035’ và 109015’ Thôn BầuTrúc nằm cạnh quốc lộ 1A, cách thị xã Phan Rang 9km về hướng Nam ThônBầu Trúc, phớa Nam giáp thị trấn Phú Qúy, phớa Đông giáp Quốc lộ 1A vàphớa Tõy giáp đường sắt Bắc Nam
Thôn Bầu Trúc mang khí hậu chung với khí hậu của cả tỉnh Ninh Thuận
Ở đây có hai mùa rõ rệt: Mùa mưa bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 11 và mùa khôbắt đầu từ tháng 12 đến tháng 8 năm sau Trữ lượng mưa thấp chỉ mưa 60 ngàytrong thời gian 3 tháng mùa mưa trong năm Trữ lượng mưa trung bình hàngnăm rất thấp 695mm/ năm Nhưng do địa hình là một lòng chảo lại được baobọc bởi những dãy núi dựng đứng xung quanh vì vậy ở đây thường xuyên xảy ra
lũ lụt Ngược lại mùa khô thì lại rất nóng và kéo dài trong khoảng 9 tháng Mùakhô ở Việt Nam nói chung thường có hai ngọn gió là gió mùa Đông Bắc và TâyNam đem lại mưa cho các tỉnh trong cả nước nhưng ở Ninh Thuận lại bị chắnbởi các dãy núi cao xung quanh nờn giú bị suy yếu dần và không có mưa
Nằm trên vị trí bán sơn địa, thôn Bầu Trúc nằm ở cuối của đồng bằngPhan Rang, chỉ cách chõn núi khoảng 5km và cách biển 5 km đường chim bay
Do vậy dù đất đai ở Ninh Thuận khô cằn và bạc màu bởi nắng và gió nhưngđất ở thôn Bầu Trúc vẫn tương đối màu mỡ Bên cạnh đó dòng phù sa bồi tụlõu năm đã tạo thành các lớp đất sõu ở các triền sông, hình thành các mỏ đấtsét mịn màng hiếm có.Đõy chính là điều kiện để phát triển nghề gốm Chăm ở
Trang 3đõy Như vậy với những điều kiện tự nhiên như vậy tạo điều kiên cho ngườiChăm ở đõy vừa làm nông nghiệp vừa phát triển nghề gốm trong đó nghề gốm
có một vai trò đặc biệt quan trọng
1.1.2 Điều kiện xã hội.
a Thành phần dân số, dân cư.
Theo số liệu thống kê năm 1999, dân số Ninh Thuận hơn 500 ngàn người,trong đó có 52 ngàn người Chăm, chiếm 10,8% dân số toàn tỉnh, riờng thụn BầuTrúc là một làng trong tổng số 22 làng người Chăm ở Ninh Thuận Thôn BầuTrỳc cú tất cả 460 hộ với 2748 ngàn người Trong đó có 85 hộ người Kinh với
số dân 460 người Thôn Bầu Trúc có dân số trẻ, lực lượng lao động dồi dào
Tổng số người mù chữ là 315 người chiếm 11,4%
Nằm trên địa bàn thôn Bầu Trúc cũn có một trường phổ thông cơ sởPhước Dõn 3 (trường cấp xã) có 10 phòng học, 600 học sinh Và một trườngphổ thông cấp III An Phước (trường cấp huyện) có 20 phòng học, 1000 họcsinh Đây là điều kiện thuận lợi cho con em làng Bầu Trúc nõng cao trình độhọc vấn
Điều kiện tự nhiên và xã hội ở Bầu Trúc rất thuận lợi cho việc phát triểnnghề gốm Ở đõy có sẵn vật liệu tự nhiên, khí hậu khô nóng, ít mưa rất thuậnlợi cho việc làm gốm Làng gốm lại gần đường giao thông rất thuận lợi choviệc lưu thông gốm trên thị trường Về điều kiện xã hội, ở đõy lực lượng laođộng dồi dào lại thuần nhất về dõn tộc, hơn nữa lao động nữ nhiều hơn nam(nhõn lực làm gốm chớnh là nữ) nên càng có điều kiện thuận lợi cho việc pháttriển làng nghề gốm Tuy vậy trình độ học vấn ở đây chưa cao nên khó khăn
Trang 4trong việc nõng cao tay nghề, mở rộng, phát triển gốm Chăm theo hướng côngnghiệp hoá.
1.2 Lịch sử hình thành và phát triển làng nghề
1.2.1 Tên gọi của làng nghề
Làng Bầu Trúc có tên gọi gốc theo tiếng Chăm là Paley Hamu trok, cónghĩa là Làng trũng hay làng nhô ra ở phần cuối triền sông (Paley = làng,Hamu = ruộng, Trok = cuối hoặc lồi ra) Về sau năm 1964 xảy ra một trận lụtlớn ở Phan Rang, dõn ở đây chuyển ra địa điểm mới hiện nay, nơi đây có rấtnhiều trúc nên gọi là Bầu Trúc Từ đó người ta dùng tên gọi Bầu Trúc để chỉtên của làng gốm của người Chăm Paley Hamu Trok
Tên hành chính của làng gốm Bầu Trúc là Vĩnh Thuận Đõy là tên gọiđược đặt ra từ trong cải cách Minh Mạng (1832) và hiện nay vẫn được dùnglàm tên trong quản lý hành chớnh
Như vậy hiện nay Bầu Trúc có ba tên gọi: Tên gốc của người Chăm làPaley Hamu Trok, tên dõn gian thường gọi la Bầu Trúc và tên trong giấy tờhành chính là Vĩnh Thuận
1.2.2 Lịch sử hình thành và phát triển nghề gốm.
Người Chăm Bầu Trúc thuộc dũng Chăm vùng núi và biên mà ngày nay
họ còn được thể hiện rừ trong tục cúng tế tổ tiên dũng núi (Atõucơk) và dòngbiển (Atõu tathik) Trong thời gian chiến tranh giữa Chămpa và Đại Việt đặcbiệt là thời kì Minh Mạng người Chăm bị xáo trộn rất nhiều, nhiều người phải
ly tán lên rừng, đến thời Tự Đức đã ra lệnh khoan hồng nên người Chăm lại trở
về cư trú, sinh sống như bình thường cho đến nay
Hiện nay người Chăm Bầu Trúc tự nhận là con chỏu của Pô Klong chan
- một quan cận thần của vua Chăm Pô Klong Garai (1151 – 1205) Họ kể rằngchính ông tổ Pô Klong Chan đã giúp dõn Bầu Trúc thoát khỏi cảnh đói nghèo,đưa dõn làng đến định cư ở cánh đồng “Hamu Trok” và dạy cho dõn đào đất
Trang 5sét, làm gốm Do đó họ coi Pô Klong chan là ông tổ nghề của họ và lập hẳnmột đền thờ ngài
Cư dõn Paley Hamu trok đã định cư ở một cánh đồng trũng, nhưng từsau nạn lụt năm 1964, cư dõn đã chuyển đến ở tại một gò đồi cao bên cạnh mộtbầu nước và có rất nhiều Trúc gọi là Bầu Trúc
Từ năm 1832 làng được lấy tên trên giấy tờ hành chớnh là Vĩnh Thuận
Từ đó đến nay làng Vĩnh Thuận có nhiều biến đổi trong việc phõn chia trựcthuộc địa giới hành chính, có lúc thuộc phủ Bình Thuận, có lúc thuộc phủ NinhThuận, đạo Phan Rang…Từ 1954 – 1975 trong nền cộng hoà của Mỹ - Nguỵthì Vĩnh Thuận lại thuộc quận An Phước tỉnh Ninh Thuận
Năm 1976, theo chủ trương của Đảng và Nhà nước, hai tỉnh Ninh Thuận
và Bình Thuận sáp nhập với nhau thành tỉnh Thuận Hải, Vĩnh Thuận lại thuộchuyện An Sơn
Đến năm 1992, tỉnh Thuận Hải tách thành hai tỉnh Ninh Thuận và BìnhThuận như cũ thì địa danh Vĩnh Thuận chính thức được đổi thành Khu 7, thịtrấn Phước Dõn, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận
Mặc dù trải qua nhiều biến chuyển trong lịch sử nhưng hiện nay trongtõm thức dõn làng thì vẫn giữ nguyên địa danh truyền thống là “Paley HumaTrok” hoặc “paley Ngak Gok” (nghĩa là làng làm gốm) Cũn nhõn dõn quanhvùng thì vẫn quen với tên gọi là Làng gốm Bầu Trúc
Trang 6Chương 2
MỘT SỐ NÉT VỀ NGHỀ GỐM CỦA NGƯỜI CHĂM Ở BẦU TRÚC
2.1 Một vài nét về gốm Bầu Trúc.
Nhõn dõn Ninh Thuận luôn tự hào về làng gốm Bầu Trúc, đây là mộttrong hai làng gốm cổ xưa nhất Đông Nam Á Theo những nghiên cứu củakhảo cổ học, nghề làm gốm của người Chăm đã có cách đõy từ 3500 – 4000năm Người Chăm gọi nghề gốm là nghề làm nồi với vật liệu chính là đất -tượng trưng cho đất Mẹ (mẫu hệ), mọi công đoạn đều làm bằng tay (thể hiện
sự tôn kính)
Một điều đặc biệt là những nghệ nhân gốm ở đay lại là những phụ nữ và
họ giữ nghề theo lối “mẹ truyền con nối” Các bà mẹ thường dạy con mìnhthành những thợ gốm tài năng khi con gái họ lên mười Tất cả phụ nữ Chămđều biết làm gốm Người phụ nữ khi đi lấy chồng pahỉ biết làm đầy đủ các sảnphẩm gốm thiết yếu
Nghề làm gốm ở Bầu Trúc có một điểm khác biệt nữa so với các lànggốm khác Khi các làng nghề hiện nay hầu như đề sử dụng phổ biến bàn xoaythì ở đõy người phụ nữ vẫn dùng hoàn toàn bằng tay Người dõn Bầu Trúc đãdùng đôi bàn tay khéo léo của mình, những vũng tre và những vỏ sò để tạo ranhững tác phẩm vô giá Không giống như những làng gốm của người Kinh,người Chăm để sản phẩm trên một chiếc đế rồi dùng đôi tay khéo léo và đôichõn nhịp nhàng đi xung quanh để tạo dáng cho sản phẩm gốm Để tạo ra sảnphẩm gốm của mìn người Chăm đã sử dụng những công cụ hết sức thô sơ: vảiquận, vòng quơ, vòng cạ, con kê…
Từ những sản phẩm như nồi, lọ, bình, chậu… làng gốm Bầu Trúc hiệnnay cũn tạo ra những sản phẩm gốm vừa hấp dẫn về hình dáng vừa tao nhã vềcông dụng và nghệ thuật trang trí Kế thừa những tinh hoa của nghệ thuật tạo
Trang 7hình, nét đặc trưng của nền văn hóa của tổ tiên… nghệ nhân nghề gốm BầuTrúc đã biết tạo ra những sản phẩm không chỉ đơn thuần phục vụ cuộc sống
mà cò tôn vinh giá trị văn hóa độc đáo của dõn tộc mình Đó là những chiếcbình tựa vũ nữ Apsara, những khung cảnh tế lễ khắc hoạ trên vai, trên nồi haykhuôn mặt những vị thần linh chạm khắc trên sản phẩm như làm tăng thêm néthuyền bí cho đồ gốm Chăm Bầu Trúc
Một số đặc điểm của gốm Chăm Bầu Trúc.
Đồ gốm có kích thước lớn nhất là lu có chiều cao 12cm, đường kớnhmiệng gốm 50cm, và loại có kích thước nhỏ nhất là nồi có chiều cao 20cm,đường kớnh miệng 20cm
Phần lớn gồm chăm Bầu Trỳc cú đỏy trũn, miệng loe và miệng khum thấp.Xương gốm Bầu Trúc tương đối dày, hơi thô do khi làm gốm có trộnnhiều loại cát nhỏ vào đất sét Xương gốm Bầu Trúc không chặt, mịn cũn dotrong quá trình làm gốm người thợ chỉ sử dụng bàn đạp nhẹ bằng tay Họkhông sử dụng bàn đập bằng gỗ, đá như các làng gốm khác
Đồ gốm chăm Bầu Trúc cũn có loại có chõn đế Các loại đồ này đều sửdụng phương pháp trổ lỗ gắn kết Loại đồ này thường xuất hiện ở các loại cóhình dáng kích thước nhỏ, số lượng ít như lò nấu củi, nấu than, nồi hấp…
Gốm không có lò nung cố định mà nung ngoài trời (lộ thiên) Do đónhiệt độ nung không ổn định, phụ thuộc vào thời tiết Từ đó đưa đến các đặcđiểm khác của gốm Bầu Trúc là: khi gốm chưa đủ độ chín thì sản phẩm gốm sẽ
có thõn màu đen, không bền khi sử dụng dễ bị vỡ; nếu gốm nung đúng độ chínthì thõn gốm màu đỏ hồng, loại này sử dụng rất bền và chắc
Phần trang trí gốm Bầu Trúc chủ yếu trang trí ở đồ đựng, các loại đồ đunnấu không có trang trí hoa văn Hoa văn trang trí phổ biến là hoa văn thực vật,không có hoa văn động vật
Trang 8Túm lại, gốm Bầu Trúc là loại gốm cổ truyền, hiện nay họ vẫn cũn bảolưu kỹ thuật truyền thống của riêng mình Tuy nhiên trong quá trình vận động,gốm Bầu Trúc có sự thay đổi về loại hình sản phẩm nhưng không đáng kể.
2.2 Quy trình làm gốm Bầu Trúc.
Muốn chế tác một sản phẩm gốm hoàn chỉnh người thợ gốm Bầu Trúcphải trải qua nhiều công đoạn công phu phức tạp Có thể tóm tắt thành 4 côngđoạn như sau:
Công đoạn 1: Khõu chuẩn bị nguyên liệu.
Công đoạn 2: Khõu làm đất.
Công đoạn 2: Tạo hình dáng gốm gồm: Nặn hình cơ bản, cha láng, trang
trí, tu sửa
Công đoạn3: Nung gốm.
Các công đoạn này được tiến hành cụ thể như sau:
2.2.1 Khâu chuẩn bị nguyên liệu
Đất sét:
Gốm Bầu Trúc được làm từ một loại đất sét màu đen xám, có độ kếtdớnh cao Đất sét được hình thành từ một lớp đất phù sa được bồi tụ lõu năm ởtriền sông lớn Cả cánh đồng Phan Rang chỉ có cánh đồng “Hamu tanu Lan”(Ruộng đất sét) ở thôn Bầu Trúc mới có mỏ đất sét Cánh đồng này có diệntích khoảng 20ha, cách thôn Bầu Trúc khoảng 4km
Người Chăm ở Bầu Trúc khai thác đất vào mùa khô tức là từ tháng 12đến tháng 8 năm sau Vì mùa khô ở đõy đất nứt thành những đường kẻ sõu,đan chéo nhau theo hình lưới nhện dễ khai thác, ngược lại mùa mưa đất dẻo,dinh nên khó khai thác
Để lấy được đất sét người thợ gốm phải bỏ nhiều công sức lao độngcông phu, vất vả Lực lượng khai thác đất sét bao gồm đàn ông, phụ nữ, trẻem…nhưng lực lượng chủ yếu là đàn ông có kinh nghiệm
Trang 9Kỹ thuật lấy đất sét đầu tiên người thợ gốm phải chọn khu ruộng khôráo, trên bề mặt ruộng đất khô nứt nhiều là mỏ sét tốt Sau đó người thợ đàomột lỗ sâu khoảng 50cm, đường kớnh khoảng 40cm Tiếp đó người thợ đứngxuống lỗ đã cuốc, tiếp tục dùng cuốc hoặc dùng xà beng cuốc theo đường nứtcủa đất Đất được cuốc thường ngã ra từng lọn hơi tròn dài khoảng 60 – 80cm,đường kính khoảng 20 – 30cm Lọn đất vừa cuốc lên gồm 3 phần và đượcngười thợ xử lý như sau:
Phần thứ nhất là phần trên của bề mặt lọn đất, dày khoảng 10 - 20cm là
lớp đất có lớp phù sa tơi xốp có pha lẫn với rễ cõy lúa, cỏ dại vì vậy độ dẻokhông cao nên phải bỏ đi
Phần thứ hai là phần giữa cử lọn đất, đõy chính là phần đất sét làm gốm.
Phần đất này có độ dày từ 20 – 40cm Đất màu đen hơi xám nõu , hơi ẩm ươt
có độ dớnh cao Đây chính là đất sét làm gốm mà người khai thác cần lấy
Phần thứ ba là phần cuối của đất là lớp bùn non có màu đen không có
độ dẻo nên người làm đất phải tách bỏ khỏi phần thứ hai
Cứ như thế người khai thác đưa đất lên khỏi miệng hố và lấy đến khi đủ
số lượng cần thiết Đất sau khi lấy đủ thì lấp miệng hố lại, mùa mưa thì trồnglúa và năm sau khai thác tiếp Đất khai thác xong người khai thác di chuyểnbằng xe bò hoặc hoặc sức người về nhà Vì đất sét chỉ có thể khai thác trongmùa khô nên muốn đủ đất trong cả năm thì phải khai thác dự trữ Thôngthường nhà nào có 1 -2 thợ thường phải trữ khoảng 3 – 5m3 trong một năm.Đất sét khi đưa về nhà được phơi nắng 3 – 4 ngày cho khô ráo, sau đó đượcđem xếp vào kho, rồi lần lượt xử lý theo các công đoạn làm gốm
Kỹ thuật lấy đất sét là công phu và tốn khá nhiều công sức Việc nhậndiện, phõn loại lớp đất để chọn đúng một mẫu đất sét thớch hợp cho việc làmgốm đòi hỏi người khai thác phải có nhiều kinh nghiệm Nếu người thợ đất sétkhông có kinh nghiệm, chọn đất không kỹ càng, chọn đất sét có trộn lẫn nhiềugiữa lớp đất trên và lớp đất dưới thì đất sẽ không đủ độ dẻo và chất kết dớnh
Trang 10Từ đó làm cho việc dựng hình dáng gốm rất khó khăn Gốm sẽ có đường nứtkhi phơi khô và vỡ khi nung Ngược lại nếu chọn đúng chất đất sét trong quátrình khai thác thì sau này sản phẩm gốm không bị vỡ độ bền của gốm rất cao.Nhưng muốn chọn được mẫu đất đúng không phải chuyện dễ dàng, đõy là bíquyết nghề nghiệp mà họ ít truyền cho nhau, mà chủ yếu dựa vào kinh nghiệmlao động lõu năm.
Nguyên liệu cát:
Đây là nguồn nguyên liệu thứ hai không kém phần quan trọng trong việclàm gốm ở đây Họ thường lấy cát ở dưới sông Thời điểm lấy cát cũng là mùakhô Đõy là mùa nước sông cạn sau mùa lũ lụt Nước lũ ở các con sông PhanRang không chỉ đem lại một nguồn phù sa lớn mà cũn đem theo những hạt cátnhỏ li ti lắng lại thành từng cồn, bói ven sông Đó là nguồn cát lý tưởng chongười Chăm Bầu Trúc làm gốm
Nhưng không phải loại cát nào cũng dùng làm gốm được, loại cát làmgốm phải là loại cát nhỏ, mịn màng, cùng kích cỡ như nhau, thường có màuvàng nhợt Đây là loại nguyên liệu thứ hai cần thiết để làm ra sản phẩm gốm.Mỗi gia đình thường chuẩn bị 3 – 4 m3 để dùng trong một năm
Nguyên liệu cát cũng quan trọng không kém gì đất sét trong việc tạothành sản phẩm Nếu cát bị lẫn vào nhiều sỏi sạn, hoặc hạt to, có nhiều bã thựcvật thì khi trộn với đất sét độ kết dớnh sẽ không cao gõy khó khăn trong việctạo hình dáng gốm Ngược lại nếu hạt cát nhỏ va mịn màng thì khi trộn với đấtsét sẽ làm tăng độ dẻo làm cho xương gốm mịn dẻo, hơn nữa cũn làm cho thõngốm dễ miết láng, bóng đẹp hơn
Nguyên liêu làm gốm của người Chăm Bầu Trúc ngoài đất sét, cát cũn
có nước ngọt lấy ở sông suối, giếng để trộn với đất sét và cát
2.2.2 Khâu làm đất.
a.Ngâm đất
Trang 11Người thợ gốm lấy từ trong kho ra một lượng vừa đủ đề làm trong mộtngày Vì đất sét được chứa trong kho là những lọn đất lớn chưa khô, vẫn cũnngõm nước nên muốn ngõm cho đất sét ngấm nước đều thì phải đập đất sét tơi
ra thành cục nhỏ phơi lại cho khô trước khi đem vào hố ngõm với nước Đấtsét được phơi khô trên nền sạch tránh lẫn với đất thường và các tạp chất khác.Nếu đất có lẫn với tạp chất khác thì trước khi ngõm thợ gốm phải dùng cái niabằng tre có đan mắt lưới nhỏ khoảng 0,4 – 0,5cm để tách tạp chất khỏi đất
Sau khi đất sét được phơi khô từ sáng đến chiều thì được đưa vào ngõmtrong một cái hố đất được đào sẵn sõu khoảng 50cm, đường kớnh miệng hố là40cm Nguyên tắc ngõm đất không đổ đầy hố ngõm mà chỉ đổ vào 2/3 hố Sau
đó dùng nước ngọt sạch đổ vào hố ngõm Thời gian ngõm khoảng 12 tiếng thìđất sẽ tơi ra kết dớnh lại với nhau Lúc này thì người thợ gốm đưa đất lên khỏi
hố ngõm để làm đất
Cách ngõm đất làm gốm của người Chăm Bầu Trúc rất đặc biệt Họ chỉngõm đất sét trong hố chứ không ngõm trong bất kỳ dụng cụ đựng nào khác.Điều này làm cho nhiều người thắc mắc vì ngõm trong hố đất thì sẽ khó lấy đấtlên so với việc ngõm trong các đồ đựng khác Lý giải vấn đề này một nghệnhõn làng gốm đã giải thích: Nếu ngõm gốm trong các chum, vại, lu… thì đấtsét luôn bị hư không đủ độ dẻo để làm gốm Mặc dù họ đã tỡm nhiều cách đểcõn bằng theo tỉ lệ phù hợp giữa đất sét và nước nhưng đều không được Từđõy người thợ gôm thấy rằng chỉ có cách duy nhất là ngõm đất sét trong hố đấtthì không cần phép đo đếm phức tạp cũng đủ để có đất sét vừa dẻo cho làmgốm vì rằng chính hố đất là đồng hồ sinh học để tự đo, đếm cõn bằng tỉ lệ giữalượng đất sét và nước Khi người thợ cho đất và đổ nước vào ngõm, khi đất sétthấm nước đến một lượng nhất định sẽ bóo hoà không thấm nữa, lượng nướcnếu thừa sẽ ngấm vào xung quanh hố đất và rút xuống lòng đất Cũn nếu lượngnước không đủ cho đất sét ngấm thì đất sét sẽ hút nước từ lòng hố đất để đạtđến độ dẻo lý tưởng
Trang 12Ngược lại khi ngâm đất trong lu hoặc đồ đựng bằng nhôm, nhựa thì đất sẽ
bị hoá lỏng nếu lượng nước nhiều hơn tỉ lệ đất, còn nếu tỉ lệ nước ít hơn tỉ lệ đấtthì đất sẽ bị khô, cứng Bởi vì nếu thừa nước khi mà đất sét đó hỳt đủ độ dẻo rồi,nhưng nước vẫn còn trong lu không thoát ra ngoài được nên lại tiếp tục ngấmvào đất làm cho đất bị nhão Còn nếu nước ít hơn đất thì đất sẽ bị khụ, vỡ đấtthiếu nước nhưng lại không thể hỳt thờm nước được từ môi trường xung quanh
Như vậy ta thấy rằng đất ngâm nước muốn đạt điều kiện dẻo thích hợp thìphải có liều lượng nhất định Tuy vậy, việc cân đong, đo, đếm để thực hiện đúngliều lượng là một điều rất khó khăn, vì vậy người Bầu Trỳc đó nghĩ ra mộtphương pháp rất tuyệt vời đó là ngâm đất sét trong hố đất Hố đất chính là chiếcđồng hồ sinh học có thể cân đối được lượng nước và đất cho thích hợp nhất
b.Trộn nguyên liệu.
