Tuy nhiên chưa cómột công trình nào nghiên cứu một cách cụ thể, chuyên sâu về quan hệthương mại của Việt Nam với Thái Lan, chí có những nghiên cứu mang tínhchất toàn diện trên tất cả các
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đông Nam Á là một khu vực có lịch sử phát triển lâu dài và trong quátrình phát triển của mình đã đóng góp đáng kể cho sự phát triển của nền vănminh nhân loại Các quốc gia trong khu vực là những đất nước có sự tươngđồng trên nhiều lĩnh vực văn hoá - xã hội cũng như trình độ phát triển kinh
tế Chính vì vậy, nhu cầu hợp tác, liên kết các quốc gia trong khu vực luônđược đặt ra ở các thời điểm lịch sử Đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, thếgiới đang có nhiều biến đổi, xu thế toàn cầu hoá và đa cực hoá thế giới đangdiễn ra nhanh chóng, nhu cầu về sự liên kết giữa các quốc gia trong khu vựcĐông Nam Á nói chung và giữa từng quốc gia với nhau nói riêng đang trởnên rất cần thiết cho sự phát triển của mỗi quốc gia
Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nướcnhận thấy rõ lợi ích to lớn trong quan hệ buôn bán với các nước trong khuvực Trong thời gian qua, Việt Nam chú trọng quan hệ đối ngoại với các nướctrên thế giới, nhất là lĩnh vực kinh tế thương mại Đại hội Đảng toàn quốc lầnthứ VIII (1996) đã đề ra đường lối đối ngoại: độc lập, tự chủ, rộng mở, đaphương hóa và đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại … Trong mục tiêu pháttriển kinh tế Đảng và Nhà nước ta cũng nhấn mạnh thực hiện đẩy mạnh cáchoạt động kinh tế đối ngoại Vì thế, quan hệ đối ngoại có điều kiện phát triển
Việt Nam và Thái Lan cùng nằm trong khu vực Đông Nam Á, hai nướcláng giềng dù không liền núi, không liền sông, không chung một đường biêngiới Nhưng có vị trí gần nhau, chỉ cách nước Lào và Campuchia Hai nước
đã có quan hệ lâu đời, trên mọi mặt trong đó có quan hệ thương mại Trảiqua quá trình lịch sử, với nhiều sự thay đổi Nhìn chung mối quan hệ nàychưa có sự phát triển Từ năm 1986, Việt Nam tiến hành đổi mới, mối quan
hệ này dần dần được thay đổi Đặc biệt là từ sau khi Việt Nam ra nhậpASEAN, quan hệ thương mại Việt Nam với Thái Lan thực sự đi vào chiều
Trang 2sâu Vì vậy, nghiên cứu quan hệ thương mại Việt Nam với Thái Lan, chẳngnhững giúp chúng ta hiểu sâu sắc thêm mối quan hệ thương mại Việt Namvới Thái Lan, mà còn hiểu hơn mối quan hệ Việt Nam với các nước trongkhu vực và trên thế giới.
Bên cạnh đó, nghiên cứu quan hệ thương mại Việt Nam với Thái Lancòn góp phần giúp ta hiểu được tình hình quan hệ Việt Nam và Thái Lan.Những thành tựu, cũng như những hạn chế của mối quan hệ này Từ đó thấyđược vai trò và những tác động của quan hệ thương mại Việt Nam với TháiLan đối với nền kinh tế Việt Nam Đồng thời, nó cũng phản ánh tình hìnhquan hệ kinh tế, ngoại giao Việt Nam và Thái Lan trong thời kỳ này Trên
cơ sở đó, góp phần đánh giá khái quát về chính sách, vai trò lãnh đạo củaĐảng và Nhà nước, vai trò của các doanh nghiệp thương mại Việt Nam vàThái Lan Từ đó, rút ra những bài học kinh nghiệm phục vụ phát triển kinh
tế thương mại giữa Việt Nam với Thái Lan trong giai đoạn tiếp theo
Nghiên cứu quan hệ thương mại Việt Nam với Thái Lan, ta có thêm tưliệu lịch sử nghiên cứu, biên soạn, dạy và học về mối quan hệ Việt Nam vớiThái Lan, Việt Nam với khu vực và trên thế giới trong thời kỳ đổi mới Đề tàinày còn là tài liệu tham khảo góp phần giáo dục truyền thống đoàn kết, hữunghị giữa Việt Nam và Thái Lan cho thế hệ trẻ, cũng như nhân dân cả nước
Ngày nay thế giới và trong nước có nhiều chuyển biến, đòi hỏi sự hộinhập kinh tế với quốc tế và Thái Lan ngày càng tăng, nghiên cứu đề tài nàycòn góp phần hoạch định chính sách của Việt Nam với Thái Lan cho hiệu
quả hơn “ Quan hệ thương mại Việt Nam với Thái Lan từ 1995 đến 2010”
là một đề tài có ý nghĩa khoa học và thực tiễn Vì thế tôi chọn đề tài này làm
đề tài khóa luận của mình
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Quan hệ thương mại Việt Nam với Thái lan đóng một tầm quan trọngvào sự phát triển kinh tế của nước ta Ngay khi hai nước bình thường hoáquan hệ vào năm 1976 thì vấn đề quan hệ giữa hai nước được các nhà nghiên
Trang 3cứu đặc biệt chú ý Nhất là khi Việt Nam gia nhập ASEAN thì mối quan hệnày được các tác giả, báo, tạp chí… tập trung nghiên cứu Tuy nhiên chưa cómột công trình nào nghiên cứu một cách cụ thể, chuyên sâu về quan hệthương mại của Việt Nam với Thái Lan, chí có những nghiên cứu mang tínhchất toàn diện trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, ngoại giaohoặc nghiên cứu về sự phát triển mối quan hệ hai nước Có thể dẫn ra mộtcách cụ thể một số công trình nghiên cứu đã được công bố sau:
Nguyễn Tương Lai (chủ biên) Quan hệ Việt Nam – Thái Lan trong
thập kỷ 90 Nxb Khoa học Xã hội Hà Nội, 2001.
Tác giả trình bày một cách rõ nét những nhân tố tác động đến quan hệhai nước, cũng như nội dung của quan hệ Việt Nam – Thái Lan trên cácphương diện chính trị, ngoại giao và kinh tế; đồng thời tác giả cũng địnhđoán tương lai của mối quan hệ Việt Nam – Thái Lan Nhưng đó là mốiquan hệ từ 1989 – 1999, trong các lĩnh vực nêu trên, phần quan hệ ngoạigiao được tác giả chú trọng hơn cả Các vấn đề được tác giả đề cập sâu lànhững vấn đề liên quan đến chính trị, ngoại giao của hai nước như quan hệtrong thời kỳ phong kiến giữa các vương triều, chuyến thăm ngoại giao củacác thủ tướng, lãnh đạo cấp cao giữa hai nước, giải quyết các vấn đề giữahai bên: vấn đề vịnh Thái Lan, vấn đề thềm lục địa, vấn đề lập lại trật tự trênbiển, Việt Kiều ở Thái Lan… còn phần kinh tế được tóm lược ngắn gọntrong phần nói về kinh tế Các vấn đề cơ cấu mặt hàng xuất - nhập khẩu củaViệt Nam Với Thái Lan, kim ngạch xuất - nhập cũng chưa được nói rõ Hơnnữa trong khi trình bày những nhân tố tác động đến quan hệ Việt Nam –Thái Lan, tác giả trình bày nhiều về tác động của Mỹ, Nhật đối với ĐôngNam Á mà chưa đề cập đến sự chuyển biến chung của thế giới, khu vực và
sự chuyển biến nội tại hai nước để cho hai nước xích lại gần nhau không chỉtrên lĩnh vực chính trị, ngoại giao mà cả lĩnh vực kinh tế
Trong cuốn: Quan hệ Việt Nam – Thái Lan từ năm 1976 – 2000 của tác
giả Hoàng Khắc Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Tác giả đề cập đến
Trang 4mối quan hệ song phương Việt Nam – Thái Lan một cách toàn diện trên cả 3lĩnh vực kinh tế, chính trị, ngoại giao Trong đó đi sâu lý giải về mối quan
hệ hai nước trong từng giai đoạn chịu sự chi phối của bối cảnh quốc tế vàkhu vực Thông qua các giai đoạn đó tác giả khẳng định mối quan hệ này làmột quá trình phát triển Đồng thời tác giả cũng mở rộng hơn tìm hiểu vềmối quan hệ Việt Nam – ASEAN để hiểu rõ hơn về mối quan hệ Việt Nam –Thái Lan Tuy nhiên tác giả chỉ đề cập đến mối quan hệ này trong thời kỳ
1976 – 2000, còn giai đoạn từ 2000 đến nay chưa đề cập đến Hay vấn đềquan hệ thương mại chưa được nghiên cứu sâu sắc và đầy đủ, ở mỗi mộtthời kỳ tác giả đề cập quan hệ thương mại song phương, nhưng chưa đi sâuphân tích quan hệ thương mại Việt Nam với Thái Lan, chỉ trình bày nhữngnét khái quát Các vấn đề như kim ngạch xuất, nhập khẩu, cơ cấu hàng hóaxuất, nhập khẩu chưa được tác giả đi sâu phân tích, cần được bổ sung bằngcác nguồn tài liệu khác
TS Vũ Phạm Quyết Thắng với cuốn: Kinh tế đối ngoại Việt Nam Nxb
Thống kê, 1994 Tác giả đề cập đến mối quan hệ Việt Nam với các nước ởcác khu vực trên thế giới Công trình này nghiên cứu về lĩnh vực kinh tế đốingoại của Việt Nam, nó bao gồm có lĩnh vực thương mại, đầu tư, dịch vụ,
du lịch và tập trung nhiều vào nghiên cứu chính sách của Đảng và Nhà nướcViệt Nam đối với các nước, đồng thời tác giả cũng đưa ra những giải phápthúc đẩy mối quan hệ đối ngoại của Việt Nam phát triển hơn trong tương lai.Trong cuốn sách này tác giả chỉ đề cập một cách sơ lược quan hệ đối ngoạicủa Việt Nam với các khu vực chứ không đi vào cụ thể với một nước nào.Bên cạnh những cuốn sách, còn có một số bài báo, Tạp chí nghiên cứu
về mối quan hệ Việt Nam – Thái Lan như:
Nguyễn Thị Hoàn Vài nét về quan hệ Việt Nam – Thái Lan những năm
đầu thế kỷ XXI, tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á số 1, 2005 Tác giả trình
bày khái quát về mối quan hệ Việt Nam – Thái Lan trên các lĩnh vực kinh tế,chính trị, ngoại giao và khoa học kỹ thuật Về kinh tế, tác giả trình bày sơ
Trang 5lược sự chuyển biến trong buôn bán hai chiều từ khi thiết lập quan hệ ngoạigiao năm 1976 đến năm 2004, những xu hướng cải thiện quan hệ của cả hainước để thúc đẩy kinh tế phát triển như Thái Lan ủng hộ sáng kiến của ViệtNam phát triển hành lang Đông – Tây, nối các tỉnh Đông Bắc Thái Lan quaLào sang cảng biển miền Trung Việt Nam, góp phần phát triển các khu vựcnày Về văn hóa, khoa học kỹ thuật và ngoại giao, tác giả chỉ trình bày tómlược, nêu lên ý nghĩa của những mối quan hệ này.
Tiếp đó tác giả viết tiếp bài: 30 năm quan hệ hợp tác Việt Nam – Thái
Lan, tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á số 5, 2005 Ở bài này thực chất là sự
tiếp nối của bài: Vài nét về quan hệ Việt Nam – Thái Lan trong những năm
đầu thế kỷ XXI, tác giả đi sâu phân tích về mối quan hệ Việt Nam – Thái
Lan trên các lĩnh vực, đề cập thêm lĩnh vực văn hóa giáo dục Trong đó, đặcbiệt chú trọng lĩnh vực quan hệ chính trị, ngoại giao, là những chuyến viếngthăm của các phái đoàn cấp cao của Chính phủ hai nước…
Hầu hết những bài báo, Tạp chí đề cập đến mối quan hệ Việt Nam –Thái Lan, song thông tin cụ thể về mối quan hệ thương mại Việt Nam vớiThái Lan còn ít, hầu như chỉ nói sơ lược về mối quan hệ chính trị, ngoại giao.Như vậy cho đến nay dù quan hệ Việt – Thái đã được nghiên cứu, người tanghiên cứu về chính trị, văn hóa Còn kinh tế thương mại được trình bày giảirác, chưa có một công trình chuyên khảo nào đi sâu nghiên cứu về quan hệthương mại Việt Nam với Thái Lan từ năm 1995 đến 2010 Vì vậy, tôi mạnhdạn chọn đề tài này là đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình
3 Đối tượng, phạm vi, nhiệm vụ nghiên cứu.
* Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu về mối quan hệ thương mại
của Việt Nam với Thái Lan
* Phạm vi: Mối quan hệ thương mại Việt Nam với Thái Lan từ năm
1995 cho đến năm 2010
Ở khóa luận này chưa nghiên cứu được mối quan hệ thương mại giữa TháiLan với Việt Nam mà chỉ trình bày quan hệ thương mại Việt Nam với Thái Lan
Trang 6Đồng thời đề tài nghiên cứu chủ yếu về phía Nhà nước, chưa nghiên cứu sâu vềphía các doanh nghiệp, doanh nhân Việt Nam, có quan hệ với Thái Lan
* Nhiệm vụ nghiên cứu: Trên cơ sở nguồn sử liệu, công trình nghiên cứu
về tình hình, thực trạng quan hệ thương mại Việt Nam với Thái Lan trong giaiđoạn 1995 – 2010, về các mặt như: chủ trương, chính sách của Đảng và Nhànước về hoạt động thương mại, những thành tựu cũng như những hạn chế tácđộng đến mối quan hệ thương mại Việt Nam với Thái Lan
Trên cơ sở đó đánh giá khách quan, khoa học về đường lối chính sáchkinh tế đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với Thái Lan, ViệtNam với các nước trong khu vực và trên thế giới Đồng thời thấy được vaitrò của các doanh nhân, doanh nghiệp quan hệ với Thái Lan
Cuối cùng nghiên cứu quan hệ thương mại Việt Nam với Thái Lan đểrút ra những bài học kinh nghiệm, góp phần thúc đẩy không chỉ quan hệthương mại Việt Nam với Thái Lan, mà còn thúc đẩy quan hệ đối ngoại giữaViệt Nam với các nước khác
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
- Ở đề tài này, tôi sử dụng kết hợp nhiều nguồn tài liệu để nghiên cứu đề tài.+ Văn kiện Đảng, Nhà nước về “ kinh tế đối ngoại”, “ngoại thương”trong thời kỳ đổi mới, hội nhập kinh tế quốc tế
+ Tài liệu lưu trữ, Tạp chí, Báo cáo, thống kê tình hình thương mạiViệt Nam với thế giới và Thái Lan những năm 1995 – 2010 của Bộ Côngthương, Cục Hải Quan Việt Nam, Tổng cục Thống kê …
+ Các sách, báo cáo nghiên cứu khoa học về ngoại thương, quan hệthương mại Việt Nam với Thái Lan, cung cấp cho những tài liệu để nghiêncứu đề tài, đồng thời để so sánh với kết quả nghiên cứu của đề tài
Ngoài ra, tôi cũng tiến hành chọn lọc, phân tích những tin về quan hệthương mại Việt Nam với Thái Lan trên trang Web lấy từ Nguồn tin của BộNgoại giao, Bộ Công thương …
Trang 7- Để hoàn thành đề tài nghiên cứu này, tôi sử dụng phương pháp nghiêncứu khoa học là: phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp lôgíc Trong đóphương pháp lịch sử là chủ yếu Đồng thời sử dụng kết hợp với các phươngpháp khác khi nghiên cứu như: so sánh, phân tích tổng hợp, toán học thống kê…
Là đề tài nghiên cứu khoa học lịch sử nên tôi rất chú trọng làm tốt côngtác tư liệu lịch sử, để đề tài của mình có hiệu quả hơn
5 Đóng góp của đề tài khóa luận
Nghiên cứu Quan hệ thương mại Việt Nam với Thái Lan nhằm làm rõmột số vấn đề như:
+ Khóa luận là đề tài nghiên cứu một cách tương đối hệ thống, toàn diện
về mối quan hệ thương mại Việt Nam với Thái Lan từ 1995 đến 2010, vớinhững thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của những thành tựu, hạn chế đó.+ Góp phần đánh giá khách quan về mối quan hệ thương mại Việt Namvới Thái Lan từ 1995 đến 2010, để thấy được sự đúng đắn, sáng tạo về chínhsách kinh tế đối ngoại của Đảng và Nhà nước
+ Rút ra một số bài học kinh nghiệm phục vụ cho phát triển kinh tếthương mại Việt Nam với Thái Lan trong giai đoạn mới
+ Đề tài còn góp phần cung cấp nguồn tài liệu nghiên cứu, học tập lịch
sử Việt Nam từ 1986 đến 2010
6 Bố cục đề tài khóa luận.
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, nộidung của đề tài gồm có 3 chương:
Chương 1: Khái quát mối quan hệ Việt Nam – Thái Lan từ năm 1995
trở về trước
Chương 2: Bước chuyển biến trong quan hệ thương mại Việt nam với
Thái Lan từ 1995 đến 2010
Chương 3: Nhận xét về quan hệ thương mại Việt Nam với Thái Lan
giai đoạn 1995 – 2010 và một số bài học kinh nghiệm cho sự phát triển quan
hệ kinh tế thương mại Việt Nam với Thái Lan trong giai đoạn tiếp theo
Trang 8NỘI DUNG
Chương 1
KHÁI QUÁT QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM VỚI THÁI LAN
TRONG LỊCH SỬ TỪ NĂM 1995 TRỞ VỀ TRƯỚC
1.1 Quan hệ Việt Nam - Thái Lan dưới thời phong kiến, thực dân
từ năm 1945 về trước.
Quan hệ Việt Nam – Thái Lan hình thành từ rất sớm và nó được duy trìbồi đắp qua các thời kỳ lịch sử Việt Nam và Thái Lan có mối quan hệ lâuđời, từ mối quan hệ giữa nhân dân với nhân dân, cho đến mối quan hệ nhândân với Nhà nước Trong đó mối quan hệ giữa hai nước được sử sách ghi lạichủ yếu là sự qua lại buôn bán của các thương nhân Ngay trước khi vươngquốc Sukhothaya được thành lập (thế kỷ XIII), người Thái đã đóng thuyền,vượt biển đến Đại Việt buôn bán Thời điểm sớm nhất được ghi chép trong
sử liệu là vào năm 1149 Các thuyền buôn của ba nước Trảo Oa (Java), LộLạc (La Hộc thuộc Thái Lan) và Xiêm La đã vào vùng biển Hải Đông(thuộc Quảng Ninh ngày nay) xin được buôn bán Vua Lý Anh Tông đã cho
họ ở lại buôn bán và cho thiết lập trang Vân Đồn
Năm 1184, cũng thấy có thương nhân các nước Xiêm La và Tam Phật
Tề (Palembang, Srivijaya ở Sumatra) vào trấn Vân Đồn dâng vật quý xinbuôn bán Vân đồn từ đó trở thành thương cảng đầu tiên của Đại Việt và làđầu mối giao lưu kinh tế giữa Đại Việt và Xiêm Từ cơ sở quan hệ kinh tế,quan hệ chính trị đã được thiết lập, sự kiện đầu tiên ghi chép về sự thiết lậpmối quan hệ chính trị Trong sử liệu của Việt Nam là vào năm 1182, dướithời vua Lý Cao Tông, vua Xiêm đã cử sứ thần sang Việt Nam đặt quan hệngoại giao [14;32]
Dưới thời Sukhothaya ở Xiêm La và nhà Trần ở Đại Việt, cả hai nướcđều phải đối mặt với hoạ xâm lăng từ bên ngoài đó là đế quốc Mông –Nguyên Tuy nhiên mỗi nước có một cách đối phó khác nhau, Đại Việt ba
Trang 9lần cầm vũ khí đánh giặc Mông Nguyên, còn Sukhothaya thì dùng biện phápngoại giao Cuối cùng cả hai đều thành công Điều này ảnh hưởng đến chínhsách đối ngoại của hai nước về sau này, nó giải thích cho chính sách ngoạigiao để tránh bị phương Tây xâm lược của Thái Lan và cuộc chiến đấu đếncùng của Việt Nam Sau thời kỳ này, mối quan hệ Việt – Xiêm vẫn đượctiếp tục duy trì và ngắt quãng ở thời kỳ Đại Việt bị nhà Minh xâm lăng, ởThái Lan thì hình thành vương quốc Authaya.
Đến thời Lê (thế kỷ XV), thuyền buôn Xiêm La lại tiếp tục sang buônbán Các mặt hàng buôn bán chính của Xiêm lúc bấy giờ là diêm tiêu, sápvàng, đồ sắt đổi lấy vải lụa, đồ gốm sứ và Ngọc Trai của Đại Việt Sau khilập quốc xong, Quốc vương Authaya đã sai sứ giả sang Đại Việt chính thứcđặt quan hệ ngoại giao và buôn bán Đến thời kỳ này mối quan hệ kinh tế vàchính trị tương đối phát triển, nên vua Lê đã giảm một nửa thuế buôn chocác thương nhân Xiêm Đồng thời, năm 1485, nhà Lê đã đặt ra luật lệ vềviệc các nước đến triều cống, trong đó có Xiêm La Cho đến khi người Việtxuống phía nam, quan hệ giữa hai nước đã bắt đầu gia tăng và ngày càngphát triển Xiêm và Việt bắt đầu trở thành đối tác của nhau trên nhiều lĩnhvực Trong thời Trịnh - Nguyễn phân tranh cho đến thời kỳ Tây Sơn, quan
hệ giữa Đại Việt và Xiêm diễn ra chủ yếu ở Đàng Trong của Đại Việt, dođiều kiện giao thông thuận lợi và sự xuất hiện những lợi ích ngoại biên Vàothời kỳ này, quan hệ kinh tế trực tiếp giữa Xiêm và Đàng Trong đã có bướcphát triển mạnh mẽ, quan hệ thương mại diễn ra khá thường xuyên với quy
mô đáng kể Cả hai bên đã trở thành đối tác thương mại của nhau bất chấp
cơ sở kinh tế tự cung, tự cấp lúc đó Năm 1789, 1793, khi Xiêm có nạn đói
và yêu cầu được mua gạo, Vua Gia Long đã ra lệnh cho hơn 8.800 phươnggạo hoặc ra lệnh bán gạo cho người Xiêm Ngược lại, năm 1791, khi GiaĐịnh bị hạn hán, Nguyễn Ánh đã khuyến khích các thuyền buôn cả công lẫn
tư sang Xiêm buôn gạo và giảm một nửa thuế buôn cho các thuyền buônnước ngoài vào Long Xuyên buôn bán Không chỉ buôn bán nguyên mặt
Trang 10hàng lúa, gạo mà còn buôn bán cả đồ sắt Tầm quan trọng của mối quan hệkinh tế này còn ở chỗ, Việt Nam nằm trên tuyến thương mại của Xiêm vớiTrung Quốc và là một ngả trong quan hệ thương mại của Xiêm vớiCampuchia Thuyền buôn của Xiêm buôn bán với Trung Quốc dọc theo ven
bờ biển Việt Nam vẫn thường ghé lại các cảng của Việt Nam, nhiều lầnthuyền Xiêm xin phép nhà Nguyễn đi qua Gia Định để vào Campuchia buônbán Đến thời kỳ này chính trị trở thành một lĩnh vực chính trong mối quan
hệ Việt – Xiêm, biểu hiện là việc Nguyễn Ánh sang Xiêm cầu cứu viện trợ
để chống quan Tây Sơn Mối quan hệ càng có điều kiện phát triển kể từ khiNguyễn Ánh lên ngôi và đất nước được thống nhất Trong thế kỷ XIX, hàngnăm có khoảng 40 – 50 thuyền buôn của Xiêm đến buôn bán ở Việt Nam,mức độ buôn bán giữa hai nước khá tấp nập, nên nhà Nguyễn đã phải đặtthuế riêng gồm 13 điều đối với thuyền buôn của Xiêm và Hạ Châu(Singapore) [14;36]
Nhìn lại suốt tiến trình lịch sử, đến thời kỳ nhà Nguyễn, quan hệ ViệtNam – Thái Lan đã có sự phát triển mạnh mẽ hơn so với thời kỳ trước.Trong khi mối quan hệ láng giềng thân thiện đang phát triển thì xuất hiện sựxung đột vì có sự tranh chấp ảnh hưởng của hai nước ở Campuchia, Lào.Tham vọng bành trướng chính là nguyên nhân gây ra xung đột giữa Xiêm -Nguyễn trong lịch sử Do Xiêm từ lâu đã coi Campuchia và Lào thuộcphạm vi lợi ích của mình và coi ảnh hưởng của nhà Nguyễn ở đây như nguy
cơ đe doạ quyền lợi của mình Như vậy tính hai mặt trong quan hệ Việt –Xiêm đã tồn tại: vừa giao hảo, vừa cạnh tranh Quan hệ thương mại đóng vaitrò chính thúc đẩy quan hệ hai nước Đến giữa thế kỷ XIX các nước đế quốcphương Tây xâm lược các nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam vàXiêm, thì quan hệ Việt Nam và Thái Lan bước sang thời kỳ mới, với nhữngtính chất và đặc điểm mới
Nửa cuối thế kỷ XIX, các nước Đông Dương lần lượt rơi vào ách thốngtrị của thực dân Pháp Xiêm tuy vẫn giữ được độc lập tương đối nhưng vẫn
Trang 11bị phụ thuộc nặng nề vào thực dân Pháp Sau hiệp ước Hác măng 1883 vàPatơnốt 1884, thực dân Pháp đã thống trị Việt Nam và chi phối quan hệ ViệtNam với Xiêm Điểm nổi bật trong mối quan hệ Pháp – Xiêm là sự tranhchấp lãnh thổ Đông Dương Pháp xâm chiếm Campuchia và Lào đã khiếnXiêm phản ứng mạnh mẽ Do thế yếu hơn nên Xiêm chấp nhận Pháp thốngtrị Campuchia Ngược lại Pháp công nhận chủ quyền của Xiêm ở hai tỉnhXiêm Riệp và Battambang của Campuchia Đến ngày 3/10/1893, Xiêm thừanhận bảo hộ của Pháp tại Lào Cũng như Campuchia, một số đất đai của Lào
đã được chuyển giao cho Xiêm Tuy bị mất ảnh hưởng ở Campuchia và Làonhưng Xiêm lợi dụng mâu thuẫn Pháp – Anh để duy trì nền độc lập tươngđối của mình và có thêm một phần đất đai Như vậy, thời kỳ này do thực dânphương Tây xâm lược, dù bị mất chủ quyền hay không thì cả Việt Nam vàThái Lan đều mất đi tự do vốn có, thay vào đó là sự thống trị của Pháp đốivới Việt Nam, sự chi phối của Pháp đối với Thái Lan Chính vì thế từ giữathế kỷ XIX đến năm 1945, quan hệ giữa Việt Nam và Thái Lan có sự giảmsút, nhất là quan hệ thương mại, nếu có thì đó là quan hệ giữa chính quyềnthực dân với chính quyền của Xiêm Tuy nhiên thì những ghi chép về quan
hệ này rất ít, vì thế nghiên cứu về thương mại thời gian này có thiếu sót Trên thực tế thì mối quan hệ Việt – Xiêm thời kỳ này còn được duy trìtrong mối quan hệ giữa nhân dân hai nước Đã có rất nhiều người Việt sangXiêm sinh sống, với sự giúp đỡ của nhân dân Xiêm, kiều bào ta có điều kiệnsinh sống hoà bình với cộng đồng sở tại, góp phần gắn kết thêm mối quan hệgiữa hai dân tộc Trong hoàn cảnh Việt Nam bị bao vây, nhiều nhà cáchmạng Việt Nam đã sang nương náu ở đây Quá trình quan hệ hữu nghị lâuđời giữa nhân dân hai nước là yếu tố quan trọng khiến Xiêm trở thành nơitin cậy của những người yêu nước Việt Nam Đến khi Đảng Cộng sản ViệtNam được thành lập, đảng bộ Việt kiều tại Xiêm cũng được thành lập Việtkiều ở Xiêm ngày càng được tổ chức và chi viện đắc lực cho cách mạngViệt Nam Trong chiến tranh thế giới thứ hai, bộ đội “ Việt Nam độc lập
Trang 12quân” của kiều bào ta ở Thái Lan được thành lập nhằm bảo vệ Việt kiều vàgiúp nhân dân Thái chống lại phát xít Nhật Họ được Đảng Thái tự do củaPridi Banomyong giúp đỡ về vũ khí, hai bên đã cùng thảo luận về việc phốihợp tác chiến với nhau Sự kiện này đã đặt cơ sở cho tình cảm và sự giúp đỡcủa chính phủ Pridi đối với cách mạng Việt Nam thời gian sau này.
Như vậy, trong thời gian này, quan hệ Việt Nam – Thái Lan đã chịuthêm thử thách rất lớn từ bên ngoài Mối quan hệ này không chỉ bị đứt đoạn
về mặt nhà nước mà còn bị biến dạng đi bởi sự nô dịch của chủ nghĩa thựcdân phương Tây Nhưng cũng chính trong thời kỳ này nhân dân hai nước đã
có cơ hội hiểu nhau hơn Mối quan hệ thân thiện và hữu nghị đã được lịch
sử chứng tỏ là một dòng chảy thông suốt và bền vững Đây là cơ sở để duytrì và phát triển mối quan hệ Việt Nam – Thái Lan trong giai đoạn này vàtrong các giai đoạn sau
1.2 Quan hệ Việt Nam – Thái Lan từ năm 1945 - 1975
Cách mạng tháng 8 / 1945 đã dẫn đến sự ra đời của nước Việt NamDân chủ Cộng hoà Với sự xuất hiện một thể chế chính trị mới thay thế chothực dân Pháp, quan hệ Việt Nam – Thái Lan bước sang một thời kỳ mới,thời kỳ hai quốc gia có chủ quyền ở Đông Nam Á
Thực dân Pháp quay trở lại xâm lược Việt Nam, mối quan hệ hai bên bịgián đoạn trong một thời gian ngắn, do cả hai bên đang phải tập trung đối phóvới những vấn đề của nước mình và tình trạng này chấm dứt với việc ĐảngThái Tự do của Pridi Banomyong lên cầm quyền ở Thái Lan năm 1946 Mốiquan hệ hữu nghị hai bên lại được thiết lập Điểm đáng chú ý thời kỳ này làmối quan hệ chủ đạo giữa hai nước là chính trị và ngoại giao, còn quan hệthương mại ít được đề cập đến Trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến,nhiều kiều bào Việt Nam ở Lào đã tản cư sang Thái Lan để tránh cuộc tấncông lớn của Pháp vào các đô thị của Lào Chính phủ Pridi Banomyong vànhân dân Thái đã có thái độ tích cực và hành động kịp thời để tạo điều kiệncho kiều bào ta ổn định sinh sống Người Việt đã được hỗ trợ hạ tầng cơ sở,
Trang 13lương thực, thuốc men, đất đai và việc làm Đồng thời, với sự tạo điều kiệncủa chính phủ Pridi và nhân dân Thái Lan, Thái Lan đã trở thành một cơ sởhậu cần cho cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam.
Những chuyển biến to lớn trên thế giới với cuộc tập hợp lực lượng ráoriết của hai phe và sự trở lại của Pháp ở Đông Dương đang đưa chiến tranhlại gần Thái Lan Chính vì lý do này mà Thái Lan đã thực hiện chính sáchtrung lập trong cuộc chiến Đông Dương lần thứ nhất, tuy nhiên thì đó là sựtrung lập tích cực Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã đặt được cơquan đại diện đầu tiên tại Băng Cốc Cơ quan này hưởng quy chế ngoại giao
và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 14/4/1947 Tháng 2/ 1948, cơ quanthông tin của Việt Nam được thiết lập tại Băng Cốc Lúc này Băng Cốc vôcùng quan trọng đối với ta vì nó là cửa ngõ duy nhất của ta để đi ra ngoài,không những thế, đây còn là một đầu cầu tiếp tế quan trọng cho cuộc khángchiến chống Pháp ở Việt Nam
Những năm 50 của thế kỷ XX, sự can thiệp của các nước lớn và nhữngxung đột trong chính trường Thái Lan đã làm quan hệ này chuyển sanghướng khác Với việc can thiệp của Mỹ, hiệp định Anh – Thái và Pháp –Thái đã được ký kết, trên thực tế thì Anh và Pháp đã mất ảnh hưởng ở TháiLan, còn Thái Lan dần dần phụ thuộc chặt chẽ hơn vào Mỹ Mỹ trở thànhnhân tố quan trọng trong toàn bộ quan hệ quốc tế khu vực Thái Lan trởthành một căn cứ quân sự của Mỹ ở Đông Nam Á Chính phủ Thái Lan đãthi hành những chính sách đối đầu với phong trào cách mạng dân tộc ởĐông Dương như: công nhận chính quyền bù nhìn Bảo Đại (ở Việt Nam),cho phép máy bay Pháp bay qua không phận Thái Lan để đánh phá ThượngLào Đến tháng 8/1952 Thái Lan đã dấn sâu vào mối quan hệ liên minh với
Mỹ đối đầu với toàn Đông Dương, bằng việc ký kết hiệp định cho Mỹ thànhlập căn cứ không quân trên đất Thái Tháng 12/1952, Thái Lan ban bố đạoluật chống Cộng, chính sách đối ngoại này của Thái Lan đã tỏ rõ thái độ dứtkhoát với chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Cũng từ đây, chính phủ
Trang 14Thái Lan thi hành các chính sách phân biệt đối xử với Việt kiều tại Tháinhư: không cho lập bàn thờ Tổ quốc, dồn Việt kiều từ vùng trung tâm nhưBăng Cốc, Udon về các tỉnh biên giới, bắt giữ cán bộ Việt kiều và tìm cáchtrục xuất Việt kiều về nước… Với những chính sách này thì Chính phủ TháiLan đã không nhận được sự ủng hộ của nhân dân Thái, người dân vẫn tìmcách che trở, bảo vệ Việt kiều, đấu tranh đòi Chính phủ Thái bãi bỏ cácchính sách phân biệt.
Đến năm 1954, sau khi hiệp định Giơnevơ được ký kết, độc lập củaViệt Nam không chọn vẹn, miền Bắc bước vào thời kỳ xây dựng Chủ nghĩa
xã hội, còn miền Nam đấu tranh chống Mỹ, tiến tới thống nhất đất nước.Trước khí thế đang lên của cách mạng Đông Dương, Thái Lan tiếp tục tìmkiếm chỗ dựa an ninh là Mỹ và coi đó là nền tảng chiến lược trong chínhsách đối ngoại của mình Tháng 9/1954, Thái Lan tham gia ký hiệp ướcManila thành lập khối quân sự SEATO do Mỹ đứng đầu Hành động nàycủa Thái Lan đã cho thấy chính sách đi cùng Mỹ trong cuộc đối đầu Đông –Tây ở Đông Dương vẫn không thay đổi Sau năm 1954, Việt Nam và TháiLan đã chính thức đứng vào hai phe trong cuộc đối đầu Đông – Tây đangdiễn ra căng thẳng trên thế giới Tuy nhiên ban đầu mối quan hệ này chưacăng thẳng lắm Sự đối đầu này biểu hiện bằng việc Thái Lan quan hệ thânthiết với chính quyền Sài Gòn, tham chiến trên chiến trường Việt Nam…Cao hơn nữa, mối quan hệ giữa Thái Lan và chính quyền Sài Gòn là sự hợptác về chính trị và quân sự trong một liên minh quân sự do Mỹ cầm đầu.Chiến tranh càng lên cao thì Thái Lan càng tỏ thái độ gay gắt với Việt Nam,
Đế quốc Mỹ càng leo thang thì sự can thiệp của Thái Lan càng lớn Nếu nhưtrong chiến tranh đơn phương, Thái Lan chưa có một hàng động quyết liệtnào chống lại Việt Nam, thì đến giai đoạn chiến tranh đặc biệt, Thái Lan đãcông khai đi với Mỹ và chính quyền Sài Gòn chống lại Việt Nam Dân chủCộng hoà, Thái Lan đã dấn thân vào cuộc đối đầu thực sự với Chủ nghĩaCộng sản Đến “ chiến tranh cục bộ” 1964 – 1972, mức độ ủng hộ chính
Trang 15quyền Sài Gòn và Mỹ đã lên đến đỉnh điểm Binh lính Thái Lan theo gótviễn chinh Mỹ vào chiến trường Việt Nam tham chiến Bằng việc thamchiến ở Việt Nam, Thái Lan đã đẩy quan hệ Việt Nam – Thái Lan lên tìnhtrạng đối đầu gay gắt Các khoản viện trợ của Mỹ gia tăng theo tỷ lệ thuậnvới sự tham chiếm của Thái Lan Tuy nhiên, hành động này do Mỹ lôi kéonhằm tập hợp lực lượng chống lại các nước Xã hội Chủ nghĩa và nhằm canthiệp sâu hơn vào các quốc gia ở Đông Dương.
Năm 1975, sau khi Hiệp định Pari được ký kết, chính sách đối với ViệtNam của Thái Lan đã có sự điều chỉnh Mỹ rút quân về nước, trong khi kýhiệp định Thái Lan đã vài lần công bố công khai về mong muốn bình thườnghoá với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Đến tháng 3/1973, Thái Lan rút toàn
bộ quân đội ra khỏi miền Nam Việt Nam Vào thời điểm trước cuộc Tổngtiến công mùa xuân năm 1975, căn cứ vào tình hình và yêu cầu của cuộcchiến tranh giải phóng lúc đó, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đãchủ trương xúc tiến cải thiện quan hệ với Thái Lan và Thái Lan cũng cóphản hồi tích cực Tuy nhiên thì mối đe doạ lớn nhất lúc này là nguy cơ canthiệp trở lại của Mỹ Trong đó có lực lượng quân sự Mỹ đang đóng lại TháiLan Sự lo ngại này là cơ sở khi chiến tranh vẫn đang tiếp diễn ở ĐôngDương, Mỹ vẫn ủng hộ cho chính quyền Sài Gòn, chống lại Việt Nam Dânchủ Cộng hoà Còn Thái Lan thì duy trì chính sách hai mặt, vừa vì có quan
hệ với Mỹ, vừa vì chiến tranh ở Đông Dương chưa kết thúc, kết quả chưa rõràng Họ vừa muốn cải thiện quan hệ với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, vừamuốn duy trì căn cứ quân sự của Mỹ ở Thái Lan Ý đồ đó của chính quyềnThái Lan đã không thúc đẩy được mối quan hệ giữa Việt Nam Dân chủCộng hoà và Thái Lan phát triển cao hơn Như vậy, trong suốt cuộc chiếntranh Việt Nam, mối quan hệ giữa Việt Nam và Thái Lan là mối quan hệ thùđịch Mối quan hệ này suy cho cùng là sự tranh giành ảnh hưởng giữa hainhóm nước trong khu vực Đông Nam Á; nhóm nước không cộng sản đứngđầu là Thái Lan và nhóm nước cộng sản đứng đầu là Việt Nam
Trang 16Ngày 30 tháng 4 năm 1975, chế độ nguỵ quyền Sài Gòn sụp đổ, đồngthời Thái Lan là chính phủ mới do Hoàng thân Kukrit Pramoj làm thủ tướngđược thành lập Ngay sau đó, Việt Nam đã cử hai phái đoàn sang thăm TháiLan, một phái đoàn Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền NamViệt Nam do Đại sứ Nguyễn Minh Phương làm trưởng đoàn và đoàn đạibiểu Việt Nam Dân chủ Cộng Hoà do Thứ trưởng ngoại giao Phan Hiền làmtrưởng đoàn, để đàm phán về việc bình thường hoá quan hệ hai nước.Nhưng do một loạt vấn đề sau chiến tranh chưa được tháo gỡ như vấn đề tàisản của chính quyền Nguỵ đưa sang Thái Lan, phía Việt Nam yêu cầu TháiLan trả lại … còn các vấn đề khác được tháo gỡ dần dần
Như vậy trong cuộc chiến tranh Việt Nam, quan hệ giữa Việt Nam vàThái Lan chủ yếu diễn ra trên lĩnh vực chính trị và ngoại giao Thực chất nó
là sự chi phối của mối quan hệ Đông – Tây mà đứng đầu là Mỹ, sự can thiệpcủa Mỹ và sự phụ thuộc ngày càng nhiều của Chính phủ Thái Lan lúc bấygiờ là nguyên nhân đưa đến mối quan hệ giữa hai nước ngày càng đi vào bếtắc, hai bên đã có nhiều hành động hiềm khích, mà chủ yếu là Thái Lan Vấn
đề mấu chốt của tình hình lúc này chính là giải quyết vấn đề chiến tranh ởViệt Nam, chiến tranh chưa được giải quyết thì quan hệ hai bên chưa thiếtlập trở lại được và như thế thì các mối quan hệ khác cũng chưa được thiếtlập Vì thế mà các vấn đề khác đều được lui lại, trong đó có vấn đề thươngmại hai nước Nếu có quan hệ thương mại trong thời kỳ này, thì đó là quan
hệ giữa Thái Lan và chính quyền Ngụy Tuy nhiên thì do nhiều lý do khácnhau như chiến tranh, vấn đề chính trị, mà những ghi chép về mối quan hệnày hầu như không có Còn quan hệ giữa chính quyền Thái Lan với chínhquyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không có Đánh dầu bằng sự kiện tháng
11 năm 1952, Thái Lan ban hành “ đạo luật chống Cộng” Đây là sự bày tỏthái độ đối lập dứt khoát của Thái Lan với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Sựkiện ngày 30 – 4 – 1975 đã đánh dấu sự chấm hết cho những vướng mắctrong quan hệ hai nước, từ đây hai nước bắt tay vào giải quyết những vấn đề
Trang 17còn tồn đọng sau chiến tranh, trên tình thần thiện chí của cả hai bên Quan
hệ Việt Nam – Thái Lan trên cơ sở đó cũng sẽ được thiết lập
1.3 Quan hệ Việt Nam – Thái Lan từ 1976 đến 1986
Từ năm 1976 đến năm 1986, quan hệ Việt Nam và Thái Lan vẫn chịu
sự chi phối quan hệ quốc tế, nên thời kỳ này quan hệ hai bên vẫn còn ở mứchạn chế, các quan hệ thương mại, văn hoá đã có nhưng còn khiêm tốn Trên tinh thần cả hai bên đều mong muốn sớm thiết lập quan hệ ngoạigiao trở lại Ngày 6 – 8 – 1976, Bộ trưởng ngoại giao Thái Lan – PhichayRắtlacun đã tới thăm Hà Nội cùng với bộ trưởng ngoại giao Việt NamNguyễn Duy Trinh ký Hiệp định thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nướctrên cơ sở nguyên tắc 4 điểm mà Việt Nam đưa ra là: Việt Nam tôn trọngđộc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các nước; cam kết không để lãnhthổ của mình cho bất cứ nước nào sử dụng để chống lại nước khác; thiết lậpquan hệ láng giềng tốt đẹp, hợp tác kinh tế, trao đổi văn hoá với các nước; rasức phát triển hợp tác nhiều mặt với các nước Sau khi ký Hiệp định bìnhthường hoá quan hệ, hai bên đã có nhiều cuộc tiếp kiến ngoại giao để thúcđẩy bình thường hoá quan hệ hai bên
Tháng 1 năm 1978, Bộ trưởng Nguyễn Duy Trinh sang thăm chínhthức Thái Lan, hai bên đã ra thông cáo chung khẳng định quyết tâm củng cố
và phát triển quan hệ giữa hai nước trên cơ sở Thông cáo ký tại Hà Nội ngày
6 – 8 – 1976; thoả thuận về việc lập Đại sứ quán và trao đổi Đại sứ giữa hainước càng sớm càng tốt; cùng nhau giải quyết những vấn đề còn lại giữa hainước; ký Hiệp định Thương mại; hợp tác kinh tế, kỹ thuật và Hiệp định vậnchuyển hàng không giữa hai nước sau khi thiết lập quan hệ ngoại giao Haibên đã cho rằng chuyến đi thăm Thái Lan của Bộ trưởng Ngoại giao NguyễnDuy Trinh đã mở ra kỷ nguyên mới trong quan hệ giữa hai nước Tháng 5năm 1978, đoàn thương mại của Thái Lan bay sang Việt Nam thoả thuậnViệt Nam bán cho Thái Lan một vạn tấn than, sự kiện này đã mở đầu chomối quan hệ thương mại giữa hai nước
Trang 18Tuy nhiên, sự kiện Việt Nam đưa quân sang Campuchia ngày 7 – 1 –
1978, cùng với mục đích giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi nạn diệtchủng đã làm cho quan hệ Việt Nam – Thái Lan bế tắc không phát triểnđược Các nước ASEAN mà đứng đầu là Thái Lan đòi Việt Nam rút quânkhỏi Campuchia và trao quyền tự quyết cho nhân dân nước này Thái Lan đã
để cho những đạo quân còn sót lại của Pôn Pốt lánh nạn, thậm chí còn lậpcăn cứ trên đất Thái Lan, giáp phần danh giới với Campuchia Thái Lankhông hiểu rằng sự hiện diện của quân đội Việt Nam trên đất Campuchia làbất đắc dĩ Nó chỉ liên quan đến mối quan hệ giữa các nước Đông Dương,trước hết là Việt Nam và Trung Quốc Đồng thời Thái Lan cũng dùng sức épngoại giao, chính trị và kinh tế để gây sức ép với Việt Nam về vấn đềCampuchia Thái Lan tuyên bố đình chỉ quan hệ thương mại với Việt Nam.Như vậy mối quan hệ thương mại hai bên mới được thiết lập chưa bao lâuthì vấn đề quan hệ quốc tế, cụ thể là vấn đề Campuchia đã khiến mối quan
hệ này đi vào bế tắc và kết quả là quan hệ thương mại đã bị đình chỉ hoạtđộng Tuy nhiên, hai bên vẫn duy trì quan hệ ngoại giao ở mức độ thích hợpnhư đón Bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch sang thăm Thái Lan.Tháng 11 – 1980, có các cuộc tiếp xúc ở cấp Thứ trưởng ngoại giao Những
sự kiện về Camphuchia đã đẩy quan hệ Việt Nam và Thái Lan bế tắc trongsuốt 10 năm liền không tiến triển được
Chỉ đến năm 1985, sau khi Việt Nam tuyên bố đơn phương rút hết quânđội ra khỏi Campuchia thì các mối quan hệ hai bên lại được thiết lập trở lại,mặc dù nó vẫn còn bị kìm chế bởi chính sách đối ngoại của mỗi nước Cũngchính vì vậy, năm 1985, Ngoại trưởng Thái Lan tuyên bố: không ngăn cảncũng như không khuyến khích tư nhân Thái Lan buôn bán ở Việt Nam Nhưvậy sau 10 năm quan hệ Việt Nam và Thái Lan dù vẫn còn nhiều chỗ chưathông suốt, nhưng mối quan hệ này đã được cải thiện rất nhiều kể từ sau khicuộc chiến tranh Việt Nam nổ ra (từ năm 1946 đến năm 1975) Vấn đề còn
Trang 19lại hai bên lúc này chính là có những cuộc tiếp xúc, trao đổi hai bên, tiến tớinối lại các mối quan hệ hai bên trên mọi lĩnh vực.
Bên cạnh cố gắng thúc đẩy đối thoại, quan hệ hợp tác kinh tế Việt Namvới Thái Lan vẫn được duy trì Mặc dù quan hệ kinh tế vẫn còn chiếm một tỉ
lệ nhỏ trong kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam cũng như Thái Lan,nên việc duy trì quan hệ này vẫn có ý nghĩa quan trọng Đối với Thái Lan đó
là vấn đề thị trường cho hàng xuất khẩu, tạo thêm kênh thương mại để thuhút đầu tư nước ngoài, góp phần duy trì quan hệ kinh tế góp phần giữ cho sựđối đầu chính trị ở trong mức có thể kiểm soát được Đối với Việt Nam, mốiquan hệ kinh tế với Thái Lan không chỉ xuất phát từ nhu cầu kinh tế mà còn
ý nghĩa chính trị đáng kể trong cố gắng phá thế bị bao vây cô lập trên trườngquốc tế Dù kim ngạch buôn bán còn nhỏ bé và bị chi phối bởi mối quan hệchính trị nhưng vẫn tồn tại bất chấp sự đối đầu trở nên gay gắt Đó là sựchứng minh cho nhu cầu hợp tác kinh tế giữa hai nước vẫn tiếp tục, là sựphản ánh xu hướng cải thiện quan hệ vẫn còn chỗ đứng Quan hệ này sẽnhanh chóng phát triển trở lại khi cơ hội mở ra
Quan hệ thương mại giữa Việt Nam với Thái Lan từ năm 1978 đến năm 1983
Đơn vị: Triệu VNĐ
Trị giá xuất nhập
khẩu
1978 1979 1980 1981 1982 1983
Xuất khẩu của Việt
Nam sang Thái Lan
Nhập khẩu của Việt
Nam từ Thái Lan
(Nguồn: IMF “sách chỉ dẫn thương mại hàng năm”, 1984)
Như vậy quan hệ buôn bán hai chiều thời kỳ này tuy còn hạn chế, song
đó là bước tiến đầu tiên trong quan hệ Việt Nam và Thái Lan Một điều dễnhận thấy cán cân buôn bán thời kỳ này đã có sự chênh lệch, nước ta nhập
Trang 20siêu từ Thái Lan, trị giá xuất khẩu của nước ta còn nhỏ Sự mất cân đối nàycòn kéo dài cho những năm về sau Điều này cũng phản ánh đúng thực trạngkinh tế của ta lúc bấy giờ.
Về mặt hàng buôn bán thời kỳ này, chúng ta xuất khẩu sang Thái Lanchủ yếu hàng nông sản chưa qua chế biến, như lạc nhân, thuỷ hải sản, hàngthủ công mỹ nghệ… còn nhập về từ Thái Lan là những mặt hàng phục vụcho sản xuất nông nghiệp và một số hàng tiêu dùng, như phân bón, thuốc trừsâu, xe máy… Như vậy mặt hàng buôn bán giữa nước ta và Thái Lan cònkhá đơn giản, cơ cấu mặt hàng chủ yếu là hàng nông nghiệp, thủ côngnghiệp Những hàng mà kỹ thuật công nghệ chúng ta chưa sản xuất đượcnên chưa có trong danh mục xuất khẩu sang Thái Lan
1.4 Quan hệ Việt Nam – Thái Lan từ năm 1986 đến năm 1995
Đây là giai đoạn quan trọng đánh dấu bước tiến trong quan hệ hainước, trên cả lĩnh vực ngoại giao, kinh tế thương mại Sau mười năm quan
hệ Việt Nam – Thái Lan có nhiều bế tắc Việt Nam đã nhận thức được rằng,muốn vượt qua khó khăn về đối nội và đối ngoại với những nguyên nhânchủ quan và khách quan, thì phải khẩn trương và triệt để thực hiện côngcuộc đổi mới, coi đó là con đường dẫn dắt Việt Nam hội nhập kinh tế vớiquốc tế để cùng phát triển Tháng 12 năm 1986, Việt Nam tiến hành côngcuộc đổi mới, về chính sách đối ngoại Việt Nam, Đại hội VI chỉ rõ:
“ Nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước ta trên lĩnh vực đối ngoại là ra sứckết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, phấn đấu giữ vững hoàbình ở Đông Dương, góp phần tích cực giữ vững hoà bình ở Động Nam Á
và trên thế giới” [2; 99]
Trong chính sách ngoại giao, Việt Nam đưa ra nguyên tắc 4 điểm củamình, mong muốn mở rộng quan hệ ngoại giao kinh tế với tất cả các nướckhông phân biệt về hệ tư tưởng Tiến hành mở cửa nền kinh tế, phát triểnkinh tế thị trường Tất cả những việc làm đó là nhằm tạo ra một cơ sở cầnthiết để phát triển nền kinh tế đất nước, mong sao nhanh chóng hàn gắn vết
Trang 21thương chiến tranh mà mười năm qua Việt Nam chưa có điều kiện làm đượcnhiều Đồng thời, đó cũng là nhằm tạo ra một Việt Nam mới đang sẵn sàngkêu gọi sự hợp tác, đầu tư của tất cả các nước trên thế giới và khu vực.
Trong khi đó ở Thái Lan cũng đang thực hiện những kế hoạch pháttriển kinh tế xã hội của mình Trên đà thắng lợi của những kế hoạch đó, kinh
tế phát triển nhanh chóng, dư luận Thái Lan đòi hỏi chính phủ thi hànhchính sách mềm dẻo để tạo điều kiện mua bán và đầu tư vào các nước ĐôngDương Chính vì vậy, ngay khi lên làm thủ tướng, ông Chạt – chai đã tuyên
bố “ biến Đông Dương từ chiến trường thành thị trường” Tình hình trên đãkhiến hai nước bắt tay nhau nhiều hơn để cùng bước vào thập kỷ 90 vớinhững nỗ lực mới và quyết tâm mới Tuy vậy thì mối quan hệ này ngay từđầu đã không suôn sẻ mà muốn có được điều đó thì cả hai cùng bỏ quanhững nghi kỵ, tiến tới những quan hệ tốt đẹp hơn
Từ năm 1986 đến năm 1990 quan hệ thương mại Việt Nam với TháiLan chưa nhiều, điều này xuất phát từ các vấn đề về chính trị, ngoại giaonhưng vấn đề quan trọng là Việt Nam vừa thoát ra khỏi bao cấp, nền kinh tếthị trường vừa mới được thiết lập, cơ sở kinh tế còn yếu kém, cơ cấu kinh tếthì lạc hậu, sự bao vây và cấm vận kinh tế của Mỹ… làm cho sản xuất trongnước không đáp ứng kịp nhu cầu cơ bản của nhân dân, chứ chưa nói đếnxuất khẩu Vì vậy, quan hệ buôn bán giữa Việt Nam và Thái Lan thời kỳnày còn khiêm tốn Khi Việt Nam đổi mới đưa ra chính sách đối ngoại vớicác nước ASEAN thể hiện tinh thần muốn được hợp tác Trong ba chươngtrình kinh tế lớn của Việt Nam (nông nghiệp, hàng tiêu dùng và hàng xuấtkhẩu) Thái Lan được nhìn nhận là một đối tác kinh tế đối ngoại hợp lý.Hợp lý bởi vị trí địa lý gần gũi, trình độ phát triển không quá chênh lệch,những tương đồng trong nền nông nghiệp, giá cả chấp nhận được và sựquen thuộc nhất định của người tiêu dùng đối với hàng hoá Thái Lan Trênphương diện chính sách đối ngoại, chủ trương cải thiện chính sách quan hệvới các nước trong khu vực nhằm phá vỡ thế cô lập về chính trị, thiết lập
Trang 22môi trường ổn định cho xây dựng kinh tế cũng đặt quan hệ Việt Nam –Thái Lan vào vị trí tâm điểm do vai trò của mối quan hệ này đối với quan
hệ Đông Dương – ASEAN
Nhận thức cùng lợi ích kinh tế như vậy đã khiến nhu cầu cải thiện quan
hệ cùng tăng từ cả hai phía Xu hướng cải thiện quan hệ Việt Nam – TháiLan lúc này diễn ra nhiều trên lĩnh vực kinh tế mặc dù mức độ còn khákhiêm tốn Tuy vẫn còn lệnh cấm vận của Mỹ, nhưng mối quan hệ chưachính thức về mặt nhà nước này đã bắt đầu phát triển về khối lượng trao đổi.Năm 1989 tổng kim ngạch buôn bán giữa hai nước đạt 1.591,8 triệu bạt, cònhàng Việt Nam xuất sang Thái Lan đạt 1.178,6 triệu bạt:
Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam và Thái Lan thời kỳ 1986 – 1990.
Đơn vị: Triệu USD
(Nguồn: Bộ thương mại)
Mặt khác, hàng hoá Thái Lan nhập lậu vào Việt Nam qua Lào vàCamphuchia chắc chắn là không nhỏ, nhưng không được đưa vào thống kê.Quan hệ này không chỉ còn là đơn thuần mua bán trao đổi mà đã xuất hiệnhình thức hợp tác như liên doanh về đánh cá giữa Công ty xuất khẩu hải sảnViệt Nam và Công ty Thuỷ sản Thái Lan Tờ bưu điện Băng Cốc viết: “ năm
1987 là năm đặc biệt có nhiều thương gia đến Thái Lan đến Việt Nam” [14;135] Báo này còn cho biết một số công ty của Thái Lan còn thành lập cơ sởxuất khẩu hàng tiêu dùng sang Việt Nam tại Singapore, nhằm tránh việcchính phủ gây khó khăn
Về hàng hoá Việt Nam xuất nhập khẩu sang Thái Lan thời kỳ 1986 đến
1990 vẫn là những mặt hàng nông nghiệp, như lạc nhân, cà fê, điều, thủcông nghiệp, hải sản đông lạnh và một số ít hàng tiêu dùng Sự đơn giản hoácác mặt hàng này vẫn phản ánh trình độ kinh tế của chúng ta còn thấp
Trang 23Những hàng mà chúng ta nhập từ Thái Lan thời điểm này là xăng, dầu, hàngtiêu dùng, có cả xe máy … Và Việt Nam vẫn nhập siêu từ Thái Lan.
Như vậy, bất chấp những trở ngại về chính trị vẫn còn tồn đọng, quan
hệ kinh tế giữa Việt Nam với Thái Lan đã bắt đầu có sự tăng trưởng đềuđặn Ban đầu, quy mô còn bé, Thái Lan xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu Khiquy mô thương mại bắt đầu tăng mạnh từ năm 1988, Thái Lan nhập khẩunhiều hơn hàng hoá của Việt Nam Bên cạnh đó khi vẫn còn tình trạng đốiđầu thì đối với Thái Lan nhập khẩu an toàn hơn xuất khẩu, còn đối với ViệtNam thì phù hợp với chủ trương xuất khẩu Những tiến bộ nhất định trongquan hệ thương mại, dù chưa phải chính thức và được thực hiện chủ yếu bởicác thương gia, cũng phản ánh sự hoà hợp hơn giữa hai nước
Từ năm 1990 đến năm 1995, quan hệ thương mại Việt Nam với TháiLan phát triển mạnh mẽ Đánh dấu cho mối quan hệ hai bên ở cấp nhà nước
là vào tháng 11/1989, Ngoại trưởng Thái Lan Sitthi tuyên bố: “ Việt Namkhông còn là mối đe doạ đối với Thái Lan nữa” Điều này được khẳng địnhthêm bằng tuyên bố của Ngoại trưởng Sitthi tại Uỷ ban đối ngoại Quốc hộiThái Lan (17/1/1990) rằng: “Thái Lan sẽ mở rộng hợp tác tay đôi với ViệtNam mà không chờ có một giải pháp cho vấn đề Camphuchia” [14;171].Như vậy vấn đề quan hệ Việt Nam và Thái Lan đã được khai thông, từ đâyquan hệ thương mại hai bên có điều kiện phát triển hơn Hàng hoá trao đổigiữa hai bên tăng lên nhanh chóng cả về số lượng và cơ cấu mặt hàng, tínhchất đơn giản đã được khắc phục của hàng hoá Việt Nam, thay vào đó lànhiều mặt hàng hơn, phong phú hơn Từ năm 1990 đến năm 1995 chúng taxuất khẩu sang Thái Lan các mặt hàng như: cà phê, gạo, hàng may mặc,giày dép, hàng thuỷ sản (tôm, cá, mực đông lạnh) dù số lượng chưa nhiều sovới tiềm năng hai bên
Bảng thống kê 5 mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 1991 – 1995 sang Thái Lan.
Đơn vị triệu USD
Trang 24số lượng mặt hàng chúng ta nhập khẩu từ Thái Lan nhiều hơn, kim ngạch nhập
Trang 25khẩu hàng hoá cũng cao hơn Trong giai đoạn đầu, chúng ta đã có chênh lệchtrong quan hệ buôn bán với Thái Lan, mặc dù kinh tế có bước phát triển caohơn, song nền kinh tế của nước ta vẫn phát triển chậm so với Thái Lan 20 năm.
Vì thế không tránh khỏi hàng hoá Việt Nam chưa tiếp cận được thị trường TháiLan, chưa đáp ứng được thị hiếu tiêu dùng của người dân Thái Cơ cấu hànghoá của hai bên tương đối giống nhau, nó phản ánh chính xác trình độ kỹ thuật
và trạng thái cơ cấu kinh tế hiện tại của nước ta cũng như Thái Lan Từ đó cóthể thấy Việt Nam vẫn chủ yếu xuất khẩu nguyên liệu thô cho Thái Lan Điềunày sẽ thay đổi khi Việt Nam từng bước công nghiệp hoá Nó đòi hỏi nước taphải có những chính sách điều chỉnh kịp thời
Về kim ngạch xuất nhập khẩu thời kỳ này, chúng ta vẫn thấy cán cânthương mại giữa Việt Nam với Thái Lan có sự mất cân đối, chúng ta nhậpsiêu, còn xuất khẩu thì rất ít
Bảng thống kê kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam với Thái Lan thời kỳ 1991 – 1995.
Đơn vị: Triệu USD
Xuất khẩu của Việt Nam 52,34 57,75 71,50 71,67 39,41 42,95
Nhập khẩu từ Thái Lan 17,08 14,23 14,22 95,11 255,20 465,92
Cán cân XNK 35,06 43,52 57,28 -23,44 -215,79 -422,97
Tổng kim ngạch 69,42 71,98 112,72 166,78 294,61 508,87
(Nguồn: Hải quan Việt Nam, Hà Nội, 2002)
Các số liệu bảng trên cho thấy, trong mấy năm gần đây hoạt động traođổi mậu dịch giữa Việt Nam và Thái Lan có xu hướng gia tăng mạnh mẽ.Tuy nhiên trong sự gia tăng đó, bộc lộ một số xu hướng sau:
- Năm 1994, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Thái Lan giảmmạnh Năm 1995, có sự gia tăng trở lại nhưng cũng chỉ đạt 1/2 kim ngạchxuất khẩu của Việt Nam sang Thái Lan so với năm 1993
Trang 26- Kim ngạch nhập khẩu từ Thái Lan sang Việt Nam không ngừng tănglên Mức tăng kim ngạch nhập khẩu từ Thái Lan cao hơn nhiều so với mứctăng trưởng kim ngạch nhập khẩu chung của Việt Nam thời kỳ này Xuhướng này cho thấy hàng hoá Thái Lan ngày càng được người tiêu dùngViệt Nam chấp nhận, các nhà kinh doanh xuất khẩu Thái Lan đánh giá kinhdoanh xuất khẩu thị trường Việt Nam và chọn cách thức thâm nhập thịtrường thích hợp Như vậy tốc độ tăng nhập khẩu từ Thái Lan sang ViệtNam nhanh hơn tốc độ tăng xuất khẩu từ Việt Nam sang Thái Lan, dẫn đếnmức nhập siêu của Việt Nam ngày càng lớn Năm 1995, giá trị nhập khẩuhàng hoá Thái Lan của Việt Nam là 439,7 triệu USD trong khi xuất khẩusang Thái Lan đạt 101,3 triệu USD, thâm hụt thương mại 338,4 triệu USD.Như vậy thời kỳ 1986 đến 1995, nhờ chính sách đổi mới nền kinh tếcủa Nhà nước ta mà quan hệ buôn bán giữa nước ta với Thái Lan khôngngừng gia tăng, mặc dù kim ngạch buôn bán hai bên còn nhỏ, lúc đầu cònbấp bênh, cán cân thương mại của ta luôn thấp hơn Thái Lan, chúng ta nhậpsiêu còn Thái Lan xuất sang Việt Nam nhiều hơn Cơ cấu mặt hàng thời kỳnày đã có sự phong phú hơn so với thời kỳ trước nhưng sự cải thiện đó vẫn
ở mức độ chậm, chưa có thay đổi đáng kể Chúng ta vẫn xuất những mặthàng thô, chưa qua chế biến, còn nhập về những mặt hàng tiêu dùng có giátrị cao Đây là thực trạng của một nền kinh tế vừa trải qua bao cấp, tiếp cậnnền kinh tế thị trường chưa lâu Chính vì vậy Đảng và Nhà nước ta ngàycàng có những chính sách điều chỉnh kịp thời để thích ứng với nền kinh tếthị trường, đặc biệt là giảm tình trạng nhập siêu, tăng xuất khẩu
Tiểu kết chương 1:
Như vậy, trong suốt thời kỳ phong kiến, thực dân, Việt Nam và TháiLan đã thiết lập được mối quan hệ truyền thống tốt đẹp trên tất cả lĩnh vực:chính trị, ngoại giao, văn hóa, kinh tế Tuy nhiên thì mối quan hệ này khôngđược bền vững, vừa hòa hảo vừa cạnh tranh, cả hai bên vẫn thường xuyên
có những bất hòa, xoay quanh các vấn đề như tranh chấp ảnh hưởng ở Lào
Trang 27và Campuchia Nhìn chung, trong suốt thời kỳ phong kiến, thực dân quan hệViệt Nam và Thái Lan chủ yếu trên lĩnh vực chính trị, ngoại giao Duy trìmối quan hệ này ở các hai chiều hướng, đó là đối đầu và xuôi chiều Quan
hệ thương mại có diễn ra nhưng còn rất ít, chủ yếu là giữa những người dâncủa hai bên với nhau Đến giữa thế kỷ XIX thực dân Pháp đến xâm lược,quan hệ Việt Nam và Thái Lan phụ thuộc vào Pháp, Anh Nhà Nguyễn ởViệt Nam chịu sự chi phối của Pháp, nhất là sau khi Việt Nam mất chủquyền vào tay Pháp năm 1883, 1884, vì thế dù có muốn thúc đẩy quan hệkinh tế thương mại đi nữa thì do nhiều yếu tố mà quan hệ này ít diễn ra Nếu
có thì cũng chỉ rải rác, không được thường xuyên Thêm vào đó là các tranhchấp giữa Việt Nam và Thái Lan ở Lào và Campuchia vẫn tiếp tục diễn biếnphức tạp Nó làm cho quan hệ Việt Nam và Thái Lan ngày càng xấu đi Đâychính là một trong những nguyên nhân khiến quan hệ Việt, Thái rơi vào bếtắc ở thời kỳ 1945 – 1975
Như đã trình bày ở trên, quan hệ Việt Nam và Thái Lan càng ngày càng
có những bế tắc Từ năm 1945 trở đi, quan hệ trở nên phức tạp hơn Quan hệchính trị, thương mại chưa có nhiều cạnh tranh do sự chi phối của mối quan
hệ giữa các nước đế quốc Từ năm 1954 đến năm 1975, quan hệ Việt – Tháicàng trở nên căng thẳng Cuộc chiến tranh ở Việt Nam và sự tham gia củaThái Lan ủng hộ Mỹ, chống lại Việt Nam làm cho mối quan hệ hai bên trởnên phức tạp nhất Cuối năm 1950 đầu năm 1960, quan hệ giữa Việt NamDân chủ Cộng hòa và Thái Lan có cải thiện, nhưng những thống kê vềthương mại hầu như không có, do Việt Nam cần tập trung sức lực cho cuộckháng chiến chống Mỹ, nên quan hệ hai bên diễn ra chủ yếu trên lĩnh vựcngoại giao Đó là các cuộc tiếp xúc giữa hai bên trong việc hồi hương người
tị nạn Ngoài ra có một số liên hệ yếu ớt khác giữa các tổ chức đoàn thể nhưcông đoàn, nhà báo… Khi Mỹ vào Đông Nam Á, Mỹ đã chi phối hoàn toànmối quan hệ Việt Nam và Thái Lan, với việc thiết lập chính quyền Ngụy taysai Mỹ đã cắt đứt quan hệ giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với Thái Lan
Trang 28Trong thời gian Mỹ ở Việt Nam, Thái Lan quan hệ với miền Nam Việt Namchứ không quan hệ với miền Bắc Quan hệ này diễn ra trên các mặt như hồihương Việt kiều, cùng tham gia khai thác sông Mê công… đặc biệt là hợptác quân sự và chính trị Quan hệ thương mại chưa có tài liệu ghi chép Tuynhiên, những hợp tác thời vụ giữa chính quyền Sài Gòn với Thái Lan khôngmang tính chất đại diện cho quan hệ Việt Nam và Thái Lan.
Từ sau năm 1975, tưởng trừng quan hệ Việt Nam và Thái Lan được cảithiện, sau khi Mỹ rút quân về nước Nhưng thực tế thì mối quan hệ Việt, Tháicàng trở nên phức tạp hơn (trừ những năm 1975 – 1977 quan hệ hai bên cócải thiện tốt), khi nảy sinh vấn đề Campuchia Cuộc chiến tranh biên giớiTây Nam đã làm cho quan hệ Việt, Thái trở nên xấu đi Thái Lan trở thànhcăn cứ của lực lượng Khơme đỏ, chống lại nhân dân Campuchia Đến khiViệt Nam rút khỏi Campuchia và năm 1986 Việt Nam tiến hành đổi mới đấtnước, quan hệ Việt Nam, Thái Lan được cải thiện rõ rệt Cũng từ đây, quan
hệ thương mại hai bên chính thức được thiết lập trở lại và ngày càng pháttriển hơn, kim ngạch buôn bán hai bên không ngừng gia tăng, nó chính là cơ
sở, điều kiện thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam với Thái Lan phát triểnhơn ở giai đoạn tiếp theo, nhất là từ khi Việt Nam gia nhập ASEAN
Trang 29Chương 2
BƯỚC CHUYỂN BIẾN TRONG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM VỚI THÁI LAN GIAI ĐOẠN 1995 - 2010
2.1 Bối cảnh quốc tế và khu vực tác động đến quan hệ thương mại
Việt Nam với Thái Lan.
2.1.1 Tình hình quốc tế.
Thời kỳ từ 1995 đến 2010 là thời kỳ thế giới có những bước chuyển biếnmới, kinh tế đang trở thành những vấn đề then chốt, trình độ phát triển củacác nước được phân biệt bằng trình độ phát triển kinh tế của quốc gia đó.Kinh tế thế giới vẫn chịu sự chi phối của các cường quốc, bởi lợi ích của quốcgia vẫn là động lực chủ yếu trong quan hệ quốc tế Sự hợp tác giữa các nướclớn có xu hướng làm sâu sắc thêm mâu thuẫn giữa các nước lớn, khi cố gắngthúc đẩy tự do hóa kinh tế và áp đặt thể chế hoá theo hướng có lợi cho mình.Tình hình đó đặt ra cho các nước vừa và nhỏ trong đó có Việt Nam vàThái Lan những cơ hội và thách thức mới Một mặt, chiều hướng này gópphần củng cố môi trường hoà dịu, tạo thêm cơ hội cho sự phát triển thươngmại Việt Nam với Thái Lan, nhưng cũng tạo ra những nguy cơ bất lợi trongtoàn cầu hoá kinh tế, nguy cơ phụ thuộc nhiều hơn vào các nước lớn… Hợptác là cách thức tốt nhất để nâng cao sức mạnh và khả năng nói chung, giảmthiểu tiêu cực yếu kém Như vậy những xu hướng này đều dẫn đến yêu cầutăng cường hợp tác nhiều mặt giữa các nước để tận dụng cơ hội và hạn chếthách thức Hợp tác với khu vực Đông Nam Á cũng như quan hệ thượng mạivới Thái Lan, Việt Nam đều chịu những tác động mạnh mẽ của những vậnđộng của môi trường quốc tế
Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, xu thế đa cực hoá cũng đồng hànhvới thực tế những nước lớn, nước mạnh sẽ chi phối cả thế giới về kinh tế vàchính trị Thực tế này, hiện nay ứng với những nước có nền kinh tế lớnmạnh như Trung Quốc, Mỹ, Nhật Còn nước Nga sau khi chiến tranh lạnh
Trang 30kết thúc, nền kinh tế xa sút, từ năm 1995 đến 2010 có phục hồi nhưng chưađáng kể, chưa thể chi phối mạnh mẽ nền kinh tế thế giới Như vậy vai trò chiphối kinh tế thế giới những năm đầu thế kỷ XXI thuộc về một số nước lớnnhư Mỹ, Trung Quốc, Nhật và ngày càng trở nên quan trọng đối với toànkhu vực Đông Nam Á nói chung và quan hệ thương mại Việt Nam với TháiLan nói riêng.
Nước Mỹ từ năm 1995 đến 2005 vẫn là nền kinh tế số 1 thế giới Vìvậy chính sách Châu Á – Thái Bình Dương của Mỹ là nhằm biến mình từ “một quyền lực ở Châu Á – Thái Bình Dương” thành “ quyền lực của Châu Á– Thái Bình Dương” [16; 191] Như thế có nghĩa là Mỹ sẽ duy trì môitrường an ninh và hợp tác kinh tế ở khu vực này theo hướng có lợi cho Mỹ
Mỹ tìm cách củng cố quan hệ với các nước trong khu vực, đặc biệt là cảithiện quan hệ với Việt Nam như ngày 14 – 7 – 2000, hai nước đã kí hiệpđịnh thương mại Việt - Mỹ, điều này đã tạo điều kiện cho thương mại ViệtNam phát triển nhưng cũng củng cố niềm tin của những nước thân Mỹ (Tháilan) trong việc quan hệ hợp tác kinh tế với Việt Nam Tuy nhiên thì việc Mỹlớn mạnh trong khi Trung Quốc cũng đang vươn lên một cách nhanh chóngchỉ đứng thứ hai thế giới sau Mỹ Áp lực đặt lên vai các nhà chức trách Mỹ,đòi hỏi phải có những chính sách thích hợp để tận dụng những cơ hội thúcđẩy thương mại hai bên nhưng cũng tìm cách để kìm chế Trung Quốc trởthành bá chủ khu vực (ví dụ như việc phản đối Trung Quốc xuất khẩu tênlửa tầm trung sang bắc Triều Tiên…) Mỹ vẫn được coi là một đối tác khổng
lồ không chỉ bởi sức mạnh mà còn bởi vai trò chi phối của nó trong các thểchế kinh tế quốc tế và khu vực Đồng thời Mỹ cũng ngăn cản nỗ lực thể chếhoá hợp tác Đông Á mà không có Mỹ tham gia (phản đối Nhật với ý kiếnthành lập quỹ tiền tệ Châu Á – AMF năm 1997) Vì vậy vai trò cường quốchàng đầu trong khu vực của Mỹ vẫn được khẳng định Trong một chừng mựcnào đó thì chính sách này của Mỹ cũng góp phần tạo môi trường ổn định cólợi cho sự phát triển thương mại Việt Nam với Thái Lan, việc Đông Nam Á
Trang 31không còn là khu vực lợi ích sống còn, cùng như chính sách ngăn chặn TrungQuốc của Mỹ đã góp phần hạn chế chính sách lôi kéo, chia rẽ Mặc dù vậycũng cần phải nhận thấy rằng, dù quan hệ Việt - Mỹ đã có cải thiện hơn trướcnhưng chưa khai thác hết tiềm năng Thái độ đứng ngoài một số vấn đề khôngcan thiệp của Mỹ cũng gây nên những khó khăn nhất định cho việc thốngnhất hành động ở khu vực, trong đó có Thái Lan và Việt Nam.
Từ năm 1991 nước Nga không còn đóng vai trò chi phối đối với khuvực, trong đó có Việt Nam Kinh tế Nga sau năm 1991 sa sút nghiêm trọng,đến nay đang phục hồi nhưng chưa gây ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế củakhu vực Trong khi đó Trung Quốc vươn lên mạnh mẽ đang chi phối và giữ
vị trí quan trọng trong khu vực Chính sách của Trung Quốc trong giai đoạnnày vẫn không thay đổi mục tiêu là đạt được địa vị cường quốc khu vực.Một mặt Trung Quốc ủng hộ nỗ lực hợp tác trong khu vực có lợi cho sự pháttriển của Trung Quốc Mặt khác, Trung Quốc luôn tranh thủ cơ hội để khẳngđịnh vai trò của mình Các biện pháp của Trung Quốc lúc mềm, lúc cứngkhá đa dạng, gồm cả hợp tác, cạnh tranh, xoa dịu lẫn đe doạ (cạnh tranh vớiASEAN về FDI và xuất khẩu nhưng lại trợ giúp đáng kể trong cuộc khủnghoảng tài chính 1997 – 1998, ủng hộ hợp tác trong ASEM và ASEAN + 3nhưng lại phản đối sáng kiến quỹ tiền tệ Châu Á của Nhật Bản) Với tiềmnăng, thực lực và chính sách như vậy, Trung Quốc vẫn là nước có sự chiphối mạnh mẽ đến quan hệ thương mại Việt Nam với Thái Lan Một mặt,tiếp tục cải thiện và tăng cường hợp tác với Việt Nam Mặt khác chính sáchkhác nhau đối với từng nước ASEAN cũng có thể tạo nguy cơ làm yếu sựthống nhất hành động trong ASEAN Sự khác nhau giữa quan hệ Trung -Việt và quan hệ Trung – Thái cả về tính chất, mức độ lẫn quy mô rõ ràngkhông hoàn toàn thuận lợi cho quan hệ Việt Nam – ASEAN nói chung vàquan hệ thương mại Việt Nam với Thái Lan nói riêng
Với địa vị là nền kinh tế lớn thứ ba thế giới (trước là thứ hai nhưng từnăm 2010, Trung Quốc đã vươn lên thứ hai) Nhật bản trong khu vực đã có
Trang 32ảnh hưởng rất lâu, ảnh hưởng của Nhật Bản ở đây chủ yếu là kinh tế còn vịthế chính trị khá khiêm tốn Vì thế Nhật Bản cũng muốn duy trì hoà bình, ổnđịnh và tăng cường hợp tác ở Đông Nam Á, vừa để phát triển kinh tế, vừatăng cường tầm ảnh hưởng của mình Nhật Bản chú ý hợp tác kinh tế vớiASEAN còn để ngăn chặn ảnh hưởng của Trung Quốc ở đây Cố gắng hợptác kinh tế như sáng kiến thành lập quỹ tiền tệ Châu Á và sự hình thành hệthống kinh doanh quy mô khu vực của Nhật Bản, đã góp phần thúc đẩy hợptác khu vực trong đó có quan hệ thương mại Việt Nam – Thái Lan.
Trước tình hình trên, quan hệ thương mại Việt Nam với Thái Lan thời
kỳ này càng chịu tác động mạnh mẽ của các xu hướng phát triển kinh tế trênthế giới Chiến tranh lạnh kết thúc và xu hướng hoà dịu trong quan hệ quốc
tế đã tạo cơ hội cho tất cả các nước tập trung vào lợi ích phát triển Chính sựtập trung này đã làm cho kinh tế ngày càng chiếm vị trí quan trọng trongquan hệ quốc tế Qua trình vận động của nền kinh tế thế giới đã được địnhhình và vì thế, tác động chi phối của nó đối với quan hệ quốc tế trở nênmạnh mẽ hơn bao giờ hết Đó là môi trường kinh tế toàn cầu hoá có tínhcạnh tranh với sự tham gia của hầu hết các quốc gia trên thế giới Bên cạnh
đó sự bùng nổ của cách mạng khoa học kỹ thuật với những mạng lưới thôngtin liên lạc đã làm tăng sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế, trên quy mô toàncầu và làm cho quá trình trao đổi buôn bán diễn ra nhanh hơn Toàn cầu hoákinh tế còn tạo cơ hội cho sự hoạt động kinh tế cả trong lẫn ngoài nước Xuhướng thể chế hoá nền kinh tế thế giới đang tăng lên qua sự phát triển của
hệ thống tài chính quốc tế và luật kinh tế quốc tế… Các xu thế này ít nhiềuđều có tác động đến quan hệ thương mại Việt Nam với Thái Lan, mặc dùkinh tế hai nước chưa lớn, trao đổi buôn bán chưa nhiều nhưng nó là cơ hộicho sự phát triển hợp tác Bên cạnh đó thì những thách thức mới của toàncầu hoá cũng đòi hỏi thúc đẩy hợp tác Vì vậy cả Thái Lan và Việt Nam đềuphải chuyển mình để thích ứng Hợp tác kinh tế phải được tập trung hơn,nhất là thương mại, mức độ hợp tác phải được tăng cường hơn trên cả bình
Trang 33diện song phương và đa phương, hợp tác để duy trì ổn định cho sự pháttriển.
Vì vậy quan hệ thương mại Việt Nam với Thái Lan từ 1995 đến 2010không ngừng gia tăng, có thể nói nó đang là quan hệ chủ đạo giữa Việt Nam
và Thái Lan, góp phần thúc đẩy quan hệ hai nước trên cả lĩnh vực chính trị
và ngoại giao
2.1.2 Tình hình khu vực.
Ngày 28 – 7 – 1995, tại thủ đô Banda Seri Begawan của Brunej, lễ kếtnạp Việt Nam thành thành viên chính thức thứ 7 của ASEAN đã được tổ chứctrọng thể Sự kiện này đã mở ra một trang sử mới trong quan hệ quốc tế ởĐông Nam Á nói chung, quan hệ Việt Nam với Thái Lan và Việt Nam vớitừng thành viên ASEAN nói riêng Quan hệ hợp tác Việt Nam với Thái Lantrong giai đoạn này có thêm cơ hội và điều kiện để tiếp tục phát triển, quatrình này đã được củng cố thêm bởi những tác động tích cực từ bên ngoài
Sự kiện Việt Nam gia nhập ASEAN đã mở ra cho Việt Nam nhiều cơhội cũng như những thách thức mới, đòi hỏi Việt Nam phải tranh thủ nhữngthuận lợi từ bối cảnh quốc tế và khu vực để phát triển kinh tế đối ngoại củamình Mở rộng hợp tác với các nước trên thế giới chứ không chỉ vớiASEAN Việc Việt Nam trở thành thành viên chính thức có sự ủng hộ của
dư luận Thái Lan Kavichong kitavora, phóng viên báo Thái Lan The Nationnăm 1992, đã có một bài phân tích với nhan đề “ Việt Nam cần ASEAN vàngược lại” đăng trên báo Yomuri ngày 12 tháng 5 năm 1992, thúc giục cácnhà lãnh đạo Thái lan sớm chấp nhận Việt Nam trở thành thành viên chínhthức của ASEAN vì sự ổn định, thịnh vượng của cả khu vực Thiện chí tốtđẹp này của Thái Lan đã được đánh giá cao Việt Nam gia nhập ASEANmối quan hệ đa phương được tăng cường, mà ở đây vai trò hợp tác giữa ViệtNam và Thái Lan đóng vai trò cực kỳ quan trọng Đặc biệt Việt Nam vàThái Lan đã tham dự AFTA (khu vực thương mại tự do ASEAN) và nhữngquy định về hợp tác kinh tế trong khuôn khổ AFTA, sẽ làm cho Việt Nam và
Trang 34Thái Lan có cơ hội trong phát triển sản lượng hàng hoá trao đổi giữa hainước một cách nhanh chóng.
Hoạt động của ASEAN đã tạo ra những địa bàn hoạt động mới choquan hệ song phương ASEAN là một tổ chức khu vực có chức năng chungvới hệ thống các cơ quan chuyên môn tương đối toàn diện Càng ngày càng
mở rộng hợp tác trên nhiều lĩnh vực khác nhau từ chính trị đến kinh tế, vănhoá xã hội… Thông qua sự mở rộng hợp tác này quan hệ song phương giữacác nước thành viên được mở rộng theo Hơn nữa ASEAN cũng là đại diệncho các thành viên trong quan hệ với các quốc gia và tổ chức bên ngoài.Thông qua ASEAN, quan hệ song phương cũng có khả năng tận dụng nhữngthuận lợi và hạn chế những thách thức từ những xu thế trên thế giới hiệnnay Như vậy, việc Việt Nam gia nhập ASEAN đã tạo cơ sở và điều kiệnthuận lợi cho sự phát triển quan hệ thương mại Việt Nam với Thái Lan Nócòn làm tăng thêm sự gắn bó lợi ích, mở rộng diện hợp tác, thúc đẩy hoàhợp và nâng cao vị thế quốc tế không chỉ riêng với Việt Nam mà cả với Tháilan Qua trình phát triển quan hệ thương mại Việt Nam với Thái Lan đãđược củng cố thêm bởi điều này
Với ý nghĩa và vai trò như vậy, sự tồn tại và phát triển của ASEAN làrất quan trọng, không chỉ đối với sự phát triển thương mại Việt Nam vớiThái lan mà còn quan trọng đối với an ninh của mỗi nước Năm 1995 quátrình mở rộng ASEAN ra toàn Đông Nam Á bắt đầu Sau Việt Nam là Lào
và Mianma kết nạp năm 1997, Campuchia năm 1999 Sự tham gia đầy đủcủa các quốc gia Đông Nam Á vào trong một tổ chức khu vực, đã đặt cơ sởcho sự hợp tác toàn khu vực Trong đó kinh tế là một lĩnh vực rất quan trọnghiện nay Đó là sự thúc đẩy hợp tác trong khối như AFTA, AIA (khu vựcđầu tư), AICO (chương trình hợp tác công nghiệp ASEAN), các tam giác, tứgiác phát triển Cuộc khủng hoảng tài chính, tiền tệ Đông Á năm 1997 –
1998 càng củng cố thêm lợi ích và cả nhận thức mới về kinh tế của cácnước Qua đó Việt Nam cũng có thêm kinh nghiệm để quản lý kinh tế, cũng
Trang 35như mở rộng hợp tác với các nước Sự tàn phá của cuộc khủng hoảng vàhiệu ứng lan truyền của nó đã cho thấy sự phụ thuộc lẫn nhau và tính dễ tổnthương của các nền kinh tế trong khu vực, mà Thái Lan cũng là một nướcchịu ảnh hưởng nặng nề từ cuộc khủng hoảng này, còn Việt Nam thời điểm
đó kinh tế còn chậm phát triển nên mức độ ảnh hưởng của nó không cao.Nhưng cũng cần nhận thấy rằng, từ sau năm 1995 kinh tế Việt Nam đangphát triển với tốc độ nhanh, hợp tác quốc tế ngày càng sâu rộng Vì thế ViệtNam càng cần phải hợp tác với các nước để tránh những thiệt hại khôngđáng có xảy ra Việc Việt Nam gia nhập ASEAN và sự phát triển củaASEAN không chỉ giúp phát triển quan hệ thương mại Việt Nam với TháiLan Đó còn là sự phù hợp với tình hình khách quan, vì sự phát triển củaASEAN và đáp ứng nhu cầu phát triển của hai nước
Ngay khi cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Đông Á kết thúc, hai nước
đã có sự trao đổi giữa các phái đoàn cấp cao, đáng chú ý là chuyến thămchính thức Thái Lan của Chủ tịch nước Trần Đức Lương tháng 10 – 1998.Đây là chuyến thăm lần thứ hai của Chủ tịch nước đến một nước thành viênASEAN, chuyến thăm này nhằm thúc đẩy thương mại và đầu tư songphương Vì vậy cùng đi với Chủ tịch còn một phái đoàn lớn gồm 60 quanchức Chính phủ và doanh nghiệp Việt Nam Đây là cơ hội quan trọng để cácnhà doanh nghiệp Việt Nam liên hệ với các nhà doanh nghiệp Thái Lan.Việt Nam và Thái Lan sẽ phát động một kế hoạch khu vực lớn để phát triểnmột con đường thương mại và công nghiệp, nối liền bờ biển phía đông củaThái Lan vào Đà Nẵng của Việt Nam, thông qua trung Lào Thủ tướng TháiLan đã nêu bật sự hợp tác này như một “đường huyết mạnh của sự phồnvinh” giữa ba nước láng giềng trong diễn văn của ông đọc tại bữa tiệc chiêuđãi Chủ tịch nước Trần Đức Lương Hiện nay khu vực ASEAN đang pháttriển rất sôi động, quá trình hợp tác trong khu vực đang diễn ra mạnh mẽ.Việt Nam không chỉ hợp tác với Thái Lan mà còn hợp tác với nhiều nước
Trang 36khác Nền kinh tế Việt Nam phát triển nhanh nhu cầu trao đổi với ASEAN,cũng như với Thái Lan vì thế cũng tăng lên.
Như vậy tình hình quốc tế và khu vực đem lại cơ hội cũng như tháchthức cho nền thương mại Việt Nam Nó chứa đựng nhiều yếu tố phức tạp,khó lường, các tranh chấp, xung đột cục bộ… các nước lớn cạnh tranh quyếtliệt về lợi ích kinh tế và tìm cách áp đặt các rào cản trong thương mại vớicác nước nghèo và đang phát triển Ở trong nước, chúng ta có những thuậnlợi cơ bản là thành tựu to lớn và những bài học kinh nghiệm quan trọngtrong 20 năm đổi mới Nhưng cũng nhiều yếu kém, khuyết điểm Trong khiyêu cầu hội nhập với kinh tế khu vực, thế giới ngày càng khẩn trương, sâurộng hơn Vì vậy, nó đòi hỏi Việt Nam nhanh chóng nắm bắt thời cơ, tạođiều kiện thuận lợi để hội nhập kinh tế khu vực, cũng như với thế giới, thúcđẩy thương mại phát triển, nhất là ngoại thương với Thái Lan
2.2 Tiềm năng và lợi thế kinh tế Việt Nam
Để phát triển kinh tế không chỉ với Thái Lan mà với tất cả các nướctrong khu vực cũng như trên thế giới Việt Nam tranh thủ những lợi thế củamình để phát huy thế mạnh cạnh tranh với các nước, nhất là trong quan hệkinh tế thương mại Việt Nam cũng như Thái Lan, hai nước đều có cơ sởkinh tế tương đối giống nhau, tận dụng những lợi thế đó, Việt Nam tranhthủ phát huy những thế mạnh của mình để cạnh tranh với các nước, trong
đó có Thái Lan
Về vị trí địa lý: Việt Nam và Thái Lan bị tách riêng biệt bởi Lào vàCampuchia Tuy nhiên thì Việt Nam và Thái Lan cũng chỉ cách nhau vài kmđường biển Năm 1986, nền kinh tế Việt Nam bước vào thời kì đổi mới, cảicách kinh tế và mở cửa với thế giới bên ngoài Việt Nam được Thái Lan biếtđến trước hết là một thị trường lao động và dân cư rộng lớn, có sức muatăng nhanh theo đà tăng trưởng kinh tế Việt Nam có vị trí địa lý thuận lợi,nằm trên các tuyến giao thông quốc tế quan trọng, nhất là nối liền Đông Bắc
Á với khu vực Đông Nam Á, là những nơi đang phát triển nhanh và năng
Trang 37động nhất thế giới Bên cạnh đó Việt Nam còn có nhiều nguồn lực tự nhiên
và tài nguyên thiên nhiên để phát triển mạnh nền kinh tế mở, đảm bảo sựtăng trưởng nhanh Trong một số mặt hàng Việt Nam xuất khẩu sang TháiLan có dầu thô, cao su… là những mặt hàng mà lợi thế của tự nhiên đem lạicho Việt Nam Ngoài ra nguồn lao động dồi dào với truyền thống cần cù,với mặt bằng dân trí cao hơn công nhân Thái Lan, do đó tiếp thu về khoahọc công nghệ nhanh hơn và khả năng tạo ra sản phẩm nhiều hơn, đẹp, tinhxảo hơn Vì thế có thể Việt Nam sẽ cạnh tranh được với Thái Lan trên một
số mặt hàng như đồ mỹ nghệ nếu như Việt Nam khai thức tốt lợi thế này.Việt Nam cũng là nơi có tài nguyên đất nước đa dạng về nông, lâm,thuỷ sản phục vụ cho phát triển nhiều ngành sản xuất nông nghiệp trongnước và cho xuất khẩu Với khí hậu ấm ẩm, thuận lợi cho cây trồng sinhtrưởng và phát triển tốt, nguồn nước dồi dào là môi trường thuận lợi chonuôi trồng thuỷ, hải sản Hàng năm, lượng cá, sản lượng lúa của Việt Namđang đứng thứ hai thế giới, đây là một thế mạnh không thua kém gì TháiLan nguồn tài nguyên khoáng sản vô cùng dồi dào mặc dù không phải là bấttận nhưng đó cũng là những mặt hàng chủ yếu cho xuất khẩu của nước ta.Với tiềm năng về kinh tế như vậy Việt Nam hoàn toàn có khả năng xuấtkhẩu hàng hoá của mình, thậm chí cạnh tranh với hàng Thái Lan ngay tạinước này
Cùng với nguồn lực về tài nguyên thiên nhiên, con người còn là sự ổnđịnh về an ninh, chính trị cũng như kinh tế của nước ta, nó thể hiện sự đúngđắn của Đảng và Nhà nước ta trong việc hoạch định đường lối Sự đoàn kếtnhất chí, ủng hộ với sự nghiệp đổi mới, phát triển kinh tế theo đường lối mởcửa… với môi trường ổn định đã tập hợp được sức mạnh của toàn dân tộc,thuận lợi cho sự phát triển kinh tế xã hội Sự ổn định xã hội như vậy khiếncho các nhà doanh nghiệp yên tâm sản xuất, kinh doanh, buôn bán và cũngtạo điều kiện các nhà đầu tư nước ngoài vào đầu tư sản xuất, thúc đẩy nhucầu trao đổi hàng hoá không chỉ với Thái Lan mà cả với thế giới bên ngoài
Trang 38Đây là một thuận lợi tạo nên lợi thế hơn hẳn Thái Lan, nhất là thời gian gầnđây sự mất ổn định chính trường Thái Lan đang gây khó khăn không chỉ chonước này mà cho cả quá trình hợp tác thương mại Việt Nam với Thái Lan Việt Nam có quan hệ nhiều mặt và lâu dài với các nước SNG, Đông
Âu và Trung Quốc sẽ có thuận lợi hơn Thái Lan và các nước ASEAN kháckhi đẩy mạnh quan hệ kinh tế, chính trị xã hội từ các nước này, phát huy lợithế này, Việt Nam sẽ là thành viên duy nhất sẽ tạo ra mối quan hệ và lợi íchcho khu vực
Tuy nhiên khi hợp tác kinh tế thương mại với Thái Lan và các nướctrong khu vực, nền kinh tế nước ta còn có những bất lợi cơ bản như:
+ Cơ cấu kinh tế nước ta đang chuyển dịch nhưng vẫn còn lạc hậutương đối so với Thái Lan Kinh tế Việt Nam những năm 90 chỉ tươngđương kinh tế Thái Lan những năm 1970, nghĩa là Việt Nam tụt hậu vềtrình độ phát triển kinh tế so với Thái Lan ít nhất là 2 thập kỷ Hiện nay với
sự phát triển kinh tế nhanh của Việt Nam đã rút ngắn khoảng cách thực tếvới Thái Lan Tuy nhiên thì sự cách biệt giữa Việt Nam và Thái Lan vẫn cònkhá xa, đây là điểm khó khăn cho hàng hoá Việt Nam cạnh tranh với hànghoá Thái Lan
+ Quy mô GDP còn quá nhỏ bé so với hầu hết các nước ASEAN, nênluôn rơi vào tình trạng thiếu vốn đầu tư và chậm phát triển Ngành côngnghiệp còn lạc hậu, xuất khẩu sản phẩm thô là chủ yếu Sự thiếu đầu tư nàyxuất phát từ nền kinh tế bao cấp, thị trường chậm phát triển Cơ cấu kinh tếnông nghiệp chủ yếu, sự thích ứng với kinh tế thị trường chưa được kịp thờinên kinh tế nhỏ bé, hàng hoá khó cạnh tranh Thực tế là hàng hoá Thái Lantràn vào Việt Nam thì người dân vẫn có tâm lý sính dùng hàng Thái hơn,mặc dù giá cả có đắt hơn một chút
+ Đời sống dân cư có cải thiện nhưng vẫn còn thấp Cơ sở hạ tầng kinh
tế kém phát triển, ngành tài chính ngân hàng chưa tương xứng, đáp ứng đủnhu cầu buôn bán, kinh doanh còn nhiều chỗ mất cân đối
Trang 39Như vậy ở nước ta tiềm năng rất nhiều, là cơ sở điều kiện để ta thúcđẩy kinh doanh, phát triển sản xuất, thương mại Tuy nhiên thì kinh tế xã hộiViệt Nam vẫn còn có hạn chế, mà những hạn chế này đang là những rào cản,cản trở sự phát triển sản xuất, kìm hãm những tiềm năng vốn có của nước ta.
Vì thế mà ảnh hưởng đến sự cạnh tranh, phát triển quan hệ thương mại vớithế giới, đặc biệt là quan hệ thương mại Việt Nam với Thái Lan
2.3 Chính sách thương mại Việt Nam
Đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta trong thời gian qua pháttriển theo hướng mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế, trong đó chú ý đi vàochiều sâu và chất lượng hơn Bước sang thế kỷ XXI, Việt Nam vẫn tiếp tục
mở rộng quan hrrj kinh tế đối ngoại theo hướng đa phương hoá, đa dạnghoá Xuất phát từ chủ trương này, trong thời gian tới nước ta vẫn tiếp tụcphát triển hợp tác toàn diện với các quốc gia láng giềng như ASEAN, TrungQuốc, Nhật Bản, Hàn Quốc… đồng thời mở rộng quan hệ với cả EU và Hoa
Kỳ, Đông Âu, Ấn Độ, Liên bang Nga và các quốc gia SNG, các nước châu
Mỹ là tinh và Trung Cận Đông … Trong tất cả các đối tác trên, quan trọng
là các nước thuộc khu vực châu Á – Thái Bình Dương, đặc biệt là các nướckhu vực ASEAN, trong đó có Thái Lan
2.3.1 Chính sách chung về thương mại và hội nhập kinh tế quốc tế.
Chính sách thương mại là những chính sách và quy chế mà chínhquyền trung ương và địa phương sử dụng để kiểm soát, hạn chế và khuyếnkhích các hoạt động xuất, nhập khẩu Loại bỏ những nguyên tắc trước kianhà nước độc quyền ngoại thương, buôn bán đối ngoại chỉ là thu gom xuấtkhẩu những mặt hàng có sẵn và giao hàng xuất khẩu để bù đắp nhập siêutheo giá cả áp đặt, sử dụng chính sách thuế quan không có tác dụng khuyếnkhích xuất hoặc nhập khẩu…
Nhận thấy tiềm năng phát triển thương mại của đất nước ta, các nhàlãnh đạo đã rất chú trọng đến việc thúc đẩy ngành phát triển trong mọi tìnhhình Kết quả đạt được ngày nay cho thấy chính sách của Đảng và Nhà nước
Trang 40ta đang đi đúng hướng So sánh chính sách thương mại trước năm 1986 vớisau năm 1986 ta thấy sự cần thiết của việc hoạch định đường lối phát triểnnền kinh tế quan trọng ra sao.
Trước năm 1986, kinh tế Việt Nam hầu như không giao lưu với thế giớibên ngoài, chủ yếu là với các nước xã hội chủ nghĩa, còn những nước kháccũng có nhưng không đáng kể Do cơ chế bao cấp, cùng với lệnh cấm vận của
Mỹ nên đã hạn chế hoạt động thương mại của Việt Nam Thương mại ViệtNam kém phát triển, vì thế thương mại Việt Nam với Thái Lan cũng còn hạnchế Điều đó có thể cho thấy rằng cơ chế hoạt động thương mại của Việt Namchịu sự chi phối, quản lý của Nhà nước theo hai chiều hướng, một là mệnhlệnh cứng nhắc cao độ, một là lỏng lẻo gây ra rối loạn trong các quan hệthương mại quốc tế Chính sách thương mại có thông thoáng, hợp với tìnhhình thực tế thì mới thúc đẩy thương mại phát triển, nhất là ngoại thương.Đây là lĩnh vực quan trọng thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam phát triển
Từ năm 1986, kinh tế Việt Nam bước vào giai đoạn đổi mới, tư tưởngđổi mới chính sách thương mại được thể hiện trước hết ở đường lối đốingoại Đó là kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; đa dạng hoá
và đa phương hoá thị trường; Việt Nam sẵn sàng là bạn với tất cả các nướctrên thế giới trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi Đường lối đối ngoại này
đã tạo ra bước ngoặt căn bản trong việc hoạch định chính sách thương mạiquốc tế đó là:
Tự do hoá thương mại hay bảo hộ mậu dịch, thay thế nhập khẩu hayxuất khẩu, thành phần kinh tế tư nhân được tham gia vào hoạt động thươngmại quốc tế đến mức độ nào; chính sách thị trường, mặt hàng, tỉ giá hối đoáiđược phục vụ cho xuất nhập khẩu được thể hiện ra sao; mối quan hệ giữa cơquan lập pháp, hành pháp, tư pháp để thực hiện chính sách thương mại đượcthực hiện như thế nào? Để thấy rõ hơn việc áp dụng hiệu quả chính sáchthương mại, người ta chia thành hai thời kỳ: thời kỳ từ năm 1986 đến năm
1995 và từ năm 1996 đến nay Để hiểu rõ hơn chính sách thương mại từ năm