HIỆN TƯỢNG KHÁNG CÓ LIÊN QUAN ĐẾN TIẾN TRÌNH CHẬM LÀM SẠCH KÝ SINH TRÙNG PLASMODIUM FALCIPARUM SAU ĐIỀU TRỊ THUỐC DIHYDROARTEMISININ-PIPERAQUINE TẠI MỘT VÙNG SỐT RÉT LƯU HÀNH CÓ GIAO LƯ
Trang 1HIỆN TƯỢNG KHÁNG CÓ LIÊN QUAN ĐẾN TIẾN TRÌNH CHẬM
LÀM SẠCH KÝ SINH TRÙNG PLASMODIUM FALCIPARUM SAU
ĐIỀU TRỊ THUỐC DIHYDROARTEMISININ-PIPERAQUINE TẠI MỘT VÙNG SỐT RÉT LƯU HÀNH CÓ GIAO LƯU BIÊN GIỚI CAMPUCHIA, 2013
Huỳnh Hồng Quang 1 , Pham Van Than 2 Nguyễn Văn Chương 1
1Viện Sốt rét - KST - CT Quy Nhơn,
2Trường Đại học Thăng Long
Tóm tắt: Sốt rét hiện vẫn là vấn đề y tế công cộng tại các vùng nhiệt đới và cận nhiệt
đới, kể cả Việt Nam Sự xuất hiện kháng thuốc artemisinins do Plasmodium falciparum tại Campuchia, Thái Lan, Việt Nam và Myanmar gần đây có thể đe dọa chiến lược loại trừ và
các thành quả vốn đạt được trong phòng chống sốt rét Mục tiêu: Nghiên cứu tiến hành nhằm
đánh giá hiệu lực thuốc phối hợp dihydroartemisinin-piperaquine (DHA-PPQ) trong điều trị
sốt rét do P falciparum chưa biến chứng Phương pháp: Thiết kế thử nghiệm lâm sàng không
ngẫu nhiên, tự chứng đánh giá hiệu lực theo phân loại của Tổ chức Y tế thế giới: Đáp ứng lâm sàng và ký sinh trùng đầy đủ (ACPR), thất bại điều trị sớm (ETF), thất bại lâm sàng muộn (LCF), thất bại ký sinh trùng muộn (LPF) và tỷ lệ ký sinh trùng dương tính ngày D 3 như
một chỉ điểm kháng thuốc Kết quả: Toàn bộ dữ liệu cho thấy tỷ lệ chữa khỏi của DHA-PPQ
là 100%, không có ca thất bại điều trị sớm (ETF), thất bại lâm sàng muộn (LCF) và thất bại
ký sinh trùng muộn (LPF) Đặc biệt, tỷ lệ tồn tại ký sinh trùng ngày D 3 là 26,1% như một chỉ
điểm nguy cơ kháng thuốc cao (thông qua đường cong làm sạch ký sinh trùng) Kết luận:
Hiệu lực thuốc DHA-PPQ rất cao, lý tưởng cho điều trị sốt rét do P falciparum, nhưng sự làm sạch ký sinh trùng chậm đáng kể sau điều trị DHA-PPQ, cho thấy hoặc là đã xuất hiện kháng thuốc DHA-PPQ tại điểm Đăk Nông, hoặc lan rộng kháng thuốc đến điểm này từ nguồn biên giới Campuchia Phác đồ thuốc này cần phải giám sát hiệu lực để có thay đổi chính sách thuốc tốt hơn Điều này cho thấy cần có những nổ lực ngăn chặn kháng theo Hướng dẫn của Mạng lưới kháng thuốc sốt rét toàn cầu
Từ khóa: Plasmodium falciparum, kháng thuốc, hiệu lực
GIỚI THIỆU
Sốt rét - bệnh truyền nhiễm tiếp tục đe dọa đến nhân loại với gánh nặng bệnh tật và tử vong cao hàng năm Thành công của phòng chống sốt rét không thể không kể đến sự đóng góp quan trọng của thuốc có hiệu lực cao([8]) Thuốc phối hợp có gốc artemisinin (ACTs_artemisinin combination therapies) là lựa chọn đầu tay trong điều trị SR do
Plasmodium falciparum đa kháng thuốc, góp phần giảm đi con số tử vong và tỷ lệ chuyển sang sốt rét ác tính đáng kể do đặc tính thuốc tác động nhanh trên thể vô tính và phân liệt Song, gần đây xuất hiện chủng P falciparum kháng thuốc artemisinine tại các vùng biên giới
