Điểm cơ bản trong các thể loại tranh của Phương Đông và Việt Nam , cáchình tượng nghệ thuật đã được khái quát hóa và cá thể hóa đến mức cao độ, đúchớnh là sự giải phóng các hình tượng cụ
Trang 1HÌNH TƯỢNG CHIM VÀ CÂY TRONG HỘI HỌA PHƯƠNG ĐÔNG
PHẦN MỞ ĐẦU
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Hội họa Phương Đông nói chung và hội họa Việt Nam nói riêng có nhiều néttương đồng theo dòng chảy của thời gian và sự giao thoa văn hóa Điểm cơ bản điđến sự tương đồng đú chớnh là các quan điểm về nghệ thuật đã đạt đến một cáichung về sự nhìn nhận và những ý nghĩa biểu tượng mang tính xã hội Trong các tácphẩm nghệ thuật đó, ở mỗi một quốc gia đó cú những hình thức thể hiện khác nhautạo nên những giá trị đặc trưng đậm nét truyền thống, thậm chí dân gian mangnhững sắc thái riêng như tranh chữ (thư pháp), tranh điểu mộc, có những thể loại đãđạt đến độ “quốc họa” như tranh thủy mặc của Trung Quốc (TQ), tranh sơn mài củaViệt Nam
Điểm cơ bản trong các thể loại tranh của Phương Đông và Việt Nam , cáchình tượng nghệ thuật đã được khái quát hóa và cá thể hóa đến mức cao độ, đúchớnh là sự giải phóng các hình tượng cụ thể, cảm tính ra khỏi cái ngẫu nhiên, nhấtthời để đạt đến tầm khỏt quỏt chứa đựng những chân lý lớn có sức đột phá các thờihạn không gian và thời gian của các hiện tượng cá biệt đời thường như các hìnhtượng chim hạc, chim phượng, cây tùng, cây trúc, cây mai…mà đến ngày nay nóvẫn có nguyên giá trị cả về mặt nghệ thuật, tâm linh đến nhận thức
Nghiên cứu hình tượng chim và cây trong tranh hội họa Phương Đông chính
là để tìm hiểu sắc thái riêng của mỗi thể loại về chủ đề, về ý nghĩa biểu trưng độcđáo Điểm nổi bật của thể loại tranh này là người ta thường mượn hình tả ý gán chomột sự vật nào đó một ý nghĩa biểu tượng (ví dụ: trúc là quân tử, mai là giai nhân,cây tùng và chim hạc ngụ ý trường thọ, v.v ) và thông qua ngôn ngữ (nhất là từngữ đồng âm hay cận õm) nhỡn hình vẽ người ta sẽ liên tưởng đến một mong ước,một ý nghĩa biểu trưng nhất định nào đó trong tâm thức chung của mọi người
Về ý nghĩa, tranh thường có chủ ý :
Trang 2o Gởi gấm ý chí;
o Ước nguyện mọi tốt lành cho bản thân;
o Cầu chúc phúc cho người khác
Với ý nghĩa tinh tế như vậy nên hình tượng chim và cây trong một số thể loạitranh đó có những chuẩn mực riờng, cỏc thành tố quan hệ trong tranh luôn gợinhững liên tưởng và kích thích thị giác của người xem thông qua đề tài và hìnhtượng nghệ thuật Các quan hệ về màu sắc, sự tương phản giữa sáng - tối, sự chiphối về bối cảnh, các nguyên tắc xây dựng hình tượng trong tranh để tạo thế cânbằng, mang nột riờng ở từng thể loại là những mảng nghiên cứu mà những ngườilàm công tác mỹ thuật và sáng tạo nghệ thuật cần quan tâm
Với mong muốn tìm hiểu, học tập và trau dồi khả năng nghiên cứu em đãchọn đề tài trên nhằm tìm hiểu những giá trị nghệ thuật qua hình tượng chim và câytrong của một số thể loại tranh hội họa Phương Đông và cũng để chia xẻ cùng ngườixem những cảm nhận sâu sắc hơn về ý nghĩa tượng trưng của hình tượng chim vàcây trong từng tác phẩm
2 TÌNH HÌNH NGHIấN CỨU ĐỀ TÀI
Có nhiều bài viết giới thiệu về một số thể loại tranh như tranh điểu mộc,tranh quạt có hình tượng chim, cây và hoa song chỉ nêu ý nghĩa thưởng ngoạn cho
vẻ đẹp của mỗi thể loại (kiến thức hội họa 1,2,3 – Internet) Các bài chủ yếu mangtính chất giới thiệu, tham khảo Cách viết mang tính mô tả về ý nghĩa biểu trưng củahình tượng chim và cây mà chưa đi sâu nghiên cứu, phõn tích về các yếu tố tạo hìnhtạo lờn được giá trị thẩm mỹ, tính nhân văn của thể loại tranh này
3 MỤC ĐÍCH NGHIấN CỨU
- Nghiên cứu đặc điểm hình tượng chim và cây trong tranh hội họa Phương Đông
- Tìm hiểu mối quan hệ giữa hình tượng chim và cây, và ý nghĩa biểu trưng củahình tượng trong tranh hội họa Phương Đông
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIấN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu : Hình tượng chim và cây trong hội họa Phương Đông
Trang 3- Phân tích một số tác phẩm hội họa Việt Nam hiện đại có hình tượng chim và câytrong mối quan hệ với các hình tượng nhân vật
- Phạm vi nghiên cứu : một số tác phẩm hội họa Phương Đông (chủ yếu tranh củaTrung Quốc, Việt Nam: Tranh hội họa, tranh dân gian, tranh quạt) sử dụng hìnhtượng chim và cây là đối tượng thể hiện chính
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIấN CỨU
- Nghiên cứu tài liệu, phân tích, tổng hợp vấn đề
- Sưu tầm
- Tổng kết kinh nghiệm
6 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
- Khẳng định được giá trị nghệ thuật của hình tượng chim và cây qua các yếu
tố tạo hình (bố cục, hình mảng, đường nét, màu sắc, chất liệu tạo hình) tạo lênnhững nột riờng của nghệ thuật Phương Đông
- Khẳng định vai trò của hội họa trong việc phản ánh hình tượng với mốiquan hệ cùng con người về mặt tư duy và nhận thức xã hội
7 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Luận văn gồm 80 trang, bao gồm phần mở đầu 3 trang, kết luận 11 trang,phần nội dung có 3 chương
Chương I- Hình tượng chim và cây trong quan niệm thẩm mỹ người Việt và
Chương II- Chim và cây trong ca dao, văn học, thơ ca (10 trang)Chương III- Hình tượng chim và cây trong hội họa (22 trang)Ngoài ra luận văn còn có tài liệu tham khảo 1 trang, phụ lục 16 trang
Trang 4PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I - HÌNH TƯỢNG CHIM VÀ CÂY TRONG QUAN NIỆM THẨM MĨ NGƯỜI VIỆT VÀ TRONG QUAN NIỆM PHƯƠNG ĐễNG
Tác phẩm nghệ thuật là đơn vị tồn tại của nghệ thuật, trong đó hình tượngnghệ thuật được coi như là “tế bào” của tác phẩm Không có hình tượng nghệ thuậtthì không có cơ sở để tạo nên nội dung và hình thức của tác phẩm nghệ thuật
Nghệ thuật chân chính không đòi hỏi các hình tượng nghệ thuật mô tả giốngnhư thật vẻ bề ngoài của đối tượng, mà cần phải phản ánh đỳng cỏi bản chất bêntrong của nó Khi hình tượng đã đạt đến mức độ hoàn thiện nó sẽ nói lên đượcnhững khát vọng chân chính của con người, thể hiện được sức mạnh chân lý củacuộc sống Đó là những hình tượng nghệ thuật đã đạt đến tính biểu tượng
Bất cứ một sự vật, hiện tượng khách quan nào có trong đời sống hiện thực,nếu được mô phỏng lại một cách sáng tạo trong tác phẩm nghệ thuật đều trở thànhhình tượng nghệ thuật Nhìn chung, hình tượng thường được hình thành trong mốiquan hệ giữa thế giới hiện thực khách quan với nhận thức chủ quan của con người.Hình tượng không chỉ phản ánh hiện thực mà còn khái quát hóa, điển hình hóa toàn
bộ thế giới hiện thực, nhằm tìm ra được những yếu tố cốt lõi nhất của hiện thựckhách quan mang tính biểu hiện hết sức sinh động và độc đáo để làm nên tác phẩmnghệ thuật
Nghệ thuật là lĩnh vực văn hoá tinh thần, nhằm thoả mãn nhu cầu tinh thầncủa con người mà qua đó người ta có thể xác định được các giá trị - chuẩn mực xãhội Thực tiễn trong đời sống xã hội, giá trị thẩm mỹ và giá trị văn hoá luôn thốngnhất với nhau về nội dung và tư tưởng, cái đẹp trước hết phải là cỏi đỳng và cái tốt(chân - thiện - mỹ) Do vậy, đặc trưng của tác phẩm nghệ thuật là tính hình tượngvới ngôn ngữ sử dụng là sử dụng các hệ thống ký hiệu hàm nghĩa - biểu tượng
Biểu tượng có hai mặt: “cái biểu đạt” và “cái được biểu đạt” Hai mặt nàyđược kết hợp theo sự liên tưởng và theo một quan hệ ước lệ nào đó Biểu tượng baogiờ cũng có: + Tính chất biểu hiện sự vật bằng hình ảnh
Trang 5+ Mang ý nghĩa biểu trưng gợi sự liên tưởng
+ Tính ước lệ
+ Biểu hiện giá trị nhân văn
Do đó, hình tượng nghệ thuật luôn mang đến những cảm xúc nhất định nóilên khát vọng, mong muốn vươn tới giá trị - chân lý của con người Đó là những tácphẩm luôn luôn sống mãi và trở thành bất tử với thời gian
Hội họa Phương Đông nói chung và hội họa Việt Nam nói riêng, hình tượngnghệ thuật luôn được các họa sĩ quan tâm nghiên cứu và khai thác ở nhiều đề tài,nhiều thể loại chất liệu khác nhau Sự thành công của các hình tượng nghệ thuậtPhương Đông đều có những điểm chung là hàm chứa trong nó một mong muốn,khát vọng về một cuộc sống hòa bình, ấm no, sự thanh nhàn thoải mái cho conngười mặt khác nó còn mang một yếu tố tâm linh, ý nghĩa biểu trưng nhất định nào
đó như là một ước nguyện mà người xem ai cũng dễ dàng cảm nhận được
Trong những hình tượng nghệ thuật mà hội họa Phương Đông nói chung vàhội họa Việt Nam nói riêng thì hình tượng chim và cây được đề cập mang nhiều ýnghĩa biểu trưng hơn cả Bởi vì, trong bối cảnh không gian nhà ở của người PhươngĐông, tiềm thức quan niệm về cuộc sống và yếu tố thiên nhiên luôn gắn liền vớinhau Hình ảnh con chim gắn với ruộng đồng, cỏ cây hoa lá hòa quyện với cuộcsống gần gũi của con người nờn đó trở thành một phần không thể thiếu về cộinguồn, về quê hương, về cuộc sống hàng ngày, thậm chí những hình ảnh đú đóđược biểu tượng hóa thay cho thân thế, địa vị của con người, ví như con người tronghiện thực cuộc sống Do đó hình tượng chim và cây được nhiều thế hệ họa sĩ, nghệnhân quan tâm phản ánh mang giá trị sáng tạo nghệ thuật rất cao
Trang 6Động lực để sáng tạo mĩ thuật là trang trí hoặc tô điểm cho môi trường xungquanh Chúng ta trang trí cho nhà cửa của mình bằng nhiều phong cách khác nhaunhư trang trí những bức tranh, sắp xếp sự kết hợp của màu sắc v.v song việc lựachọn và xây dựng những hình tượng nghệ thuật thành biểu tượng trong mỗi bứctranh đã đòi hỏi người họa sĩ phải có cái nhìn và sự cảm nhận sâu sắc về hiện thựccuộc sống để rồi đem đến cho người xem sự cảm nhận hoàn hảo của chính bản thõn
nú, ngay chính bằng thuật ngữ nghệ thuật của nó Về phương diện nghệ thuật, độnglực này còn thể hiện phong cách nghệ thuật riêng của từng quốc gia, nhiều tác phẩm
mĩ thuật đã trở thành những sản phẩm văn hóa riêng mang đậm nét truyền thống,thậm chí dân gian, với các ý nghĩa biểu tượng được gởi gấm trong đó như tranh vớicác chủ đề như: hoa điểu, rồng, ngựa, vượn, cỏ, tựng hạc, sơn thuỷ, v.v
1.1 HÌNH TƯỢNG CHIM
Theo quan niệm Phương Đông về thuật phong thủy, chim chóc thể hiện sứcmạnh vô tận của trái đất Vùng đất Phương Đông khí hậu ôn hòa, nóng ẩm, mưanhiều, chịu ảnh hưởng của nền văn minh lúa nước Con người hiền hòa yêu tự do,khát vọng hòa bình Tôn giáo mang tư tưởng của Phật giáo, Nho giáo nờn đó hìnhthành lờn một bản sắc văn hóa, nghệ thuật riêng hết sức độc đáo và đa dạng Hìnhảnh thiên nhiên gắn liền với đời sống của con người ngay từ khi còn nhỏ, nên hìnhtượng nghệ thuật gắn với thiên nhiên là một điều dễ hiểu
Con người từ xa xưa đã chọn chim chóc để thể hiện cảm hứng, tự do, khaokhát để được hợp nhất với thiên nhiên, với thế giới tâm linh, thần thánh Mỗi loàichim có ý nghĩa phong thuỷ riêng Trong các quan niệm về phong thuỷ truyềnthống, chim được coi là biểu tượng cho sức mạnh của con người Bên cạnh đó, chimcũng được coi là biểu tượng của tình yờu, lòng chung thủy và sự giàu có Dưới đây
là ý nghĩa phong thuỷ của một số loài:
1.1.1 Chim Phượng: Phượng được coi là linh vật biểu hiện cho tầng lớp trên.
Trang 7Phượng thường có mỏ vẹt, thân chim, cổ rắn, đuụi cụng, múng chim cứngđứng trên hồ sen Với ý nghĩa đầu đội công lý, mắt là mặt trời, mặt trăng, lưng cõngbầu trời, lông là cây cỏ, cánh là giú, đuụi là tinh tú, chân là đất, vì thế phượng tượngtrưng cho cả vũ trụ Khi Phượng ngậm lá đề hoặc ngậm cành hoa đứng trên đài sen,
nó biểu hiện là con chim của đất Phật Tức là có khả năng giảng về đạo pháp, làmnhiệm vụ giống như các nữ thần chim: nhảy múa, hát ca chào mừng Phật pháp Quan niệm của người Việt Nam cho rằng Phượng xuất hiện báo hiệu đất nướcđược thái bình Chim Phượng là loài chim đẹp nhất Nó có thân hình quyến rũ, kếttinh được vẻ đẹp, sự mềm mại, thanh lịch, vẻ duyên dáng của tất cả các loài chim
Nó tượng trưng cho nữ tính, cho phái đẹp của tầng lớp quý phái
1.1.2 Chim Hạc: Hạc đã làm bạn với người từ bao ngàn năm trước
Hình ảnh chim Hạc đã đi vào văn chương, mỹ thuật, lịch sử, triết lý của nhiềudân tộc Hạc chịu đựng giỏi, thích ứng nhanh và cũng đẻ trứng nuôi con tốt Hạc cógiọng rền vang Tiếng Hạc trong trẻo nhờ ở thanh quản có hình tựa như cái còi.Chim Hạc múa rất đẹp Thoạt tiên chim trống nghiêng mình chào chim mái rồi
từ từ tiến gần, cổ vươn tới trước, cỏnh xũe nhẹ ra Đoạn vẫn giữ nguyên thế đó,chim trống bắt đầu nhảy múa trên không, luôn luôn nhảy cao hơn chim mái Lúcnày chim trống hát những tiếng giống như tiếng kèn đồng rộn rã Kế đó đến phiênchim mái nhảy múa một cách vui tươi tưng bừng Chim mỏi mỳa uyển chuyển hơnchim trống, thường đập cánh làm tung tóe nước Sau điệu múa, kể như là mừng tiệctân hôn, cuộc sống của vợ chồng chim bắt đầu thực sự
Ở Việt Nam Hạc là con vật của đạo giáo Hình ảnh Hạc chầu trên lưng Rùatrong nhiều ngôi chùa, miếu, đền là biểu hiện của sự hài hòa giữa trời và đất, giữahai thái cực âm - dương Hạc là con vật tượng trưng cho sự tinh túy và thanh cao.Theo truyền thuyết Rùa và Hạc là đôi bạn rất thân nhau Rùa tượng trưng cho convật sống dưới nước, biết bò, Hạc tượng trưng cho con vật sống trên cạn, biết bay
Trang 8Khi trời làm mưa lũ, ngập úng cả một vùng rộng lớn, Hạc không thể sống dướinước nên Rựa đó giỳp hạc vượt vùng nước ngập úng đến nơi khô ráo Ngược lại,khi trời hạn hán, Rựa đã được Hạc giúp đưa đến vùng có nước Điều này nói lênlòng chung thủy và sự tương trợ giúp đỡ nhau trong lúc khó khăn, hoạn nạn giữanhững người bạn tốt.
1.1.3 Chim công: Tượng trưng cho sự bình an thịnh vượng
Là loài chim có bộ lông tuyệt đẹp, Công được coi là biểu hiện của Phượnghoàng hiện diện trên trái đất Màu sắc của bộ lông cùng “nghìn con mắt” ở đuôiđược coi là yếu tố may mắn, thúc đẩy danh tiếng cũng như tăng cường bảo vệ ngườithân
Với bộ lông tuyệt đẹp, Công còn biểu tượng cho vẻ đẹp và sức hấp dẫn trongtình yêu, giúp những người cô đơn sớm tìm ra bạn đời của mình Chim phượng(thường gọi gộp là Phượng Hoàng, thực ra Phượng là chim trống, Hoàng là chimmái) là linh điểu, tương truyền chim Phượng xuất hiện là thánh nhân ra đời ChimLoan và chim Phượng thì tượng trưng duyên nợ vợ chồng “Loan Phượng hoàminh” (chim Loan và chim Phượng hoà chung tiếng hót) ngụ ý sự hoà thuận êm ấmcủa vợ chồng
1.1.4 Chim Điểu : Là một loại động vật có hình thức đẹp (đẹp mã), mềm mại
Màu sắc ưa nhìn, người Việt và người Phương Đông có ý thức gắn nó với hìnhtượng của người phụ nữ:
- Ở tầng lớp cao: Chim Điểu được ví gắn với những người phụ nữ có địa vị caosang, quan lại hoặc là những người có học thức, hiểu biết rộng
- Ở tầng lớp thấp: Chim Điểu được ví như người phụ nữ cần cù, chịu khó, buônbán nuôi chồng con
1.1.5 Chim Sếu:
Trang 9Chim Sếu chỉ đứng sau Phượng Hoàng về mức độ tiếng tăm trong phongthuỷ Sếu mang tinh thần luôn vươn cao, vươn xa để cất cỏnh lờn bầu trời Do đó,biểu tượng của Sếu được sử dụng trong phong thuỷ để đem lại nguồn năng lượngsống cao thượng và hoà bình lâu dài.
1.1.6 Chim Cò: Cò là loại chim của nhà nông vỡ nú gắn với ruộng đồng.
Từ bao đời nay hình ảnh con Cò được nhắc đến nhiều trong thơ ca, văn học
và cả trong nghệ thuật Cò có thân hình đẹp, màu lông trắng tinh khiết, sống có tìnhnghĩa, gần gũi với con người Trên cánh đồng, con Cò đi theo sau luống cầy bầubạn cùng nhà nông trong lúc cầy sâu cuốc bẫm Trên bờ ruộng Cò bắt sâu bọ, càocào, châu chấu… giúp nhà nông một tay trong việc bảo vệ mùa màng Cò trờnmỡnh trõu, bắt ruồi bọ, ve vắt, người bạn đồng lao đồng tác với nhà nông Con Cò
là hình ảnh của cần cù, siêng năng, chịu khó, chịu khổ, tự túc, tực cường, chỉ biếttrông cậy vào sức mình, chỉ biết tự lực cánh sinh để lo cho bản thân, cho con cái,cho gia đình, cho dòng tộc, đất nước giống như những người nông dân Việt Nam:
1.1.7 Gà trống : Biểu tượng cho phong thuỷ
Gà trống có thân hình đẹp, dáng hùng dũng, khỏe mạnh, bước đi oai vệ, màulông rực rỡ thường thức dậy rất sớm, thông báo một ngày mới, xua tan đi bóng đêm
và mây mù Bởi vậy, Gà trống cũng biểu tượng cho khả năng tránh tà ma Đức tínhcủa gà trống cũng rất quớ:
+ Cái mào đỏ tựa mũ cánh chuồn của trạng nguyên là “Văn “
+ Chân gà có cựa sắc nhọn như kiếm để đấu chọi là “ Võ “
+ Thấy địch thủ dũng cảm, không sợ và đấu chọi đến cùng là “ Dũng”
+ Kiếm được mồi gọi nhau cùng ăn là “ Nhân “
+ Hàng ngày , gà gáy báo canh không bao giờ sai là “ Tín”
Con gà mái với thân hình tròn trịa, bước đi dịu dàng, ngú nghiờng một cáchtrìu mến đi cùng bầy con tượng trưng cho gia đình đông đúc, đầm ấm
Ngoài ra còn rất nhiều loài chim khác cũng mang những ý nghĩa, ngụ ý riêngnhư chim sẻ (tiểu nhân), chim vẹt (nói dóc, nói nhiều, ba hoa) chim ác là báo điềmkhông may mắn… mà các nước Phương Đông đều có chung quan niệm
Trang 101.2 HÌNH TƯỢNG CÂY (HOA)
Cây thuộc mộc hành, có giá trị tiêu biểu cho đức tính cứng cỏi, thẳng thắn,kiên cường như nghĩa khí của con người Mỗi loài cây đề có ý nghĩa riêng Trongcuộc sống cây cối gắn liền với đời sống của con người, phục vụ và nuụi sống conngười Cây không chỉ cho bóng mát, chữa bệnh, dùng làm cây cảnh trang trí nhàcửa Thế dáng của các loại cây và những điều kiện để đơm hoa kết trái của chúngcũng được ví von như những cố gắng vươn lên khắc phục tự nhiên của con người.Điều này đã tạo nên những cảm xúc mãnh liệt cho tâm hồn của người họa sĩ, chớnh
vì vậy nên nhiều loài cõy đó được lựa chọn, phản ánh trong nghệ thuật và mang lạicho con người thêm nhiều cảm xúc, ý nghĩa Tầm quan trọng và tính tinh túy, ưuviệt của từng loại cây, dựa vào thế dáng và đức tính chịu đựng mà cây cũng cónhững ý nghĩa đáng để chiêm nghiệm, luận bàn
1.2.2 Cây trúc – Cây tre:
Trang 11Cây Tre: Trong phong thủy, cây Tre là một trong những biểu tượng mạnh
mẽ của sự trường thọ Nó là biểu tượng của tính kiên cường vượt qua mọi nghịchcảnh và khả năng chống chọi với sóng gió của cuộc đời Không những thế, Tre còn
là biểu tượng của tài lộc Cây Tre, bản thân nó là một loài cây phi thường về sựmềm dẻo và vô cùng chắc chắn Nếu có khoảng đất đủ để trồng một cây tre lớn,chúng ta chắc chắn sẽ cảm nhận được tiếng rì rào, gió thổi qua các tán lá tre Điềunày nằm trong một phần tác dụng của cây tre: Đem lại cảm giác yên bình trong cuộcsống
Theo các quan niệm phong thuỷ truyền thống, Tre được dùng sẽ mang lạisức khoẻ, hạnh phúc, tình yêu và sự thịnh vượng Tranh cây tre treo trong nhà ngoài
ý nghĩa trang trí, sự hiện hữu của cây tre sẽ tạo năng lượng rất tốt cho gia chủ, về sựbảo vệ và may mắn, vượt qua khó khăn và ngày càng phát đạt
