Mục đích của đề tài Mục đích nghiên cứu của đề tài này là thông qua so sánh hiê ̣n tươ ̣ ng kiêng kỵ trong tiếng Hán và tiếng Việt , luận văn góp phần bổ sung thêm cho lý thuyết nghiên
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2Mục Lục
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích của đề tài 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Đối tượng nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Nguồn tư liệu 3
7 Bố cục của luận văn 3
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN KIÊNG KỲ NGÔN NGỮ 5
1.1 KIÊNG KỲ VÀ KIÊNG KỲ NGÔN NGỮ 5
1.1.1 Lịch sử của kiêng kỳ và khái niệm kiêng kỳ 5
1.1.2 Khái niệm kiêng kỳ ngôn ngữ 7
1.1.3 Kiêng kỳ ngôn ngữ và văn hóa 7
1.1.4 Kiêng kỳ ngôn ngữ và tri nhận 9
1.1.5 Kiêng kỳ ngôn ngữ và uyển ngữ 11
1.2 NGUYÊN NHÂN HÌNH THÀNH KIÊNG KỲ NGÔN NGỮ 12
1.2.1 Tâm lý kính nể 12
1.2.2 Tâm lý xấu hổ 13
1.2.3 Nhân tố chính trị 13
Trang 31.2.4 Tâm lý tìm tòi cái “đẹp” 14
1.3 ĐẶC TRƯNG CỦA KIÊNG KỲ NGÔN NGỮ 14
1.3.1 Tính phổ quát 14
1.3.2 Tính dân tộc 15
1.3.3 Tính thời đại 15
1.3.4 Tính khu vực 16
1.3.5 Tính kế thừa 16
1.4 PHÂN LOẠI KIÊNG KỲ NGÔN NGỮ 17
1.4.1 Phân loại kiêng kỳ ngôn ngữ từ góc độ tín ngưỡng 17
1.4.2 Phân loại kiêng kỳ ngôn ngữ từ góc độ thời gian 18
1.4.3 Phân loại kiêng kỳ ngôn ngữ từ góc độ khu vực 18
1.4.4 Phân loại kiêng kỳ ngôn ngữ từ các góc độ khác 18
1.5 TIỂU KẾT 19
CHƯƠNG 2 HIỆN TƯỢNG KIÊNG KỲ TRONG TIẾNG HÁN VÀ TIẾNG VIỆT 21
2.1 HIỆN TƯỢNG KIÊNG KỲ TRONG TIẾNG HÁN 21
2.1.1 Việc kiêng gọi tên trong tiếng Hán 21
2.1.1.1 Việc kiêng gọi tên trong tiếng Hán dưới xã hội phong kiến 21
2.1.1.2 Việc kiêng gọi tên trong tiếng Hán dưới xã hội hiện đại 24
2.1.2 Việc kiêng những từ thô tục trong tiếng Hán 25
2.1.2.1 Nhận xét việc kiêng những từ thô tục trong tiếng Hán về tình dục 25 2.1.2.2 Nhận xét việc kiêng những từ thô tục trong tiếng Hán liên quan đến việc
Trang 4bài tiết 28
2.1.3 Việc kiêng sử dụng các từ có nghĩa không tốt lành trong tiếng Hán 30
2.1.4 Uyển ngữ theo cách dùng kiêng kỳ trong tiếng Hán 33
2.1.4.1 Uyển ngữ liên quan đến những từ thô tục 33
2.1.4.2 Uyển ngữ liên quan đến những từ có nghĩa không tốt lành 35
2.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA KIÊNG KỲ NGÔN NGỮ TRONG TIẾNG HÁN 38
2.2.1 Xét trên bình diện ngôn ngữ 39
2.2.1.1 Xét về hình thức cấu tạo 39
2.2.1.2 Ý nghĩa từ vựng 41
2.2.2 Xét trên bình diện văn hóa, xã hội 42
2.2.2.1 Ảnh hưởng của quan niệm tôn pháp 42
2.2.2.2 Ảnh hưởng của quan niệm về giới tính và phúc họa 43
2.3 HIỆN TƯỢNG KIÊNG KỲ TRONG TIẾNG VIỆT 44
2.3.1 Việc kiêng gọi tên trong tiếng Việt 44
2.3.1.1 Việc kiêng gọi tên trong tiếng Việt dưới xã hội phong kiến 44
2.3.1.1 Việc kiêng gọi tên trong tiếng Việt dưới xã hội hiện đại 47
2.3.2 Việc kiêng những từ thô tục trong tiếng Việt 48
2.3.2.1 Nhận xét việc kiêng những từ thô tục về tình dục trong tiếng Việt 48
2.3.2.1 Nhận xét việc kiêng những từ thô tục trong tiếng Việt về việc bài tiết 49
2.3.3 Việc kiêng sử dụng các từ có nghĩa không tốt lành trong tiếng Việt 51
2.3.4 Uyển ngữ theo cách dùng kiêng kỳ trong tiếng Việt 53
2.3.4.1 Uyển ngữ theo cách dùng kiêng kỳ về những từ thô tục 53
Trang 52.3.4.2 Uyển ngữ theo cách dùng kiêng kỳ về những từ có ý nghĩa không tốt
lành 55
2.4 ĐẶC ĐIỂM CỦA KIÊNG KỲ NGÔN NGỮ TRONG TIẾNG VIỆT 58
2.4.1 Xét trên bình diện ngôn ngữ 58
2.4.1.1 Xét về hình thức cấu tạo 58
2.4.1.2 Ý nghĩa từ vựng 60
2.4.2 Xét trên bình diện xã hội, văn hóa 61
2.4.2.1 Ảnh hưởng của Nho giáo và quan niệm về tổ tiên 61
2.4.2.1 Ảnh hưởng của quan niệm về giới tính 62
2.5 TIỂU KẾT 62
CHƯƠNG 3 SO SÁNH HIỆN TƯỢNG KIÊNG KỲ TRONG TIẾNG HÁN VÀ TIẾNG VIỆT 64
3.1 XÉT TRÊN BÌNH DIỆN NGÔN NGỮ 64
3.1.1 Nét tương đồng 64
3.1.2 Nét dị biệt 66
3.2 XÉT TRÊN BÌNH DIỆN VĂN HÓA, XÃ HỘI VÀ TRI NHẬN 68
3.2.1 Nét tương đồng 68
3.2.2 Nét dị biệt 69
3.3 NGUYÊN NHÂN HÌNH THÀNH SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ SỰ DỊ BIỆT TRONG KIÊNG KỲ NGÔN NGỮ GIỮA TIẾNG HÁN VÀ TIẾNG VIỆT 69
3.3.1 Xét trên bình diện tri nhận 69
3.3.2 Xét trên bình diện văn hóa, xã hội 71
Trang 63.4 TIỂU KẾT 72
KẾT LUẬN 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
PHỤ LỤC 80
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngôn ngữ là một loại công cụ giao tiếp xã hội Người ta sử dụng ngôn ngữ
để trao đổi tư tưởng, truyền đạt thông tin, nhằm mục đích hiểu biết lẫn nhau Nhưng ngôn ngữ lại không chỉ là công cụ giao tiếp, nó còn là một hiện tượng văn hóa Trong đó, kiêng kỵ ngôn ngữ là một hiện tượng rất đặc biệt, nó xuất hiện cùng với ngôn ngữ
Tiếng Hán và tiếng Viê ̣t là hai ngôn ngữ thuô ̣ c ngữ hê ̣ hoàn toàn khác nhau , nhưng trong hai ngôn ngữ này đều xuất hiện hiện tượng kiêng kỵ Chẳng hạn, đối với người Trung Quốc và người Việt Nam, đều kiêng nói từ ―chết‖ một cách trực tiếp Người Trung Quốc thường dùng những từ như ―去世(quá thời)‖,―走
了(đi rồi)‖,―离开(rời khỏi)‖ v.v để biểu thị ý nghĩa của từ ―chết‖ Người Việt cũng không nói từ ―chết‖ trực tiếp, mà thường dùng những từ khác để biểu thị ý nghĩa của từ ―chết‖, như ―mất‖, ―hy sinh‖, ―về ‖ v.v
Người Trung Quốc và người Viê ̣t Nam đều rất coi tro ̣ng kiêng ky ̣ trong ngôn ngữ Vấn đề kiêng ky ̣ trong tiếng Hán và tiếng Viê ̣t có chỗ giống nhau
nhưng cũng có chỗ khác nhau Chúng tôi thực hiện đề tài này nhằm tìm hiểu những đă ̣c trưng của hiê ̣n tượng kiêng ky ̣ ngôn ngữ trong tiếng Hán và tiếng Viê ̣t, đồng thời tìm ra nguyên nhân của nó (Vì sao có hiệ n tượng kiêng ky ̣ , vì sao các kiêng ky ̣ la ̣i có sự giống nhau , khác nhau giữa hai ngôn ngữ ) Thực hiện
đề tài này, chúng tôi hy vọng có được những cứ liệu bổ ích giúp cho những ai học tiếng Hán hoặc tiếng Việt có thể có thêm sự hiểu biết sâu sắc về văn hóa và ngôn ngữ của hai dân tộc Trung Quốc và Việt Nam
Trang 82 Mục đích của đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài này là thông qua so sánh hiê ̣n tươ ̣ ng kiêng
kỵ trong tiếng Hán và tiếng Việt , luận văn góp phần bổ sung thêm cho lý thuyết nghiên cứu lí luận về kiêng ky ̣ ngôn ngữ ; nghiên cứu những đặc trưng ngôn ngữ văn hoá của mỗi dân tộc (Trung Quốc và Việt Nam) nói chung, đặc điểm kiêng
kỵ ngôn ngữ của mỗi dân tộc nói riêng; ngoài ra luận văn còn góp ph ần vào tìm hiểu hiê ̣n tươ ̣ng uy ển ngữ trong tiếng Hán và tiếng Viê ̣t
Luận văn này sẽ thực hiện một số công việc sau:
Thu tập và tổng kết những kiêng kỵ ngôn ngữ trong tiếng Hán và tiếng Việt
Tìm hiểu một số đặc điểm của kiêng kỵ ngôn ngữ trong tiếng Hán và tiếng Việt Tìm ra nguyên nhân hình thành kiêng kỵ ngôn ngữ và đặc điểm của kiêng kỵ ngôn ngữ trong tiếng Hán và tiếng Việt
Góp phần giúp những người học tiếng Hán hoặc tiếng Việt hiểu biết ngôn ngữ và văn hóa của hai dân tộc Hán và Việt
Qua mô tả và so sánh, luận văn sẽ đưa ra những nhận xét về những điểm giống và khác nhau trong kiêng kỵ ngôn ngữ giữa tiếng Hán và tíếng Việt, nhất
là về các điểm khác biệt giữa hai ngôn ngữ này
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ của luận văn này chủ yếu là:
Giới thiệu một số vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến kiêng ky ̣ và kiêng
kỵ ngôn ngữ
So sánh kiêng ky ̣ ngôn ngữ trong tiếng Hán và tiếng Viê ̣t
Tìm hiểu nguyên nhân củ a sự khác biê ̣t về tâ ̣p quán ngôn ngữ , tìm hiểu về văn hoá và ngôn ngữ của hai nước
Trang 94 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các đơn vị ngôn ngữ liên quan đến hiện tượng kiêng kỵ trong tiếng Hán và tiếng Việt
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp miêu tả: đây là phương pháp giúp luận văn đạt được mục
tiêu chính là miêu tả các đơn vị ngôn ngữ liên quan đến hiện tượng kiêng kỵ trong tiếng Hán và tiếng Việt
Phương pháp so sánh – đối chiếu: luận văn áp dụng phương pháp này cùng với thủ pháp phân tích nhằm tìm ra chỗ khác nhau và giống nhau của các
đơn vị ngôn ngữ liên quan đến hiện tượng kiêng kỵ trong tiếng Hán và tiếng Việt, cũng như nguyên nhân đưa đến kiêng kỵ ngôn ngữ trong tiếng Hán và tiếng Việt và sự khác biệt giữa chúng
Phương pháp thống kê: Luận văn thống kê các đơn vị ngôn ngữ liên quan
đến hiện tượng kiêng kỵ trong tiếng Hán và tiếng Việt nhằm cung cấp một bức tranh toàn cảnh về hiện tượng này
6 Nguồn tư liệu
Nguồn tư liệu của luận văn là:
Các tác phẩm văn học tiếng Hán và tiếng Việt có xuất hiện các hiện tượng kiêng kỵ
7 Bố cục của luận văn
Ngòai phần mở đầu và kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo theo quy định, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận liên quan đến kiêng kỳ ngôn ngữ
Trong chương này, luận văn trình bày một số nội dung lí thuyết liên quan đến đề tài như nguồn gốc của kiêng ky ̣ ngôn ngữ , khái niệm về kiêng kỵ ngôn
Trang 10ngữ, kiêng ky ̣ ngôn ngữ và văn hoá Cuối cùng sẽ phân loa ̣i hiê ̣n tượng kiêng ky ̣ trong ngôn ngữ
Chương 2: Hiê ̣n tươ ̣ng kiêng ky ̣ trong tiếng Hán và tiếng Viê ̣t
Trong chương này luâ ̣n văn giới thiê ̣u những kiêng ky ̣ ngôn ngữ trong tiếng Hán và tiếng Viê ̣t v ề phương diện: việc kiêng gọi tên, việc kiêng những từ thô tục, việc kiêng sử dụng các từ có nghĩa không tốt lành, kiêng ky ̣ theo cách dùng uyển ngữ
Khái quát các đặc điểm của kiêng ky ̣ ngôn ngữ trong tiếng Hán và tiếng Viê ̣t
Chương 3: Đối chiếu hiê ̣n tươ ̣ng kiêng ky ̣ trong tiếng Hán và tiếng Viê ̣t
So sánh hiê ̣n tượng kiêng kỵ trong tiếng Hán và tiếng Việt , rút ra những nét tương đồng và nét dị biệt trong kiêng ky ̣ ngôn ngữ giữa tiếng Hán và tiếng Viê ̣t Phân tích nguyên nhân của sự khác biê ̣t và sự giống nhau
Trang 11CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN KIÊNG KỲ NGÔN NGỮ
1.1 KIÊNG KỲ VÀ KIÊNG KỲ NGÔN NGỮ
1.1.1 Lịch sử của kiêng kỳ và khái niệm kiêng kỳ
Nói về lịch sử của kiêng kỵ, chúng ta phải nói đến từ; ―taboo‖ Từ ―taboo‖
xuất hiện vào thế kỳ XVIII, do nhà hàng hải người Anh James Cook phát hiện Khi James đến quần đảo Tonga Nam Thái Bình Dương tiếp xúc với những người bản địa, ông phát hiện rất nhiều hiện tượng xã hội kỳ lạ Ví dụ, có những
đồ vật người thường không được sử dụng, chỉ những người thuộc tầng lớp trên (thần, tăng lữ, vua, tù trưởng, ) mới được sử dụng, hoặc là có những đồ vật chỉ
có thể dùng trong những trường hợp đặc biệt
Những hiện tượng như vậy được cư dân trên đảo này gọi là ―taboo‖ Từ này có nghĩa là ―thiêng liêng‖, ―không được tiếp xúc‖ và ―những sự việc phải rất chú ý‖ Từ ―taboo‖ sau này đã trở thành một danh từ chuyên môn chỉ hiện tượng kiêng kỵ và được sử dụng trong nhiều lĩnh vực như Nhân loại học, Nhân chủng học, Xã hội học
Nhưng thực ra kiêng kỵ trong nhiều quốc gia đều có lịch sử lâu đời, nó cũng là một hiện tượng phổ biến trong văn hóa các dân tộc
Theo từ điển tiếng Việt (NXB Đà Nẵng năm 2006), kiêng kỵ là kiêng (nói khái quát; thường nói về phong tục, tín ngưỡng hoặc điều mê tín), như ―từ kiêng kỵ‖; (dùng trong câu có ý phủ định) Nể sợ, giữ gìn.[13]
Theo từ điển tiếng Việt (NXB Thanh niên năm 2010), kiêng kỵ là kiêng (đối với thần thánh, ma quỉ, v.v.), nói chung; cũng là nể sợ, giữ gìn.[14]
Trang 12Theo TS GS Nguyễn Thiện Giáp kiêng kỵ là: hiện tượng hạn chế cách dùng từ do những nhân tố ngoài ngôn ngữ quy định.[8, 231]
Kiêng kỵ (taboo) là một loại kiêng cấm hình thành trong thái độ mà người
ta ứng sử với những sự việc thiêng liêng, nguy hiểm hoặc những sự việc liên quan đến ma quái, quỷ thần Kiêng kỵ có hai đặc trưng chủ yếu là nguy hiểm và trừng phạt Kiêng kỵ là biện pháp tự vệ trong tâm lý và lời nói với những mục đích vì lợi của bản thân mình Về nguồn gốc, có thể coi kiêng kỵ là hiện tượng hình thành từ sùng bái quỷ thần Nó là một bộ phận hợp thành phong tục tập quán của các bộ tộc
Hiện tượng kiêng kỵ bao gồm hai mặt: một là những vật linh thiêng được tôn kính, không được phép sử dụng một cách tùy tiện; mặt khác là những vật thấp hèn bị coi khinh không được phép tiếp xúc một cách tùy tiện[10, 5] Sự phát triển của kiêng kỵ có thể chia thành ba giai đoạn: giai đoạn nguyên thủy, giai đoạn thứ sinh và giai đoạn chuyển hóa tiêu vong
Trong cuộc sống hàng ngày của con người, cụ thể là trong lễ tục, ngày tết, hoặc trong quá trình hoạt động nghề nghiệp, những điều không tốt lành đều nằm trong phạm vị kiêng kỵ Nhưng bắt đầu từ thời cận đại, vì sự phát triển của khoa học và sự giải phóng của con ngừời, kiêng kỵ bắt đầu tiêu vong và chuyển hóa Kiêng kỵ vốn là những biện pháp đề phòng tiêu cực của nhân loại thời cổ,
vì những quan niệm mê tín của mình trong sự sợ hãi và kính cẩn đối với lực lượng siêu nhiên Trong xã hội thời cổ, kiêng kỵ giống như pháp luật có tác dụng quy phạm và chế ước Cho đến nay, theo sự tiêu vong của quan niệm mê tín và cảm giác huyền bí về những sự vật kiêng cấm, nhiều hiện tượng kiêng kỵ cũng đã dần dần đi đến con đường tiêu vong Tuy vậy, trong giai đoạn hiện đại vẫn có một số kiêng kỵ được bảo tồn, và có ảnh hưởng ít nhiều đến cuộc sống của con người
Trang 131.1.2 Khái niệm kiêng kỳ ngôn ngữ
Kiêng kỵ ngôn ngữ hình thành từ việc kiêng kỵ nói chung, nó là một bộ phận của sự kiêng kỵ
Kiêng kỵ ngôn ngữ(linguistic taboo), là hiện tượng tránh sử dụng các từ ngữ mà do một nguyên nhân nào đó, trong quá trình giao tiếp, người nói không thể, không được hoặc không dám, không muốn nói ra Những từ ngữ này
thường mang mầu sắc đe doạ hoặc tiên báo về điềm gở, được người ta nhìn nhận là những từ ngữ có tính thiêng liêng hay nguy hiểm khiến cho người nghe cũng không chấp nhận Những từ ngữ này chỉ được sử dụng đối với một số đối tượng và trong những trường hợp nhất định
Nói một cách đơn giản, kiêng kỵ ngôn ngữ là một loại phương thức biểu đạt uyển chuyển của con người, nhằm né tránh một số từ ngữ, khái niệm được coi là bất lợi trong quá trình giao tiếp
Kiêng kỵ ngôn ngữ tồn tại khá phổ biến trong các ngôn ngữ trên thế giới Hiện tượng này không những phản ánh đặc trưng văn hóa và phong tục tập quán,
mà còn phản ánh đặc trưng tâm lý của cộng đồng người nói ngôn ngữ đó
1.1.3 Kiêng kỳ ngôn ngữ và văn hóa
Ngôn ngữ là sự thể hiện của văn hóa, là một bộ phận của văn hóa dân tộc,
nó biến đổi theo sự phát triển của một dân tộc Chính ngôn ngữ cùng với những yếu tố khác đã cấu thành văn hóa của một dân tộc Nói chung ngôn ngữ đã phản chiếu toàn diê ̣n các đă ̣c trưng của nền văn hoá dân tô ̣c Văn hóa cũng có ảnh hưởng đối với ngôn ngữ Nói một cách khác, ngôn ngữ và văn hóa có tác động qua lại lẫn nhau
Kiêng kỵ ngôn ngữ là một hiện tượng ngôn ngữ học xã hội, có quan hệ chặt chẽ với văn hóa xã hội Từ bản chất của nó, kiêng kỵ ngôn ngữ là một hành
vi ngôn ngữ gián tiếp, là một phương thức thực hành kỹ thuật của ngôn ngữ Từ phưong diện xã hội, kiêng kỵ ngôn ngữ là sự thể hiện cụ thể của phong tục tập
Trang 14quán và tâm lý văn hóa xã hội của một dân tộc
Nhà ngôn ngữ học vĩ đại F.d.Saussure đã nói: ― Phong tục tập quán của một dân tộc thường phản ánh trong ngôn ngữ của nó, mặt khác, trên mức độ lớn, chính là ngôn ngữ cấu thành một dân tộc.‖[47, 1]
Các dân tộc sống trong hoàn cảnh khác nhau về môi trường sinh thái, vật chất, xã hội và tôn giáo v.v , những sự khác biệt này đã tạo cho mỗi dân tộc có một bức tranh văn hóa xã hội riêng biệt Do vậy, mỗi dân tộc đều có phương thức biểu đạt riêng biệt của mình Kiêng kỵ ngôn ngữ là một bộ phận của ngôn ngữ, cho nên kiêng kỵ ngôn ngữ cũng có quan hệ chặt chẽ với văn hóa
Người Trung Quốc và người Việt Nam khi chào hỏi đều có một tập quán là thích hỏi những vấn đề cá nhân Ví dụ, người Trung Quốc chào hỏi thường dùng những câu như ―你吃了没?(Ăn cơm chưa?)‖ , ―你去哪里?(Đi đâu đấy?)‖, v.v , người Việt Nam cũng có những câu tương tự và những câu như ―Bà mới
đi chợ về ạ?‖ , ―Hôm qua không thấy bạn, bạn đi đâu?‖, v.v Trong quá trình chào hỏi người Trung Quốc và người Việt Nam rất muốn biết tất cả tình hình liên quan đến người khác để biểu thị sự quan tâm của mình Vì vậy, người Trung Quốc và người Việt Nam đều thích hỏi những vấn đề liên quan đến gia đình, công tác Nguyên nhân hình thành đặc điểm phương thức chào hỏi của người Trung Quốc và người Việt Nam là: Trung Quốc và Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng Nho giáo Người dân của hai nước này từ lâu đã có
ý thức quan tâm, giúp đỡ lẫn nhau Ai ai cũng đều lấy xã hội, cộng đồng làm trung tâm Trong khi đó, những người phương Tây, khi chào hỏi mà nói đến những vấn đề liên quan đến cá nhân là một việc không lịch sự, thậm chí người
ta còn cho rằng làm như thế là xâm phạm đến quyền riêng tư cá nhân Vì vậy khi người phương Tây chào hỏi thường nói những lời không liên quan đến vấn
đề cá nhân như ―Good morning! (chào buổi sáng!)‖, ―How are you today? (Bạn
có khỏe không?)‖,v.v
Ở Việt Nam, người nói thường kiêng khen một đứa trẻ bằng các từ ―đẹp‖,
―mập‖, ―bụ bẫm‖, vì người ta cho rằng khen trẻ con như vậy là quở quang trẻ,
Trang 15làm cho trẻ dễ sa sút đau ốm Nhưng ở Trung Quốc thì không có sự kiêng kỵ kiểu này Ở Trung Quốc nếu khen một đứa trẻ như vậy bố mẹ của đứa trẻ sẽ rất vui
Dựa vào những ví dụ trên, chúng ta có thể cho rằng, kiêng kỵ ngôn ngữ là một hiện tượng phản ánh sự khác biệt về văn hóa giữa các dân tộc Kiêng kỵ ngôn ngữ gắn liền với phong tục tập quán xã hội Khi giao tiếp, nếu phạm những điều kiêng kỵ văn hóa, hay kiêng kỵ ngôn ngữ cũng sẽ gây ra sai lầm, khiến người nghe phản ứng Hiểu biết kiêng kỵ ngôn ngữ, chú ý sự khác biệt giữa văn hóa của các dân tộc, sẽ giúp cho người nước ngòai khi giao tiếp với người bản ngữ tránh được các sai lầm đáng tiếc
1.1.4 Kiêng kỳ ngôn ngữ và tri nhận
Theo quan điểm của ngôn ngữ học tri nhận, khả năng ngôn ngữ không phải
là một khả năng thiên bẩm hoàn toàn độc lập với khả năng tri nhận, cơ chế ngôn ngữ chỉ là một phần của cơ chế tri nhận phổ quát Ngôn ngữ vừa là sản phẩm của hoạt đồng tri nhận vừa là công cụ hoạt đồng tri nhận của con người Ý nghĩa của ngôn ngữ không hạn chế trong nội bộ hệ thống ngôn ngữ mà nó có nguồn gốc sâu xa từ kinh nghiệm được hình thành trong quá trình con người và thế giới tương tác với nhau, và từ tri thức, hệ thống niềm tin của con người
Ví dụ từ ―chết‖ thường liên quan đến những cảm giác không tốt như ―rét cóng‖, ―cứng đờ‖, ―thê thảm‖, thậm chí là những cảm giác đẫm máu Có thể nói trong quá trình tri nhận, con người đã chấp nhận ―chết‖ là một từ liên quan đến nhiều cảm giác không tốt, sự phản ánh tâm lý tri nhận chung này đã khiến con người không muốn nói đến từ này Đa số người nói muốn tránh nhắc đến từ
―chết‖ thực ra là muốn tránh những tình cảm tâm lý tri nhận như tính buồn nôn, căng thẳng, và khủng khiếp
Thêm một ví dụ khác là cách tri nhận từ ―quỷ‖.Trong quá trình tri nhận của con ngừời sống thời nguyên thuỷ, ―quỷ‖ thường là hiện thân của sự ―ác dữ‖, ―có
Trang 16phép, có năng lực đem lại tai nạn cho con người vì vậy người ta kính nể và sợ hãi khi nói từ―quỷ‖, cũng không dám nói những từ ngữ không kính trọng đối với ―quỷ‖ Cho đến hiện nay, theo sự phát triển của khoa học xã hội, người ta đã biết trên thế giới này không có ―quỷ‖, do vậy người ta cũng không kiêng nói những từ không kính trọng ―quỷ‖ nữa
Thông qua hai ví dụ nói trên chúng ta có thể cho rằng kiêng kỵ ngôn ngữ
có liên quan chặt chẽ với tri nhận của con người Kiêng kỵ ngôn ngữ thay đổi theo sự phát triển của tri nhận con người
Về mặt tri nhận, chúng ta có định nghĩa kiêng kỵ ngôn ngữ như sau: trong quá trình tri nhận về các sự vật, con người phát hiện rằng, dùng những từ ngữ biểu đạt một số sự vật có thể sẽ gây ra tâm lý bất mãn đối với mọi người, vì vậy người ta cho rằng những từ ngữ này là không nên nói, không được nói
Ngôn ngữ học tri nhận cũng cho rằng, những kinh nghiệm tích lũy được của chúng ta về thế giới cũng được tàng trữ trong ngôn ngữ hàng ngày và do vậy những kinh nghiệm ấy có thể thu lượm được từ cái cách thức mà chúng ta diễn đạt các tư tưởng của mình
Có thể nói kiêng kỵ ngôn ngữ là một loại kinh nghiệm của con người tàng trữ trong ngôn ngữ Kiêng kỵ ngôn ngữ không phải là một người trong cộng đồng cho rằng những từ ngữ nào phải kiêng những từ ngữ nào không cần kiêng, đây là một nhận thức chung của một cộng đồng, kiêng kỵ ngôn ngữ của một cộng đồng như là một kinh nghiệm được lưu truyền cho người sau, là những tâm lý kính nể, xấu hổ đối với những sự vật thể hiện trong ngôn ngữ
Chẳng hạn, vẫn là từ ―chết‖, vì sao trong ngôn ngữ các nước đều kiêng nói
từ này? Vì trong quá trình tri nhận, con người đã biết ―chết‖ cụ thể là gì, sẽ gây
ra những cảm giác không tốt đối với mọi người, những nhận thức như vậy thể hiện trong ngôn ngữ bằng hình thức người ta kiêng nói từ này trong cuộc sống hàng ngày
Tóm lại, kiêng kỵ ngôn ngữ là sự thể hiện của khả năng tri nhận con người, cũng là một loại kinh nghiệm của con người tàng trữ trong ngôn ngữ
Trang 171.1.5 Kiêng kỳ ngôn ngữ và uyển ngữ
Uyển ngữ là từ hoặc ngữ được sử dụng thay thế những từ, ngữ được coi là chưa nhã, quá trực tiếp, dung tục, chướng tai gai mắt hay thô thiển trong các lĩnh vực đời sống xã hội.[10, 18]
Uyển ngữ cũng như kiêng kỵ ngôn ngữ, do kiêng kỵ hình thành, và có nguồn gốc lâu đời trong tín ngưỡng, tập tục, tôn giáo, tâm lý của con người Kiêng kỵ ngôn ngữ và uyển ngữ có quan hệ chặt chẽ, trong cuộc sống thực tế có kiêng kỵ tồn tại thì uyển ngữ sẽ không bao giờ biến mất Uyển ngữ tồn tại vì thay thế kiêng kỵ ngôn ngữ, sự tồn tại của kiêng kỵ và kiêng kỵ ngôn ngữ sẽ không ngừng kích thích sự sinh ra của uyển ngữ, khiến số lượng uyển ngữ liên tiếp tăng thêm
Kiêng kỵ ngôn ngữ và uyển ngữ là hai mặt của một sự vật, kiêng kỵ ngôn ngữ là trực tiếp biểu đạt sự vật, còn uyển ngữ là gián tiếp biểu đạt nó Do vậy chúng ta có thể cho rằng tác dụng chủ yếu (nhưng không phải là tác dụng duy nhất) của uyển ngữ là thay thế những từ ngữ kiêng kỵ
Nhưng kiêng kỵ ngôn ngữ và uyển ngữ cũng có chỗ khác biệt:
Một mặt, tuy uyển ngữ sinh ra từ hiện tượng kiêng kỵ, nhưng không phải là tất cả uyển ngữ đều liên quan đến kiêng kỵ ngôn ngữ Trong giao tiếp hàng ngày, người ta sử dụng uyển ngữ không chỉ để thay thế những từ ngữ kiêng kỵ,
có khi vì yêu cầu của giao tiếp, người ta còn sử dụng uyển ngữ tạo ra bầu không khí hài hước Hoặc là vì muốn người khác dễ chịu, người ta phải nói một cách lịch sự hơn, cho nên cũng phải sử dụng uyển ngữ
Mặt khác, tác dụng của kiêng kỵ ngôn ngữ và uyển ngữ khác nhau Khi sử dụng những từ ngữ kiêng kỵ, sẽ có hiểu quả gây ra sự chú ý của người khác Có khi con người cố ý sử dụng những từ ngữ kiêng kỵ để trút hết nỗi bực mình hoặc tỏ rõ thân phận của mình Kiêng kỵ ngôn ngữ là một hiện tượng ngôn ngữ, nhưng nó có tác dụng xã hội nhất định Uyển ngữ là nhân tố tích cực trong giao tiếp, nó có thể tránh những từ ngữ không lịch sự, mà dùng các từ hòa hoãn ngữ
Trang 18khí
Uyển ngữ thường dùng trong những trường hợp chính thức như lĩnh vực ngoại giao, quân sự, chính trị v.v…, còn những từ ngữ kiêng kỵ thì thường sử dụng trong những trường hợp phi chính thức
1.2 NGUYÊN NHÂN HÌNH THÀNH KIÊNG KỲ NGÔN NGỮ
Kiêng kỵ ngôn ngữ sinh ra do trình độ tri nhận Sản xuất của người thời cổ rất thấp, và lúc đó thế giới quan của người ta là vạn vật có linh Trong thời cổ người ta không biết ngôn ngữ là gì, ngôn ngữ được phó thác cho lực lượng huyền bí Ngôn ngữ vừa có thể đem lại phúc lành vừa có thể tránh khỏi tai nạn,
vì vậy người ta đã coi ngôn ngữ chính là những sự vật mà ngôn ngữ đại diện Cho nên trong cuộc sống hàng ngày, người ta rất cẩn thận sử dụng những từ ngữ liên quan đến phúc họa, vì sợ làm quỷ hoặc thánh tức giận Chính vì vậy đã sinh
Trong “Truyện Phong Thần” của Trung Quốc, thần thoại kể về vua triều
Thương nói một số lời không kính nể đối với nữ thần Nữ Oa, Nữ Oa rất tức giận, trả thù vua triều Thương, cuối cùng khiến triều Thương diệt vong Đây thực ra
Trang 19là sự phản ánh tâm lý kiêng kỵ ngôn ngữ của dân tộc Trung Quốc ―Thần‖ và
―quỷ‖ là hai khái niệm khác nhau, ―thần‖ là đại diện hiền lành, đem phúc đức cho con ngừời, ―quỷ‖ đại diện cho cái ác, đem tai nạn cho con người Như vậy người ta đã có tâm lý kính nể đối với quỷ thần Ví dụ người Trung Quốc ăn tết
âm lịch phải có cái bùa để xua đuổi quỷ quái, người Việt Nam ăn tết âm lịch phải thờ cúng Táo Quân
Trong dân gian Trung Quốc hay Việt Nam đều có một loại tâm lý là ―nói
dữ thì thành dữ, nói họa thì thành họa‖, có nghĩa là nói những lời ác dữ thì sẽ gây ra những chuyện ác dữ, vì vậy người ta rất kiêng nói những từ ngữ liên quan đến ác dữ và tại nạn, như ―chết‖, ―bệnh‖, ―ác‖, v.v
1.2.2 Tâm lý xấu hổ
Xấu hổ là tâm lý do muốn giấu việc riêng tư xẩy ra, chủ yếu liên quan đến tình dục, những hành vi phi đạo đức Người Trung Quốc và người Việt Nam đều chịu ảnh hưởng lớn của Nho giáo Nho giáo chủ trưong ―lễ‖, có nghĩa là người
ta làm gì đều phải theo lễ tục nhất định, phải có quy phạm đạo đức đối với hành
vi tư tưởng của mọi người Ở Trung Quốc, từ xưa người ta đã cho rằng quân tử không được có ham muốn, còn ở Việt Nam, trinh tiết của phụ nữ cực kỳ quan trọng Vì vậy trong tiếng Hán và tiếng Việt đều có kiêng kỵ ngôn ngữ do tâm lý xấu hổ gây ra Chẳng hạn không được trực tiếp nói những từ ngữ liên quan đến tình dục, phải dùng những từ uyển ngữ
1.2.3 Nhân tố chính trị
Sau khi xã hội loài người được phân chia thành giai cấp thống trị và giai cấp bị trị, giai cấp thống trị đã có độc quyền đối với ngôn ngữ Ở Trung Quốc và Việt Nam, từ xưa đã có chế độ giai cấp xã hội nghiêm khắc, vua tôi, bố con, vợ chồng đều phải tuân theo những quy phạm ngôn ngữ Vì vậy đã xuất hiện sự kiêng kỵ về tên gọi Kiêng kỵ xưng hô tức là kiêng húy Ví dụ người bình
Trang 20thường không được đặt tên giống như vua, con cháu không được sử dụng tên của cụ tổ
Những lễ tục hình thành từ xã hội phong kiến nhưng cho đến bây giờ còn
có nhiều người theo lễ tục kiêng húy
1.2.4 Tâm lý tìm tòi cái “đẹp”
Con ngừoi đều thích những thứ đẹp, bất cứ trong xã hội nào, người ta đều thích sử dụng những từ ngữ uyển chuyển thay những từ ngữ bất lịch sự, không tốt lành Để người nghe có thể hiểu được ý nghĩa của người nói, đồng thời cũng không xúc phạm quan hệ của hai bên
Ví dụ ở Trung Quốc, khi ngồi trong quán ăn, người ta thường dùng từ ngữ
―去洗手间(đi phòng vệ sinh)‖ thay từ ngữ―上厕所(đi nhà xí)‖, vì đối với người Trung Quốc khi ăn cơm nói từ ―厕所(nhà xí)‖ là một việc bất lịch sự
1.3 ĐẶC TRƢNG CỦA KIÊNG KỲ NGÔN NGỮ
1.3.1 Tính phổ quát
Kiêng kỵ ngôn ngữ là một hiện tượng văn hóa phổ biến tồn tại trong các dân tộc trên thế giới Bất cứ ở phương Đông hay là ở phương Tây đều tồn tại kiêng kỵ ngôn ngữ Con người sống trong một cộng đồng nhất định, vì vậy con người sẽ chịu ràng buộc của quy phạm cộng đồng Hành vi và ngôn ngữ của con người không phải là hoàn toàn tự do mà phải phù hợp với quy phạm của cộng đồng Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp của con người, vì vậy trong quá trình con người sử dụng ngôn ngữ cũng có một số ràng buộc của cộng đồng
Phạm vi kiêng kỵ ngôn ngữ rất rộng rãi, thể hiện trong các phương diện trong cuộc sống con người như: sản xuất, lao động…cho đến xưng hô trong giao tiếp, cách đặt tên…ở lĩnh vực nào cũng có thể thấy được kiêng kỵ ngôn ngữ Chẳng hạn, với từ ―chết‖, tuy văn hóa phương Đông và phương Tây rất khác nhau, nhưng người phương Đông và người phương Tây đều không muốn
Trang 21nói từ này, người ta càng thích dùng những cách uyển chuyển để thể hiện từ này
Ví dụ tiếng Anh dùng những từ ngữ ―to pass on‖, ―pass over‖, ―cut the painter‖, tiếng Hán dùng những từ ngữ ―去世(quá thời)‖,―走了(đi rồi)‖,―离开(rời khỏi)‖, tiếng Việt dùng những từ ngữ ―mất‖, ―hy sinh‖, ―về quê‖, ―đi‖, ―về‖ để biểu thị khái niệm ―chết‖
1.3.2 Tính dân tộc
Ngôn ngữ như là người chuyên chở của văn hóa Mỗi dân tộc đều có một kiểu văn hóa riêng của mình, chế độ xã hội, quan niệm giá trị, phương thức cuộc sống của các dân tộc đều khác nhau, sự chênh lệch của kiểu văn hóa khiến nội dung và hình thức kiêng kỵ ngôn ngữ các dân tộc đa dạng phong phú
Ví dụ khi chào hỏi, người Trung Quốc thích hỏi những vấn đề cá nhân, vì người Trung Quốc cho rằng đó là sự thể hiện quan tâm đối với người khác Đối với người Anh, khi chào hỏi thì chỉ nói những vấn đề bình thường không liên quan đến vấn đề cá nhân, vì người Anh quan niệm hỏi vấn đề cá nhân của người khác là rất mất lịch sự Ở Việt Nam, người ta thường kiêng khen trẻ con đẹp, mập vì sợ trẻ con bị bệnh hoặc chết
1.3.3 Tính thời đại
Ngôn ngữ là một hệ thống dựa trên cơ sở quy luật tự thân, đồng thời cũng
có sự biến đổi, vì vậy kiêng kỵ ngôn ngữ có đặc trưng tính thời đại
Khi thời gian trôi qua, quan niệm kiêng kỵ ngôn ngữ dần dần phai nhạt Trong thời đại mông muội của con người, người ta không có nhận thức sâu sắc
về giới tự nhiên và ngôn ngữ, con người cho rằng giới tự nhiên và ngôn ngữ đều
có sự huyền bí, vì vậy người ta có thái độ kính nể đối với giới tự nhiên và ngôn ngữ Lấy một ví dụ về Trung Quốc, khi ăn tết người ta cầu nguyện với những thần linh, kiêng nói tất cả ngôn ngữ không tốt lành Sau khi con người từng bước hiểu rõ giới tự nhiên và bản thân mình, một số kiêng kỵ ngôn ngữ đã dần
Trang 22dần mất mầu sắc mê tín Trong xã hội hiện đại, một số kiêng kỵ ngôn ngữ đã mất tính mê tín, người ta kiêng nói một số từ ngữ không phải là vì những quan niệm mê tín nguyên thủy, mà là vì tâm lý tìm tòi cái ―đẹp‖
Những kiêng kỵ ngôn ngữ của thời đại cũ đã không thuộc phạm trù kiêng
kỵ nữa trong thời đại mới Chẳng hạn trong xã hội phong kiến ở Trung Quốc người ta kiêng trực tiếp nói từ ―怀孕(có thai)‖ mà thường dùng từ ―有喜(có việc mừng)‖ để biểu thị cô gái có thai Vì tâm lý xấu hổ của người Trung Quốc
―怀孕(có thai)‖ là một từ kiêng nói Nhưng hiện nay theo sự phát triển của quan niệm người Trung Quốc, người ta đã không kiêng như vậy nữa
Xã hội hiện nay có nhịp điệu cuộc sống nhanh Trong cuộc sống hàng ngày người ta thích nói đơn giản và trực tiếp hơn nói uyển chuyển và gián tiếp
Những từ ngữ vốn không thuộc phạm trù kiêng kỵ ngôn ngữ, nhưng vì một nguyên nhân đặc biệt của lịch sử cũng trở thành kiêng kỵ ngôn ngữ Chẳng hạn, khi xảy ra Đại Cách mạng Văn hóa ở Trung Quốc, tên của những người lãnh đạo không được tùy ý nói ra, đây chính là sản phẩm của thời kỷ lịch sử đặc biệt
1.3.4 Tính khu vực
Vì vị trí địa lý khác nhau đã hình thành văn hóa địa vực khác nhau Kiêng
kỵ ngôn ngữ cũng có đặc trưng địa vực Trong một quốc gia miền bắc và miền nam sẽ có kiêng kỵ ngôn ngữ khác nhau Trong tòan thế giới mỗi nước có một kiểu kiêng kỵ ngôn ngữ riêng
Do tính điạ vực của kiêng kỵ ngôn ngữ mới có sự khác biệt của kiêng kỵ ngôn ngữ giữa các quốc gia, các vùng
1.3.5 Tính kế thừa
Văn hóa mang tính kế thừa Kiêng kỵ ngôn ngữ là một loại hiện tượng của văn hóa, khi nó sinh ra đã mang tính chất kế thừa Trong cuộc sống, người ta tuân theo tập quán ngôn ngữ của xã hội, trước tiên kiêng kỵ ngôn ngữ không
Trang 23phải là ý muốn bản thân của con người, mà là sự bị động tiếp nhận, qua một thời gian lâu dài thì đã hình thành một tập quán ngôn ngữ Tập quán ngôn ngữ này
đã hình thành quy phạm vô hình, người ta tuân theo quy phạm này một cách tự nhiên Trong quá trình sử dụng ngôn ngữ của một cộng đồng người, phải kiêng
kỵ gì, không cần kiêng kỵ gì, phải biểu đạt như thế nào đều đã được người ta nhất trí trong tâm lý và nó sẽ ảnh hưởng đến những người thế hệ sau trong cộng đồng ấy
1.4 PHÂN LOẠI KIÊNG KỲ NGÔN NGỮ
Nhận thức kiêng kỵ ngôn ngữ phải dựa vào nhiều góc độ, vì vậy chúng ta có thể phân loại kiêng kỵ ngôn ngữ theo nhiều phương pháp về mặt lý luận Dựa vào phương diện khác nhau, chúng ta có thể phân chia kiêng kỵ thành nhiều loại khác nhau
1.4.1 Phân loại kiêng kỳ ngôn ngữ từ góc độ tín ngƣỡng
Hoạt động tín ngưỡng của con người chủ yếu có 2 nội dung chính, một là kính nể những sự vật linh thiêng, trong sạch, ví dụ là những vị thần, những nhân vật lịch sử vĩ đại, v.v Vì những sự vật linh thiêng, trong sạch sẽ đem lại điềm lành; Hai là người ta kính nể những sự vật ác dữ, ví dụ ma quỷ Vì những sự vật này sẽ gây ra tai nạn và đem lại điều không tốt cho con người
Vì vậy từ góc độ tín ngưỡng, kiêng kỵ ngôn ngữ có thể chia thành kiêng kỵ ngôn ngữ ―linh thiêng, trong sạch‖ và kiêng kỵ ngôn ngữ ―không sạch và ác dữ‖ Nói một cách khác là từ góc độ tín ngưỡng, kiêng kỵ ngôn ngữ chủ yếu bao gồm hai nội dung, một là kiêng nói những từ ngữ liên quan đến thần, hai là kiêng nói những từ ngữ liên quan đến ma quỷ Ví dụ ở Trung Quốc có một tập quán là khi đến chùa không được nói những từ ngữ không kính trọng Phật, hoặc
là nói những lời thô tục Vì người Trung Quốc cho rằng những từ ngữ này sẽ khiến Phật tức giận
Trang 241.4.2 Phân loại kiêng kỳ ngôn ngữ từ góc độ thời gian
Chúng ta đã biết, kiêng kỵ ngôn ngữ mang tính thời đại Theo sự thay đổi của thời gian và sự phát triển của xã hội, kiêng kỵ ngôn ngữ cũng có thay đổi
Ví dụ từ ―小姐(tiểu thư)‖: vào thời Tổng ở Trung Quốc, ―小姐(tiểu thư) là một từ ngữ chuyên chỉ con đòi và gái đĩ, là một từ mang mầu sắc coi khinh, nhưng đến triều Nguyên và triều Thanh từ này đã mất mầu sắc coi khinh, và chuyên chỉ những cô gái con nhà giàu hoặc con quan; từ những năm 80 thế kỳ
XX cho đến hiện nay ―小姐(tiểu thư) được dùng như một trào lưu để chỉ những
cô gái chưa kết hôn trong giao tiếp chính thức, nhưng trong một số trường hợp đặc biệt từ này có thể dùng để chỉ những gái đĩ
Thông qua ví dụ này có thể cho rằng, mỗi thời đại có kiêng kỵ ngôn ngữ riêng của thời đó
Từ góc độ thời gian, chúng ta có thể phân loại kiêng kỵ ngôn ngữ: kiêng kỵ ngôn ngữ nguyên thủy, kiêng kỵ ngôn ngữ cổ đại, kiêng kỵ ngôn ngữ cận đại, kiêng kỵ ngôn ngữ hiện đại, và kiêng kỵ ngôn ngữ đương đại
1.4.3 Phân loại kiêng kỳ ngôn ngữ từ góc độ khu vực
Kiêng kỵ ngôn ngữ mang tính địa vực, trong một quốc gia miền bắc và miền nam có kiêng kỵ ngôn ngữ khác nhau Trên thế giới mỗi nước cũng có cách kiêng kỵ ngôn ngữ riêng
Dựa vào tính chất này, chúng ta có thể phân loại kiêng kỵ ngôn ngữ như: kiêng kỵ ngôn ngữ châu Âu, kiêng kỵ ngôn ngữ châu Á, kiêng kỵ ngôn ngữ Trung Quốc, kiêng kỵ ngôn ngữ Việt Nam, v.v
1.4.4 Phân loại kiêng kỳ ngôn ngữ từ các góc độ khác
Ngoài những phân loại như trên chúng ta còn có thể phân loại kiêng kỵ ngôn ngữ từ những góc độ khác như sau:
Dựa vào tôn giáo, kiêng kỵ ngôn ngữ có thể chia thành: kiêng kỵ ngôn ngữ
Trang 25của Phật giáo, kiêng kỵ ngôn ngữ của Ki Tô giáo, kiêng kỵ ngôn ngữ của Thiên Chúa giáo, v.v
Dựa vào nhân chủng, có thể phân loại kiêng kỵ ngôn ngữ thành: kiêng kỵ ngôn ngữ của người da vàng, kiêng kỵ ngôn ngữ của người da đen, kiêng kỵ ngôn ngữ của người da trắng, v.v
Dựa vào dân tộc, có thể phân loại kiêng kỵ ngôn ngữ thành: kiêng kỵ ngôn ngữ của dân tộc Hán, kiêng kỵ ngôn ngữ của dân tộc Kinh, kiêng kỵ ngôn ngữ của dân tộc Dao, v.v
Dựa vào nghề nghiệp, kiêng kỵ ngôn ngữ có thể chia thành: kiêng kỵ ngôn ngữ trong nông nghiệp, kiêng kỵ ngôn ngữ trong thương mại, kiêng kỵ ngôn ngữ của ngành y dược, v.v
Cuối cùng chúng ta còn có thể phân loại kiêng kỵ ngôn ngữ theo giới tính
và tuổi tác, v.v
Trong luận văn này, chúng tôi chủ yếu khảo sát kiêng kỵ ngôn ngữ về ba phương diện, là: việc kiêng gọi tên, việc kiêng những từ thô tục, việc kiêng sử dụng các từ có nghĩa không tốt lành
1.5 TIỂU KẾT
Qua những phần trình bày trên, có thể thấy, hiện tượng kiêng kỵ trong ngôn ngữ xuất hiện từ sự sùng bái quỷ thần Nó chỉ một loại phương thức biểu đạt uyển chuyển của con người nhằm tránh dùng một số từ ngữ được quan niệm coi là sẽ gây ra những bất lợi cho con người
Nguyên nhân hình thành kiêng kỵ ngôn ngữ chủ yếu có: tâm lý kính nể, tâm lý xấu hổ, tâm lý tìm tòi cái ―đẹp‖ và nhân tố chính trị
Kiêng kỵ ngôn ngữ là một hiện tượng ngôn ngữ phổ biến trên thế giới Có thể nói mỗi dân tộc, mỗi quốc gia đều có hiện tượng kiêng kỵ trong ngôn ngữ
Từ góc độ ngôn ngữ học xã hội, kiêng kỵ ngôn ngữ là một bộ phận của văn hóa,
là sự thể hiện văn hóa của một dân tộc, nó có tác dụng xã hội Từ góc độ ngôn
Trang 26ngữ học tri nhận, kiêng kỵ ngôn ngữ là sự thể hiện khả năng tri nhận của con người, cũng là một loại kinh nghiệm của con người tàng trữ trong ngôn ngữ Nghiên cứu kiêng kỵ ngôn ngữ có thể giúp chúng ta hiểu biết văn hóa của một dân tộc, tìm hiểu tâm lý và nhận thức chung của một cộng đồng người thông qua ngôn ngữ
Trang 27CHƯƠNG 2
HIỆN TƯỢNG KIÊNG KỲ TRONG TIẾNG HÁN VÀ
TIẾNG VIỆT
2.1 HIỆN TƯỢNG KIÊNG KỲ TRONG TIẾNG HÁN
2.1.1 Việc kiêng gọi tên trong tiếng Hán
Trung Quốc từ mấy nghìn năm trước đã là một xã hội phong kiến hình thành theo tư tưởng Nho giáo, cả xã hội chú trọng đến giai cấp và gia tộc Vì vậy những quan niệm về tôn pháp, gia tộc, luân lý đã thấm vào tên gọi trong cuộc sống hàng ngày của người Trung Quốc
2.1.1.1 Việc kiêng gọi tên trong tiếng Hán dưới xã hội phong kiến
Trong xã hội phong kiến, dân tộc Hán rất chú trọng quan hệ thân thuộc gia tộc Vì vậy, dân tộc Hán dùng tên gọi để khu biệt quan hệ xã hội một cách nghiêm khắc
Về mặt nội dung chúng ta có thể nhận xét việc kiêng gọi tên trong tiếng Hán theo hai phương diện:
+ Kỳ tên vua Trong xã hội phong kiến, hiện tượng kiêng gọi tên rất phổ
biến ở Trung Quốc Đặc điểm xã hội phong kiến và tư tưởng tôn pháp đã cho rằng, vua là con của thần có vị trí rất độc tôn , được kính trọng như thần, khắp nơi trong nước, từ quan đến dân, ai cũng là tôi tớ của nhà vua, đâu cũng là đất của nhà vua Họ và tên của nhà vua cũng mang mầu sắc tôn kính, nếu nói hoặc viết ra tên vua đều mắc vào tội không kính trọng vua, do vậy người dân phải
kiêng tên vua một cách nghiêm khắc Người Trung Quốc gọi hiện tượng này là quốc húy Ví dụ:
Trang 28(1) Thời vua Hán Văn Đế, (tên ―恒 Hằng‖), trong “Sử ký” để kỵ tên vua,
Tư Mã Thiên đã dùng chữ ―常 Thường‖ thay chữ ―恒 Hằng‖, vì vậy trong sách này ông ấy viết ―衡山 Hằng Sơn‖ thành ―常山 Thường Sơn‖
(2) Thời vua Đường Cao Tôn , (tức là vua Lý Thế Dân 李世民), để kỵ tên vua, dùng chữ ―代 Đại‖ thay chữ ―世 Thế‖, dùng chữ ―人 Nhân‖ thay chữ ―民Dân‖ Do vậy lúc đó người ta gọi ―一世皇帝 Nhất thế Hoàng đế‖(vua của một thời đại) là ―一代皇帝 Nhất đại Hoàng đế‖, gọi ―民风 dân phong‖ (tinh thần nhân dân) là ―人风 nhân phong‖
(3) Thời vua Thanh Thánh Tổ(tên ―Huyền Diệp 玄烨‖), để kỵ tên vua, dùng chữ ― 元 Nguyên‖ thay chữ ― 玄 Huyền‖, người ta gọi ― 玄参 huyền sâm‖(một loại dược) thành ―元参 nguyên sâm‖
Ngoài tên vua, tên những người thân của vua cũng phải kiêng:
(4) Mẹ của vua Giả Văn Đế (triều Đông Tấn) tên là ―春 Xuân‖, do vậy vua
ra lệnh dùng chữ ―阳 Dương‖ thay chữ ―春 Xuân‖, lúc đó sách ―春秋Xuân thu‖
cũng bị đổi tên là ―阳秋Dương thu‖
(5) Tên bố vua Đường Cao Tổ là ―虎 Hổ‖, tất cả những từ ngữ có chữ ―虎hổ‖ đều bị chữ ―兽 thú‖, ―豹 báo‖ và ―võ 武‖ thay cho
Phần này trong việc kiêng gọi tên thời cổ là nhiều nhất
+ Kỳ tên của những người bậc trên Trong gia đình, người Trung Quốc
cho rằng nếu tên của con cháu trùng với tên của những người bậc trên, là hành
vi không tôn trọng những người bậc trên, là hành vi ―khi tổ‖, tức là không kính
trọng tổ tiên Người Trung Quốc gọi đó là gia húy Ví dụ:
(6) Tên bố của Tư Mã Thiên là ―谈 Đàm‖, khi ông viết “Sử ký”, vì nguyên
nhân kiêng tên của bố, ông đã dùng chữ ―同 Đồng‖ thay chữ ―谈 Đàm‖, trong
sách “Sử ký” xuất hiện gọi tên ―赵谈 Triều Đàm‖ thành ―同子 Đồng Tử‖
(7) Nhà thơ nổi tiếng của Nhà Đường, Lý Hạ vì bố tên là ―晋 Tấn‖ đồng
âm với chữ ―进 Tiến‖, cả đời ông đều không tham gia thi tiến sĩ để kiêng tên của bố
(8) Trong hồi 2, ―Hồng lâu mộng‖ có câu: ―怪道这女学生读至凡书中有
Trang 29‗敏'字,皆念作‗密‘字,每每如是。Quái đạo giá nữ học sinh độc chí phàm thư trung hữu ‗Mẫn‘ tử, giai niệm tố ‗Mật‘ từ, mỗi mỗi như thị.‖ (Thào nào học sinh nữ này khi đọc đến chữ ―Mẫn‖ đều thành chữ ―Mật‖, mỗi lần đều như vậy.)
Ở đây chữ ―敏 mẫn‖ là tên mẹ của Lâm Đại Ngọc, vì vậy Lâm Đại Ngọc luôn dùng chữ ―密 mật‖ thay tên húy của mẹ.[45, 88]
Về phương pháp kỵ húy, chúng ta có thể nhận xét việc kiêng gọi tên trong tiếng Hán theo 3 phương diện:
+ Phương pháp đổi chữ Sử dụng những chữ đồng âm, cận âm hoặc đồng
nghĩa thay chữ húy, những ví dụ nói trên đều thuộc phương pháp này Đây là phương pháp kỵ húy được sử dụng nhiều nhất
+ Phương pháp để không Để trống chữ húy hoặc là dùng chữ ― 某
mâu‖(X), ―讳 húy‖ thay chữ húy, như:
(9) Người Đường viết ―Tùy thư‖, vì kỵ tên của vua Lý Thế Dân, khi viết
tên của ―王世充 Vương Thế Sung‖ đã để trống chữ ―世 thế‖ thành ―王□充Vương □Sung‖
(10) Trong sách “Sử ký” có câu là ―子某最长,醇厚仁慈,盛建以位太
子。Tử mâu tối trưởng, thuần hậu nhân từ, thỉnh kiến dĩ vi thái tử.‖(con X là con lớn nhất, phúc hậu nhân từ, xin lập nó là hoàng tử.) Ở đây ―子某 tử mâu‖ chỉ vua Hán Cảnh Đế, tên là ―凯 Khải‖
+ Phương pháp thiếu nét chữ Thiếu một hai nét chữ, ví dụ,
(11) Để kỵ húy của Lý Thế Dân, viết ―世 Thế‖ thành ―卅 Nẫm‖, Viết ―民Dân‖ thành ―氏 Thị‖
Qua khảo sát tình hình kỵ húy các vua triều Hán trong cuốn“Sử ký”, chúng
ta có thể cho rằng: thời cổ Trung Quốc, hiện tượng kỵ húy về nội dung: kỵ tên húy vua là nhiều nhất, về phương pháp kỵ húy thì phương pháp đổi chữ là nhiều nhất, cụ thể như bảng sau
Trang 30Bảng 1 tình hình kỵ tên húy vua trong “Sử ký”
2.1.1.2 Việc kiêng gọi tên trong tiếng Hán dưới xã hội hiện đại
Theo sự phát triển của xã hội, tục kỵ húy liên quan đến vua đã được dân tộc Hán xóa bỏ, nhưng tục kỵ húy trong gia đình thì vẫn được tồn tại song đã được đơn giản hóa, nhiều khi chỉ là biểu thị tấm lòng kính trọng đối với những người bậc trên Cũng có rất nhiều gia đình đã bỏ tục này Tình hình cụ thể là: Dân tộc Hán hiện đại chỉ đặc biệt kiêng tên của con cháu trùng với tên của
bố mẹ bà ông Chẳng hạn,
(12) Trong gia đình nếu tên của ông nội là ―山(Sơn)‖, thì tên của con cháu kiêng dùng chữ ―山(sơn)‖, cùng với những chữ đồng âm và hài âm như ―珊(San)‖,―杉(Sam)‖ ―叁(Tam)‖
So với thời cổ, hiện tượng kiêng gọi tên trong tiếng Hán hiện đại đã có những đặc điểm:
+ Số lượng kiêng gọi tên đã giảm rất nhiều, và nội dung cũng có thay đổi
Ở triều Tống, có 325 chữ cơ bản liên quan đến việc kỵ húy về vua, có nghĩa là người dân phải kiêng ít nhất 325 từ Hiện nay thì người Trung Quốc chỉ kiêng tên của những người bậc trên trong gia đình, để tỏ lòng tôn trọng đối với những người bậc trên mà thôi
+ Phương pháp kỵ húy đã được đơn giản hóa Hiện nay ở Trung Quốc người ta chỉ không sử dụng tên của những người bậc trên trong gia đình đặt tên
Trang 31cho mình hoặc cho con cháu
Tóm lại, tục kỵ húy hiện đại không nghiêm khắc bằng thời cổ, được đơn giản hóa hơn
Ngoài kỵ húy những người bậc trên, về mặt tên gọi, người Trung Quốc còn
có một số kiêng kỵ như sau:
Người Trung Quốc thích đặt tên tục cho trẻ em, vì cho rằng trẻ em có tên xấu thì dễ nuôi dưỡng, không dễ bị ốm hay chết Có thể nói nhiều người đều có tên tục, nhưng khi trở thành người lớn, chúng ta kiêng nói tên tục của mình, một mặt là gọi tên tục là không lịch sự, vì tên tục thường là những tên xấu, như ―狗
娃 cẩu oa(con của chó)‖, ―二狗 nhị cẩu(chó thứ hai)‖ , mặt khác là người Trung Quốc cho rằng nói tên tục của mình thì tên tục sẽ bị quỷ thần biết, sẽ mất linh hồn của mình
2.1.2 Việc kiêng những từ thô tục trong tiếng Hán
Trong mỗi ngôn ngữ đều có những từ ngữ thô tục, những từ ngữ thô tục thường là những từ ngữ kiêng kỵ trong giao tiếp Trong tiếng Anh có những từ bốn chữ có nghĩa thô tục (four – letter words), như ―fuck‖, ―shit‖, ―cunt‖,
―damn‖, ―piss‖ Khi giao tiếp người ta cực kỳ kiêng nói những từ ngữ kiểu như vậy
Về mặt nội dung, đa số từ ngữ thô tục đều liên quan đến tình dục và bộ phận bài tiết
2.1.2.1 Nhận xét việc kiêng những từ thô tục trong tiếng Hán về tình dục
Trung Quốc là một quốc gia chủ trương ―lễ‖, nói một cách khác là người Trung Quốc rất chú trọng lễ phép, đồng thời đối với tình dục, quan niệm của người Trung Quốc rất bảo thủ, coi quan hệ tình dục giữa nam và nữ là hành vi cực kỳ kiêng cấm Trung Quốc từ xưa đã có câu ―男女授受不亲。Nam nữ thụ thụ bất thân.‖, có nghĩa là đàn ông và phụ nữ khi giao tiếp không được có hành
Trang 32vi quá thân mật, hoặc đụng chạm vào nhau Do vậy trong cuộc sống, người Trung Quốc kiêng nhiều từ về tình dục
Người ta kiêng những từ liên quan đến tình dục chủ yếu có hai lý do:
+ Tâm lý xấu hổ Quan niệm của người Trung Quốc là phải xấu hổ khi nói
về tình dục Tư tưởng Nho giáo đã giáo dục người Trung Quốc coi tình dục là việc khiến con người sa ngã, đồng thời cũng là việc riêng tư của cá nhân Đối với người Trung Quốc, nói những từ liên quan đến tình dục là một việc không lịch sự, thiếu giáo dục, đặc biệt là đối với phụ nữ Vì vậy, sử dụng những từ liên quan đến tình dục sẽ gây bầu không khí ngượng ngùng Những từ thuộc phạm trù này có:
Về hành vi tình dục:
(13) ―性交 tính giao‖
(14) ―性行为 tính hành vi‖ (hành vi tình dục)
(15) ―性生活 tính sinh hoạt‖ (hành vi tình dục)
Về cơ quan sinh dục:
(16) ―乳房 nhũ phòng‖ (vú)
(17) ―乳头 nhũ đậu‖ (đầu vú)
(18) ―阴道 âm đạo‖ (âm đạo)
(19) ―阴茎 âm kinh‖ (âm kinh)
Chính vì quan niệm về tình dục của người Trung Quốc bảo thủ nên ai cũng xấu hổ khi nói về việc này, những từ này đã mang tính kiêng kỵ Tâm lý này còn ảnh hưởng ngay cả đến việc dùng những uyển ngữ Chẳng hạn:
(20) Trong 28 hồi của “Hồng lâu mộng”, Lâm Đại Ngọc nói Giả Bảo
Ngọc: ―只因听见天上一声叫唤出来瞧了瞧原来是个呆雁。Chỉ nhân thính kiến thiên thượng nhất thanh khiếu hoán xuất lai tiều liễu tiều nguyên lai thị cá ngai nhạn.‖[45, 402] (Mới nghe một tiếng hót thì ra ngoài đi xem hóa ra là một con chim nhạn ngu.) Ở đây Lâm Đại Ngọc hình dung Giả Bảo Ngọc là ―nhạn ngu‖ chứ không phải là ―chim ngu‖ Vì trong tiếng Hán ―chim‖ là uyển ngữ thường dùng để hình dung cơ quan sinh dục của đàn ông
Trang 33+ Ý nghĩa chửi mắng Đa số từ kiêng kỵ liên quan đến tình dục đều mang
ý nghĩa chửi mắng Sử dụng những từ này đều là người không văn minh, thiếu giáo dục Để tránh khỏi việc cãi nhau, đánh nhau, đồng thời để thể hiện mình là người văn minh, có giáo dục, người Trung Quốc đã kiêng nói những từ thuộc nhóm này Những từ cụ thể là:
Về cơ quan sinh dục:
(24) ―屌 điểu‖ (chỉ cơ quan sinh dục của đàn ông) Trong ―Tam trùng môn‖ Hàn Hàn đã viết về việc kiêng kỵ đối với từ này, bố cho con đọc ―Tứ thế đồng đường‖, nhưng không biết nghĩa của từ ―屌 điểu‖, ―一天偶然查字典,找到屌字,大吃一惊,思来想去,老舍文章不适合看。Nhất thiện ngẫu tra tự điển, trảo đạo điểu tự, đại si nhất kinh, suy lái tưởng khứ, Lão Xá văn chương bất thích hợp khán.‖(Một ngày ngẫu nhiên tra từ điển, thấy được từ ―屌 điểu‖, kinh ngạc lắm, nghĩ đi nghĩ lại, thấy văn chương của Lão Xá vẫn không thích hợp con đọc.)[46, 8]
(25) ―屄 bức‖ (chỉ âm môn)
(26) ―蛋 đản‖(trứng, chỉ tinh hoàn) Trong lời chửi có rất nhiều từ có chữ
―蛋 đản‖, ví dụ ―混蛋 hồn đản‖ (thằng đểu), ―王八蛋 vương ba đản‖(đồ khốn nạn), ―坏蛋 hoại đản‖(người xấu) Do vậy ―người Bắc Kinh gọi tên của những món ăn trứng cũng né tránh từ ‗蛋 đản‘, trứng gà gọi là ‗kê tử‘, trứng vôi gọi là
‗tùng hoa‘…vì từ ‗蛋 đản‘ thường mang nghĩa xấu.‖[26, 178]
Những từ gián tiếp liên quan đến tình dục mang ý nghĩa chửi máng:
(27) ―嬲 điều‖(trêu ghẹo, thường chỉ những quan hệ nam nữ không chính
Trang 34kiêng kỵ đối với từ này Bố muốn con đọc ―Truyện Thủy hử‖ nhưng vì trong cuốn sách xuất hiện nhiều từ ―鸟 điều‖, bố đã ―有鸟之处一概涂黑。Hữu điều chi xử nhất khái đồ hắc.‖(quét đen tất cả những chữ ―鸟 điều‖.)[46, 7]
(28) ―龟 quy‖(con rùa)
(29) ―王八 vương ba‖ (con rùa)
Con rùa trước đây cùng với con rồng, chim phượng, con kỳ lân được gọi là bốn linh vật, người ta nhận rằng con rùa tượng trưng trường thọ sống lâu Nhưng đến triều Đường, những người ở nhà thổ đều thích đeo khăn mầu xanh,
và đầu của con rùa cũng là mầu xanh, vì vậy người Trung Quốc gọi những người nuông chiều vợ làm đĩ là―王八 vương ba‖, hoặc là ―乌龟 ngô quy‖, từ đó người Trung Quốc kiêng nói người khác là ―龟 quy‖(con rùa), đặc biệt là đối với đàn ông Những từ như ―龟 quy‖ và―王八 vương ba‖ vốn không có nghĩa chửi mắng, trong quá trình lịch sử, nó đã mang nghĩa chửi mắng liên quan đến tình dục Mức độ kiêng kỵ về những từ này không cao bằng những từ như ―日(nhật)‖, ―嬲 điều /鸟 điều‖, vì người ta chỉ kiêng nghĩa dẫn xuất
2.1.2.2 Nhận xét việc kiêng những từ thô tục trong tiếng Hán liên quan đến việc bài tiết
Chất bài tiết đối với bất cứ dân tộc nào đều là những đồ vật không sạch và bẩn thỉu Người Trung Quốc cũng có tư tưởng như vậy, đối với người Trung Quốc, những từ liên quan đến đồ bài tiết có ý nghĩa tượng trưng là bất vệ sinh, thô tục
Những từ kiêng kỵ liên quan đến việc bài tiết trong tiếng Hán chủ yếu bao gồm những từ như sau:
Chỉ đồ bài tiết:
(30) ―屎 thỉ‖, ―大便 đại tiện‖ (cứt)
(31) ―尿 niệu‖, ―小便 tiểu tiện‖ (đái)
(32)―屁 thí‖ (rắm)
Trang 35(38) ―遗精 di tinh‖ (di tinh)
(39) ―行经 hành kinh‖ (kinh nguyệt, thấy tháng)
Chỉ nơi bài tiết:
Các từ trong phần ―Việc kiêng những từ thô tục trong tiếng Hán‖ có những đặc điểm:
+ Một bộ phận từ ngữ liên quan đến tình dục, bản thân nó không mang nghĩa xấu hay tốt, do tâm lý xấu hổ của con người, những từ này đã trở thành những từ kiêng kỵ
+ Người ta coi những từ ngữ liên quan đến tình dục khác là những từ kiêng
kỵ là vì nó mang nghĩa rất tục, rất xấu Nhưng trong một số trường hợp đặc biệt, người ta cố tình dùng những từ kiêng kỵ với mục đích nguyền rủa
+ Kiêng sử dụng những từ liên quan đến việc bài tiết là vì bản thân nghĩa
Trang 36tin gai mắt
2.1.3 Việc kiêng sử dụng các từ có nghĩa không tốt lành trong tiếng Hán
Người Trung Quốc tin rằng ―说凶既凶,说祸既祸 thuyết hung tức hung, thuyết họa tức họa‖, tức là nói tai nạn thì sẽ gặp tại nạn, nói những điều không tốt lành thì sẽ gặp điềm gở Do tâm lý như vậy người Trung Quốc thường xuyên kiêng nói những từ không tốt lành
Có thể nói, trong mọi nỗi bất hạnh trên đời thì không có gì lớn hơn cái chết Trong hoàn cảnh thông thường mọi người đều né tránh nói tới cái chết Trong
cuốn sách “Tục tân tề hài” của Viên Mai đã viết: có hai bạn bè tốt, một người
bị ốm, một người khác đi thăm và buột miệng nói: chúng ta đều già rồi, không biết ai chết trước Người bị ốm nói nhún: Bạn đi trước thôi Ai mà biết người đi thăm bệnh về nhà thì chết Những việc như vậy, khiến người Trung Quốc tin rằng phải kiêng sử dụng từ ―chết‖ để tránh né cái chết Người Trung Quốc hay nói ―好死不如赖活着 hảo tử bất như lại hoạt‖ nghĩa là chết tốt không bằng sống vất vả, ―谈生不谈死 đàm sinh bất đàm tử‖ nghĩa là nói sống không nói chết, đây chính là sự thể hiện của văn hóa kiêng kỵ ―cái chết‖ Trung Quốc Vì vậy chết trở thành những đầu đề câu chuyện mà người ta sợ hãi nhất, kiêng kỵ nhất
Từ ―死 tử‖(chết), là từ phải kiêng thứ nhất đối với người Trung Quốc
(44) Trong 28 hồi, “Hồng lâu mộng” có viết Lâm Đại Ngọc nói với Giả
Bảo Ngọc: ―大清早起死呀活的也不忌讳。Đại thành tảo khởi tử a hoạt đích giã bất kỵ húy ‖[45, 387](Sáng sớm thì nói chết nói sống, không biết kiêng kỵ ) Lâm Đại Ngọc nói như vậy là do Giả Bảo Ngọc dùng từ ―chết‖ thể với mình
Khi ăn tết Âm lịch, từ ―chết‖ là một từ cực kỳ kiêng nói, vì người Trung Quốc cho rằng tết Âm lịch là mở đầu của năm mới, nếu nói từ ―chết‖ trong Tết, năm mới sẽ có tai nạn, tốt lành sẽ biến mất Khi ăn tết, người Trung Quốc quen
Trang 37giết con cá, con vịt, con lợn để ăn thịt nó mừng tết, nhưng chúng ta không được gọi những đồng vật bị giết là con cá chết, con vịt chết, con lợn chết
(45) Trong 20 hồi của “Hồng lâu mộng” , Giả Bảo Ngọc nói một câu:―何
苦来大正月里死了活了的。Hà khổ lai đại chính nguyệt lý tử liễu hoạt liễu đích.‖[45, 285] (Tội gì mà trong tháng giêng nói chết nói sống.)
Người Trung Quốc sợ nói từ ―chết‖ đã đến mức, những từ khiến người ta liên tưởng đến cái chết cũng phải kiêng
(46) ―元宵 Nguyên tiêu‖(bánh trôi) thành ―汤圆 thang viên‖(bánh trôi) Viên Thế Khải mới làm vua, vì từ ―元宵 Nguyên tiêu(bánh trôi)‖ đồng âm với―袁消 Viên tiêu‖ (có nghĩa là Viên Thế Khải tiêu vong), có ý nghĩa không tốt , do đó ông ta dùng từ ―汤圆 thang viên‖ thay từ ―元宵 Nguyên tiêu‖
(47) Số từ ―4‖, trong văn hóa Trung Hoa vốn là một số từ có ý nghĩa tốt lành, nhưng thực ra người Trung Quốc không thích con số 4, trong cuộc sống hàng ngày rất kiêng số này Chính vì số 4(phát âm là ―tứ‖) trong tiếng Hán gần
âm với từ chết(tử), khi nói 4 thì giống như nói chết
Còn có những từ có thể khiến người ta liên tưởng đến cái chết như:
(48) Từ ―送钟 tống chung‖ có nghĩa là tặng đồng hồ Trong tiếng Hán ―送
钟 tống chung‖, phát âm giống như ―送终 tống chung‖ có nghĩa là chăm sóc người sắp chết Vì vậy người Trung Quốc không có tục tặng đồng hồ cho người khác, đặc biệt là tặng cho người già
(49) Ăn cá kiêng lật cá hoặc nói ―翻 phiên‖ (lật, đổ) Tục này do trong tiếng Hán từ ―翻 phiên‖ vừa có nghĩa là ―lật‖ vừa có nghĩa là ―đổ‖, đối với những người sẽ đi ra ngoài hoặc người lái xe nói từ này sẽ gây ra tai nạn
Ngoài ra những từ không tốt lành liên quan đến ―cái chết‖: trong tiếng Hán còn có rất nhiều từ ngữ không tốt lành bị kiêng cấm, những từ ngữ này thường
là những từ ngữ liên quan đến những việc đau buồn Ví dụ,
(50) ―分梨 phân lê‖ (cắt chia quả lê) ―分离 phân ly‖ (chia tay) Khi ăn quả lê, không thể phân chia quả lê hoặc nói cắt chia quả lê, vì trong tiếng Hán,
Trang 38vì vậy khi ăn quả lê, người Trung Quốc thường là một người ăn một quả, mà không thích cắt chia và ăn với người khác
(51) ―伞 tản‖(ô) ―伞 tản‖ gần âm với từ ―散 tán‖(tan đám), vì vậy từ ―伞tản‖ cũng trở thành từ kiêng kỵ
(52) ―苦瓜 khổ qua‖(mướp đắng) Kiêng nói từ này, tức là né tránh từ ―苦khổ‖(đau khổ)
(53) ―吃药 ngật dược‖(uống thuốc) Nói đến uống thuốc, thì người ta sẽ nghĩ đến đau ốm, kiêng từ này tức là kiêng cấm ý nghĩa ―bị ốm‖
(54) ―剑兰 kiếm lan‖(một loại hoa lan), ―茉莉 mạt lợi‖(hoa nhài), và ―梅
花 mai hoa‖(hoa mai) ―剑兰 kiếm lan‖ hài âm với từ ―见难‖(có nghĩa là sau này khó gặp), ―茉莉 mạt lợi‖ hài âm với từ ―没利 một lợi‖(có nghĩa là không có lợi), và―梅花 mai hoa‖ trong đó chữ ―梅 mai‖ hài âm với ―霉 mai‖(không may mắn) Vì vậy ở Trung Quốc khi thăm người bị ốm hay là bạn bè người thân, kiêng tặng ba loại hoa này
Những hiện tượng kiêng kỵ ngôn ngữ trong tiếng Hán điều là nhằm tránh
tai nạn, điềm gở, cầu xin may mắn, hiện tượng này trong dân gian được gọi là
“讨口彩thảo khẩu thái”
Trong tiếng Hán, hiện tượng này rất phổ biến, những phương ngữ khác nhau thì có những từ ngữ kiêng kỵ khác nhau
(55) ―舌 thiệt‖(lưỡi) Người Quảng Đông kiêng nói từ ―舌 thiệt‖(lưỡi), vì―舌 thiệt‖ đồng âm với từ ―蚀 thực‖(có nghĩa là lõ vốn), nhưng trong các tiếng địa phương khác thì không có tập quán kiêng kỵ ngôn ngữ này
(56) ―确 xác‖ Ở Hà Nam Trung Quốc có một ngọn núi tên là ―确山 Xác Sơn‖, trong tiếng địa phương Hà Nam, ―确 xác‖ có nghĩa là lừa dối, hỏng bét, vì vậy những người bản địa, đặc biệt là những người làm buôn bán đều kiêng gọi
―确山 Xác Sơn‖, mà gọi nó là ―顺山 Thuận Sơn‖, để cầu xin làm buôn bán thuận lợi
Những từ mà người Trung Quốc cho rằng là những từ có nghĩa không tốt lành chiếm số lượng lớn và liên quan đến nhiều lĩnh vực, do đó mỗi nghề
Trang 39nghiệp đều có một nhóm từ kiêng kỵ riêng của mình, nhưng nói chung những từ kiêng kỵ loại này là những từ mà người ta cho rằng chúng sẽ đem lại bất hạnh hoặc tai nạn cho mình
2.1.4 Uyển ngữ theo cách dùng kiêng kỳ trong tiếng Hán
Trong cuộc sống hàng ngày, kiêng kỵ ngôn ngữ là một hiện tượng phổ biến, đối với người Trung Quốc Kiêng kỵ ngôn ngữ từ xã hội phong kiến đã có nên đến nay nhiều từ ngữ được người Trung Quốc coi là phải kiêng kỵ Nhưng thực
tế, trong quá trình giao tiếp, nhiều từ ngữ kiêng kỵ là không thể tránh được vì nhiều khi chúng ta phải biểu đạt những từ kiêng kỵ cho người khác Do vậy, uyển ngữ đã xuất hiện Có thể cho rằng kiêng kỵ ngôn ngữ và uyển ngữ có quan
hệ chặt chẽ
2.1.4.1 Uyển ngữ liên quan đến những từ thô tục
Những từ thô tục bị kiêng kỵ chủ yếu có hai loại Một loại là do tâm lý xấu
hổ tạo ra Trong loại này đã xuất hiện nhiều uyển ngữ, vì những từ này có khi là chúng ta phải nói nhưng mà khó nói ra Một loại khác là những từ chửi Ở loại này ít xuất hiện uyển ngữ vì bản thân lời chửi là thứ ngôn ngữ không lịch sự và mang mục đích nói xấu, dễ gây tức giận với đối phương
Ở đây chúng tôi nêu ra những uyển ngữ thường dùng để biểu đạt những từ thô tục như sau:
Trang 40行房 hành phòng 夫妻生活 phu thê sinh hoạt 枕席之欢 chẩm tịch chi hoan
阴茎 âm kinh 鸡鸡 kê kê