Việt Nam - Campuchia - Thái Lan - Myanmar như một mối đe dọa quan trọng(4),([8]), có thể làm thất bại nhiều thành quả đạt được trước đây và sẽ là thách thức lớn trong quản lý ca bệnh
do thuốc mới và vaccine vẫn còn đang trong giai đoạn nghiên cứu
Trang 2Nam chia sẻ một dải dài biên giới Campuchia – quốc gia tập trung chủng P falciparum đa
kháng, nên sẽ có “cơ hội” chia sẻ và lan rộng động lực kháng thuốc sớm Do vậy, việc nghiên cứu phát hiện sớm thực trạng nhạy kháng thuốc là cần thiết nhằm thay đổi chính sách thuốc quốc gia([1]),([2]) Đề tài này tiến hành nhằm mục tiêu đánh giá hiệu lực thuốc phối hợp
dihydroartemisinin-piperaquine trong điều trị sốt rét do P falciparum chưa biến chứng
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Địa điểm và thời gian
- Địa điểm: xã Đăk Drong và Cư Knia, huyện Cư Jut, tỉnh Đăk Nông;
- Thời gian: từ tháng 3/2013 - 12/2013
Thiết kế nghiên cứu
- Thử nghiệm lâm sàng không ngẫu nhiên, tự chứng theo đề cương Mạng lưới kháng thuốc toàn cầu (WWARN, 2012)([7]);
- Cỡ mẫu: trong nghiên cứu này, tỷ lệ thất bại thuốc phối hợp DHA-PPQ theo một nghiên cứu trước đây là 10%, thì tỷ lệ thất bại lâm sàng quần thể ước tính là p (10%), CI: 95%, độ chính xác (d): 10% Khi đó cỡ mẫu tối thiểu cần nghiên cứu đánh giá: n 50 bệnh nhân
Tiêu chuẩn chọn bệnh và loại trừ (6),(7)
Tiêu chuẩn chọn: các bệnh nhân tuổi từ 15 trở lên đến dưới 70 tuổi, nhiễm đơn loài P falciparum, mật độ KSTSR thể vô tính P falciparum trong máu từ 1.000 - 100.000/µl máu,
nhiệt độ nách hoặc tai ≥ 37.5 °C hoặc nhiệt độ dưới lưỡi/ đại tràng ≥ 38 °C, chưa dùng một loại thuốc SR nào (kiểm tra qua thử nước tiểu), bệnh nhân, hoặc người thân, hoặc giám hộ đồng ý hợp tác nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại : Phụ nữ đang có thai, hoặc đang cho con bú, người đang có bệnh rối
loạn tâm thần kinh, động kinh, nôn mửa, tiêu chảy trầm trọng hoặc thể trạng không hấp thu được thuốc, sốt rét có biến chứng hoặc mắc các bệnh nhiễm trùng phối hợp Nhiễm sốt rét
phối hợp P falciparum + P vivax hoặc loài khác, bệnh nhân đã dùng TSR hoặc kháng sinh có
hoạt tính chống sốt rét trong 48 giờ trước đó
Phân tích và xử lý số liệu
- Kết quả nghiên cứu thu thập được tổng hợp, phân tích và xử lý theo phần mềm in
vivo phiên bản 7.1 Pascal Ringwald, TCYTTG (2009);
- Thời gian sạch KSTSR (được định nghĩa là khoảng thời gian tính bằng giờ kể từ
liều điều trị đầu tiên cho đến khi xét nghiệm có 2 lam máu liên tiếp âm tính với thể vô tính P
falciparum);
- Đánh giá về mặt hiệu lực theo Tổ chức Y tế thế giới (2009)
Trang 3Bảng 1 Phân loại kết quả về đánh giá hiệu lực thuốc (TCYTTG, 2009)
KẾT QUẢ
Đặc điểm chung về lâm sàng và cận lâm sàng nhóm bệnh nhân nghiên cứu
Bảng 2 Đặc điểm lâm sàng và ký sinh trùng trên bệnh nhân nghiên cứu
TT Đặc điểm nhóm bệnh nhân Thời điểm bắt đầu
nghiên cứu n (%)
1
Thân nhiệt ( 0 C)
- Số bệnh nhân có sốt trên 37,50C
- Số ca có sốt trong vòng 48 giờ
27 (58,7%)
16 (34,78%)
Phân loại đánh giá hiệu quả điều trị theo tiêu chuẩn TCYTTG (2009)
Thất bại điều trị sớm (ETF_Early Treatment Failure)
- Xuất hiện các dấu chứng của sốt rét nguy hiểm hoặc nghiêm trọng vào ngày D1, xuất hiện D2 hoặc D3, kèm có mặt KSTSR trong máu;
- KSTSR vào ngày D2 cao hơn D0 bất kể thân nhiệt;
- Xuất hiện KSTSR trong máu vào ngày D3 đi kèm thân nhiệt ≥ 37.5ºC;
- KSTSR trong máu vào ngày D3 ≥ 25% so với MĐKSTSR ngày D0
Thất bại điều trị muộn (LTF_Late Treatment Failure), chia làm hai loại:
Thất bại lâm sàng muộn (LCF_Late Clinical Failure)
- Xuất hiện các dấu chứng sốt rét nặng và nguy hiểm vào bất kỳ ngày nào từ D4 đến D42 với sự có mặt của KSTSR trong máu, không có tiêu chuẩn nào của ETF trước đó;
- Có mặt KSTSR trong máu và thân nhiệt ≥ 37.5ºC hoặc có tiền sử sốt trong vùng sốt rét lan truyền thấp đến trung bình ở bất kỳ ngày nào từ D4 đến D42, không có bất kỳ dấu hiệu nào của ETF trước đó;
Thất bại ký sinh trùng muộn (LPF_Late Parasitological Failure)
- Có mặt KSTSR trong máu vào bất kỳ ngày nào từ D7 đến D42 và thân nhiệt < 37.5ºC, không có
bất kỳ tiêu chuẩn nào của ETF và LCF trước đó
Đáp ứng lâm sàng, KST đầy đủ (ACPR_Adequate Clinical and Parasitological Response)
- Không có xuất hiện KSTSR trong máu vào D42, bất luận nhiệt độ nách thế nào và không có bất kỳ
tiêu chuẩn nào của ETF, LCF và LPF trước đó
Trang 4- Nhiệt độ trung bình bệnh nhân
- Số ngày có sốt trung bình trước D0
38,20C 2,5 (ngày)
2
Tình trạng lách
- Bệnh nhân có lách lớn
- Bệnh nhân không có lách lớn
- Bệnh nhân cắt lách toàn/bán phần
12 (26,1%)
34 (73,9%)
0 (0%)
3
Mật độ thể vô tính P falciparum
- Mật độ KSTSR thể vô tính/L (TB ± ĐLC)
- Số bệnh nhân có giao bào ngày D0
- MĐKST thể giao bào
26.274
4 (8,7%)
25 (6 - 44)
Nhận xét: Về mặt lâm sàng, phần lớn số ca có sốt hoặc có tiền sử bị sốt trong 48 giờ
trước khi vào nghiên cứu, lần lượt 58,7% và 34,8%; thân nhiệt trung bình là 38,20C Số ngày
có sốt trung bình là 2,5 ngày Số ca có lách lớn chủ yếu là độ I và độ II chiếm 26,1% Mật độ
thể vô tính trung bình P falciparum là 26.274/L máu, số ca có giao bào là 8,7%
Hiệu lực phác đồ DHA-PPQ trong điều trị bệnh nhân sốt rét do P falciparum
Hiệu lực phác đồ thuốc Dihydroartemisinine - piperaquine phosphate
Bảng 3 Phân loại hiệu lực phác đồ DHA-PPQ đối với sốt rét P falciparum
Chỉ số đánh giá Số lượng Tỷ lệ (%)
Tổng số phân tích 33
Rút khỏi nghiên cứu 1 Mất theo dõi (sau D4 - 7) 12 26,08%
