1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận văn đại học sư phạm Khai thác kiến thức vật lí trong dạy học phần kĩ thuật điện môn công nghệ 12 nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh THPT

91 550 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 2,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là một sinh viên sắp ra trường sẽ tiếp tục dạy môn công nghệ ở trường phổ thông, tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu là: “Khai thác kiến thức vật lí trong dạy học phần kĩ thuật điện môn công

Trang 1

PHẦN I: MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Cả nhân loại bước sang thế kỉ thứ XXI, một nền văn minh mới “Nền vănminh hậu công nghiệp” Xã hội có được sự thay đổi to lớn này là do: Có sự pháttriển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật Sự phát triển đú đó ảnh hưởng lên tất cảcác mặt văn hoá- kinh tế- chính trị trong đó có giáo dục Giáo dục đóng một vaitrò lớn trong việc phát huy tiềm năng trí tuệ, năng lực sáng tạo của con ngườiViệt Nam, là động lực quan trọng để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoáđất nước đưa nước ta tiến lên, vững vàng hội nhập kinh tế quốc tế và sánh vaicựng cỏc cường quốc trên thế giới

Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, nhu cầu của thựctiễn xã hội đòi hỏi con người lao động mới phải là con người có năng lực trithức (năng lực trí tuệ), năng lực giải quyết vấn đề trong môi trường sống luônbiến động Vì vậy giáo dục nước nhà cần phải có sự đổi mới cả về nội dung vàphương pháp giảng dạy, nhà trường phải tổ chức hoạt động dạy và học như thếnào để sau khi ra trường học sinh có khả năng tự học, tự thích nghi với hoàncảnh mới, muốn vậy phải đạt mục tiêu “ giúp học sinh phát triển toàn diện vềđạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ, các kĩ năng cơ bản, phát triển năng lực cánhân, tính năng động sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hộichủ nghĩa, xây dựng tư cách, trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếptục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động tham gia xây dựng và bảo vệ tổquốc” (Điều 27- Luật Giáo dục của quốc hội nước CHXHCN Việt Nam số38/2005/ QH 10 ngày 14- 6- 05)

Để đạt mục tiêu đó, ngành giáo dục kết hợp với cấp uỷ, chính quyền tíchcực thực hiện các biện pháp phát triển giáo dục Ngành luôn chú trọng thực hiệncác biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục, thực hiện đổi mới chương trình nộidung sách giáo khoa, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên Tuy nhiên thực tếcho thấy việc thực hiện mục tiêu trên là chưa hiệu quả, đặc biệt là môn Côngnghệ ở các trường phổ thông Do nhiều nguyên nhân khác nhau cả chủ quan lẫn

Trang 2

khách quan nên việc học tập môn Công nghệ của học sinh vẫn thiên về lí thuyết,học sinh ít được trực tiếp tham gia vào các hoạt động thực hành, thực nghiệm,

sử dụng và làm quen với qui trình sản xuất kĩ thuật cụ thể, ít được tiếp xúc vớicác thiết bị kĩ thuật, chưa được tham gia vào lao động sản xuất thực tế Vì vậyhọc sinh không hứng thú học tập, khả năng tư duy, năng lực vận dụng kiến thức

kĩ thuật vào thực tiễn để giải quyết các vấn đề kĩ thuật còn yếu

Kiến thức công nghệ liên quan rất nhiều đến kiến thức cỏc mụn khoa họckhác đặc biệt là môn vật lớ Mụn công nghệ THPT nói chung và môn công nghệ

12 nói riêng có nội dung kiến thức liên quan nhiều đến môn vật lí vì vậy cần làm

rừ lụgic phát triển của nội dung môn học đó là: từ kiến thức cơ bản đến triểnkhai ứng dụng Là một sinh viên sắp ra trường sẽ tiếp tục dạy môn công nghệ ở

trường phổ thông, tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu là: “Khai thác kiến thức vật lí

trong dạy học phần kĩ thuật điện môn công nghệ 12 nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh THPT” Với mong muốn đóng góp một phần nhỏ

bé của mình vào công cuộc đổi mới phương pháp dạy học môn học, góp phầnhoàn thành mục tiêu giáo dục trong thời đại mới, dạy học theo hướng phát huytích cực, tự lực của của học sinh Góp phần định hướng nghề nghiệp cho họcsinh khi rời khỏi ghế nhà trường tiếp tục học tập chuyờn sõu hoặc tham gia vàolao động sản xuất

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiờn cứu và đề xuất con đường khai thác kiến thức vật lí trong dạy họcphần kĩ thuật điện môn công nghệ 12 nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thứccủa học sinh

3 Đối tượng nghiên cứu

Phương pháp dạy học phần kĩ thuật điện môn công nghệ 12 THPT trên cơ

sở khai thác kiến thức VL nhằm tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh

4 Nhiệm vụ ,phạm vi nghiên cứu

4.1 Nhiệm vụ

Trang 3

Để đạt được mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ của đề tài phải giải quyết cácvấn đề sau:

- Xác định cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc khai thác kiến thức vật

lí trong dạy học phần kĩ thuật điện môn công nghệ 12 ở trường THPT nhằm tíchcực hoá hoạt động nhận thức của học sinh

- Đề xuất các con đường khai thác kiến thức vật lí trong dạy học phần kĩthuật điện môn công nghệ 12 ở trường THPT

- Thiết kế bài dạy theo hướng khai thác kiến thức vật lí trong dạy học phần

kĩ thuật điện môn công nghệ 12

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm tra tính khả thi của đề tài

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phương pháp dạy học phần kĩ thuật điện môn công nghệ 12 ở THPT theochương trình hiện hành và những kiến thức vật lí phổ thông có liên quan

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lí luận (nghiên cứu lí thuyết): Nghiên cứu và thuthập thông tin liên quan đến môn công nghệ và môn vật lí, con đường khai tháckiến thức vật lí trong bài dạy môn công nghệ 12

- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Sử dụng phương pháp thực nghiệm sư phạm

6 Cấu trúc của khóa luận

PHẦN I: MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Cả nhân loại bước sang thế kỉ thứ XXI, một nền văn minh mới “Nền vănminh hậu công nghiệp” Xã hội có được sự thay đổi to lớn này là do: Có sự pháttriển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật Sự phát triển đú đó ảnh hưởng lên tất cảcác mặt văn hoá- kinh tế- chính trị trong đó có giáo dục Giáo dục đóng một vaitrò lớn trong việc phát huy tiềm năng trí tuệ, năng lực sáng tạo của con ngườiViệt Nam, là động lực quan trọng để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoáđất nước đưa nước ta tiến lên, vững vàng hội nhập kinh tế quốc tế và sánh vaicựng cỏc cường quốc trên thế giới

Trang 4

Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, nhu cầu của thựctiễn xã hội đòi hỏi con người lao động mới phải là con người có năng lực trithức (năng lực trí tuệ), năng lực giải quyết vấn đề trong môi trường sống luônbiến động Vì vậy giáo dục nước nhà cần phải có sự đổi mới cả về nội dung vàphương pháp giảng dạy, nhà trường phải tổ chức hoạt động dạy và học như thếnào để sau khi ra trường học sinh có khả năng tự học, tự thích nghi với hoàncảnh mới, muốn vậy phải đạt mục tiêu “ giúp học sinh phát triển toàn diện vềđạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ, các kĩ năng cơ bản, phát triển năng lực cánhân, tính năng động sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hộichủ nghĩa, xây dựng tư cách, trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếptục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động tham gia xây dựng và bảo vệ tổquốc” (Điều 27- Luật Giáo dục của quốc hội nước CHXHCN Việt Nam số38/2005/ QH 10 ngày 14- 6- 05).

Để đạt mục tiêu đó, ngành giáo dục kết hợp với cấp uỷ, chính quyền tíchcực thực hiện các biện pháp phát triển giáo dục Ngành luôn chú trọng thực hiệncác biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục, thực hiện đổi mới chương trình nộidung sách giáo khoa, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên Tuy nhiên thực tếcho thấy việc thực hiện mục tiêu trên là chưa hiệu quả, đặc biệt là môn Côngnghệ ở các trường phổ thông Do nhiều nguyên nhân khác nhau cả chủ quan lẫnkhách quan nên việc học tập môn Công nghệ của học sinh vẫn thiên về lí thuyết,học sinh ít được trực tiếp tham gia vào các hoạt động thực hành, thực nghiệm,

sử dụng và làm quen với qui trình sản xuất kĩ thuật cụ thể, ít được tiếp xúc vớicác thiết bị kĩ thuật, chưa được tham gia vào lao động sản xuất thực tế Vì vậyhọc sinh không hứng thú học tập, khả năng tư duy, năng lực vận dụng kiến thức

kĩ thuật vào thực tiễn để giải quyết các vấn đề kĩ thuật còn yếu

Kiến thức công nghệ liên quan rất nhiều đến kiến thức cỏc mụn khoa họckhác đặc biệt là môn vật lớ Mụn công nghệ THPT nói chung và môn công nghệ

12 nói riêng có nội dung kiến thức liên quan nhiều đến môn vật lí vì vậy cần làm

rừ lụgic phát triển của nội dung môn học đó là: từ kiến thức cơ bản đến triển

Trang 5

khai ứng dụng Là một sinh viên sắp ra trường sẽ tiếp tục dạy môn công nghệ ở

trường phổ thông, tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu là: “Khai thác kiến thức vật lí

trong dạy học phần kĩ thuật điện môn công nghệ 12 nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh THPT” Với mong muốn đóng góp một phần nhỏ

bé của mình vào công cuộc đổi mới phương pháp dạy học môn học, góp phầnhoàn thành mục tiêu giáo dục trong thời đại mới, dạy học theo hướng phát huytích cực, tự lực của của học sinh Góp phần định hướng nghề nghiệp cho họcsinh khi rời khỏi ghế nhà trường tiếp tục học tập chuyờn sõu hoặc tham gia vàolao động sản xuất

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiờn cứu và đề xuất con đường khai thác kiến thức vật lí trong dạy họcphần kĩ thuật điện môn công nghệ 12 nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thứccủa học sinh

3 Đối tượng nghiên cứu

Phương pháp dạy học phần kĩ thuật điện môn công nghệ 12 THPT trên cơ

sở khai thác kiến thức VL nhằm tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh

4 Nhiệm vụ ,phạm vi nghiên cứu

4.1 Nhiệm vụ

Để đạt được mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ của đề tài phải giải quyết cácvấn đề sau:

- Xác định cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc khai thác kiến thức vật

lí trong dạy học phần kĩ thuật điện môn công nghệ 12 ở trường THPT nhằm tíchcực hoá hoạt động nhận thức của học sinh

- Đề xuất các con đường khai thác kiến thức vật lí trong dạy học phần kĩthuật điện môn công nghệ 12 ở trường THPT

- Thiết kế bài dạy theo hướng khai thác kiến thức vật lí trong dạy học phần

kĩ thuật điện môn công nghệ 12

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm tra tính khả thi của đề tài

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Trang 6

- Phương pháp dạy học phần kĩ thuật điện môn công nghệ 12 ở THPT theochương trình hiện hành và những kiến thức vật lí phổ thông có liên quan.

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lí luận (nghiên cứu lí thuyết): Nghiên cứu và thuthập thông tin liên quan đến môn công nghệ và môn vật lí, con đường khai tháckiến thức vật lí trong bài dạy môn công nghệ 12

- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Sử dụng phương pháp thực nghiệm sưphạm

6 Cấu trúc của khóa luận

Phần I: Mở đầu

Phần II: Nội dung

Chương I: Cơ sở lí luận và thực tiễn

Chương II: Khai thác kiến thức vật lí trong dạy học phần kĩ thuật điện môncông nghệ 12 THPT

Chương III: Thực nghiệm sư phạm

Phần III: Kết luận và một số kiến nghị

Phần II: Nội dung

Chương I: Cơ sở lí luận và thực tiễn

Chương II: Khai thác kiến thức vật lí trong dạy học phần kĩ thuật điện

môn công nghệ 12 THPT

Chương III: Thực nghiệm sư phạm.

Phần III: Kết luận và một số kiến nghị

Trang 7

PHẦN HAI: NỘI DUNG

Đặc biệt, cùng với xu hướng phát triển của giáo dục thế giới, các phươngpháp dạy học nhằm đào tạo ra những con người phát triển toàn diện mà cụ thể làhình thành và phát triển tính tích cực, tự lực nhận thức của học sinh đã đượcnghiên cứu, vận dụng ngày càng rộng rãi để đáp ứng mục tiêu giáo dục

Muốn học sinh hiểu sâu sắc kiến thức và biến nó thành giá trị riêng củamỡnh thì người thầy giáo phải giáo dục học sinh THPT có đức tính kiên trì, chịukhó đào sâu kiến thức, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Chính vì vậy, việc pháthuy tính tích cực nhận thức của học sinh trong dạy học không những giữ vai trò

to lớn trong việc nâng cao chất lượng học tập mà còn biến kiến thức thành niềmtin, tư tưởng và ý nghĩa đạo đức Đây là kết quả của sự cố gắng tích cực, tự lựccủa học sinh trong quá trình nhận thức

Trang 8

Phát huy tính tích cực tự lực học tập của học sinh được xây dựng trên nhiều

cơ sở khoa học khác nhau như: Dựa trên quan điểm triết học, quan điểm giáodục học, quan điểm tâm sinh lí học

1.1.1 Quan điểm triết học.

Theo quan điểm của triết học duy vật biện chứng: Con đường nhận thứckhoa học là con đường phát hiện ra những thuộc tính bản chất và những qui luậtkhách quan, đồng thời khi diễn tả cơ chế của quá trình nhận thức, LêNin đã viết:

“Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thựctiễn đó là con đường biện chứng của nhận thức chõn lớ, nhận thức hiện thựckhách quan“ Như vậy có thể thấy rằng quá trình nhận thức là một quá trình đadạng phức tạp Quá trình học tập của học sinh cũng là một quá trình nhận thức

vì vậy quá trình này thực sự có kết quả cao nếu học sinh có lòng ham hiểu biết,tích cực tham gia vào quá trình nhận thức Để có được kiến thức, học sinh khôngnhững nghiên cứu những vấn đề nằm trên bề mặt của sự vật hiện tượng có thể trigiác được, mà còn phải đi sâu nghiên cứu những vấn đề ẩn náu đằng sau nhữngbiểu hiện bên ngoài của sự vật hiện tượng, từ đó học sinh hiểu được bản chất củavấn đề tức là học sinh chiếm lĩnh được kiến thức Khi đã chiếm lĩnh được kiến,thức học sinh sẽ giải quyết vấn đề khác có liên quan một cách tự giác, sáng tạo.Tuy nhiên, quá trình nhận thức trong học tập của học sinh là quá trình nhận thứcnhững gì mà nhân loại đã biết, sau đó học sinh tự vận dụng kiến thức đó cú vàocuộc sống

Tóm lại quá trình từ không có kiến thức đến có kiến thức là quá trình đòihỏi sự vận động tích cực, tự lực trong học tập của học sinh Đây là quá trình vậnđộng biện chứng được phản ánh trong các quy luật của duy vật biện chứng Đểquá trình học tập của học sinh có hiệu quả thì phải phát huy tính tích cực, tự lựchọc tập của học sinh

1.1.2 Quan điểm giáo dục học.

Phát huy tính tích cực, tự lực học tập của học sinh trong quá trình dạy họcluôn được các nhà giáo dục học quan tâm

Trang 9

Nhà giáo dục học dân chủ Đức Disterver A hết sức coi trọng sự phát triểnnăng lực nhận thức nói chung và tính tích cực, tự lực sáng tạo nói riêng của họcsinh Theo ông người giáo viên cần khơi dậy được sự nhiệt tình say mê học tậpcủa học sinh, lòng khát khao tri thức và dạy cho các em tính độc lập suy nghĩtìm tòi để phát triển năng lực sẵn có của mình X.L Rubinxtin khi sinh thời đãnói: “Con người chỉ thực sự nắm vững cái mà chính bản thân họ giành đượcbằng lao động của mỡnh.Cú thể cái mà họ giành được chỉ là những khám phálại” Như vậy học sinh sẽ ghi nhớ đầy đủ và khắc sâu được những kiến thứctrong bài học mà các em biểu lộ tính tích cực tư duy cao Khoa học giáo dục họcvẫn đang tiếp tục nghiên cứu vấn đề phát huy tính tích cực, tự lực của học sinhnhằm nâng cao hiệu quả dạy và học ở phổ thông Qua quá trình nghiên cứu cácnhà giáo dục học đã chỉ ra các nguyên tắc lí luận giáo dục mới nhất cần chú ýkhi thực hiện việc dạy học Các nguyên tắc đó là:

- Việc dạy học phải được tiến hành ở mức khó khăn cao

- Việc nắm vững kiến thức phải chiếm ưu thế cao

- Quá trình học tập phải duy trì nhịp độ khẩn trương của công tác học tập

- Nguyên tắc đòi hỏi chăm lo tích cực đến sự phát triển của tất cả các họcsinh kể cả học sinh giỏi và học sinh yếu về học tập

Tóm lại, theo quan điểm của giáo dục học thì học sinh sẽ giành được kiếnthức, chõn lớ khi học sinh biểu lộ hoạt động tích cực trí tuệ của mình Vì vậycần phát huy tính tích cực, tự lực học tập của học sinh

1.1.3 Quan điểm tâm sinh lí

Tầm quan trọng của tính tích cực và tự lực học tập của học sinh trong quátrình dạy học đã được khoa học tâm sinh lí nghiên cứu Khoa học này khẳngđịnh: tất cả các biểu hiện tõm lớ của cá nhân đều gắn với quá trình sinh lí diễn ratrong cơ thể Theo quan điểm của khoa học này, quá trình nắm vững kiến thức làmột dạng hoạt động phản xạ có điều kiện và rất phức tạp của học sinh, kết quả làhình thành kiến thức và phát triển trí tuệ Theo ý nghĩa đó, kiến thức là một dạngnhất định những mối liên hệ tạm thời, được tạo nên trên vỏ các bán cầu não do

Trang 10

ảnh hưởng của những kích thích bên ngoài và hoạt động tư duy tích cực của chủthể đang nhận thức.

Trên cơ sở nghiên cứu thực nghiệm, người ta biết rằng mỗi kích thích gâynên một hoạt động tõm lớ, để lại trong não một đường mòn nhất định, có kèmtheo những phản ứng sinh hoá phức tạp Nhưng mỗi quá trình sinh hoá lại gắnliền và phụ thuộc vào phần năng lượng làm nền tảng cho sự kích thích và sự tiếntriển của quá trình đó Nếu vận dụng quan điểm trên vào dạy học thì phải nóirằng trong quá trình lĩnh hội kiến thức, năng lượng này được xác định khôngphải chỉ bởi những kích thích xuất phát từ sự giải thích của giáo viên (tác độngbên ngoài) mà quan trọng hơn đó là sự làm việc trí tuệ tự lực tích cực của họcsinh trong quá trình nhận thức Đồng thời, chỉ có sự phối hợp hữu cơ và liên hệchặt chẽ giữa những tác động bên ngoài của giáo viên, biểu hiện trong việc trìnhbày tài liệu, chương trình và tổ chức công tác học tập của học sinh, với sự căngthẳng trí tuệ bên trong của các em mới tạo nên cơ sở của sự học tập có kết quả Tính tích cực, tự lực của học sinh càng cao thì sự cân bằng sinh hoá càngphong phú, kiến thức học sinh lĩnh hội càng sâu sắc và vững chắc

Tõm lí học và lí luận dạy học hiện đại đã khẳng định: Con đường hiệu quảnhất, để làm cho học sinh nắm vững kiến thức và phát triển năng lực sáng tạo làphải đưa học sinh vào chủ thể của hoạt động nhận thức Nắm vững kiến thức,thực sự lĩnh hội chúng cái đó phải tự mình làm lấy bằng trí tuệ của bản thân.Tóm lại theo quan điểm này việc nắm vững nguồn tri thức đòi hỏi học sinhphát huy tính tích cực tìm tòi, ham hiểu biết

1.1.4 Bản chất tính tích cực, tự lực học tập của học sinh.

Khi xem xét vấn đề phát huy tính tích cực tự lực học tập của học sinh theocác quan điểm khác nhau: triết học, giáo dục học, tâm sinh lí học thì tất cảnhững quan điểm này đều đưa ra qui luật của sự học tập và coi qui luật này làquá trình hoạt động tích cực nhận thức của học sinh Vậy bản chất tính tích cực

tự lực của học sinh được hiểu như thế nào?

a Tính tích cực

Trang 11

- Tính tích cực là một phẩm chất vốn có của con người trong đời sống xãhội Tính tích cực của con người biểu hiện trong mọi hoạt động, đặc biệt lànhững hoạt động chủ động Học tập là hoạt động chủ đạo ở lứa tuổi đi học Tínhtích cực của con người ở lứa tuổi này là tính tích cực trong học tập.

- Tính tích cực học tập là một hiện tượng sư phạm biểu hiện sự cố gắng cao

về nhiều mặt trong học tập Nói tới tính tích cực trong học tập thực chất là nóitới tính tích cực nhận thức của học sinh

- Tính tích cực nhận thức là trạng thái hoạt động của học sinh đặt trên bờkhát vọng hiểu biết, sự cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình nắm vữngkiến thức của học sinh

- Trong sự hướng đích của hoạt động nhận thức, sự tích cực nhận thức ởđây được xem như mối quan hệ của cá nhân nhận thức với đối tượng và đượcđặc trưng bởi mức độ sẵn sàng bên trong của học sinh Bao gồm không nhữngước muốn, nguyện vọng của học sinh đang hoạt động trong một hướng xác định

mà còn hành động đảm bảo cho hoạt động nhận thức thắng lợi Có nghĩa là họcsinh có kiến thức, kĩ năng kĩ xảo và năng lực mới nhất định

- Tính tích cực nhận thức còn thể hiện ở sự độc lập ra quyết định trong tìnhhuống có vấn đề nêu ra, chọn con đường và phương tiện để đạt mục đích, ở sựnhiệt tình, ở vẻ độc đáo của lời giải các vấn đề

- Sự tích cực nhận thức thể hiện ở khả năng tổ chức thông tin nhận đượctheo một cách nhất định để xây dựng một hệ thống kiến thức

b Tính tự lực

Học tập là quá trình nhận thức, quá trình vận động và phát triển theo conđường từ chưa biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều thông qua việc đấu tranh vàgiải quyết những nội tại trong bản thân học sinh Đó là mâu thuẫn giữa kiến thức

và kinh nghiệm đó cú với nhiệm vụ đặt ra trong quá trình học tập Mâu thuẫn đóphải được học sinh ý thức tự lực giải quyết đó là quá trình tự thân vận động

- Tính tự lực là một trong những phẩm chất trung tâm của nhân cách, thểhiện ở sự tự làm lấy, tự giải quyết vấn đề

Trang 12

- Tự lực trong học tập của học sinh được thực hiện với sự tham gia giántiếp của giáo viên.

- Tự lực là học sinh phải tự giác vươn lên tới cỏi đớch đó vạch ra trong họctập, biểu lộ sự nỗ lực hết mình và thể hiện kết quả hoạt động trí tuệ, hoạt độngthể lực ở một dạng nào đó Hoạt động tự lực của học sinh bao gồm:

+ Việc giải quyết các bài tập kĩ thuật (bài tập lí thuyết và thực hành) ở trênlớp, trong phòng thí nghiệm, thực hành ở nhà

+ Việc nghiên cứu ở sách giáo khoa, sách bài tập và tài liệu kĩ thuật có liênquan đến bài học

+ Việc thực hiện các bài thí nghiệm, tìm tòi phát hiện kiến thức mới

+ Tính tích cực, tự lực là lòng mong muốn của học sinh tham gia vào các hoạtđộng, các cuộc thảo luận những vấn đề đó nờu trong buổi học, trong việc bổ sunghoặc sửa chữa những câu trả lời của bạn hay muốn thể hiện quan điểm của mình.+ Tính tích cực nhận thức đi kèm với hứng thú nhận thức là sự vận dụnglinh hoạt vốn tri thức và kĩ năng đó cú vào những tình huống có vấn đề

Như vậy để phát huy tính tích cực, tự lực nhận thức của học sinh cần phải

có phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực nhận thức của họcsinh Được cụ thể hóa đối với từng môn học, sẽ có những con đường tiếp cận

Trang 13

kiến thức khác nhau để phù hợp với nội dung môn học, đạt được mục tiêu bàihọc và tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh.

1.2 Cơ sở thực tiễn

Như đã trình bày ở trên, dạy học nhằm phát tính tích cực, tự lực nhận thứccủa học sinh trong quá trình dạy học là một trong những nhiệm vụ quan trọngcủa giáo dục quốc gia Để đáp ứng mục tiêu trên, hệ thống các phương pháp dạyhọc tích cực ra đời được gọi là nhóm phương pháp dạy học tích cực, bao gồmcác phương pháp sau:

- Dạy học nêu vấn đề

- Dạy học trực quan

- Dạy học lấy học sinh làm trung tõm…

Căn cứ vào mục tiêu, tìm hiểu nội dung môn vật lí và môn công nghệ, cóthể thấy rằng nhiều nội dung bài học môn công nghệ đều đã được học trong mônvật lí Do đó nếu giáo viên dạy đúng như trình tự sách giáo khoa thì sẽ lãng phíthời gian và gây nhàm chán cho học sinh Cần phải có phương pháp để dạy họcbài công nghệ được hiệu quả, đảm bảo mục tiêu bài dạy và tích cực hoá hoạtđộng nhận thức của học sinh Vận dụng các phương pháp dạy học tích cực thôichưa đủ cần phải dựa trên cơ sở khai thác kiến thức vật lí trong bài dạy côngnghệ để đảm bảo được mục tiêu bài dạy và tích cực hóa hoạt động nhận thức củahọc sinh Khi khai thác kiến thức vật lí trong bài dạy công nghệ không nhữngkhắc sâu kiến thức vật lí, mà còn đảm bảo kiến thức trang bị cho học sinh có hệthống và theo lụgic và toàn diện

1.2.1 Mục tiêu:

a Môn Công nghệ.

Môn học là sự cụ thể hoá nội dung trí dục, mục đích của môn học được xâydựng trên cơ sở mục tiêu giáo dục của trường phổ thông Do đó nó cũng gồmcác mục tiêu giáo dưỡng, mục tiêu giáo dục và mục tiêu phát triển

- Kiến thức: Học sinh phải có hiểu biết hệ thống về những kiến thức kĩthuật đại cương mang tính cơ bản, phổ thông cần thiết trong lĩnh vực sản xuất

Trang 14

công nghiệp trên cơ sở những kiến thức công nghệ ở THCS và quan điểm côngnghệ, đồng thời tiếp tục hình thành và phát triển tư duy kĩ thuật (TDKT) và nănglực sáng tạo ở sau bậc trung học cơ sở (THCS).

- Kĩ năng: Hình thành và phát triển tiếp một số kĩ năng thực hành kĩ thuật

cơ bản, cần thiết cho cuộc sống và hướng nghiệp thuộc lĩnh vực công nghiệpdựa trên cơ sở những kiến thức được học và những kĩ năng đã được hình thành ởbậc THCS, đồng thời học sinh được bồi dưỡng năng lực kĩ thuật (NLKT) banđầu trong học tập và nghiên cứu được thể hiện qua việc vận dụng kiến thức vàođời sống thực tiễn và xã hội

- Thái độ: Học sinh phải có hứng thú hiểu biết và có ý thức sáng tạo, cóthói quen lao động theo kế hoạch, tuân thủ qui trình công nghệ Rèn luyện, hìnhthành tác phong công nghiệp và có ý thức bảo vệ môi trường và định hướngđược nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp phổ thông

b Môn Vật lí

Căn cứ vào mục tiêu chung của giáo dục phổ thông, được cụ thể hoá đốivới môn học Mục tiêu của dạy học môn vật lí ở trường THPT là:

- Kiến thức: Học sinh có hiểu biết về hệ thống kiến thức vật lí phổ thông ,

cơ bản, hiện đại mang tính khái quát về các khái niệm, qui luật, định luật vật lí,nội dung chính của các thuyết vật lí và các ứng dụng quan trọng nhất của vật lítrong đời sống và trong sản xuất

- Kĩ năng: Hình thành và phát triển một số kĩ năng cơ bản như kĩ năng sửdụng các dụng cụ vật lí, đặc biệt là những dụng cụ đo lường, kĩ năng lắp rápthiết bị để thực hiện các thí nghiệm vật lí, vẽ biểu đồ và xử lớ cỏc số liệu đo đạcthu được và đưa ra kết luận

- Thái độ: Học sinh phải có hứng thú hiểu biết, ham học hỏi, có ý thức sángtạo Rèn luyện và hình thành tác phong lao động tuân thủ theo qui trình Có ýthức bảo vệ môi trường và định hướng được nghề nghiệp trong tương lai

Trang 15

1.2.2 Nhiệm vụ

a Môn công nghệ

+ Nhiệm vụ trí dục phổ thụng:hướng dẫn học sinh tìm hiểu một cách có hệthống để các em có hiểu biết các kiến thức kĩ thuật đại cương mang tính cơ bảnhiện đại phù hợp thực tiễn sản xuất đó là:

- Tiêu chuẩn VN về bản vẽ kĩ thuật gồm có: các phương pháp biểu diễntrên bản vẽ kĩ thuật, các loại bản vẽ ứng dụng

- Một số loại vật liệu cơ khí thông dụng và tính chất của nó cùng công nghệchế tạo vật liệu, việc tự động hoá trong chế tạo cơ khí với hệ thống sản xuấtxanh, sạch và sự phát triển bền vững

- Cấu tạo và nguyờn lớ làm việc của Động cơ đốt trong, vai trò và ứngdụng của nó

- Tính năng một số linh kiện điện tử thông dụng Một số mạch điện tử cơbản như mạch nguồn, mạch khuyếch đại, mạch lụgic, mạch điện tử điều khiển,các thiết bị điện tử thông dụng

- Hệ thống điện quốc gia, mạch điện và máy điện ba pha, mạch điện sảnxuất quy mô nhỏ

- Rèn luyện hình thành ở học sinh một số kĩ năng kĩ thuật cơ bản như: Đọc và lập một số bản vẽ kĩ thuật đơn giản

Lập được quy trình công nghệ chế tạo sản phẩm cơ khí đơn giản

Nhận biết vận hành bảo dưỡng điều chỉnh đơn giản một số cơ cấu hệthống động cơ đốt trong thông dụng

Nhận biết kiểm tra một số linh kiện điện tử thông dụng và lắp được một

số mạch điện tử đơn giản

Đấu nối được phụ tải đơn giản của mạch điện ba pha, nối dây vận hànhđược máy điện ba pha, đọc và vẽ được sơ đồ mạng điện sản xuất quy mô nhỏ+ Nhiệm vụ phát triển: dạy học công nghệ có nhiệm vụ phát triển tư duy kĩthuật và năng lực kĩ thuật Đây là nhiệm vụ rất quan trọng được thực hiện thôngqua quá trình hướng dẫn học sinh chiếm lĩnh tri thức thích nghi môi trường khoa

Trang 16

học- kĩ thuật phát triển mạnh sau này

+ Nhiệm vụ giáo dục: nhằm quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa dạy học

và giáo dục do vậy thông qua dạy học các phần nội dung cụ thể chú ý giáo dụchọc sinh về các mặt:

- Kĩ thuật tổng hợp và hướng nghiệp

- Tác phong công nghiệp: lao động có kế hoạch có quy trình, trật tự vệ sinh,

kỉ luật an toàn lao động và bảo vệ môi trường

- Thế giới quan khoa học để học sinh có niềm tin về vận dụng tri thức vàothực tiễn và dễ dàng hoà nhập vào cuộc sống sau khi tốt nghiệp THPT

Ba nhiệm vụ của dạy học môn công nghệ ở THPT có mối quan hệ chặt chẽvới nhau, có mối quan hệ biện chứng có sự tương hỗ thúc đẩy cho việc thựchiện Thực hiện nhiệm vụ trí dục là cơ sở để thực hiện nhiệm vụ phát triển vàgiáo dục, vì không có nền tri thức và phương pháp nhận thức đỳng thỡ khôngthể phát triển trí tuệ và hình thành nhân cách Mặt khác sự phát triển trí tuệ vànăng kĩ thuật là kết quả có được qua nắm vững tri thức và cũng là điều kiện choviệc chiếm lĩnh tri thức mới và tạo điều kiện hình thành niềm tin, nhân cách.Hình thành nhân cách chính là kết quả tất yếu khi đã nắm vững được tri thức vàphát triển trí tuệ Đây là mục đích cuối cùng của dạy học nhưng lại là yếu tốkích thích thúc đẩy việc nắm vững tri thức và phát triển năng lực

b Môn Vật lí

Các mục tiêu và nhiệm vụ của trường phổ thông được thực hiện chủ yếuthông qua dạy học cỏc mụn khoa học Căn cứ vào mục tiêu nhiệm vụ chung vàđặc điểm riêng của môn học để xác định nhiệm vụ cụ thể của dạy học môn vật lí:+ Trang bị cho học sinh những kiến thức phổ thông, cơ bản, hiện đại, có hệthống,bao gồm:

- Các khái niệm vật lí

- Các định luật vật lí cơ bản

- Nội dung chính của các thuyết vật lí

- Các ứng dụng quan trọng nhất của vật lí trong đời sống và sản xuất

Trang 17

- Các phương pháp nhận thức phổ biến dùng trong vật lí.

+ Phát triển tư duy khoa học ở học sinh: Rèn luyện những thao tác hànhđộng, phương pháp nhận thức cơ bản nhằm chiếm lĩnh kiến thức vật lí, vận dụngsáng tạo để giải quyết vấn đề trong học tập và thực tiễn sau này

+ Trên cơ sở kiến thức vật lí vững chắc, có hệ thống bồi dưỡng cho họcsinh thế giới quan duy vật biện chứng, giáo dục lòng yêu nước, thái độ đối vớilao động, đối với cộng đồng và những đức tính khác của người lao động

+ Góp phần giáo dục kĩ thuật tổng hợp và hướng nghiệp cho học sinh, làmcho học sinh nắm được nguyờn lớ cơ bản về cấu tạo, hoạt động của máy móc sửdụng phổ biến trong nền kinh tế quốc dân Có kĩ năng sử dụng những dụng cụvật lí, đặc biệt là những dụng cụ đo lường, kĩ năng lắp ráp thiết bị để thực hiệncác thí nghiệm vật lí, vẽ biểu đồ, xử lí số liệu đo đạc rút ra kết luận Những kiếnthức kĩ năng này sẽ giúp học sinh có thể nhanh chóng thích ứng với hoạt độnglao động sản xuất trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Các nhiệm vụ dạy học vật lí ở trường phổ thông không thể tách rời nhau

mà luôn luôn gắn liền với nhau, hỗ trợ lẫn nhau, góp phần đào tạo ra những conngười phát triển hài hoà toàn diện

Thế giới quan khoa học chỉ có thể được hình thành và phát triển trên cơ sởvốn kiến thức khoa học của mỗi cá nhân Thế giới quan là kết quả của sự kháiquát hoá cao những hiểu biết của con người về những đặc tính và quy luật vậnđộng của thế giới vật chất Sự khái quát ấy chỉ có thể trở thành niềm tin sâu sắckhi ta thực sự tin ở những qui luật cụ thể của vật lí học, của khoa học mà tanghiên cứu Ngược lại, cũng nhờ có thế giới quan khoa học mà nhiều nhà khoahọc kiên trì, dũng cảm đi sâu tìm kiếm những định luật vật lớ dự gặp phải một

số hiện tượng mà trước đây chưa biết nguyên nhân Mặt khác không có trình độ

tư duy phát triển thì khó có thể thực hiện sự khái quát hoá cao, do đó khó có thể

có thế giới quan khoa học vững chắc

Vật lí ở trường phổ thông chủ yếu là vật lí thực nghiệm, trong đó có sự kếthợp nhuần nhuyễn giũa quan sát, thí nghiệm và suy luận lí thuyết để đạt được sự

Trang 18

thống nhất giữa lí luận và thực tiễn Bởi vậy, việc rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo thựchành thí nghiệm sẽ bổ trợ rất tốt cho việc phát hiện những quy luật của tự nhiêncũng như kiểm tra tính đúng đắn của các kiến thức lí thuyết Những ứng dụngtrong kĩ thuật của vật lí không những phục vụ nhu cầu đời sống và sản xuất màcòn phục vụ cho chính công việc nghiên cứu vật lí học, nâng cao khả năng hoạtđộng của chính người nghiên cứu, học tập vật lí.

1.2.3 Đặc điểm kiến thức

a Môn công nghệ

+ Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

- Tính đa chức năng,đa phương án:

Tính đa chức năng thể hiện rõ ở công dụng, khả năng ứng dụng và phạm

vi công nghệ của đối tượng kĩ thuật là các sản phẩm kĩ thuật thiết bị, quá trìnhcông nghệ

Tính đa phương án thể hiện khả năng tạo dựng nờn cỏc đối tượng kĩ thuật

và thực hiện các phương án công nghệ

Trong quá trình dạy học giáo viên nên hướng dẫn học sinh biết cách khaithác tìm hiểu những chức năng của đối tượng kĩ thuật để thấy rõ vai trò và phạm

vi ứng dụng của đối tượng kĩ thuật Đồng thời giáo viên nên gợi mở để học sinhbiết cách đề xuất nhiều phương án thực hiện, nhiều giải pháp kĩ thuật hướng dẫncác em phân tích để tìm ra phương án tối ưu

- Tính tiêu chuẩn hoá: là đặc tính thể hiện cho thấy lĩnh vực kĩ thuật côngnghiệp có sự phát triển và ứng dụng với quy mô ngày càng rộng, độ chính xácngày càng cao đòi hỏi có sự liên kết giữa các ngành và giữa các quốc gia về quyước thể hiện, về chỉ tiêu thông số định mức cụ thể cho từng chủng loại đảm bảocho việc thực hiện liên kết về thiết kế chế tạo, lắp ráp vận hành, sửa chữa đồngthời tạo điều kiện cho việc chuyển giao công nghệ hợp tác sản xuất

Trong bài dạy công nghệ giáo viên nên giáo dục học sinh để các em thấy rõ

và coi trọng ý nghĩa thực tiễn của tiêu chuẩn đồng thời hướng dẫn học sinh biếtcách nhận biết tra cứu và tuân thủ khi thực hiện và sử dụng trong thiết kế, bảo

Trang 19

dưỡng vận hành trong chi tiết nhỏ.

- Tính kinh tế: thể hiện rõ mục đích áp dụng kĩ thuật công nghiệp vào thựctiễn sản xuất để nâng cao năng suất chất lượng, hạ giá thành, bảo vệ môi trường

Để đạt hiệu quả kinh tế, kĩ thuật công nghệ phải quan tâm đến nhiều khâu trongquá trình sản xuất

Khi hướng dẫn học sinh nghiên cứu về cấu tạo của dụng cụ máy móc thiết

bị cần lưu ý học sinh quan tâm đến hiệu quả kinh tế của đối tượng và qua sự tìmhiểu sự hợp lí cấu tạo, vật liệu, công suất, phương án lựa chọn dụng cụ thiết bịgia công thỡ nờn mở rộng để học sinh thấy hoặc hướng dẫn học sinh biết cáchtìm hiểu thêm xu hướng sẽ cải tiến áp dụng

+ Đặc điểm nội dung nghiên cứu:

- Tính cụ thể, trừu tượng

Tính cụ thể của nội dung thể hiện ở những kiến thức phản ánh về cấu tạocủa đối tượng kĩ thuật, của các quá trình công nghệ vì học sinh có thể trực tiếptri giác trong thực tiễn, quan sát chúng thông qua các ảnh chụp, mô hình vật chấtthay thế

Tính trừu tượng của nội dung thể hiện ở những khái niệm kĩ thuật, nhữngnguyờn lớ kĩ thuật, những diễn biến xảy ra bên trong đối tượng kĩ thuật hoặctrong quá trình tiến hành qui trình công nghệ Đó là những vấn đề tạo cơ sở chohọc sinh nhận thức cảm tính ban đầu làm dữ liệu cho tư duy, sách giáo khoahoặc những tài liệu học tập những nội dung trừu tượng được mô phỏng bằnghình vẽ, sơ đồ

Để đảm bảo được đặc điểm này thì trong quá trình dạy học phải đảm bảotheo nguyên tắc thống nhất giữa cụ thể và trừu tượng Khi hướng dẫn học sinhtiếp thu mọi thông tin trong bài học bằng cách xây dựng xuất phát điểm củakhâu nhận thức là trừu tượng hay cụ thể mà vận dụng hướng dẫn học sinh tư duyhợp lí theo con đường qui nạp hay diễn dịch Phải cụ thể hoá nội dung trừutượng bằng cách xây dựng và sử dụng đúng đắn vai trò của phương tiện trực

Trang 20

quan, bằng ứng dụng công nghệ thông tin, bằng các ví dụ liên hệ gần gũi đểminh hoạ.

- Tính thực tiễn:

Nội dung môn học mang tính ứng dụng cao bởi đối tượng nghiên cứu của

kĩ thuật thuộc thực tiễn đời sống sản xuất Mục đích nghiên cứu của công nghệ(KTCN) nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn của con người ngày càng cao thôngqua việc vận dụng kiến thức khoa học kĩ thuật cơ sở để cải tiến các qui trình lạchậu, phát minh ra các thiết bị mới, các qui trình công nghệ ngày càng hoàn hảovới mức độ tự động hoá ngày càng cao để triển khai vào ứng dụng thực tế

Trong dạy học công nghệ giáo viên cần cho học sinh thấy tính thực tiễn củanội dung nghiên cứu khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu chức năng nhiệm vụ củacác đối tượng, vấn đề nghiên cứu trong nội dung bài học nhằm giải quyết vấn đềnào đặt ra trong thực tiễn, giải quyết bằng con đường nào Đồng thời cần quantâm khai thác kiến thức thực tiễn của học sinh để học sinh biết tích cực chủ độngtìm tòi kiến thức, giải quyết các vấn đề đặt ra trong bài hoặc từ việc hướng dẫnhọc sinh có hiểu biết chung, giáo viên chỉ ra cho học sinh thấy rõ khả năng vậndụng kiến thức của chúng và biết cách vận dụng kiến thức nguyờn lớ để giảithích các hiện tượng, biện pháp kĩ thuật trong thực tế

- Tính tổng hợp, tích hợp (tớnh liờn mụn):

Thể hiện nội dung môn học gồm nhiều phần, có liên quan nhiều ngànhnghề trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp, các phần nội dung được biên soạndựa trên nguyên tắc giáo dục kĩ thuật tổng hợp để đảm bảo giữa chỳng cú mốiliên hệ khái quát và từng phần nội dung mang tính nguyên lí kĩ thuật cơ bản đểlàm cơ sở cho nội dung kĩ thuật chuyên ngành đảm bảo cho học sinh có đượcnhững kiến thức cốt lõi tạo điều kiện để học sinh học nghề sau này

Tính tích hợp thể hiện trong cơ sở nội dung của từng phần của môn học, là

sự hàm chứa của nhiều thành tố kiến thức kĩ thuật có liên quan đến nhiều mônhọc khác nhau như toỏn, hóa, đặc biệt là môn vật lí

Trang 21

Vì nội dung môn học có tính liờn mụn nờn trong quá trình dạy học giáoviên cần lựa chọn nội dung đảm bảo tính khái quát cơ bản và ví dụ phải mangtính phổ biến điển hình Ngoài ra, trong quá trình hướng dẫn học sinh nhận thứcphải giúp học sinh biết nhận biết, phân tích cơ sở khoa học của các hiện tượng,của các giải pháp kĩ thuật đưa ra, đồng thời cho học sinh biết rõ khả năng ứngdụng của các phần nội dung đối với môn học khác.

b Môn Vật lí

Vật lí học nghiên cứu các hình thức vận động cơ bản nhất của vật chất, chonên những kiến thức vật lí là cơ sở của nhiều ngành khoa học tự nhiên như hoáhọc, sinh học đặc biệt là Công nghệ

Vật lí học ở trường phổ thông chủ yếu là vật lí thực nghiệm Phương phápcủa nó chủ yếu là phương pháp thực nghiệm Đó là phương pháp nhận thức cóhiệu quả trên con đường đi tìm chõn lớ khách quan Phương pháp thực nghiệmxuất xứ từ vật lí học nhưng ngày nay cũng được sử dụng rộng rãi trong nhiềungành khoa học khác

Vật lí học nghiên cứu các dạng vận động cơ bản nhất của vật chất nênnhiều kiến thức vật lí có liên quan chặt chẽ với các vấn đề cơ bản của triết học,tạo điều kiện phát triển thế giới quan khoa học ở học sinh

Vật lí học là cơ sở lí thuyết của việc chế tạo máy, thiết bị dùng trong đờisống và sản xuất

Vật lí học là một khoa học chính xác, đòi hỏi vừa có kĩ năng quan sát tinh

tế, khéo léo tác động vào tự nhiên khi làm thí nghiệm, vừa phải có tư duy lụgicchặt chẽ, biện chứng vừa phải trao đổi thảo luận để khẳng định chõn lớ

1.2.4 Mối quan hệ giữa vật lí, kĩ thuật và công nghệ

a Các khái niệm

- Vật lí: vật lí là môn khoa học tư nhiên nghiên cứu những quy luật chungnhất của các hiện tượng tự nhiên, nghiên cứu những tính chất và cấu tạo vậtchất, những định luật chuyển động của nó

Trang 22

Những khái niệm vật lí và các quy luật của vật lí là cơ sở của toàn bộ khoahọc tự nhiên Vật lí là môn khoa học chính xác, nó nghiên cứu những quy luật địnhlượng của các hiện tượng Các quy luật của vật lí dựa trên các kết quả nhận đượcbằng con đường thực nghiệm hoặc được kiểm nghiệm chính xác bằng thựcnghiệm.

- Kĩ thuật: tuỳ vào cách tiếp cận,ta có nhiều khái niệm khác nhau về kĩ thuật

Kĩ thuật là tập hợp các phương tiện trang thiết bị vật chất cùng với tư liệu

về cách thức sử dụng trong quá trình sản xuất phục vụ nhu cầu sản xuất và đờisống của con người

- Công nghệ: là tập hợp gồm các phương pháp gia công và các phương tiện

kĩ thuật và các phương thức sử dụng nó, và những kinh nghiệm để lợi dụng quyluật khách quan tác động vào đối tượng nào đó nhằm đạt một hiệu quả xác địnhcho con người

Công nghệ là hệ thống thiết bị kĩ thuật và thông tin về qui trình và giảipháp sản xuất được áp dụng trong quá trình chế biến tài nguyên thành sản phẩmhàng hoá và dịch vụ Công nghệ là khái niệm bao hàm cả kĩ thuật

b Mối quan hệ giữa vật lí, kĩ thuật và công nghệ

Khi xã hội loài người phát triển, khoa học phát triển đặc biệt là môn vật lítrở thành cơ sở cho những ý tưởng sáng tạo nhằm phục vụ nhu cầu đời sống và

xã hội, và đặc biệt là trong sản xuất kĩ thuật cho phép trên cơ sở những định luật,quy luật của tự nhiên ứng dụng vào sản xuất để nâng cao năng suất lao động củacon người Nhiệm vụ chính của kĩ thuật là sự thay thế một phần hoặc toàn bộnền sản xuất, chức năng, sức lao động của con người với mục đích làm giảmkhối lượng công việc, tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng cuộc sống

Kĩ thuật là công cụ thiết bị sản xuất ứng dụng các thành tựu khoa học tư nhiênđặc biệt là vật lí Và công nghệ chính là kết quả của quá trình áp dụng những trithức và phát minh khoa học vào sản xuất Như vậy có thể thấy vật lí, kĩ thuật,công nghệ có mối quan hệ tác động qua lại với nhau Khoa học vật lớ nghiờncứu kiểm nghiệm những qui luật, định luật, tìm ra những phát minh để kĩ thuật

Trang 23

công nghệ dựa trên những qui luật, định luật đó ứng dụng vào đời sống sản xuấtvới những sáng chế, chế tạo các thiết bị máy móc có sự vận hành, hoạt độngtheo quy luật đã được nghiên cứu Và khi tiến bộ của kĩ thuật, công nghệ pháttriển ở mức độ cao nhờ việc ứng dụng những thành tựu của khoa học vật lí sẽgiúp cho việc chế tạo ra những máy móc thiết bị tối tân hiện đại phục vụ ngànhvật lớ giúp khoa học vật lí nghiên cứu và kiểm nghiệm được chính xác.

Như vậy có thể thấy rằng vật lí, kĩ thuật và công nghệ có mối quan hệ tương

hỗ, tác động qua lại lẫn nhau Vật lí là cơ sở trực tiếp nhất của kĩ thuật và côngnghệ Ngược lại kĩ thuật và công nghệ là điều kiện thúc đẩy vật lí phát triển

1.2.5 Sự giao thoa giữa môn vật lí và môn công nghệ 12 THPT

Sự giao thoa giữa môn vật lí và môn công nghệ 12 THPT thể hiện về mụctiêu môn học, đối tượng, phương pháp nghiên cứu nội dung của hai môn họcnày Trong nội dung dạy học của môn vật lớ cú một phần rất quan trọng đó làcác ứng dụng kĩ thuật của vật lớ Đõy chớnh là cơ sơ khoa học của môn côngnghệ, đặc biệt là môn công nghệ 12 Đõy chớnh là ý tưởng ban đầu cho việc chếtạo sản phẩm phục vụ đời sống sản xuất của con người

Nội dung môn công nghệ 12 (phần KTCN) ở THPT là các kiến thức vềhiểu biết kĩ thuật, sử dụng và bảo quản chúng, vì vậy liên quan chặt chẽ đến kiếnthức khoa học, đặc biệt là kiến thức vật lí

Mục tiêu quan trọng trong kiến thức vật lí là các ứng dụng để sáng chế kĩthuật Đây chính là những ứng dụng của vật lí vào trong các ngành công nghệ vàđời sống Khi dạy phần ứng dụng của kiến thức vật lí, học sinh được tìm hiểunhững nguyên tắc vật lí của các thiết bị kĩ thuật như: nguyên tắc và sơ đồ khốicủa nhà máy điện, cách truyền tải điện năng đi xa, động cơ điện, máy phátđiện…

Cần thấy rằng phần ứng dụng của vật lí người ta chỉ đề cập đến các nguyêntắc ứng dụng xuất phát từ vật lí, trong khi đó môn công nghệ là dựa trên nhữngnguyên tắc vật lí mà đề cập đến các giải pháp và chi tiết kĩ thuật Khi học môn

Trang 24

công nghệ nói chung và môn công nghệ 12 nói riêng học sinh hiểu rằng các giảipháp kĩ thuật để giải quyết một vấn đề nào đó có thể rất khác nhau.

Đặc trưng của việc dạy học môn công nghệ (KTCN) là thường đi từ cáichung (cái khái quát) đến cỏi riờng (cái cụ thể) để đảm bảo độ tin cậy, thờilượng khối lượng và nội dung chương trình Do đó trong dạy học môn côngnghệ 12 cần quan tâm đến cơ sở khoa học mà trực tiếp nhất là cơ sở kiến thứcvật lí của nội dung kĩ thuật công nghệ

1.2.6 Tác động qua lại giữa môn vật lí và môn công nghệ.

Trong quá trình phát triển của con người và xã hội loài người, trước hết là

sự khao khát tìm tòi hiểu biết khám phá thế giới và nhu cầu vận dụng nhữnghiểu biết này vào đời sống sản xuất nhằm phục nhu cầu của con người Đặc biệt

để ứng dụng những thành tựu khoa học vào cuộc sống thì vật lớ chớnh là cơ sởtrực tiếp của các thành tựu kĩ thuật Và ngược lại khi xã hội đã phát triển thì đếnlượt vật lí lại được hỗ trợ đắc lực của các ngành kĩ thuật

Vật lí là cơ sở khoa học cho những ý tưởng sáng tạo, tạo nên những sángchế nhằm mục đích phục vụ con người Các chuyên ngành của vật lí trở thành

cơ sở cho các ngành nghề kĩ thuật rất khác nhau Kiến thức vật lí đó là nhữngqui luật, định luật, hiện tượng vật lí là cơ sở chế tạo thiết bị, máy móc kĩ thuật.Tuy nhiên không phải một phát minh mới về vật lí đều có thể áp dụng đượcngay vào kĩ thuật một cách hiệu quả Giải quyết vấn đề này thuộc về ngành kĩthuật Do đó khi tiến bộ kĩ thuật công nghệ phát triển cao, có thể chế tạo ra cácmáy móc thiết bị hiện đại với độ chính xác cao là những sản phẩm ứng dụng tất

cả những thành tựu của vật lí và kĩ thuật hiện đại sẽ có tác động tích cực trở lạivới ngành vật lí Nó chính là công cụ đắc lực giúp cho những thực nghiệm vật líđược chính xác hơn, giúp cho quá trình phát minh trong ngành vật lí được nhanhchóng hơn, với độ chính xác cao Lúc này vật lí sẽ có những phát minh mới vànghiệm lại những giả thuyết của vật lớ trờn cỏc máy móc thiết bị hiện đại màtrước đó chưa có khả năng thực hiện được

Trang 25

Như vậy có thể thấy rằng: Vật lí là cơ sở trực tiếp của kĩ thuật và ngược lại

kĩ thuật là điều kiện thúc đẩy vật lí phát triển

1.2.7 Mối quan hệ biện chứng giữa tư duy vật lí và tư duy kĩ thuật

Khái niệm về tư duy vật lí và tư duy kĩ thuật

- Tư duy vật lí (TDVL): là sự quan sát các hiện tượng vật lí, phân tích mộthiện tượng phức tạp thành những bộ phận đơn giản và xác lập giữa chúng nhữngmối quan hệ và những sự phụ thuộc xác định, tìm ra mối liên hệ giữa mặt địnhtính và mặt định lượng của các hiện tượng và đại lượng vật lí, dự đoán các hệ quảmới từ cỏc lớ thuyết và áp dụng những kiến thức khái quát thu được vào thực tiễn

- Tư duy kĩ thuật (TDKT): là sự phản ánh khái quát cỏc nguyờn lớ kĩ thuật,các quá trình kĩ thuật, các thiết bị kĩ thuật dưới dạng mô hình và kết cấu kĩ thuậtnhằm giải quyết các nhiệm vụ đặt ra trong thực tiễn sản xuất TDKT là một loại

tư duy- một dạng hoạt động trí tuệ- của con người khi nghiên cứu giải quyết cácvấn đề đặt ra trong lĩnh vực kĩ thuật

Quá trình dạy học phải hướng tới sự tiếp thu tri thức, hình thành và pháttriển toàn diện của học sinh trong học tập, tính ham hiểu biết, khả năng tư duy

và tự sáng tạo, khả năng tự áp dụng kiến thức vào thực tiễn cuộc sống Mộttrong những mục đích quan trọng của quá trình dạy học là làm cho học sinh pháttriển những năng lực nhận thức và năng lực hành động trên cơ sở của quá trìnhnắm vững tri thức Theo các nghiên cứu cho thấy sự phát triển tư duy của họcsinh diễn ra trong quá trình tiếp thu tri thức Đối với dạy học môn công nghệ nóichung và phần KTCN nói riêng thì dạy học môn kĩ thuật có mục đích quan trọng

là phát triển TDKT cho học sinh trên cơ sở kiến thức vật lí và TDVL

Điểm tương đồng trong hai dạng tư duy này là chúng đều thuộc về tư duylụgic, một thuộc tính căn bản của con người

TDVL và TDKT có mối quan hệ biện chứng Sự khác biệt giữa TDVL vàTDKT thể hiện ở mục đích của hai loại tư duy này:

.TDVL: mục đích là khám phá, phát minh ra những quy luật, định luật trên

cơ sở quy nạp và thực nghiệm

Trang 26

.TDKT: mục đích là sáng chế, cái tiến xuất phát từ nhu cầu đòi hỏi của conngười và được kiểm chứng bằng thực tế đời sống.

Trong việc giải quyết những vấn đề của sản xuất và cuộc sống của conngười cần đòi hỏi cần có sự kết hợp hài hoà cả hai tư duy trờn.Và để trong quátrình dạy học môn công nghệ nói chung và môn công nghệ 12 nói riêng cần phảidựa vào mối quan hệ giữa vật lí, kĩ thuật và công nghệ để hướng cho học sinhsuy nghĩ và giải quyết vấn đề đặt ra khi đã nắm chắc cơ sở khoa học là kiến thứcvật lí Trên cơ sở đã nắm chắc được các tính chất, các định luật vật lí chi phốicác hiện tượng thực tế học sinh sẽ thấy được sự vận dụng của các kiến thức vật

lí vào việc chế tạo ra các dụng cụ thiết bị, máy móc để sử dụng trong sản xuất,đời sống, phục vụ cho lợi ích, nhu cầu của cuộc sống con người

Việc dạy học công nghệ (KTCN) không chỉ đơn giản là dạy ứng dụng kiếnthức VL hay đơn thuần là dạy kiến thức về các vật phẩm mà là dạy sáng tạo vậtphẩm, thiết bị phục vụ cho con người vì vậy phải có cách tiến hành riêng mới đạthiệu quả giáo dục Đặc biệt phải khai thác một cách hợp lí kiến thức cơ sở, loại bỏkiến thức chồng chéo và trang bị cho HS kiến thức tổng hợp, hoàn chỉnh cho HS.Kiến thức Công nghệ THPT nói chung và kiến thức môn Công nghệ 12 ởtrường THPT chủ yếu đề cập đến hình dạng, cấu trúc, các thông số kĩ thuật,những giải pháp kĩ thuật của những thiết bị điện và điện tử, kiến thức kĩ thuậtcông nghiệp thông thường, gần gũi với đời sống trong hai ngành kĩ thuật điện và

kĩ thuật điện tử Ngoài ra việc cung cấp cho học sinh một số sơ đồ thực tế cùngvới các bài tập thực hành đó giỳp học sinh hình thành và rèn luyện kĩ năng, kĩxảo về kĩ thuật điện và điện tử Đây là môn học mang tính ứng dụng cao, tuynhiên học sinh vẫn chưa hứng thú, tích cực trong giờ học môn công nghệ Dovậy nhiệm vụ đặt ra là cần phải nâng cao chất lượng của giờ học, để học sinhthấy được sự gần gũi của môn học đối với đời sống hàng ngày tạo nên hứng thúhọc tập và tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh

Từ việc tìm hiểu nội dung môn công nghệ lớp 12 và nội dung môn vật lí cóliên quan thấy rằng nhiều nội dung của môn học đều đã được học trong môn vật

lí, đặc biệt là phần kĩ thuật điện Do vậy việc khai thác kiến thức vật lí trong dạyhọc môn công nghệ 12, đặc biệt là nội dung kiến thức phần kĩ thuật điện không

Trang 27

những cung cấp cho học sinh kiến thức lụgic, hệ thống mà cũn giỳp tích cực hóahoạt động nhận thức của học sinh.

KẾT LUẬN CHƯƠNG I

Phát huy tính tích cực, tự lực nhận thức của học sinh là một trong nhữngnhiệm vụ quan trọng của dạy học để góp phần thực hiện mục tiêu chung của giáodục nước nhà Để tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh ngoài yêu cầuhọc sinh phải nỗ lực cao về trí tuệ, giáo viên phải tìm ra được con đường để tiếpcận nội dung môn học giỳp cỏc em tích cực hoạt động để nắm vững kiến thức.Muốn tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh, một mặt người họcphải có sự nỗ lực cao trong học tập, mặt khác người thầy phải tìm ra được conđường tiếp cận kiến thức môn học, giỳp cỏc em tích cực hoạt động để chiếmlĩnh được kiến thức

Vật lí và công nghệ là hai mặt của một quá trình nhận thức Vật lí tìm kiếmcác qui luật vận động của vật chất làm cơ sở khoa học để tạo ra thiết bị kĩ thuật.Công nghệ tìm kiếm các giải pháp tối ưu trong việc vận dụng các qui luật vật lívào trong sản xuất nhằm phục vụ con người Vì lẽ đó, khai thác kiến thức vật lítrong bài dạy công nghệ ở trường THPT có thể là một giải pháp có hiệu quảnhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh phổ thông

Trang 29

Chương II KHAI THÁC KIẾN THỨC VẬT LÍ TRONG DẠY HỌC PHẦN

và trang bị những kiến thức tổng hợp hoàn chỉnh cho học sinh Để khai thác kiếnthức vật lí một cách hiệu quả trong bài dạy công nghệ 12 ở trường THPT nhằmphát huy tính tích cực, tự lực nhận thức của học sinh ta cần lưu ý một số nguyêntắc sau:

2.1.1 Đảm bảo mục tiêu môn học, bài học

Nội dung kiến thức vật lí và công nghệ ở trường THPT có liên quan chặtchẽ với nhau Do vậy khi khai thác kiến thức vật lí trong bài giảng công nghệlớp 12 ở trường THPT cần phải đảm bảo phù hợp với mục tiêu môn học, bàihọc Để đảm bảo được nguyên tắc này ta cần lưu ý những vấn đề sau

a Nội dung kiến thức không trùng lặp:

Như đã trình bày ở trên, vật lí là cơ sở, là nguyên tắc, nguyờn lớ cho cácthiết bị kĩ thuật, thiết bị công nghệ Dạy học công nghệ ở trường THPT là dạy vềcấu trúc, vận hành, sử dụng, bảo quản, sửa chữa, ứng dụng của các thiết bị kĩthuật Do đó dạy công nghệ không phải dạy lại các hiện tượng vật lí xảy ra trongcác thiết bị công nghệ Sự trùng lặp, lặp lại kiến thức vật lí trong bài dạy côngnghệ là điều tối kị vỡ khụng bám sát mục tiêu môn học, bài học và dễ gây nhàmchán cho học sinh

Ví dụ: Trong bài: “Máy điện xoay chiều ba pha- máy biến áp ba pha”

Trang 30

Nội dung kiến thức trong bài máy biến áp ba pha ở chương trình vật lớ đócung cấp cho học sinh về:

+ Cấu tạo: bộ phận chính của máy biến áp là lõi biến áp, hai cuộn dây sơcấp và thứ cấp có điện trở nhỏ, số vòng dây khác nhau

+ Nguyên tắc hoạt động: dựa trên hiện tượng cảm ứng điện từ

+ Biểu thức thể hiện mối quan hệ giữa đại hiệu điện thế, dòng điện, số vòng

  và tạo điện áp lớn để nấu chảy kim loại, hàn điện

Trên cơ sở kiến thức mà vật lớ đó trang bị cho học sinh phổ thông, môncông nghệ khi dạy nội dung máy biến áp ba pha cần khai thác các nội dung sau:+ Lừi thép được cấu tạo từ các lá thép kĩ thuật điện để chống dũng Fucụ.+ Loại dây quấn: dây đồng bọc cách điện

+ Máy biến áp hoạt động nhiều sẽ gây nóng máy do đó cần làm mỏt: mỏybiến áp có công suất nhỏ làm mát bằng phương pháp đối lưu không khí nhờ cánhtản nhiệt ở vỏ mỏy; mỏy biến áp có công suất lớn làm mát bằng dầu biến áp.+ Cách đấu dõy mỏy biến áp có thể đấu hình sao hoặc hình tam giác Nếuđấu hình sao cú thờm dõy trung tính Ở cỏc mỏy biến áp cung cấp điện cho các

hộ tiêu thụ, dây quấn thứ cấp thường nối hình sao có dây trung tính với mụcđích sử dụng được nhiều cấp điện áp khác nhau, dùng cho tải đối xứng và tảikhông đối xứng

+ Tuỳ thuộc vào công suất khác nhau người ta cú cỏc loại máy biến áp khác nhau:Máy biến áp tự ngẫu công suất nhỏ thường sử dụng cho các phòng thínghiệm hoặc trong gia đình

Ví dụ: Trong bài “Động cơ không đồng bộ 3 pha”, kiến thức vật lớ đótrang bị cho các em là:

- Cấu tạo động cơ không đồng bộ 3 pha: Rụto lồng sóc, Stato gồm 3 cuộn

Trang 31

dây đặt lệch nhau 120 0.

- Nguyên tắc hoạt động của động cơ không đồng bộ:

+ Tạo ra từ trường quay bằng cách cho dòng điện ba pha chạy vào ba cuộndây giống nhau, đặt lệch nhau 120 0

+ Đặt trong từ trường quay một rụto lồng sóc có thể quay xung quanh trụctrùng với trục quay của từ trường

+ Rụto lồng sóc quay do tác dụng của từ trường quay với tốc độ nhỏ hơntốc độ của tư trường

Dựa trên kiến thức vật lớ đó cú, mụn công nghệ khi dạy bài này nên khaithác các nội dung sau:

+ Cách đảo chiều quay của động cơ: đảo hai pha bất kì cho nhau

b Khai thác kiến thức có tính chọn lọc

Kiến thức công nghệ 12 có liên quan rất nhiều đến kiến thức vật lí THPT,

do vậy khi dạy học môn công nghệ 12, ta không nên khai thác tất cả những kiếnthức vật lớ đó trang bị cho học sinh Nếu như vậy sẽ làm giảm hứng thú học tập

và ảnh hưởng đến quá trình nhận thức của học sinh Trong quá trình dạy họccông nghệ 12, giáo viên chỉ nên khai thác có chọn lọc những kiến thức vật lí cơ

sở, căn bản, liên quan đến nội dung chính của bài Những kiến thức vật lí khỏc

có thể dùng để dẫn dắt, đặt vấn đề, gợi mở cho những giải pháp kĩ thuật hiện tại,cách sử dụng thiết bị kĩ thuật cho an toàn và hợp lí

Trang 32

Ví dụ: Khi dạy nội dung máy biến áp ba pha Kiến thức vật lí liên quan đếnbài học đã cung cấp cho học sinh là:

+ Cách giải bài toán truyền tải điện năng đi xa: giảm hao phí trên đườngdây truyền tải dựa vào công thức:

2 2

ph ph

+ Nguyên tắc hoạt động: dựa trên hiện tượng cảm ứng điện từ

+ Biểu thức thể hiện mối quan hệ giữa đại hiệu điện thế, dòng điện, số vòng

lí có thể nêu lên được hai phương án Một là tăng tiết diện dây dẫn để giảm điệntrở trên đường dây truyền tải Hai là tăng điện áp trên đường dây Học sinh đãbiết cách tăng tiết diện của dây dẫn là không thực tế, do vậy chỉ cũn cỏch tăngđiện áp nguồn khi truyền tải điện năng Vậy giải pháp kĩ thuật ở đây là sử dụngmáy biến áp để tăng hoặc giảm điện áp Máy tăng áp phải có ở nơi có nhà máyphát điện để truyền tải điện năng đi xa, còn ở nơi tiêu thụ phải sử dụng máy hạ

áp để có điện áp phù hợp

Khi dạy nội dung chính của bài máy biến áp, giáo viên có thể khai tháckiến thức vật lí cơ sở về cấu tạo, nguyên tắc làm việc để phục vụ cho bài dạy

2.1.2 Đảm bỏo tớnh hiệu quả

Để phục vụ yêu cầu dạy tốt môn học, trong quá trình khai thác những kiếnthức vật lí trong bài dạy công nghệ cần phải đảm bảo tính hiệu quả Tính hiệuquả của việc khai thác kiến thức vật lí trong bài dạy công nghệ 12 thể hiện ởnhững điểm sau:

Trang 33

a Kiến thức vật lí được khai thác phải phù hợp với kiến thức đã có của học sinh

Để khai thác kiến thức vật lí một cách hiệu quả trong dạy học công nghệ

12, trước khi tiến hành soạn bài và dạy bài công nghệ 12, giáo viên cần xem xétnhững nội dung kiến thức học sinh đã nhận được khi học môn vật lí để khai tháccho phù hợp Từ đó, dựa vào những kiến thức cơ sở vật lí của học sinh để khaithác phục vụ cho bài giảng, tăng hiệu quả của giờ học

Ví dụ: khi dạy bài ”Mạch điện xoay chiều ba pha”, HS đã được biết vềnguyên tắc tạo ra dòng điện xoay chiều ba pha (dựa trên hiện tượng cảm ứngđiện từ), cách tạo ra dòng điện xoay chiều ba pha bằng máy phát điện, cách mắcmạch ba pha ở nội dung kiến thức vật lí, giáo viên cần khai thác kiến thức vật línày khi dạy bài học để tập trung cho nội dung của bài là cách nối nguồn điện vàtải ba pha và sơ đồ mạch điện ba pha Nếu như giáo viên đề cập đến các nộidung phức tạp như công thức tính tần số của dòng xoay chiều…học sinh sẽ khóhiểu và bài dạy sẽ không đạt kết quả mong muốn

b Kiến thức vật lí được khai thác phải phù hợp với thực tiễn kĩ thuật.

Vật lí là ngành khoa học mang tính khám phá, phát minh, do vậy những nộidung kiến thức vật lí ở THPT cũng mang tính khám phá phát minh Mặt khácvật lí học là cơ sở lí thuyết của việc chế tạo máy móc, thiết bị dùng trong đờisống và sản xuất Tuy nhiên có nhiều khám phá, phát minh hiện nay vẫn chưađược áp dụng vào thực tế Do vậy khi dạy công nghệ không nên đi sâu vàonhững vấn đề hiện tại kĩ thuật chưa thực hiện

Ví dụ: Trong bài “Hệ thống điện quốc gia” Giáo viên có thể mở rộng kiếnthức cho học sinh về việc truyền tải điện năng đi xa được hiệu quả trong tươnglai đó là giảm hao phí trên đường dây truyền tải bằng vật liệu siêu dẫn Hiện naychưa thể chế tạo được vật liệu siêu dẫn ở nhiệt độ thường Do vậy giáo viên chỉnờn dựng kiến thức này để giới thiệu cho học sinh về các giải pháp kĩ thuậttrong tương lai

Trang 34

2.2 Các con đường khai thác kiến thức vật lí trong dạy học công nghệ

12 ở trường THPT

Như đã trình bày, kiến thức công nghệ lớp 12 có liên quan chặt chẽ, mậtthiết đến kiến thức vật lí THPT Do đó khi dạy môn công nghệ cần khai tháckiến thức vật lí một cách có chọn lọc, sao cho phù hợp về lụgic nhận thức củahọc sinh, nội dung kiến thức không trùng lặp, đảm bảo tính hiệu quả bám sátmục tiêu của bài học

Căn cứ vào phân phối chương trình của hai môn vật lí và công nghệ ởtrường THPT, đồng thời qua việc tìm hiểu, phân tích nội dung chương trìnhcông nghệ 12 và nội dung chương trình vật lí có liên quan, có thể thấy để khaithác kiến thức vật lí trong bài dạy công nghệ 12 nhằm phát huy tính tích cựcnhận thức của học sinh có rất nhiều con đường (cách thức) khác nhau Tuynhiên, khai thác bằng con đường nào vẫn phải đảm bảo mục đích, nội dung kiếnthức bài học công nghệ 12 có cơ sở, hệ thống, thể hiện được lụgic phát triển củanội dung dạy học theo hướng gắn lí thuyết với thực hành Bài dạy phải đáp ứngđược yêu cầu dạy học môn học, làm nổi bật đặc trưng của bài dạy, tạo kiến thứctổng quát và vững chắc cho học sinh Tức là:

- Một bài dạy công nghệ phải đáp ứng được mục tiêu dạy học môn họcnghĩa là phải làm cho học sinh hiểu và có khả năng vận dụng kiến thức kĩ thuật

về điện và điện tử đã được học

- Học sinh hiểu được kiến thức kĩ thuật không phải là sự sao chép kiến thứcvật lí mà là những sáng chế thực sự Những sáng chế đó trong nội dung kiếnthức công nghệ 12 THPT là những thiết bị điện và điện tử thông thường

- Sau khi học, học sinh có khả năng vận dụng để giải quyết những vấn đề kĩthuật điện và điện tử thông thường khi gặp phải

Để thực hiện được điều này, có thể tiến hành khai thác kiến thức vật lítrong bài dạy công nghệ 12 theo hai con đường sau

2.2.1 Thiết kế bài dạy công nghệ

Sơ đồ thể hiện quá trình thiết kế bài dạy công nghệ:

Trang 35

+ Kiến thức cơ sở khoa học của bài dạy kĩ thuật là gỡ?(kiến thức vật lí)+ Các khái niệm, giải pháp kĩ thuật,cỏc thông số kĩ thuật…là nội dung kĩthuật của bài.

Khi đã làm sáng tỏ hai vấn đề trên trong bài học, học sinh được khắc sâukiến thức vật lí, đồng thời có kiến thức kĩ thuật, phân biệt được kiến thức cơ sởkhoa học của những sáng chế kĩ thuật, từ đó tạo hứng thú học tập cho học sinh

- Xác định kiến thức cơ sở khoa học của bài công nghệ: kiến thức cơ sởkhoa học của bài công nghệ chính là nội dung kiến thức vật lí có liên quan đếnbài dạy Kiến thức vật lí được sử dụng trong bài dạy ở mức độ ôn tập, gợi mở,dẫn dắt học sinh tìm hiểu vấn đề cụ thể Việc xác định kiến thức cơ sở khoa họcđược tiến hành theo các bước sau:

+ Lập bảng so sánh nội dung kiến thức của bài công nghệ với nội dung kiếnthức của vật lí có liên quan đã được học

Nghiên cứu nội dungbài dạy công nghệ

Xác định cơ sở khoahọc (kiến thức vật lí)

Trình bày các nộidung kĩ thuật của bài

Kết luận và nêu những

ứng dụng

Trang 36

+ Xác định phương tiện dạy học cần có trong bài học và so sánh vớiphương tiện dạy học nội dung môn vật lí có liên quan.

Ví dụ: Khi dạy “Động cơ không đồng bộ ba pha” Xác định cơ sở khoa họccủa nội dung bài học Lập bảng so sánh kiến thức của bài động cơ không đồng bộ

ba pha trong sách giáo khoa vật lí 12 và nội dung kiến thức của bài công nghệ SGK Vật lí 12 SGK Công nghệ 12

ĐCKĐB ba pha

I/ Nguyên tắc hoạt động của

ĐCKĐB

- Từ trường quay

- Dựa trên hiện tượng cảm ứng

điện từ, tương tác giữa từ trường và

- Từ trường quay của dòng điện

xoay chiều ba pha

- Nguyên tắc hoạt động: dựa trên

hiện tượng cảm ứng điện từ, tương tác

giữa từ trường và dòng điện

ĐCKĐB ba phaI/ Khái niệm và công dụng 1/ Khái niệm

2/ Công dụngII/ Cấu tạo 1/ Stato 2/ Rôto (rôto lồng sóc và rôto dây quấn)

III/ Nguyên lí làm việc Nguyên lí làm việc Công tức tính tốc độ từ trường

IV/ Cách đấu dây

- Cách đấu dây ĐCKĐB ba pha:đấu hình sao hoặc đấu hình tam giác

Trang 37

- Cách đổi chiều quay của ĐCNhư vậy qua bảng so sánh trên ta thấy: Kiến thức cơ sở khoa học của bài là+ Nguyên tắc hoạt động của động cơ không đồng bộ.

+ Từ trường quay của dòng điện xoay chiều ba pha

+ Cấu tạo của động cơ không đồng bộ ba pha (theo nguyên tắc vật lí gồmhai phần chính là stato và rụto)

- Trình bày các nội dung kĩ thuật của bài: nội dung kĩ thuật của bài họcchính là các giải pháp kĩ thuật, cấu trúc kĩ thuật công nghệ Đặc tính và cấu trúc

kĩ thuật của thiết bị kị kĩ thuật là kết quả của các giải pháp cải tiến kĩ thuật hoặcsáng chế Đặc điểm này của thiết bị là rất quan trọng vì vậy giáo viên cần chỉ rõcho học sinh biết được chức năng và nhiệm vụ của từng bộ phận cấu thành nênsản phẩm, đồng thời giúp học sinh phân biệt được những điểm giống và khácnhau trong cùng một loại sản phẩm Từ đó học sinh hiểu nguyờn lớ hoạtđộng ,cấu tạo của các thiết bị kĩ thuật và có kĩ năng sử dụng ,bảo quản các thiết

bị một cách hợp lí và khoa học Người dạy cần làm rừ cỏc vấn đề sau:

+ Cấu trúc nội dung bài gồm mấy phần: việc phân chia và sắp xếp trình tựnội dung như trong sách giáo khoa với việc khai thác cơ sở vật lí khi xét về lụgicnội dung và lụgic nhận thức đã hợp lí chưa?

+ Những khái niệm nào cần hình thành trong bài?

+ Những nội dung khó trong bài là gì?

+ Những ứng dụng trong thực tiễn và khai thác như thế nào?

Ví dụ: Vẫn như ví dụ trên, nội dung chính của bài (nội dung kĩ thuật) cầntrang bị cho học sinh là:

+ Cấu tạo của động cơ không đồng bộ ba pha: các giải pháp kĩ thuật về lừithộp, dõy quấn, làm mát

+ Nguyờn lí làm việc: từ trường quay, tốc độ quay của động cơ, hệ sốtrượt s

- Kết luận và nêu ứng dụng: sau khi đã tìm hiểu về nội dung bài học, giáoviên tổng kết những kiến thức cơ bản về thiết bị hoặc sản phẩm kĩ thuật đã tìm

Trang 38

hiểu về những đặc tính và cấu trúc kĩ thuật Từ đó nêu lên ứng dụng cụ thể củatừng thiết bị, sản phẩm Đây là kiến thức có thể trao đổi với học sinh để các emvận dụng những kiến thức đã học vào thực tế.

Ví dụ: Sau khi tìm hiểu về cấu tạo và nguyờn lớ làm việc của máy biến áp

ba pha Giáo viên kết luận và trao đổi với học sinh những ứng dụng cụ thể củamáy biến áp ba pha trong thực tế như:

+ Trong gia đình hoặc trong các phòng thí nghiệm thường dùng loại máybiến áp nào?

+ Ưu điểm khi sử dụng máy biến áp hàn trong công nghệ hàn kim loại?

2.2.2 Đàm thoại

Phương pháp đàm thoại là phương pháp dạy học tích cực Sử dụng phươngpháp đàm thoại chính là giáo viên dựa vào vốn tri thức kinh nghiệm hoạt độngthực tiễn của học sinh, đồng thời căn cứ nội dung nghiên cứu và mục tiêu cần đạtđược mà đặt ra hệ thống các câu hỏi (các vấn đề cần nghiên cứu) thích hợp chohọc sinh, hướng dẫn HS tư duy từng bước để tỡm ra câu trả lời nhằm qua đó các

em tiếp thu được tri thức mới của bài học(hoặc củng cố những kiến thức đó cú).Khai thác kiến thức bằng con đường đàm thoại để dẫn dắt học sinh vào tìnhhuống có vấn đề được thể hiện theo sơ đồ dưới đây:

Vấn đề kĩ thuật (tình huống)

Cơ sở khoa học ( kiến thức vật lí)

Kết luận

Trang 39

Vấn đề kĩ thuật đưa ra dưới dạng tình huống có vấn đề với mục đích kíchthích sự suy nghĩ và hành động sáng tạo của học sinh Đưa học sinh vào tìnhhuống có vấn đề sẽ có tác dụng lôi cuốn học sinh tư duy tích cực, thúc đẩy quátrình nhận thức của học sinh.

Vấn đề kĩ thuật nêu ra là những kiến thức về các giải pháp kĩ thuật, cấu trúc

kĩ thuật Yêu cầu học sinh giải quyết các vấn đề kĩ thuật nêu ra dựa trên cơ sởnhững kiến thức đó cú, đặc biệt là những kiến thức khoa học cơ sở (kiến thứcvật lí) Đặt học sinh vào tình huống có vấn đề, sử dụng phương pháp đàm thoại(có trực quan nếu cần thiết), trao đổi với học sinh, giáo viên sử dụng những câuhỏi gợi mở để khai thác kiến thức vật lớ đó có của học sinh để giỳp cỏc em giảiquyết vấn đề kĩ thuật (tình huống có vấn đề) Sau khi giải quyết được vấn đề kĩthuật đặt ra, học sinh không những khắc sâu kiến thức vật lớ đó học, nắm vữngkiến thức kĩ thuật, mà còn có được phương pháp hành động thu nhận tri thức đó

2.3 Khai thác kiến thức vật lí trong dạy học phần Kĩ thuật điện môn Công nghệ 12 ở trường THPT

2.3.1 Mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung phần Kĩ thuật điện môn Công nghệ 12.

a Mục tiêu:

- Kiến thức:

+ Biết được những kiến thức cơ bản về thiết bị điện, máy điện thông dụng+ Biết được những kiến thức về mạch điện như sơ đồ mạch điện, những quitắc tính toán mạch điện cơ bản

+ Học sinh hiểu được những khái niệm và những ứng dụng cơ bản của cáchiện tượng về điện, hiểu được khái niệm sơ đồ hệ thống lưới điện quốc gia.+ Hiểu được một số kiến thức cơ bản về mạch điện 3 pha, máy điện 3 pha.+ Hiểu được đặc điểm sơ đồ của mạng điện sản xuất, nơi tiêu thụ sản xuất

- Kĩ năng:

+ Học sinh biết được cách nối mạch xoay chiều 3 pha kiểu sao và tam giác

Trang 40

+ Nhận dạng được cấu tạo, các bộ phận chính của động cơ không đồng bộ

3 pha

+ Có thể lắp ráp được một số mạch điện dân dụng thông thường

- Thái độ:

+ Học sinh phải có thái độ học tập nghiêm túc

+ Học sinh có ý thức vận dụng kiến thức đã học về các thiết bị điện vàotrong thực tế, có ý thức tìm hiểu về các thiết bị điện thông dụng trong thực tế.+ Hình thành thói quen làm việc theo qui trình nhất định, hình thành tínhkiên trì

+ Tạo cho học sinh hứng thú nhất định trong việc sử dụng và bảo quản cácthiết bị liên quan đến môn học

b Nhiệm vụ

- Cung cấp cho học sinh những kiến thức chung về kĩ thuật điện như cáckhái niệm kĩ thuật, các mạch điện cơ bản, nguyên tắc hoạt động của các thiết bịđiện phổ biến trong đời sống và sản xuất, từ đó học sinh có ý thức sử dụngnhững thiết bị điện an toàn, hợp lí

- Hướng dẫn học sinh thực hiện một cách hợp lí, an toàn những công việcthông thường về điện như lắp ráp các mạch điện đơn giản, sử dụng và sửa chữanhỏ các thiết bị điện phổ biến trong sản xuất, đời sống

- Góp phần phát triển khả năng tư duy và khả năng sáng tạo của học sinh

- Góp phần giáo dục kĩ thuật tổng hợp, hướng nghiệp cho học sinh thôngqua nội dung môn học

c Nội dung kiến thức phần Kĩ thuật điện môn Công nghệ 12:

Nội dung kiến thức phần Kĩ thuật điện môn Công nghệ 12 bao gồm: 5 bài líthuyết và 3 bài thực hành

- Chương 5: Máy điện xoay chiều 3 pha

+ Bài 22: Hệ thống điện quốc gia

Nội dung bài học đề cập đến các vấn đề sau:

I Khái niệm về hệ thống điện quốc gia:

Ngày đăng: 23/04/2015, 17:32

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

3/ Bảng so sánh kiến thức vật lí và kiến thức kĩ thuật - luận văn đại học sư phạm  Khai thác kiến thức vật lí trong dạy học phần kĩ thuật điện môn công nghệ 12 nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh THPT
3 Bảng so sánh kiến thức vật lí và kiến thức kĩ thuật (Trang 55)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w