1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SKKN Hướng dẫn học sinh viết phần kết trong bài văn nghị luận

13 1,6K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 108 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Môn Văn trong nhà trờng tựu chung lại nhằm vào hai nhiệm vụ cụ thể sau đây: Thứ nhất là trang bị cho học sinh những tri thức để hiểu đợc, hiểu đúng các vấn đề văn học bao gồm: tác giả, t

Trang 1

HƯớNG DẫN HọC SINH VIếT PHầN KếT BàI TRONG VĂN NGHị LUậN

A Đặt vấn đề.

I Lời mở đầu:

Trong chơng trình THPT môn Ngữ Văn đợc xem là một trong những bộ môn chính, có vai trò quan trọng đối với cung cấp tri thức và hình thành nhân cách cho học sinh Môn Văn trong nhà trờng tựu chung lại nhằm vào hai nhiệm vụ cụ thể sau đây:

Thứ nhất là trang bị cho học sinh những tri thức để hiểu đợc, hiểu đúng các vấn đề văn học bao gồm: tác giả, tác phẩm, giai đoạn văn học, thời kì văn học, các quá trình văn học.v.v Có nghĩa là góp phần tạo cho học sinh khả năng khám phá vẻ đẹp của các tác phẩm văn học trong việc tiếp nhận, cũng nh năng lực biết đánh giá một cách đúng đắn, khoa học các vấn đề văn học đồng thời bớc đầu nhận thức đợc qui luật vận động của văn học trong lịch sử

Song song với nhiệm vụ trên là quá trình giúp học sinh hình thành và phát triển khả năng tạo lập văn bản (nói và viết ) Làm văn là phân môn hớng tới nhiệm vụ thứ hai này Nó giúp học sinh hình thành những kĩ năng cần thiết để làm đợc bài văn Vì thế có thể nói Ngữ Văn nói chung và Làm văn nói riêng là một phân môn rất quan trọng trong nhà trờng THPT Bởi vì phân môn Làm văn là hình thức, là cơ sở chính yếu ( nếu không muốn nói là duy nhất) để đánh giá năng lực học văn của học sinh trong nhà trờng phổ thông Kiểm tra thi cử bằng một bài văn, mục đích chính là kiểm tra tri thức, năng lực của học sinh về việc học văn ( bao gồm: kiến thức văn học sử, lí luận văn học, tác phẩm văn học và những tri thức về ngôn ngữ tiếng Việt trong việc trình bày một văn bản) Hiện nay lòng yêu thích văn học nói chung và khả năng viết một bài làm văn nói riêng ở mỗi học sinh đã suy giảm rõ rệt và kém chất lợng Chất lợng môn Làm văn ở tr-ờng THPT nói chung còn cha cao Bởi làm văn là một phân môn khó,đặc biệt là khâu chuyển hoá lí thuyết sang thực hành Đặc trng của môn này là yêu cầu học sinh vận dụng những vốn kiến thức đã học ở phân môn đọc văn và tiếng Việt vào việc làm văn Bên cạnh đó, còn tồn tại tình trạng một số giáo viên chỉ chú trọng đến giờ đọc văn mà xem nhẹ giờ làm văn hoặc chỉ dạy một cách chiếu lệ, hời hợt Cha có ý thức rèn luyện cho học sinh kĩ năng làm văn để các em có thể vận dụng tốt vào việc tạo lập văn bản

Trong thực tế, tri thức và kĩ năng – hay nói chính xác hơn là lí thuyết và thực hành ở học sinh THPT nói chung và THPT Tô Hiến Thành nói riêng còn rất nhiều điều phải quan tâm Sự nhận thức và kĩ năng thực hành ở học sinh nhìn từ góc độ khách quan

và đánh giá một cách công bằng thì có thể nói là rất hạn chế, Tình trạng này diễn ra ở tất cả các môn học trong trờng Khả năng nắm bắt tri thức đã chậm, khả năng thực hành còn kém hơn Đặc biệt là đối với bộ môn Ngữ văn

Trang 2

Trớc một đề văn, học sinh thờng tỏ ra lúng túng ngay ở khâu tìm hiểu đề, xác định yêu cầu đề ra cho đến công đoạn vận dụng kiến thức văn chơng, lịch sử, xã hội….và.và năng lực t duy ngôn ngữ để triển khai, lập dàn ý, viết bài Hơn nữa, học sinh còn mò mẫm trong khâu tạo lập một văn bản hoàn chỉnh Nhiều bài viết của học sinh còn bộc lộ tình trạng làm bài mà không hề có ý thức về việc vận dụng kiến thức mà phần lí thuyết phân môn làm văn đã cung cấp, bỏ qua công đoạn phân tích đề, tìm hiểu đề, tìm ý và lập dàn ý Học sinh thờng có thói quen cẩu thả, cứ đề ra là bắt tay vào viết ngay: nghĩ sao viết vậy, lắp ghép câu chữ tuỳ ý, quẩn ý không lối thoát, khi nào không nghĩ đợc gì nữa thì kết bài Đó là những bài văn lạc đề, xa đề, không có kết cấu bố cục rõ ràng, mạch lạc Bởi thế hậu quả chính là những bài văn không đầu không kết thúc, câu văn tối nghĩa, từ ngữ thiếu chính xác, sai chính tả trầm trọng,trình bày quá cẩu thả dẫn đến điểm kém, chất lợng môn văn thấp và đó chính là những nguyên nhân chủ yếu làm giảm vơi đi lòng yêu thích học văn của học sinh

Khâu đầu tiên để tạo lập một văn bản hoàn chỉnh, tạo sự hấp dẫn cho bài viết đối với ngời đọc chính là việc tạo lập một đoạn văn mở bài cho bài làm văn Tuy nhiên để thông báo việc tạo lập văn bản đã hoàn tất và có khả năng đạt điểm tối đa, đồng thời

đánh giá đúng năng lực tiếp thu lí thuyết vận dụng vào trong việc thực hành thì khâu không kém phần quan trọng là khâu viết phần kết bài Nhng trong thực tế đối với việc viết phần kết bài không ít học sinh còn cảm thấy lúng túng và khó khăn, mất không ít thời gian cho việc này Từ thực tế trên tôi xin mạnh dạn đề xuất một vài kinh nghiệm của

cá nhân qua đề tài H“ H ớng dẫn học sinh viết phần kết bài trong văn nghị luận- môn Ngữ văn lớp 12

II Thực trạng của vấn đề.

Việc dạy văn và học văn hiện nay ở cấp THPT nói chung và trờng THPT Tô Hiến Thành nói riêng còn gặp rất nhiều khó khăn

Khó khăn thứ nhất phải kể đến đó là ý thức của học sinh Có một tình trạng chung

là ngày nay học sinh không còn thích học văn nữa, đây không chỉ là vấn đề riêng của tr -ờng THPT Tô Hiến Thành mà còn là vấn đề chung của bộ môn văn hiện nay trong các trờng THPT Có thể có nhiều lí do khiến học sinh không thích học văn nh :học văn khó, mất thời gian, giáo viên dạy thiếu hấp dẫn, và ít ngành nghề liên quan đến môn văn v.v….và, đặc biệt trong khoảng vài năm trở lại đây không chỉ mình học sinh mà cả phụ huynh của các em cũng quay lng lại với môn học khá quan trọng này Vì vậy để làm chuyển biến đợc ý thức của học sinh và phụ huynh về giá trị của môn văn và việc học văn rõ ràng không phải là điều có thể làm trong ngày một, ngày hai

Khó khăn thứ hai là từ ý thức dẫn đến thực trạng học sinh học văn Việc học lí

Trang 3

là: các em hổng kiến thức, thiếu hụt về kĩ năng, ngoài ra học sinh còn mắc rất nhiều lỗi

nh hành văn, diễn đạt,dùng từ, đặt câu, trình bày , cách t duy còn thiếu khoa học, thiếu trong sáng và thiếu chặt chẽ, còn lúng túng khi sắp xếp các ý và diễn đạt ý kiến của mình Thậm chí có những học sinh còn mơ hồ khi gặp đề văn và làm bài còn lạc đề, xa

đề, không quan tâm đến yêu cầu của đề….và

Hiện nay rất nhiều học sinh không nắm đợc cách thức kết bài trong một bài văn

nghị luận Khi bắt gặp bất kì một đề văn nào, các em cũng rất lúng túng và tiến hành làm bài một cách mò mẫm, nghĩ sao viết vậy, không theo một trình tự hoặc không theo các

b-ớc mà thầy, cô đã hớng dẫn Điều này dẫn đến tình trạng “ Hlí thuyết không thuộc, thực hành không thông”

Vì những lẽ trên, không thiếu những bài văn, đoạn văn của học sinh trong các kì kiểm tra, thi học kì, thi tốt nghiệp….và khiến cho các thầy cô giáo, ban giám khảo phải cời

ra nớc mắt Sau đây là một số đoạn văn của một học sinh lớp 12 - trờng THPT Tô Hiến Thành:

Đề ra:

(1) Tuổi trẻ học đờng suy nghĩ và hành động để góp phần giảm thiểu tai nạn giao thông Bài làm của học sinh có đoạn: “ HCách đây vài chục năm cha ông ta đã phải đứng lên đánh

đuổi kẻ thù xâm lợc để giành lại nền độc lập Và cũng không ít ngời đã ngã xuống vì nền

tự do độc lập ấy Và ngày nay mọi ngời, mọi tầng lớp, nhất là học sinh, sinh viên chúng

ta phải tự giác đứng lên đấu tranh chống tai nạn giao thông.”

(2) Anh (chị ) hãy trình bày cảm nhận của mình về đoạn thơ sau;

“ H….vàTa về mình có nhớ ta

Ta về ta nhớ những hoa cùng ngời

Rừng xanh hoa chuối đỏ tơi

Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lng

….và….và….và….và….và….và

….và….và….và….và….và….và

Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung….và”

(Trích “ HViệt Bắc” của Tố Hữu)

Bài làm của học sinh có đoạn: “ H Đoạn thơ cũng làm cho ta liên tởng đến hai câu thơ trong Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du với hai thời đại khác nhau mà họ lại có cùng một ý nghĩ:

“ HSen tàn cúc lại nở hoa

Sầu dài ngày ngắn, đông đà sang xuân”

Dới đây là những phần kết bài của một vài học sinh khối 12 của trờng THPT Tô Hiến Thành

Trang 4

Đề bài nh sau: Phân tích diễn biến tâm lí của Mị trong đêm tình mùa xuân ( trích “ HVợ

chồng A Phủ” của nhà văn Tô Hoài

Một học sinh nam của lớp 12 đã viết phần kết bài trong bài làm của mình nh sau:

“ HTác giả đi sâu vào tâm lí nhân vật một cách thực tế với hình tợng nhân vật đã đợc tác giả khắc hoạ thành công với cách vận dụng đi từ bóng tối ra ánh sáng vẻ đẹp rực rỡ thu hút mạnh mẽ của nhân vật đối với ngời đọc xa nay chính là ở phẩm chất cao quý, đặc biệt là sức sống tiềm tàng “ HVợ chồng A Phủ” với mỗi độc giả chúng ta ai cũng nhớ cũng thơng.” (trích nguyên văn bài viết của học sinh, kể cả dấu câu)

Một bài viết khác Đề bài yêu cầu : Nhà thơ A.M Saadi(ngời Bat) viết:

Anh gặp ai dù ngời tốt hay tồi

Đừng bao giờ nói xấu, hãy nghe tôi

Vì nói xấu ngời ngay là tội lỗi

Với ngời gian thành kẻ gian gấp bội

Một khi anh nói xấu láng giềng mình

Thì dù đúng vẫn là điều đáng khinh

Suy nghĩ của anh(chị) về bài học đạo đức đợc rút ra từ bài thơ

Học sinh đã viết kết bài nh sau: “ HNh vậy nói xấu ngời khác là một tật xấu trong xã hội Mỗi chúng ta ai cũng nên tránh và hạn chế tới mức tối đa vì nói xấu ngời khác tức

là mình đã tự lừa dối mình, những lời nói xấu kia khiến mình trở nên ngời có tội, nó khiến mình thành kẻ gian và biến mình thành ngời đáng khinh Dù lời nói xấu đó tốt cho một số ngời thì cũng không nên vì cha chắc ngời đó đã hiểu lời của mình Không có lời nói xấu xã hội sẽ ổn định.”

Trên đây chỉ là vài trong số rất nhiều ví dụ thực tế trong việc viết văn của học sinh tr-ờng THPT Tô Hiến Thành Đó là những bài văn, đoạn văn cho thấy rõ kiến thức văn học và kĩ năng làm văn của học sinh còn rất kém Học sinh không chỉ mắc rất nhiều lỗi trong cách diễn đạt, dùng từ, đặt câu, sử dụng dấu câu sao cho thích hợp mà còn không

hề nắm đợc yêu cầu và nguyên tắc của việc viết phần kết bài trong một bài làm văn cụ thể Vậy làm thế nào để học sinh nói chung, đặc biệt là học sinh trong trờng trung học phổ thông nói riêng có những bài văn nghị luận với hành văn trong sáng, diễn đạt trôi chảy, bố cục rõ ràng, mạch lạc, cách lập luận chặt chẽ, lôgic, sử dụng dấu câu thích hợp ? Đó là một câu hỏi của rất nhiều giáo viên dạy bộ môn văn Để điều đó trở thành hiện thực đòi hỏi ngời giáo viên phải tốn nhiều thời gian, công sức để tìm những phơng pháp giảng dạy phù hợp với năng lực từng đối tợng học sinh

Một nhà phê bình văn học có uy tín nói rằng : giải một bài toán, tìm đợc đáp số là xong, nhng làm một bài văn, tìm đợc “ H đáp số ” công việc xem nh mới đợc một nửa Bài

Trang 5

văn hay là bài văn biết diễn đạt đợc tốt “ H đáp số” ( nhận thức và cảm thụ chính xác chân

lí văn học) thì kết quả vẫn chỉ là một cái gì còn ẩn kín trong đầu ngời viết mà thôi

Đọc một bài thơ, một đoạn văn, một cuốn sách nhiều khi ai cũng nói thấy hay Nhng hay chỗ nào? vì sao lại hay nh thế? Nói cho ra nhẽ đã khó, đặt bút xuống viết, diễn tả cho hết cảm nghĩ của mình để ngời đọc cũng thấy hay thật xem chừng còn khó hơn nữa Trong quá trình làm văn chắc chắn có rất nhiều học sinh gặp phải trờng hợp này: ý

đã có rồi, đã nghĩ đợc rồi mà văn cứ tắc lại Nhiều khi cố viết cũng đợc nhng đọc lại thấy

ý rời rạc, lời nhạt nhẽo Phần mở bài đã khó, thân bài thờng rất vất vả trong việc xác định các luận điểm, thì phần kết bài cũng không hề dễ với bất kì học sinh nào Đôi khi còn có rất nhiều học sinh do không nắm đợc vai trò của phần này nên đã tỏ ra xem thờng nó, không cần đầu t thời gian, tri thức vào việc học lí thuyết và thực hành phần này Dẫn đến một thực tế: Có những bài văn viết khá tốt hai phần đầu nhng đến phần cuối của bài viết lại bộc lộ những mặt hạn chế rất đáng tiếc Nếu coi phần mở bài là một lời giới thiệu hấp dẫn, thì phần kết bài phải là những lời tổng kết có sức nặng với một mong muốn lần gặp sau ngời ta vẫn còn những ấn tợng tốt về việc đã làm trớc đó

Qua thực tế giảng dạy tôi đã rút ra đợc một số phơng pháp giúp học sinh làm tốt (đối với học sinh có học lực khá, giỏi), làm đúng (đối với học sinh có học lực yếu, trung bình) một bài văn nghị luận Do điều kiện khách quan, phạm vi của một bài sáng kiến

kinh nghiệm nên tôi chỉ chọn một phần của bài văn nghị luận làm đề tài nghiên cứu: H-ớng dẫn học sinh cách viết kết bài trong văn nghị luận - đây là phần phụ trong bài văn

nhng đó cũng là linh hồn của toàn bài và đây cũng là phần mà rất nhiều học sinh, lơ là, xem nhẹ, hay gặp khó khăn, lúng túng khi viết bài

B giải quyết vấn đề.

I Các giải pháp thực hiện:

1 Nâng cao ý thức học Văn nói chung và học làm văn nói riêng:

Trong xu thế ngày nay có rất nhiều ngời quay lng lại với môn Văn Theo điều tra của ngành giáo dục, trong 400 phiếu điều tra đợc viết ra với câu hỏi “ H Thái độ của học sinh đối với môn Văn hiện nay nh thế nào?” Số học sinh trả lời “ Hrất thích” môn học chiếm 14%, “ Hthích” chiếm 23%, “ Hbình thờng” 45%, “ Hthờ ơ” 22% “ Hghét” 14% Trớc thực trạng đó thì việc để học sinh nhìn nhận lại vai trò của bộ môn này là một việc vô cùng quan trọng Mac- xim Gorki từng nói “ HVăn học là nhân học”., tức học văn là học cách làm ngời, không những thế, môn văn còn có một tác dụng đặc biệt làm cho tâm hồn con ngời thêm phong phú, trong sáng, mở rộng tầm mắt, tạo điều kiện cho trí tởng tợng thêm bay bổng, khiến con ngời có khát vọng hơn để vơn tới cái đẹp đẽ, cao thợng Do đó nếu thiếu môn văn thì cuộc sống tinh thần của mỗi ngời sẽ khó tránh khỏi sự tẻ nhạt, cỗi cằn

Trang 6

Hơn nữa, môn Văn còn góp phần cung cấp cho học sinh công cụ hết sức quan trọng và cách thức để t duy Qua mỗi giờ Văn, dù là văn học nớc ngoài hay văn học trong nớc, giờ làm văn vốn từ vựng của học sinh ngày càng thêm giàu có, và cách sử dụng cũng hiệu quả hơn Vốn từ vựng càng dồi dào phong phú, cách sử dụng càng linh hoạt khoa học thì năng lực t duy càng sắc bén Làm bất kể nghề gì cũng cần phải t duy Trong thời đại ngày nay, việc “ H đổi mới t duy”., “ H nâng cao chất lợng t duy” đã luôn đợc đặt ra một cách cấp thiết Vì thế môn Văn càng cần cho mọi ngời Không phải ngẫu nhiên mà môn học này từ lâu đã đợc coi là một trong hai môn công cụ và chiếm số tiết vào loại nhiều nhất trong nhà trờng phổ thông

Đặc biệt hơn trong chơng trình SGK mới, loại văn bản nhật dụng đợc đa vào nhiều

và yêu cầu học sinh chú trọng, để ít nhất sau khi tốt nghiệp THPT, học sinh sẽ tự tạo lập

đợc những văn bản khi công việc yêu cầu Vì vậy việc nâng cao kĩ năng làm văn cho học sinh càng cần đợc coi trọng Đối với mỗi giáo viên ngoài việc dạy theo chơng trình qui

định , mỗi chúng ta còn có trách nhiệm khơi dậy lòng yêu học văn ở học sinh và rèn luyện cho các em kĩ năng thực hành viết văn một cách thành thạo Đó là lơng tâm nghề nghiệp cần có ở mỗi ngời thầy

2 Giúp học sinh nắm kiến thức về việc viết kết bài.

a Vai trò của kết bài

Vai trò của phần kết bài không phải bất cứ một học sinh nào cũng nắm vững, rất ít học sinh nắm đợc rằng bản chất của phần kết bài là: Thông báo việc trình bày vấn đề đã hoàn thành, nêu đánh giá khái quát và gợi những liên tởng rộng hơn, sâu sắc hơn Rất nhiều học sinh mơ hồ với phần này, một số thì cho rằng đây chỉ đơn thuần là việc tóm tắt lại toàn bộ những nội dung đã trình bày trên phần thân bài; một số khác lại cho rằng phần này nên đa ra những đánh giá khái quát và bộc lộ cảm xúc của ngời viết về khía cạnh nổi bật nhất của vấn đề Thậm chí có những học sinh còn nhận định rằng kết bài chỉ

là tóm tắt lại toàn bộ nội dung đã trình bày và bộc lộ cảm xúc của ngời viết Vì thế cho nên, trách nhiệm của mỗi một thầy cô giáo dạy văn là phải hớng học sinh nắm vững đợc vai trò lẫn cách thức của việc viết phần kết bài trong bài làm văn nghị luận

b Hình thức của một kết bài

Hình thức của kết bài cũng đợc xem là một đoạn văn hoàn chỉnh ( đoạn kết bài) Đoạn văn ấy cũng có ba phần: mở đầu đoạn, phần giữa đoạn và phần kết đoạn

+ Mở đầu đoạn: Viết những câu tóm lại , hoặc những câu khẳng định, những câu nhận định Những câu nh thế nhất thiết phải có phơng tiện liên kết với phần thân bài trớc

đó Cụ thể sẽ là những từ, cụm từ, câu văn có khả năng liên kết Ví dụ: Đến đây có thể khẳng định, nh vậy có thể nhận thấy, nh đã đề cập trên kia, tóm lại….và

Trang 7

+ Phần giữa đoạn: Khái quát lại vấn đề đã nghị luận,đa ra những lời nhận xét,

đánh giá của ngời viết về điều đã bàn ở thân bài Tuỳ thuộc vào từng kiểu bài mà có cách viết cho phù hợp Với kiểu bài nghị luận về một t tởng, đạo lí thì phần này là lời nhận

định tính đúng đắn của t tởng, đạo lí đợc bàn Với kiểu bài nghị luận về một hiện tợng

đời sống thì phần này sẽ là lời đánh giá, nhận xét về hiện tơng vừa đợc bàn luận Với kiểu bài nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ thì ở đây phải là những lời đánh giá về nội dung, t tởng cũng nh nghệ thuật thể hiện của tác giả bài thơ đó Với kiểu bài nghị luận về một ý kiến bàn về văn học thì ở đây, ngời viết phải đánh giá về việc đúng hoặc sai của ý kiến Và cuối cùng là kiểu bài nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi, phần giữa đoạn kết bài sẽ là những tổng kết, đánh giá về nội dung, nghệ thuật của vấn đề đợc

đa ra nghị luận

+ Phần kết đoạn: viết câu kết Đó có thể là sự mở rộng liên hệ, một lời khen, một lời cám ơn, kể cả là một câu hỏi

c Yêu cầu của một kết bài

Một kết bài hay cần phải:

- Ngắn gọn

- Đầy đủ các ý cần khép lại

- Độc đáo, làm thế nào đó mà ngời đọc sẽ còn nhớ mãi về những ấn tợng tốt đẹp trong phần kết bài của mình

- Tự nhiên: viết văn nói chung cần sự giản dị, tự nhiên Kết bài và nhất là câu cuối phải tạo đợc cảm xúc ngân nga nh khi đợc nghe xong những giai điệu cuối cùng của một bản nhạc hay Vì thế kết bài cần độc đáo, khác lạ nhng phải tự nhiên Tránh làm văn một cách vụng về, gợng ép gây cảm giác khó chịu bởi sự khiên cỡng, máy móc

d Các cách kết bài thờng gặp

Trên thực tế nghiên cứu các tài liệu hớng dẫn học tập, chúng ta nhận thấy có rất nhiều cách viết phần kết bài Chúng ta có thể hớng dẫn học sinh thực hành theo bốn cách sau:

Thứ nhất: kết bài theo lối tóm lợc (tóm tắt quan điểm, nội dung đã nêu ở thân bài) Thứ hai: phát triển (mở rộng thêm vấn đề đặt ra trong đề bài)

Thứ ba: Vận dụng (nêu phơng hớng bài học áp dụng phát huy hay khắc phục vấn đề đã nêu trong bài văn)

Thứ t: liên tởng (mợn ý kiến tơng tự – những ý kiến có uy tín - để thay cho lời tóm tắt của toàn bài)

Ngoài ra còn có các cách kết bài dành cho đối tợng học sinh khá giỏi

Cách 1: Kết theo lối “ Hđiểm nhãn”

Cách 2: Kết bài theo lối bình luận mở rộng và nâng cao

Trang 8

Cách 3: Kết bài theo lối “ Hđầu cuối tơng ứng”.- Kết bài ứng với mở bài

Cách 4: Kết bài mà nh không kết

Trên đây là những kiến thức cơ bản về kết bài trong văn nghị luận Rất cần thiết cho việc thực hành làm văn của học sinh nên để có thể thực hành tốt thì yêu cầu mỗi học sinh phải nắm vững những lí thuyết này

3 Hớng dẫn học sinh thực hành viết kết bài.

Nh đã trình bày ở trên, ở mục này tôi xin cụ thể hoá cách viết kết bài cho văn nghị luận nh sau:

* Với đối tợng học sinh có lực học trung bình, yếu chúng ta có thể hớng dẫn học sinh thực hành theo bốn cách đã nêu ở trên Đối chiếu các cách kết bài này với các kiểu văn bản mà học sinh khối 12 đợc học trong chơng trình, tôi đã hớng các em vận dụng viết kết bài phù hợp với từng kiểu loại văn bản nh sau:

+ Cách kết bài theo lối tóm lợc phù hợp với kiểu bài nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ,

kể cả kiểu bài nghị luận về một tác phẩm hoặc đoạn trích văn xuôi ( thờng là cảm nhận

về một nhân vật văn học, khám phá một khía cạnh nội dung, hay nghệ thuật của một tác phẩm nào đó)

+ Cách kết bài theo lối phát triển phù hợp với kiểu bài nghị luận về một t tởng, đạo lí

Ví dụ: Đề bài:

+ Cách kết bài theo lối vận dụng có thể dùng riêng cho kiểu bài nghị luận về một hiện t -ợng đời sống và nghị luận về một t tởng, đạo lí

+ Cách kết bài liên tởng có thể dùng cho kiểu bài nghị luận về một ý kiến bàn về văn học

* Với đối tợng học sinh khá giỏi ngoài nhu cầu viết đợc kết bài đúng, các em còn có ham muốn viết đợc những kết bài hay Và để đáp ứng yêu cầu này tôi đã giới thiệu cho các

em một số cách viết sau, mỗi cách tôi xin đa kèm theo một ví dụ cụ thể để các em tham khảo, học tập

Cách 1: Kết theo lối “ Hđiểm nhãn” Ví dụ : Khi đề bài yêu cầu cảm nhận về một

đoạn thơ trong bài thơ Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng, phần kết bài có thể sẽ viết nh

sau để có thể đáp ứng đợc lối kết bài “ Hđiểm nhãn” : “ HTây Tiến của nhà thơ Quang Dũng

đợc xem nh là một giọt nớc trong biển cả, là một nét đơn sơ nhỏ bé trớc bao nhiêu thành tựu lớn lao của văn học thế giới và văn học nớc nhà Nhng dẫu hoà trong một biển, “ Hgiọt nớc” của nhà thơ Quang Dũng vẫn mặn mà nồng thắm, vẫn âm vang nhịp đập thuỷ triều,

mà đặc sắc hơn cả vẫn là đoan thơ viết về chân dung ngời lính Tây Tiến Đoạn thơ nói riêng và cả bài thơ nói chung nhắc nhở ta trong cuộc sống với muôn vàn đổi thay hiện nay hãy luôn nhớ về những gì mà ngời lính Tây Tiến nói riêng, ngời lính Việt Nam nói

Trang 9

chung đã làm để chúng ta có tự do ngày nay Và cũng nh nhà thơ Quang Dũng, hãy luôn nâng niu những kỉ niệm của một thời gắn bó.”

Cách 2: Kết bài theo lối bình luận mở rộng và nâng cao Ví dụ: khi viết kết bài cho

đề: suy nghĩ của anh(chị) về truyền thống “ Htôn s trọng đạo”., có thể vận dụng theo cách

đã nêu ra nh sau: “ HDân tộc Việt Nam từ xa cho đến nay vẫn luôn lu giữ những truyền thống đạo lí tốt đẹp Truyền thống tôn s trọng đạo không chỉ giúp cho chúng ta ý thức

đ-ợc những điều mình cần và nên làm mà nó vẫn luôn là bài học đạo đức cho các thế hệ sau trong quá trình học tập và tu dỡng đạo đức Và đây cũng là một nét đẹp trong văn hoá đạo đức của ngời Việt Nam đã khiến ngời nớc ngoài coi trọng.”

Cách 3: Kết bài theo lối “ Hđầu cuối tơng ứng”.- Kết bài ứng với mở bài Ví dụ khi viết kết bài cho đề tính hiện đại và truyền thống trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu Vận dụng theo cách đã nêu ra sẽ có kết quả nh sau: “ HThơ hay là thứ thơ làm cho ngời ta nghĩ

đến tình ngời, nghĩ đến sự sống….và Thơ nói riêng, cũng nh văn học nói chung cần thiết cho con ngời là vì vậy Do đó ngời đọc nói chung và bạn yêu thơ nói riêng làm sao có thể không nhớ không yêu bài thơ Việt Bắc.”

Cách 4: Kết bài mà nh không kết Đây có thể nói là một cách rất đặc biệt, nó chẳng giống với bất kì một cách nào mà các em đã từng biết Tôi xin phép đợc mợn lời của nhà

phê bình Quang Huy khi anh viết lời giới thiệu tập thơ Ma Thuận Thành của nhà thơ

Hoàng Cầm cho các em tham khảo: “ HXin có lời mừng ông nhân dịp đợc ra mắt một tập thơ mà ông khắc khoải chờ mong lâu đến thế này” Đọc câu kết đó chúng ta có thể nhận thấy nó hết sức đơn giản, và đặc biệt cũng khá dễ trong việc vận dụng nó vào bài viết của các em Một cách kết bài giản dị mà thấm thía

II Các biện pháp thực hiện.

1 Khơi dậy trong học sinh lòng yêu thích môn Ngữ Văn

Nh đã nói ở trên, để việc dạy và học văn thực sự có hiệu quả thì trớc hết phải biết cách khơi dậy lòng yêu thích văn học bằng chính sự nhiệt tình của mỗi giáo viên khi

đứng trên bục giảng

Song song với việc khơi dậy trong học sinh lòng yêu thích môn Ngữ Văn thì giáo viên nên qua những bài học cụ thể, chỉ ra giá trị giáo dục, giá trị nhận thức của từng tác phẩm Giúp học sinh nhận thức rõ tầm quan trọng của môn Văn nói chung và phân môn làm văn nói riêng Và làm sao đó để có thể chuyển hoá từ lòng yêu thích sang hành động

cụ thể đối với học sinh để những giờ dạy làm văn và viết văn không còn là nghĩa vụ hay

nh một việc làm bắt buộc mà nh là một nhu cầu đợc viết, đợc thể hiện sự hiểu biết, cảm thụ của mình về văn học cũng nh cuộc sống

Trang 10

Có thể tổ chức cho các em những buổi ngoại khoá về văn học dân gian, văn học trung đại, văn học cách mạng,….và tạo ra một sân chơi lành mạnh và bổ ích theo cách vừa vui – vừa học, tạo hứng thú cho các em với bộ môn Văn Tổ chức câu lạc bộ thơ văn, thi viết báo tờng, sáng tác thơ văn qua đó các em sẽ nhận ra vai trò của văn học và chắc chắn rằng tình cảm của các em với môn văn sẽ đợc cải thiện đáng kể

Điều quan trọng hơn nữa để có thể khơi dậy lòng yêu thích Văn học ở các em học sinh thì mỗi giáo viên giảng dạy bộ môn phải đem hết lòng nhiệt tình say mê của mình

để truyền thụ những cái hay, cái đẹp của tác phẩm văn chơng Không thể bắt học sinh yêu văn học còn bản thân giáo viên lại không có lòng nhiệt tình và yêu mến văn chơng Mỗi ngời cần phải nỗ lực, cố gắng không ngừng trong việc rèn luyện chuyên môn nghiệp

vụ để nâng cao tay nghề, hấp dẫn học sinh bằng những bài dạy của mình Đó là một cách tốt nhất để khơi dậy sự ham mê, học hỏi ở học sinh theo kiểu phản ứng dây chuyền

2 Giúp học sinh nắm chắc phần lí thuyết.

Để học sinh nắm vững lí thuyết làm văn đã trình bày ở trên, tôi dã tiến hành theo các cách sau:

+ Đầu tiên đa ra những ví dụ cụ thể về một kết bài hay, sau đó yêu cầu học sinh nhận xét chi tiết về kết bài đó về cách kết bài, hình thức, yêu cầu của một kết bài đã đạt

đợc hay cha.v.v Từ đó học sinh tự rút ra những kiến thức cần thiết của một kết bài đúng

và hay Vì những kiến thức này trong thực tế các em đã đợc học từ các lớp trớc, mục đích của tôi là giúp các em ôn tập và nắm vững lại kiến thức mà thôi

+ ở những buổi học sau cần phải liên tục kiểm tra lại kiến thức lí thuyết đã học bằng cách kiểm tra bài cũ Vì học sinh có “ Hbệnh” nhác học nên nếu không kiểm tra th-ờng xuyên thì lâu dần các em sẽ quên hết những cái đã học

+ Kiểm tra lí thuyết thông qua những bài viết thực hành cụ thể của học sinh Đây

là một cách đánh giá chính xác nhất khả năng năng nắm bắt kiến thức của các em, tránh tình trạng học vẹt lí thuyết Học phải luôn đi đôi với hành Nên tăng cờng các buổi luyện viết kết bài nói riêng và làm văn nói chung cho học sinh

+ Ra bài tập về nhà và kiểm tra việc làm bài tập của học sinh

3 Hớng dẫn học sinh thực hành viết kết bài.

a Chia nhóm học sinh:

Trong giờ luyện tập tôi tiến hành chia lớp học thành 4 nhóm Sau đó, giao công việc cụ thể cho các nhóm: mỗi nhóm làm một đề bài ( chỉ viết phần kết bài ) theo đúng yêu cầu của một mở bài

Ví dụ: Viết kết bài cho đề sau:

+ Nhóm 1:

Ngày đăng: 23/04/2015, 15:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w