1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Kinh tế học phát triển về công nghiệp hóa và cải cách nền kinh tế

441 343 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 441
Dung lượng 33,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẨUKinh tê học phát triển đã hình thành và phát triển hơn một nửa thê kỷ kể từ những năm 1950 khi hàng trăm nước đang phát triển ra đời, nhưng đến nay có rất ít công trình nghiên

Trang 1

VIỆN KINH TÊ VÀ'CHÍNH TRỊ THẾ GIỚI

PGS TS ĐỖ ĐỨC ĐỊNH

KHH TẾ HệC PHẤT TnẳM

VỀ CÔNG NGHIỆP HÓA

VÀ CẢI CÁCH NỀN KINH TẾ

(Sách tham khảo)

THU VIEN DAI HOC THUY SAN

lill

S F

Trang 2

VIỆN KINH TÊ VÀ CHÍNH TRỊ THÊ GIỚI

PGS TS ĐỖ ĐỨC ĐỊNH

KINH TẾ HỌC PHÁT TRIỂN

VỂ CÔNG NGHIỆP HÓA

VÀ CẢI CÁCH NỀN KINH TÊ

(Sách tham khảo)

Trang 3

LỜI NHÀ XUẤT BẢN

Kinh tẻ học phát triển là ngành khoa học nghiên cứu các phạm trù, quy luật vận động, phát triển của nền kinh tế và cách thức chuyến nền kinh tế từ trình độ phát triển thấp lên trình độ phát triển cao hơn Một trong những nội dung quan trọng nhất của kmh tế học phát triển là công nghiệp hoá Đôi với các nước đang phát triển, công nghiệp hoá được coi là yếu tô" quan trọng hàng đầu, là con đường duy nhất để thoát khỏi nền kinh tế nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu Tuy nhiên, không phải bất kỳ quôh gia nào cũng thực hiện công nghiệp hoá thành công.

Việt Nam là một nưốc đang phát triển Hiện nay, chúng ta đang thực hiện chiến lược đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quổc lần thứ IX của Đảng đã khẳng định,

"Phát triển kinh tế, công nghiệp hoá, hiện đại hoá là nhiệm vụ trung tâm" Đe hoàn thành sứ mạng đầy khó khăn và thách thức nhưng cũng hết sức vẻ vang này, chúng ta không chỉ nỗ lực phát huy nguồn lực trí tuệ, sức mạnh vật chất và tinh thần của con người Việt Nam, mà còn phải tích cực nghiên cứu và học hỏi kinh nghiệm của các nước phát triển và đang phát triển, đặc biệt là những nước có những điều kiện, hoàn cảnh tương đồng

Trang 4

vối nưốc ta Ý thức được tầm quan trọng của vấn đê nàv, Nhà

xuất bản Chính trị quô"c gia xuất bản cuô"n sách Kinh tê hoc

p h á t triề n Vê công n g h iêp hoá và cải c á c h nên hình tê

của Phó giáo sư, Tiến sĩ Đỗ Đức Định (Viện Kinh tế và Chính trị thế giới).

Cuôn sách giới thiệu một sô" trường phái và quan điểm lý thuyết về kinh tê học phát triển; đi sâu nghiên cứu vấn đê công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát huy lợi thế so sánh, xây dựng mô hình kết hợp giữa tăng trưởng với phát triển, bảo đảm sự phát triển bền vững Cuốn sách cũng đề cập một SCI vấn đề cải cách, đổi mối sang nền kinh tế thị trường trong quá trình công nghiệp hoá một sô" nước ở châu Phi và Đông Á, qua đó rút ra những bài học kinh nghiệm đốì vối Việt Nam.

Trong cuô"n sách này, tác giả đã cô" gắng luận chứng và đưa

ra một sô" ý kiến riêng về những vấn đề quan trọng của một ngành khoa học còn mới vẩ có tính chất tổng hợp và tính chất ứng dụng rất cao Chúng tôi coi đây là quan điểm riêng của tác giả để bạn đọc tham khảo Hy vọng cuô"n sách sẽ là tài liệu nghiên cứu bổ ích cho các cán bộ lãnh đạo và quản lý kinh tê", các nhà nghiên cứu và với những ai quan tâm đến vấn đề này Xin giối thiệu cuô"n sách với bạn đọc.

Tháng 7 năm 2004

NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ Quốc GIA

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Chương 1: CÁC TRƯỜNG PHÁI

VÀ QUAN ĐIỂM LÝ THUYẾT CHÍNH

I Sơ lược lịch sử quá trình hình thành và phát triển

IV Một sô" quan điểm lý luận mới trong xu thế toàn

Chương 2: CÔNG NGHIỆP HOÁ PHÁT HUY

LỘI t h ế s o s á n h đ ộ n g - MÔ HÌNH MỚI

KẾT HỢP TĂNG TRƯỞNG NHANH

1 Công nghiệp hoá - Con đường duy nhất để thoát

khỏi tình trạng nên kinh tế nông nghiệp lạc hậu 56

2 Huy dộng và phân bổ các yếu tô" sản xuất 59

3 Tăng trưởng nhanh gắn với phát triển bền vững

Trang 6

II Khủng hoảng, đánh giá lại, mô hình công nghiệp

hoá mới, các bước đi và tiêu chí công nghiệp hoá 82

1 Khủng hoảng tài chính và việc đánh giá lại mô

2 Mô hình mới về công nghiệp hoá phát huy lợi

4 Các tiêu chí công nghiệp hoá và việc vận dụng

để đánh giá thực trạng công nghiệp hoá ở Việt Nam 161

2 Tác động của các yếu tô" ngoài chính sách 213

3 Sự khác nhau cơ bản giữa'hai nền kinh tế Việt

4 Những khác biệt trong sự phát triển của các

II Chuyển dổi sở hữu - Thay dổi cách thức sử dụng,

1 Tình hĩnh chuyển đổi sở hữu ỏ một sô" nước 276

2 So sánh chuyển đổi sở hữu ở Nga và Việt Nam 282

Trang 7

III Điều chinh chính sách kinh tế dôi ngoại thích

ứng với xu thô toàn cầu hoá, tự do hon và kinh tê tri

1 Những yốu tô chính tác dộng tới quá trình điều

2 Những xu hướng và nội dung chính của điều

3 Những đôi sách tình thê trước khủng hoảng,

4 Gia nhập WTO - Cơ hội và thách thức của các

IV Vai trò và chức năng mối của nhà nước trong

1 Vai trò của nhà nước trong kinh tê thị trường 408

2 Các loại nhà nước chủ yếu trong kinh tế thị 417 trường

3 Những chức năng và lĩnh vực hoạt động chính

của nhà nước trong nền kinh tê thị trường hiện đại 423

Trang 8

LỜI MỞ ĐẨU

Kinh tê học phát triển đã hình thành và phát triển hơn một nửa thê kỷ kể từ những năm 1950 khi hàng trăm nước đang phát triển ra đời, nhưng đến nay có rất ít công trình nghiên cứu một cách hệ thông về ngành khoa học mới này của các nước dang phát triển, đồng thời cũng là ngành khoa học có rất nhiều vấn đề hên quan đến sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tê - xã hội của nước

ta, nhất là những trào lưu lý thuyết và các quan điểm bàn

vê các cuộc cải cách và chuyên dối kinh tế - xã hội, bàn về quá trình công nghiệp hoá, về vai trò của nhà nước và thị trường và nhiều vấn dề hệ trọng khác

Trong cuốn sách này, chúng tôi lựa chọn và nghiên cứu ba loại vấn đề lý thuyết và thực tiễn cơ bản của kinh

tế học phát triển đó là những vấn đề vê lý thuyết, về công nghiệp hoá và về cải cách kinh tế, trong đó đặc biệt đi sâu phân tích những vấn để có liên quan nhiều và thiết thực đốì vối công cuộc dôi mới, công nghiệp hoá và hội nhập kinh tê quôc tê của nước ta như các vấn để vê tự do hoá, toàn cầu hoá, công nghiệp hoá, cải cách kinh tê - xã hội, chuyển đổi sở hữu, chính sách kinh tế đối ngoại và vai trò của nhà nước Cũng cần nói thêm rằng, nghiên cứu lý

Trang 9

thuyết là một công việc rất cần, nhưng cũng rất khó đòi hỏi phải đầu tư nhiều thời gian và công sức mới có thể có dược những kết quả có cơ sở khoa học vững chắc Những quan điểm lý thuyết được trình bày ở đây phần lớn mới chỉ

là những kết quả thu thập và hệ thống hoá tư liệu Tuy nhiên, bên cạnh việc hệ thông hoá và trình bày một cách trung thực những nội dung chính của các lý thuyêt và quan điểm đã được các học giả nêu ra, tác giả cuốn sách

cũng cố gắng phân tích và lý giải những nội dung và quan

điểm của họ để xem xét những mặt ưu, mặt nhược của mỗi

X

loại quan điếm, cái nào còn phù hợp, cái nào cần thay thế, điều chỉnh, cái nào có thể vận dụng và vận dụng đến mức nào là vừa phải Thêm vào đó, tác giả cũng mạnh dạn bố sung một sô yếu tô" và sự phát triển mới diễn ra ở các nền kinh tế đang trong quá trình cải cách, đổi mới và chuyển đổi, mạnh dạn nêu ra một vài quạn điểm mới và riêng của mình như quan điểm về mô hình công nghiệp hoá phát huy lợi thế so sánh động - một mô hình công nghiệp hoá mỏi nhằm kết hợp sự tăng trương nhanh vối phát triển bền vững trong xu thê tự do hoá, toàn cầu hoá và tin học hoá, vừa bảo đảm rút ngắn được quá trình công nghiệp hoá, vừa nâng cao được chất lượng sông và bảo vệ môi trường tự nhiên trong sạch, quan điểm về các bước đi công nghiệp hoá, các tiêu chí công nghiệp hoá, các phương pháp công nghiệp hoá, quan điểm về sở hữu với tư cách là một công cụ cơ bản của chính sách,v.v., nhằm góp phần bàn về chiến lược, bước đi và cách làm tốt nhất để rút ngắn quá trình công nghiệp hoá ở nước ta, đưa nước ta thoát khỏi

Trang 10

tình trạng tụt hậu trở thành một nước công nghiệp mới hay một nước về cơ bản cỉược công nghiộp hoá trong khoảng hai, ba chục năm tới, rồi tiếp theo là một nước công nghiệp phát triển trong vài thập ký sau đó.

Hy vọng cu ôn sách có thể cung cấp thêm một sô thông tin, dữ liệu khoa học và là tài liộu tham khảo bổ ích cho các nhà nghiên cứu, giảng dạy về kinh tế - xã hội, các nhà hoạch định chính sách, sinh viên, nghiên cứu sinh và các bạn dọc khác quan tâm tới kinh tế học phát triển, tới công nghiệp hoá và cải cách, đôi mới kinh tê - xã hội

Tác giả hoan nghênh các ý kiến dóng góp và tranh luận của bạn đọc

Hà Nội, tháng 1 năm 2004

P G S.T S.Đ ỗ ĐỨC ĐỊNH

Trang 11

Chương 1

CÁC TRƯỜNG PHÁI VÀ QUAN ĐIẾM LÝ THUYẾT CHÍNH CỦA KINH T Ể HỌC PHÁT TRIỂN

I Sơ Lược LỊCH SỬ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIEN CỦA KINH TẾ HỌC PHÁT TRIEN

Kinh tế học phát triển là một môn khoa học bàn về sự phát triển kinh tế - xã hội ở các nước đang phát triển Nó

ra đời cùng với sự ra đòi và phát triển của hàng trăm nhà nước độc lập ở châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh từ những năm 1950, khi phần lớn các nước này được giải phóng khỏi chế độ thực dân cũ và bắt đầu sự nghiệp xây dựng nhà nước cùng với nền kinh tê độc lập, tự chủ của mình Đó là một điều kiện khách quan dòi hỏi phải có sự tìm kiếm những quan điểm, lý thuyết, chính sách và chiến lược phát triển mới nhằm đáp ứng những nhu cẩu phát triển ở các nước này sau khi giải phóng khỏi chê độ thực dân cũ Trước đó, hầu như chỉ có các học thuyết và quan điểm của phương Tây về sự phát triển của phương Tây, còn các quôc

Trang 12

gia châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh chỉ dược coi là những vùng lãnh thố hoặc thuộc dịa của cường quốc phương Tây này hay cường quốc phương Tây khác Sự phát triển của họ dược đồng nhất với việc khai thác các tài nguyên thiên nhiên và mở ra các thị trường nhằm phục vụ cho lợi ích của “mẫu quốc”, còn việc nâng cao mức sông của đại da sô" nhân dân tại các nước này thì không dược coi trọng Do tự nhận thây không thể cứ tiếp tục dựa mãi vào các lý thuyết kinh tế truyền thông và chính thông của "phương Tây" hay "phương Bắc" như trước, nhiều nhà kinh tế của các nước "phương Nam" hay "thô giới thứ ba" đã đi sâu nghiên cứu nhằm tìm ra các quan điểm phát triển riêng của "phương Nam" Nhưng vì đây

là một vấn đề rộng lớn mang tính chất thế giới, không chỉ bó hẹp trong phạm vi phát triển của riêng "phương Nam", và do nhiều nhà khoa học có nhiệt huyết muôn đóng góp cho sự phát triển của "phương Nam", cho nên bên cạnh các học giả "phương Nam" đã có nhiều nhà kinh tế học ở các nước "phương Bắc" cùng tham gia vào quá trình nghiên cứu sáng tạo này Đó là nguyên nhân chính dẫn tới sự hình thành và phát triển của các quan điểm và lý thuyết phát triển về các nước đang phát triển, nhưng đồng thời lại cũng tồn tại và phát triển ở

cả các nước "phương Bắc"

Mặc dù có rất nhiều nỗ lực, nhưng những quan điếm

và lý thuyết này lúc đầu chịu ảnh hưởng rất lớn bởi các lý

thuyết và quan điểm của các nhà kinh tê học cố điển ở các

nước công nghiệp như Ađam Smith, Ricácđô, Mantuýt và

Trang 13

một sô chịu ảnh hưởng bởi cả các quan điểm kinh tê - xã hội của học thuyết Mác - là người đã nghiên cứu một cách sâu sắc vấn đề tích luỹ tư bản và tăng trưởng trong các nền kinh tế tư bản chủ nghĩa phương Tây, nhất là châu

Âu Về sau các quan điểm và lý thuyết này ngày càng được

mở rộng và bổ sung thêm những vấn đề phát triển thực tế của các nước thuộc “thê giới thứ ba.”

Các trường phái chính của kinh tế học phát triển từ sau Chiến tranh thê giới thứ hai đến cuôì những năm

1980, tập trung vào hai loại lý thuyết chủ yếu kế tiếp nhau, đó là "câu trúc luận" và "thuyết tự do mới." Tuy hai loại lý thuyết này không hoàn toàn tách khỏi các lý thuyết kinh điển như cạnh tranh tự do và lợi thế so sánh, mà ngoài ra, chúng còn chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi các loại

lý thuyết kinh điển đó, tuy nhiên chúng đã được bể sung thêm các quan điểm mới cho phù hợp với tình hình thực tế

đã thay đổi Lý thuyết tự do cạnh tranh vối sức mạnh tuyệt đối của “bàn tay vô hình” của thị trường đã nhường chỗ cho những tư duy mới của trường phái tự do mới về sự điều chỉnh sao cho thích hợp giữa vai trò nhà nước và thị trường, còn lý thuyết lợi thê so sánh thì dược bổ sung thêm nhiều yếu tô" mối, nhất là những yêu tô" về tiềm lực khoa học, công nghệ mới và những yếu tô" liên quan đến các nguồn nội lực và ngoại lực của các nước đang phát triển, trong đó có quan điểm "tự lực cánh sinh" và độc lập dân tộc, dựa vào sức mình là chính, để cao vai trò của các nhà nước dân tộc ở các nước dang phát triển và hạn chê" sự ảnh hưởng của tư bản nước ngoài \V\ %s>~ỹjị

Trang 14

Đây là những lý thuyêt có ảnh hưởng chi phôi đôi vói quá trình phát triển kinh tê - xà hội ỏ háu hêt các nước dang phát triển, nhất là dên quá trình công nghiệp hoá của họ Từ những năm 1980, khi những cuộc khủng hoảng kinh tê - xã hội nổ ra ngày càng nhiều, đặc biệt là những cuộc khủng hoảng trầm trọng vê cơ cấu và về tài chính - tiền tệ đã dẫn đến những đánh giá lại về quan điểm lý thuyết, chính sách và chiến lược phát triển ở hầu hết các nưốc đang phát triển, kể cả mô hình "thẩn kỳ" của châu Á, thì những thay đổi vể quan điểm và chính sách phát triển cũng ngày càng diễn ra mạnh mẽ, nhất là những thay đổi được thể hiện thông qua các cuộc cải cách và chuyến đối kinh tê - xã hội ở các nước đang phát triển châu Á châu Phi, Đông Âu và Nga.

Bước vào những năm 1990, khi quá trình toàn cầu hoá ngày càng phát triển sâu rộng với sự lưu chuyển mạnh của các dòng vốn và thương mại quốc tê cùng sự phát triển mối của công nghệ thông tin, kinh tê tri thức và những diễn biến thất thường của kinh tế thê giới, các lý thuyết trên đây một lần nữa lại phải điều chỉnh, và chính sự điều chỉnh đó đã có ảnh hương lớn tới sự thay đổi quan diêm và chính sách kinh tế của các nước, trong đó có các nước đang phát triển, từ đây những quan điểm mới vê liên kôt hay hội nhập quốc tê ngày càng dược bố sung cho những tư duy kinh tê của các nước đang phát triển

Như vậy, nhìn lại quá trình lịch sử một nửa thê kỷ hình thành và phát triển của kinh tê học phát triển, chúng ta có thể thấy trong kinh tế học phát triển dã hình

Trang 15

thành ba loại lý thuyết và quan diêm phát triển chi phôi quá trình phát triển ỏ hầu hết các nước dang phát triển từ sau Chiến tranh thê giới thứ hai đến nay, trong dó hai loại

là câu trúc luận và thuyết tự do mới dã phát triển thành

những trường phái lý thuvêt rõ ràng, còn một loại là

những quan điếm mới của kinh tế học phát triển hình

thành trong bối cảnh của xu thê toàn cầu hoá và kinh tê tri thức thì đang trong quá trình phát triển, nhiều quan điểm khác nhau dã được nêu ra, nhùng chưa định hình thành một loại lý thuyết rõ ràng, chưa được thừa nhận thành lý thuyết chính thông, mà còn có nhiều thay đổi và điều chỉnh Tuy nhiên, những quan điểm này đã có những đóng góp quan trọng vào quá trình hình thành chính sách

và phát triển kinh tế - xã hội thực tiễn ở nhiều quốc gia đang phát triển trong một, hai thập kỷ gần đây, vì thê chúng cũng rất đáng được quan tâm nghiên cứu Trong các phần dưới đây chúng ta sẽ nghiên cứu tiếp vê ba loại

lý thuyết và quan điểm phát triển nêu trên

II CẤU TRÚC LUẬN

Khái niệm "chủ nghĩa cấu trúc" hay "cấu trúc luận" hoặc "nhà cấu trúc luận" đầu tiên dược sử dụng trong lý thuyết phát triển để nói về những tư tương của một nhóm nhà khoa học xã hội trong uỷ ban Kinh tê Liên hợp quôc

về Mỹ Latinh (ECLA) do Prebisch dứng đầu, từ cuôi những năm 1940 đến những năm 1950 Các tác giả này

đã tập trung phân tích các vấn đề kinh tê của Mỹ

Trang 16

Latinh và tìm câu trả lòi cho những vấn đê cốt lõi như: xác định vị trí của khu vực ngoại VI Mỹ La tinh trong mối liên hệ VỚI những trung tâm tư bản lớn ở Bắc Mỹ và Tây Âu trong nền kinh tê quốc tế; bàn giải pháp nhằm khắc phục tình trạng cơ cấu không dồng nhất giữa các nền kinh tế Mỹ Latinh, đặc trưng bởi sự phát triển không đồng đều giữa các nước thành viên thuộc khu vực

và giữa các thành phần kinh tê khác nhau trong mỗi quốc gia

Trong thời kỳ từ cuối những năm 1940 tới đầu những năm 1960, cấu trúc luận đã tập trung bàn về mối quan hệ của các cơ cấu kinh tê - xã hội và sự phát triển kinh tê được COI như sự biến đổi có liên quan tới các cơ cấu đó Cơ cấu kinh tế được xem xét trong lý thuyết này bao gồm những mặt chính như: cơ cấu giữa các ngành kinh tê bao gồm nông nghiệp, khai khoáng, chế tạo và dịch vụ; cơ cấu kinh tê đối ngoại hên quan đến xuất, nhập khẩu và dầu tư nước, ngoài; cơ cấu năng suất được tính theo năng suất trong các ngành kinh tế khác nhau; cơ cấu doanh nghiệp được nghiên cứu thông qua các mô hình và quy mô xí nghiệp; và cơ cấu xã hội dược nghiên cứu gắn vói sỏ hữu

và quyền kiểm soát tài nguyên, như quyền kiểm soát và sở hữu đất đai chẳng hạn Nói cách khác, cấu trúc luận dã chú trọng vào việc nghiên cứu những đặc điểm cơ cấu kinh

tô cốt yếu nhất của các nưóc chậm phát triển, những vấn

đề quan trọng và thiết thực nhất của họ, chính vi lè dó

mà câ\i trúc luận ngày càng thu hút được sự tham gia rộng rãi của nhiều nhà khoa học xã hội-, đặc biệt là các nhà

Trang 17

kinh tế, để bàn vê các vấn đổ phát triển kinh tê - xã hội

Và cùng chinh vì lẽ đó mà nhiều học giả đã coi chủ nghía

cấu trúc hay cấu trúc luận là một môn khoa học về kinh tê

học phát trien.

Cấu trúc luận ra đời sau cuộc dại khủng hoảng những năm 1930, nó phản ánh sự mất niềm tin vào hệ thông thị trường tự do truyền thông, một hệ thông đã đẩy thê giới vào cuộc đại khủng hoảng và suy thoái Các tác giả hàng đầu của cấu trúc luận như Dudley Seers đã phê phán lý thuyết kinh tê chính thông lúc bấy giờ là chỉ bàn về sự phát triển ở các nước công nghiệp phát triển, ít hoặc hầu như không quan tâm tới các nước "thế giới thứ ba", và cũng không tập trung tìm giải pháp cho những vấn đề nan giải nhất của "thế giới thứ ba", vì thê nó không thích hợp VỚI các nước nghèo, chỉ có cấu trúc luận mới l à người thật

sự muôn tìm giải pháp nhằm giải quyết những vấn đề của

"thê giới thứ ba" và thật sự là của "thê giới thứ ba" Bởi vậy, cấu trúc luận đã phát triển và trở thành lý thuyết chính thông của các nước "thê giới thứ ba"

Đến khi cấu trúc luận phát triển trở thành tương đôi phô biến, người ta đã mở rộng nó, bố sung thêm nhiều cách tiếp cận khác có định hướng cấp tiến, kể cả phương pháp luận mácxít Nhờ đó, phạm vi hoạt động của cấu trúc luận ngày càng được mở rộng, không chỉ gồm các học giả nặng về học thuật, mà thu hút cả các chính trị gia và các nhà hoạt động thực tiễn như các nhà cải cách theo phái ôn hòa, những người tán thành sự can thiệp hoặc định hướng nển kinh tê của nha nước ở những mức độ khác nhau, đếr

Trang 18

những nhà cách mạng, những người tin rằng sự phát triển chỉ có thê đạt được dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, thay thê chê độ tư bản chủ nghĩa.

Câu trúc luận có ảnh hương lớn đến cuộc tranh luận vê những vấn đề của "thê giới thứ ba" từ cuôì những năm

1940 tới đầu những năm 1960 Khái niệm "cấu trúc luận"

tự nó đã cho thấy môi quan hệ của các cơ cấu kinh tê - xã hội và sự phát triển kinh tê được coi như sự biến đổi có liên quan tới các cơ cấu đó Cơ cấu kinh tế được xem xét trong lý thuyết này bao gồm những điểm chính như: Cơ cấu ngành; Cơ cấu kinh tế đối ngoại; năng suất trong các ngành khác nhau; mô hình và quy mô doanh nghiệp; các

cơ cấu xã hội gắn với sở hữu và quyền kiểm soát các tài nguyên, chẳng hạn trong cơ cấu nông nghiệp thì ai kiểm soát đất đai và việc kiểm soát đó được duy trì như thê nào? Sản xuất nông nghiệp được tố chức ra làm sao? Những câu hỏi thường được các học giả nêu ra trong thời

kỳ này để nghiên cứu và tìm lời giải đáp là: Ai sản xuất cái gì, như thế nào và cho ai? hay lợi ích của việc trồng trọt và chăn nuôi được thực hiện như thê nào? và do ai?Cấu trúc luận là sản phẩm của thời đại mới khi con người đã mất niềm tin vào hệ thông thị trường tự do truyền thông sau cuộc đại khủng hoảng những năm 1930, đòi hỏi phải tìm giải pháp mới cho tình hình mối, nó ra đời vào lúc những tư tưởng của Keynes vê vai trò trung tâm của nhà nước trong việc quản lý nên kinh tê với tư cách là tác nhân chính để khắc phục "những cản trở cơ cấu" đôi với tăng trưởng kinh tê đã được thừa nhận, vì thế nó có

Trang 19

phần chịu ảnh hương bởi học thuyết Keynes, đê cao vai trò của nhà nước trong việc đổ xướng, thực hiện các chương trình và kê hoạch kinh tô nhằm khắc phục những thái quá

và thất bại của thị trường tự do

Theo quan điểm của phái cấu trúc luận, chính phủ các nước thê giới thứ ba dóng vai trò trung tâm trong việc khắc phục tình trạng lạc hậu kinh tê, có vai trò tích cực trong quá trình công nghiệp hóa, đặc biệt là trong việc tăng tích luỹ tư bản, yêu tô cần thiêt hàng đầu cho phát triển kinh tế Vai trò của chính phủ là quan trọng đối với mọi quôc gia đang phát triển, mặc dù nó có thể khác nhau tuỳ theo điều kiện cụ thể mỗi nước, như ở Mỹ Latinh người ta nhấn mạnh tới vai trò của nhà nước trong việc bảo hộ công nghiệp trong nước và xây dựng cơ sở hạ tầng, còn ở Ấn Độ, nơi mô hình kê hoạch hoá tập trung được đề cao hơn thì sơ hữu nhà nước phô biên hơn và kê hoạch hóa được coi là chìa khoá cho tăng trưởng kinh tế

Các nhà tư tưởng của cấu trúc luận khẳng định rằng thị trường không đủ để bảo đảm một sự phát triển kinh tế

ổn định và vững chắc cho các nước đang phát triển, nó cũng không thể giúp các nước đang phát triển cải tạo được

cơ cấu kinh tế lạc hậu của mình, chính vì vậy nhà nước cần dóng vai trò tích cực để thúc dẩy quá trình phát triển, thực hiện việc chuyển dổi các nền kinh tê từ nông nghiộp sang công nghiệp, tăng tích luỹ, dầu tư, COI đầu tư là yêu tô" đóng vai trò then chốt trong tăng trưởng kinh tế, và cải tạo cơ cấu dầu tư theo hướng chuyển đổi cơ cấu phục vụ quá trình công nghiệp hoá

Trang 20

Vận dụng những quan điểm lý thuyêt trên đây của phái cấu trúc luận, trong thời kỳ những năm 1950-1960, chính phủ nhiều nước đang phát triển dã xây dựng loại chiến lược phát triển khá phô biến lúc bấy giò là công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu Thực hiện chiến lược này, chính phủ nhiều nước đang phát triển đã lập nên các hàng rào thuế quan và phi thuê quan mang tính bảo hộ mậu dịch để đối phó lại sự cạnh tranh của những loại hàng hoá nhập khẩu và kích thích việc sản xuất những loại hàng hóa chế tạo ở trong nước, bắt đầu từ việc sản xuất những loại hàng hoá tiêu dùng đơn giản, mau hỏng như quần áo, giày dép, rồi chuyển sang những loại hàng tiêu dùng lâu bền, phức tạp hơn như thiết bị, phụ tùng máy móc xe hơi

và những loại sản phẩm trung gian như thép và hóa chất Chính phủ hỗ trợ cho chiến lược này bằng cách khuyên khích các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào công nghiệp chế tạo, còn chính phủ thì đầu tư xây dựng đường sá và sản xuất năng lượng

Tuy đã có những đóng góp đáng kể cho sự phát triển lý thuyết và sự tăng trưởng kinh tế thực tế, nhưng đến những năm 1960, cấu trúc luận đã bị phê phán Quan điểm dùng công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu để thay đổi cơ cấu và giải thoát nền kinh tế quôb dân khỏi những kiểm chê của

hệ thông quốc tế trở nên khó thực hiện do quan hệ giữa nhừng mặt hàng nhập khẩu đơn giản dược thay thế bởi sản xuất trong nước và những hàng hóa đòi hỏi vôn đầu tư lớn, công nghệ cao ngày càng trở nên phức tạp, nhập khẩu cao hơn xuất khẩu, dẫn đến tình trạng thiếu hụt ngày

Trang 21

càng lớn trong cán cân thanh toán Tăng trưởng kinh tê không cao nên vẫn không xóa bỏ được tình trạng nghèo khố của da sô" nhân dân các nước thê giới thứ ba Bộ máy quan liêu nhà nước ngày càng phình to và không phải lúc nào cũng hành động vì "lợi ích quốc gia."

Các quan điểm phê phán cấu trúc luận lúc bấy giờ tập

trung vào ba khuynh hướng chính: đó là lỷ thuyết về sự

phụ thuộc, các quan điểm vê nhu cầu cơ bản và chủ nghĩa

tự do m ới, trong đó hai khuynh hướng đầu phát sinh từ

trong chính nhóm cấu trúc luận và trở thành hai tiểu trường phái của nhóm đó, khuynh hướng thứ ba là xu hướng mới ra đời trong những năm 1960 đòi xét lại vai trò của nhà nước và đê cao hơn vai trò của thị trường Khuynh hướng thứ ba ngày càng phát triển mạnh hơn, dần dần trở thành một trường phái riêng thay thê cấu trúc luận

Trong các trường phái trên đây, trường phái lỷ thuyết

về sự phụ thuộc (theory of dependency) là trường phái

phản ánh sự thay đối mạnh nhất trong chính tư duy của

cấu trúc luận về kinh tế ầối ngoại, nó quay lại phê phán

sự thất bại của quá trình thực hiện chiến lược thay thê nhập khẩu, coi đó là yếu tô đã tạo ra một nên kinh tê dân tộc độc lập mà không có "giai cấp tư bản dân tộc" lãnh đạo

sự phát triển kinh tế, dẫn tới việc các công ty xuyên quốc gia nắm giữ hầu hết các lĩnh vực năng động trong nên kinh tế, còn các nhà công nghiệp địa phương thì bị "phụ thuộc" vào tư bản nước ngoài Lý thuyết về sự phụ thuộc chủ trương mở rộng quan hệ với bên ngoài để phát triển

Trang 22

bên trong Các tác giả chính của lý thuyết này gồm có Andre Gunder Frank, Theotonio dos Santos và một sô nhà cấu trúc luận bị coi là “vỡ mộng” như Celso hurtado và Osvaldo Sunkel, những người trước đây đã làm việc cho

ủv ban kinh tê Liên hợp quốc về Mỹ Latinh Tư tương của những nhà lý thuyết về sự phụ thuộc này đến một, hai thập kỷ sau đó đã được áp dụng tương đôi rộng rãi ở một sô" khu vực của "thê giới thứ ba", nhất là các nước đang phát triển ở châu Á, nhưng lại không phải ở Mỹ Latinh là nơi đã sản sinh ra nó

Lý thuyết vê sự phụ thuộc được coi là nhánh cấp tiến của trường phái cấu trúc luận Nó có một sô" quan điếm, nhất là những quan điểm về quan hệ kinh tê quốc tẽ gần với lý thuyết tự do mới sau này Khác với quan điểm của cấu trúc luận trước đây, lý thuyết về sự phụ thuộc không còn coi sự phụ thuộc về kinh tế và chính trị vào phương Tây là nguyên nhân cơ bản của tình trạng kém phát triển

ở "thê giới thứ ba", họ từ bỏ ý đồ xây dựng một lý thuyết riêng về sự chậm phát triển Trọng tâm mà lý thuyêt vê sự phụ thuộc tập trung vào để phân tích là mối quan hệ tương tác giữa "thế giới thứ ba" với nền kinh tê thế giới, lý thuyết này coi đó là yếu tô" có ảnh hương quan trọng đên

sự phát triển kinh tê" của các nước "thê giới thứ ba" Các tác giả của lý thuyết vê sự phụ thuộc đã quay lại bác bỏ sự đôì lập thường được nêu ra đê phê phán môi quan hệ giữa phụ thuộc và phát triển, họ chấp nhận sự phụ thuộc, coi

đó như một phương pháp luận đê phân tích tình hình của các nền kinh tê "thế giới thứ ba", ủng hộ cho việc mở rộng

Trang 23

quan hộ với bên ngoài dế Liếp nhận vốn, thị trường và công nghệ mới phục vụ cho sự phát triển của "thể giới thứ ba".

Cùng VỚI sự thay đôi quan điểm của trường phái nhu cầu cơ bản lý thuyết về sự phụ thuộc của cấu trúc luận dã

có ảnh hương lớn tới giới lý luận vảo đầu những năm 1970, nhất là khi các nước dang phát triển giành được một loạt thắng lợi và khẳng dịnh vai trò quan trọng của chính phủ

ở các nước "thê giới thứ ba" trong các quan hệ kinh tê quốc

tô, dặc biệt là các sự kiện quốc tế rất có ý nghĩa đôi VỚI các nước đang phát triển diễn ra trong cùng năm 1973 như,

Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) đà thành công trong việc tăng nhanh giá dầu lửa, tiếp đên là Hội nghị cấp cao Không liên kêt họp ở Angiêri, rồi Đại hội đồng Liên hợp quốc chính thức đưa ra Tuyên bố' và Chương trình hành động nhằm thiết lập Trật tự kinh tế quốc tê mới công bằng và bình dẳng, và đến cuối năm đó, Liên hợp quốc chính thức phê chuẩn bản Hiến chương về quyền hạn và nghĩa vụ kinh tê của các nhà nước, trong đó khẳng định vai trò quan trọng của các nhà nưốc đang phát triển Những sự kiện này là đỉnh cao của chủ nghĩa dân tộc kinh tê của "thế giới thứ ba" nhằm tìm cách cơ cấu lại những quan hộ kinh tế thế giới dể bảo vệ quyền lợi của phương Nam

Trường phái nhu cầu cơ bản (basic needs) bao gồm

một số’ nhà nghiên cứu, trong đó nổi bật là Hans Singer

và Dudley Seers, vôn thuộc nhóm cấu trúc luận, nhưng

do nhận thấy những hậu quả tiêu cực về mặt xã hội của

Trang 24

sự phát triển theo quan điểm chính thông ỏ các nước dang phát triển từ sau Chiên tranh thô giới thứ hai nôn

đã quay lại phê phán cấu trúc luận Những tác giá này cho rằng tăng trưởng kinh tê không những không tạo đủ việc làm để thu hút lực lượng lao dộng dang tăng lôn ỏ

"thế giới thứ ba", mà còn tạo ra sự bất bình dẳng thu nhập ngày càng lớn và làm trầm trọng thêm tình trạng nghèo đói ỏ nhiều nước đang phát triển Từ dó các nhà

lý luận này tập trung phân tích vấn để việc làm ở các nước "thế giới thứ ba" và đề nghị thực hiện chiên lược

"nhu cầu cơ bản", nhấn mạnh tói việc bảo đảm mức sông tổi thiểu cho những nhóm người nghèo nhất trong xã hội Theo các nhà lý luận này, những nhu cầu cơ bản gồm có lương thực, chỗ ở, quần áo, và các dịch vụ cần thiết như nguồn nưóc an toàn, điều kiện vệ sinh, giao thông vận tải, y tế và giáo dục Họ cho rằng tăng trưởng kinh tê và thay đổi cơ cấu là rất quan trọng, nhưng chưa

đủ, mà muôn phát triển còn phải chú ý tới chính sách phân phôi thu nhập cũng như mức sông của những người nghèo Họ phê phán các nhà cấu trúc luận trước kia chủ trương tăng trưởng kinh tế theo mô hình kim tự tháp, tưởng rằng tăng trưởng kinh tế cao sẽ tạo ra một tầng lớp được hương lợi ích cao, nhưng dồng thời một sô lợi ích trong đó cũng sẽ được "nhỏ giọt" hoặc "rót" xuông cho tất cả các thành viên trong xã hội, kể cả những người có thu nhập thấp ở “dưới đáy" Trái lại, trong thực

tế hầu hết lợi ích chỉ đọng lại ở các tầng lớp trên đỉnh

tháp, còn đa số dân chúng không được bảo đảm nhu cầu

Trang 25

cơ bản, dó là những nhu cấu mà quá trình phát trien mới phải COI trọng và bảo đảm.

Nói tóm lại các nhà cấu trúc luận quan tâm tói sự biên dổi và những hoạt dộng của cả cơ cấu kinh tế và cơ cấu xã hội trong một xã hội nhất (lịnh, đặc biệt là xã hội của một nước thuộc "thế giới thứ ba" Họ tập trung phân tích những vấn đê chủ yêu như môi quan hệ giữa nền kinh tê thê giới và điều kiện ngoại thương đôi với các nước dang phát triển, sự thay dôi cơ cấu gắn liền với quá trình công nghiệp hóa, vấn để sở hữu và sự kiểm soát đối với đất đai nông nghiệp và sản xuất công nghiệp, sự phát triển công nghệ, phương thức tích luỹ vôn vai trò nhà nước trong phát triển Họ phân tích sự phát triển dưới góc độ những biến đôi về cơ cấu giữa các ngành của nền kinh tê (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ), dưới góc độ các giai cấp và tầng lớp xã hội, sở hữu

xã hội và cả các quan hệ bất bình dắng giữa các nước đang phát triển vối các nước phát triển trong nền kinh

tê quốc tế

Cái Ưu, đồng thời cũng là cái nhược của tư duy cấu trúc luận là nó phân tích một cách riêng rẽ bản chất của từng nên kinh tê hoặc từng vùng lành thổ đang phát triển, tách khỏi các nước hoặc các nền kinh tê phát triển, điêu mà trong thực tê không thể hoàn toàn tách bạch được Các nhà câu trúc luận quan tâm đặc biệt dên những hoạt dộng và những đổi thay của cơ cấu kinh tê

và cơ cấu xã hội trong các nước thuộc "Thế giới thứ ba"

Họ tập trung phân tích những vấn dê chủ yếu của các

Trang 26

nước đang phát triển như sự biến đổi vê co’ cấu giữa các ngành của nền kinh tê, sự thay đổi cơ cấu các giai cấp

và tầng lớp xã hội, sở hữu xã hội những thay dôi cơ cấu trong quá trình công nghiệp hoá V V , nhưng không thấy rõ mốĩ quan hệ tác dộng qua lại giữa sự phát triển của các yếu tô bên trong với bên ngoài, không nhận thức được những tác động tích cực của các quan hệ kinh tế quốíc tê đôi VỚI những điểu kiện ngoại thương tới các nước đang phát triển, từ đó tập trung phê phán mang tính một chiều các quan hệ bất bình đẳng giữa các nước đang phát triển với các nước phát triển trong nền kinh

tê quốc tế, đê cao địa vị và vai trò của các nước đang phát triển trong các quan hệ kinh tế quốc tê Tuy nhiên, cấu trúc luận đã không nhận thức hêt dược rằng khả năng của OPEC hoạt động như một cacten nhằm tảng giá dầu lửa phụ thuộc vào những đặc tính rất đặc biệt của loại hàng hoá đó, những đặc tính không tái diễn ở những hàng hóa khác, và khả năng mặc cả của "thô giới thứ ba" trong các quan hộ kinh tế quốc tô nhìn chung vẫn còn yếu kém

Một đặc điểm khác của cấu trúc luận là quá dể cao vai trò nhà nước trong phát triển và cho rằng ở các nước dang phát triển, nhà nước nên thực hiện vai trò can thiệp tích cực, dứng ra trực tiếp điều hành và thực hiện chiên lược phát triển Thực tê cho thấy các nước dang phát triển nói chung và nhà nước ở các nước này nói riêng có rất nhiều hạn chế Họ không đủ sức thực hiện các kế hoạch phát triển mang tính "tự lực cánh sinh" theo nghĩa hẹp, tự

Trang 27

mình làm lấy mọi thứ như lúc dầu họ mong muôn, kể cả ỏ trong nước cùng như trong các quan hệ kinh tê đôi ngoại

Đó chính là lý do mà trường phái tự do mới dược ủng hộ khi họ phê phán tính "biệt lập" và "tự cô lập" của cấu trúc luận và nêu ra sự cần thiêt phải mỏ rộng các quan hệ Bắc- Nam trong phát triển kinh tê thông qua phát triển mạnh mậu dịch quôc tê, cũng như khi họ nêu ra yêu cầu đòi hạn chê bớt sự can thiệp trực tiếp của nhà nước trong nền kinh

tế thị trường Đến thập kỷ 1970-1980, khi chủ nghĩa tự do mới phát triển mạnh và thịnh hành, thì quan điểm trên bị lép vê và bị dẹp sang một bên

Tuy nhiên, từ những năm 1980 nhất là từ những năm

1990, một thế hệ tư duy cấu trúc luận mới lại nổi lên kể từ khi chiến lược hướng vào xuất khẩu lâm vào cuộc khủng hoảng nợ những năm 1981-1982 và cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997-1998, họ quay lại nhấn mạnh rằng nhà nước vẫn cần giữ vai trò tích cực trong việc thực hiện các chiến lược phát triển (Vấn dê này sẽ được bàn kỹ hơn trong phần các quan điểm mới trong bối cảnh toàn cầu hoá)

III CHỦ NGHĨA Tự DO MỚI

Khác với cấu trúc luận nhấn mạnh tới những vấn để riêng của các nước "thê giới thứ ba", thuyết tự do mới nhấn mạnh vào những nguyên lý phổ biến hay tính phổ biên của phát triển kinh tế Các tác giả của chủ nghĩa tự

do mới bác bỏ quan điểm trước đây của cấu trúc luận cho

Trang 28

rằng những điều kiện riêng ở "thế giới thứ ba" tạo ra sự cần thiêt phải phát triển một lý thuyết kinh tê riêng cho

"thê giới thứ ba" Theo các tác giả của thuyêt tự do mới, quan điểm biệt lập đó của cấu trúc luận cần được thay bằng quan điểm "hiệu lực phổ biên” của những nguyên tắc kinh tê phố biến Trường phái lý thuyết này chủ trương rằng vê mặt nguyên tắc, những nguyên lý của sự phát triển kinh tế giông nhau và có thể được áp dụng một cách rộng rãi từ những nước phát triển nhất tới những nước kém phát triển nhất, chẳng hạn như tính phố biến của các lực lượng thị trường

Trong khi các nhà cấu trúc luận có xu hướng nhấn mạnh quá trình phát triển dài hạn thì các nhà tự do mới chú trọng tới những hoạt động phát triến ngắn hạn và cho rằng những vấn đề dài hạn tự nó sẽ được giải quyết trong các quan hệ thị trường Chủ nghĩa tự do mới dựa vào thị trường, coi đó như người trọng tài t()t nhất nhò thực hiện

“giá cả hiệu quả” Các nhà lý thuyết tự do mới khuyên nhà nước nên rút khỏi lĩnh vực phát triển, để cho tư nhân thực hiện các quyết định kinh tế, còn nhà nước thì chỉ cung cấp những loại hàng hóa và dịch vụ công (như cơ sơ hạ tầng)

mà khu vực tư nhân không thể đảm nhiệm được

Quan niệm vê vai trò nhà nước là điểm khác nhau chính giữa cấu trúc luận và thuyết tự do mới, là trung tâm của cuộc tranh cãi giữa hai loại quan điểm lý thuyết này

Đối vói các nhà cấu trúc luận, một nhà nước tích cực có vai

trò quan trọng trong việc khắc phục những vấn đê lạc hậu kinh tế, còn các tác giả của thuyết tự do mói lại tin tưởng

Trang 29

vào sự điểu tiết của thị trường, đặc biệt là giá cả Luận cứ chính của lý thuyết tự do mới là sai lệch giá cả sẽ sinh ra phi hiệu quả, tự do hóa mậu dịch (giảm thuế quan bảo hộ)

sẽ làm cho nền kinh tê có hiệu quả hơn, sự can thiệp sâu

và trực tiếp của nhà nước trong nền kinh tế là không cần thiết, nên giảm bớt đi

Chủ nghĩa tự do mới là sự hồi sinh của kinh tê học chính thông truyền thông, nó cho rằng nguyên nhân khiến hầu hết các nước "thế giối thứ ba" đã thất bại trong phát triển kinh tê là do không tận dụng dược những cơ hội mà

sự tăng trưởng nhanh chóng của mậu dịch quô"c tế mang lại, nó phê phán sự kém hiệu quả của chính sách thay thê nhập khẩu và sự can thiệp quá sâu của nhà nước Luận điểm này đã được nêu trong một sô" công trình nghiên cứu được công bô" vào cuối những năm 1960, đầu những năm

1970 của Tố chức Hợp tác và Phát triển kinh tê" (OECD), Ngân hàng Thê" giới (WB) và Cục Nghiên cứu kinh tê quốc gia đặt tại Mỹ Trong các công trình này, người ta đã đê cao các mô hình Hồng Kong, Đài Loan, Hàn Quốc và Xingapo là những nển kinh tế đã chú trọng mở rộng xuất khẩu, nhò đó đã đạt tô"c độ tăng trưởng kinh tê" cao Đây là những mầm mông đầu tiên và là lý do đã dẫn đến giai đoạn trỗi dậy của chủ nghĩa tự do VỎ1 tư cách một học thuyêt chính thông mới vê phát triển - thuyết tự do mới Mặc dù vào dầu những năm 1970, quan điểm nhu cầu cơ bản và lý thuyết về sự phụ thuộc vẫn đang có những ảnh hưởng quan trọng trong giới lý luận, chủ nghĩa dân tộc kinh tế của "thê giối thứ ba" đang phát triển tới đỉnh cao

Trang 30

của nó, nhưng những yếu kém và hạn chê của các nước

“thê giới thứ ba” thì đã bộc lộ rõ, tạo điều kiện để thuyết

tự do mới chứng minh sự cần thiêt và tính hợp lý của mình trong việc mỏ rộng các quan hệ Bắc-Nam, phát triển mạnh mậu dịch quốc tế phục vụ cho sự phát triển của các nước đang phát triển

Tiếp dó, đến năm 1980, uỷ ban độc lập vê các vấn đề phát triển đã được lập ra dưới sự điều hành của một sô nhân vật từng là những nhà lãnh đạo lớn của phương Tây như cựu Thủ tướng Tây Đức Willy Brandt, cựu Thủ tướng Anh Edward Heath, Thủ tướng Thuỵ Điển Olaf Palme, và

do ông Willy Brandt làm Chủ tịch Các chính trị gia cõ lớn này đã cùng các chuyên gia của mình nghiên cứu và công

bô" một bản báo cáo gọi là Báo cáo Brandt, trong đó nhấn

mạnh tới quyền lợi chung giữa phương Bắc và phương Nam để dung hòa quan điểm với những người đề xuất một Trật tự kinh tê quốc tế mới trong đó đối lập các nước "thế giới thứ ba" với thê giới phương Tây Báo cáo Brandt có một điểm không khác nhiểu so với cấu trúc luận và học thuyết Keynes là tiếp tục thừa nhận vai trò quan trọng của chính phủ các nước phương Nam và muôn có sự cộng tác giữa chính phủ các nước phương Nam vối chính phủ các nước phương Bắc

Nhưng cũng chính vào thời điểm dó, một xu thô chính trị mới có quan điểm ngược lại với Báo cáo Brandt dang hình thành và dần dần nổi lên chiếm ưu thê trên các diễn đàn thế giới Xu hướng này gắn với sự thắng cử của các nhân vật như Margaret Thatcher - dược bầu làm Thủ

Trang 31

tướng nước Anh và Ronald Reagan - đắc cử vào Nhà Trắng nước Mỹ, cả hai đều không chấp nhận những tư tưởng cải lương kiểu Keynes là tư tưởng làm nền cho Báo cáo Brandt Những người cầm quyển mới ở Anh và Mỹ này cho rằng tư tương của Keynes cũng như của Báo cáo Brandt đã lỗi thời Thay vào dó họ cổ vũ cho xu hướng phục hồi thuyết tự do và phát triển chủ nghĩa tự do mới

là thuyết đã phê phán cấu trúc luận và cho rằng nguyên nhân dẫn đến thất bại trong phát triển kinh tê của phần lớn các nước "thê giới thứ ba" là do các nước này không tranh thủ được những cơ hội mà sự tăng trương của mậu dịch quôc tê mang lại, do chính sách thay thế nhập khấu

và sự can thiệp quá sâu của nhà nước đã dẫn đến tình trạng kém hiệu quả, chứ không phải do sự bóc lột của các nước phát triển Họ kêu gọi phát triển chủ nghĩa tự do mới trên phạm vi thế giói Đó chính là tác nhân lớn nhất thúc đẩy chủ nghĩa tự do mới phát triển mạnh, dần dần trở thành chủ thuyết chính thông thay thê cấu trúc luận

từ những năm 1970 và chi phôi các quan điểm phát triển

từ những năm 1980

Chủ nghĩa tự do mối dựa trên cơ sở của Lý thuyết kinh

tê tân cổ điển với ba dặc trưng cốt lõi được coi là thích hợp không chỉ cho châu Phi, châu Ả và Mỹ Latinh, mà cả châu

Âu và Bắc Mỹ Ba đặc trưng côt lõi đó của Lý thuyết kinh

tê tân cổ điển là:

1 Đề cao chủ nghĩa cá nhân, coi cá nhân chứ không phải cơ cấu kinh tê hay cơ cấu xã hội là cái thúc đẩy hay kìm hãm sự phát triển

Trang 32

2 Đê cao những quan hệ trao đối trên thị trường hay quan hệ thị trường, từ đó cho rằng thị trường hoạt động tôt thông qua việc phân phôi có hiệu quả các nguồn lực Lv thuyết này bỏ qua hoặc COI nhẹ các vấn đề về sở hữu, kiểm soát nguồn lực và sự công bằng xã hội.

3 Đề cao tính linh hoạt của thị trường, phê phán các nhà cấu trúc luận quá coi trọng tính phổ biên của những cấu trúc chặt chẽ đến cứng nhắc trong các nền kinh tế "thê giới thứ ba", phổ biến hoá cái riêng làm cho quá trình phát triển bị sai lệch, méo mó Trên cơ sở của lý thuyết này, lý thuyết tự do mới cho rằng cả các nhà sản xuất lẫn người tiêu dùng đều hoan nghênh sự kích thích bằng giá cả, chẳng hạn giá cả sản xuất dành cho nông dân tăng lên thì sản lượng nông nghiệp củng sẽ theo đó mà tăng lên, tiền lương thấp sẽ khuyến khích các xí nghiệp sử dụng những

kỹ thuật sản xuất dùng nhiều lao động, nhờ đó việc làm sẽ tăng, dẫn đến giảm bớt thất nghiệp, hay đồng tiền trong nước giảm giá thì người tiêu dùng sẽ mua nhiều hàng nội hóa hơn hàng nhập khẩu đắt đỏ do phải dùng ngoại tệ có mệnh giá cao để nhập về

Luận cứ chính mà thuyết tự do mới đưa ra là sai lệch

giá cả sẽ dẫn đến phi hiệu q u ả, vì thê sự sai lệch hay méo

mó giá cả là yếu tô" thường được các tác giả của lý thuyết

tự do mới đưa lên hàng đầu trong các lý giải của mình Theo các tác giả này, giá cả thị trường là yếu tô" quyết định

sự phân phôi nguồn lực, khi giá cả chệch khỏi mức thị trường tự do, tức là giá cả bị sai lệch, thì nển kinh tê sẽ không đạt được hiệu quả Đôi với các nền kinh tế "thế giới

Trang 33

thứ ba" nhỏ bé, giá cả thị trường tự do thích hợp là giá cả xác định trên thị trường thê giới Giá cả có thê bị sai lệch

do độc quyển tư nhân, nhưng trong phần lớn các trường hợp; sai lệch giá cả là do chính phủ trực tiếp hay gián tiêp gây ra khi theo đuổi một sô" mục tiêu kinh tế hoặc xã hội nào đó Dù là do tư nhân hay nhà nước gây ra, những méo

mó giá cả đó đều cần được điều chỉnh lại cho phù hợp với giá cả thị trường, và để loại bỏ những sai lệch về giá cả và thực hiện "giá cả hiệu quả", cần đê các lực lượng thị trường hoạt động cả trong bối cảnh của các quan hệ kinh

tế quốc tế cũng như trong các quan hệ kinh tế nội bộ của mỗi quô"c gia Giá cả được đề cập trong cách tiếp cận của chủ nghĩa tự do mới bao gồm từ giá cả của các hoạt động thương mại trong một quốc gia, đến giá cả trong hoạt động ngoại thương, giá cả liên quan đến tỷ lệ lãi suất và tiền lương, giá cả cơ sở hạ tầng và đầu vào cho sản xuất Theo

lý thuyết tự do mới này, giá cả là yếu tô" cốt yếu trong sự phát triển kinh tê của mỗi quốc gia

Theo thuyết tự do mới, sự can thiệp trực tiếp và sâu của nhà nước, nhất là những biện pháp can thiệp theo chính sách thay thế nhập khẩu, chính là yếu tô" gây ra sự sai lệch giá cả đó, vì thế trong nền kinh tế thị trường không cần thiết phải có một sự can thiệp như vậy, do đó cần giảm bớt sự can thiệp trực tiếp của nhà nước, thay vào

đó cần thực hiện tự do hóa mậu dịch thông qua việc giảm bớt các chính sách và biện pháp bảo hộ thuê quan và phi thuế quan, làm như vậy sẽ nâng cao được hiệu quả của Iiồn kinh tí Theo thuyết tự do mới, bảo hộ mậu dịch dẫn

Trang 34

đến phi hiệu quả vì bảo hộ mậu dịch giúp cho các công ty được bảo vệ tránh khỏi sự cạnh tranh quôc tế, dựa vào đó

họ không cần cắt giảm chi phí và tăng sản lượng như ở những quổc gia có thị trường mở, dẫn đến tăng đầu tư, gây

ra những lãng phí, tốn kém không cần thiết, những sản phẩm do các công ty đó làm ra dù chất lượng kém vẫn có thị trường tiêu thụ, và họ không lo tình trạng lãng phí sẽ

đe dọa tới sự song còn của chính công ty họ Đó là những căn nguyên nằm ở phía sau của tình trạng chi phí cao, chất lượng hàng hoá thấp, đặc trưng nổi bật của nhiều ngành công nghiệp thay thế nhập khẩu ở các nưốc "thê giới thứ ba"

Hơn thế nữa, không những phi hiệu quả, thay thê nhập khẩu còn gây ra những bất lợi cho nông nghiệp và cán cân thanh toán Chính sách bảo hộ hàng công nghiệp cao hơn nông phẩm đã gây tổn hại cho sản xuất nông nghiệp và nông dân Sự chênh lệch giá cánh kéo giữa giá hàng công nghiệp và nông nghiệp ở nhiều nước "thế giới thứ ba" cao hơn hẳn so với sự chênh lệch của hai loại giá này trên thị trường thê giới Mặt khác, chính sách thay thế nhập khẩu đã không kích thích xuất khẩu, hạn chế nguồn thu ngoại tệ, trong khi những đòi hỏi về nhập khẩu máy móc, nguyên liệu công nghiệp và công nghệ cao để phát triển công nghiệp trong nước ngày càng tăng, dẫn đến khôi lượng và giá trị nhập khẩu ngày càng lớn, gây ra tình trạng khan hiếm ngoại tệ trầm trọng, cán cân ngoại thương và cán cân thanh toán luôn luôn thiếu hụt, dự trữ quôb gia ngày càng mỏng manh, trong nhiều trường hợp

Trang 35

trỏ nôn cạn kiệt và trông rỗng, phải tăng vay nỢ nước ngoài, hậu quả là rơi vào “bẫy nợ” của phương Tây.

Do sự ảnh hưởng ngày càng lớn của chủ nghĩa tự do mới với tư cách một lý thuyết phát triển chính thông, các quan điếm của học thuyết này dã trỏ thành cơ sỏ mới cho những chính sách do Ngân hàng Thê giới và Quỹ Tiền tệ quốc tê đê xuất, trong đó đê cao những quan hệ trao đổi trên thị trường thê giới và nhấn mạnh rằng thị trường thê giới hoạt động tôt sẽ giúp các quốc gia phân phối có hiệu quả các nguồn lực của mình, khắc phục tình trạng trì trệ, cứng nhắc của các cấu trúc xơ cứng, ít thay đổi ở bên trong các nền kinh tế thuộc "thế giới thứ ba"

Sau giá cả, mậu dịch tự do cũng là một lĩnh vực được

đề cao trong thuyết tự do mới Thuyết này khẳng định rằng các nước đều có thể hưởng lợi nhò thực hiện chuyên môn hóa và đẩy mạnh xuất khấu những loại hàng hoá mà

họ có lợi thế so sánh, và để đổi lại, nên nhập khẩu các loại hàng hoá khác mà họ không có lợi thế so sánh Chuyên môn hoá như vậy sẽ thành hiện thực nếu các nước chấp nhận mậu dịch tự do, hoặc giảm những hạn chế đối vói mậu dịch tỏi mức tôi thiểu Thực hiện lý thuvêt vê lợi thê

so sánh đi đôi với tự do hoá mậu dịch, các nước sẽ được lợi nhò tự do nhập khẩu và xuất khẩu không hạn chế, mỗi nước sẽ có thêm điều kiện để tập trung các nguồn lực vào việc sản xuất những sản phẩm mà họ có lợi thế so sánh tương đôi thay vì cô" gắng sản xuất những loại hàng hoá

mà họ không có đủ điều kiện để sản xuất và có thể nhập khẩu rất rẻ từ những nước sản xuâ"t chúng với mức chi phí

Trang 36

thấp hơn nhiều VỚI cách nhìn như vậy, người ta có thể dễ dàng nhận ra những khiêm khuyết của việc các chính Ị)hủ thực hiện chính sách thay thế nhập khẩu, cản trở mậu dịch một cách có chủ định để kích thích sản xuất hàng hỏa

ở trong nước mà những loại hàng này được sản xuất, rẻ hơn ở nước ngoài Theo quan điểm tự do mới, điều này dẫn tói những hậu quả tiêu cực như phi hiệu quả, bất lợi cho sản xuất nông nghiệp và thiêu hụt lớn trong cán cản ngoại thương và cán cân thanh toán

Một điểm trọng yếu khác của lý thuyết tự do mới là

nó phê phán gay gắt sự can thiệp sâu của nhà nước Lý thuyết này chỉ ra những hạn chê của các nhà lập kê hoạch do thiếu thông tin, không sát thực tế, không có công cụ làm đòn bẩy cho việc thực thi kê hoạch Khỏng những thế, nhiều quan chức chính phủ còn lợi dung những chỗ sai và sơ hở của kế hoạch để trục lợi như lợi dụng quota, giấy phép để kiếm lời, tham ô, nhận hối

lộ Nhà nước can thiệp sâu vào hoạt động kinh doanh của xí nghiệp, chi tiêu quá mức, vay nỢ nhiều, in tiền nhiều gây ra lạm phát trầm trọng Xí nghiệp nhà nước phần lớn được bao cấp cao, dẫn đến hiệu quả thấp, nang suất thấp

Những quan điểm trên đây của thuyết tự do mới dã được thực hiện ở nhiều nước "thế giới thứ ba" dựa theo những chính sách do Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ quốc tê soạn thảo Những chính sách này thường được gọi chung là “điều chỉnh cơ cấu” vói ba hướng chủ dạo, bao gồm:

Trang 37

1 Tự do hoá thị trường, thường dược gọi là "đặt giá chuẩn";

2 Tự do hoá mậu dịch hay chuyên dịch nền kinh tê theo hướng mở nhiều hơn;

3 Giảm bớt vai trò của nhà nước trong nền kinh tê thông qua tư nhân hóa và cắt giảm chi tiêu chính phủ

Ba định hướng trên đây được thực hiện kết hợp VỚI

nhau để tạo ra nền kinh tê thị trường mở Và trên cơ sở ba

định hướng chủ đạo đó, hàng loạt biện pháp cụ thể đã được áp dụng Chang hạn,đê tự do hóa thị trường, người ta

đã thực hiện xoá bỏ kiểm soát giá cả; tự do hóa tài chính; giảm can thiệp vào thị trường lao động Để thực hiện tự do hóa mậu dịch, người ta đã xóa bỏ hạn ngạch nhập khẩu, giảm thuê quan và áp dụng tỷ giá hổi đoái thực tế Hay để giảm vai trò can thiệp của nhà nước, người ta đã thực hiện

tư nhân hóa, cắt giảm chi tiêu của chính phủ, hạn chê sự can thiệp trực tiếp của chính phủ vào các hoạt động của xí nghiệp, vào hoạt động xuất-nhập khẩu, tập trung những

nỗ lực của chính phủ vào việc cung cấp các hàng hoá và dịch vụ công, vào phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, tạo môi trường thuận lợi cho kinh doanh phát triển và vào việc kích thích các hoạt động kinh tê đối ngoại như xúc tiên thương mại và khuyên khích thu hút đầu tư nước ngoài

Nói cách khác, thuyết tự do mới là một xu hướng phát triển mới của thuyết cố điển vê sự phát triển của kinh tê thị trường tự do, nó đề cao vai trò của các lực lượng thị trường nhằm khắc phục những méo mó do sự phát triển

Trang 38

quá thiên lệch một thời vê vai trò của nhà nước gây ra khuyến khích việc áp dụng các chính sách kích thích sự phát triển của kinh tế thị trường tự do và mỏ cửa Đó là một loại quan điểm phát triển mang tính chính sách, tuy không phủ nhận vai trò quan trọng của nhà nước, nhưng muốn hạn chế bớt sự can thiệp trực tiêp và quá sâu của nhà nước làm cho nền kinh tê mất đi tính năng động và hiệu quả Thay vào đó, thuyết tự do mối khuyên khích việc

áp dụng các chính sách kích thích sự phát triển của kinh

tế thị trường tự do Trong giai đoạn hiện n&yfnhững chíìih

sách lớn mà nó đang cô vũ là các chính sách nhằm thúc

đẩy sự phát triển tự do hay tự do hoá trong các lĩnh vực

thương mại, đầu tư, tài chính, lao động, cũng như sự phát

triển tự do của khu vực kinh tê tư n hản, trong đó có việc tư

nhăn hoá các doanh nghiệp công.

IV MỘT SỐ QUAN ĐIỂM LÝ LUẬN MỚI TRONG

XU THẾ TOÀN CẦU HOÁ VÀ KINH TẾ TRI THỨC

Từ những năm 1990 đến nay, trên thế giới người ta bàn nhiều tới xu hướng toàn cầu hoá, nhưng thực ra trong lịch sử, nhiều học giả đã bàn tới hai thòi kỳ có những đợt vận động mạnh mang tính toàn thế giới và cũng được: coi

là những đợt vận động mang tính toàn cầu hoá, hay còn gọi là hai làn sóng toàn cầu hoá, đỏ là thời kỳ 1870-1914 khi diễn ra quá trình di dân ồ ạt tói 60 triệu người, chiêm 10% tổng lao động thế giới lúc bấy giò từ châu Âu sang Bắc Mỹ, gắn liền với sự phát triển mạnh của giao thông

Trang 39

vạn tải, lưu chuyển hàng hoá, di chuyển vôn và lao động giữa các lục địa; và thòi kỳ thứ hai là những năm 1950-

1980 khi diễn ra quá trình hội nhập gắn bó chặt chẽ giữa

ba khôi kinh tê lớn của thê giới là Mỹ, Tây Ảu và Nhật Bản nhằm khôi phục và phát triển nền kinh tê thê giới tư ban chủ nghĩa sau chiến tranh thông qua quá trình tự do hoá thương mại đa phương dưới sự điều phôi của GATT và một sô tố chức kinh tê quốc tê khác như WB và IMF

Làn sóng toàn cầu hoá hiện nay đang diễn ra có thể coi

là làn sóng toàn cầu hoá thứ ba, nó bắt đầu từ những năm

1980, nhưng phát triển mạnh chủ yếu từ những năm 90 của thô' kỷ XX Mỗi làn sóng toàn cầu hoá diễn ra đều có những đặc trưng riêng: làn sóng thứ nhất gắn với sự di dân ồ ạt từ châu Âu sang Bắc Mỹ, làn sóng thứ hai gắn với

sự liên kết giữa ba trung tâm kinh tê lớn là Mỹ, Nhật, Tây

Âu trong bối cảnh của chiến tranh lạnh khi thế giới còn cilia làm hai phe Cả hai làn sóng toàn cầu hoá thứ nhất

và thứ hai tuy được gọi là toàn cầu hoá, nhưng thực ra chỉ bao gồm những phần quan trọng của nền kinh tế các nước cỏng nghiệp phát triển, chưa bao quát toàn thế giới Chỉ có làn sóng toàn cầu hoá thứ ba hiện nay đang diễn ra trong bôi cảnh thê giới đã kêt thúc cuộc chiên tranh lạnh chia cát quan hệ giữa các nước, mơ ra mối quan hệ tuỳ thuộc lẫn nhau, đối thoại và phát triển giữa tất cả các châu lục, cấc loại nước, kê cả nước giàu và nước nghèo, thì toàn cầu hoá mới bao quát toàn thê giới, chịu sự chi phôi của các yôu tô' và xu hướng phát triển mang tính toàn thế giới Trong lĩnh vực kinh tế, như hai chuyên gia của Quỹ Tiền

Trang 40

tệ quốc tế, Matthew J Slaughter và Phillip Swagel cỉã-

định nghĩa, toàn cầu hoá kinh tê là sự hội nhập quốc tế v ề

hàng hoá, công nghệ, lao động và vốn\ Trong xu hướng;

toàn cầu hoá mới này những sự di chuyển về vôn, hàng; hoá và lao động ngày càng trở nên mạnh mẽ và rộng kháp* hơn bao giò hết trên toàn thế giới, lại được sự hỗ trợ tích cực và hiệu quả của các ngành công nghệ mới, nhất là công nghệ thông tin, một ngành công nghệ đang phát triển mang tính chất "bùng nổ" và cách mạng, góp phần thu hẹp khoảng cách của thê giới và đang hình thành nên một xã hội mỏi và nền kinh tê mới - xã hội thông tin và nền kinh tế tri thức, đến lượt chúng, xã hội thông tin và nền kinh tế tri thức lại đẩy nhanh hơn nữa quá trình toàn cầu hoá

Trong vòng xoáy của sự phát triển đến chóng mặt như vậy, các trường phái tư duy của kinh tê học phát triển tỏ

ra không bắt kịp, chúng phải liên tục thay đổi, điều chỉnh

và bổ sung, kể cả những trường phái đã có thời khẳng định được vai trò chi phối của mình Cấu trúc luận chẳng hạn có ảnh hưởng lớn tới chiều hướng phát triển ở cấc nước đang phát triển trong những thập kỷ 1950-1960 khi các nưốc này mới được giải phóng khỏi chủ nghĩa thực dân

cũ và muôn xây dựng nền kinh tê dân tộc, độc lập, theo tinh thần phát triển "tự lực cánh sinh" Tiếp đó, thuyết tự

1 Matthew J Slaughter, Phillip Swagel, "Does

Globalization Lower Wages and Export Jobs?”, IM F Economic

Ngày đăng: 23/04/2015, 12:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. C.Mác, Ph. Ăngghen, Toàn tập , Nhà xuất bản Chính trị quổc gia, Hà Nội, 1995, t.22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quổc gia
2. Chương trình phát triển của Liên hợp quôc, Báo cao p h át triền con người 2001 , Nhà xuất bản Chính trịquôb gia, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cao p h át triền con người 2001
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quôb gia
3. Diễn đàn Kinh tế tài chính Việt - Pháp, Các quốc gia nghèo khó trong một th ế giới thịnh vượng, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các quốc gianghèo khó trong một th ế giới thịnh vượng
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
4. Diễn đàn Kinh tế tài chính Việt - Pháp, Tính bất ổn của hệ thống tài chính quốc tế, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính bất ổn của hệ thống tài chính quốc tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
5. Diễn đàn Kinh tế tài chính Việt - Pháp, Toàn cầu hoá, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn cầu hoá
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
6. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biếu toàn quốc lần thứ IX, Nhà xuất bản Chính trị quôc gia, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biếu toàn quốc lần thứ IX
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quôc gia
7. Đỗ Đức Định (chủ biên), Công nghiệp hóa, hiện đại hóa phát huy lợi th ế so sánh - Kinh nghiệm của các nền kinh tế đang phát triển ở châu Á, Nhà xuất bản Thêgiới, Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa phát huy lợi th ế so sánh - Kinh nghiệm của các nền kinh tế đang phát triển ở châu Á
Nhà XB: Nhà xuất bản Thê giới
8. Đỗ Đức Định, Kinh tê đối ngoại - Nghiên cứu so sánh các nước đang phát triển châu Á - Thái Bình Dương vàViệt N am , Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tê đối ngoại - Nghiên cứu so sánhcác nước đang phát triển châu Á - Thái Bình Dương và Việt N am
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
9. Đỗ Đức Định (sưu tầm và giới thiệu), Một sô vấn đề về chiến lược công nghiệp hỏa và lý thuyết phát triền, Nhà xuất bản Thế giới, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một sô vấn đề về chiến lược công nghiệp hỏa và lý thuyết phát triền
Nhà XB: Nhà xuất bản Thế giới
10. Đỗ Đức Định, Nhà nước trong kinh tế thị trường các nước đang phát triển châu Á và Việt N am , Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà nước trong kinh tế thị trường các nước đang phát triển châu Á và Việt N am
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
11. K. s. Jomo, “Suy ngẫm lại về vai trò của chính sách Chính phủ ở Đông Nam Á”, Chương 12 trong cuổn Suy ngẫm lại sự thần kỳ Đông Á do Joseph E. Stiglitz và Shahid Yusuf biên tập, Nhà xuất bản Chính trị quôc gia, Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suy ngẫm lại về vai trò của chính sách Chính phủ ở Đông Nam Á”, Chương 12 trong cuổn "Suy ngẫm lại sự thần kỳ Đông Á
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quôc gia
12. Mahathir Mohamad, "Malaixia: Con đường phía trước", bài dịch và đăng lại trong cuốn Kinh tế Đông Á - Nền tảng của sự thành công , Đỗ Đức Định sưu tầm và giới thiệu, Nhà xuất bản The giới, Hà Nội, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Malaixia: Con đường phíatrước
Nhà XB: Nhà xuất bản The giới
13. Thuyết kinh tế mới và chu kỳ mới, Nhà xuất bản Chính trị quôc gia, Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuyết kinh tế mới và chu kỳ mới
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quôc gia
14. Tổng cục Thông kê, Sô liệu thống kê kinh tế - xã hội Việt Nam 1975-2000, Nhà xuất bản Thông kê, Hà Nội, 200 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sô liệu thống kê kinh tế - xã hội Việt Nam 1975-2000
Nhà XB: Nhà xuất bản Thông kê
15. Trần Văn Tùng, Tính hai mặt của toàn cầu hoá, Nhà xuất bản Thê giới, Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính hai mặt của toàn cầu hoá
Nhà XB: Nhà xuất bản Thê giới
16. WTO, Mười lợi ích của hệ thống thương m ại WTO (Ten benefits o f the WTO trading system) (tiếng Anh và Việt), Nhà xuất bản Thê giới, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mười lợi ích của hệ thống thương m ại WTO (Ten benefits o f the WTO trading system)
Nhà XB: Nhà xuất bản Thê giới
1. Diêu Dương. Hà Tiểu Lâm, “Khu vực kinh tế tư nhân ở Trung Quổc: Chính sách, quá trình phát triển và những trỏ ngại trước mắt”, Tạp chí Những vấn đ ề Kinh tế th ế giới, tháng 4 và 5 năm 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khu vực kinh tế tư nhân ở Trung Quổc: Chính sách, quá trình phát triển và những trỏ ngại trước mắt”, Tạp chí "Những vấn đ ề Kinh tế th ế giới
2. Đặng Nguyên Anh, "Phân bô dân sô, đô thị hoá và di cư ở Việt Nam: Thấy gì qua cuộc tổng điều tra dân sô và nhà ở 1999?”, Tạp chí Những vấn đề Kinh tê thê giới , 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân bô dân sô, đô thị hoá và di cư ở Việt Nam: Thấy gì qua cuộc tổng điều tra dân sô và nhà ở 1999
3. Đỗ Đức Định, Tạ Kim Ngọc, “Nghiờn cứu soô sỏnh chuyển đổi sỏ hữu ở Nga và Việt Nam”, Tạp chí Những vấn đề Kinh tế th ế giới, sô 10 năm 2003 (Phần so sánh sở hữu Nga - Việt dùng nhiều tư liệu của bài đồng tác giả này) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiờn cứu soô sỏnh chuyển đổi sỏ hữu ở Nga và Việt Nam”, Tạp chí "Những vấn đề Kinh tế th ế giới
4. Khương Duy, “Công nghệ thông tin và tác động kinh tê của nó”, Tạp chí Những vấn đề Kinh tê th ế giới, số 2, tháng 4 năm 2002 và sô" 3, tháng 6 năm 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ thông tin và tác động kinh tê của nó”, Tạp chí Những vấn đề Kinh tê th ế giới, số 2, tháng 4 năm 2002 và sô

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w