Trước khi đất được đưa lên khỏi hố ngõm người thợ gốm đã phải chuẩn
bị một lượng cát vừa đủ để trộn với đất Cát phải mịn, hạt nhỏ và đều Tỉ lệ phacát với đất trong lúc trộn nguyên liệu không phải lúc nào cũng giống nhau Nócũn phụ thuộc vào đặc điềm hình dáng gốm, vào kích cỡ và công dụng sử dụngcủa đồ gốm Vì thế cho nên gốm này hoàn toàn khác với gốm ở nơi khác.Chẳng hạn lu gốm ở đõy có loại rất được những người ở vùng khô và nắng ưachuộng vì nhiệt độ của nước trong lu luôn thấp hơn nhiệt độ bên ngoài nênnước bao giờ cũng mát hơn
Thông thường nếu sản phẩm có kích thước lớn cao trên 1m trở lên như
lu, thạp… thì tỉ lệ pha sét với đất theo tỉ lệ 1:1 Nếu sản phẩm gốm có kíchthước nhỏ hơn khoảng 0,5m trở xuống thì tỉ lệ pha trộn là 1:2 tức là 1 phàn đất,
2 phần nước Như vậy tỉ lệ pha trộn cho thấy rằng nếu kích thước sản phẩmcàng lớn thì tỉ lệ pha cát giảm, cũn nếu kớch thước gốm nhỏ thì tỉ lệ pha cátlớn Tỉ lệ cát nhiều sẽ làm giảm độ mịn màng của gốm, tăng trọng lượng củagốm nhưng thõn gốm lại bền chắc, chịu được nhiệt độ khi đun nấu sinh hoạt
Trang 13hàng ngày Nếu tỉ lệ cát trộn ít hơn đất thì làm tăng độ dẻo của đất, thuận lợicho việc tạo hình dáng gốm nhất là những sản phẩm có kớch thước lớn.
Nói chung tỉ lệ pha trộn nguyên liệu giữa đất sét và cát trong gốm BầuTrúc đều có tỉ lệ nhất định, trung bình theo tỉ lệ 1:1 Như vậy chất lượng gốmphụ thuộc không nhỏ vào tỉ lệ pha trộn nguyên liệu
Sau khi đã xác định tỉ lệ đất và cát cho phù hợp, người thợ bắt đầu tiếnhành trộn nguyên liệu hay còn gọi la khõu nhồi đất
Nhồi đất có hai giai đoạn: Nhồi đất bằng chõn và nhồi đất bằng tay
Giai đoạn 1: Nhồi đất bằng chõn (Joak lan).
Người thợ gốm dùng đôi chõn của mình đạp lên trên đống đất đã để sẵntrên một lớp cát cho đến khi nào lớp cát xoè ra, tạo thành hình mặt phẳng trũnmỏng khoảng 0,5cm Sau đó dùng tay cuốn đất sét thành những lọn dài nằmhai bên úp vào nhau Lúc này cát nằm phớa dưới đã được trộn vào đất mộtphần và họ tiếp tục rải cát và nước lên trên bề mặt đất sét Sau đó họ lại tiếp tụcdùng chõn đạp vào cuộn đất cho đất xoè mỏng ra rồi dùng tay cuốn lại thànhcuộn dài Họ làm như thế 7 – 8 lần trong thời gian khoảng 1 tiếng đồng hồ thìđất và cát được trộn nhuyễn vào nhau
Trờn bề mặt phẳng đống đất và cát đã được trộn lẫn vào nhau, người thợbắt đầu dùng chõn làm dấu kẻ đường vạch thành những ô nhỏ Từ đường viềncủa ô vuông người thợ gốm dùng tay cuộn lại thành từng lọn hình trụ dàikhoảng 15cm, đường kớnh khoảng 10cm, rồi đem những lọn này ủ, phủ kínbằng vải nơi rõm mát
Giai đoạn 2: Nhồi đất bằng tay (Jeh lan).
Sau khi đất đã được nhồi và ủ qua đêm hoặc một tiếng đồng hồ sau,người thợ phải nhồi đất bằng tay một lần nữa
Người thợ gốm dùng tay lăn những lọn đất hình trụ trũn trờn một tấm vánbằng phẳng có dải một lớp cát mỏng vừa chống dính vừa tăng thêm lượng cátcho đất Trong quá trình lăn lọn đất người thợ gốm quỳ trong tư thế cố định, cả
Trang 1410 đầu ngón tay bám vào thân lọn đất lăn nhẹ, đều đều vừa lăn vừa nhồi cácngón tay bám vào lọn đất để kiểm tra, tách những sỏi sạn cũn sút ra khỏi lọn đất.
Cứ như thế lọn đất được nhồi, lăn đi lăn lại khoảng 20 lần thì đạt đến độ dẻo lýtưởng có thể dừng lại Độ dẻo lí tưởng ở đây là cát và đất đã trộn lẫn vào nhauđều đặn, khụng tỏch được như lúc đầu Đất lại có màu nâu đen, màu xám, cát thìkhông còn màu vàng như lúc đầu mà bị màu đất sét nhuộm thành màu đen xám,màu ỏnh chỡ lấp lánh Dó là loại đất đã đạt đến độ lý tưởng
Sau khi đã nhồi xong, người thợ sẽ vo đất sét thành hình quả bí chuẩn bịđưa lên hũn kê để tạo dáng gốm
Nhìn chung, khõu chuẩn bị nguyờn liệu và nhồi đất là khõu đầu tiờntrong quy trình làm gốm Nó có tác động quan trọng đến việc quyết định chấtlượng gốm thành phẩm sau này
2.2.3 Tạo hình dáng gốm.
a Dụng cụ tạo hình gốm Chăm Bầu Trúc
Gốm Chăm Bầu Trúc được làm hoàn toàn bằng tay và dùng các công cụhết sức thô sơ Bao gồm:
Vải quận (Panek): Đõy là dụng cụ làm từ vải thô được xếp lại thành 3
lớp (dài khoảng 30cm, rộng khoảng 15cm) Cuộn vải này được dùng để thấmnước trà láng lên gốm và tạo hình các kiểu miệng gốm
Vòng quơ (Ta khoh): Đõy là dụng cụ làm bằng cây thực vật có thõn trũn,
nhỏ, dài khoảng 50cm, đường kớnh khoảng 20cm Người thợ dùng vũng quơ
để chải láng thõn gốm và đáy gốm trước khi dùng vải quận
Vòng cạo (Tanuh): dụng cụ này được làm bằng thanh tre vạc mỏng, uốn
lại thành hình trũn đường kớnh khoảng 10cm Dụng cụ này được dùng để cạomỏng bên trong thõn gốm và đáy gốm
Bên cạnh những dụng cụ chớnh trên, người thợ gốm Chăm Bầu Trúccũn dùng hũn kê bằng gốm để làm gốm Họ cũn dùng dao nhọn, thanh tre vótnhọn hai đầu để soi lỗ, gắn kết các kiểu gốm có quai, có đế, có lỗ thông hơi
Trang 15Về trang trí gốm họ cũn dùng những que cõy nhỏ để kẻ hoa văn và dùngnhững nụ hoa, vỏ sò để in dập hoa văn trên gốm…Ngoài ra cũn có những dùng
cụ để đào đất như cuốc, xẻng, xà beng…và những dụng cụ để đựng đất dichuyển như thỳng, mủng, nong, nia…
b Kỹ thuật tạo hình dáng gốm cơ bản.
Đây là công đoạn chớnh trong việc làm gốm Chăm Bầu Trúc Khõu nàygồm ba công đoạn sau:
Công đoạn 1: Tạo hình cơ bản(Padang Paduk).
Sau khi đất được nhồi thành hình quả bí, người thợ gốm bắt đầu đặt lênhũn kê Bằng động tác khum xuống, người thợ gốm dùng hai tay bóp nặn vàokhối đất hình quả bí, đi giật lựi chậm rói xung quanh hòn kê khoảng 10 vòngthì tạo được một dáng gốm cơ bản có chiều cao khoảng 20 – 30cm, đườngkớnh 15 – 20cm Trong công đoạn này người thợ gốm phải tốn nhiều sức lực
để tập trung nông đáy gốm, xõy dựng thành gốm theo một kích thước nhấtđịnh đã định sẵn và khối lượng đá hình qủa bí cho phép
Công đoạn 2: Kỹ thuật gắn kết vào thân gốm (Pathil gok).
Từ giai đoạn dựng hình cơ bản, người thợ gốm tiếp tục phát triển kíchthước thành gốm theo kích thước đã định sẵn, họ gọi giai đoạn này là “Pathilgok” Công đoạn này người thợ gốm dùng “con trạch” dài khoảng 40cm,đường kớnh khoảng 3cm gắn kết vào miệng gốm và phát triển thành gốm caodần lên Động tác nối “con trạch” là người thợ gốm dùng tay phải đưa contrạch đặt vào miệng gốm, tay trái đỡ làm nền ở thành ngoài miệng gốm, cứ nhưthế con trạch lần lượt được nối vào xung quanh miệng gốm Người thợ gốmchỉ cần đi xung quanh hũn kê một vũng là nối được một con trạch Sau đóvũng hai, người thợ gốm tiếp tục dùng ngón tay trỏ phải co lại kéo đất lấp xungquanh những đầu nối con trạch và miệng gốm Ngoài ra người thợ gốm cũndùng tay đập vào thành gốm, vào chỗ nối kết con trạch và miệng gốm nhằmlàm cho xương gốm chặt hơn và xoá được dấu vết nối kết trên thõn gốm
Trang 16Muốn có một sản phẩm gốm cao 100cm thì người thợ gốm phải tạo sẵn kíchthước ban đấu là 50cm và nối thêm từ 6 – 8 con trạch Tuy vậy phương phápnối kết này chỉ dùng cho đồ gốm có kích thước lớn từ 40 – 50cm trở lên.
Công đoạn 3: Phương pháp miết láng.
