Vì vậy giáo dục nước nhà cần phải có sự đổi mới cả về nội dung và phươngpháp giảng dạy, nhà trường phải tổ chức hoạt động dạy và học như thế nào đểsau khi ra trường học sinh có khả năng
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do nghiên cứu đề tài:
Bước sang thế kỉ XXI, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật
và công nghệ lượng tri thức khoa học tăng lên theo cấp số nhân, khoảng cáchgiữa phát minh lí thuyết và ứng dụng chúng trong thực tế ngày càng rút ngắnlại Sự phát triển đó đã ảnh hưởng lên tất cả các mặt văn hoá- kinh tế- chính trịtrong đó có giáo dục Giáo dục đóng một vai trò lớn trong việc phát huy tiềmnăng trí tuệ, năng lực sáng tạo của con người Việt Nam, là động lực quantrọng để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đưa nước ta tiếnlên nhanh, vững vàng hội nhập kinh tế quốc tế và sánh vai cùng các cườngquốc trên thế giới
Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, nhu cầu của thựctiễn xã hội đòi hỏi con người mới phải là con người có năng lực tri thức (nănglực trí tuệ), năng lực giải quyết vấn đề trong môi trường sống luôn biến động
Vì vậy giáo dục nước nhà cần phải có sự đổi mới cả về nội dung và phươngpháp giảng dạy, nhà trường phải tổ chức hoạt động dạy và học như thế nào đểsau khi ra trường học sinh có khả năng tự học, tự thích nghi với hoàn cảnhmới muốn vậy phải đạt mục tiêu “ giúp học sinh phát triển toàn diện về đạođức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ, các kĩ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân,tính năng độn sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủnghĩa, xây dựng tư cách, trách nhiệm công dân; chuẩn bị chho học sinh tiếptục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động tham gia xây dựng và bảo vệ tổquốc” (Điều 27- Luật Giáo dục của quốc hội nước CHXHCN Việt Nam số38/2005/ QH 10 ngày 14- 6- 05)
Trang 2Để đạt mục tiêu đó, ngành giáo dục kết hợp với cấp uỷ, chính quyền tíchcực thực hiện các biện pháp phát triển giáo dục Ngành luôn chú trọng thựchiện các biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục, thực hiện đổi mới chươngtrình nội dung sách giáo khoa, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên Tuynhiên thực tế cho thấy việc thực hiện mục tiêu trên là chưa hiệu quả, đặc biệt
là môn Công nghệ ở các trường phổ thông Do nhiều nguyên nhân khác nhau
cả chủ quan lẫn khách quan nên việc học tập môn Công nghệ của học sinh vẫnthiên về lí thuyết, học sinh ít được trực tiếp tham gia vào các hoạt động thựchành, thực nghiệm, sử dụng và làm quen với qui trình sản xuất kĩ thuật cụ thể,
ít được tiếp xúc với các thiết bị ki thuật, chưa được tham gia vào lao động sảnxuất thực tế Vì vậy học sinh không hứng thú học tập, khả năng tư duy, nănglực vận dụng kiến thức kĩ thuật vào thực tiễn để giải quyết các vấn đề kĩ thuậtcòn yếu Là sinh viên sắp ra trường, sẽ trực tiếp giảng dạy bộ môn Công nghệ
ở trường phổ thông, tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu là: "Năng lực kĩ thuật và biện pháp nâng cao năng lực kĩ thuật cho học sinh trong dạy học môn Công nghệ 11" với mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé của mình vào
công cuộc đổi mới phương pháp dạy học môn học, góp phần hoàn thành mụctiêu giáo dục trong thời đại mới, dạy học theo hướng phát huy tích cực, tự lựccủa người học nhằm đưa học sinh vào chủ thể của hoạt động qua đó năng lựcnhận thức của học sinh được hình thành ngay khi học tập trong nhà trườnggóp phần định hướng nghề nghiệp cho học sinh khi rời khỏi ghế nhà trườngtiếp tục học tập chuyên sâu hoặc tham gia vào lao động sản xuất
2 Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu và đề xuất một số biện pháp dạy học nhằm hình thành vàphát triển năng lực kĩ thuật cho học sinh trong dạy học Công nghệ 11 nhằmnâng cao chất lượng dạy học môn học
Trang 33 Đối tượng nghiên cứu:
- Đặc điểm môn Công nghệ 11
- Thiết kế bài dạy theo hướng hình thành và phát triển năng lực kĩ thuậtthông qua một số bài học cụ thể thuộc chương trình Công nghệ 11
- Tiến hành thực nghiệm để kiểm tra tính khả thi của đề tài
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Năng lực kĩ thuật, biện pháp phát triển năng lực kĩ thuật cho học sinhthông qua dạy học môn Công nghệ 11 ở trường phổ thông
5 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết: Nghiên cứu thu thập thông tin khoa
học liên quan đến năng lực kĩ thuật, biện pháp hình thành và phát triển nănglực kĩ thuật
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Sử dụng phương pháp thực nghiệm
sư phạm
Trang 46 Cấu trúc của khoá luận:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục Nội dungchính của khóa luận được chia làm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2: Đề xuất một số biện pháp và vận dụng để hình thành và phát
triển năng lực kĩ thuật trong dạy học Công nghệ 11
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 5
PHẦN NỘI DUNG
Chương I
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1 Cơ sở lí luận của đề tài:
1.1 Năng lực:
1.1.1 Khái niệm về năng lực:
Theo tâm lí học: " Năng lực là tổ hợp những thuộc tính độc đáo của cánhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằmđảm bảo cho hoạt động đó có kết quả tốt"
Một con người cụ thể khi đứng trước những yêu cầu của một hoạt động,thực hiện một công việc xác định, nếu nhờ những đặc điểm tâm lí và sinh lícủa mình để có thể giải quyết tố những yêu cầu của hoạt động hay của côngviệc đó thì có thể kết luận rằng người ấy có năng lực giải quyết công việc đó.Như vậy, có thể thấy năng lực là sự tương xứng giữa một bên là đặc điểm tâm-sinh lí của một con người và một bên là những yêu cầu cụ thể của hoạt độngđối với người đó Sự tương xứng đó là điều kiện để con người hoàn thànhcông việc mà hoạt động phải thực hiện
Như vậy, con người sinh ra ai cũng có một năng lực nhất định, không cónăng lực này thì có năng lực khác Mỗi người có thể có nhiều loại năng lựckhác nhau, năng lực này có thể tồn tại ở trạng thái lặn, năng lực khác lại ởtrạng thái trội, tuỳ thuộc vào đặc điểm sinh lí và yêu cầu của mỗi công việc.Năng lực được hình thành nhờ có sự học hỏi, luyện tập và ý thức vươn lên.Điều này đòi hỏi người giáo viên khi dạy học phải biết khơi dậy năng lực tiềmtàng sẵn có trong học sinh Tuy nhiên, để phát triển năng lực ở học sinh thìbản thân học sinh phải có tư chất, đó chính là đặc điểm về tâm- sinh lí hệ thần
Trang 6kinh của con người Tư chất là điều kiện tự nhiên cần thiết để hình thành vàphát triển năng lực Các tư chất là bẩm sinh còn năng lực được hình thành vàphát triển qua quá trình hoạt động Năng lực gắn liền và phụ thuộc hữu cơ vớicác tri thức và kĩ năng của con người Con người càng hiểu biết nhiều về mộtlĩnh vực nào đó thì năng lực hoạt động về mặt này của họ càng phát triểnhanh.
1.1.2: Các mức độ của năng lực:
Dựa vào tốc độ tién hành một hoạt động và kết quả đạt được của hoạtđộng, người ta chia năng lực thành ba mức độ khác nhau: năng lực, tài năng,thiên tài
- Năng lực: Là một mức độ nhất định của khả năng con người, biểu thịkhả năng hoàn thành có kết quả một hoạt động nào đó
- Tài năng: Là mức độ năng lực cao hơn, biểu thị sự hoàn thành sáng tạomột hoạt động nào đó
- Thiên tài: Là mức độ cao nhất của năng lực, biểu thị ở mức kiệt xuất vềthực hiện hoạt động hoàn chỉnh nhất của những vĩ nhân trong lịch sử nhân loại
1.1.3: Phân loại năng lực:
Dựa vào mục đích đáp ứng trong thực tiễn của các hoạt động mà nănglực được chia làm hai loại: năng lực chung và năng lực riêng biệt
- Năng lực chung là năng lực cần thiết cho nhiều lĩnh vực khác nhau Ví
dụ như: Năng lực giao tiếp, năng lực trí tuệ…là những điều kiện cần thiết đểgiúp cho nhiều lĩnh vực hoạt động có kết quả
- Năng lực riêng biệt (còn gọi là năng lực chuyên biệt hay năng lựcchuyên môn) là sự thể hiện độc đáo các phẩm chất riêng biệt có tính chuyênmôn, nhằm đáp ứng yêu cầu của một lĩnh vực hoạt động chuyên biệt với kết
Trang 7quả cao Chẳng hạn như: năng lực toán học, năng lực thơ văn, năng lực kĩthuât, năng lực âm nhạc, năng lực sư phạm…
Hai loại năng lực chung và năng lực riêng luôn bổ sung và hỗ trợ chonhau
1.1.4: Mối quan hệ giữa năng lực với tư chất, với thiên hướng và với tri thức, kĩ năng, kĩ xảo.
a Mối quan hệ giữa năng lực với tư chất:
Tư chất là những đặc điểm riêng của cá nhân về giải phẫu sinh lí bẩmsinh của bộ não, của hệ thần kinh, của cơ quan phân tích Nó tạo nên sự khácbiệt giữa con người với nhau Ngoài những yếu tố bẩm sinh, di truềyn, trong
tư chất còn chúa đựng những yếu tố tự tạo trong cuộc sống cá thể Đặc điểm ditruyền có được bảo tồn và thể hiện ở thế hệ sau hay không, và thể hiện ở mức
độ nào, điều đó hoàn toàn do hoàn cảnh sống quyết định
Như vậy tư chất là một trong những điều kiên hình thànhnăng lực, nhưng tư chất không qui định trước sự phát triển của các năng lực.Trên cơ sở của tư chất, có thể hình thành những năng lực khác nhau Tronghoạt động, những tiền đề bẩm sinh được phát triển nhanh chóng, những yếu tốchưa hoàn thiện sẽ tiếp tục được hoàn thiện thêm và những cơ chế bù trừ đượchình thành để bù đắp cho những khuyết nhược của cơ thể
b Mối quan hệ giữa năng lực với thiên hướng:
Thiên hướng là một khuynh hướng của cá nhân đối với một loại hoạtđộng nào đó
Thiên hướng về một loại hoạt động nào đó nà năng lực đối với hoạtđộng ấy thường ăn khớp với nhau và thúc đẩy nhau cùng phát triển Thiênhướng mãnh liệt của con người đối với một loại hoạt động nào đó có thể coi làdấu hiệu của những năng lực đang hình thành và phát triển
Trang 8c Mối quan hệ giữa năng lực với tri thức, kĩ năng, kĩ xảo:
Tri thức, kĩ năng, kĩ xảo trong một lĩnh vực nào đó là điều kiện cần thiết
để có năng lực trong lĩnh vực đó Cùng với năng lực thì tri thức, kĩ nẵng, kĩxảo thích hợp cũng rất cần thiết cho việc thực hiện có kết quả một hoạt động.Tri thức, kĩ năng, kĩ xảo không đồng nhất với năng lực, nhưng có quan hệ mậtthiết với nhau Ngược lại năng lực góp phần làm cho việc tiếp thu tri thức,hình thành kĩ năng và kĩ xảo tương ứng với lĩnh vực của năng lực đó đượcnhanh chónh và dễ dàng hơn
Như vậy, giữa năng lực và tri thức, kĩ năng, kĩ xảo có sự thống nhất biệnchứng, nhưng không đồng nhất Một người có năng lực trong một lĩnh vựcnào đấy có nghĩa là đã có tri thức, kĩ năng, kĩ xảo nhất định của lĩnh vực này.Ngược lại khi đã có tri thức, kĩ năng, kĩ xảo thuộc một lĩnh vực nào đó khônghẳn sẽ có được năng lực về lĩnh vực đó bởi năng lực chỉ được hình thành tronghoạt động cụ thể Năng lực của mỗi người dựa trên cơ sở tư chất nhưng điềuchủ yếu là năng lực hình thành, phát triển và thể hiện trong hoạt động tích cựccủa con người dưới sự tác động của rèn luyện, dạy học và giáo dục
1.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển năng lực:
Quá trình hình thành và phát triển năng lực là thành tố của quá trìnhhình thành và phát triển nhân cách, tuân theo qui luật chung của sự phát triểnnhân cách Năng lực, nhân cách không phải là cái bẩm sinh mà là được hìnhthành bộc lộ và phát triển trong quá trình con người hoạt động và giao lưu,giao tiếp Như V.I Lenin đã khẳng định: “ Cùng với dòng sữa mẹ, con ngườihấp tụ tâm lí, đạo đức của xã hội mà nó là thành viên” Nhà tâm lí học Xô Viếtnổi tiếng A.N.Lêonchiev cũng chỉ ra rằng: “ nhân cách cụ thể là nhân cách conngười sinh thành và phát triển theo con đường từ bên ngoài chuyển vào nộitâm, từ các quan hệ với thề giới tự nhiên, thế giới đồ vật, nền văn hoá xã hội
Trang 9do các thế hệ trước tạo ra,các quan hệ xã hội mà nó gắn bó” Như vậy,nănglực, nhân cách của con người được hình thành và phát triển dưới ảnh hưởngcủa nhiều yếu tố như:
- Yếu tố tự nhiên- sinh học:
Yếu tố tự nhiên- sinh học đề cập ở đây là nói đến vai trò của di truyềntrong sự hình thành và phát triển năng lực Di truyền là sự tái tạo ở trẻ emnhững thuộc tinhsinh học đã có ở cha mẹ, là sự truyền lại của cha mẹ cho concái những đặc điểm và những phẩm chất nhất định đã được ghi lại trong hệthống gen Di truyền tạo ra những điều kiện ban đầu để con người có thể hoạtđộng có kết quả trong một lĩnh vực nhât định Ví dụ như cha mẹ có năngkhiếu ca hát, hội hoạ những năng khiếu này di truyền ở con cái thì giúp chocon cái thuận lợi hơn trong hoạt động ca hát, hội hoạ
Tuy nhiên, di truyền chỉ tạo nên tiền đề vật chất cho sự hình thành vàphát triển năng lực Sự thành công trong một lĩnh vực nào đó phần lớn phụthuộc vào hoàn cảnh thực tiễn, vào lao đông, rèn luyện cũng như việc tíchluỹu kinh nghiệm của cá nhân
- Yếu tố môi trường- xã hội:
Mỗi con người đều hoạt động trong một môi trường xã hội nhất định,môi trường góp phần tạo nên động cơ, mục đích, phương tiện, hành động vàđặc biệt cho hoạt động của cá nhân với xã hội, nhờ đó cá nhân thu được nhữngkinh nghiệm xã hội loài người, biến nó thành cái của mình Sự phát triển của
cá nhân góp phần tích cực vào sự phát triển môi trường xung quanh đưa xã hộingày càng tiến lên Cũng thông qua môi trường sống, con người điều chỉnhhành vi của mình cho phù hợp với chuẩn mực của xã hội, đem lại hiệu quả caotrong các hoạt động của mình và năng lực ngày càng được phát triển
- Yếu tố giao tiếp:
Trang 10Giao tiếp là điều kiện tồn tại của cá nhân và xã hội loài người Nhu cầugiao tiếp là một trong những nhu cầu xã hội cơ bản xuất hiện sớm nhất ở conngười Các Mác đã chỉ ra rằng: “ Sự phát triển của một cá nhân được qui địnhbởi sự phát triển của tất cả các cá nhân khác và nó giao lưu một cách trực tiếpvới họ”.
Nhờ giao tiếp con người gia nhập vào các quan hệ xã hội, chuẩn mực xãhội, lĩnh hội nền văn hoá xã hội, chuẩn mữc xã hội hoàn thiện bản thân Cũngthông qua giao tiếp con người được thể hiện khả năng của mình góp phần xâydựng xã hội ngày càng hoàn thiện hơn
Trong giao tiếp con người không chỉ nhận thức người khác, nhận thứccác quan hệ xã hội mà còn nhận thức được chính bản thân mình, tự đối chiếu
so sánh mình với người khác, với chuẩn mực xã hội, tự đánh giá bản thânmình Thông qua giao tiếp khả năng tự ý thức được phát triển
- Yếu tố hoạt động của chủ thể:
Hoạt động của cá nhân có vai trò quyết định trực tiếp đến sự hình thành
và phát triển năng lực Để hình thành và phát triển năng lực trong một lĩnh vựcnào đó, cá nhân phải tham gia trực tiếp, học hỏi kinh nghiệm của loài người,lĩnh hội tiếp thu nền văn hoá xã hội một cách tích cực, say mê, kiên trì đi tớiđích thì mới đạt kết quả tốt Nhiều nhà khoa học cho rằng: “ Thiên tài, chínmươi chín phần trăm là do lao động, chỉ một phần trăm là do bẩm sinh” Nhưvậy bằng chính hoạt động của mỗi cá nhân mà cá nhân hoàn thiện năng lựccủa bản thân Nếu cá nhân không trực tiếp tham gia hoạt động học tập, laođộng, hoạt động xã hội, hoạt động nghề nghiệp thì không thể hình thành vàphát triển năng lực
Hoạt động có vai trò quyết định sự hình thành và phát triển năng lực nêntrong công tác giáo dục cần làm phong phú nội dung, hình thức, cách tổ chức
Trang 11hoạt động sao cho thực sự lôi cuốn cá nhân tham gia tích cực, tự giác vào cáchoạt động đó.
- Yếu tố giáo dục, dạy học:
Giáo dục là một hiện tượng xã hội, là quá trình tác động có mục đích, có
kế hoạch, ảnh hưởng đến con người đưa đến sự hình thành và phát triển nhâncách (trong đó có năng lực)
Giáo dục vạch ra phương hướng cho sự hình thành và phát triển nănglực Vì giáo dục là quá trình tác động có mục tiêu xác định, hình thành ởngười học những năng lực cần đạt được phù hợp với chuẩn mực của xã hội.Giáo dục góp phần tạo cho thế hệ trẻ sự phát triển nhanh, mạnh hướng vàotương lai
Sự hình thành và phát triển năng lực của học sinh phải thông qua chínhhoạt động của học sinh trong mối quan hệ với cộng đồng Bởi vậy, nhà trườnghiện đại phải là nhà trường hoạt động lấy hoạt động của học sinh là động lựcchính để đạt mục đích đào tạo Chỉ có dạy học trong nhà trường mới có khảnăng tạo ra những hoạt động đa dạng, phong phú cần thiết, tạo điều kiện đểphát triển những năng lực khác nhau ở học sinh, phù hợp với năng khiếu bẩmsinh của họ và phù hợp với yêu cầu của xã hội Tuy nhiên cũng cần phải chú ýtạo điều kiện cho mỗi cá nhân học sinh giao lưu với các thành viên khác trongnhà trường, gia đình và xã hội
Bằng những hoạt động trong nhà trường sẽ giúp học sinh sớm ý thứcđược những yêu cầu của xã hội đối với hoạt động của mỗi người trong nhữnglĩnh vực khác nhau Hơn thế còn giúp cho việc định hướng học sinh phát huyđược khả năng, năng lực của mình
Trong dạy học có khả năng định hướng thúc đẩy phát triển năng lực củahọc sinh nhưng cần khắc phục tình trạng gò ép học sinh theo khuôn mẫu cứng
Trang 12nhắc vì như vậy sẽ làm hạn chế sự phát triển đa dạng ở học sinh Cần tổ chứccho học sinh hoạt động tích cực, tự lực để chiếm lĩnh tri thức, hình thành vàphát triển năng lực.
1.2 Năng lực kĩ thuậ (NLKT):
1.2.1 Khái niệm:
Năng lực kĩ thuật là tổ hợp những yếu tố tâm sinh lí cá nhân đáp ứngnhững đòi hỏi của một hoạt động kĩ thuật nào đó
Như vậy, NLKT thuộc năng lực chuyên môn, có phạm vi rộng, do đó nó
có thể bao gồm nhiều năng lực chuyên biệt (phạm vi hẹp)
1.2.2 Cấu trúc của năng lực kĩ thuật:
NLKT là sự thể hiện tương xứng giữa một bên là tổ hợp những thuộctính tâm- sinh lí cá nhân con người và một bên là những yêu cầu của một dạnghoạt động kĩ thuật cụ thể nào đó đặt ra cho con người trong lao động, sản xuất.Nhờ có những thuộc tính nhất định con người đạt được những kết quả tốt đẹptrong hoạt động kĩ thuật Như vậy, NLKT phải được thể hiện trong kết quảcủa hoạt động kĩ thuật, công nghệ Khi mục đích của hoạt động kĩ thuật, côngnghệ nào đó được đặt ra và người học đi tới mục đích đó bằng chính hoạtđộng của mình thì người đó được coi là có năng lực kĩ thuật
Cấu trúc của NLKT gồm 3 khâu thành phần nằm trong mối quan hệtương hỗ Đó là các khâu: khâu nhận thức kĩ thuật, khâu thiết kế kĩ thuật, khâuvận dụng kĩ thuật Mối quan hệ tương hỗ giữa các khâu được thể hiện qua sơ
đồ sau:
Nhận thức kĩ thuật
Thiết kế kĩ thuật Vận dụng kĩ thuât
Trang 13Những khâu trên của NLKT không nằm tách biệt mà đó là những quátrình xen kẽ lẫn nhau Trong thiết kế có nhận thức, trong vận dụng lại có sựthiết kế hoặc có sự nhận thức Để thiết kế kĩ thuật thì cần phải có những hiểubiết, phải có kiến thức về kĩ thuật, phải có sự nhận thức Cũng chính từ sựnhận thức kĩ thuật thì mới tiến hành vận dụng và sự vận dụng đó chính là vậndụng những thiết kế kĩ thuật.
1.2.3 Đặc điểm của năng lực kĩ thuật:
NLKT thuộc phạm trù của năng lực nói chung, do đó NLKT cũng mangnhững đặc điểm chung của năng lực Đó là: Nó có sự kết hợp nhiều đặc điểmtâm lí với đặc điểm sinh lí; có sự tụ hội nhiều yếu tố kiến thức, kĩ năng, kĩ xảokinh nghiệm và sẵn sàng hoạt động; có sự ảnh hưởng của yếu tố bẩm sinhnhưng chỉ được hình thành thông qua hoạt động rèn luyện của chủ thể Bêncạnh đó NLKT còn có những đặc điểm riêng:
1.2.3.1 Năng lực kĩ thuật dùng yếu tố tư duy kĩ thuật là yếu tố hạt nhân chủ đạo trong mọi khâu thành phần:
Tư duy kĩ thuật (TDKT) có vai trò quan trọng trong việc hình thành vàphát triển NLKT Để hoàn thành tốt một hoạt động kĩ thuật thì con người cầnđọc được và hiểu được những bản vẽ, sơ đồ, mô hình kĩ thuật Tuy nhiên đểlàm những việc đó, con người phải có TDKT đó là tư duy khái niệm, tư duyhình ảnh, tư duy thao tác Cá nhân phải có TDKT thì mới đảm bảo có NLKTthực sự
Bên cạnh TDKT thì trí tưởng tượng kĩ thuật cũng giữ vai trò chủ đạo.Trí tưởng tượng (gồm thành phần khái niệm và hình ảnh) có ý nghĩa lớn laotrong việc đọc các bản vẽ kĩ thuật,các sơ đồ nguyên lí hoạt động của các cơcấu, hệ thống, máy móc
Trang 141.2.3.2 Năng lực kĩ thuật dùng óc quan sát và trí nhớ trực quan là yếu tố điểm tựa ở trong mọi hoạt động ở các khâu thành phần.
Óc quan sát tức là phải biết tập trung chú ý và có khẳ năng nhận thức rõràng các sự kiện và ý nghĩa của chúng Óc quan sát tốt dẫn đến hình thànhnăng lực quan sát, khả năng xem xét nhìn nhận vấn đề, hiện tượng tốt hơn.Trước một sự vật, hiện tượng nếu tập trung chú ý thì có thể tìm tòi ra nhữngphát hiện mới, đồng thời có ý thức tìm hiểu những kiến thức liên quan đếnhiện tượng và ý nghĩa của nó
Trí nhớ trực quan đóng vai trò điểm tựa của NLKT Trong tâm lí học, trínhớ được biểu hiện là sự ghi lại, giữ lại và làm xuất hiện lại những gì cá nhânthu được trong hoạt động sống của mình
Theo các nhà nghiên cứu, sự tiếp thu tri thức đạt được thọng qua tri giác là:Qua nếm (vị giác): 1%
Qua sờ (xúc giác): 1,5%
Qua ngửi (khướu giác): 3,5%
Qua nghe (thính giác): 11%
Trang 15Qua đó, càng nhận thấy nếu để trực tiếp cá nhân thực hiện các hoạt độngthì khả năng hiểu và thu nhận kiến thức nhiều và năng lực về hoạt động ấyđược hình thành và phát triển.
Như vậy, óc quan sát và trí nhớ trực quan là yếu tố điểm tựa của NLKT,quan trọng đối với các hoạt động kĩ thuật bởi khi học kĩ thuật học sinh thườngđược làm quen với nhiều hình vẽ, bản vẽ, sơ đồ, mô hình, vật thật Và vớikiến thức vừa mang tính cụ thể vừa mang tính trừu tượng học sinh cần có ócquan sát tốt và trí nhớ trục quan tốt góp phần hình thành và phát triển NLKT
1.2.3.3 Năng lực kĩ thuật dung yếu tố khéo tay kĩ thuật và hứng thú
kĩ thuật là yếu tố bổ trợ:
Hứng thú có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống và trong hoạt độngcủa con người Có hứng thú trong một công việc nào đó làm cho con người trởnên say mê tích cực trong hoạt động và kết quả là công việc đạt hiệu quả cao.Nếu như một người được giao một công việc mà người đó không hứng thúkhông say mê thì chắc chắn hiệu quả sẽ không cao, chất lượng công việckhông tốt Chính vì vậy để hình thành NLKT thì hứng thú kĩ thuật cũng có tácđộng rất nhiều Trong một hoạt động kĩ thuật, nếu cá nhân có ham muốn, say
mê, thích thú học tập thì chắc chắn rằng NLKT được hình thành
Tuy nhiên bên cạnh sự hứng thú kĩ thuật, trong các hoạt động kĩ thuậtthì sự khéo tay của người lao động cũng rất quan trọng Nhờ sự khéo léo thìchất lượng sản phẩm cũng tốt hơn Ví dụ như: Hai người cùng cùng được giaogia công một cái đục băng phương pháp nguội Giả thiết rằng cả hai đều có tưduy tưởng tượng tốt và đều hứng thú với công việc Nhưng khi làm xong sảnphẩm sẽ có xự khác biệt, một cái sẽ có độ chính xác cao, nhẵn bóng hơn, tiến
đọ hoàn thành sản phẩm nhanh hơn Nguyên nhân có sự khác biệt đó là do sựkhéo tay của người làm kĩ thuật
Trang 16Như vậy, hứng thú và sự khéo tay của người lao động có tác động bổ trợcho sự hình thành và phát triển NLKT Trong qua trình dạy học cần tạo sự say
mê, hứng thú tích cực của học sinh đối với hoạt động kĩ thuật và rèn luyện chohọc sinh tính cẩn thận, chính xác trong khi thiết kế, chế tạo sản phẩm kĩ thuật
1.2.4 Cơ chế hình thành năng lực kĩ thuật:
Nhờ có những thuộc tính nhất định, con người đạt được những kết quảtốt đẹp trong hoạt động kĩ thuật, trong lao động sản xuất Điều đó có nghĩa lànăng lực kĩ thuật được thể hiện trong kết quả của hoạt động Con người khiđứng trước một hoạt động kĩ thuật, xác định được mục đích của hoạt động và
đi tới mục đích đó bằng chính hoạt động của mình thì người đó được coi là cónăng lực kĩ thuật Muốn hình thành năng lực kĩ thuật cá nhân phải thể hiện rõ
ba yếu tố trong cấu trúc của năng lực kĩ thuật Ba yếu tố đó là: năng lực nhậnthức kĩ thuật, năng lực thiết kế kĩ thuật, năng lực vận dụng kĩ thuật Ba yếu tốnày nằm trong mối quan hệ tương hỗ, có mối quan hệ mật thiết với nhau Khiđứng trước một hoạt động kĩ thuật, cá nhân cần phải có sự hiểu biết về hoạtđộng đó, đó chính là năng lực nhận thức kĩ thuật Có hiểu biết về kiến thức kĩthuật cá nhân mới có cơ sở để vận dụng vào thực tiễn và cao hơn nữa là tiếnhành thiết kế kĩ thuật Cá nhân có khả năng đạt được mục đích của hoạt động
kĩ thuật bằng sự nỗ lực rèn luyện của chính bản thân mình điều đó đồng nghĩavới việc cá nhân đã có năng lực kĩ thuật Khi đã đạt được kết quả của hoạtđộng thì cũng là lúc ở cá nhân đó đã có được ba yếu tố: nhận thức kĩ thuật,thiết kế kĩ thuật, vận dụng kĩ thuật
1.2.5 Một số biện pháp hình thành và phát triển năng lực kĩ thuật:
Để hình thành và phát triển NLKT cho học sinh, trong dạy học môncông nghệ cần đảm bảo những yêu cầu như:
Trang 17- Thực hiện tốt các biện pháp phát triển tư duy kĩ thuật kết hợp với đadạng nội dung bài toán kĩ thuật vận dụng thiết kế.
- Thường xuyên cập nhật thông tin kĩ thuật để bổ sung cho nội dung bàidạy cho sinh động hấp dẫn vì nó có tính thời đại, đồng thời hướng dẫn họcsinh biết cách khai thác thong tin mở rộng kiến thức thông qua các địa chỉ trênmạng, báo chí
- Tổ chức đa dạng các hoạt động nhận thức và vận dụng tri thức, cáchình thức tổ chức dạy học tập thể, cá nhân hay theo nhóm học sinh trong cácbài dạy học lí thuyết và dạy học thực hành, các buổi học chuyên đề tự chọnmôn kĩ thuât Đồng thời tổ chức các hoạt động ngoại khoá kĩ thuật, các dịp thihọc sinh giỏi kĩ thuật và các nội dung thi khéo tay kĩ thuật để tạo điều kiện chohọc sinh mở rộng kiến thức, bộc lộ năng khiếu có cơ hội sang tạo kĩ thuật vàtrình bày kết quả
- Bồi dưỡng các phương pháp nghiên cứu kĩ thuật công nghệ trong quátrình hướng dẫn học sinh nhận thức kĩ thuật để học sinh có khả năng đượcđóng vai trò của nhà nghiên cứu công nghệ Có như vậy học sinh sẽ có hứngthú học tập hơn
- Tiến hành công việc kiểm tra đánh giá kết quả học kĩ thuật thông quaviệc kiểm tra phải toàn diện với các nội dung kiểm tra phải có tính thiết thực,hình thức phong phú đồng thời dạy cho học sinh biết cách tự kiểm tra để đánhgiá kết quả đã thực hiện của mình
1.2.6 Cách kiểm tra đánh giá năng lực kĩ thuật:
Khi tiến hành một hoạt động kĩ thuật, bằng hoạt động của chính mình cánhân đạt được kết quả nhất định Như vậy ở cá nhân đó đã hình thành năng lựcnhất định Trong dạy học, để biết năng lực kĩ thuật đã được hình thành ở mức
độ nào đối với học sinh thì người giáo viên phải tiến hành kiểm tra đánh giá
Trang 18Kiểm tra đánh giá nhằm mục đích:
- Xác định mức độ đạt được và chưa đạt được về các mục tiêu dạy học,tình trạng kiến thức, kĩ năng, thái độ của học sinh đối với yêu cầu của môn học
- Khẳng định năng lực và kết quả học tập của mỗi học sinh và của tập thểlớp, tạo cho học sinh phát triển kĩ năng tự đánh giá, giúp học sinh nhận thức rõnhững điểm mạnh và điểm yếu của mình để tiếp tục phấn đấu và khắc phục
- Thông qua kiểm tra đánh giá, giáo viên căn cứ vào kết quả thực tế đểnhận ra những điểm mạnh, điểm yếu của mình tự điều chỉnh, hoàn thiện hoạtđộng dạy, phấn đấu nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học
Những phương pháp kiểm tra thường sử dụng trong dạy học là:
- Kiểm tra bằng quan sát: bao gồm quan sát thường xuyên và quan sát
sự trình diễn của học sinh
- Kiểm tra viết: bao gồm:
Trắc nghiệm tự luận: gồm có bài viết, tiểu luận, luận văn
Trắc nghiệm khách quan: bao gồm các dạng câu hỏi như: nhiều lựachọn, đúng- sai, ghép đôi, điền khuyết
- Kiểm tra vấn đáp: Gồm vấn đáp thuần túy, vấn đáp kết hợp
Để đánh giá năng lực kĩ thuật của học sinh, có thể sử dụng các cách nhưsau:
1 Sử dụng phối hợp các phương pháp kiểm tra đánh giá khác nhau như:vấn đáp, trắc nghiệm tự luận, trắc nghiệm khách quan, thực hiện thao tác thựchành kĩ thuật (thiết kế, chế tạo, vận dụng, bảo dưỡng )
2 Sử dụng các câu hỏi, các bài toán có yêu cầu tổng hợp, khái quát hóa,vận dụng lí thuyết đã học vào thực tiễn
3 Trong các giờ học thực hành chú ý quan sát sự nhanh nhẹn, sự linhhoạt tháo vát trong hoạt động thực hành của học sinh
Trang 19Năng lực kĩ thuật không thể hình thành trong thời gian ngắn mà phảithông qua cả quá trình phấn đấu rèn luyện của học sinh Do vậy, để đánh giáchính xác mức độ của năng lực kĩ thuật ở học sinh, giáo viên có thể tiến hànhtheo nhiều cách khác nhau như:
- Quan sát người học: Bao gồm quan sát trực tiếp hoặc thông qua cácthiết bị như camera, máy ghi âm
- Hỏi đáp trực tiếp về các vấn đề liên quan đến nội dung cần đánh giá
- Trao đổi trò chuyện với học sinh về những kiến thức có liên quan đếnlĩnh vực kĩ thuật
- Nghe học sinh trình bày, thảo luận với người khác về vấn đề liên quanđến nội dung hoặc năng lực cần đánh giá
- Quan sát thao tác thực hành, sự linh hoạt của học sinh thông qua cácbài thực hành
- Đánh giá những bài tập mà học sinh vừa hoàn thành
Để đánh giá chính xác năng lực của học sinh và đảm bảo khách quan,giáo viên cần nắm rõ cách thức đánh giá đồng thời cũng cho học sinh biết rõnững căn cứ, cách thức đánh giá đó để học sinh đồng tình với kết quả kiểm trađánh giá
1.3 Tư duy kĩ thuật (TDKT):
1.3.1 Khái niệm:
Thế giới xung quanh tồn tại nhiều cái mà con người chưa biết Nhiệm
vụ của cuộc sống và hoạt động thực tiễn luôn đòi hỏi con người phải tìm hiểunhững cái chưa biết, và hiểu về những cái chưa biết đó ngày càng sâu sắc,đúng đắnvà chính xác hơn Cụ thể là phải tìm ra được cái bản chất và nhữngqui luật tác động của chúng Quá trình nhận thức đó được gọi là tư duy Vậy
tư duy là một quá trình tâm lí phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối
Trang 20liên hệ và quan hệ bên trong có tình qui luật của sự vvật hiện tượng trong hiệnthực khách quan, mà trước đó ta chưa biết.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về TDKT nhưng cho đến nay chưa điđến một định nghĩa thống nhất Một cách tổng quát có thể hiểu: TDKT là sựphản ánh khái quát các nguyên lí kĩ thuật, các quá trình kĩ thuật, các thiết bị kĩthuật dưới dạng các mô hình kết cấu kĩ thuật nhằm giải quyết những nhiệm vụđặt ra trong thực tế sản xuất Do đó TDKT là loại tư duy xuất hiện trong lĩnhvực lao động kĩ thuật nhằm giải quyết những bài toán (nhiệm vụ) có tính chất
kĩ thuật trong sản xuất
1.3.2 Cấu trúc của tư duy kĩ thuật:
TDKT được cấu trúc bởi ba thành phần: thành phần khái niệm kĩ thuật,thành phần hình ảnh kĩ thuật, thành phần thao tác kĩ thuật ba thành phần này
có mối quan hệ tương hỗ, có thể biểu hiện qua sơ đồ sau:
Khái niệm (lí thuyết)
- Thành phần thao tác kĩ thuật của tư duy có được phải thông qua thựchành kĩ thuật, thông qua việc thực hiên thực hành các qui trình công nghệ,thực hành tháo lắp, lắp ráp kiểm tra, bảo dưỡng
Trang 21Trong quá trình tư duy để giải quyết vấn đề đó là nhiệm vụ học tập nếunhư chỉ dựa vào từng thành phần của tư duy kĩ thuật ta có các loại tư duy như:
- TDKT để việc giải quyết vấn đề dựa trên các khái niệm kĩ thuật, cácmối quan hệ logic và gắn bó với ngôn ngữ còn được gọi là tư duy trừu tượng
- TDKT để việc giải quyết vấn đề dựa trên hình ảnh trực quan (kể cảbiểu tượng) của đối tượng kĩ thuật còn được gọi là tư duy trực quan
- TDKT để giẩi quyết vấn đề bằng thao tác vật chất hướng vào việc giảiquyết các tình huống cụ thể, còn được gọi là tư duy thao tác
1.3.3 Đặc điểm của tư duy kĩ thuật:
TDKT là thành phần của tư duy nói chung, do vậy TDKT cung mangnhững đặc điểm của tư duy nói chung đó là:
- TDKT cũng dung ngôn ngữ làm phương tiện: Nếu không có ngôn ngữthì bản thân quá trình tư duy không diễn ra được đồng thời sản phẩm của tưduy không được tiếp nhận
- TDKT phản ánh khái quát gián tiếp, có quan hệ mật thiết với nhậnthức cảm tính: Tư duy phát hiện bản chất sự vật, hiện tượng và qui luật giữachúng nhờ sử dụng công cụ, phương tiện và các kết quả nhận thức của loàingười và kinh nghiệm của cá nhân tu được Tính gián tiếp của tư duy còn thểhiẹn ở chõ nó được biểu hiện bằng ngôn ngữ.Tư duy dựa vào nhận thức cảmtính, trên kinh nghiệm, trên cơ sở trực quan sinh động Nhận thức cảm tính làmột khâu của mối liên hệ trực tiếp giữa tư duy và hiện thực, là cơ sở củanhững khái quát kinh nghiệm dưới dạng các khái niệm qui luật Ngược lại tưduy và sản phẩm của nó cũng ảnh hưởng đến quá trình nhận thức cảm tính F.Ănghen dã nói: “ Nhập vào với con mắt của chúng ta chẳng những có các cảmgiác khác, mà còn có cả hoạt động tư duy của ta nữa”
Trang 22- TDKT còn mang tính trừu tượng: Tư duy phản ánh cái bản chất, chungcho nhiều sự vật hợp thành một nhóm, một loại, một phạm trù đồng thời trừuxuất khỏi những sự vật đó những cái cụ thể, cá biệt.
Ngoài những đặc điểm chung của tư duy thì TDKT còn có 4 đặc điểmriêng thể hiện rõ mối quan hệ giữa các thành phần trong cấu trúc của nó:
Thứ nhất, TDKT có tính chất lí thuyết- thực hành: Nó biểu hiện ở sựthống nhất chặt chẽ giữa thành phần lí thuyết và thành phần thực hành củahoạt động trong sự tác động qua lại và kết hợp không ngừng giữa các hànhđộng trí óc (thao tác) với các hoạt động chân tay bên ngoài (động tác)
Thứ hai, TDKT có mối liên hệ chặt chẽ giữa các thành phần khái hình tượng (hình ảnh) của hoạt động, có nghĩa thành phần hình ảnh và kháiniệm là những thành phần cần thiết và có giá trị ngang nhau trong TDKT Vìthế người ta gọi TDKT chính là tư duy không gian
niệm-Thứ ba, TDKT có tính chất thiết thực, linh hoạt cao Thể hiện ở hai mặt:
- Quá trình tư duy để giải quyết một bài toán kĩ thuật hay một bài toáncông nghệ cần phải được hoàn thành trong khoản một thời gian hạn chế
- Tính linh hoạt của TDKT không chỉ thể hiẹn ở sự sẵn sàng đáp ứngvới thời điểm cần thiết mà còn thể hiện ở kĩ năng của con người biết vận dụnghợp lí và có hiệu quả các tri thức đã có vào những điều kiện khác nhau
Thứ tư, TDKT mang tính nghề nghiệp Nghĩa là những người làm công tác
kĩ thuật trong một nghề nào đó thường rất nhạy bén với những vấn đề của nghề đó
Sự nhạy cảm nghề nghiệp này cho phép tiếp cận với những khái niệm kĩ thuật hayđối tượng kĩ thuật mới nhanh hơn so với những người không làm nghề đó
1.3.4 Mối quan hệ giữa tư duy kĩ thuật và năng lực kĩ thuật:
TDKT và NLKT có mối qun hệ mật thiết với nhau TDKT tạo tiền đềcho việc phát triển khả năng sang tạo kĩ thuật, yếu tố hạt nhân của NLKT
Trang 23TDKT với những đặc điểm của nó, bằng sự nhận thức về các hoạt động
kĩ thuật, giúp cho cá nhân có năng lực về hoạt động đó TDKT có tính trừutượng khái quát, nó không chỉ giải quyết nhiệm vụ nhận thức hiện tại về cáchoạt động kĩ thuật mà còn tạo tiền đề cho sang tạo kĩ thuật Với sự nhận thứcsâu sắc về đối tượng kĩ thuật thì cá nhân có thể tìm tòi phát hiện ra những cáimới đối với đối tượng, chẳng hạn như tìm ra cách thể hiện mới, tìm ra phương
án chế tạo mới
TDKT còn là yếu tố hạt nhân của NLKT Để hoàn thành tôt một hoạtđộng kĩ thuật thì con người phải hiểu được những bản vẽ, sơ đồ, mô hình kĩthuật Để làm những việc này con người phải có TDKT đó là tư duy kháiniệm, tư duy hình ảnh, tư duy thao tác Cá nhân phải có TDKT thì mới đảmbảo có NLKT Khi đã có NLKT thì chắc chắn con người đã có TDKT
2 Cơ sở thực tiễn:
2.1 Thực trạng việc dạy và học môn Công nghệ:
2.1.1 Thực trạng việc dạy môn Công nghệ:
Do sự phân hóa trong việc thi cử (thi tốt nghiệp và thi đại học) dù mônCông nghệ là môn học có nội dung thiết thực sinh động và gắn liền với thựctiễn lao động và sản xuất nhưng trong tư tưởng làm việc của giáo viên nó vẫnđược coi là môn phụ, điều này cũng tồn tại ngay trong tư tưởng, suy nghĩ củacác cấp lãnh đạo Sự quan tâm đến môn học, đầu tư phương tiện, trang thiết bị,
cơ sở vật chất phục vụ cho môn học còn nhiều hạn chế Điều này khiến chogiáo viên môn Công nghệ ít nhiều có những mặc cảm nghề nghiệp làm giảm
đi sự tâm huyết, lòng nhiệt tình trong giảng dạy
Môn Công nghệ là môn gắn liền với thực tiễn lao động, sản xuất Sựphát triển cúa khoa học kĩ thuật ngày càng phong phú hiện đại đáp ứng nhucầu ngày càng cao của con người Chính vì vậy việc dạy học đòi hỏi người
Trang 24giáo viên cần thường xuyên cập nhật thông tin, gắn bài dạy vào thực tiễn đểthu hút học sinh Muốn vậy giáo viên cần phải nâng cao năng lực chuyên môn
và dặc biệt phải đổi mới phương pháp giảng dạy Điều này giao viên mônCông nghệ phần lớn chưa thực hiện được
Thực tế trong thời gian đầu do số lượng giáo viên môn Công nghệ đượcđào tạo đúng chuyên ngành còn thiếu, nên ở một số trường khó tuyển đượcgiáo viên môn Công nghệ Vì thế, một số nhà trường đã sử dụng các giáo viên
ở môn khác dạy kiêm nhiệm môn Công nghệ Do không được đào tạo và rènluyện theo khuôn mẫu nghề nghiệp nên kiến thức chuyên môn về môn Côngnghệ, kĩ thuật công nghiệp của những giáo viên kiêm nhiệm rất non yếu hoặcsai lệch mặc dù các giáo viên này có tự nghiên cứu nhưng cũng chưa đủ vững.Điều này làm mất tính chính xác, đặc tính kĩ thuật khó đạt được làm giảm đi
sự thu hút hứng thú của học sinh đối với môn học
Ngoài những khó khăn về đội ngũ giáo viên, về sự quan tâm đến vị trímôn học ở trường phổ thông Phần lớn giáo viên môn Công nghệ còn chưatâm huyết với nghề nghiệp Việc chuẩn bị bài lên lớp và việc tiến hành dạyhọc đôi khi chỉ mang tính hình thức Việc đổi mới phương pháp dạy học củagiáo viên cũng việc sử dụng các phương tiện hiện đại hầu như còn hạn chế.Đối với dạy học các bài thực hành công nghệ, mặc dù đã được nhà nước quantâm về trang thiết bị phục vụ thực hành, nhưng do chưa đảm bảo đủ số lượng
và chất lượng để mỗi học sinh được thực hành Vì vậy mà mục tiêu và nộidung các giờ dạy học thực hành công nghệ cũng chưa được tiến hành đầy đủ,nếu có được thực hành thì cũng chủ yếu là quan sát giáo viên thực hiện hoặctìm hiểu trong sách giáo khoa Do đó năng lực và kĩ năng thực hành của họcsinh chưa được phát huy Trong các giờ học lí thuyết việc giáo viên hướng dẫnhọc sinh tìm hiểu kiến thức vẫn mang tính chất thuyết trình, giới thiệu, các
Trang 25phương pháp dạy học tích cực vẫn chưa được áp dụng Do vậy học sinh tiếpthu kiến thức một cách thụ động Vì học sinh chưa có hứng thú học tập thực
sự và như vậy giáo viên đã không phát huy được NLKT của học sinh
2.1.2 Thực trạng việc học môn Công nghệ:
Môn Công nghệ là môn học trong chương trình chính khóa trong trườngtrung học phổ thông, và là môn học gắn liền với thực tiễn lao động và sảnxuất những kiến thức của bộ môn gắn liền với thực tiễn nên đã thu hút sựquan tâm chú ý của học sinh Tuy nhiên vì đây là môn học không thi tốtnghiệp, không thi đại học do đó học sinh cũng chỉ hứng thú trong các giờ họctrên lớp Ngoài các tiết học chính của môn Công nghệ thì thời gian đầu tư tìmhiểu thêm kiến thức kĩ thuật công nghệ trong thực tế thông qua hoạt độngtham quan, ngoại khóa kĩ thuật ngoài giờ lên lớp cũng còn ít
Trong các giờ học chính, do thực trạng đội ngũ giáo viên đã làm cho lớphọc không tập trung được sự chú ý của học sinh Trong giờ học vẫn còn tìnhtrạng một số em học sinh làm việc riêng, học bài các môn học khác Điều nàylàm ảnh hưởng đến chất lượng dạy học môn Công nghệ
Do thực tế việc học môn Công nghệ, học sinh chỉ tập trung được ở cácgiờ học chính khóa nên cần hình thành và phát triển NLKT ngay trong giờ họctrên lớp
2.2 Vấn đề hình thành và phát triển năng lực kĩ thuật trong dạy học Công nghệ hiện nay:
Cách mạng khoa học kĩ thuật ngày càng phát triển, yêu cầu con người cầnphải có năng lực thực sự để phục vụ lao động và sản xuất Quá trình học tập ởtrung học phổ thông rèn luyện trong nhà trường đã và đang hình thành ở họcsinh những năng lực nhất định Kiến thức môn Công nghệ gắn liền với thựctiễn, học sinh có NLKT sẽ dễ dàng thích ứng hơn với các hoạt động kĩ thuật
Trang 26trong thực tiễn Qua thực tế việc dạy và học môn Công nghệ thì vấn đề hìnhthành và phát triển năng lực kĩ thuật cho học sinh có một số điểm như sau:
- Học sinh nắm được các kiến thức kĩ thuật còn mơ hồ, còn gặp nhiềukhó khăn khi giải các bài toán kĩ thuật Tư duy không gian của học sinh cònyếu thể hiện ở khả năng đọc bản vẽ, đọc sơ đồ nguyên lí của các cơ cấu hệthống còn yếu
- Các giờ thực hành còn mang tính chất quan sát, học sinh chưa đượcthực hành nhiều, chưa được luyện tập do đó tư duy thao tác kĩ thuật cũng chưathành thạo Khi bước vào thực hành học sinh còn lúng túng, thao tác chưachuẩn xác do vậy cũng chưa phát huy được tính sáng tạo
- Trong dạy học vẽ kĩ thuật, nếu học sinh có khả năng tưởng tượng thìnội dung kiến thức kĩ thuật được tiến hành tiếp thu rất thuận lợi Ở lứa tuổihọc sinh trung học phổ thông, khả năng tưởng tượng kĩ thuật của học sinh cóchiều hướng phát triển tốt Tuy nhiên sự tưởng tượng đó cũng chưa thể hiện rõtrong môn học Do năng lực đọc và phân tích các bản vẽ kĩ thuật còn yếu nênkhả năng tưởng tượng chính xác về vật thể đã được thể hiện, biểu diễn trênbản vẽ còn chưa linh hoạt, có nhiều em còn tưởng tượng chưa chính xác
- Hứng thú kĩ thuật của học sinh chưa thực sự được hình thành trong cácgiờ học kĩ thuật Có nhiều học sinh có hứng thú nhưng cũng chỉ trong mộtphạm vi nhất định Hiện nay các cuộc thi khéo tay kĩ thuật đã được tổ chứcthường xuyên hơn do đó cũng đã thu hút được sự quan tâm của học sinh vàcũng từ đó sự khéo tay, sáng tạo của học sinh được thể hiện
Khi còn ngồi trên ghế nhà trường, thông qua quá trình học tập và rènluyện, học sinh đã hình thành những năng lực nhất định Để lựa chọn đượcnghề nghiệp phù hợp trong tương lai, học sinh phải biết được những năng lựccủa bản thân Năng lực kĩ thuật của học sinh được hình thành chủ yếu thông
Trang 27qua các hoạt động khi học môn Công nghệ trong nhà trường Có năng lực kĩthuật, học sinh sẽ định hướng được và hiểu hơn về các lĩnh vực kĩ thuật Nhưvậy, hình thành và phát triển năng lực kĩ thuật góp phần định hướng nghềnghiệp trong lĩnh vực kĩ thuật Vì vậy trong dạy hoc Công nghệ phải chú trọnghình thành và phát triển năng lực kĩ thuật cho học sinh.
Trang 28Chương II
ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP VÀ VẬN DỤNG ĐỂ HÌNH
THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC KĨ THUẬT
TRONG DẠY HỌC CÔNG NGHỆ 11
2.1 Nội dung và đặc điểm chương trình Công nghệ 11:
2.1.1 Nội dung, phân phối chương trình Công nghệ 11:
2.1.1.1 Cấu trúc nội dung:
Nội dung chương trình môn Công nghệ 11 có thể được mô tảtheo sơ đồ sau:
Công nghệ cắt gọt kim loại
và tự động hóa trong chế tạo cơ khí
Đại cương
về động
cơ đốt trong
Cấu tạo động
cơ đốt trong
Ứng dụng động
cơ đốt trong
Trang 29Phần 2: Chế tạo cơ khí
Bao gồm các chương:
Chương 3: Vật liệu cơ khí và công nghệ chế tạo phôi
Chương 4: Công nghệ cắt gọt kim loại và tự động hía trong chếtạo cơ khí
Phần 3: Động cơ đốt trong
Bao gồm các chương:
Chương 5: Đại cương về động cơ đốt trong
Chương 6: Cấu tạo của động cơ đốt trong
Chương 7: Ứng dụng động cơ đốt trong
Trong chương trình ở cuối chương 2 và chương 7 có hai bài hướng dẫnhọc sinh ôn tập toàn bộ kiến thức trong học kì 1 và học kì 2
2.1.1.2 Phân phối chương trình Công nghệ 11:
Theo phân phối chương trình môn Công nghệ của Bộ Giáo dục và đàotạo, áp dụng từ năm học 2007- 2008, môn Công nghệ 11 được qui định dạytrong kế hoạch chính khóa ở tất cả các trường trung học phỏ thông trong cảnước Phân phối chương trình môn Công nghệ 11 như sau: Tổng số tiế củamôn là 52 tiết được dạy trong hai học kì
- Học kì 1: học 18 tiết từ bài 1 đến bài 14 trong đó có 9 tiết lí thuyết, 6tiết thực hành, 1 tiết kiểm tra, 1 tiết ôn tập và 1 tiết kiểm tra học kì Mỗi tuầnhọc 1 tiết
- Học kì 2: Học 34 tiết từ bài 15 dến bài 39 Mỗi tuần học 2 tiết
Trong chương trình Công nghệ 11 các bài học 2 tiết bao gồm:
Bài 6: Thực hành biểu diễn vật thể; Bài 10: Thực hành lập bản vẽ chitiết của sản phẩm cơ khí đơn giản; Bài 16: Công nghệ chế tạo phôi; Bài 17:Công nghệ cắt gọt kim loại; Bài 21: Nguyên lí làm việc của động cơ đốt trong;Bài 31: Thực hành tìm hiểu cấu tạo động cơ đốt trong; Bài 38: Thực hành vận
Trang 30Bài 33: Động cơ đốt trong dùng cho ô tô học trong 3 tiết Còn các bàicòn lại mỗi bài học trong 1 tiết.
Trên thực tế, tùy thuộc điều kiện của mỗi vùng, tùy từng sở giáo dục màphân bố các tiết dạy cho hợp lí
2.1.2 Đặc điểm môn Công nghệ 11:
2.1.1.1 Đặc điểm của đối tượng môn Công nghệ 11:
* Tính đa chức năng, đa phương án:
Mỗi sản phẩm kĩ thuật có thể thực hiện nhiều chức năng khác nhau,được chế tạo bằng nhiều phương án khác nhau Ví dụ như: Động cơ đốt trong
có thể dùng làm nguồn động lực trên ô tô, xe máy, tàu thủy, máy nôngnghiệp… Các chi tiết có thể chế tạo theo nhiều phương án khác nhau ví dụnhư: Thân xilanh có thể chế tạo liền khối hay làm rời
Nhờ đặc điểm đó trong dạy học giáo viên cần chỉ rõ cho học sinh thấy:
- Phạm vi và khả năng ứng dụng của đối tượng kĩ thuật
- Trong nhiều phương án thực hiện, nhiều giải pháp công nghệ lựa chọnphương án nào sao cho hợp lí, tối ưu
*Tính tiêu chuẩn hóa:
Tính tiêu chẩn hóa được thể hiện ở chỗ trong điều kiện sản xuất, sửdụng hiện nay với đặc điểm phân công lao động và hợp tác trong sản xuất,thương mại khiến các cơ sở thiết kế sản xuất vận hành bảo dưỡng và sửa chữaphải tuân theo tiêu chuẩn kĩ thuật chung đã được thống nhất
Tính tiêu chuẩn hóa trong môn Công nghệ 11 được thể hiện ở tiêu chuẩn
về bản vẽ kĩ thuật Những thông số định mức của máy móc thiết bị kĩ thuật.Những qui trình công nghệ trong sản xuất, sử dụng và bảo dưỡng sản phẩm
Trong dạy học, giáo viên giáo dục học sinh để các em thấy rõ và coitrọng ý nghĩa thực tiễn của tiêu chuẩn Đồng thời hướng dẫn học sinh biếtcách nhận biết, tra cứu và tuân thủ khi thiết kế, sử dụng trong kiểm tra vậnhành, sửa chữa nhỏ
Trang 31Trong dạy học, hướng dẫn học sinh nghiên cứu cấu tạo của dụng cụ,máy móc thiết bị cần lưu ý học sinh quan tâm hiệu quả kinh tế của đối tượngqua việc:
- Tìm hiểu hợp lí về cấu tạo, vật liệu, công suất
- Về phương án lựa chọn thiết bị, phương án gia công
- Nên mở rộng để học sinh thấy hoặc hướng dẫn học sinh biết cách tìmhiểu thêm xu hướng sẽ cải tiến áp dụng
2.1.2.2 Đặc điểm của nội dung môn Công nghệ 11:
* Tính cụ thể trừu tượng:
Tính cụ thể của nội dung môn học thể hiện ở chỗ những kiến thứcnghiên cứu, phản ánh về cấu tạo của đối tượng kĩ thuật, các qui trình côngnghệ Những nội dung này học sinh có thể trực tiếp tri giác được ngay trên đốitượng hoặc thong qua phương tiện trực quan
Trang 32Tính trừu tượng biểu hiện ở những khái niệm kĩ thuật, những nguyên lí
kĩ thuật, những diễn biến xảy ra bên trong quá trình tiến hành qui trình côngnghệ, bên trong đối tượng kĩ thuật đó là vấn đề mà học sinh không thể tri giáctrực tiếp do vậy để tiếp thu tri thức thì học sinh phải tư duy
Ví dụ: Trong vẽ kĩ thuật, hình vẽ thì học sinh nhìn thấy nhưng cơ sở sửdụng hình chiếu để có được hình vẽ thì học sinh không thấy
Trong động cơ đốt trong, cấu tạo gồm các chi tiết, cơ cấu, hệ thống, họcsinh có thể quan sát được nhưng diễn biến quá trình đốt cháy nhiên liệu trongbuồng cháy thì học sinh không thẻ quan sát trực tiếp mà phải tư duy
Trong dạy học, giáo viên phải đảm bảo nguyên tắc thống nhất giữa cụthể và trừu tượng Khi hướng dẫn học sinh tiếp thu tri thức ở mọi nội dung bàihọc bằng cách:
- Xác định xuất phát điểm của khâu nhận thức là cụ thể hay trừu tượng
mà vận dung hướng dẫn học sinh tư duy hợp lí theo con đường qui nạp haydiễn dịch
- Cụ thể hoá nội dung trừu tượng của bài học bằng cách xây dựng và sửdụng đúng đắn vai trò của phương tiện trực quan, bằng cách ứng dụng côngnghệ thông tin, bằng các ví dụ liên hệ gần gũi để minh hoạ
*Tính thực tiễn:
Tính thực tiễn là bản chất, vốn có của kĩ thuật vì đối tượng nghiên cứucủa kĩ thuật là thực tiễn đời sống sản xuất và mục đíh của kĩ thuật nhằm đápứng nhu cầu thực tiễn của con người thông qua việc vận dụng những kiến thứckhoa học, kĩ thuật cơ sở để cải tiến các thiết bị, các qui trình lạc hậu phát minh
ra các thiết bị mới, qui trình công nghệ ngày càng hoàn hảo với mức độ tựđộng hoá ngày càng cao để triển khai ứng dụng vào thực tiễn
Trang 33Ví dụ: Trước đây lập bản vẽ kĩ thuật bằng tay, nay lập bản vẽ kĩ thuậtbằng máy tính điện tử.
Trong dạy học, giáo viên cần cho học sinh thấy tính thực tiễn của nộidung nghiên cứu khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu về chức năng các đối tượng
kĩ thuật, vấn đề nghiên cứu trong nội dung bài học nhằm giải quyết bằng conđường nào
Đồng thời giáo viên nên quan tâm khai thác vốn kiến thức thực tiễn củahọc sinh thu được từ cuộc sống hang ngày, từ lớp học dưới mà khái quát địnhhướng giúp học sinh tích cực chủ động tìm tòi kiến thức, giải quyết các vấn đềđặt ra trong bài học Từ việc hướng dẫn học sinh có những hiểu biết chung,giáo viên chỉ ra cho học sinh thấy rõ khả năng vận dụng thực tiễn của chúng
và biết cách vận dụng kiến thức nguyên lí để giải thích các hiện tượng, cácbiện pháp kĩ thuật trong thực tiễn
*Tính tổng hợp- tích hợp:
Tính tổng hợp thể hiện ở chỗ nội dung môn học được xây dựng trên cơ
sỏ nguyên tắc kĩ thuật tổng hợp Do đó kiến thức mang tính phổ thông, chìakhoá làm cơ sở cho những nội dung kĩ thuật chuyên ngành sau này
Tính tích hợp được biểu hiên ở nội dung môn học có sự kế thừa, có liênquan đến các môn học khác như toán học, vật lí, cơ kĩ thuật kĩ thuật điện…
Ví dụ: Những kiến thức về hình học không gian trong toán học là cơ sở
để xây dựng bản vẽ kĩ thuật
Ở phần chế tạo cơ khí rất đa dạng các phương pháp gia công, khi đưavào dạy ở phổ thong thì đưa vào dạy nguyên lí chung về cắt gọt
Trong dạy học, giáo viên cần lựa chọn nội dung đảm bảo tính khái quát
cơ bản và các ví dụ phải mang tính phổ thông điển hình
Trang 34Trong quá trình hướng dẫn học sinh nhận thức phải giúp học sinh biếtcách phân tích được hoặc nhận biết được cơ sở khoa học của các hiện tượng,các giải pháp kĩ thuật đưa ra đồng thời cho học sinh biết rõ khả năng áp dụngcủa nội dung nghiên cứu đối với các phần nội dung hoặc với các môn học khác.
2.2 Đề xuất một số năng lực thành phần cần hình thành và những biện pháp thực hiện để phát triển năng lực kĩ thuật cho học sinh thông qua dạy học môn Công nghệ 11
2.2.1 Những năng lực thành phần cần hình thành để tạo nên năng lực kĩ thuật:
Qua tìm hiểu về thực trạng năng lực kĩ thuật, tìm hiểu về nội dung vàđặc điểm của chương trình môn Công nghệ 11 Cần hình thành một số nănglực thành phần của năng lực kĩ thuật là:
- Năng lực tư duy (năng lực nhận thức) và năng lực tưởng tượng kĩ thuật(trí tưởng tượng kĩ thuật): Tư duy kĩ thuật và trí tưởng tượng kĩ thuật là haiyếu tố chủ đạo để hình thành năng lực kĩ thuật, vì vậy trong quá trình giảngdạy giáo viên cần dạy cho học sinh biết cách tư duy, tưởng tượng có hiệu quả.Như vậy, học sinh sẽ có tri thức về các hoạt động kĩ thuật
- Năng lực quan sát: Môn Công nghệ là môn học có nhiều đặc điểm đặcttrưng khác biệt, môn học có tính trừu tượng cao Trong quá trình học, các nộidung cấu tạo của các máy móc thiết bị rất phức tạp đòi hỏi học sinh phải có ócquan sát tốt Trong quá trình học, học sinh được quan sát các hiện tượng kĩthuật, quan sát hình vẽ, quan sát sơ đồ, quan sát hoạt động của các cơ cấu hệthống… Trong quá trình quan sát, kết hợp với quá trình tư duy thì học sinh sẽđạt được kết quả quan sát Kết quả đó là học sinh có những hiểu biết, nhữngtri thức mới về đối tượng kĩ thuật về các hoạt động kĩ thuật
Trang 35- Năng lực vận dụng kĩ thuật và năng lực thực hành kĩ thuật: Môn Côngnghệ là môn học gần giũ với cuộc sống thực tiễn, với các hoạt động lao độngsản xuất Những kiến thức thuộc lĩnh vực kĩ thuật ngày càng phát triển hiệnđại phục vụ, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người Như vậy, khi họcngười học cần phải biết vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn nhưbiết đọc các loại bản vẽ kĩ thuật, biết phán đoán hỏng hóc và sửa chữa nhữngvật dụng máy móc dùng trong gia đình, cơ quan, biết lắp đặt một số thiết bị đòdùng trong gia đình…
Khi có kiến thức kĩ thuật, vận dụng những kiến thức đó vào thực tiễn,thường xuyên thực hành kĩ thuật như thiết kế các bản vẽ, các sơ đồ lắp đặt,thực hành sửa chữa máy móc thiết bị kĩ thuật… Nếu những việc này được vậndụng và thực hành thường xuyên tì không chỉ hình thành năng lực kĩ thuật ởngười học mà còn giúp cho người học trưởng thành, định hướng và lựa chọnnghề nghiệp của bản thân trong tương lai
2.2.2 Một số biện pháp hình thành và phát triển năng lực kĩ thuật cho học sinh:
Căn cứ vào thực trạng việc việc hình thành và phát triển năng lực kĩthuật trong dạy học môn Công nghệ, xin đề xuất một số biện pháp cụ thể đểhình thành năng lực kĩ thuật cho học sinh là:
- Hình thành và phát triển năng lực kĩ thuât thông qua các giờ học cụthể, qua các hoạt động học tập
- Tổ chức các hoạt động ngoại khoá kĩ thuật, thi khéo tay kĩ thuật
- Hướng dẫn học sinh tự học, thảo luân kĩ thuật
- Hướng dẫn học sinh khai thác thông tin qua tài liệu, mạng Internet
2.2.2.1 Hình thành và phát triển năng lực kĩ thuật thông qua các giờ học cụ thể, qua các hoạt động học tập:
Trang 36Do việc phân hoá trong thi cử nên thời gian dành cho môn Công nghệkhông nhiều Chính vì vậy để hình thành và phát triển năng lực kĩ thuật cầnđược tổ chức thông qua giờ học, hoạt động học tập tại trường Trong một giờhọc, giáo viên cầnphải tổ chức đa dạng các hoạt động nhận thức để học sinhtích cực tham gia vào các hoạt động thu nhận tri thức mới.
Để có năng lực kĩ thuật, ở học sinh phải hội tụ đầy đủ các năng lực thànhphần của năng lực kĩ thuật đó là: năng lực nhận thức kĩ thuật, năng lực thiết kế
kĩ thuật, năng lực vận dụng kĩ thuật Để có năng lực kĩ thuật thật sự phải trảiqua quá trình học tập và rèn luyện lâu dài Việc tổ chức đa dạng các hoạt độngnhận thức nhằm tác động trực tiếp vào cấu trúc của năng lực kĩ thuật
a Thực hiện phát triển thành phần năng lực tư duy, năng lực tưởng tượng kĩ thuật:
Tư duy kĩ thuật và tưởng tượng kĩ thuật là hai điều kiện chủ đạo để hìnhthành và phát triển năng lực nhận thức kĩ thuật vì vậy giáo viên cần dạy chohọc sinh biết cách tư duy và tưởng tượng kĩ thuật một cách hiệu quả
Tư duy kĩ thuật và tưởng tượng kĩ thuật cũng giống như một số kĩ năngkhác đòi hỏi phải trải qua một quá trình rèn luyện Trong các giờ học, giáoviên có thể hình thành năng lực tư duy và năng lực tưởng tượng kĩ thuật bằngnhiều hình thức khác nhau như:
- Hình thành vững chắc cho học sinh các khái niệm kĩ thuật
- Tăng cường trực quan sinh động cho các đối tượng kĩ thuật, ứng dụngcông nghệ thông tin, khai thác các nguồn tài nguyên khác nhau phục vụ chodạy học
- Tổ chức kịp thời chu đáo các bài dạy học thực hành, các buổi thamquan cơ sở sản xuất, cơ sở kĩ thuật
Trang 37- Xây dựng và sử dụng các bài toán kĩ thuật nhằm rèn luyện tư duy,tưởng tượng của học sinh.
- Trong các giờ học, sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học Sửdụng các phương pháp dạy học tích cực nhằm phát huy tính tích cực chủ độngchủ động sáng tạo của học sinh
- Trong quá trình truyền thụ kiến thức, giáo viên nên tạo ra nhiều tình huốnghoạt động, nên đặt ra nhiều câu hỏi tại sao để học sinh suy nghĩ và giải quyết
- Cần xây dựng cấu trúc bài dạy theo hướng hình thành và phát triểnnăng lực kĩ thuật cho học sinh Căn cứ vào nội dung bài dạy, giáo viên xácđịnh năng lực kĩ thuật cần đạt được ở học sinh là gì và ở mức độ nào, từ đógiáo viên tiến hành xây dựng kế hoạch dạy, soạn giáo án nhằm hình thànhnăng lực kĩ thuật cho học sinh
Để phát triển năng lực tư duy cho học sinh có thể sử dụng nhiều cáchkhác nhau Trong quá trình truyền thụ kiến thức giáo viên nên tạo ra nhiềutình huống hoạt động, nên đặt ra nhiều câu hỏi ngược lại, câu hỏi tại sao đểhọc sinh suy nghĩ và giải quyết Trong một giờ học cụ thể, giáo viên không thểđưa ra hết tất cả các đáp án của câu hỏi, vì vậy giáo viên cần khuyến khích các
em học sinh đưa ra các đáp án thông dụng, phù hợp với kiến thức của bài học.Nên khuyến khích học sinh đưa ra đáp án độc đáo, ngắn gọn và cho học sinhtranh luận để cuối cùng có câu trả lời chính xác nhất Để khuyến khích họcsinh tham gia tranh luận, tham gia vào hoạt động nhận thức thì giáo viên cóthể tổ chức học sinh hoạt động theo nhóm, đưa ra các câu hỏi nhằm khuyếnkhích học sinh trả lời
Ví dụ 1: Khi dạy học về tìm hiểu nguyên lí làm việc của động cơ 2 kì, ở kì
2 pittông dịch từ ĐCD đến ĐCT, hoà khí nén ở cácte được nạp vào buồng cháyqua cửa quét và quét toàn bộ khí thải ra ngoài qua cửa thải Phương tiện sử dụng
Trang 38khi dạy học bài này là mô hình động cơ 2 kì (nếu có), tranh vẽ động cơ 2 kì Khihướng dẫn tìm hiểu cấu tạo GV cần nhấn mạnh vị trí của các cửa có đặc điểm gì
và hướng dẫn tìm hiểu nguyên lí có thể sử dụng một số câu hỏi như sau:
GV: Khi pittông dịch chuyển từ ĐCD đến ĐCT, ở thời điểm cửa quétchưa được đóng thì cửa thải lúc này đóng hay mở?
HS: Cửa thải vẫn đang mở
GV: Em có nhận xét gì về đặc điểm của hoà khí nạp vào trong buồng cháy?HS: Áp suất của hoà khí nạp phải lớn hơn áp suất khí xả để quét khí xả
ra ngoài
GV: Đúng vậy, khi đó sẽ xảy ra hiện tượng gì?
HS: Một phần hoà khí nạp vào bị lọt ra ngoài cùng với khí thải
GV: Điều đó có ảnh hưởng gì đến động cơ 2 kì?
HS1: Tốn nhiều nhiên liệu, không kinh tế
HS2: Khí thải làm ô nhiễm môi trường
GV: Như vậy, động cơ 2 kì có được ứng dụng nhiều trong thự tế không?HS: Ít được sử dụng Thường dùng cho những động cơ cơ nhỏ
Ví dụ 2: Khi dạy học bài Cơ cấu trục khuỷu thanh truyền, GV có thể sửdung một số câu hỏi như:
1 Dựa vào đặc điểm cấu tạo của xecmăng dầu và xecmăng khí, cấu tạocủa rãnh lắp xecmăng trên pittông hãy giải thích tại sao phải sử dụng cả hailoại xecmăng và tại sao lại lắp xecmang khí ở phần phía trên xecmăng dầu?
2 Tại sao không chế tạo pittông vừa khít với xilanh?
3 Sử dụng đối trọng trên má khuỷu có tác dụng gì?
Ví dụ 3: Khi dạy học bài Ôn tập phần vẽ kĩ thuật, GV nên đưa ra các bàitập về lập bản vẽ kĩ thuật đưa ra các vật thể từ đơn giản đến phức tạp để pháttriển tư duy kĩ thuật cho học sinh
Trang 39b Phát triển thành phần năng lực quan sát:
Trong một giờ học cụ thể, để hình thành và phát triển năng lực quan sátcho HS, GV cần kết hợp nhiều biện pháp khác nhau:
- Sử dụng phương pháp dạy học trực quan trong dạy học
- Sử dụng tốt kênh hình trong dạy học để phát triển óc quan sát cho HS
- Xây dựng bài giảng áp dụng công nghệ thông tin vào dạy học
- Sử dụng phương pháp quan sát để phát triển óc quan sát cho HS hướngcác em vào một nhiệm vụ nhất định khi quan sát, không vội vàng kết luận khichưa đầy đủ các dữ kiện
Không phải tất cả các nội dung kiến thức đều có thể trực quan để HSquan sát Tuỳ thuộc vào mục tiêu kiến thức, GV lựa chọn phương pháp dạyhọc nào để cho hiệu quả dạy học là tối ưu Nếu được quan sát một cách khoahọc, HS sẽ hình thành được các biểu tượng, khái niệm cụ thể về đối tượng,phát triển năng lực chú ý, hứng thú, óc tò mò khoa học, phát triển được tư duy
và nâng cao tính tự lực, tích cực chủ động đồng thời tạo điều kiện cho HS liên
hệ bài học với thực tiễn
Khi tiến hành cho HS quan sát cần thực hiện các bước như sau:
Bước 1: Xác định rõ mục đích quan sát
Bước 2: Lựa chọn đối tượng quan sát
Bước 3: Tổ chức và hướng dẫn HS quan sát
Bước 4: Tổ chức cho HS báo cáo kết quả quan sát
Ví dụ: Khi dạy học về nguyên lí làm việc của động cơ 4 kì, GV có thể sửdụng phương pháp đàm thoại kết hợp với phương pháp trực quan để hướng dẫn
HS quan sát Cách thức tiến hành dạy học theo phương pháp quan sát như sau:
Bước 1: Mục đích quan sát:
Trang 40- Nhận biết được cấu tạo của động cơ điêzen (động cơ xăng) 4 kì, hìnhthành những khái niệm ban đầu về các thuật ngữ, cấu tạo, công dụng của các
Bước 2: Lựa chọn đối tưọng quan sát
Khi dạy học bài này GV có thể lựa chọn các đối tượng như:
- Sử dụng sơ đồ chu trình làm việc của động cơ 4 kì
- Mô hình tĩnh hoặc mô hình động
- Vật thật
Trong các đối tượng này, tuỳ thuộc vào cơ sở vật chất hiện có của nhàtrường mà GV có thể lựa chọn sao cho phù hợp, nên lựa chọn đối tượng để HS
dễ quan sát, dễ hiểu Có thể sử dụng kết hợp các đối tượng như sử dụng tranh
vẽ để giảng về cấu tạo của động cơ sau đó sử dụng mô hình động để hướngdẫn HS quan sát nhận dạng các hệ thống cơ cấu
Bước 3: Tổ chức hướng dẫn HS quan sát
Khi dạy học bài này lúc cho HS quan sát tranh vẽ thì GV hướng dẫntoàn lớp quan sát Khi hướng dẫn HS quan sát mô hình GV nên chia lớp họcthành các nhóm HS để HS quan sát và thảo luận theo nhóm GV hướng dẫn
HS quan sát mô hình bằng cách đưa ra các câu hỏi định hướng quan sát
Bước 4: Tổ chức cho HS báo cáo kết quả quan sát
Học sinh quan sát mô hình và trả lời các câu hỏi như: