1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Từ vựng trong thơ tố hữu ( khảo sát qua hai tập việt bắc và gió lộng )

94 1,1K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 748,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cho đến nay có rất nhiều công trình nghiên cứu về thơ Tố Hữu từ phương diện ngôn ngữ như: “Tính dân tộc và tính hiện đại của ngôn từ thơ Tố Hữu” của Trần Đình Sử Báo Văn nghệ số 36 - 19

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -

NGUYỄN THỊ HỒNG

TỪ VỰNG TRONG THƠ TỐ HỮU

(KHẢO SÁT QUA HAI TẬP VIỆT BẮC VÀ GIÓ

LỘNG)

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Hà Nội - 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -

NGUYỄN THỊ HỒNG

TỪ VỰNG TRONG THƠ TỐ HỮU

(KHẢO SÁT QUA HAI TẬP VIỆT BẮC VÀ GIÓ

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới các thầy cô trong trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội, đặc biệt là các thầy cô trong Khoa Ngôn ngữ học đã tận tình hướng dẫn và truyền thụ những kiến thức chuyên môn cho em trong suốt quá trình học lớp Cao học tại khoa Ngôn ngữ học, trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội

Để hoàn thành được Luận văn này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, em đã nhận được sự hướng dẫn tận tình chu đáo về mặt khoa học của GS.TS Vũ Đức Nghiệu - Giảng viên Khoa Ngôn ngữ học Em xin kính gửi đến thầy lòng biết ơn sâu sắc về những kiến thức và phương pháp nghiên cứu khoa học mà Thầy đã truyền thụ cho em trong suốt thời gian hoàn thành Luận văn này

Em cũng mong muốn bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình em, đã tạo mọi điều kiện tinh thần để em được yên tâm học trong suốt thời gian đào tạo cũng như hoàn thành Luận văn

Em chân thành gửi lời cảm ơn đến bạn bè đồng học và đồng nghiệp đã

có những giúp đỡ nhất định cho em trong thời gian học và hoàn thành luận văn

Mặc dù luận văn này được hoàn thành với nhiều cố gắng của bản thân

em, song không tránh khỏi sự thiếu sót, hạn chế Em rất mong nhận được sự góp ý quý báu từ quý thầy cô và các bạn để Luận văn được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội ngày 25 tháng 11 năm 2013

Học viên Cao học

Nguyễn Thị Hồng

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU .1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

3 Mục đích nghiên cứu của luận văn 3

4 Nhiệm vụ của luận văn 4

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Quy cách trình bày 5

7 Cấu trúc của luận văn 5

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÁC VẤN ĐỀ TRONG LUẬN VĂN 6

1.1 Tác giả và nguồn ngữ liệu được khảo sát 6

1.1.1 Tác giả Tố Hữu 6

1.1.2 Về hai tập thơ Việt Bắc và Gió lộng 7

1.2 Một số vấn đề lý luận trong nghiên cứu từ vựng tác phẩm, tác giả 7

1.2.1 Từ ngữ và đơn vị khảo sát, thống kê 7

1.3 Một số vấn đề về thống kê và thủ pháp nghiên cứu định lượng 10

1.4 Một số khái niệm liên quan trong nghiên cứu định lượng 13

1.5 Các lớp từ và tiêu chí nhận diện để phân lớp từ 14

1.5.1 Phân lớp từ ngữ theo nguồn gốc 14

1.5.2 Phân lớp từ ngữ theo phạm vi sử dụng 19

1.5.3 Phân lớp từ ngữ theo cấu trúc 23

1.6 Chuyển nghĩa và năng lực hoạt động của từ 25

1.6.1 Chuyển nghĩa ẩn dụ 26

1.6.2 Chuyển nghĩa hoán dụ 26

TIỂU KẾT 29

Trang 5

CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH ĐỊNH LƯỢNG VỀ VỐN TỪ VÀ

PHÂN TÍCH CÁC LỚP TỪ TRONG VIỆT BẮC, GIÓ LỘNG 30

2.1 Đánh giá độ phong phú từ vựng của tác phẩm 30

2.1.1 Về chỉ số phong phú ( R ) của vốn từ 30

2.1.2.Các từ có tần số cao và sự phân bố của các vùng tần số khác nhau 36

2.2 Phân tích thành phần từ vựng trong văn bản theo phạm vi sử dụng 37

2.3 Phân tích thành phần từ vựng về mặt cấu trúc của từ 39

2.3.1 Từ đơn âm tiết và từ đa âm tiết trong hai tập thơ 39

2.3.2 Từ láy trong hai tập thơ 41

2.3.3 Lớp thực từ và lớp hư từ trong hai tập thơ 42

2.4 Phân tích thành phần từ vựng về mặt nguồn gốc 44

TIỂU KẾT 46

CHƯƠNG 3:CHUYỂN NGHĨA ẨN DỤ, HOÁN DỤ VÀ TÍN HIỆU THẨM MĨ TRONG VĂN BẢN 48

3.1 Chuyển nghĩa ẩn dụ trong Việt Bắc và Gió lộng 48

3.2 Chuyển nghĩa hoán dụ trong Việt Bắc và Gió lộng 60

3.3 Nghĩa chuyển của từ với việc thể hiện các tín hiệu thẩm mỹ 63

3.3.1 Nghĩa chuyển của từ với việc thể hiện tín hiệu thẩm mỹ Bác Hồ 63

3.3.2 Nghĩa chuyển của từ với việc thể hiện tín hiệu thẩm mỹ người lính 73

TIỂU KẾT 83

KẾT LUẬN 84

TÀI LIỆU THAM KHẢO 86

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Nghiên cứu ngôn ngữ tác giả, ngôn ngữ tác phẩm là những việc không

xa lạ trong lĩnh vực nghiên cứu ngôn ngữ học Công việc này đem đến cho chúng ta nhiều điều hữu ích về nhiều mặt: ngôn ngữ, văn chương, lịch sử và một phần nào đó cả xã hội học Sự tiếp cận các hiện tượng văn chương không chỉ từ phía nghệ thuật - mỹ học, như là một loại hình nghệ thuật - nghệ thuật ngôn từ, mà cả từ phía ngôn ngữ - ngữ học

Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp trực tiếp của con người, là hiện thực trực tiếp của tư tưởng Ngôn ngữ cũng là phương tiện lưu giữ các kết quả của

tư duy và hình thành tư duy Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư tưởng Trong mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ, mỗi lớp người, mỗi loại hình văn bản ngôn ngữ được sử dụng (đặc biệt là về mặt từ vựng) không trùng khít với nhau Điều này phụ thuộc vào giai đoạn lịch sử, giới tính, lứa tuổi, cá nhân, loại hình văn bản và ảnh hưởng sâu sắc tới sản phẩm ngôn ngữ (tác phẩm) Để nghiên cứu biểu hiện của ngôn ngữ qua những giai đoạn, những tác phẩm khác nhau, những tác giả khác nhau, người ta nghiên cứu nhiều phương diện như: ngữ pháp, từ vựng, ngữ nghĩa đặc biệt là nghiên cứu từ vựng Cho đến nay trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về ngôn ngữ tác phẩm, tác

giả như nghiên cứu từ vựng của Puskin, của Shakespeare hoặc nghiên cứu ngôn ngữ tác phẩm: Sông Đông êm đềm, Chiến tranh và hoà bình; lại có công trình nghiên cứu ngôn ngữ của danh nhân như nghiên cứu “từ vựng của tướng

De Gaulle” của Cotteret và Moreau [15]

Ở Việt Nam có thử nghiệm nghiên cứu bước đầu về ngôn ngữ Hồ Chủ tịch1 Tiếp theo là nghiên cứu ngôn ngữ tác phẩm như từ điển tác phẩm

1

Trang 7

Truyện Kiều, từ điển tần số truyện và ký tiếng Việt hiện đại 2

Trong luận văn này, chúng tôi nghiên cứu từ vựng trong hai tập thơ của Tố Hữu

Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, Tố Hữu (1920 - 2002) luôn được coi là tác giả sáng giá, một cây đại thụ Ông đã có tên trong Từ điển Văn học Việt Nam và có một số lượng tác phẩm khá lớn Hai tác giả Phong Lan và Mai Hương nhận xét về ông như sau: “Trên bầu trời của văn học Việt Nam hiện đại, Tố Hữu luôn được coi là ngôi sao sáng, là người mở đầu và dẫn đầu tiêu biểu cho thơ ca cách mạng Sáu mươi năm gắn bó với hoạt động cách mạng và sáng tạo thơ ca, ông thực sự tạo nên được niềm yêu mến, nỗi đam

mê bền chắc trong nhiều độc giả Ông là người đã đem đến được cho công chúng và rồi cũng nhận lại được từ họ sự đồng điệu, đồng cảm, đồng tình tuyệt diệu – đáng là niềm ao ước của mọi sự nghiệp thơ ca, kể cả những nhà thơ lớn cùng thời với ông.” [31, tr.11] Và cũng trong suốt hơn năm thập kỉ qua, thơ Tố Hữu đã trở thành một hiện tượng, một đối tượng nghiên cứu lớn của giới học thuật, thu hút hầu hết các nhà nghiên cứu, phê bình tên tuổi trong

cả nước Trải qua hơn 50 năm nghiên cứu, phê bình thơ Tố Hữu, giới học thuật nước ta ngày càng tiếp cận thế giới nghệ thuật của nhà thơ một cách toàn diện, phong phú và thực chất hơn

Thơ Tố Hữu là một thành tựu nổi bật của thơ ca cách mạng Việt Nam Nói theo cách của Balzac, thì Tố Hữu chính là người thư ký của cách mạng Không chỉ ở lĩnh vực nghiên cứu văn học, thơ ông còn được nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm, nghiên cứu Nhìn chung, thơ ông đã được đánh giá, phân tích về mọi mặt từ nội dung tư tưởng tới hình thức, phong cách, từ đề tài, chủ