Công đoạn này nhằm mục đích xoá đi dấu vết nối kết và làm cho thõngốm nhẵn, bóng hơn Công đoạn này được diễn ra theo bước:
Miết láng bằng tay: Người thợ gốm dùng tay nhúng nước xoa đều xung
quanh thõn gốm, sau đó dùng ngón tay trỏ phải hoặc trái co, kéo, vuốt từngphần trải đều trên toàn thõn gốm Phương pháp này ngoài việc dấu đi nhữngvết nối kết còn tạo được độ bằng phẳng, lấp được những khoảng lồi lừm banđầu, tạo cho thành gốm được bằng phẳng Phương pháp này cũn cho xươnggốm thêm chặt Nếu như khõu này người thợ gốm làm sơ sài thì xương gốm sẽkhông chặt, các con trạch không gắn chặt vào thành gốm, tạo ra kẽ hở và tạocho thành gốm độ dày không đều Từ đó sẽ ảnh hưởng đến chất lượng gốmnhư: gốm có nhiều đường nứt khi phơi, gốm nung dễ vỡ, méo
Miết láng bằng vòng quơ (Pa ghoh Gok): Phương pháp miết bằng tay
tuy người thợ có khéo léo đến mấy thì cũng không thể xoa những dấu vếtđường kéo bằng tay trên thõn gốm Để khắc phục nhược điểm này người thợdùng tiếp bước thứ 2 là miết gốm bằng vũng quơ
Người thợ gốm dùng vòng quơ để chải láng trên thõn gốm Tác dụngcủa vũng quơ là khi người thợ gốm chải vòng quơ sẽ kéo được những gờ đất từchỗ lồi về chỗ lừm trên thõn gốm nhưng không để lại dấu vết chải sõu nhưmiết bằng tay Từ đó vũng quơ có tác dụng chải thõn gốm bằng phẳng hơn,bước đầu lấp được các dấu vết bằng tay của người thợ gốm
Miết láng bằng vải cuộn (Panek): đõy là bước cuối cùng của công đoạn
miết láng gốm Chăm Sau khi xong hai bước miết gốm bằng tay và vũng quơ,người thợ gốm dùng vải cuộn thấm nước có trộn đất sét lỏng quấn vào tay chàlên xung quanh gốm Trong quá trình chà vải thấm nước đất sét lên gốm, vì đất
Trang 17sét có độ dẻo cao nên khi cuộc vải thấm nước chà sát trên thành gốm sẽ tạo ramột loại nhủ đất sét (người Chăm gọi là Ia lan) phủ lên thõn gốm Chính nướcđất sét này trong quá trình chải láng đã tạo nên một lớp men búng phủ lên thõngốm, tạo cho gốm Bầu Trúc một lớp áo mịn màng có độ bóng cao Bước miếtláng này ngoài việc xoá dấu võn tay, dấu chải láng bằng vũng quơ nó cũn tạo
ra cho thõn gốm một lớp men đất sét búng loáng làm áo gốm Từ đó lớp cáogốm lấp kín được những đường nối kết, những lỗ nhỏ, rỉ nước ra ngoài trongquá trình sử dụng, đồng thời làm tăng thêm vẻ đẹp cho gốm Chăm
c Tạo hình kiểu miệng gốm.
Gốm Bầu Trúc được phõn ra nhiều kiểu lại miệng như gốm miệng hơiloe, gốm miệng loe, miệng đứng, miệng khum, khum thấp… Mỗi kiểu miệnggốm sẽ quy định loại hình gốm Chăm Bầu Trúc
Phương pháp tạo miệng gốm Chăm Bầu Trúc khá đơn giản Họ chỉ cầnđôi tay khéo léo và một cuộn vải thấm nước Đầu tiên họ dùng vải cuộn thấmnước vuốt đều xung quanh miệng gốm Khi miệng gốm được tiếp xúc với vảicuộn thấm nước thì họ dùng các ngón tay nắm hờ cuộn vải ướt sao cho cuộnvải tiếp xúc đều đặn với miệng gốm, rồi họ bắt đầu vòng quanh thõn gốm từ 4 -
5 vòng thì tạo thành một kiểu miệng gốm Trong lúc quay tuỳ theo kiểu miệnggốm mà họ điều chỉnh các ngún tay trỏ và tay cái Kĩ thuật bẻ miệng gốm lầnlượt được tiến hành như sau: bẻ miệng đứng, rồi đến miệng loe, rồi miệng hơiloe, cuối cùng là miệng khum
Trong lúc tạo hình miệng gốm thì phần dáng thõn gốm có sự thay đổituỳ theo kiểu miệng gốm Thông thường khi bẻ miệng gốm kiểu thẳng thì thõngốm thon lại, hơi thu hẹp Ngược lại khi bẻ miệng gốm khum, khum thấp thìngười thợ gốm hay dùng hai tay đè lên miệng gốm nên thõn gốm hay phìnhrộng ra Do đó khi bẻ xong miệng gốm người thợ gốm phải dùng vải cuộnthấm nước miết lại lần nữa để thõn gốm đều đặn và mịn màng
d Trang trí gốm (Ngăk bingu hala).
Trang 18Gốm Chăm Bầu Trúc được trang trí ngay sau khi tạo kiểu hình dánggốm xong Lúc này gốm chưa rời khỏi hũn kê, lại còn ẩm ướt rất thuận lợi choviệc trang trí.
Người thợ gốm Chăm thường dùng que để vẽ, khắc trực tiếp hoa văntrên vai gốm Que đơn họ thường dùng là một loại thõn cõy thực vật nhỏ,mềm, dễ uốn lượn Từ que này họ vẽ, khắc được các hoa văn như hình chữ S,hình tam giác, những hình đứt đoạn chấm vạch…Bên cạnh que đơn người thợgốm Chăm cũn dùng các loại que có nhiều răng để chải lên gốm những hìnhsóng nước, hình kĩ hà chạy song song
Trang trí gốm Chăm Bầu Trúc còn dùng các loại hoa văn vỏ sò, nụ hoa,mẫu hoa thực vật để dập trên vai gốm Đối với các loại vỏ sò, họ thường in dậptrên vai gốm hình răng cưa của miệng vỏ sò tạo nên những mẫu hoa văn hìnhrăng cưa đẹp mắt Đối với các loại hoa thực vật, họ thường sử dụng nụ hoa nở
rộ, khô cứng như hoa “Cà dược” (Pa duk chiek) - loại hoa này thường nở rộbốn mùa có nhiều ở vùng Chăm Ninh Thuận
Hoa văn trên gốm Bầu Trúc cũn có loại hoa văn móng tay Kĩ thuật thựchiện hoa văn này người thợ gốm thường dùng lọn đất nhỏ hình con đĩa dánxung quanh vai gốm tạo thành một gờ đất nổi Trên gờ đất nổi này người thợgốm lại dùng lọn đất hình con đĩa ngắn nhỏ, đắp chặt ngang và chia đường gờxung quanh vai gốm mới đắp ban đầu thành 3 phần bằng nhau Sau đó ngườithợ gốm dùng móng tay cái bám xung quanh trên gờ đất tạo thành những hìnhrăng cưa lớn xung quanh vai gốm
Ngoài những loại hoa văn trên, người thợ gốm Bầu Trúc cũn chế biếnmàu thực vật làm màu bôi cho hoa văn áo gốm Màu thực vật chỉ được trang trítrên hoa văn gốm khi gốm vừa mới ra lò cũn đang núng Màu thực vật nàyđược người Chăm chế ra từ loại vỏ cõy Săn (Lik likhun) hoặc Trái thị (Bohdan) Đõy là một lọại cõy mọc nhiều ở vùng miền núi Ninh Thuận Họ phơikhô vỏ cõy rồi ngõm vào nước cho ra màu đỏ, khi gốm vừa ra lò cũn nóng,
Trang 19dùng lá cõy buộc chặt giống như chổi thấm nước màu vẩy lên gốm để tạo màu.
Vì thõn gốm lúc này cũn nóng nên khi tiếp xúc với nước thổ hoàng có mũ thựcvật thì gốm hút nước rất nhanh và đốt cháy chất mũ nước trên thõn gốm Chất
mũ thực vật bị đốt trên thõn gốm sẽ tạo ra những đốm đỏ màu nõu, nõu đen,xanh đen trông rất đẹp tự nhiên
Nhìn chung, hoa văn gốm thường được trang trí trên những đồ gốm lớn
và thường được trang trí trên vai gốm mà không trang trí ở thõn gốm Chủ đềtrang trí hoa văn gốm Bầu Trúc đặc biệt là thiếu vắng hoa văn động vật nhưnhững loại vật nuôi mà chỉ là các loại hoa văn thực vật, các cảnh vật tự nhiêngần gũi với con người như hoa lá, cỏ cõy, các hình kĩ hà, hình tam giác…được
mô tả một cách chõn thực không bị cách điệu một cách cầu kì Do đó hoa văngốm Bầu Trúc tuy không phong phú da dạng nhưng lại khoáng đạt tự nhiên
Cạo thân gốm: Đối với đồ gốm có kích thước lớn như lu, thạp, khương
người thợ gốm nạo sửa phần thõn trước bằng các “vũng nạo” (Tanuh) làmbằng tre vạc mỏng, nạo đều bên trong thõn gốm làm cho thành gốm mỏng hơn.Việc nạo mỏng thõn gốm làm giảm trọng lượng gốm khi di chuyển, làm tăng
độ hấp thụ nhiệt của gốm khi nung trong một lò nung lộ thiên có nhiệt độ chưacao Tuy nhiên việc nạo gốm này cũng có nhược điểm là để lại dấu vết trongthành gốm và thành gốm mỏng đi giảm giá trị sử dụng
Trang 20Cạo mỏng và nụng đỏy gốm: Gốm Chăm khi chưa tu sửa thì có đáy dày,
hơi lừm Loại gốm này nếu không tu sửa nông đáy hơi lồi ra thì đáy gốm sẽ bịnứt khi phơi hoặc nung Vì thế người thợ gốm phải có biện pháp nông đáygốm Gốm được đặt nghiêng trên đùi người thợ gốm, một tay giữ chặt thõngốm cho gốm khỏi xê dịch, một tay cầm vòng cạo đưa vào cạo một lớp đấtmỏng ở đáy gốm Khi cạo đáy gốm ở một mức độ nhất định, thì phần cạomỏng được thợ gốm đưa ra ngoài, rồi họ tiếp tục dùng tay đẩy nhẹ nông đáygốm hơi nhô ra ngoài tạo thành đáy gốm hơi tròn Sau đó họ dùng vòng quơ đểchải cho đều và làm láng đáy gốm
Tu sửa và gắn kết thân gốm: Phần gắn kết thõn gốm chỉ có ở đồ đựng,
đun nấu hàng ngày có kích thước nhỏ như lò nấu, lò hấp, ấm nấu nước…Loạigốm có kích thước nhỏ này, khi tu sửa người thợ gốm cũng nạo mỏng phầnthõn nhưng không nông đáy bên trong mà chỉ cạo hơi mỏng đáy bên ngoài rồidùng vòng quơ để chải cho đáy gốm hơi trũn Sau khi tu sửa phần thõn và chảiđáy gốm, người thợ bắt đầu gắn những bộ phận của ấm,chõn đế…
Túm lại, phần tu sửa gốm gồm có 3 phần căn bản: nạo mỏng thõn gốm,nông đáy gốm, và phần gắn kết trong đó quan trọng nhất là phần nông đáygốm Việc khắc phục đáy bằng trong tạo hình sang đáy trũn là một quả trìnhđúc kết kinh nghiệm làm gốm, một tri thức dõn gian có nhiều sáng tạo củangười thợ gốm Chăm Bầu Trúc Đáy gốm trũn sẽ thớch nghi được với sự cogión vì nhiệt khi nung gốm, khiến cho đáy gốm không bị nứt, hỏng
2.2.4 Nung gốm.
Đõy là công việc cuối cùng để cho ra sản phẩm gốm Việc nung gốm đòihỏi rất nhiều kĩ thuật và công sức, thường các hộ thường sử dụng hình thức đổicông khi nung gốm Muốn nung được gốm Chăm cần có các điều kiện và quacác công đoạn sau: