sĩ Nguyễn Gia Trí là một cây đại thụ lớn không chỉ đóng có góp làm pháttriển chất liệu sơn mài nghệ thuật, đưa chất liệu này lên đến đỉnh cao củamột chất liệu hôI hoạ mà ông còn là một t
Trang 1sĩ Nguyễn Gia Trí là một cây đại thụ lớn không chỉ đóng có góp làm pháttriển chất liệu sơn mài nghệ thuật, đưa chất liệu này lên đến đỉnh cao củamột chất liệu hôI hoạ mà ông còn là một tấm gương đạo đức và nghề nghiệp
để cho nhiều thế hệ các họa sĩ trẻ sau này có thể học tập và noi theo
Cho đến nay sơn mài Việt Nam đã có một chỗ đứng quan trọng và vữngchắc trong nền hội hoạ nước nhà, và tạo nên một tiếng vang lớn cho hội hoạViệt Nam trong lòng của hội hoạ quốc tế Chính sự yêu thích chất liệu vàlòng tự hào đó, là mét sinh viên cuối khoá khi chọn đề tài tốt nghiệp em đãxác định cho mình đề tài cho tiểu luận tốt nghiệp của mình là “ Nguyễn GiaTrí bậc thầy của tranh sơn mài Việt Nam.” Để được tìm hiểu,được học,được hiểu sâu hơn về chất liệu sơn mài và hoạ sĩ Nguyễn Gia Trí ngườiđược tôn vinh là ông vua của của chất liệu đó, tìm hiểu vè con người, sựnghiệp của ông một người đợc bao nhiêu thế hệ hoạ sĩ xem như là tấmgương lấn để học tập và noi theo.Và rất mang sau bài tiểu luận này em sẽ
Trang 2thu được những kiến thứac bổ Ých cho hoạt động giảng dậy và sáng tác củabản thân sau này Rất mong được sự chỉ giáo của các thầy cô, sự góp ý củacác bạn bè, đông nghiệp để bài tiểu luận cảu em được hoàn thiện tốt hơn.
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU.
2.1 Mục đích nghiên cứu:
Tìm hiểu vầ sơn mài , cuộc đời sựu nghiệp của hoạ sĩ Bậc thầy NguyễnGia Trí, cây đại thụ của nền mỹ thuật Việt nam
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu lịch sử và đặc điẻm chất liệu sơn mài Tìm hiểu về những giátrị và phẩm chất của hoạ sĩ Nguyễn Gia Trí, giá trị nghệ thuật, giá trị biểuđạt của tranh ông trong chất liệu sơn mài Khẳng định tài năng bậc thầy củaông trong chất liệu truyền thống sơn mài
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu sơ lược về sơn mài
-Nghiên cứu con người sự nghiệp và những giá trị to lớn trong tranh sơnmài của hoạ sĩ Nguyễn Gia Trí
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp hệ thống
-Phương pháp phân tích
-Phương pháp so sánh
Phương pháp tổng hợp
5 DÙ KIẾN ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI.
Bản thân đã từng học và làm bài tập trên chất liệu sơn mài, nhưng chưatừng tìm hiểu sâu về hoạ sĩ bậc thầy Nguyễn Gia Trí, cây đại thụ của nền mỹthuật Việt Nam Với nghiên cứu tiểu luận này,tôi hi vọng sẽ góp phần hiểu
rõ hơn về chất liệu sơn mài và hoạ sĩ tiêu biểu nhất Nguyễn Gia Trí ngườiđược tôn làm “ ông vua sơn mài” Để có thể thấy rõ hơn về đặc điểm của
Trang 3chất liệu, phương thức thực hiện để vẽ một tranh sơn mài hoàn thiện Vànhững kĩ thuật đỉnh cáo của hoạ sĩ bậc thầy Nguyễn Gia Trí Ông đã thểhiện không những thành công mà còn sáng tạo và phát triển thêm những kĩthuật vẽ tranh sơn mài, đưa chất liệu này trở thành một chất liệu hội hoạ độcđáo Thông qua những quan điểm và những tác phẩm của ông thể hiện rõnhững nét đẹp độc đáo, tính thẩm mỹ dân téc kết hợp với tính thời đại và cảnhững tâm huyết gắn bó với sơn mài trong suốt sự nghiệp vẻ vang của mình.
Nh vậy, với bài tiểu luận này tôi hi vọng sẽ góp một phần nào vào việctìm hiểu về chất liệu tranh sơn mài, và những giá trị của nã trong cuộcđời ,và tác phẩm của hoạ sĩ Nguyễn Gia Trí
6 BỐ CỤC CỦA TIỂU LUẬN.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo thì bàithiểu luận gồm hai chương chính:
Chương 1: Vài nét về sơn mài Việt Nam
Chương 2: Nguyễn Gia Trí bậc thầy của tránh ơn mài Việt Nam
Trang 4B.NỘI DUNG CHƯƠNG 1 : VÀI NÉT VỀ SƠN MÀI VIỆT NAM
1 Sơ lược về lịch sử sơn mài Việt Nam :
Trong lịch sử dân téc ta nghề sơn xuất hiện khá sớm, từ thời các vuaHùng ( Việt cổ ) cách đây khoảng 2500 năm trớc đây ( tức là vào khoảng thế
kỉ thứ V trước công nguyên ) đã tìm thấy cây sơn mọc hoang dã và đã biếtcách sử dụng nhựa sơn vào trám thuyền hoặc phủ lên các vật dụng khácnhằm tăng độ bền chắc cho vật dụng
Trong một ngôi mé cổ được tìm thấy ở Hải Phòng năm 1961.Bên cạnhhài cốt và một số vật dụng tư trang được chôn theo người chết các nhà khảo
cổ còn tìm thấy các vật dụng khác được sơn phủ bởi một hay nhiều líp sơnbên ngoài như mái chèo, gầu múc nước, cán dao…Theo như công bố cuảcác nhà khảo cổ thì ngôi mộ này có niêm đại vào khoảng thế kỉ thứ IV trướccông nguyên
TRong quá trình phát triển nghề sơn luôn song hành với nghề tạc tượng,các trạm khắc trong các công trình kiến trúc vì vậy suốt thời kì phong kiến,
vì vậy nghề sơn Đại Việt phát triển mạnh, khắp các xứ Đông, Nam Đoài,Bắc đâu đâu cũng có nghề sơn Xứ Đông có làng Hà Cầu ( Đồng Minh,Vĩnh Bảo, Hải Phòng ) nổi tiếng bởi nghề sơn và tạc tượng, Xứ Bắc có Đình
Trang 5không đâu bằng Vùng Sơn Nam Hạ có làng Sơn Quang Các Đằng ( naythuộc Y Yên, Nam Định ), vùng Hà Tây thuộc xứ Đoài xưa có nhiều làngnghề sơn nh Chuyên Mỹ, Bối Khê, Bình Vọng, Hạ Thái Văn Giáp Nghềsơn trở thành một nghề không thể thiếu và quen thuộc trong xã hội củangười Việt, cây sơ trở thành một thứ cây tiêu biểu và thân thuộc đối với bàcon nông dân.
“Một đồng một giỏ không bỏ nghề trầuMột đồng một bầu không bỏ nghề sơn”
Năm Minh Mạng thứ 17 cho xây dựng 9 đỉnh lớn gọi là Cửu đỉnh, bầy
ở sân Thế Miếu (đại diện cho 9 châu tức) Trên mỗi đỉnh cho khắc hình 1loài cây đại diện cho châu tức đó, ở đây cây sơn được khắc trên cửu đỉnh thứ
6 Không chỉ nổi danh ở trong nước Sơn Việt Nam có uy tín trên thị trườngquốc tế, từ Việt Nam sơn xuất sang Nhật Bản, Pháp, Hồng Kông từ nhữngquốc gia đó toả đi nhiều nơi trên thế giới Cây sơn của ta nay được đặt tênkhoa học là Rhus Succédanea, ở Nhật Bản cũng có cây sơn sơn nhưng vềchất và lượng đền không giống với cây sơn nước ta tên khoa học cảu nó làRhus Venicifera Campuchia cũng có một loại cây có nhựa hơi giống sơn cótên là Hélanorrha luccifera
Ban đầu sơn được sử dụng trong nghệ thuật trang trí và mỹ nghệ Do tỉtrọng khác nhau cảu các thành phần sơn sẽ đọng thành nhiều líp, líp đầu tiên
là sơn mặt dầu tức là líp tốt nhất, sau đó đến sơn giọi gồm có sơn nhất và sơn nhì, đưới nữa là líp sơn thịt, sơn hom Cuối cùng là nước thép ( còn gọi
là nước thiếc ) Bấy nhiêu loại người thợ sẽ tuỳ vào chất liệu mà gia công
Đã từ lâu sơn ta được ding để trang trí các cung điện, đền, đài, cung điện, rấtnhiều công trình kiến trúc cho đến nay vẫn giữ được những pho tượng,những cỗ kiệu, những cánh cửa… được trang trí bằng sơn ta như đình ĐìnhBảng, chùa Bót Tháp, Chùa Tây Phương…Ngoài ra sơn ta còn được ding
Trang 6trong trong trí vật dụng hàng ngày như tráp, hộp, quả trầu, gối, bàn, ghế,giường, hòm…Kĩ thuật sơn cổ truyền chia ra là hai lối sơn dầu và sơn mài.Làm sơn dầu Ýt công hơn và sản phẩm cũng không bền đẹp bằng sơn mài.Ngoài các kĩ thuật làm phằng, đánh bóng chất liệu và sử dụng mầu đen củasơn then, mầu nâu cảu sơn cánh gián, mầu đỏ cảu son các nghệ nhân đã biết
sử dụng vàng bạc cho tác sản phẩm trang trí thêm phần lộng lẫy
Ban đầu các tác phẩm sơn mài của các nghệ nhân xưa thường vẽ trựctiếp hoặc gián tiếp lên gỗ nhưng không có giai đoạn mài với các mảng mầuđược vẽ riêng rẽ
Ngoài các kĩ thuật pha chế nhựa sơn, mầu và nước sơn Sở trường vẽ vàsáng tác các loại hoa văn rất điêu luyện đI kèm với kĩ thuật chạm trổ, đắpsơn với các loại tranh cổ nằm trong kiến tróc nh tranh “trần thiết” có ở (chùaDâu, chùa Mía, đình Chèm…) Tranh cửa có ở đình Chèm, chùa VĩnhPhúc…Bích hoạ cso bé tranh “nhị thập tứ hiếu” ở làng Đồng Khánh Ngoài
ra còn có một số bức vẽ ở dạng khác nh bức vẽ ở ván nong cốt, hay trongkhám thờ Thực chất thì chưa thể xem đó là những búc tranh mà nó chỉ làmột phần của tổng thể một công trình kiến trúc, chỉ là một mô tuýp hay một
đồ án hoa văn trang trí Dạng tranh cổ thứ hai là tranh thờ, chủ yếu là tranhchân dung các nhân vật dân gian quen gọi là tranh thần Những bức tranh đó
có thể được vẽ đơn hoặc vẽ theo bộ, hoặc dạng tranh liên hoàn với nội dungkhuyến cáo, ngâm vịnh hoặc kể truyện mạng tính kế tục và mô tả đậm nét.Cho tới nay, nói đến sơn ta là mọi người nghĩ ngay đến giá trị của nó
trong hội hoạ đó là đã góp phần làm ra một thể loại tranh mới: tranh sơn mài Sự hấp dẫn của chất liệu độc đáo vừa bền vừa có vẻ đẹp lộng lẫy vàng
son đã thu hót các hoạ sĩ Việt Nam ra công nghiên cứu, tìm tòi khai thác mọikhả năng biểu hiện của chất liệu cổ truyền
Trang 7Với chất liệu sưon ta rất đặc biệt trong khoảng bốn mươi năm nay, cáchoạ sĩ Việt Nam đã nâng hẳn nghề sơn mài từ một nghề thủ công thực dụnglên một lên mức nghệ thuật tả thực diến tả tình cảm, hiện thưực rất phongphú, rất đặc sắc.
Trường mỹ thuật Việt Nam được thành lập năm 1925 Những sinh viênkhoá đầu tiên này được sự hướng dẫn của các thợ thủ công đã thử dùng sơn
ta để vẽ phong cảnh Lúc đó họ cũng chỉ mới biết dùng ba mầu cơ bản củachất liệu này Hoạ sĩ Trần Quang Trân cso sáng kiến rắc bột vàng bột bạcvào sơn then, sơn cánh gián để tạo ra các mầu khác lạ, điều quan trọng củasáng kiến này đó là nó tạo ra đậm nhạt Nh vậy sơn mài đã toạ được khônggian với các sắc thái khác nhau của tự nhiên Tiếp đó Nguyễn Tư Nghiêm sửdụng sơn mài với một phong cánh nhẹ nhàng bay bướm không khác gì chấtliệu sơn dầu Từ đây cho tớ năm 1945 nhiều hoạ sĩ chuyển dần sang sáng táctranh sơn mài Có nhiều hoạ sĩ đã lấy chất liệu tranh sơn mài làm chất liệusáng tác tranh chủ yếu của mình Trong vòng mười năm từ năm 1935 đếnnăm 1945 quả là một giai đoạn mà sơn mài có những bước tiến đột xuất,thay đổ cơ bản về chất Mầu vàng mầu bạc nguyên chất đã hoá thành nhữngsắc tháI khác nhau cảu ánh sáng mặt trời, những mầu sơn son thết vàng, bạcrồi phủ sơn ánh gián và mài đứt đã giúp cho các hoạ sĩ thể hiện được thiênnhiên đa dạng, nhiều mầu sắc một cách sinh động Hoặc vỏ trứng, một chấtliệu vốn rất vô cảm và cứng nh thế nay trở nên mề mại trong tranh cảu cáchoạ sĩ sơn mài, họ đã biến vỏ trứng thành những làn da mềm mại, tươi mát.Tuy nhiên về mặt mội dung những tác phẩm vào giai đoạn này chỉ thànhcông ở việc miêu tả những cảnh huyền ảo, mơ mông, những nhân vật thuộcgiới trung lưu hoặc thượng lưu, thành thị Đó cũng là hạn chế chung của vănnghệ sĩ tiêu tư sản nước ta giai đoạn cuối thời kì Pháp thuộc
Trang 81945 cách mạng thành công Tại cuộc triển lãm Tháng Tám ở Hà Nộinăm 1946, nhân dịp kỉ niệm một năm sau ngày cánh mạng dành thắng lợi,công chúng mới hoan nghênh những tác phẩm sơn mài lấy cảnh sinh hoạtbình dị của con người làm đề tài cho sáng tác ( ví dụ bức lúa mới của TrầnĐình Thọ) Tiếp đó là cuộc kháng chiến chống Pháp năm 1946-1954, việcsáng tác tranh sơn mài gặp nhiều khó khăn, các hoạ sĩ thời kí này chủ yếusáng tác các loại tranh nh sơn dầu, khắc gỗ, thuốc nước, bột mầu…tuy nhiêncông việc suy nghĩ phát triển chất liệu tranh này vẫn được duy trì, và vẫncho ra đời những tác phẩm phục vụ cho kháng chiến.
Từ sau đại hội văn nghệ toàn quốc năm 1948, hai xưởng vẽ sơn màiđược thành lập, một ở Phú Thọ, một ở Thanh Hoá Nạ sĩ nhiều hoạ sĩ nghiêncứu và sáng tác tranh phục vụ cánh mạng, phục vụ nhu cầu tinh thần củanhân dân trên chất liệu sơn mài Trong quá trình tìm tòi và bổ sung một sốmầu như xanh lam, xanh lá cây, bột vỏ trai,vỏ trai, xà cừ…Từ đây sưon màiViệt Nam đã miêu tả một cách có “thần” hơn cỏ cây hoa lá, và sưon mài đặcsắc hơn trong giai đoạn “chín năm nắng núi mưa ngàn” Có thể kể đén nh
“giặc đi” của Tô Ngọc Vân, “vệ quốc quân nghỉ giữa đồng” của Nguyễn TưNghiêm, “Cái bát” của Nguyễn Sĩ Ngọc, “ biển” Nguyễn Văn Tỵ…
Khi cách mạng dành thắng lợi ở nước ta, điều kiện để phát triển nền mỹthuật gặp được nhiều điều kiện thuận lợi cả về tinh thần, cả về vật chất Nhữngchủ đề nh : cuộc sống mới cuộc sống xây dựng CNXH thống nhất nước nhà,còng nh cuộc đấu tranh xây dựng con người mới- những con người chiến đấuanh hùng và sản xuất anh hùng và sáng tạo, đãđi vào tranh sơn mài một cáchthoải mái và hài hoà Thiên nhiên Việt Nam ( đảo Cát Bà Vịnh Hạ Long, cầutreo Nam Bộ,…) những cảnh sinh hoạt hiện nay (sản xuất trong nhà máy, trênđồng ruộng,…) những con người hiện nay (bộ đội, công nhân, nông dân…) tất
cả được phản ánh bằng sắc màu lộng lẫy của sơn mài
Trang 9Về kỹ thuật sơn mài ngày càng phát huy những vốn liếng cổ truyền củadân téc Vỏ trai, xà cừ được dùng để khảm lên tranh Cách khắc trên sơncũng được nhiều hoạ sĩ sử dụng Một mùa gặt mới bội thu đã tới thể hiệntrong tác phẩm “Tát nước đồng chiêm” của TrÇn Văn Cẩn, “ Tổ đổi công”của Hoàng Tích Chù, “Cảnh thuỷ nguyên” của Nguyễn Văn Tỵ, “Bình minhtrên nông trang” của Nguyễn Đức Nùng, “Qua bản cũ” của Lê Quốc Léc, “Gặt lúa Tây Bắc” của Phan Kế An, “Qua cầu khỉ” của Nguyễn Hiên, “Hữunghị” của Nguyễn Khang, “Kéo pháo” của Dương Hướng Minh, “Chuyểnphân” của Trần Đình Thọ, “Đi chợ Bảo Hà” của Mai Văn Nam, cùng vớinhững bức tranh sơn mài khác của Thế Vị, Huy Hoà, Kim Đồng,…tất cả đãchứng minh rằng sơn mài có khả năng diễn tả tốt bất cứ đề tài nào mà cácchất liệu khác diễn tả được.
Tại cuộc triển lãm nghệ thuật tạo hình của 12 nước XHCN năm 1958được tổ chức tại Mát-xcơ-va, sơn mài được hoan nghênh nhiệt liệt coi như
nó giải quyết được vấn đề nội dung XHCN và hình thức dân téc
Từ 50 năm trở lại đây sơn mài Việt Nam vẫn tiếp tục kế thừa và pháttriển những tinh hoa của thế hệ các hoạ sĩ líp trước, sơn mài đã trở thànhmột chất liệu không thể thiếu trong nền hội hoạ Việt Nam nã mang vẻ đẹpcủa truyền thống và sự kết hợp của tinh hoa mỹ thuật hiện đại
Tầm quan trọng của nó đã được cụ thể hoá trong trường Cao đẳg Mỹthuật Đông Dương nay là trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội sơn mài trởthành một khoa có tầm quan trọng không kém bất kỳ một khoa cơ bản nào
và được các thầy trò của trường Đông Dương yêu thích và say mê khámphá chất liệu độc đáo này
2 Màu sắc trong tranh sơn mài
Màu sắc trong tranh sơn mài Việt Nam còng được phát triển theo lịch
sử Từ khi các hoạ sĩ đưa chất liệu sơn ta vào lĩnh vực hội hoạ đến lúc thành
Trang 10công thì tranh sơn mài phát triển mạnh về số lượng và chất lượng Màu sắctrong tranh sơn mài cũng phát triển từ bảng màu đơn điệu: đỏ, vàng, đen đếnnhững bảng màu phong phú đa dạng.
Sơn mài gồm có ba phần: màu, chất liệu vẽ, chất kết dính Màu truyềnthống có sơn then, son trai, son thắm, son nhì, son tươi, vàng, bạc, dát mỏnghoặc rây nhỏ, chất kết dính được chế biến thành sơn nhựa còn gọi là cánhgián, dùng sơn cánh gián pha với màu để vẽ và cuối cùng là mài
Có quan niệm tồn tại dai dẳng lâu nay cần phải cân nhắc lại, đó làviệc một số người coi vẻ đẹp “lộng lẫy” về màu và chất của đồ sơn “vàngson” truyền thống chính là điều cám dỗ các nghệ sĩ tìm kiếm, nghiên cứu,thử nghiệm và kết quả cuối cùng là sự ra đời của sơn mài Việt Nam
Bước ngoặt này đã mở ra cho ngành sơn cổ truyền sang một kỷ nguyênmới mang đến cho diện mạo mỹ thuật hiện đại Việt Nam mét sắc thái mới
và đây chính là một cuộc cách tân cho nền hội hoạ Việt Nam Bản thân danh
từ sơn mài đã được ra đời để phân biệt với cách làm sơn cổ truyền vẫn quengọi là “sơn ta” Sơn mài thực sự bước vào lĩnh vực hội hoạ tạo hình và ngàycàng chiếm một vị trí quan trọng trong thị trường tranh quốc tế Ngoài ra kỹthuật mài và pha chế màu của sơn mài cũng dần dần ứng dụng vào ngànhsơn mỹ nghệ cổ truyền toạ ra hiệu quả kỹ thuật, mỹ thuật cao Nhiều tácphẩm được lưu giữ ở Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam nh tranh của các hoạ sĩ:Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Tư Nghiêm, Sĩ Ngọc, Phạm Văn Đôn,… vớinhững bảng màu phong phú và nhiều cách thể hiện cùng những đề tài đadạng muôn màu muôn vẻ
Với sơn mài Việt Nam phát triển trên cơ sở kế thừa có đổi mới kỹ thuật
cổ truyền về mặt chất liệu căn bản, các màu cổ truyền bao gồm: cánh gián,son, then, vàng, bạc và cuối cùng là vỏ trứng được xem nh là màu trắngtrung tính Theo nh đánh giá của hoạ sĩ Trần Văn Cẩn thì vỏ trứng không
Trang 11rừng rực, bóng chãi nh vàng, không cứng rắn và đanh nh màu sáng của bạc.Nhưng nếu sử dụng vỏ trứng để sáng tác tranh mà không có thẩm mỹ tốt và
kỹ thuật già dặn thì rất dễ bị rơi vào trang trí mỹ nghệ Kỹ thuật sử dụng vỏtrứng trong hội hoạ sơn mài đã đạt tới một chất lượng tuyệt hảo trên một sốtác phẩm của Nguyễn Gia Trí đầu năm 1940 Với sơn dầu các líp màu chồnglên nhau liên tiếp và bức tranh hoàn thành ở líp vẽ trên cùng Nhng kỹ thuậthội hoạ sơn mài quy trình Êy gần như bị đảo ngược sau khi các líp vẽ chồnghoặc tráng lên nhau người ta thực hiện một líp sơn phủ trùm toàn bộ (sơnquang) và chính líp sơn trên cùng này lại là líp đầu tiên chịu tác động củaquá trình mài xuống; bức tranh sẽ hoàn thành ở tầng sâu cho hiệu quả tốtnhất Tuy nhiên còn có sự dị biệt khá căn bản giữa hai phong cách kỹ thuật
Á Âu đó là sự đảo ngược về mặt nền
Sơn mài Việt Nam là dấu nối gữa tinh thần tả thực của phương tây-vớicác nguyên tắc khoa học của nó về ánh sáng, về luật xa gần – và cách gọi tảphương Đông bằng những ước lệ không gian, bằng hoà sắc đậm nhạt
Đa sè tranh sơn mài mang truyền thống hội hoạ dân téc nhưng lại không
hề gạt ra ngoài các phương pháp tạo hình mới, đã thế lại phong phú thêmvới bản sắc cảu từng tác giả Từ khi có tên “sơn mài” trong hội hoạ các hoạ
sĩ đã sáng tác bằng nhiều cách diễn tả khác nhau, khi theo lối tả thực, khitheo lối gợi tả, thường thì kết hợp cả hai trong một bức tranh
Chỉ tả thực thôi thì khó đưa sơn mài đi xa hơn nữa Nói chung thì hiệnthực - đối tượng miêu tả của nghệ thuật – không phảI bản sao chép, nô lệnhững gì đã cso sãn trong thiên nhiên, mà phảI là hiện thực đã được gạn lọc,biến chuyển qua cảm quan thẩm mỹ để trở nên đơn giản, kháI quát, hay nnóicách khác là đã được sáng tạo, có như vậy hình tượng hội hoạ mớitruyền cảm mạnh Và chính bảng mầu đặc biệt của chất liệu đặc biệttrong tranh sơn mài đã phản ánh một thế giới quan sinh động, lộng lẫy,
Trang 12rực rỡ làm nên sự quyến rò của hình tượng nhệ thuật mà tranh sơn màidiễn tả Với sơn mài từng mảng mầu riêng lẻ thành từng mảng có nghĩa
là đơn điệu, buồn tẻ vàkhông có hồn Từng mảng mầu tự thân nó đã csosẵn khả năng gợi sáng và không gian Tận dụng khả năng đó có thể diÔn
tả hiện thực bằng một bót pháp vừa đơn giản vừa sâu lắng, nhất là khinhững hình tượng cụ thể được gạn lọc tinh tế để nói lên bản chất, đểphải cái cốt lõi mà người vẽ định miêu tả
Có ý kiến cho rằng mầu trong tranh sơn mài còn nghèo nàn nên khảnăng diễn tả của nó còn hạn chế, đay là ý kiến cảu một cách nhìn còn cóphần phiến diện Đối với sơn mài lối vẽ sao chép mầu sắc thực tế của tựnhiên này chưa chắc đã đắt giá Nhiều hoạ sĩ đã sử dụng sơn mài theo métkhuynh hướng khác, “ khuynh hướng nâng cao” Tổng hợp mầu thànhnhững mảng khái quát, chứ không phân định mầu theo sự phân chia cảu ánhsáng, đó là một khuynh hướng dẫn đương cho nguời làm sơn mài đI vào mộtthế giới cũng rất hiện thực nhưng đồng thời cô đọng giản đơn mà sâu sắc
Nh vậy trong chõng mực diẽn tả của sơn mài gầi hay nghèo không do sốlượng mầu quyết định Sơn dầu có hàng chục mầu khác nhau để diễn tả hầu
nh mọi mầu sắc có sẵn trong thiên nhiên Trong khi đó tranh thuỷ mặc cảuTrung Quốc thường chỉ dùng một mầu đen duy nhất để diễn tả với nhiều sắc
độ Êy thế mà nó vẫn gợi ra được sự lung linh của ánh sáng và không gianđưa nghệ thuật vẽ tranh thuỷ mặc lên tới đỉnh cao Tranh sơn mài cũng làmột loại tranh dùng Ýt mầu , toàn bộ tranh thường chỉ toát lên một sắc độchủ đạo : mầu đỏ son pha với cáh gián, đen cảu sơn then, ánh sáng của vàngbạc
Trên mét số tranh sơn mài và sơn khắc nh “Thôn VÜnh Mốc” của hoạ sĩHuúnh Văn Thuận, hay “Tát nước đồng chiêm” của TrÇn Văn Cẩn, mầu đentuyền của sơn then đã được tận dụng để diễn tả trời và nước, “giản đơn đến
Trang 13tột độ mà vẫn mở rộng được không gian, lộng lên ánh sáng Trong thiênnhiên mà chúng ta quen thuộc làm gì có những không gian đơn giản đến nhvậy Nhng chính vì đơn giản nh vậy mà không gian của “tát nước đồngchiêm” hay “Thôn VÜnh Mốc” cang trở nên cô đọng mà càng cô đọng càngnói lên được cái mênh mông của không gian…Bằng bảng mầu phong phúnhư hiện nay tranh sơn mài có thể bắt chước lối diễn tả trời biển của sơndầu, nhưng trong hoàn cảnh vẽ sơn dầu một mầu đen quýet lên mặt toan chỉ
có thể xỉn lại, khong hề có khả năng gợi tả biển trời Mầu đen sơn dầu thiếuhẳn chất trong và độ sâu của sơn mài
Không gian ước lệ, ánh sáng lại càng ước lệ Cảnh vật trong tranh củacác chất liệu khác thường được nhìn thấy dưới ánh sáng được trải rộng khắpnơi Nhiều người vẽ sơn mài không sử dụng khối sáng, tối để diễn tả ánhsáng mà dùng mảng sáng tối để gợi tả ánh sáng Ví dô nh tranh “đêm giáothừa”, “ quay xa”, “ giã gạo” của Sỹ Ngọc…Đói với sưon mài cách tạo ánhsáng nh vậy rất phù hợp để thể hiện ánh sáng một cách “tượng trưng” bằngnhững mảng mầu đậm nhạt đặt cạnh nhau, đến nay vẫn còn là yếu tố mới,được nhiều người tiếp tục tmf tòi, mong khám phá và sáng tạo thêm
Với những cách diễn tả khác nhau các hoạ sĩ Việt Nam đãkhẳng định vịtrí vững chãI cảu sơn mài trong nền hội hoạ Việt Nam hiện đại Bằng mầusắc khi rực rỡ khi sâu lắng của sơn mài các hoạ sĩ diến tả không gian, ánhsáng một cách cô đọng cố gắng thể hiện thiên nhiên con người Việt Namkhông ngừng đổi mới
3 Các hoạ sĩ tiêu biểu.
Nhiều hoạ sĩ Việt Nam đắm chìm trong không gian hư ảo của sơn mài,một ma lực lôi cuốn mãi không thôi Các tác phẩm đầu tay của các hoạ sĩViệt Nam, với sự rung động của chất sưon làm say mê người ngắm nhìn.Sau đợt mài phá, dần dần hiện ra những đường nét hình khối trong nét nhấn
Trang 14nét buông, mài nặng tay nhẹ tay trên cung bậc cao thấp Các hoạ sĩ say mê
nó đã đưa tranh sơn mài lên đăng cấp nghệ thuật xa rời hình hài mỹ nghệđơn điệu
Sự thành công vÒ chất liệu đã đánh giá một giái đoạn thành công củachất liệu sơn mài Với những tác phẩm công phu, hấp dẫn cảu Nguyễn GiaTrí như : “Thiếu nữ bên bờ suối”, “ bên cây phù dung”, “ lùm tre nông thôntrong vườn”, với kĩ thuật dát vàng bạc, vỏ trứng thật tinh tế tạo nên một vẻđẹp lãng mạn bay bướm cho hình khối TRước mắt công chúng mọi cảnhvật như làng quê, thiéu nữ, liễu rủ hồ gươm thiết tha trong vẻ đẹp liêu traicủa sắc vàng quyến rò
Thành công của Nguyễn Gia Trí là sự kết hợp những tìm kiếm ban đầucủa Trần Quang Trân, Lê Phổ, TrÇn Văn Cẩn, Nguyễn Đỗ Cung, Phạm Hởu,vào những năm 1936 – 1939 đã tìm ra một bảng mầu phong phó cho sơnmài trong kĩ thuật vẽ tranh có sắc son, rắc cát bạc, cát vàng để tạo độ thưa
Trang 15mau về sắc độ, có gắn vỏ trứng để tạo mầu trắng bên cạnh mầu trắng củabạc cát, bạc lá và ánh sáng lung linh sâu thẳm của vàng kim.
Tác phẩm “Cây tre”, “Ra đồng” cảu Trần Đình Thọ tràn đầy thi tứ lãngmạn Cả một không gian mênh mang nói non trùng điệp, nắng chiều nhnhuộm vàng cả sườn núi Trong tác phẩm “ Nhớ một chiều Tây Bắc” củaPhan Kế An gần nh chuyển được cái nắng đẹp nh vàng mười dó vào trongtranh của mình , những đỉnh nói xa gần tiếp nhận ánh sáng êm đềm rồi tắthẳn Còn tác phẩm “Ra đồng” của Trần Đình Thọ với bố cục dàn trải trênnền son thắm, những lá chuối xanh ngọc, rặng tre óng ả vàng ngọc đungđưa, cả bụi khoai nước bên bờ ao cảnh vật thật đến nao lòng
Cảnh quê- Nguyễn Gia TríRồi “Vịnh Hạ Long” của Phạm Văn Đôn cũng nằm trong dòng chảy mơmàng đó của sơn mài mà vẫn ánh lên nét hiện thực trong trẻo Tuyền neotrong vịnh, đồi nói xa xa và hửng đông rực rỡ cảnh biển hiện ra như thựctrên một mầu sắc không thực (mầu đỏ son) diều này còn đúng cả trong nềntrời đỏ thẫm Trên tranh “Tình quân dân” của Sĩ Ngọc, “Tre và chuối” củaVăn Bình, “Tát nước đồng chiêm” của Trần Văn Cẩn, “Nhà tranh va gốcmít” của Nguyễn Văn Tỵ, “Con nghé” của Nguyễn Tư Nguyêm, “Gió mùa
Trang 16hạ” của Phạm Hậu…Các tác phẩm của họ là sự tương giao về tâm tư chứkhông hề có sự phô diễn về lí trí Ta có thể tìm thâý những mảng tường giànua, nặng trĩu kỉ niệm và những tà áo dịu mềm mong manh cũng được dátbằng vỏ trứng hay vàng kim trừu tượng.
Gió mùa hạ- Phạm Hậu
ở những đề tài cách mạng tranh sơn mài cũng đủ sưc thể hiện tinh thầnhùng tráng trong cuộc chiến đấu của dân téc ta nh “ Kết nạp đảng” củaNguyễn Sáng, “Từ trong bóng tối” của Lê Quốc Léc, “Trái tim nòng súngcủa” của Huúnh Văn Gấm, “Bác ở Việt Bắc” của Dương Bích Liên…
Kết nạp Đảng ở Điện Biên Phủ- Nguyễn Sáng
Trang 17Nhớ một chiều Tây Bắc- Phan Kế AnCho đến nay các hoạ sĩ Việt Nam vẫn luông tìm cách kháI thác các thếmạnh của chất liệu cổ này từ nội dung cho đến cách thể hiện Nhưng cũngkhông Ýt hoạ sĩ tạo cho mình một sự phá cách trên nền voc cổ xưa, họ đưavào hàng loạt các chất liệu khác có thể gọi là chất liệu tổng hợp với mongmuốn tạo ra hiệu quả thẩm mĩ mới lạ, tuy nhiên không phải lúc nào cũng cácthử nghiệm cũng thành công mà đôi khi nó đi chệc hướng ra khỏi ttính caosang của chất liệu truyền thống Tuy nhiên có nhiều tác phẩm đã đạt đếnnhững thành công nhất định, được công chúng công nhận nh tranh sơn màihiện đại của Đinh Quân, Vũ Thăng, Mai Đắc Linh, Xuân Việt…Họ và nhiềunhững hoạ sĩ già trẻ vẫn luôn tìm tòi, luôn luôn thể hiện chất liệu sơn màitruyền thống của dân téc mình để khai thác, khám phá, sáng tạo góp phầnthúc đẩy sự phát triển nền nghệ thuật tạo hình của đất nước bằng chính tàinăng và nhiệt huyết của mình.
Hoạ sĩ nổi danh nhất của chất liệu tranh sơn mài này là hoạ sĩ NguyễnGia Trí, ông được xem nh là một trong những người đi đầu trong việcchuyển những bức tranh sơn mài từ trang trí trở thành tuyệt phẩm nghệ thuật
và từ đó ông được mệnh danh là “vua sơn mài” Từ khi ông mất vẫn chưangười nào có thể thay thế vị trí của ông Hoạ sĩ Bùi Xuân Phái rất ngưỡng
Trang 18mộ tài năng và phẩm chất của người nghệ sĩ này và xem ông nh mét bậc đànanh đáng kính nấht trong làng hội hoạ Việt Nam Dưới đây là những tìmhiểu của cá nhân em thông qua những tài liệu sưu tầm được và thông quanhững tác phẩm bất hủ của Nguyễn Gia Trí, người nghệ sĩ tài đức được tônvinh là bậc đạo sư của tranh sơn mài - mét chất liệu mà em thích nhẩt tongquá trình học của mình.
Trang 19CHƯƠNG 2 : NGUYỄN GIA TRÍ BẬC THẦY CỦA TRANH SƠN
MÀI VIỆT NAM
1 Tiểu sử hoạ sĩ Nguyễn Gia Trí (1908-1993) :
Nguyễn Gia Trí ra đời trong mét làng quê vùng đá ong Bắc Bé (Làng
An Tràng, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Đông ) Giấy chứng minh nhân dâncủa ông ghi ông sinh ngày 6 tháng 10 năm 1912 , nhưng ông Trí cùng mọingười thân khẳng định ông sinh năm 1908 (kỷ dậu)
Không có tài liệu nói rõ thân thế của ông Sinh thời ông Trí chỉ kể với
vợ con: Cụ tổ Nguyễn Gia Phóc là người chuyên thêu y phục triểu đình, đếnđời ông thân sinh là Nguyễn Gia Cư vẫ còn làm công vịêc Êy Chỉ riêng mộtviệc ba anh em ruột: Anh trai Nguyễn Gia Tường là giáo sư nổi tiếng củatrường Collège Bưởi, em trai Nguyễn Gia Đức học Cao dẳng Mỹ thuậtngành kiến trúc (và sau này trở thành một kiến trúc sư hàng đầu) bản thânNguyễn Gia Trí học trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương ngành hội hoạ( theo hoạ sĩ Hoàng Tích Chù(1) thì hoạ sĩ Nguyễn Gia Trí học trườngCollège Bưởi rồi thi ngay vào trường Cao đẳng Mỹ thuật, theo lời của vợNguyễn Gia Trí thì bà có nghe chồng kể lại là đã theo học trường y một thờigian rồi mới bỏ đi học vẽ ), còng khiến người ta hình dung được môi trườngvăn hoá gia đình rất thuận lợi cho một người đi vào con đường nghệ thuật.Những bức tranh đầu tiên mang nhiều dấu ấn của chủ nghĩa hiện thực và
ấn tượng Châu Âu:
Trang 20 Hoàng hôn trên sông,
Phong cảnh Mãng Cái
Vào thập niên 40 thế kỉ 20, khi chuyển sang sáng tác chuyên về chất liệusơn m iài , đã tạo ra được một phong c¸ch riêng Chủ đề quen thuộc là nhữngthiếu nữ duyên dáng, nhàn tản trong khung cảnh thiên nhiên thơ mộng Vớichất son, sơn then, vàng, bạc, vỏ trứng, sơn cánh gián, Nguyễn Gia TrÝ đãtạo cho tranh sơn mài một vẻ đẹp lộng lẫy, một chiều sâu bÝ ẩn, đưa kĩthuật sơn mài lên đỉnh cao, khẳng định tầm quan trọng của chất liệu hội hoạnày trong nền mĩ thuật Việt Nam:
Đình làng vào đám (1939),
Thiếu nữ bên cây phù dung (1944)
Những năm 1960 ữ 1970, nghệ thuật của ông cã xu hướng thiên sangtrừu tượng Tuy vậy, cuối đời ông lại trở về với thế giới l·ng mạn đầy mộng
mơ của những năm 40: bức tranh Bắc, Trung, Nam.
Bức tranh Thiéu nữ trong vườn được trình bày như vườn hoa muôn
sắc màu, trong đã các co gái đang vui đùa, chạy nhảy, giá trị hiện thựctoát lên từ hình khối, động tác Sắc vàng kim được dát trên nền trời, trênnhững tấm áo điểm xuyết vỏ trứng, những vệt vàng lộng lẫy trên từngđường lượn như tôn vẻ đẹp thanh tao thiếu nữ Ở những tranh sơn mài cókích thước lớn, Nguyễn Gia Trí luôn mở rộng tầm nhìn thẩm mỹ, đặt cái
cổ kính bên cạnh cái tân kỳ, cái lộng lẫy sang trọng cạnh sự giản dị mộcmạc, ý tưởng hy vọng đặt bên cạnh sự hoài niệm Đã cũng là cách sử lý
khi thể hiện mặt bên kia của tấm bình phong mang tên Phong cảnh có
cách vẽ khoẻ khoắn, những mảng vỏ trứng, hình cây điển hình được viềnbằng những mảng mầu to rộng, nét chắc khoẻ gợi về sự gần gũi chốnquê của vùng n«ng th«n Bắc Bộ Việt Nam
Trang 21Nguyễn Gia TrÝ còng là một nhà biếm hoạ sắc sảo, bót danh Raitơ
(Right) với những tranh châm biếm chÝnh quyền thực dân Ph¸p và đám
quan lại phong kiến tay sai trên báophong hoá, báo Ng y nay ày nay ông là nhà đồhoạ nổi tiếng với những tranh khắc gỗ màu mang đậm màu sắc d©n gian:
Ai mua rươi ra mua,
Kẻ khã không lo ba ngày tết
và những minh hoạ sách báo phãng khoáng đầy chất hiện thực
Họa sĩ Nguyễn Gia TrÝ thường làm tranh không hết hợp đồng, hầu hếtkhách đặt tranh là những tỷ phó Nam Phi, Nam Mỹ Họ đến xin ông vẽnhững tranh khổ lớn và không yêu cầu về hình thức nghệ thuật, tùy ôngmuốn Tranh ông bán đo bằng ca-rê Ở Việt Nam các họa sĩ trong lịch sửHội họa hiện đại cã duy nhất danh họa Nguyễn Gia TrÝ bán tranh tÝnhbằng ca-rê và luôn phải từ chối đơn đặt hàng của khách
Họa sĩ lóc sinh thời đã cã nguyện vọng giữ lại ba bức tranh : "để cho thế
hệ mai sau nghiên cứu" Đó là 3 bức tranh sơn mài khổ lớn lưu tại Thư việnquốc gia TP Hồ ChÝ Minh mà vợ Ng« Đ×nh Nhu mua định tặng NhậtHoàng, nhưng ông yêu cầu phải để lại trong nước Những năm 70 của thế kỷ
20, tài chÝnh của Nguyễn Gia TrÝ tới hàng nghìn cây vàng Nhưng đến khinhắm mắt ,xuôi tay, ngoài vài tấm tranh, tài sản của ông chẳng cã gì đáng
kể, tất cả đã được họa sĩ dành cho nghệ thuật!
Các tác phẩm của họa sĩ Nguyễn Gia TrÝ đã được chỉ định là Bảo vậtQuốc Gia Vì thế, những tác phẩm của ông đã không được phÐp rời khỏiViệt Nam
Danh hoạ Nguyễn Gia Trí từ tràn lúc 22 giê 30 phót, ngày 20/6/1993 tạiSài Gòn Gia đình cùng những người bạn thân thiết tiến hành khâm liệm tiếnđưa ông về nơi an nghỉ cuối cung ngày 21/3/1993 Ông đã để lại một khotàng những tác phẩm cùng những giá trị của nó, một đời tìm tòi sáng tạo để
Trang 22đua sơn mài Việt Nam lên được địa vị một chất liệu hiện đại, với những kiệttác hoà quyện cái cổ truyền và cái thời đại làm một, với nhân cách và bảnlĩnh sống thật cao thượng đến tận giê phót cuối cùng Nguyễn Gia Trí xứngđáng là bậc thầy của tất cả những ai coi nghệt huật là “thiêng liêng”, củanhững ai muốn tìm ra hướng đi riêng cho văn hoá Việt giũa thời giao lưutoàn cầu này.
2 Quan điểm sống, sáng tác nghệ thuật và một số ghi chép của ông
về nghệ thuật.
2.1 Quan điểm sống và sáng tác nghệ thuật.
Nguyễn Gia Trí nhỏ nhắn, gương mặt không có gì đặc biệt so với các trí
thức nghiêm túc “thời Tây”, nhất là với cặp kính cận to đeo thường trực.Một nét ai cũng thường thấy ở ông đó là lặng lẽ, Ýt giao du, Ýt nói, nhưnglại là một người rất hóm hỉnh Một người Pháp kể : Khi tiếp khách đến thămđến thăm xưởng, ông có kiểu “làm dáng” là tự làm người ta quên mình đI,nếu có ai đề cập quá thẳng đến tài nghệ của ông ông chỉ nói “Sơn mài đẹpquá” như thể mình chẳng có vai trò gì trong đó Hoạ sĩ Hoàng Tích Chù kểkhi báo chí hỏi vì sao đi vào hội hoạ, Nguyễn Gia trí trả lời “ Nghịch màvẽ”
Đời ông hầu như chỉ có một đam mê duy nhất là ở bên những tấm vócsơn mài Nhà văn Kim Lân nhớ hình ảnh hoạ sĩ Nguyễn Gia Trí ngồi xụpxuống đất mài tranh trong xưởng vẽ
Vợ hoạ sĩ cho biết lịch sinh hoạt hằng ngày của ông hầu như là bất di bấtdịch 5 giê sáng ông dậy và sang xưởng vẽ sắp xếp công việc cho thợ, 7 giê
về ăn sáng rồi lại sang xưởng vẽ đến 11 giê 30 về ăn cơm, không ngủ trưa,đến 1 giê lại sang xưởng, 6,7 giê tối lại về ăn cơm nghỉ một chút rồi lại sangxưởng làm việc đến khuya, thường tới 1,2 giê sáng Sau này ông nói với hoạ
sĩ Nguyễn Xuân Việt “sơn mài khác sơn dầu ở công hạnh”, “vẽ sơn mài có
Trang 23lúc giống như thợ méc, nông dân đI cầy” Mời Nguyễn Gia Trí đI chơI rấtkhó bao giê ông cũng nói “ để tôi trông nhà cho”.
Cũng bởi thế Nguyễn Gia Trí sống giản dị Tiền ông làm ra không Ýt,nhưng ngoài việc đầu tư cho sơn mài, hầu như ông không có nhu cầu gì lớn.Trong xưởng vẽ trước kia ở làng Thịnh Hào, đồ đạc của ông chỉ có mộtchiếc giường cá nhân và một ngăn sách Giới hoạ sĩ lúc đó thường đuà nhaurằng “ Trí làm ra tiền cho Tứ tiêu”(nhà văn Đoàn Phú Tứ- bạn thân củaông) Sau năm 1954 thì mọi việc tài chính đều d vợ ông quán xuyến, ông chỉchuyên tâm vẽ Căn nhà của ông ở đường Ngô Đình KhôI (nay là NguyễnVăn Trỗi) chia làm hai một bên để ở một bên là xưởng Nhà cũng nhưxưởng của ông rất tuyềnh toàng, mấy chục năm dường như không sử chữa
gì Căn nhà xưởng nát, mái trổ vài viên kính để lấy thêm ánh sáng trời, vàcũng như ở Thịnh Hào xưa có một chiếc thang đôi để ông nhìn toàn cảnhnhững bức tranh lớn Ông gắn bó với ngôi nhà giản dị đến nỗi sau khi bánđược bức tranh “ Vườn xuân trung nam bắc”, trong lúc đi bệnh viện, conông xây lại nhà mới, khi đón ông về, đến trước cửa nhà ông không chịu vào
và kêu lên “ đay không phảI nhà tôi” Khi biết nhà được xây lại ông bảo “thế này thì bạn bè làm sao biết nhà tôI mà đến chơi”
Nguyễn Gia Trí cho rằng nghệ thuật gắn liền vơi “tâm” và “đạo”, hộihọa gần với tôn giáo vì nó xuất phát từ tâm người ta”…Một tháng trước khiqua đời hoạ sĩ Nguyễn Xuân Việt có tới thăm ông, lúc nà ông không nóiđược nữa chỉ ra dấu bịt chặt hai mắt, hai tai, miệng, rồi chỉ vào giữa trán Đóchính là “con mắt thứ ba”, “con mắt trí tuệ”, con đưdờng duy nhất dẫn tớichân lý sự sống cũng như chân lý nghệ thuật
Một đời tìm tòi sáng tạo để đưa sơn mài Việt Nam lên được địa vị mộtchất liệu hội hoạ hiện đại, với những kiệt tác hoà quyện với cái cổ truyền vàcáI thời đại làm một, với nhân cách và bản lĩnh sống thật cao thượng đến tận
Trang 24giê phót cuối cùng Nguyễn Gia Trí xứng đáng là bậc đạo sư với tất cảnhững ai coi sơn mài là thiêng liêng, của những ai muốn thành tâm tìm rahướng đi riêng cho văn hoá Việt Nam giữa thời giáo lưu yòan cầu này.
2.2 Một sè ghi chép của ông về nghệ thuật.
19/09/1979
Công của nghệ sĩ là rửa mắt cho công chúng Cho công chúng nhìn rõhơn sáng hơn và mới hơn Một quan niệm, một đầu óc quá cổ điển không cólợi cho sáng tác
Nghệ sĩ dùng quy luật nhỏ của mình để mò mẫm tìm ra quy luật lớn.Với chất liệu sơn mài hay chất liệu khác cũng vậy, không được bắt nóphảI theo mình Mà phải tôn trọng chất liệu Hiểu nó va nươngt heo nó màđiều khiển
Trên một tấm vóc, một tấm toan, hay là một tờ giấy nghệ sĩ được tự dotuyệt đối Không có quy tắc luật lệ nào cả Mất tự do vì nghệ sĩ tự trãi mìnhbằng những thành kiến quy tắc nào đấy
Hội hoạ là nghệ thuật tạo hình Cái gốc của nó là tạo hình Hình rất đadạng, một chấm cũng là hình Một nét, một phẩy cũng là hình Mầu sắc vàhình không nhất thiết phải gắn với nhau
Chữ Hán là một dạng tranh trừu tượng Từ cái nhìn gần với thực tế nóđược tinh giản thành những tín hiệu
Tôi đã đọ bản dịc thơ Tô Đông Pha, đại ý không muốn vẽ cỏ cây, hoa láhoặc người vì những cái cụ thể như thế trãi buộc cảm xúc của ông Nhưngtìm bản chữ Hán để đọc thì không thấy
Trang 25Làm nghệ thuật điều chính yếu nhất là thành thật Cái hại nhất là giả vớichính mình Phải làm việc nghiêm túc, có khi khắc nghiệt với chính mình.Làm hằng trăm cái hang để lấy nửa cái được hoặc một cái được Người nghệ
sĩ không bao giê thoả mãn với chính mình
Chất liệu chiếm một nửa người nghệ sĩ Phải yêu chất liệu, yêu như vợmình thì mới có con là tác phẩm Mỗi chất liệu có đặc điểm riêng, phải nắmđược tính chất tiêng của nó mà phát triển.Ví dụ độ dầy mỏng trong sơndầu.Sơn mài thì lại yều cầu độ phẳng Độ bằng, phẳng hoặc là bất kì cáchnào miễn là đạt hiệu quả nghệ thuật Khi có điều gì chưa đạt người vẽ áynáy và tìm cách khắc phục cho đến khi thoả mãn, hoặc thoả mãn với bứctranh Êy Với nghệ sĩ tác phẩm đi qua và năng lực sáng tạo còn lại
Vì hoạ sĩ muốn biết và thấy tâm trạng mình nên mới tìm tòi và làm việc
Vì không biết nên mới vẽ
Đối với hội hoạ trừu tượng cũng không nên phân biệt với các trườngphái khác Nó cũng chỉ là phương tiện để hoạ sĩ tìm ra cái thật Trừu tượngkhó vì hoạ sĩ không có chỗ dùa vào mẫu thực, từng chấm từng nét trongtranh cũng có cái hình riêng và là một với toàn thể tranh.Chi tiết cũng nhưnhững giọt sương, nhưng mỗi giọt sương cũng đều soi ánh mặt trời, mọi chitiết trong tranh cũng đều chịu chung một sự kiểm soát ngang nhau
Pollock vẽ trừu tượng là ông ta “lên đông” nhập thể, tự mình là mét vớibức tranh Mọi cảm xúc, cuộc sống đều hiện lên đấy
Sù sai lầm cũng như sự thành công, có giá trị ngang nhau, vì nó đều cócông dụng thúc đẩy người nghệ sĩ đi tới
Tất cả vẫn tự nhiên Khi vẽ tranh để diễn tả ý nào đấy, thì đã là minhhoạ Mức cao hơn là biết chú đến bố cụ đến bót pháp…