đề, hình tượng tới phương pháp sáng tác, thể loại, ngôn ngữ Các nhà nghiên cứu đánh giá: Tố Hữu là một phong cách lớn trong sự phát triển của nền văn

2

Trang 8

học dân tộc Thơ ông không chỉ đặc sắc về mặt nội dung, tư tưởng mà còn có giá trị đặc sắc về nghệ thuật trên các phương diện về phong cách và ngôn ngữ thơ Cho đến nay có rất nhiều công trình nghiên cứu về thơ Tố Hữu từ

phương diện ngôn ngữ như: “Tính dân tộc và tính hiện đại của ngôn từ thơ Tố

Hữu” của Trần Đình Sử (Báo Văn nghệ số 36 - 1985); “Từ địa phương trong thơ Tố Hữu” (Hoàng Thanh Vân: Luận văn Tốt nghiệp Trường Đại học Sư

phạm Thái Nguyên - 2000), “Khảo sát việc sử dụng từ ngữ địa phương trong

thơ Tố Hữu” (Phạm Thị Thuỳ Dương: Luận văn tốt nghiệp trường Đại học

Thái Nguyên), “Bước đầu khảo sát vốn từ địa phương trong thơ Tố Hữu”

(Hoàng Thị Hằng: Khoá luận tốt nghiệp Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn - 2006),…

Đến nay người ta đã bàn nhiều, phân tích và nghiên cứu nhiều mặt để khẳng định giá trị của thơ ông nhưng chưa có một công trình nào nghiên cứu riêng về từ vựng trong thơ ông với tư cách là một nghiên cứu tổng thể và cách thức sử dụng từ ngữ của ông trong thơ Nghiên cứu ngôn ngữ tác phẩm của ông có thể sẽ góp phần nghiên cứu, miêu tả diện mạo từ vựng tiếng Việt hiện đại trong tiến trình phát triển của nó Đó là lý do chúng tôi xác định đề tài để

nghiên cứu trong luận văn này: Từ vựng trong thơ Tố Hữu (khảo sát qua hai

tập Việt Bắc và Gió lộng)

2 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là toàn bộ vốn từ vựng trong

hai tập thơ Việt Bắc và Gió lộng của Tố Hữu

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là khảo sát từ vựng chỉ trong hai tập

thơ Việt Bắc và Gió lộng của ông Chúng tôi sẽ khảo sát trên phạm vi toàn

thể các lớp từ, các bộ phận của vốn từ trong hai tập thơ này

3 Mục đích nghiên cứu của luận văn

Trang 9

Thực hiện đề tài “Từ vựng trong thơ Tố Hữu (khảo sát qua hai tập Việt

Bắc và Gió lộng)”, luận văn hướng vào những mục đích nghiên cứu sau:

+ Tổng kiểm kê, khảo sát để có những thông tin định lượng về vốn từ trong hai tập thơ này

+ Đánh giá từ vựng tiếng Việt được sử dụng trong nguồn ngữ liệu

được khảo sát (Việt Bắc và Gió lộng) Qua đó, có thể góp phần nghiên

cứu từ vựng tiếng Việt trong giai đoạn tương ứng được xét

+ Góp phần phục vụ nghiên cứu tác phẩm văn chương từ góc độ ngôn ngữ học; bước đầu tìm hiểu nghệ thuật của Tố Hữu trong việc sử dụng ngôn

từ Điều này có ích cho việc nghiên cứu, giảng dạy thơ Tố Hữu nói riêng và thơ ca Việt Nam nói chung

4 Nhiệm vụ của luận văn

Để đạt được mục đích trên, chúng tôi phải thực hiện một số nhiệm vụ sau đây:

- Khảo chứng và lập được danh sách toàn bộ từ ngữ được sử dụng trong hai tác phẩm

- Phân tích định lượng các kết quả khảo sát được để rút ra những nhận xét về những nội dung như:

* Nghiên cứu định lượng xác định độ phong phú, phân tán và tập trung của từ vựng xuất hiện trong tác phẩm

* Miêu tả, phân tích thành phần từ vựng trong 2 tập thơ “Việt Bắc” và

“Gió lộng”

* Đánh giá việc sử dụng từ vựng và một số điểm về nghĩa của từ ngữ trong tác phẩm

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn này chúng tôi sử dụng các phương pháp:

- Thống kê định lượng ngữ liệu nghiên cứu

Trang 10

- Vận dụng một số phương pháp trong nghiên cứu định lượng để đánh giá về từ vựng tác phẩm như: độ phong phú và độ tập trung từ vựng

- Phân tích cơ cấu vốn từ bằng các đối lập ngôn ngữ học trong nội bộ của nó (phạm vi sử dụng, chủ đề…)

6 Quy cách trình bày

1 Tên tác phẩm nhất loạt in nghiêng, tác phẩm chính in nghiêng đậm

Ví dụ: Sông đông êm đềm, Gió lộng, Việt Bắc

2 Chú thích tư liệu cũng như trích dẫn được đặt trong ngoặc kép và ghi bằng số trong ngoặc vuông, tương ứng với số thứ tự trong danh mục tài liệu tham khảo, cùng với số trang ghi ngay sau phần tư liệu trích dẫn

7 Cấu trúc của luận văn

Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ, chúng tôi sẽ trình bày luận văn này trong một cấu trúc như sau:

- Phần mở đầu

- Chương 1: Cơ sở lý luận của các vấn đề trong luận văn

- Chương 2: Phân tích định lượng về vốn từ và phân tích các lớp từ

trong Việt Bắc và Gió lộng

- Chương 3: Chuyển nghĩa ẩn dụ, hoán dụ và tín hiệu thẩm mỹ trong

văn bản

- Kết luận

- Danh mục tài liệu tham khảo

- Phụ lục

Trang 11

CHƯƠNG 1:

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÁC VẤN ĐỀ TRONG LUẬN VĂN

1.1 Tác giả và nguồn ngữ liệu được khảo sát

1.1.1 Tác giả Tố Hữu

Tố Hữu sinh ra và lớn lên ở làng Phù Lai, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế Từ nhỏ Tố Hữu đã được cha – là một nhà nho dạy làm thơ theo lối cổ Mẹ ông là con một nhà nho, thuộc nhiều bài ca dao, dân ca xứ Huế và rất giàu tình thương con Tuy nhiên, năm Tố Hữu 12 tuổi thì bà đã qua đời

Tuy là một vùng đất nghèo nhưng phong cảnh thiên nhiên, sông nước ở

xứ Huế rất nên thơ - một xứ Huế mộng mơ Nơi đây có một nền văn hoá rất phong phú, độc đáo, đậm đà bản sắc dân tộc, là sự kết hợp của văn hoá cung đình và văn hoá dân gian mà nổi tiếng nhất là những điệu ca, hò như nam ai, nam bình, mái nhì, mái đẩy…

Tố Hữu tham gia cách mạng từ rất sớm Năm 1938, Ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương và từ đó ông hoàn toàn tự nguyện hiến dâng cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng Ông từng bị bắt giam tại nhà lao Thừa Thiên, nhiều nhà tù ở các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên, rồi vượt ngục tiếp tục hoạt động cách mạng Cách mạng tháng Tám năm 1945, Tố Hữu được bầu làm Chủ tịch Uỷ ban khởi nghĩa ở Huế, lãnh đạo cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở thành phố quê hương, nơi đầu não của chính quyền phong kiến Khánh chiến toàn quốc bùng nổ, Tố Hữu được điều động ra Thanh Hoá rồi lên Việt Bắc công tác ở cơ quan Trung ương Đảng, đặc trách

về văn hoá, nghệ thuật Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và cho đến năm 1986, Tố Hữu luôn giữ những cương vị trọng yếu trong bộ máy lãnh đạo của Đảng và Nhà nước (ông từng là Uỷ viên Bộ Chính

Trang 12

trị Đảng Cộng sản Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng) Sau một thời gian lâm bệnh nặng Tố Hữu đã ra vào ngày 9-12-2002 tại Hà Nội

Đời thơ của ông có nhiều tác phẩm Quan niệm sáng tác của ông là thơ phải có tác dụng trong đời sống, trong đấu tranh cách mạng, phải nâng

người ta lên, cuốn người ta theo, dẫn người ta về phía trước Tập thơ Việt

Bắc và Gió lộng của ông đã thể hiện đúng tinh thần và quan niệm ấy

1.1.2 Về hai tập thơ Việt Bắc và Gió lộng

Chúng tôi khảo sát từ vựng trong hai tập thơ Việt Bắc và Gió lộng in

trong cuốn “Tố Hữu: Thơ” do Nhà xuất bản Văn học ấn hành, năm 2005

Việt Bắc là tập thơ được sáng tác chủ yếu trong thời kỳ kháng chiến

chống Pháp (1946-1954), gồm tổng cộng 27 bài (trong đó có 06 bài dịch, 03 bài sáng tác sau 1954)

Tập thơ Gió lộng gồm 25 bài, sáng tác trong 06 năm (1955-1961) khi

đất nước tập trung vào hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh chống Mỹ Ngụy, thống nhất đất nước ở miền Nam

1.2 Một số vấn đề lý luận trong nghiên cứu từ vựng tác phẩm, tác giả

1.2.1 Từ ngữ và đơn vị khảo sát, thống kê

Đơn vị để khảo sát thống kê của chúng tôi là đơn vị từ vựng Đó là từ

và đơn vị tương đương với từ Nói cách khác, đơn vị thống kê trong nghiên cứu định lượng ở đây là từ và đơn vị tương đương với từ: những ngữ cố định