Một số loài cây
1.2.3 Hoa mai : Vào mùa xuân hoa mai nở rộ đón chào nàng xuõn mới.
Hoa mai còn có một tờn khỏc nữa là Càn mai Trong phong tục của ngườiViệt, hoa mai tượng trưng cho mùa xuân nhưng, hoa mai không chỉ có ý nghĩa đónmừng xuân mà còn biểu hiện cho tình yêu trung thành
Hoa mai là biểu hiệu của sự trung thành trong tình yêu vì hoa nở rất đúnghẹn, mỗi năm hoa đều nở đúng vào dịp xuân về không bao giờ sai hoặc trễ Vì vậy,hoa mai được giao một nhiệm vụ thật quan trọng trong thiên nhiên, đó là nhắc mùaxuân đến đúng hẹn Mai tượng trưng cho sự thanh khiết Nó chịu qua gió tuyết mùađông nên thể hiện một sức khỏe, một sức sống mãnh liệt Có thể coi là biểu tượngcủa Quân tử
1.2.4 Hoa đào cũng nở trong mùa xuân.
Hoa đào đại biểu cho tình bạn thân thiết thắm đượm nghĩa tình (màu hồngthắm), hoa đào cũng mang ý nghĩa đúng hẹn, thủy chung, quần hùng tụ nghĩa, khíphách của người cốt cách
Trang 121.2.5 Hoa cúc trác việt siêu phàm, nét đẹp anh tú, ẩn dật tình đời Cúc tức là mùa
thu
“Cứ mỗi độ thu sang, hoa cúc lại nở vàng” Cúc biểu tượng của sự trườngthọ Thường dùng để chúc thọ, chúc người già Vì thế có loài cúc mang tờn CỳcVạn thọ Cúc cũng có chí khí quân tử của nó Ai chơi hoa cúc đều biết hoa cúc tànnhưng không rụng, nó chỉ gục rũ trờn thõn của nó Hoa cúc gợi cho ta một hình ảnhchết đứng, chứ không chết nằm
1.2.6 Hoa sen cũng mang cốt cách của bậc quân tử
Đẹp và ngát hương, gần bùn mà chẳng tanh bựn Dự cuộc đời ô trọc,nhân tình ấm lạnh, bậc quân tử vẫn giữ được tiết tháo của mình, thơm tho vàtinh khiết như đóa sen Hoa nở vươn khỏi mặt nước, lộ bày đài hoa, nhụy,hạt và một hương thơm tinh khiết, nên được mọi người ưa chuộng Trongtruyền thống của các nước châu Á Hoa sen được dùng làm biểu tượng thiêngliêng, để đại diện cho những người có nhân cách thanh cao, nghị lực vữngvàng, không bị ảnh hưởng của hoàn cảnh xấu mà vẫn biết cố gắng vươn lên
để sống một cách xứng đáng, trong tinh thần, bền tâm, nhẫn nại Khi nhữngcánh hoa của nó mở ra, cũng có ý nghĩa nói lên sức sống mở rộng của tâmhồn [2, tr 2-5]
Theo truyền thuyết Phật học, hoa sen là hình ảnh, hài hòa, đặc trưngcủa một chu trình sống Sinh ra từ bóng tối, bùn nhơ mà bừng nở ra nhữngtinh nguyên của sự hoàn thiện Đó là sự chuyển hóa tượng trưng cho:
+ Không ô nhiễm : Sống trong bùn lầy dơ bẩn, hoa sen vẫn tự lực cánh sinh
để vươn mỡnh lờn khỏi mặt nước cho hoa, dâng hương thơm tặng đời, nhẫnnại, rèn luyện cho dù sống trong bất kỳ môi trường khó khăn nào, cũng cốgắng khắc phục vượt qua để đạt được sự thành tựu cho chính mình
+ Phật tánh: là sự cần cù, nghiêm túc, rèn luyện sẽ đạt đến độ tinh khiết,hoàn hảo
+ Thanh lọc, lắng cặn: tẩy các chất độc, chỗ sen mọc, thì nước ở đó nướclắng trong
Trang 13+ Kiên nhẫn, đợi chờ: tích cực làm việc để đạt được kết quả như mong muốn
1.2.7 Hoa Lan:
Vẻ đẹp của hoa lan được coi là biểu tượng tượng trưng cho sự sinh sôi nảy
nở, tiền tài, sự hoàn hảo trong trắng và của cải, sắc đẹp Từ ngàn xưa hoa lan đãtừng bước khẳng định mỡnh trờn những bậc thang phong thủy, là “vật may mắn”hàm ý như ý cát tường, tụ tài phỏt phỳc
Trong văn hóa Trung Hoa và Việt Nam, hoa lan còn là loài hoa tượng trưngcho sự thanh cao, tinh khiết Đối với gia đình, nó hàm nghĩa sự toàn mỹ, đông connhiều cháu Loài hoa này cũng mang lại năng lượng giúp cân bằng những sự đổ vỡ,
là biểu tượng trong việc giúp tìm kiếm sự hoàn hảo trong bất kỳ lĩnh vực nào chocuộc sống của con người Chớnh vỡ mang nhiểu ý nghĩa như vậy nên hoa lan cũng
là một trong những loại hoa xuất hiện trong bộ tranh tứ quý
1.2.8 Cây và hoa thường được ghép với nhau trong tranh nhằm biểu hiện cho
mong ước bốn mùa đầy đủ của con người
Như: “Mai , lan, cỳc, trỳc”; “ Tựng , trỳc, cỳc, mai” hoặc thường ghép theocặp ví như sự gắn kết keo sơn bạn bè “ Tùng Hạc diờn niờn”; “Tùng – Mai”, hay vívon cho tình thắm đượm tình chung thủy vợ chồng như “Loan - Phượng”…
Mỗi mựa cú một loài cây, loài hoa đặc trưng Mùa xuân: hoa mai, hoa lan,hoa đào Mùa hạ: hoa sen, hoa hồng, hoa lựu Mùa thu: hoa cúc, hoa phù dung Mùađông: cây trúc, cây thông (tùng) Mỗi loài hoa, loài cây lại tương ứng với một loàichim Vẽ hoa ấy phải đi với chim ấy mới là đúng quy tắc, đúng luật Như vẽ hoamai phải vẽ với chim khổng tước (mai/điểu), hoa hồng với chim cụng (hồng/cụng),hoa cúc với gà (kờ/cỳc), cây thông với chim hạc (tựng/hạc)
Trang 14Với những cư dân thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa châu á như ViệtNam và một phần của Trung Hoa lục địa, Tranh tứ quý được hình thành trong vaitrò là biểu tượng của bốn mùa Về sau, khi đã được nâng lên thành một biểu tượngcủa nghệ thuật, tranh tứ quý thâm nhập vào nhiều nền văn hoỏ khỏc nằm cận kề cáckhu vực văn hoá thuộc vùng khí hậu nói trên Cho tới nay, tranh tứ quý là một trongnhững biểu tượng nghệ thuật được sử dụng nhiều trong văn hoá truyền thống ở cácquốc gia thuộc khu vực Đông Bắc á như Nhật Bản, Triều Tiên cùng với Trung Hoa
và Việt Nam
Trong quan niệm của người Phương Đông, bộ tứ là biểu hiện của sự đầy đủ,vững chắc, vĩnh cửu, hạnh phúc như tứ phương, tứ trụ, tứ đức Thậm chí ở ViệtNam, bộ tứ còn được hình tượng hoá thành cụm biểu tượng tứ bất tử (gồm bốn vịthần: Sơn Tinh, Chử Đồng Tử, Mẫu Liễu Hạnh và Thỏnh Giúng), hoặc tứ trấn (baogồm xứ Đông, xứ Nam, xứ Đoài và xứ Bắc) Trong một trò chơi dân gian khá thịnhhành trước đây (bài Tam cúc), bốn con bài cùng loại cũng được gọi là tứ quý hay tứ
tử trình làng, và tứ quý được xem như một biểu hiện của sự may mắn Như vậy,xuất phát từ những biểu tượng của bốn mùa nhưng tứ quý trong quan niệm dân giankhông còn là một biểu tượng riêng của thời tiết hay khí hậu nữa mà đã biến thànhbiểu tượng của nhiều điều tốt lành khác Đặc biệt, khi đã trở thành một biểu tượngcủa sự may mắn, tứ quý trở thành một niềm ước vọng của mọi người dân bất kểsang hèn
Có thể thấy rằng, biểu tượng tứ quý để trang trí trong nhà không có nghĩa làchỉ để làm đẹp mà còn là để cầu mong sự may mắn Đây là một nét rất đặc thù trongvăn hoá Việt Nam nói riêng và văn hoá Phương Đông nói chung Ở phương Tây,khi cầu nguyện, người ta thường hướng tới một vị thần linh cụ thể với những điềuước cụ thể còn ở Phương Đông, đặc biệt là ở Việt Nam, người dân có xu hướng tựtìm cho mình những yếu tố may mắn bằng nhiều sự biểu hiện khác nhau như hướngnhà (phong thuỷ), hướng đi, màu sắc, treo tranh trấn trạch với lối tư duy trừutượng như vậy, việc lấy biểu tượng tứ quý để tạo ra sự may mắn không có gì là lạ.Người treo tranh tứ quý không chỉ là để trang trí mà còn mang ý nghĩa cầu maymắn, phú quý, sung túc và mang cả những yếu tố phong thủy trong đó
Trang 15Tiểu kết : Nhìn chung tất các loài chim và cây, dựa vào đặc điểm, hình dáng,
màu sắc và đức tính sống ở từng loài mà quan niệm về thẩm mỹ của người PhươngĐông nói chung và Việt Nam nói riêng đều gắn chúng với quan niệm về nhân sinhquan, về lối sống để răn dạy mọi người Không chỉ ca ngợi vẻ cho đẹp mỗi loài màtrong tạo hình còn cường điệu, thêu dệt, nâng cao phẩm giá cho mỗi loài ở các đứctính chõn-thiện-mỹ
1.3 CÁCH ĐIỆU TẠO HÌNH THỨC CHO VẺ ĐẸP CỦA CHIM, CÂY VÀ HOA TRONG TRANG TRÍ
Hiện thực khách quan chính là tiền đề cho việc xây dựng các hình tượngnghệ thuật Họa sĩ bắt nguồn từ hiện thực cuộc sống, cùng với trí tưởng tượng vàcảm hứng sáng tạo của mình đã cho ra đời các hình tượng nghệ thuật phong phú cógiá trị
Từ những yếu tố trên, hình tượng chim và cây trong hội họa Phương Đôngnói chung và Việt Nam nói riêng đều có chung những nét tương đồng về yếu tốtrang trí nhằm làm tăng giá trị cho vẻ đẹp của chim, cây và hoa với mục đích nhấnmạnh các quan niệm và ý nghĩa của chúng để người xem dễ dàng cảm nhận Hìnhthức cách điệu thể hiện trong các yếu tố sau:
1.3.1 Về mặt tạo hình : Hình tượng chim, cây và hoa tuy mang những nét nguyên
thủy của đối tượng, song hình dáng đã được cách điệu một cách tao nhã,thanh thoát, nhẹ nhàng, sắc xảo:
- Hình tượng chim công, chim phượng, hoa lan, hoa cúc với ý nghĩa mảnh mai,đài được cách điệu hết sức tinh tế với các thế dáng lạ, đẹp, cầu kỳ
- Hình tượng cây tùng trang nghiêm, cõy trỳc, cây mai cổ kính, già cỗi, quớ hiếmtượng trưng cho lòng kiên cường, ngay thẳng không dễ gục đổ lại được cáchđiệu ở những thế dáng rất quớ hiếm, ngoài đời ít gặp
Trang 16Có thể nói rằng các họa gia đã rất công phu trong việc cách điệu tạo các thếdáng cho chim, cây và hoa thành những chuẩn mực mang giá trị biểu trưng cao chotầng lớp con người cao quớ, cú địa vị phẩm chất tư thông đáng kính, có hiểu biết vàthành đạt trong xã hội (như cây tùng, cây trúc, chim phượng , chim loan), hoặctượng trưng cho những con người có đức, cú tõm, tần tảo, chịu khó hết lòng vì giađình lo toan sớm tối (như hình tượng chim Cò) Đôi khi các hình tượng còn đượccách điệu thành những biểu tượng, mang mong ước, khát vọng của con người (như
“Tựng-Hạc diên niờn”; tranh “Trúc”; tranh “Tứ quớ”; tranh” Xuân phong yến hỉ”)
1.3.2 Về bố cục: Hầu hết trong các tác phẩm hội họa của Phương Đông, hình tượng
chim và cây thường được sắp xếp theo hai hướng:
- Hướng đơn lẻ : chỉ duy nhất có hình tượng chim hoặc cây cùng với yếu tố thiênnhiên: Lối bố cục này thường đề cao vẻ đẹp và các đứng tớnh quớ giỏ của hìnhtượng (như “Tùng tựa núi”; “Đào tựa non”; “trúc- mai”; “trúc đào cung xuân”hoặc “Hạc bầy”, “Cò đàn” ) cách vẽ này thường nhấn mạnh đến thế dáng và sựuyển chuyển của hình tượng chim và cây Xem những tranh này ta thườngkhâm phục các họa gia về khả năng sáng tạo ra những hình tượng đẹp, cầu kỳ,hiếm có và những phong cách bố cục độc đáo, lạ mắt, hấp dẫn người xem qua ýtưởng của các nghệ nhân xưa
- Hướng kết hợp: Lối sắp xếp có đặc điểm chung là thường gỏn, ghộp cỏc đứctính quớ của hình tượng chim - cây để đề cao những giá trị nhân văn, nghệ thuậtmang tầm tư tưởng lớn như “Tùng –Hạc diờn niờn”; “Song loan hỉ thước”; “Mai
- Điểu” cách phối hợp này thường đi sâu diễn tả sự mối liên hệ quấn quýt, tri kỷcủa các đối tượng nhằm làm tăng thêm giá trị nhân văn của ý nghĩa biểu trưngđồng thời cũng qua đó làm toỏt lờn vẻ đẹp thanh cao, quớ giỏ của các hìnhtượng chim và cây
- Cũng đôi khi trong cách phối hợp này còn mang lối phê phán phản diện mà qua
đó bao hàm ý nghĩa răn dạy con người trong cách sống, cách cư xử như sẻ” mang hàm ý người quân tử và kẻ tiểu nhân
Trang 17“Trúc Mặt khác hình tượng chim và cây cũng thường được kết hợp với hình tượng conngười và qua đó mang ý nghĩa chúc tụng.
- Hình thức bố cục của tranh chủ yếu ở dạng không cân đối:
Bố cục không cân đối là hình thức bố cục thể hiện nguồn cảm hứng phóngkhoáng dạt dào của nghệ sĩ Nó không có luật lệ, mà luật lệ chỉ là tìm cảm hứng thúcủa họa sĩ, họ chỉ quan tâm đến sự cân xứng Với hình thức bố cục này, người nghệ
sĩ sẽ để cho tùy theo tâm hồn hướng dẫn bởi vì những đường tạo ra trong lúc cảmhứng sẽ dùng làm căn bản cho sự xây dựng đề tài mà mình muốn và gợi ý ra nhữngtrạng thái nó đưa đến bố cục chót
Do đó, hình tượng chim, cây và hoa trong tranh Phương Đông thường được
vẽ theo lối thảo, vẽ một hình tượng chính sau đó điểm thờm cỏc hình tượng minhhọa khác Chẳng hạn vẽ tựng (chớnh) rồi điểm thêm chim hạc, mặt nguyệt [tranhTùng hạc diờn niờn – H4, tr 66], vẽ gà trống(chớnh) hoặc đàn gà (gà trống, gà mái,
gà con) điểm thêm hoa cúc [Tranh kờ cỳc- H22, tr 73]; vẽ trỳc (chớnh) điểm thêmcành mai hoặc chim sẻ [tranh trúc – sẻ H8, tr 67]; vẽ khóm mẫu đơn (chính) điểmđôi bướm [tranh Trùng điệp – H2, tr 65]
Đôi khi cũng có thể vẽ ngược lại như: bầy hạc (chính) điểm cành tùng [tranhtùng hạc diờn niờn [H9, tr 68], cội mai già (chính) điểm chim hỉ thước [tranh Đồng
hỉ - H3, tr65] Tuy nhiên cách điểm ở đây không mang yếu tố phụ mà nó vẫn hiệuhữu cùng hình tượng chính và mang ý nghĩa giá trị biểu trưng tương đồng
1.3.3 Màu sắc:
- Màu sắc hình tượng chim, cây và hoa rất phong phú và đa dạng Xu hướngchung màu sắc đơn giản, đằm thắm, diễn tả theo xu hướng hiện thực nên hìnhtượng rất sống động và có hồn Có thể dễ dàng nhận ra một hình tượng cây tùngvới màu sắc rêu phong ngàn năm cổ kính, những cành lá xum xuê, những mảng
vỏ sần sùi già cỗi sánh ngàn năm tuổi hay những cây mai, cành đào thế rồngchầu với những chùm hoa đỏ tươi khoe sắc trong gió xuân, những chồi búp xanhtươi mơn mởn như đang vươn lên tràn trề sức sống tựa, cho một năm mới ankhang, thịnh vượng và nhiều may mắn
Trang 18- Màu sắc hình tượng chim, cây và hoa trong tranh mang yếu tố tương phản làmcho ý nghĩa của các hình tượng càng trở lên rõ ràng và khúc triết hơn Như trongtranh Tùng –Hạc diờn niờn, nếu hình tượng cây Tùng già cỗi, rêu xanh thìngược lại hình tượng chim hạc trắng lại nhẹ nhàng, bay bổng, chao liệng dậpdờn, một sự cứng cáp, khỏe mạnh đối lập thế trầm hùng, mạnh mẽ của thế dángthân cành cây tùng cùng nét mềm mại, nhẹ nhàng di chuyển của màu trắng chimhạc làm cho giá trị của bức tranh thêm rõ ràng, có hồn và sâu lắng.
- Trong tranh tứ quớ một thể loại tranh mà người Phương Đông thường hay treovào những dịp tết mang hàm ý mong ước của bốn mùa no đủ, chúng ta nhậnthấy màu sắc của tranh lại rất đơn giản, hầu như nét vẽ là chủ yếu, màu sắcmang tính dân gian hoặc vẽ theo lối điểm màu nhưng về ý nghĩa và giá trị vẫnkhông thay đổi
Bên cạnh hình tượng chim và cây Một số loại hoa cũng được các họa sĩ đócông phu tìm hiểu và tạo dáng cách điệu một cách cầu kỳ làm cho hình tượng củacác loại hoa thêm đậm đà, khoáng đạt mang tính cao quớ tượng trưng cho tầng lớpquí phái
Về cơ bản, hình tượng các loài hoa đều dựạ trên những đức tính của ngườiphụ nữ để cách điệu nhằm tôn vinh những giá trị nữ tính trong hình tượng nghệthuật Một số loài hoa được cho là thanh cao biểu trưng cho tầng lớp quí phái như:hoa lan, hoa sen, hoa cúc, hoa hồng, hoa tường vi, hoa hải đường là những loạihoa quớ, hiếm, chăm sóc kỹ càng mới có thể đơm chồi, nở nhụy Cánh mỏng manh,
dễ gẫy, dáng mảnh mai, mềm mại như nét thanh tú của người phụ nữ, hương thơmnhẹ nhàng, mùi vị quyến rũ mang vẻ đài các của các bậc quớ phu nhân Chính vìvậy, hình tượng các loại hoa trong các thể loại tranh này thường được vẽ rất tỉ mỉ,cầu kỳ, sắc màu tươi sáng, hình tượng nhẹ nhàng, thanh thoát, bút pháp gợi tả mangnét ẩn hiện không mạnh mẽ như lối “cụng bút “ tạo độ đậm, chắc, rõ ràng, mạnh mẽnhư vẽ các loại cõy (Tựng cằn cỗi đậm đà; đốt tre - đốt trúc sắc đậm, cội mai - gốcđào khúc khuỷu) Nột cụng bỳt thường diễn tả cho những ý tưởng mạnh, thường thểhiện các hình tượng chính tạo độ đậm và bối cảnh cho các hình tượng chim và hoađồng hiện trên mặt tranh
Trang 191.3.4 Về thủ pháp :
Điểm nhấn cơ bản trong các tranh đó là khả năng sáng tạo của các họa gia rấtphong phú Nét sáng tạo không chỉ thể hiện ở trong cách thể hiện các thế dáng chim,cây và hoa mà còn thể hiện trong nét “công” của bút pháp một cách rất tài tình Nétmạnh, nét phớt nhẹ tạo hình nên hình dáng đối tượng, nét chu vi không còn mà thayvào đó là sự ẩn hiện của không gian mờ ảo làm cho hình tượng thêm ẩn hiện trongtranh
Nét vẽ đôi khi mang tính trang trí chau chuốt, nhấn nét tỷ mỉ làm cho hình tượngchim, cây và thêm mềm mại, khỏe khắn hay khúc triết như ý nghĩa của mỗi loài
1.4 ĐẶC ĐIỂM VÀ GIÁ TRỊ CỦA HÌNH TƯỢNG CHIM, HOA VÀ CÂY TRONG TRANH
1.4.1 Đặc điểm:
1.4.1.1 Hình tượng chim và cây trong hội họa Phương đông phản ánh quan
niệm về xã hội và những chuẩn mực chung của cuộc sống.