Tổng số nghiên cứu 46
Nhận xét: phân tích 46 trường hợp, có 1 ca rút khỏi nghiên cứu và 12 ca mất theo dõi
từ ngày D4 trở đi Tỷ lệ đáp ứng lâm sàng và ký sinh trùng đầy đủ là tuyệt đối 100% trong số
33 ca phân tích đến 42 ngày, chưa phát hiện ca nào thất bại điều trị
Hiệu lực làm sạch ký sinh trùng và cắt sốt của thuốc DHA-PPQ
Trang 5Bảng 4 Hiệu lực cắt sốt và làm sạch KSTSR P falciparum của DHA-PPQ
(giá trị trung bình) Tổng số ca phân tích (n = 46)
Số ngày sốt TB trước nghiên cứu 2,5 ± 1,5 ngày
Mật độ KSTSR trung bình ngày D0 26.274/L (12.121 - 49.862)
Thời gian sạch KSTSR trung bình (PCT) 59,5 giờ (36,2 - 79,6)
Nhiệt độ cơ thể TB ngày Do 38,20C (36,2 - 40,5)
Thời gian cắt sốt trung bình (FCT) 30,7 giờ (29,0-32,4)
Nhận xét: với 46 ca phân tích hiệu lực làm sạch KSTSR và cải thiện sốt cho thấy thời
gian cắt sốt trung bình là 30 giờ; thời gian làm sạch KST trong 36 giờ
Bảng 5 Số ca tồn tại KSTSR P falciparum sau 3 ngày điều trị
Số trường hợp tồn tại KSTSR ngày D3 12 26,1% Vô tính
Số trường hợp còn tồn tại KSTSR sau D3 1 2,17% Vô tính + giao bào
Nhận xét: Số liệu có 12/46 ca sau điều trị thuốc DHA-PPQ liệu trình 3 ngày vẫn còn
tồn tại thể vô tính P falciparum và 1 ca còn tồn tại đến ngày D4 và sang D5 mới sạch hoàn toàn
Bảng 6 Tỷ lệ tồn tại ký sinh trùng thể vô tính P falciparum sau điều trị 3 ngày
STT Code Tuổi D 0 D 1 D 2 D 3 D 4 D 5
Phác đồ DHA-PPQ (Arterakine)
1 01DNAK 52 48.006 57.901 219 16 0 0
2 06DNAK 16 38.878 9.856 920 497 26 0
3 08DNAK 45 15.450 5.228 459 28 0 0
4 10DNAK 21 35.474 4.447 200 20 0 0
Trang 66 26DNAK 18 7.781 3.500 695 60 0 0
7 29DNAK 19 10.973 1.360 620 28 0 0
8 30DNAK 19 29.580 14.440 891 24 0 0
9 33DNAK 25 62.866 26.010 2.860 420 0 0
10 35DNAK 33 37.913 5.380 560 52 0 0
11 41DNAK 25 27.314 3.013 600 28 0 0
12 44DNAK 21 94.045 11.053 1.700 52 0 0
MĐKSTSR trung bình D0/L 34.170 11.882 814 105 2 0
Nhận xét: Sự tồn tại và giảm dần mật độ KSTSR theo từng ngày qua mỗi 24 giờ đã
giảm dần, không có phản ứng tăng KSTSR sau điều trị, nhất là ngày D1, song tốc độ giảm chậm Tính trung bình, mật độ KSTSR thể vô tính giảm theo từng ngày 34.170 : 11.882
814 105 2 0/mm3 máu ngoại vi (từ ngày D0 D1 D2 D3 ngày D4)
BÀN LUẬN
Đặc điểm chung về lâm sàng và ký sinh trùng trên nhóm nghiên cứu
Về mặt lâm sàng, nhóm bệnh nhân đưa vào nghiên cứu, phần lớn có biểu hiện sốt hiện tại hoặc/ và có tiền sử bị sốt trong vòng 48 giờ trước khi đưa vào nghiên cứu Số bệnh nhân có sốt trên 37,50C hiện tại là 27 ca (58,7%), số ca có tiền sử sốt trong vòng 48 giờ qua là 16 (34,8%) và thân nhiệt trung bình của bệnh nhân là 38,20C Số ngày có sốt trung bình trước khi điều trị là 2,5 ngày, điều này cho thấy sự tiếp cận của bệnh nhân với cơ sở y tế vẫn còn chậm,