Trang 13

nghiên cứu từ vựng, nếu thống kê, người ta vẫn phải lấy từ làm đơn vị khảo sát cơ bản Chúng tôi cũng phải lấy từ làm đơn vị là như vậy

Về vấn đề quan niệm về từ của tiếng Việt, nhìn chung có hai khuynh hướng:

* Coi từ tiếng Việt trùng với âm tiết ( hay tiếng)

Nhìn chung, từ xưa đến nay, những tiếng độc lập, có nghĩa ai cũng coi

là từ - từ đơn tiết; còn những tiếng không độc lập thì các nhà nghiên cứu xử lý khác nhau M.B.Emenneau coi mỗi từ là một âm tiết, một chữ tách rời nhau Đây cũng là ý kiến của G.Aubarey, Trương Vĩnh Ký, Trần Trọng Kim,… Nguyễn Thiện Giáp cũng coi mỗi tiếng là một từ nhưng tác giả đã chứng minh một cách thấu đáo hơn Những đơn vị từ vựng do tiếng kết hợp với tiếng

mà thành được tác giả gọi chung là ngữ, gồm ngữ định danh, ngữ láy âm, thành ngữ và quán ngữ

“Từ của tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ nhất có ý nghĩa dùng để tạo

câu nói; nó có hình thức của một âm tiết, một khối viết liền”.[22, 69 ]

* Coi từ tiếng Việt không hoàn toàn trùng âm tiết Đây là quan niệm của nhiều tác giả, ví dụ như:

- Trương Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê: “Từ là âm có nghĩa, dùng trong

ngôn ngữ để diễn đạt một ý đơn giản nhất, nghĩa là ý không thể phân tích ra được.[13, tr18]

Ví dụ: bàn, ghế, thợ thuyền, gia đình, …”

- Đỗ Hữu Châu: “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định,

bất biến về hình thức ngữ âm theo các quan hệ hình thái học (như quan hệ về

số, về giống,…) và cú pháp trong câu, nằm trong một kiểu cấu tạo nhất định, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, ứng với những nghĩa nhất định, sẵn có đối với mọi thành viên của xã hội Việt Nam, lớn nhất trong hệ thống tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu” [8, tr 29]

Trang 14

Cùng quan niệm như Đỗ Hữu Châu, là quan niệm của các tác giả như: Nguyễn Kim Thản, Hoàng Tuệ, Ðái Xuân Ninh, Hồ Lê…

Vẫn theo Đỗ Hữu Châu, đơn vị cấu tạo từ tiếng Việt gồm có hình vị

và đơn vị cấu tạo từ, từ tố: Ngôn ngữ học thế giới nhất trí cho rằng, từ của tất cả các ngôn ngữ, dù là ngôn ngữ hoà kết như ngôn ngữ Châu Âu, hay các ngôn ngữ chắp dính, đơn lập, đều có thể phân tách ra thành những đơn vị ở cấp độ dưới trực tiếp và gọi các đơn vị đó là hình vị [8, tr 36] Từ là đơn vị được cấu tạo bằng một hoặc một số từ tố (hình vị) Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa và có khả năng hoạt động độc lập Từ có chức năng định danh, có khả năng đóng các vai trò khác nhau trong câu như chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ Ở phần trên, chúng ta đã bàn đến những đặc điểm chung của từ là có nghĩa hoàn chỉnh, mang tính cố định, sẵn có, và là đơn vị nhỏ nhất có thể tham gia tạo câu Nó có hai đặc điểm đáng chú ý:

- Có thể đơn tiết hoặc đa tiết

- Có thể có biến thể ngữ âm hoặc ngữ nghĩa nhưng không có biến thể hình thái học Ý nghĩa ngữ pháp của từ không được biểu hiện trong nội bộ

từ, mà được biểu hiện trong quan hệ giữa các từ trong câu Mặt khác, từ không có những dấu hiệu hình thức giúp xác định ý nghĩa ngữ pháp mà phải

dưa vào các loại từ hay phó từ như con, cái, chiếc ( đối với danh từ), đã,

đang, đang, sẽ, rất, hơi, khá…( đối với động từ và tính từ) Như vậy, phải

dựa vào chức năng ngữ pháp cụ thể ta mới xác định được ý nghĩa từ vựng của từng trường hợp

Những điều trình bày trên đây, phần nào đó đã nói lên được tính phức tạp của tình hình nghiên cứu về từ trong tiếng Việt Rất nhiều khái niệm về từ

đã được đưa ra, nhưng hầu hết đều không thể hiện khái quát hết bản chất của

từ Tuy nhiên để thuận tiện trong quá trình làm việc, chúng tôi chấp nhận quan niệm về từ sau đây để làm việc

Trang 15

“Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, có kết cấu vỏ ngữ âm bền vững, hoàn

chỉnh, có chức năng gọi tên, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để tạo câu” [14, tr142]

Luận văn của chúng tôi chấp nhận quan niệm về từ theo định nghĩa trên tức là có từ đơn tiết và đa tiết

b Đơn vị tương đương với từ: các ngữ cố định

Từ không những là đơn vị cơ bản của từ vựng, ngữ pháp; và như trên

đã nói, đơn vị thống kê không chỉ có từ mà còn có ngữ cố định

Theo Nguyễn Thiện Giáp: “đơn vị cơ bản của từ vựng là từ Bên cạnh

các từ, trong thành phần từ vựng của mỗi ngôn ngữ còn tồn tại rất nhiều các cụm từ cố định, thường được gọi là các thành ngữ, quán ngữ Cụm từ cố định

có nhiều điểm giống với từ: Chúng cũng có khả năng tái hiện trong lời nói như các từ; về mặt ngữ pháp, chúng cũng có thể là thành phần của câu, cũng

có thể là cơ sở để cấu tạo từ; về mặt ngữ nghĩa, chúng cũng biểu thị những hiện tượng của thực tế khách quan gắn liền với những kiểu hoạt động khác nhau của con người Chính vì vậy, các cụm từ cố định cũng nằm trong thành phần từ vựng của ngôn ngữ, cũng được hệ thống hoá trong các từ điển Từ và cụm từ cố định được gọi là những đơn vị định danh cơ bản của ngôn ngữ, thực hiện chức năng gọi tên các sự vật, hiện tượng… của thực tế Tuy nhiên cụm từ cố định không phải là đơn vị từ vựng cơ bản, bởi vì chúng do các từ cấu tạo nên: muốn có cụm từ cố định trước hết phải có các từ” [22, tr16,17]

Có thể nêu một khái niệm cho cụm từ cố định điển hình như sau:

Cụm từ cố định là đơn vị do một số từ hợp lại; tồn tại với tư cách một đơn vị có sẵn như từ, có thành tố cấu tạo và ngữ nghĩa cũng ổn định như từ

[14, tr153]

1.3 Một số vấn đề về thống kê và thủ pháp nghiên cứu định lượng

Trang 16

Thống kê là một phương pháp được sử dụng khi người ta muốn biết được số liệu, thu thập, lí giải các số liệu một cách khách quan, khoa học và đáng tin cậy Phương pháp thống kê được sử dụng trong thống kê xã hội học, tâm lý học, y học,… Ngoài ra phương pháp này cũng được áp dụng trong địa hạt của ngôn ngữ học và do vậy đã hình thành một ngành học: Ngôn ngữ học thống kê

Ngôn ngữ học thống kê còn được sử dụng để nghiên cứu các phạm trù

từ nguyên hoặc các lớp từ cơ bản, từ vay mượn, từ dân gian và ngôn ngữ địa phương Ngôn ngữ học thống kê còn được sử dụng để thống kê từ vựng, từ loại, thống kê độ dài câu tiếng Việt, từ đó chúng ta có thể tìm hiểu phong cách ngôn ngữ của nhà văn, vận dụng phương pháp thống kê để tìm hiểu sự phân

bố từ vựng, các đặc trưng của cấu trúc văn bản Nhờ phương pháp này mà người ta có thể tìm ra được một số từ cơ bản được lặp lại nhiều lần hay những

từ thông dụng, sự phát triển của vốn từ, từ loại theo thời gian và trong từng thể loại văn bản

Kết quả này giúp cho việc giảng dạy cho các sinh viên người nước ngoài hay ngoại ngữ rất có hiệu quả

Dựa vào ngôn ngữ học thống kê người ta có thể nghiên cứu sự hoạt động của ngôn ngữ Các chỉ số thu được tự nó phản ánh đặc điểm, cấu trúc, chức năng của hiện tượng ngôn ngữ Tần số của hiện tượng ngôn ngữ sẽ phản ánh cấu trúc nội tại của một văn bản, giúp người đọc nhận thức được các quy luật kết hợp từ của tác giả, cách sử dụng từ trong từng ngữ cảnh Từ nghiên cứu định lượng về ngôn ngữ của văn bản thơ, có thể rút ra đặc điểm của thể loại thơ và giúp chúng ta hiểu thêmđược nội dung, tính chất đặc thù của thơ trong một giai đoạn nhất định Ngoài ra, thống kê định lượng còn giúp chúng ta hiểu được khả năng, quy luật phát triển vốn từ của tác giả nói riêng và vốn từ vựng nói chung Như vậy, việc nghiên cứu định lượng về

Trang 17

vốn từ vựng của một tác phẩm cũng có tầm quan trọng rất lớn đối với việc nghiên cứu ngôn ngữ Áp dụng phương pháp thống kê và dựa trên cơ sở đó

để phân tích và nhận xét những số liệu đã thu được, kết quả của nó sẽ góp phần nhận thức sâu sắc và khoa học về cơ cấu ngôn ngữ trong thơ, phạm vi vốn từ mà tác giả sử dụng

Phương pháp thống kê trong nghiên cứu từ vựng đã giúp chúng tôi

nghiên cứu Việt Bắc, Gió lộng chính xác dưới góc độ từ vựng Bảng thống kê

từ vựng trong hai tập thơ được lập trên cơ sở của phương pháp thống kê từ vựng học Để có được những con số chính xác cho bảng thống kê từ vựng, chúng tôi tiến hành công việc đầu tiên là phân định ranh giới từ của toàn bộ

hai tập thơ Việt Bắc và Gió lộng Những danh sách từ ngữ mà chúng tôi thu

được sẽ như một từ điển tần số về hai tập thơ này Từ những nguồn ngữ liệu

đó chúng ta có thể tìm hiểu những nét khái quát về từ vựng trong vốn từ của nhà thơ Tố Hữu và sự hoạt động của ngôn ngữ trong thơ ông Kết quả thu được sẽ phản ánh đặc điểm, cấu trúc, chức năng của hiện tượng ngôn ngữ cũng như cấu trúc nội tại của văn bản Chúng tôi chọn đơn vị thống kê là từ

và cụm từ cố định vì chúng có chức năng định danh và chức năng làm thành phần câu, khả năng tách khỏi các đơn vị khác của lời nói để hoạt động độc lập

và hoàn chỉnh về mặt ngữ âm, ý nghĩa Các từ đồng âm được xếp thành các từ

khác nhau theo từ loại của chúng Ví dụ, chúng ta có 3 từ “hay” khác nhau:

hay (động từ) Ví dụ: Họ đã hay việc này

hay (tính từ) Ví dụ: Bộ phim rất hay

hay (liên từ) Ví dụ: anh uống cà phê hay uống chè?

Nguyên tắc thống kê, kiểm đếm định lượng:

Chúng tôi phân cắt văn bản thành các đơn vị từ vựng dựa trên tiêu chí nhận diện từ ở trên, sau đó kiểm đếm, thống kê tần số xuất hiện của từng đơn

Trang 18

vị thống kê đó Đơn vị thống kê (đơn vị từ vựng ) được chúng tôi phân biệt từ

đa nghĩa, đồng âm, cách tính 2 từ đồng âm khác nhau

Số lần đơn vị thống kê (từ, ngữ cố định, thành ngữ, câu trích dẫn, những con số, những chữ viết tắt, những tên riêng chỉ người, chỉ địa danh,…) xuất hiện trên văn bản thống kê gọi là tần số của từ Khi thống kê toàn bộ vốn

từ trong 2 tập thơ Việt Bắc và Gió lộng, các lời phụ chú của tác giả như:

“Thân tặng”, “Dịch thơ của…” thì không được tính Từ những kết quả đã thu

được qua quá trình thống kê, chúng tôi lập thành một bảng: Bảng thống kê từ

vựng của Tố Hữu qua hai tập thơ Việt Bắc và Gió lộng

1.4 Một số khái niệm liên quan trong nghiên cứu định lƣợng

Trước khi đi vào chi tiết nội dung chính của luận văn, chúng ta sẽ đi tìm hiểu sơ qua các khái niệm có liên quan trong nghiên cứu định lượng

- Đơn vị thống kê: Như chúng tôi đã nói ở trên, mỗi đơn vị từ vựng (từ,

ngữ cố định, thành ngữ, câu trích dẫn, những con số, những chữ viết tắt, những tên riêng chỉ người, chỉ địa danh,…) là một đơn vị thống kê

- Tần số của đơn vị thống kê: Số lần đơn vị thống kê (từ, ngữ cố định,

thành ngữ, câu trích dẫn, những con số, những chữ viết tắt, những tên riêng chỉ người, chỉ địa danh,…) xuất hiện trên toàn bộ văn bản thống kê gọi là tần

số của từ trong văn bản ấy

- Độ dài văn bản: Tổng tần số của tất cả đơn vị thống kê trong văn bản

thì được gọi là độ dài văn bản

- Độ phân bố của từ: Từ, ngữ và những đơn vị thống kê khi nghiên cứu

những nguồn ngữ liệu lớn thì người ta thường chia thành những đoạn văn bản khác nhau, trung bình khoảng 1000 lượt từ liên tiếp nhau là một đoạn văn bản Như vậy, mỗi một đơn vị thống kê xuất hiện trong nhiều đoạn văn bản khác nhau thì gọi là có độ phân bố lớn Độ phân bố phản ánh mức độ phổ biến

từ ngữ trong văn bản đó Độ phân bố của từ là một trong những chỉ số phổ

Trang 19

biến của nó Như vậy, một đơn vị thống kê càng xuất hiện trong nhiều đoạn văn bản thì mức độ phổ biến của nó càng cao Trong khảo sát của chúng tôi ở đây, chúng tôi chưa làm công việc phân đoạn như vậy, mà mới chỉ thông kê, phân tích trên tòn bộ văn bản

- Độ phong phú từ vựng: Mức độ "giàu có" của từ vựng, thể hiện ở số

lượng từ khác nhau được sử dụng, ở tính ít lặp lại của các từ ngữ, ở độ phân

bố rộng rãi và độ phân tán cao, độ tập trung thấp của vốn từ

- Độ phong phú của từ vựng được sử dụng trong văn bản có thể được

đo bằng một số công thức tính khác nhau, bổ sung cho nhau Đó là công thức tính tỉ lệ giữa số lượng từ khác nhau trên tổng độ dài văn bản (độ dài này tính bằng tổng tần số của các từ), tính độ phân tán từ vựng, độ tập trung từ vựng, tỉ

lệ giữa thực từ với tổng tần số thực từ

1.5 Các lớp từ và tiêu chí nhận diện để phân lớp từ

Từ vựng của một ngôn ngữ không phải là một tập hợp hỗn độn mà chúng được phân chia một cách có hệ thống

Dựa vào các tiêu chí khác nhau, người ta có thể phân chia hệ thống từ vựng thành những lớp, hạng khác nhau một cách chặt chẽ và mạch lạc Dựa vào từ vựng học thì việc phân chia dường như có vẻ không được rõ ràng, mạch lạc bằng Mặc dù vậy, không phải vì lí do đó mà người ta không thể phân chia được tập hợp các từ trong một ngôn ngữ

1.5.1 Phân lớp từ ngữ theo nguồn gốc

Trang 20

lớn của tiếng Hán để bổ sung cho vốn từ vựng của mình Có thể chia quá trình tiếp xúc Hán – Việt thành hai giai đoạn lớn: một là giai đoạn từ đầu công nguyên đến đầu đời Đường (đầu thế kỉ 8); hai là giai đoạn từ đời Đường (thế

kỉ 8 – thế kỉ 10) trở về sau Hai lần tiếp xúc lớn này cung cấp cho từ vựng tiếng Việt hai nguồn gốc từ Hán mà như trước nay vẫn quen gọi là từ Hán cổ

và từ Hán Việt [14]

Từ Hán cổ là những từ gốc Hán được du nhập vào tiếng Việt trong giai đoạn một Vì đi vào tiếng Việt đã lâu, đã được đồng hoá rất mạnh, nên những

từ này hiện nay nói chung không còn cái vẻ xa lạ đối với người Việt nữa Ví

dụ: chè, ngà, chén, chém, chìm, buồng, buồn, buồm, mùi, mùa

Từ Hán Việt là những từ gốc Hán du nhập vào tiếng Việt trong giai đoạn hai, sau đời Đường cho đến nay và người Việt vẫn lưu giữ cách phát âm đời Đường hệ thống ngữ âm của mình gọi là cách đọc Hán Việt Có thể nói cách đọc Hán Việt là cách đọc chữ Hán của người Việt Nam Cách đọc đó

được duy trì (với những biến đổi ít nhiều) cho đến tận ngày nay Ví dụ: nam,

nữ, mã, trọng, khinh

Tên gọi "từ Hán Việt" còn bao gồm cả những từ vốn không phải là gốc Hán, mà do người Hán mượn một ngôn ngữ khác, rồi người Việt vay mượn lại và đọc theo âm Hán Việt như các từ Hán Việt khác Ví dụ, có những từ

vốn xuất thân nguồn gốc Nhật Bản như: nghĩa vụ, phục tùng, phục vụ, điều

chế, đại bản doanh, kinh tế,… Có những từ lại vốn xuất thân từ nguồn gốc

Phạn (Sanskrit) như Phật, Nát Bàn, Di lặc, Thích ca mầu ni Có từ lại vốn thuộc nguồn gốc châu Âu như: câu lạc bộ, Anh Cát Lợi, Mạc Tư Khoa Đối

với những từ này, chúng ta không thể dùng nghĩa gốc của các từ Hán để giải thích nghĩa của chúng

Bên cạnh đó, những từ do người Việt tạo ra nhưng sử dụng yếu tố cấu tạo có nguồn gốc Hán thì cũng được gọi là từ Hán Việt Đây là một bộ phận

Trang 21

được sử dụng khá nhiều trong vốn từ vựng tiếng Việt Người Việt đã sử dụng yếu tố gốc Hán để tạo ra những đơn vị từ mới theo cách riêng của người Việt

Chẳng hạn: y sĩ, đặc công, thể công, công an, thúc bách, đại đội, tiểu đoàn,

thiếu tá, binh lính, cướp đoạt, đói khổ, kẻ địch,… [14]

Bên cạnh đó, cũng là những từ gốc Hán nhưng có một nhóm được du nhập vào tiếng Việt thông qua con đường khẩu ngữ của những người nói phương ngữ tiếng Hán Nhóm này chiếm một tỉ lệ rất nhỏ và nói chung không

đem lại cho tiếng Việt ảnh hưởng đáng kể nào Ví dụ: quẩy, xì dầu, mì chính,

vằn thắn, xá xíu, sủi cảo, lậu, tào phớ, chí ma phù,…

Nhìn chung, diễn biến của các từ gốc Hán nói chung trong tiếng Việt rất phức tạp, tuy nhiên không phải không phân chia được Dựa trên những kết quả phân tích về chúng cũng có thẻ rút ra một số hướng như sau:

Các từ Hán – Việt khi nhập vào hệ thống từ vựng tiếng Việt, chúng đã chịu sự tác động của quy luật biến đổi ngữ âm trong tiếng Việt Do vậy, chúng đã biến đổi diện mạo ban đầu của mình, hoặc cũng có thể dạng ngữ âm Hán Việt của từ vẫn còn tồn tại trong tiếng Việt Như vậy, có hàng loạt từ được Việt hoá tới hai lần, dẫn tới hai kết quả tồn tại song song: một cách đọc được gọi là cách đọc Hán Việt, một cách đọc được gọi là Hán Việt Việt hoá Cách đọc thứ hai làm mờ hẳn nguồn gốc của chúng đi, đưa chúng vào sâu hơn

trong tiếng Việt Ví dụ: kiếm – gươm; kính – gương; các – gác; can – gan;

cận – gần; kí – ghi; hoạ – vạ

Về năng lực hoạt động, khả năng thâm nhập của các từ gốc Hán trong tiếng Việt, rất không đồng đều Rất nhiều từ có khả năng hoạt động độc lập,

tổ hợp tự do, đến mức có lẽ trừ những người có vốn Hán học và những nhà nghiên cứu ra, không mấy ai còn để ý đến hoặc "cảm thấy" nguồn gốc Hán của chúng nữa Chúng giống nhau cả về mặt hình thức ngữ âm và ngữ nghĩa

Trang 22

đối với các từ thuần Việt hoạt động tự do Ví dụ: đầu, bút, tuyết, thánh, hiền,

tiên, phật, bụt, ông, bà, cô, cậu, cao, thấp

- Về mặt ý nghĩa, không phải từ gốc Hán nào trong tiếng Việt cũng giữ

y nguyên cái nghĩa vốn có của nó Một số từ chỉ còn được dùng với một hoặc vài nghĩa trong số nhiều nghĩa của từ trong tiếng Hán chứ không tiếp nhận tất

cả các nghĩa của nó Chẳng hạn từ nhất vốn có hơn 10 nghĩa nhưng đi vào tiếng Việt, nó chỉ còn giữ lại nghĩa “thứ tự trên hết” khi hoạt động tự do: hạng

nhất, giỏi nhất, xếp thứ nhất Đôi khi trong những tổ hợp vay mượn nguyên

khối từ gốc Hán, nói mới lưu giữ ý nghĩa “số từ một” như: nhất cử nhất động,

nhất cử lưỡng tiện, nhất thể hoá

Cũng có từ đổi hẳn nghĩa của mình đi Ví dụ:

bạc (mỏng → quên ơn);

khinh (nhẹ → coi thường);

tâm (tim → tấm lòng, bụng dạ con người);

đáo để (đến đáy, đến tận cùng → độc ác, riết róng);

sung sướng (đầy đủ, thông suốt → sướng, hạnh phúc);

Ngoài ra, những từ Hán – Việt trong tiếng Việt phát triển thêm những nghĩa mới, những nghĩa này không hoàn toàn có trong tiếng Hán

Tóm lại, chúng ta thấy rằng vốn từ vựng Hán – Việt có vai trò quan trọng trong từ vựng tiếng Việt Sự biến đổi về nghĩa của các từ tiếp nhận tiếng Hán rất đa dạng và phức tạp đòi hỏi chúng ta phải có vốn kiến thức nhất định

để xử lý, đánh giá vốn từ vựng gốc Hán một cách chính xác và khoa học

b Các từ ngữ gốc Ấn – Âu

Bộ phận từ ngữ này vào Việt Nam từ khi nước ta bị người Pháp xâm lược và chịu ảnh hưởng trực tiếp của họ (giữa thế kỉ XIX) Vừa bằng con đường khẩu ngữ vừa qua con đường chính thức trong giáo dục nhà trường và giao tiếp hành chính, hàng loạt từ gốc Pháp đã du nhập vào tiếng Việt Nhìn

Trang 23

chung, các từ ngữ gốc Ấn – Âu (chủ yếu là gốc Pháp) đã thâm nhập vào khá nhiều mặt của đời sống xã hội Từ đời sống giao tiếp hàng ngày cho đến các ngành văn hoá, nghệ thuật, khoa học, kĩ thuật, y tế,… Khi được du nhập vào tiếng Việt, sự biến đổi về nghĩa của các đơn vị từ ngữ nguồn gốc Ấn Âu tỏ ra không mấy rõ rệt và không làm nảy sinh những đối lập, khác biệt quan trọng như là ở các từ ngữ gốc Hán

Ngôn ngữ Ấn – Âu du nhập vào Việt Nam trong một thời gian không dài nếu so sánh với ngôn ngữ gốc Hán Bên cạnh đó, do đặc điểm tiếng Việt

và tiếng Hán cùng là ngôn ngữ đơn lập nên việc tiếp nhận tiếng Hán dễ dàng hơn tiếp nhận các tiếng Ấn – Âu

Theo quy luật chung, các từ ngoại lai trong tiếng Việt đều có sự biến đổi về ngữ âm để cho phù hợp với hệ thống ngữ âm của tiếng Việt Đặc điểm của tiếng Việt là mỗi từ là một âm tiết và có thanh điệu, do vậy người Việt đã phân chia các từ Ấn Âu thành những âm tiết tách rời và phát âm theo cơ cấu ngữ âm của tiếng Việt, người Việt thêm thanh điệu cho các âm tiết đó, bỏ bớt các âm trong tổ hợp phụ âm, hoặc chuyển âm này thành âm khác cho phù hợp với cách phát âm của mình

Ví dụ: crème – kem; cafe – cà phê; carrotte – cà rốt; gare – ga;…

Mức độ Việt hoá các từ ngoại lai Ấn Âu không giống nhau, việc tiếp nhận bằng con đường khẩu ngữ thường được Việt hoá nhiều hơn bằng con đường sách vở Người Việt có xu hướng rút ngắn bớt độ dài của các từ gốc

Ấn – Âu

Ví dụ: boy – bồi; valse – van; gramme – gam; …

Việc tiếp nhận và sử dụng các từ gốc Ấn – Âu hiện nay còn nhiều vấn

đề cần quan tâm Việc vay mượn vốn từ còn thiếu là hết sức cần thiết trong sự hội nhập về nhiều mặt giữa các quốc gia, tuy nhiên cũng cần phải phát huy sự sáng tạo ngôn ngữ vốn có của mình

Trang 24

c Các từ ngữ thuần Việt

Ngôn ngữ dân tộc không bất biến mà luôn vận động và phát triển qua nhiều giai đoạn Trong một giai đoạn lịch sử cụ thể bao giờ cũng xảy ra hiện tượng giữ lại từ cũ, cấu tạo từ mới, vay mượn những từ ngữ từ tiếng nước ngoài Qua nhiều thời kì, việc xác định từ vay mượn và từ thuần không phải là việc làm đơn giản Do đó có thể quan niệm về từ thuần như sau:

Trong mọi từ vựng, ngoài những từ có thể xác định chắc chắn là tiếng Việt tiếp nhận của tiếng Hán và các ngôn ngữ Ấn- Âu, phần cơ bảncác từ còn lại là các từ thuần Việt (hay còn được gọi là lớp từ bản ngữ) Đó là những từ biểu thị các sự vật, hiện tượng cơ bản nhất và tồn tại từ lâu đời

Lớp từ thuần Việt là cốt lõi của từ vựng tiếng Việt, làm thành một bộ phận vô cùng quan trọng trong hệ thống vốn từ vựng tiếng Việt Nó làm chỗ dựa và có vai trò điều khiển, chi phối sự hoạt động của mọi lớp từ khác Những từ thuần Việt là những từ mà chúng ta cảm nhận theo quan niệm: Từ thuần Việt là những từ xuất hiện lâu đời trong tiếng Việt, biểu thị những sự vật, hiện tượng, khái niệm cơ bản nhất Do có sự tiếp xúc từ rất sớm với các ngôn ngữ nhóm Tày – Thái nên nhiều từ thuần Việt và các từ tương ứng trong các tiếng này có sự giống nhau nhất định về ngữ âm và ngữ nghĩa [22] Như vậy có thể nói lớp từ thuần Việt đã được dân tộc ta dùng từ lâu đời và là vốn

từ gốc cơ bản của vốn từ dân tộc Chúng ta chấp nhận quan niệm này để xét

nguồn gốc vốn từ mà Tố Hữu đã sử dụng qua tập thơ Việt Bắc, Gió lộng

1.5.2 Phân lớp từ ngữ theo phạm vi sử dụng

a Từ ngữ địa phương

Từ địa phương (phương ngữ): Là những từ ngữ được sử dụng hạn chế

ở một khu vực địa lý nào đó Thường thì mỗi địa phương có một số từ ngữ dùng để biểu thị những sự vật, hiện tượng đặc trưng cho địa phương đó mà các nơi khác không có, hoặc những từ ngữ mà vì những lí do khác nhau đã

Trang 25

được tạo ra và sử dụng trong phạm vi của địa phương đó Cũng có khi, đây là dạng cổ của những từ ngữ toàn dân hiện nay mà ở địa phương nào đó người ta còn giữ lại Những từ thuộc một phương ngữ (tiếng địa phương) nào đó của ngôn ngữ dân tộc và chỉ phổ biến trong phạm vi lãnh thổ địa phương đó, thì được gọi là từ địa phương

Theo tác giả Hoàng Thị Châu, phương ngữ là “Biến dạng của một

ngôn ngữ được sử dụng với tư cách là phương tiện giao tiếp của những người gắn bó chặt chẽ với nhau trong một cộng đồng thống nhất về mặt lãnh thổ, về hoàn cảnh xã hội, về nghề nghiệp, còn gọi là tiếng địa phương” [11, tr24]

Như vậy, khái niệm từ địa phương trước hết nhằm vào những khác biệt

về mặt từ vựng chứ không phải là những khác biệt về mặt ngữ âm Sự khác

biệt chẳng hạn như: lắt lẻo – lắc lẻo, gập ghềnh – gập ghình, không phải là

toàn dân tộc không có từ tương ứng với chúng Ví dụ: nhút, lớ, (quả) tắt,

chẻo (phương ngữ Trung Bộ), sầu riêng, măng cụt, chôm chôm, tràm, trâm bầu, chao, (phương ngữ Nam Trung Bộ và Nam Bộ Việt Nam)

Có những từ cùng gọi tên một sự vật, hiện tượng với từ trong từ vựng

chung, nhưng hai từ khác nhau hoàn toàn về mặt ngữ âm Ví dụ: ngái – xa, nỏ

– không, rào – sông, rú – núi, mô – đâu, tê – kia, rứa – thế, chộ – thấy, trốc – đầu, nhủ – bảo,… (phương ngữ Trung Bộ); má – mẹ, điệp – phượng, mè – vừng, muỗng – thìa, lượm – nhặt, mắc cỡ – xấu hổ, (phương ngữ Nam

Trung Bộ và Nam Bộ)

Trang 26

Trường hợp này có thể có hai nguyên nhân chính Một là, cùng một sự vật nhưng mỗi địa phương, trong quá trình phát triển cùng dân tộc, đã định danh một cách khác nhau Dần dần, một tên gọi (một cách định danh) của một địa phương trở nên phổ biến rộng rãi, khiến cho tên gọi của địa phương kia không thể phổ biến được nữa Nó chỉ còn hoạt động tồn tại trong phạm vi địa phương và trở thành từ địa phương Hai là, cả hai từ vốn đã cùng là từ của từ vựng chung, nhưng sau đó, vì xung đột đồng nghĩa, một từ phải rút lui và được bảo toàn trong phạm vi địa phương rồi trở thành từ địa phương Các cặp

từ: đầu – trốc, nhủ – bảo, là như vậy

Nhiều từ vốn là dạng cổ của từ tương ứng trong từ vựng chung hiện nay Dạng cổ đó được bảo toàn trong một địa phương, còn dạng mới, dạng hậu kì của chúng thì đi vào từ vựng chung Kết cục là hai dạng chỉ khác nhau

ở một bộ phận ngữ âm nào đó mà thôi Ví dụ: gấy – gái, chí – chấy, nác –

nước, kha – gà, khót – gọt, cúi – gối, ví – với,

Kiểu từ địa phương thứ tư là những từ đồng âm với từ trong từ vựng chung Có hai khả năng có thể dẫn tới tình hình này: Một là chúng quan hệ đồng âm thuần tuý, ngẫu nhiên, hai là do trước đây, chúng vốn chỉ là một từ, nhưng một địa phương nào đó đã chuyển đổi đối tượng gọi tên của từ đi, theo những chiều hướng khác nhau; hoặc ngược lại, từ trong từ vựng chung đã chuyển đổi đi như thế

Các biến dạng địa phương của ngôn ngữ về mặt này hay mặt khác, hiện đang tồn tại như một tất yếu Điều đó, một mặt nói lên rằng ngôn ngữ thống nhất của dân tộc vẫn tồn tại và thể hiện trong tính đa dạng của nó; mặt khác, lại nói lên rằng sự tồn tại các tiếng địa phương là kết quả của những diễn biến lịch sử xã hội rất khác nhau Chính vì thế, từ vựng địa phương được xem như nơi bảo tồn được những chứng tích xa xưa của ngôn ngữ dân tộc Trong nhiều

Trang 27

khía cạnh khảo sát, xử lí đối với từ địa phương, việc tìm tòi những tàn dư cổ còn sót lại trong đó, là điều rất có giá trị và đáng chú ý

Để có cơ sở để làm việc, chúng chấp nhận một quan niệm về từ địa

phương như sau: “Từ địa phương là từ được dùng hạn chế ở một hoặc một

vài địa phương Nói chung, từ địa phương là bộ phận từ vựng của ngôn ngữ nói hằng ngày của bộ phận nào đó của dân tộc, chứ không phải là từ vựng của ngôn ngữ văn học Khi dùng vào sách báo nghệ thuật, các từ địa phương thường mang sắc thái tu từ: diễn tả lại đặc điểm của địa phương, đặc điểm của nhân vật,…”[22, tr.257] Đây là định nghĩa tuy chưa nói rõ được tính chất

biến thể của vốn từ vựng địa phương, nhưng đã nêu được sắc thái sử dụng trong phong cách của chúng

Ngay tên gọi của lớp từ này cũng đã ngụ ý rằng nó gồm những từ ngữ mà toàn dân, mọi người, mọi nơi, mọi lúc đều có thể sử dụng một cách rộng rãi

Lớp từ này có khối lượng từ ngữ lớn nhất, và trong từ vựng của ngôn ngữ nào cũng vậy, nó đóng vai trò làm nền tảng Nó cũng là cơ sở để thống nhất từ vựng và thống nhất ngôn ngữ dân tộc, đồng thời là tài sản chung để mọi thành viên trong dân tộc, trong xã hội sử dụng làm công cụ giao tiếp

Trang 28

chung Bởi vì nó gọi tên cho tất cả những sự vật, hiện tượng, thuộc tính, quá trình, thiết yếu nhất trong sự tồn tại của đời sống con người

1.5.3 Phân lớp từ ngữ theo cấu trúc

Căn cứ vào cấu tạo của từ, trong tiếng Việt có thể chia ra các kiểu từ như sau:

a Từ đơn

Là những từ được cấu tạo bằng một tiếng độc lập Thí dụ: Nhà, xe, tập, viết, xanh, đỏ, vàng, tím,…

– Xét về mặt lịch sử, hầu hết từ đơn là những từ đã có từ lâu đời Một

số từ có nguồn gốc thuần Việt, một số từ vay mượn từ các ngôn ngữ nước ngoài như tiếng Hán, tiếng Pháp, Anh, Nga,…

- Xét về mặt ý nghĩa, từ đơn biểu thị những khái niệm cơ bản trong sinh hoạt của đời sống hàng ngày của người Việt, biểu thị các hiện tượng thiên nhiên, các quan hệ gia đình, xã hội , các số đếm,…

- Xét về mặt số lượng, tuy không nhiều bằng từ ghép và từ láy nhưng là những từ cơ bản nhất, giữ vai trò quan trọng nhất trong việc biểu thị các khái niệm có liên quan đến đời sống và cấu tạo từ mới cho tiếng Việt [46]

Trang 29

- Xét về mặt quan hệ ý nghĩa giữa các thành tố có thể thấy: các thành

tố đồng nghĩa nhau, các thành tố gần nghĩa nhau, hoặc các thành tố trái nghĩa nhau

- Xét về mặt nội dung, nói chung, từ ghép đẳng lập thường gợi lên những phạm vi sự vật mang ý nghĩa phi cá thể hay tổng hợp (tức biểu thị sự vật, tính chất hay hành động chung, mang tính chất khái quát )

- Tuy có quan hệ bình đẳng về mặt ngữ pháp, nhưng không đưa đến hệ quả là ý nghĩa từ vựng của các thành tố trong từ đều có giá trị ngang nhau trong mọi trường hợp Như ta sẽ thấy, những trường hợp một trong hai thành

tố phai mờ nghĩa xảy ra phổ biến trong từ ghép đẳng lập

- Căn cứ vào vai trò của các thành tố trong việc tạo nghĩa và phạm vi biểu đạt của từ ghép, có thể phân từ ghép đẳng lập thành ba loại nhỏ là từ ghép đẳng lập gộp nghĩa, từ ghép đẳng lập đơn nghĩa và từ ghép đẳng lập hợp nghĩa

* Từ ghép chính phụ: Là những từ ghép mà ở đó có ít nhất một thành tố

cấu tạo nằm ở vị trí phụ thuộc vào một thành tố cấu tạo khác, tức trong kiểu

từ ghép này thường có một yếu tố chính và một yếu tố phụ về mặt ngữ pháp

Ví dụ: nhà máy, đường sắt, tàu hoả,…

Loại này có những đặc điểm sau:

- Xét về mặt ý nghĩa, nếu từ ghép đẳng lập có khuynh hướng gợi lên các sự vật, tính chất có ý nghĩa khái quát, tổng hợp, thì kiểu cấu tạo từ này có khuynh hướng nêu lên các sự vật theo mang ý nghĩa cụ thể

- Trong từ ghép chính phụ, yếu tố chính thường giữ vai trò chỉ loại sự vật, đặc trưng hoặc hoạt động lớn, yếu tố phụ tường được dùng để cụ thể hóa loại sự vật, hoạt động hoặc đặc trưng đó

c Từ láy

Trang 30

Từ láy là những từ phức do phương thức láy tác động vào một số từ tố

cơ sở Là những từ có các thành tố tương quan nhau hay giống nhau về mặt ngữ âm Thành tố thứ nhất có quan hệ với thành tố thứ 2 về mặt ngữ âm Ví dụ: “êm êm”, “thanh thanh”, “vòi vọi”, “mênh mang” trong:

Êm êm Thanh thanh Trăng cao vòi vọi Sông nước mênh mang

(Đêm xanh – Gió lộng)

Từ láy tiếng Việt có độ dài tối thiểu là hai tiếng, tối đa là 4 tiếng và còn

có loại ba tiếng Loại đầu tiên là loại phổ biến nhất cho từ láy và phương thức láy của tiếng Việt Từ láy trong tiếng Việt gồm có: láy hoàn toàn, láy bộ phận