Hình tượng chim và cây trong hội họa Phương Đông nói chung và Việt Namnói riêng đều có đặc điểm chung giống nhau về quan niệm thẩm mỹ Văn hóa PĐchịu nhiều ảnh hưởng của Nho giáo, Phật giáo đã hình thành nên một quan niệmsống về sinh-lóo-tử, về vòng đời và kiếp luân hồi của con người Những yếu tố về
âm dương ngũ hành, về phong thủy đã ăn sâu vào tiềm thức người dân Chính vì lẽ
đó nờn cỏc hình tượng nghệ thuật trong hội họa đã phản ánh những tư tưởng nhânsinh quan đó chẳng hạn hoa sen mang tánh của Phật pháp, chim công, chim phượngmang nghĩa bề trên (chỉ những người của hoàng tộc, hoàng cung)
1.4.1.2 Hình tượng chim và cây mang quan điểm nghệ thuật vị nhân sinh.
Trang 20Vì mang quan điểm nghệ thuật vị nhân sinh nờn cỏc họa gia Phương Đông từtrước đến nay luôn lấy hiện thực làm cơ sở cho việc tái hiện một cách chân thựchình ảnh, màu sắc của sự vật hiện tượng mà ta thường bắt gặp hàng ngày và khôngchỉ phản ánh các họa gia còn lột tả được thần thái bên trong của đối tượng [H1;2, tr65] Các hình tượng sử dụng trong các tác phẩm đều mang tính nguyên bản (câytùng, cây trúc, cây mai, hoa đào, hoa cúc, hoa sen ) và được lựa chọn, nghiên cứumụt cỏch hết sức tỉ mỉ, công phu Các thế cõy, dỏng chim đã được nghiền ngẫm mộtcách rất cẩn thận và được thể hiện theo lối vẽ “hoạt” hết sức truyền cảm
Hầu hết xem các tác phẩm hội họa vẽ về chim và cây, chúng ta nhận thấyhình tượng được thể hiện dưới những nét vẽ phóng túng, tài hoa mà các đại danhhọa đã dày công tu luyện [H6,7,8 tr 67] Sự truyền cảm của các hình tượng đã đónggóp không nhỏ cho định hướng đúng đắn về quan niệm thẩm mỹ của người PhươngĐông, về tớnh chõn – thiện – mỹ và do đó nó khuyến khích con người tu dưỡng, rènluyện Lối vẽ mượn hình tả ý nờn nú mang ý nghĩa vừa sâu sắc, vừa tinh tế, thâmthúy
1.4.1.3 Hình tượng chim và cây trong hội họa PhươngĐông mang ý nghĩa gửi
gắm một ý chí, một ước nguyện và lời chúc tốt lành cho mọi người.
Quả thực xem tranh vẽ về chim và cây chúng ta luôn “đọc” được ý nghĩa củatranh qua từng hình tượng như: tùng, hạc ngụ ý trường thọ sống lâu muôn tuổi (tùnghạc diờn niờn) và khí phách hiên ngang của bậc đại trượng phu; cúc trường thọ; trúcquân tử, ngay thẳng; mai, lan là giai nhân dịu dàng, chung thủy Với lối ví von nhưvậy nên tranh cũng mang ý nghĩa chúc tụng Ngày tết, tân gia nhà mới họ thườngmua tranh tặng nhau, ý nghĩa trong tranh cũng là hàm ý mong muốn cho gia chủđược như những điều mà bức tranh gửi gắm
Trang 21Bên cạnh hình tượng chim, cây và hoa cũng thường được ghép với nhau đểtăng thêm giá trị thẩm mỹ, độ chặt chẽ của bức tranh và phong phú thêm về hìnhtượng Mặt khác nó tăng thêm phần ý nghĩa như tranh tứ quớ, ta cũng thấy nhữnglời chúc tốt lành, cầu an bốn mùa no đủ cho gia chủ Thực tế trong tranh tứ quớ tathường gọi tựng –trỳc-cỳc-mai song mỗi tranh lại rất nhiều hình tượng mà ít khi vẽđơn lẻ từng loại, lối tạo hình như vậy làm cho bức tranh thêm nhiều ý nghĩa khácnhư: tranh tùng vẽ thêm hoa cúc, chim hạc; tranh trúc vẽ thêm cành đào, cặp chimsẻ; tranh cúc vẽ thêm cành mai, đôi bướm hoặc đôi chim; tranh vẽ mai vẽ thêm hoacúc và cặp chim hỉ thước v.v
1.4.2 Giá trị:
Hội họa không phải là sự sao chụp một cách đơn giản những hình ảnh cótrong tự nhiên, cuộc sống Kết quả sáng tạo ra các hình tượng nghệ thuật của ngườihọa sĩ phụ thuộc nhiều vào khuynh hướng, tư tưởng được thể hiện về mặt chủ đềcủa tác phẩm và mức độ mà người họa sĩ muốn nói với người thưởng thức trongviệc sáng tạo ra ra các hình tượng nghệ thuật có sức tập trung, biểu cảm, có nộidung diễn tả sâu sắc và mang tính điển hình đến đâu
Qua hình tượng chim và cây trong các tác phẩm hội họa Phương Đông vàViệt Nam Chúng ta nhận thấy hình tượng chim và cây mang nhiều giá trị, trong đónổi bật nhất là những giá trị về các mặt sau:
1.4.2.1 Giá trị nghệ thuật:
Hình tượng chim và cây không chỉ là sự tích tụ các giá trị thẩm mỹ từ góc độtrực quan, thụ cảm, hơn thế, nó còn là một giá trị sáng tạo, tích cực - giá trị thẩm mỹmới Trên bình diện này, giá trị nghệ thuật là đồng nghĩa với sáng tạo ra hình tượngchim và cây là những hình tượng mới mẻ, sống động mang đậm dấu ấn của ngườihọa sĩ Các hình tượng này vừa bao quát một dung lượng lớn các phương diện thẩm
mỹ của đời sống đó là các quan niệm của Nho gia, Phật gia về nhân sinh quan, vềtính chân - thiện - mỹ
Trang 22Mặt khác, thông qua hình tượng chim và cõy cỏc họa sĩ còn gợi mở, pháthiện, dự báo những khát vọng, khả năng và những ý nghĩa mới trong quan hệ thẩm
mỹ của con người với hiện thực cỏ cây, hoa lá, chim muông của thế giới tự nhiên
đú chớnh là những niềm mong ước, khát vọng, khâm phục tự nhiên Chính vì vậycác tác phẩm nghệ thuật vẽ về chim và cõy đó tạo ra chất lượng giá trị nghệ thuậtbởi các hình tượng đã đạt đến mức độ hoàn hảo về các yếu tố tạo hình xu hướngtrong nghệ thuật chủ yếu của các họa sĩ khi thể hiện dòng tranh này thường chủtrương nghệ thuật phải gắn liền với đời sống xã hội, phải phục vụ con người
1.4.2.2 Giá trị thẩm mỹ:
Loại hình nghệ thuật nào cũng vậy Điểm cơ bản làm lên giá trị của một tácphẩm nghệ thuật đú chớnh là giá trị thẩm mỹ Trong hội họa Phương Đông, hìnhtượng chim và cõy đó mang đến cho người xem một sự rung cảm, thích thú, sự cảmphục bởi những giá trị văn hóa đã được biểu tượng hóa một cách hoàn chỉnh, ấntượng bằng chính những hình tượng cụ thể: Người xem ai cũng cảm nhận đượcdáng tựng hiên ngang, kiêu hãnh sánh ngang cùng tuế nguyệt, dáng tre quân tử,vươn thẳng, cỳc trỏc việt siêu phàm hay hình tượng chim hạc tri kỷ mảnh mai,phượng hoàng thanh tao, quí phái, kiêu hãnh, cò lả lướt dập dìu Nếu như trong cadao, văn học, thơ ca, các hình tượng này chỉ là những câu ví von, so sánh cửa miệngcủa người đời thì nay đã được cụ thể hóa bằng những hình tượng trực quan hết sứcsinh động, hấp dẫn qua nét vẽ tài hoa của các họa sĩ
Không chỉ cho người xem bằng những cảm xúc hết sức tài hoa, sáng tạo mà cáchọa sĩ còn thông qua hình tượng chim và cây để định hướng cho người xem nhữngquan điểm thẩm mỹ đúng đắn theo quan niệm chân – thiện – mỹ của triết gia Nhogiáo, tư tưởng Phật giáo mà người Phương Đông thường tâm niệm
1.4.2.3 Giá trị tinh thần:
Trang 23Về mặt phong thủy, hình tượng chim và cây mang đến cho con người PĐnhững giá trị tinh thần hết sức quớ giỏ, nú không chỉ là một sự trấn an, hỉ lạc để conngười quên đi những khó khăn của cuộc sống mà còn mang đến một giá trị về mặtnhận thức tâm linh, coi hình tượng chim và cây và những đức tính ưu việt củachúng như những khát vọng con người cần vươn tới: về vẻ đẹp, về cốt cách, đứctính của người quân tử, về tớnh chõn - thiện - mỹ Bên cạnh đú nú cũng là điều ước,niềm vui, sự lạc quan, những hình ảnh mang lời chúc tụng con người luôn gặp nhiềumay mắn.
Về mặt xã hội, thông qua hình tượng chim và cây còn phản ánh các quanđiểm về các mối quan hệ của xã hội như: mối quan hệ giữa con người với con người
về nhân sinh quan, cách sống, mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên như làmột qui luật tất yếu của sự sống
Trang 24CHƯƠNG II – CHIM VÀ CÂY TRONG CA DAO, VĂN HỌC, THƠ CA
Ca dao, văn học, thơ ca là sự tổng kết, vun đắp những kinh nghiệm sống củacon người về các qui luật sống, về các biểu hiện của tự nhiên Bản thân con ngườidựa vào qui luật của tự nhiên để tồn tại, cải tạo và phát triển mình Nói cách khác,thiên nhiên chính là người thầy vĩ đại nhất dạy dỗ cho con người Thực tế cuộc sốngcủa cỏ cây hoa lá, chim muông loài vật đều có liên quan đến con người Hình tượngthẩm mỹ do con người sáng tạo ra, nờn nó có giá trị như là một chuẩn mực nhấtđịnh bởi vì các hình tượng này đã được lựa chọn bằng vốn sống, vốn kinh nghiệm
mà bản thân con người đã trải nghiệm
Nghệ thuật tạo hình có khả năng diễn tả đặc điểm của các hình tượng bằngnhững biểu tượng rõ ràng, cụ thể bằng những hình ảnh trực quan phong phú, đadạng Người xem có thể cảm nhận trực tiếp bằng mắt về hình dáng, màu sắc, kíchthước của đối tượng, thậm chí có thể hình dung ra được cả các xu hướng chuyểnđộng của vự vật (tư thế chim bay, cá lượn, bóng dáng của cây rung rinh trước gió,đôi khi là cả các hiện tượng của tự nhiên như trời mưa to, mưa nhỏ, sấm chớp liênhồi, âm thanh, gió giật ) Có được cảm nhận như vậy là dựa vào những trải nghiệm
mà người xem đã được trải qua trước đó (trải nghiệm trực tiếp hoặc gián tiếp quathơ ca, văn học, qua phim ảnh), dựa vào trí tưởng tượng cộng với kinh nghiệm sốngnờn quỏ tỡnh thưởng ngoạn dễ dàng tạo cho người xem những cảm quan thị giácsống động, thán phục
Khác với mỹ thuật, ca dao, văn học, thơ ca có khả năng phản ánh đời sốngcủa con người thông qua phản ánh hình tượng của tự nhiên và đời sống xã hội Cáchình tượng phản ánh trong thơ ca đều mang những giá trị thẩm mỹ nhất định song
nó dưới dạng ngôn ngữ viết, ngôn ngữ nói, ngôn ngữ thầm Ở dưới dạng ngôn ngữnày, con người dễ dàng cảm nhận được những vẻ đẹp, giá trị nghệ thuật của các đốitượng dưới các hàm ý văn chương bay bổng, nhẹ nhàng, dưới gúc nhỡn so sánhhình tượng con người với thiên nhiên cuộc sống nờn nú rất dễ hiểu, dễ gần và đi sâuđược vào tình cảm con người
Trang 25Hình tượng chim và cây trong ca dao, văn học, thơ ca Việt Nam có rất nhiều,tùy vào đặc điểm từng vùng, từng miền mà cú cỏch gọi tên khác nhau, cách ví vonkhác nhau song tựu trung đều mang những hàm ý chung giống nhau
2.1 HÌNH TƯỢNG CHIM TRONG VĂN HỌC
2.1.1 Hình tượng con Cò:
Cò là biểu tượng của ao đầm Lang Việt
Nói tới đồng ruộng nước, nói tới lũy tre xanh, nói tới con trõu trờn luốngcầy, không thể nào không thể nói tới một hình bóng quen thuộc một hình bóng vật
tổ thiêng liêng của tộc Việt, đó là con Cò
Trong các loài chim, Cò là loài chim đi vào đời sống của người Việt Namsâu đậm nhất Sâu đậm đến độ mở miệng ra ví von, mở miệng ra hát là nhắc đến
Cò Sâu đậm đến độ trong ca dao Việt Nam có rất nhiều bài nói về con Cò, trongdân ca cú riờng một điệu hát mang tên là điệu hát Cò lả
“Cái Cò bay bổng bay cao,Bay từ Cửu phủ bay vào Đồng Đăng”
[10, tr.21]
Trước hết Cò là biểu tượng của ao đầm Lang Việt Con Cò là hình ảnh củaruộng đồng Một trong những hình ảnh đẹp nhất là hình ảnh con Còtrắng như bôngbay liệng la đà trên ruộng lúa mờng mụng, bát ngát, trải rộng ra mãi tận chân trời:
“Con Cò bay lả bay la,Bay từ cửa tổ bay ra cánh đồngKhắp người trắng nõn như bông,Gió xuân lất phất chùm lông trên đầu”
[10, tr.23]
Cò là loài chim sống ở bờ nước, gần cận nhất, gắn bó nhất và thân thiết nhấtvới nhà nông trồng lúa nước Con Cò với dáng đẹp thanh cao, thoát tục Cò lạng bayvút lên không trung rồi thả mình trong gió, mỏ dài, cổ dài, thân thon nhỏ, chân dài,tất cả duỗi thẳng theo một đường thẳng, liệng la đà trờn giú
Trang 26Tiếng Cò kêu trong vắt trên không trung ban mai giống như tiếng hạc trongtruyện Kiều mà Nguyễn Du đã mô tả “ trong như tiếng hạc bay qua” và tới chạngvạng tối mới gọi nhau bay về tổ, gõ nhịp mỏ rộn ràng trong cái tĩnh lặng của hoànghôn
Cò là hình ảnh của cần cù, siêng năng, chịu khó, chịu khổ, tự túc, tực cường,chỉ biết trông cậy vào sức mình, chỉ biết tự lực cánh sinh để lo cho bản thân, chocon cái, cho gia đình, cho dòng tộc, đất nước giống như những người nông dân ViệtNam :
“Cò tôi bay lả bay la,Bay từ cửa tổ bay ra cánh đồng
Trời sinh, mẹ đẻ tay không,Nờn tôi bay khắp tõy đụng kiếm mồi
Trước là nuụi cỏi thõn tụi,Sau nuôi đàn trẻ nên đời Cò con…”
[10, tr.29]
Con Cò là biểu tượng cho hình bóng của người phụ nữ Việt Nam
“Con Cò lặn lội bờ ao,Phất phơ hai giải yếm đào gió bay”
[10, tr.27]
Giống bao những người phụ nữ Việt Nam một đời tần tảo, vất vả ngượcxuôi, dù núi cao, dự sụng rộng, dù biển khơi, dù nắng lửa, mưa dầu, dù phong ba,bão tố,Cò vẫn lặn lội đi kiếm ăn lo cho chồng con Cụ Tú Xương cũng đã so sánh
vợ mình với hình ảnh con Cò:
“Quanh năm buôn bán ở mom sôngNuôi đủ năm con với một chồngLặn lội thân cò nơi quãng vắng
Eo xèo mặt nước buổi đũ đụng”
(Thương vợ - Tú Xương)
Trang 27Gặp những lúc đất nước chinh chiến, loạn ly,người phụ nữ Việt ngoài việcthay chồng nuôi mẹ, nuôi con còn phải thăm nuôi cả chồng đi lính trấn giữ biêncương:
“Con Cò lặn lội bờ sông,Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non”
hoặc:
“Nước non lận đận một mình,Thân Cò lên thác xuống ghềnh bấy nay”
[10, tr.26,27]
Dù ngay cả trong đêm tối, không phải là lúc Cò đi kiếm ăn, mà nhiều khi cũngphải liều thân đi tìm mồi cho con nên Cò mẹ đã “đậu phải cành mềm lộn cổ xuốngao”, dù ngay cả lúc biết mình sắp chết trong nồi sáo măng, Cò mẹ cũng Còn nghĩđến đàn con thơ dại trong trắng, Cò mẹ muốn được chết trong sạch nên cầu xinngười “Cú sỏo thỡ sỏo nước trong” vì “đừng sáo nước đục đau lòng Cò con”
Cò mang bóng dáng người mẹ hiền:
Mẹ là tất cả, thiếu mẹ là thiếu tất cả Những khi Cò mẹ phải đi làm nghĩa vụcông dân như đắp đàng, vột sụng, Cò con thiếu ăn, thiếu sự chăm sóc, thấy bơ vơ,trở thành tuyệt vọng:
“Cỏi có là cái Cò vàng,
Mẹ đi đắp đàng, con ở với ai?”
Cò là tiếng hát của đồng lúa xanh thẳng cánh Cò bay:
Cò không phải chỉ là hình ảnh cần cù làm việc, hình ảnh kham khổ của đời sốngchân lấm tay bùn, của lòng mẹ bao la mà Cò còn là tiếng hát tuyệt vời của đồngxanh, tiếng hát của dân dã, của đồng ruộng Việt Nam
Cò có đàn, có bầy, tiếng hát của tập thể nam nữ, của xóm làng, của đồng ruộng,tiếng hát “linh đình”, tiếng “hát cho lăn lóc đá, cho rung rinh trời” Hình ảnh Cò,tiếng hát Cò lả gắn liền với tiếng hát giao duyên, tiếng hát nên vợ nên chồng:
Trang 28“ Một đàn Cò trắng kia ơi,
Có nghe ta hát những lời này không?
Hỏt câu đẹp cốm, tươi hồng,Hỏt câu nên vợ nên chồng Cò ơi”
Và Cò cũng được mời nghe những lời hát gìn giữ đạo lý gia đình:
“Con Cò lấp lé bụi tre,Sao Cò lại muốn lăm le vợ người
Vào đây ta hát đôi lời,
Để cho Cò hiểu sự đời ở ăn”
Vì Cò là chim tổ của Lang Việt cho nên khi chết, Cò là loài chim duy nhấtđược làm đám ma chôn cất đàng hoàng và vong linh con Cò được thờ phụng:
“Con Cò chết tối hôm qua,
Có dăm hạt gạo với ba đồng tiền
Một đồng thuê trống thuờ kốn,Một đồng mua mỡ đốt đèn thờ vong
Một đồng mua mớ rau rong
Đem về thái nhỏ thờ vong con Cò”
Đám ma Cò là một loại đám ma trọng thể, một thứ “quốc táng” có đầy đủbốn tộc người Việt Văn Lang tham dự :
“Con Cò chết rũ trờn cõy,
Bổ cu mở lịch xem ngày làm ma,
Cà cuống uống rượu la đà,Bao nhiêu ếch nhái nhẩy ra chia phần
Chào mào thì đánh trống quân, Chim chích cởi trần, vỏc mừ đi rao…” [10, tr.36]
( Mặt trời-Lửa bổ cu ứng với Mặt trời Lửa, Ánh sáng Đế Minh; Mặt trời núi chimchích Kinh Dương vương; Mặt trời Lửa-Nước cà cuống Lạc Long Quân với vợ
Thái dương thần nữ Âu cơ Ếch nhái và Mặt trời giú Hựng vương chim chào mào)
Trang 29Qua bài hát đám ma Cò từ Bắc chí Nam cho thấy các loài vật tổ của bốn tộcViệt Mặt trời Lửa, Việt Mặt trời Núi, Việt mặt trời Nước và Việt Mặt trời Gió củaliên bang Văn Lang, họ Hồng Bàng có đủ mặt đến chăm lo mai táng cho Cò Điềunày hiển nhiên cho thấy con Cò là chim biểu của đại tộc Việt, trên trống đồng Ngọc
Lũ còn ghi khắc hình Cò bay vòng quanh mặt trời rạng ngời thái dương
Tóm lại Cò là biểu tượng của Lang Việt ao đầm, ruộng nước, là hình ảnh caođẹp, kiêu hùng của người phụ nữ Việt, là tiếng hát của đồng xanh thẳng cánh Còbay, Cò là biểu tược cho hựng tớnh, cho mặt trời rạng ngời nên hình bóng Cò dễ đivào huyết mạch, hơi thở của người Việt
2.1.2 Chim Phượng:
Theo quan niệm của văn học, chim phượng tượng trưng cho chính nhân quân
tử, là chúa tể của các loài chim Theo dân gian thì mỗi khi chim Phượng Hoàng xuấthiện là có thánh nhân ra đời Thời kỳ Quang Trung Hoàng Đế xướng nghĩa thì chimPhượng Hoàng xuất hiện nên dân gian tin Quang Trung là thánh nhân xuất hiện cứudõn giỳp đời Chính vì vậy, Hoàng Đế Quang Trung đã cho xây dựng PhượngHoàng Trung Đô tại Nghệ An để đóng đô dựng nước – [sỏch Lâm Ấp ký]
Tương truyền núi Kim Phụng và núi Cẩm Kê ở Huế, ngày xưa là nơi cư ngụcủa đôi chim Loan Phụng trong truyền thuyết Đông phương biểu trưng cho hạnhphúc lứa đôi (Loan Phụng Hoà Minh) [sỏch Lõm Ấp ký]
Nghiên cứu khảo cổ học cũng chứng minh rất nhiều hình chim và hình ngườihoá trang thành chim, hình thuyền, hình vũ nhân trang sức bằng lông chim trờn cỏctrống đồng và những đồ đồng Đông Sơn khác gốc thờ chim làm vật tổ Bộ lạc gốcthời Hùng Vương dựng nước vẫn bảo lưu truyền thuyết Phượng Hoàng Lửa trong
đó Bái Điểu tộc tức Việt tộc thờ chim bị Thiên ma tộc tức Hán tộc xâm chiếm nênvẫn âm thầm chờ ngày Phượng Hoàng Lửa xuất hiện để dẹp lũ yêu ma, khôi phụclại giang sơn xưa cũ
Trang 30Ở Nhật Bản, chim Trĩ (còn gọi là Công) là bản gốc trong thiên nhiên củahình tượng chim Phượng Hoàng huyền thoại trong văn hoá truyền thống xa xưa củachâu Á, kể cả trong sách cổ Trung Hoa và Nhật Bản Hình tượng chim Loan thỡchớnh là chim Trĩ Cẩm Kê Trĩ chữ Nho gọi là Địch Địch là một loài Trĩ có đuôidài, lông ngũ sắc
Ở Việt Nam, Lạc Địch là giống chim Trĩ của Lạc Việt mà người cổ đại đãtôn thờ như vật tổ Theo nhà nghiên cứu Kim Định thì đặc trưng riêng biệt Trĩ LạcViệt là khi bay thường thu cánh bên trái trước “Lạc địch tập kỳ tả dực” mà cổ thưgọi là Tả nhậm Hình ảnh con chim Trĩ của Việt tộc bay theo hướng mặt trời (Tùydương Việt Trĩ) vừa nói lên vật tổ biểu trưng vừa là tín ngưỡng nguyên thủy thờmặt trời cư dân sống bằng nghề nông
2.2 HÌNH TƯỢNG CÂY –HOA
Văn học thơ ca cũng đề cập nhiều đến hình tượng của một số loài hoa cũngnhư ngụ ý của chúng:
2.2.1 Hình tượng hoa Mai – Hoa Đào (mùa xuân)
Mai là loài cây quý, hoa mai có màu trắng hoặc hồng, cành lá mảnh mai, nhẹnhàng Vì hoa trắng nên mai tượng trưng cho sự thanh khiết Cây mai chịu qua giótuyết mùa đông nờn có một sức sống mãnh liệt Khi tiết trời trở xuõn nó nở hoa 5cánh, báo hiệu xuân về Vì ý nghĩa đó, ngay cả Cao Bỏ Quỏt cũng phải thốt lênrằng:
Thập tải luân giao cầu cổ kiếmNhất sinh đê thủ bái hoa maiDịch: ( Mười năm chu du tìm gươm báu
Đời ta chỉ cúi lạy hoa mai )
Ở Việt Nam, hoa mai cũng được gắn với tính khảng khái của Cao Bỏ Quỏtnờn mai có thể coi là biểu tượng của quõn tử
Trang 31Cùng với hoa mai, hoa đào cũng được văn học, thơ ca đề cập đến nhiều.Trong truyện Kiều, Nguyễn Du có một đoạn thơ tả lại cảnh lúc Kim Trọng trở lạivườn xưa cảnh cũ nơi mà Kim Trọng và Thúy Kiều đã nhiều lần hò hẹn tâm tìnhvới nhau :
“Đầy vườn cỏ mọc lau thưaSong trăng quạnh quẽ, vách mưa rã rờiTrước sau nào thấy bóng ngườiHoa đào năm ngoái còn cười gió đông …”
Câu thơ như nhắc nhủ hiện tại: cảnh xưa vẫn còn đó nhưng người đẹp naycòn đâu? cái biểu tượng hoa đào được ví như hình bóng Thúy Kiều, tạo nên mộtbức tranh trữ tình lãng mạn đầy ấn tượng sâu sắc, nguồn cảm xúc dào dạt, nồng nàn,xao động lòng người
Hình tượng hoa đào không chỉ được ví như người đẹp, sự thủy chung, đúnghẹn mà còn mang khí tiết của người cách mạng, trung kiên, lạc quan, tin tưởng vàomàu hồng chiến thắng, mùa xuân cách mạng (Cây đào Tô Hiệu)
Ở Trung Quốc hình tượng hoa đào được thể hiện trong tích “kết nghĩa tàokhang” của mấy anh em Lưu Bị- Quan Công- Dực Đức (Tam Quốc Diễn Nghĩa –tác giả La Quán Trung)
2.2.2 Hình tượng cõy Tre – Trúc (mùa hạ).
Trúc trong tiếng Hán chỉ loài tre nói chung Cây Trúc theo nghĩa là cây cảnhthì người ta hay chơi Trúc Quân tử Cây Trúc cũng là một cây có thể sống nơi khôcằn, quanh năm xanh tốt, đốt ngay thẳng từ bé, đốt cháy thân cây tre đi nhưng đốtthan của nó vẫn thẳng chứ không cong gãy Trong quan niệm của người xưa tre làđại diện cho tấm lòng ngay thẳng, chính trực của bậc chính nhân quân tử Vì thế cúcõu: Trỳc dẫu đốt, tiết ngay vẫn thẳng “Trúc” ở đây cũng là tre (thuộc họ tre trúc)
Ở Việt Nam cõy tre có một vai trò đặc biệt trong đời sống thường nhật cũng như trong các cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại.
Trang 32Từ ngàn xưa (ít nhất là từ thời Thỏnh Giúng), cây tre đã được người Việt Nam
sử dụng như một thứ vũ khí chiến đấu có hiệu quả trước giặc ngoại xâm và giặc lũ.Người dân Việt Nam ai chẳng biết thân tre được sử dụng làm gậy, roi, chông, cung,tên, cọc (chống lụt) Thời đánh giặc Minh, trong Bình Ngô Đại cáo, bản tuyên ngônđộc lập thứ 2 của nước Đại việt Còn có hình bóng cây tre : “Trúc Lam Sơn khôn ghihết tội…” Thời chống Pháp: Tre rào làng chiến đấu, tre rừng vây quân thù ( Cây treViệt Nam – Nguyễn Đình Thi)
Hoặc : “ Bọn tầm thước, gậy tầm vông (thuộc họ tre)
Thối kệ tàu thiếc, tàu đồng súng nổ…”
[Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc – Nguyễn Đình Chiểu]Nụng thôn Việt Nam, làng nào mà chẳng có vài luỹ tre xanh Nó gợi lên mộtcảm giác yên bình và che chở Các vật dụng trong nhà, dưới bếp và đồ dùng trongnông nghiệp không thể thiếu vắng vai trò của cây tre
Ngày tết cổ truyền, ở sõn đỡnh, sõn chựa, và cả ở gia đình nông thôn nhà nàocũng trồng cây nêu (làm bằng cây tre) trừ tà ma:
Tết đến mẹ tôi vất vả nhiều,
Mẹ tôi lo liệu đủ trăm điều
Sân gạch tường hoa người quét lại,
Vẽ cung trừ quỷ, trồng cây nêu
(Tết của mẹ tôi – Nguyễn Bính)
Trong ca dao Việt Nam, tre- trúc còn được ví von như người thiếu nữ đẹp
[10, tr.45]
Trong tình yêu cũng thấp thoáng bóng dáng của cây tre:
Trang 33“Cỏ năm trên mộ đợi thanh minhTôi đợi người yêu đến tự tìnhKhỏi lũy tre làng tôi nhận thấyBắt đầu là chiếc thắt lưng xanh”
(Mùa xuân – Nguyễn Bính)Cặp “Trúc mai” cũng còn mang nghĩa chỉ người bạn tình chung thuỷ Người
ta mượn “trúc mai” để chỉ người bạn suốt đời giữ được trọn tiết (tiết nghĩa đen làđốt như đốt tre, đốt trỳc) khụng thay lòng đổi dạ, không nghĩ quanh co, vẹn thuỷtoàn chung Trúc mai lại có ý chỉ vợ chồng Vì đạo vợ chồng cốt ở tình nghĩa cótính chất như cây trúc, cây mai:
“Tái sinh chưa dứt hương thềLàm thân trâu ngựa đền nghì trúc mai”
(4- câu 707 đến 708)
“Hồn Còn mang nặng lời thềNỏt thân bồ liễu, đền nghì trúc mai”
(4 - câu 763 đến 764)
2.2.3 Hình tượng hoa Cúc: (mùa thu )
“Cứ mỗi độ thu sang, hoa cúc lại nở vàng” Cúc biểu tượng của sự trườngthọ Thường dùng để chúc thọ, chúc người già Vì thế có loài cúc mang tờn CỳcVạn thọ
Cúc cũng có chí khí quân tử Ai chơi hoa cúc đều biết hoa cúc tàn nhưngkhông rụng, nó chỉ gục rũ trờn thõn của nó Cúc gợi cho ta đến một hình ảnh chếtđứng, chứ không chết nằm Hoa cúc quớ giá được dùng làm thuốc và pha trà giảiđộc, thanh nhiệt
2.2.4 Hình tượng cây Tùng (mùa đông)
Trang 34Tùng mọc trên núi đá cao, dù khô cằn, phong ba, gió tuyết tùng vẫn xanhtươi, đúng trụ, đó là phẩm chất quý mà con người mong ước Trong truyện Tamquốc diễn nghĩa của La Quán Trung, Tào Thỏo cú nói đến chuyện một cây Tùng già
cổ thụ, đường kính mấy chục người ôm (tương truyền giờ vẫn còn) Nhiều ngườimuốn chặt nhưng không chặt được Tào Tháo khiếp sợ và phong cho cây Tùng làTrượng phu Tựng Cú phong quan và treo mũ tượng trưng chí khí của người quân
tử, được nhiều người thờ phụng và học tập
Trong bài thơ vịnh “Cây tùng” của Nguyễn Trãi Ông viết “Thu đến cây nàochẳng lạ lùng Một mình lạt thuở ba đụng… Tuyết sương thấy đã đặng nhiềungày…, Cội rễ bền dời chẳng động…, Có thuốc trường sinh càng khoẻ thay…” bàithơ nói lên bản chất của tùng Cây tùng, rừng tùng thật đáng quý Thõn tựng dẻodai, gỗ tùng bền chắc dùng để làm rường cột cho ngôi nhà: “Tài đống lương cao ắt
cả dùng - Đống lương tài có mấy bằng mày” Đống lương là đũn núc nhà, rườngnhà, xà nhà Tài đống lương, nghĩa bóng là tài năng gánh vác việc lớn của triềuđình, đất nước Phải là kẻ sĩ quân tử chân chính mới có tài đống lương ấy Ba tiếng
“ắt cả dùng” là sự khẳng định: gỗ tùng dùng được nhiều việc lớn, cũng như tàinăng kẻ sĩ quân tử nhất định sẽ giúp vua trị quốc an dân, xây đời thịnh trị
Trang 35Tiểu kết: Nhìn chung ca dao, văn học, thơ ca đã khái quát lên hình tượng của
các loài chim và cây theo triết lý của Nho giáo và Phật giáo về cuộc sống conngười Những hình tượng này với ý nghĩa biểu trưng đã đi sâu vào tiềm thức ngườiPhương Đông nói chung và người Việt Nam nói riêng Đõy chớnh là nguồn hứngkhởi để hội họa phát huy sở trường, xây dựng và làm cho hình tượng của chim, hoa
và cây trong văn hóa nghệ thuật Phương Đông thêm phong phú, rõ ràng và thêmphần ý nghĩa
Trang 36CHƯƠNG III – HÌNH TƯỢNG CHIM VÀ CÂY TRONG HỘI HỌA
3.1 HÌNH TƯỢNG HOA, ĐIỂU, CÂY ĐÃ ĐƯỢC SÁNG TẠO THÀNH CÁC TÁC PHẨM NGHỆ THUẬT Cể THỂ LOẠI SANG Ở PHƯƠNG ĐÔNG 3.1.1 Ở Trung Hoa
Hội họa Phương Đông tiêu biểu nhất là hội họa Trung Quốc Hìnhtượng hoa, điểu, cây là đề tài quen thuộc Mai – lan – trúc – cúc, bốn chủngloại này đều có tính cách cao nhã Mai nở vào mùa đông và xuân, chịu đựnglạnh lẽo Lan kiều diễm mảnh mai, hương thơm thâm trầm Trúc ngay thẳng,
vô tâm, đầy tiết thỏo Cỳc trải sương giá mà chẳng héo hon, có ý chí thách đốthiên nhiên Thế nờn cỏc văn nhân Trung Quốc ái mộ mà đặt tên cho bốnloại này là Tứ quân tử hàm hữu ý vị tượng trưng văn học, tiêu biểu đức hạnhcủa người quân tử Chẳng hạn, gán cho trúc là quân tử, mai là giai nhân, câytùng và chim hạc ngụ ý trường thọ (tùng hạc diờn niờn), v.v Hoạ sĩ chỉ việcthể hiện nó bằng kỹ phỏp riờng của mình
Mặt khác còn có quan niệm người nhân ái và trí tuệ xưa nay hiếm,bản thân kẻ nhân và trí cũng không biết tỡm đõu ra bạn tri âm tri kỷ, nênmượn tranh để ký thác tâm tình, gởi gấm nỗi niềm Do vậy chủ đề nổi bậttrong tranh Trung Quốc là hoa điểu và chim chóc
Về hoa, các văn nhân Trung Quốc thường gán cho mỗi loại hoa quớmột đức tính, một ý nghĩa tượng trưng văn học nào đó, và các họa sĩ đã tiếpthu toàn bộ những quan niệm này Chẳng hạn Chu Đôn Di Tống từng núi:ôTrong cỏc loài hoa, cúc là kẻ ẩn dật, mẫu đơn là kẻ phú quý và sen là bậcquân tử vậy.ằ
Trang 37+ Quan niệm cúc là kẻ ẩn dật phát xuất từ Đào Tiềm (tức Đào UyênMinh đời Tấn), một thi sĩ vĩ đại, chán cảnh làm quan luồn cúi, treo áo từquan, hưởng thú điền viên, vui cảnh nghèo, thích uống rượu chơi cúc và nhàn
du Người đời khen ông là bậc ẩn dật cao khiết Người ẩn sĩ này uống rượungắm cúc để quên cảnh náo nhiệt, trầm luân trong đời, cho nên hoa cúc cũng
là biểu tượng của bậc quân tử ẩn dật lánh đời vậy Đào Tiềm từng thốt rằng:
“Hoa cúc mùa thu có sắc đẹp, phơi lộ nét anh tú, khiến ta quên tình buồn,lánh xa tình đời” [6,7, tr.2-6]
+ Hoa Mẫu đơn là loài hoa quý hiếm, biểu tượng của sự giàu sang phú quý.+ Hoa sen là cốt cách của bậc quân tử Dù cuộc đời ô trọc, nhân tình ấmlạnh, bậc quân tử vẫn giữ được tiết tháo của mình, thơm tho và tinh khiết như đóasen
+ Tựng, trúc, mai là ba người bạn mùa lạnh bởi vì ba loại cây này dự mựasương tuyết vẫn tươi tốt trong khi những loại cõy khỏc hầu như cằn cỗi héo hon.Tính chịu lạnh của tựng, trỳc, mai tượng trưng đức tính nhẫn nại của người quân tử,
tự cường mói khụng thụi, luụn trau giồi tài đức trước nghịch cảnh cuộc đời
+ Mai, lan, cỳc, trỳc thường được gộp chung thành một cụm, xem như biểutượng của bậc quân tử, nên cũng được gọi là ôtứ quõn tửằ Mai nở vào mùa đông vàxuân, chịu đựng lạnh lẽo Lan kiều diễm mảnh mai, hương thơm thâm trầm Trúcngay thẳng, vô tâm, đầy tiết thỏo Cỳc trải sương giá mà chẳng héo hon, có ý chíthách đố thiên nhiên
+ Hoa cúc trác việt siêu phàm, là biểu tượng của bậc quân tử ở ẩn mà trênđây đã đề cập Đời Tống có ẩn sĩ Lõm Bụ chỉ chuyên tâm trồng hoa mai và nuôihạc Người đời tặng cho ụng cõu mai thê hạc tử (hoa mai là vợ, chim hạc là con).Yờu trỳc có thể kể đến Tô Thức Ông núi: ôThà ăn không có thịt chứ không thể ởthiếu trỳc.ằ
Không chỉ hoa, mà quả cũng mang ý nghĩa Chẳng hạn quả đào tượng trưng
sự trường thọ “Đào hiến thiờn xuõn” Quả lựu tượng trưng cho sự đông con cái
“Lựu khai bách tử”
Trang 38Hoa thường được vẽ chung với điểu tượng trưng cho sự trường thọ NgườiTrung Quốc tin rằng hạc sống đến ngàn năm (hạc thọ thiên tuế) Hạc thường được vẽchung với cây tùng (cũng ngụ ý trường thọ), nên tranh “Tùng hạc diờn niờn” (tùng
và hạc sống lâu) được dùng để chúc thọ
Chim én có tình cảm, mùa thu và mùa đông bay đi tỡm cỏi ấm áp của miềnnhiệt đới và mùa xuân quay về tổ cũ Tranh “Xuân phong yến hỉ” mô tả một đôi én
về tổ trong cành liễu xanh phất phơ hay cành đào hồng thắm [H1, tr 65]
Dưới cội mai vàng (biểu tượng của phúc) là đôi chim cun cút thể hiện ânnghĩa tào khang, quan hệ nhõn luõn Tranh phụ đề “ân nghĩa tại sinh tiền” thật làcảm động và thâm trầm [H3, tr 65]
Chim loan và chim phượng tượng trưng duyên nợ vợ chồng Tranh “ LoanPhượng hoà minh “ [H15, tr 70] thể hiện qua đôi chim Loan và Phượng ( hoặc chimPhượng và chim Hoàng súng đụi ) lượn quanh vầng Nguyệt giữa những tầng mây
có ý nghĩa về sự hạnh phúc, gia đỡnh hòa hợp, nghiệp nhà hưng vượng mãi
Điển tích kể lại rằng :
Thời Xuân Thu, ở Trung Quốc, Công tử Trần Hoàn nhà Tây Chú sanglánh nạn ở nước Tề Vì có tài năng, lại được vua Tề nể vì, nên quan đại phunước Tề là Ý Trọng nghĩ đến việc gả con gái cho ông ta
Người con gái của Ý Trọng lo lắng cho việc hôn nhân, bèn xin mộtquẻ bói, lời quẻ viết : “ Chim Phượng và chim Hoàng súng đụi cựng bay,cùng xướng họa hài hòa thân ái, hậu duệ sẽ khai hoa kết quả, suốt năm đờiđều phồn vinh hưng thịnh, có tước vị khanh tước cao quớ, đến đời thứ tám vềsau thì đạt được ngôi vua tụn quớ Nhận biết lời quẻ là một điềm may, lậptức Ý Trọng gả con gái của mình cho Trần Hoàn … quả nhiên đúng như dựđoán của quẻ bói : Hậu duệ của công tử Trần Hoàn ở nước Tề đời đời vinhhiển, và cuối cùng thay họ Khương trở thành vua nước Tề [7, tr 9,10]
Tranh hội họa Trung Quốc còn kết hợp nhiều hình tượng khác với nhau cóngụ ý tổng hợp tượng trưng sự vững chắc, an bình làm tăng thêm thi ý cho tranh.Loại tranh đó thường là lời chúc nguyện cát tường
Trang 39Ví dụ : Mẫu đơn phối hợp với cá lội là biểu tượng “Phú quý hữu dư” lời chúcnguyện tốt đẹp vào ngày đầu năm Hoặc hoa mẫu đơn vẽ chung với khổng tước(chim công) “Khổng tước khai bình” Hoa xuân điểm thêm vài cánh bướm, tạo sinhđộng cho tranh Bướm ngụ ý là “Trùng điệp” Tranh mẫu đơn điểm thờm cỏnhbướm ngụ ý phú quý trùng điệp [H2, tr 65]
Tranh vẽ chim hỉ thước (vui vẻ) đậu cây ngô đồng ngụ ý “đồng hỉ” (mọingười cùng vui vẻ) Tranh vẽ chim hỉ thước đậu cành mai cũng mang ý nghĩatương tự [H3, tr 65] Tranh vẽ mẫu đơn (phú quý) với con gà (kờ cỏt: tốt lành) ngụ
ý “phỳ quý cát tường” [H13; tr 69]
Tóm lại : Các hình tượng chim, cây và hoa trong hội hoa Trung Quốc đều
mang trong mình những điển tích của thời cuộc, thông qua ngôn ngữ (nhất là từ ngữđồng âm hay cận âm) người ta sẽ liên tưởng hình vẽ này đến một sự vật nào đó với
ý nghĩa biểu tượng nhất định trong tâm thức chung của mọi người Đặc điểm chungnhư sau:
Về mặt đề tài : Tranh Trung Quốc chủ yếu là tranh thủy mặc với ba đề tàichủ yếu: sơn thủy, hoa điểu và nhân vật , trong đó hình tượng chim và cây chiếmmột vị trí khá lớn trong các mảng đề tài này
Về mặt tạo hình: Tranh truyền thống Trung Quốc có hai cách cấu trúc khônggian tạo hình là “Thấu thị tẩu mã” và “Thấu thị phi điểu”
Thấu thị tẩu mã có lối cấu trúc không gian như nhìn từ trên mình ngựa đangchạy, hình ảnh trong tranh được thể hiện theo lối chạy dài, di chuyển theo hàngngang Không phải gần vẽ to, xa vẽ nhỏ như lối nhìn không gian khách quan theoluật viễn cận của nghệ thuật Tây phương, mà trái lại những điểm gần vẽ nhỏ, điểm
Trang 40Để có thể diễn đạt được hai cách cấu trúc không gian tạo hình này, các họa sĩTrung Quốc đã phải phát huy trí tưởng tượng, khả năng sáng tạo siêu phàm để tạonên những bức tranh rung động người xem.
Về chất liệu: các tác phẩm hội họa cổ đại Trung Quốc được vẽ bằng bút lông,dùng thuốc nước hoặc mực nho trên giấy xuyến chỉ (loại giấy làm thủ công nhưngrất cao cấp, trắng, mịn, chứ không phải hơi vàng ngà như giấy dó của tranh ĐôngHồ)
Về kỹ thuật: Họa sĩ phải có sự cảm nhận sâu sắc về đối tượng, phải có khảnăng điều khiển bút vẽ một cách linh hoạt, khéo léo Khi vẽ phải tích đủ nội cônglại đầy cảm xúc, ý tưởng rồi mới hạ bút, vì đặc điểm của giấy xuyến chỉ là rất thấmmực, bút vẽ nét nào ăn nét ấy, không thể sửa chữa Sắc màu của mực đậm hay nhạttùy cách đưa đường nét và tạo hình thế nào để qua đó cho người xem ở góc độ thẩm
sĩ hết sức chú trọng từng bộ phận chi tiết của cảnh vật sau đó tiến hành tômàu Phẩm màu tươi đậm dùng cho lối hội họa này phần nhiều là các loạichất khoáng vì thế mà qua nhiều năm bảo tồn, màu sắc vẫn tươi rói Loạitranh này đẹp mắt, hào hoa, có giá trị trang trí, bề thế, nên trong lịch sửTrung Quốc, nhiều họa sĩ cung đình đều áp dụng lối vẽ này để thể hiện sựquý phái của triều đình
Tranh thủy mặc ngụ ý (Thô tất họa), đường nét giản đơn, phác họa nên chấtliệu và ngụ ý của cảnh vật Thường vẽ phong cách này là họa sĩ Tề BạchThạch (thế kỷ 19), vẽ tụm, cỏ, cực siêu, sống động và họa sĩ Từ Bi Hồng (thế
kỷ 20) với những bức vẽ về ngựa trình độ bậc thầy “thiên hạ vô địch”