dễ dẫn đến sốt rét ác tính nếu không can thiệp kịp thời Số bệnh nhân có lách lớn chủ yếu là lách độ I và độ II chiếm 26,1% và số ca có lách trong giới hạn bình thường là 73,9%, chưa phát hiện bệnh nhân nào cắt lách, kể cả qua siêu âm bụng kiểm tra
Liên quan đến KSTSR thể vô tính P falciparum, mật độ trung bình của thể vô tính là
26.274/L máu ngoại vi, số bệnh nhân có giao bào là 4 trường hợp (8,7%) với mật độ trung bình của giao bào thấp chỉ là 25 (6 - 44), cho thấy mật độ như thế là lý tưởng trong đánh giá
hiệu lực trên thử nghiệm in vivo, và ở đây chỉ số giao bào chỉ là thông số mô tả chứ không
nhằm mục đích đánh giá hiệu lực của nó trong việc làm sạch giao bào vì bản thân thuốc DHA-PPQ không giết giao bào
Hiệu lực phác đồ DHA-PPQ trong điều trị SR do P falciparum
Qua phân tích đánh giá 46 trường hợp P falciparum chưa biến chứng điều trị bằng
thuốc phối hợp arterakine, liệu trình 3 ngày Số liệu cũng cho thấy có 1 ca rút khỏi nghiên cứu
và 12 trường hợp mất theo dõi từ ngày D4 trở đi, điều này cho thấy các nghiên cứu in vivo
hiện nay rất khó khăn trong vấn đề theo dõi đủ liệu trình cần thiết tối thiểu Tỷ lệ đáp ứng lâm sàng và ký sinh trùng đầy đủ cao, tuyệt đối 100% trong số 33 ca phân tích đủ liệu trình đến 42
Trang 7ngày, chưa phát hiện ca nào thất bại điều trị sớm (ETF), thất bại lâm sàng muộn (LCF) hay thất bại ký sinh trùng muộn (LPF)
Vì tất cả 46 ca đều theo dõi được đến D4, sau đó mới có 12 ca mất theo dõi nên tất cả đều đưa vào thân tích hiệu lực làm sạch KSTSR và cắt sốt đầy đủ Với 46 trường hợp phân tích hiệu lực làm sạch KSTSR và cắt sốt, cải thiện triệu chứng lâm sàng cho thấy số ngày trung bình bệnh nhân có sốt ở nhà là 2,5 ± 1,5 ngày, thân nhiệt ngày Do là 38,20C và sau khi dùng thuốc, có thời gian cắt sốt khoảng 30 giờ Đồng thời mật độ KSTSR ngày D0 chỉ 28.244/L, sau đó hiệu lực làm sạch KST trong 36 giờ, nghĩa là chưa đến 2 ngày
Trong số 46 ca, có đến 12 ca sau điều trị liều thuốc đặc hiệu DHA-PPQ đầu tiên kéo
dài liệu trình 3 ngày vẫn còn tồn tại thể vô tính của P falciparum với nhiều mức độ khác nhau
và trong số đó có 1 ca còn tồn tại thể vô tính đến ngày D4 và sang ngày D5 mới sạch hoàn toàn thể vô tính (ở đây không đánh giá sự làm sạch giao bào) Sự tồn tại và giảm dần của mật độ KSTSR theo từng ngày qua mỗi 24 giờ, không có ca nào phản ứng tăng KSTSR sau điều trị, nhất là từ D0 chuyển sang ngày D1, song tốc độ giảm chậm đến ngày D3. Tính trung bình chung, cho thấy mật độ KSTSR thể vô tính giảm của các bệnh nhân giảm theo từng ngày từ
D0 đến D4 như sau: 34.170 : 11.882 814 105 2 0/mm3 máu ngoại vi (từ ngày D0
D1 D2 D3 ngày D4) Điều này chỉ ra một nguy cơ cao phát triển kháng thuốc do áp lực thuốc trong vùng này (tại chỗ) hoặc có nguồn gốc tử chủng ký sinh trùng Campuchia sang!