Từ láy mang tính hình tượng và gợi cảm, miêu tả cảnh sắc thiên nhiên và hành vi, tính cách, tâm trạng của con người

1.6 Chuyển nghĩa và năng lực hoạt động của từ

Nghĩa của từ là nội dung tinh thần mà từ biểu hiện, nó được hình thành

do sự kết hợp và tác động của nhiều nhân tố Trong số đó có những nhân tố nằm ngoài ngôn ngữ và những nhân tố nằm trong ngôn ngữ Nhân tố ngoài ngôn ngữ như: sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan, tư duy và người

sử dụng Nhân tố trong ngôn ngữ như: chức năng tín hiệu học, hệ thống (cấu trúc) của ngôn ngữ Các thành phần ý nghĩa trong từ gồm có: ý nghĩa biểu niệm, ý nghĩa biểu vật, ý nghĩa biểu thái

Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về mặt trí tuệ và những nhu cầu về mặt giao tiếp buộc ngôn ngữ phải luôn thay đổi và sáng tạo để biểu thị những

sự vật, hiện tượng cùng những nhận thức mới, để thay thế cách diễn đạt, những tên gọi cũ đã mòn, không còn khả năng gợi tả, bộc lộ cảm xúc của con người Trong khi đó vốn từ của một ngôn ngữ không phải lúc nào cũng đáp

Trang 31

ứng được toàn bộ những yêu cầu đó, do vậy, thay đổi ý nghĩa của từ có sẵn, xây dựng, phát triển, cung cấp thêm nghĩa mới cho từ, thổi vào chúng một luồng sinh khí mới là một biện pháp tiết kiệm, sống động, giàu tính biểu cảm

Đó là hiện tượng chuyển nghĩa của từ

Chuyển nghĩa trong ngôn ngữ gồm hai phương thức chính yếu: chuyển nghĩa ẩn dụ và chuyển nghĩa hoán dụ Đây là hai phương thức chuyển nghĩa phổ biến trong tất cả các ngôn ngữ trên thế giới

1.6.2 Chuyển nghĩa ẩn dụ

“Ẩn dụ là phương thức chuyển tên gọi dựa trên sự liên tưởng so sánh

những mặt, những thuộc tính… giống nhau giữa các đối tượng được gọi tên”

[14, tr 176]

Phương thức ẩn dụ là phương thức lấy tên gọi A của x để gọi tên y (để biểu thị y) nếu như x và y có nét nào giống nhau Ẩn dụ là phương thức chuyển nghĩa dựa trên quan hệ tương đồng giữa x và y Phương thức này cho phép mở rộng khả năng liên tưởng, tư duy của con người

Tuỳ theo các sự vật x và y, tức là sự vật chính và sự vật nhận tên gọi

là các sự vật cụ thể, cảm nhận được bằng giác quan hay là các sự vật trừu tượng mà ẩn dụ chia thành ẩn dụ cụ thể - cụ thể và ẩn dụ cụ thể - trừu tượng Nếu x và y đều là sự vật cụ thể thì đó là ẩn dụ cụ thể - cụ thể Quan trọng hơn là sự phân biệt cơ chế ẩn dụ theo nét nghĩa chung dựa vào đó mà xuất hiện các ẩn dụ

Ví dụ: Hình ảnh mặt trời chỉ ánh sáng rực rỡ, chiếu sáng và sưởi ấm

khắp nhân gian dùng để nói về Bác Hồ:

“Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ”

1.6.2 Chuyển nghĩa hoán dụ

Trang 32

“Hoán dụ là một phương thức chuyển tên gọi dựa trên mối liên hệ lôgic

giữa các đối tượng được gọi tên” [14, tr177]

Phương thức hoán dụ là phương thức lấy tên gọi A của x để gọi tên y nếu x và y có liên hệ về mặt logic trong thực tế khách quan với nhau Hoán dụ

là phương thức chuyển nghĩa dựa trên quan hệ tương cận (gần gũi nhau) giữa

x và y Sự phân biệt ẩn dụ, hoán dụ trong từ nhiều nghĩa trở nên phức tạp khi

ẩn dụ chuyển thành hoán dụ hoặc ngược lại Trong tác phẩm văn học, nhà văn

có thể dùng các từ ngữ theo nghĩa ẩn dụ hay hoán dụ do mình đặt ra Tuy nhiên không phải tất cả các hiện tượng chuyển biến nghĩa đều có thể giải thích bằng hai phương thức ẩn dụ và hoán dụ

Như đã trình bày, từ vựng là một hệ thống bị chi phối bởi những quy luật chung và riêng, cho nên nghĩa của từ có thể chuyển biến do tác động của các quy luật đó Thí dụ, một trong những đặc điểm khá rõ của từ tiếng Việt là

sự phong phú về các từ đồng nghĩa Có thể xem sự đồng nghĩa hoá là một trong những quy luật chi phối sự biến đổi của từ vựng tiếng Việt

Một dạng khác của tác động của các quy luật ngữ nghĩa đối với sự chuyển biến nghĩa là các hiện tượng chuyển nghĩa do sự “cảm nhiễm” nghĩa của ngữ cảnh

Ví dụ: Tên gọi cơ quan với nghĩa “cơ quan ngôn luận”:

Báo Nhân dân là cơ quan ngôn luận của Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam

Cơ quan cũng có nghĩa là “cơ quan hành chính”:

Ngày mai, đồng chí phải có mặt ở cơ quan trước 7 giờ để đi công tác

Tác động thứ ba về nghĩa giữa các từ trong ngôn ngữ đến sự chuyển biến ngữ nghĩa của các từ thể hiện ở hiện tượng các từ trong một trường nghĩa thường chuyển nghĩa theo cùng một hướng

Trang 33

Ví dụ: Các từ cùng trường về “ánh sáng, lửa” chuyển theo cùng một

hướng chỉ tình cảm: lửa tình, lửa giận, lửa lòng, nhen nhóm, dập tắt,… [8]

Trang 34

TIỂU KẾT

Bên trên là toàn bộ những vấn đề chúng tôi trình bày làm căn cứ để làm việc Đi khảo sát từ vựng trong hai tác phẩm để thực hiện những công việc sau:

- Xác định và phân giới đơn vị thống kê

- Lập danh sách thống kê

- Tính tần số cho từng đơn vị thống kê

Đó chính là cơ sở dữ liệu để chúng tôi thực hiện những phân tích ở chương tiếp theo

Việc phân định, thống kê hệ thống từ vựng trong một tác phẩm là một việc làm không hề đơn giản Bởi vậy, trong đề tài luận văn chúng tôi không thể bao quát hết được các cơ sở lý thuyết của vấn đề, mà mới chỉ tìm ra, xác định cơ sở lý thuyết thuận tiện cho việc nghiên cứu của mình Dựa trên cơ sở

lý thuyết về từ, các đơn vị từ vựng tương đương với từ, căn cứ vào các tiêu chí nhận diện vốn từ vựng của một ngôn ngữ, chúng ta có thể lập được danh sách thống kê vốn từ vựng mà tác gia Tố Hữu đã sử dụng trong hai tập thơ

Việt Bắc, Gió lộng Từ đó chúng tôi phân định vốn từ vựng của tác giả về mặt

cấu trúc, phạm vi sử dụng, nguồn gốc, cũng như đánh giá độ phong phú từ vựng của tác phẩm, để trên cơ sở đó có thể đi tiếp tới những phân tích xa hơn

Trang 35

CHƯƠNG 2:

PHÂN TÍCH ĐỊNH LƯỢNG VỀ VỐN TỪ VÀ PHÂN TÍCH CÁC LỚP

TỪ TRONG VIỆT BẮC, GIÓ LỘNG

2.1 Đánh giá độ phong phú từ vựng của tác phẩm

2.1.1 Về chỉ số phong phú ( R ) của vốn từ

Để đánh giá độ phong phú của vốn từ tác phẩm hoặc vốn từ của tác giả, trong phương pháp thống kê ngôn ngữ học, người ta có thể sử dụng nhiều công thức cùng lúc để hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình phân tích; chẳng hạn: tính theo tỉ lệ số từ khác nhau trên tổng độ dài văn bản, tỉ lệ từ thực trên tổng

số từ khác nhau, tính độ tập trung từ vựng và độ phân tán từ vựng Ở đây, trong luận văn này chúng tôi sẽ áp dụng một số trong các công thức đó

a) Tính chỉ số R bằng tỉ lệ giữa số lượng từ khác nhau với tổng độ dài văn bản

Nhìn vào bảng thống kê từ vựng của tập thơ Việt Bắc, chúng tôi thấy

có 1731 từ ngữ (đơn vị từ vựng- đơn vị thống kê) khác nhau với tổng tần số lượt là 6593 lượt từ

Tập thơ Gió lộng, có 1835 từ ngữ khác nhau Về độ dài văn bản,

chúng tôi tính được tổng tần số các đơn vị thống kê trong toàn văn bản là

8106 lượt từ

Theo công thức của ngôn ngữ học thống kê tính độ phong phú từ vựng (chỉ số R) trong văn bản khảo sát [15, tr 169], chúng tôi xác lập cách tính cho các nguồn ngữ liệu ở đây theo công thức a) như sau:

Trang 36

V: Số từ khác nhau của văn bản N: Độ dài văn bản (tính bằng tổng tần số của các từ

- Khi độ dài văn bản càng lớn thì chỉ số R càng giảm dần

- Nếu hai văn bản có độ dài tương đương nhau thì văn bản nào có chỉ

số R cao hơn sẽ được coi là có độ phong phú từ vựng lớn hơn, tức là được coi

có từ vựng phong phú hơn (văn bản kia)

Sở dĩ như vậy là vì mỗi văn bản đều bao gồm một số từ nhất định trong

đó có những từ lặp lại nhiều hay ít khác nhau Chính điều này tạo ra sự liên hệ giữa độ dài văn bản và tổng số từ trong văn bản đó Nếu trong một văn bản

mà từ ngữ càng ít lặp lại thì độ phong phú của nó càng cao Người ta dùng tỉ

lệ giữa số lượng từ khác nhau V và tổng số lượt từ N của văn bản làm chỉ số đánh giá độ phong phú từ vựng R là vì như thế

Bên trên, nếu tính riêng biệt thì ta có hai chỉ số cho Việt Bắc và Gió

lộng Chỉ số R hai bên là tương đối gần nhau và chỉ số đó là khá cao, chứng tỏ

vốn từ trong Việt Bắc và Gió lộng có thể nói là có độ phong phú khá lớn; và

đây chính là một căn cứ quan trọng để đánh giá vốn từ của tác giả cũng như khả năng sử dụng từ vựng, ngôn ngữ dân tộc của ông Nếu so sánh với tập

Trang 37

Thơ thơ [1, tr 29…] , chỉ số R = 0,23; so với Quốc âm thi tập của Nguyễn

Trãi [5, tr15-21] , chỉ số R là 0,22

Nếu trộn hai tập thơ này thành một văn bản để khảo sát thì chúng tôi thu được kết quả như sau:

Tổng số đơn vị thống kê (từ ngữ) khác nhau [ V ] là 2733 từ ngữ

Tổng độ dài văn bản (hai tập) là [ N ] 14925 lượt từ

Theo công thức tính độ phong phú từ vựng trên đây, ta sẽ tính được chỉ

số R của văn bản chung gồm hai tập thơ là:

và đánh giá về từ vựng tác phẩm theo các tương quan định lượng, chứ chưa

Trang 38

phải là con số tuyệt đối và đầy đủ về toàn bộ từ vựng trong toàn bộ tác phẩm của Tố Hữu

Chúng tôi so sánh tỉ số V đã khảo sát trong hai tác phẩm thơ của

N

Tố Hữu (Việt Bắc, Gió lộng) với tập Thơ thơ của Xuân Diệu thì thấy: Nói

chung, chỉ số về độ phong phú từ vựng của ba tập này có thể coi là tương

đương, tuy Việt Bắc có nhỉnh hơn một chút

Nếu tính độ phân tán từ vựng trong Việt Bắc và Gió lộng trong khoảng

tần số 01 đến 02 thì số liệu cho thấy là như sau;

Trong Việt Bắc có tới 971 / 1731 từ ngữ chỉ xuất hiện 1 lần

có 257 / 1731 từ ngữ chỉ xuất hiện 2 lần

Trang 39

Trong Gió lộng có 885 / 1835 từ ngữ xuất hiện 1 lần

Trang 40

Trong tập Việt Bắc, chúng tôi lấy 50 từ có tần số cao nhất (tính từ trên

xuống), chiếm 2,8% tổng số từ khác nhau; tổng tần số của 50 từ này là 1957 chiếm tới 29,6% độ dài văn bản

Trong tập Gió lộng, 50 từ có tần số cao nhất chiếm 2,7 tổng số từ khác

nhau và tổng tần số của 50 từ này là 2299 chiếm 28,3% độ dài văn bản

Sau khi đã trộn cả hai tập, chúng ta có 50 từ có tần số cao nhất chiếm 1,8% số từ khác nhau; tổng tần số của 50 từ này là 4075 chiếm 27,3% độ dài văn bản

Mỗi văn bản được khảo sát ở đây, có độ dài không lớn lắm; nhưng chúng tôi vẫn lấy 50 từ có tần số cao nhất để tính chỉ số về độ tập trung từ vựng Thế nhưng các chỉ số ở đây chỉ khoảng 27 % đến 29,6 % trong khi chỉ

số về độ phân tán lại nằm trong khoảng từ 64 đến 80 % Sự chênh lệch lớn này rất có ý nghĩa trong sự phản ánh độ phong phú của vốn từ Như vậy, các kết quả tính chỉ số R theo các công thức trên đây cho thấy một số thông tin ban đầu sau đây:

Chỉ số R tính theo công thức a) là cao

Chỉ số về độ phân tán từ vựng tính theo công thức b) là cao

Chỉ số độ tập trung từ vựng tính theo công thức c) là thấp (chỉ bằng khoảng phân nửa hoặc non nửa so với chỉ số về độ phân tán)

So sánh trong nội hai tập thơ với nhau, các chỉ số đánh giá về độ phong

phú từ vựng của tập Việt Bắc luôn nhỉnh hơn, trội hơn tập Gió lộng một chút

Các chỉ số đó (nhất là so sánh tương quan giữa độ phân tán và độ tập trung từ vựng) chứng tỏ từ vựng trong hai tập thơ của Tố Hữu là phong phú

và việc dùng từ trong văn bản sáng tác của ông luôn có sự sáng tạo, ít lặp lại,

ít đi vào lối mòn Điều đó cho ta cảm giác ngôn ngữ thơ luôn biến đổi, vận động, cập nhật nhiều thông tin Nhà thơ đã cách tân, đổi mới cách sử dụng từ ngữ để diễn đạt tư tưởng, tình cảm của mình Những sáng tạo này làm cho

Ngày đăng: 23/04/2015, 18:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh, Từ điển Hán - Việt, NXB Khoa học xã hội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Hán - Việt
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
2. Vũ Thị Kim Anh, Tìm hiểu từ vựng thơ Xuân Diệu qua tập thơ thơ, Luận văn tốt nghiệp, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu từ vựng thơ Xuân Diệu qua tập thơ thơ
3. Nguyễn Đại Bằng, Cội nguồn tiếng Việt - phương thức cơ bản tạo từ, NXB Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cội nguồn tiếng Việt - phương thức cơ bản tạo từ
Nhà XB: NXB Văn hoá Thông tin
4. Nguyễn Phan Cảnh, Ngôn ngữ thơ, NXB Văn hoá – Thông tin, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Nhà XB: NXB Văn hoá – Thông tin
5. Nguyễn Tài Cẩn, Vũ Đức Nghiệu, Một vài nhận xét bước đầu về ngôn ngữ trong thơ Nguyễn Trãi (qua số liệu thống kê). Tạp chí Ngôn ngữ, số 3 năm 1980 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài nhận xét bước đầu về ngôn ngữ trong thơ Nguyễn Trãi (qua số liệu thống kê)
6. Bùi Hạnh Cẩn Từ vựng chữ số và số lượng, NXB Văn hoá thông tin, Hà Nội, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng chữ số và số lượng
Nhà XB: NXB Văn hoá thông tin
7. Đỗ Hữu Châu, Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, NXB Đại học quốc gia, Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia
8. Đỗ Hữu Châu, Giáo trình từ vựng học tiếng Việt, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình từ vựng học tiếng Việt
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
9. Đỗ Hữu Châu, Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
10. Đỗ Hữu Châu, Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, NXB Đại học và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1987 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng
Nhà XB: NXB Đại học và trung học chuyên nghiệp
11. Hoàng Thị Châu, Tiếng Việt trên các miền đất nước, Nxb KHXH, Hà Nội, 1989 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt trên các miền đất nước
Nhà XB: Nxb KHXH
12. Trần Nhật Chính, Sự phát triển của từ vựng tiếng Việt hiện đại: 30 năm đầu thế kỷ 20: 1900-1930, Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, Trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội, Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự phát triển của từ vựng tiếng Việt hiện đại: 30 năm đầu thế kỷ 20: 1900-1930
13. Trương Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê, Khảo luận về ngữ pháp Việt Nam, Đại học Huế, 1963 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo luận về ngữ pháp Việt Nam
14. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến, Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt
Nhà XB: NXB Giáo dục
15. Nguyễn Đức Dân, Ngôn ngữ học thống kê, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp Hà Nội, 1984 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học thống kê
Nhà XB: NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp Hà Nội
16. Nguyễn Đức Dân – Đặng Thái Minh, Thống kê ngôn ngữ học – Một số ứng dụng, NXB Giáo dục, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thống kê ngôn ngữ học – Một số ứng dụng
Nhà XB: NXB Giáo dục
17. Trần Trí Dõi, Ngôn ngữ và sự phát triển văn hoá xã hội, NXB Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ và sự phát triển văn hoá xã hội
Nhà XB: NXB Văn hoá Thông tin
18. Hữu Đạt, Ngôn ngữ thơ Việt Nam, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ Việt Nam
Nhà XB: Nxb Giáo dục
19. Hữu Đạt, Trần Trí Dõi, Thanh Lan, Cơ sở tiếng Việt, NXB Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở tiếng Việt
Nhà XB: NXB Văn hoá Thông tin
21. Hà Minh Đức, Tố Hữu thơ, NXB Văn học, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tố Hữu thơ
Nhà XB: NXB Văn học

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng số liệu trên cũng cho chúng ta thấy rằng, trong vốn từ của Tố Hữu  qua 2 tập thơ, từ đơn âm tiết đã chiếm 67,3% ở tập thơ Việt Bắc, 64% ở tập  thơ  Gió lộng  trong  tổng  số  lượng  từ  khác  nhau  của  văn  bản - Từ vựng trong thơ tố hữu ( khảo sát qua hai tập việt bắc và gió lộng )
Bảng s ố liệu trên cũng cho chúng ta thấy rằng, trong vốn từ của Tố Hữu qua 2 tập thơ, từ đơn âm tiết đã chiếm 67,3% ở tập thơ Việt Bắc, 64% ở tập thơ Gió lộng trong tổng số lượng từ khác nhau của văn bản (Trang 45)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w