Thử nghiệm in vivo về hiệu lực DHA-PPQ là hỗ trợ cho các kết quả dựa trên chứng cứ
nhằm thay đổi chính sách thuốc tại Việt Nam Số liệu ở đây chỉ ra thuốc DHA-PPQ đang sử dụng tại Việt Nam như lựa chọn ưu tiên có hiệu lực cao và dung nạp tốt Theo định nghĩa của Chương trình sốt rét toàn cầu của Tổ chức Y tế thế giới (WHO/Global Malaria Programme)
và Mạng lưới kháng thuốc sốt rét toàn cầu (World wide antimalarial drug resistance Network_WWARN) định nghĩa sự tồn tại ký sinh trùng dương tính ngày D3 như một chỉ điểm lâm sàng gián tiếp kháng thuốc (WHO, 2011) Hơn nữa, gần đây TCYTTG đã sử dụng một định nghĩa: (i) Một sự gia tăng thời gian làm sạch ký sinh trùng khi bằng chứng có hơn 10%
số ca còn tồn tại ký sinh trùng ở ngày D3 sau điều trị ACTs (nghi ngờ kháng); hoặc (ii) Một sự thất bại điều trị có bằng chứng có tồn tại ký sinh trùng ngày D3 và hoặc có tồn tại ký sinh trùng vào D7 hoặc tái phát lại sau ngày D7 trong vòng 42 ngày theo dõi, sau điều trị cùng với nồng độ thuốc trong máu đủ (xác định kháng) Như thế, trong phân tích này, tỷ lệ ký sinh trùng dương tính vào ngày D3 ≈ 21,6% (> 10%), do thiếu dữ liệu phân tích về mặt dược động học cũng như gen học để xác định các locus kháng nên những ca này còn khẳng định các đột biến sau khi có kết quả phân tích từ TCYTTG([3]),([5])
Trong nghiên cứu này chưa phát hiện ca nào tồn tại thể vô tính sau 72 giờ có liên quan đến bát thường lách, nên có thể do một lý do khác, chẳng hạn dung nạp ký sinh trùng chăng?
Vì trường hợp thất bại điều trị có liên quan đến lách bất thường nên có thể khiến cho quá trình chậm làm sạch ký sinh trùng vì lách vốn dĩ là “mồ chôn” các hồng cầu nhiễm và không nhiễm Điều này có thể phù hợp với các nghiên cứu trước đây bởi Teuscher (2010) cho thấy
sau điều trị với artesunate – dẫn suất của artemisinins, các thể nhẫn của P falciparum trở nên
“ngủ” và khoảng 0,001–1,313% số ca hồi phục phát triển tùy thuộc vào chủng và liều thuốc
Trang 8hệ thống tuần hoàn Điều này có thể có sự gia tăng nhờ vào sự loại bỏ do lách với các KST trong hồng cầu bị tổn thương và nhìn thấy phần lớn hồng cầu nguyên vẹn([4])
KẾT LUẬN
Với hiệu lực DHA-PPQ hiện đang như một thuốc ưu tiên trong điều trị SR do
P.falciparum là tuyệt đối 100%, nhưng sự tồn tại KST thể vô tính ở thời điểm sau 72 giờ
(ngày D3) cao (26,1%) sau điều trị DHA-PPQ như một chỉ điểm kháng thuốc cao Do vậy, việc cần thiết là nỗ lực giám sát thường quy hiệu lực thuốc tại vùng SRLH như ở Đăk Nông
để sớm cảnh báo về tình trạng kháng thuốc cũng như thay đổi chính sách thuốc theo từng giai đoạn
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Huỳnh Hồng Quang, Triệu Nguyên Trung, Li Guoqiao và cs., (2008), “Đánh giá
hiệu lực các thuốc phối hợp có gốc artemisinine (ACTs) trong điều trị sốt rét do P falciparum chưa biến chứng tại vùng SRLH, miền Trung-Tây Nguyên, Việt Nam (2004-2008)” Tạp chí y
học TP Hồ Chí Minh, Vol.12-supplement, số 4: 28-34
[2] Huỳnh Hồng Quang, Triệu Nguyên Trung và cs., (2011), “Hiệu lực thuốc sốt rét
phối hợp Arterakine và Artequick-primaquine trong điều trị sốt rét P falciparum chưa biến chứng: Một nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng thăm dò liều tại Gia Lai, 2010”, Tạp chí y học
thực hành, ISSN 1859-1663, vol 796-2011: 125-133
[3] Julien Zwang, Elizabeth A Ashley, Corine Karema et al., (2008), Safety and
efficacy of Dihydroartemisinin-Piperaquine in falciparum malaria: A prospective multi - centre individual patient data analysis PLoS Hub for Clinical Trials
[4] Shannon Takala-Harrison, Taane G Clark, Christopher G Jacob et al., (2013), Genetic loci associated with delayed clearance of Plasmodium falciparum following artemisinin treatment in Southeast Asia, PNAS, Jan 2, 2013, vol 110, No 1: 240-245
[5] Valecha N, et al., (2010), An open-label, randomised study of dihydroartemisinin-piperaquine versus artesunate + mefloquine for falciparum malaria in Asia PLoS ONE 5(7):
e11880
[6] WHO (2010), Global report antimalarial drugs efficacy and drugs resistance
2000-2010
[7] WHO (2011), Methods and technique for assessing exposure to antimalarial drugs
in clinical field studies Informal consultation organized by the WHO with the technical
supports of the world wide antimalarial resistance network (WWARN)
[8] WHO (2013), Emergency response to artemisinin resistance in the greater
Mekong subregion, Regional framework for action 2013-2015
Trang 9DRUG RESISTANCE ASSOCIATED WITH DELAYED CLEARANCE OF
PIPERAQUINE TREATMENT IN MALARIAL ENDEMIC ZONE WITHIN CAMBODIA CROSS-BORDER 2013
Huynh Hong Quang 1 , Nguyen Van Chuong 1 , Pham Van Than 2
1 Institute of Malariology, Parasitology and Entomology Quy Nhon, MoH
2 Thang Long University
Background: Malaria still a public health problem in the tropics and subtropics
regions, including Vietnam The recent emergence of artemisinin-resistant Plasmodium falciparum malaria in Cambodia, Thailand, Vietnam, and Myanmar (WHO, 2013) could threaten prospects of malaria elimination and achievement of malaria control programme
Objectives: The study evaluated the efficacy of dihydroartemisinine-piperaquine combination
(DHA-PPQ) on uncomplicated P falciparum malaria patients in a endemic zone within
Cambodia border Methods: A non randomized controlled clinical trial of in vivo, and
treatment outcomes classification by the latest update WHO guidance, including primary outcome of ACPR (Adequate clinical and parasitological response), ETF (Early treatment failure), LTF (Late treatment failure, including LPF_Late parasitological failure and LCF_Late clinical treatment) and secondary outcome of proportion of positive asexual
parasite on day 3 as an indirect clinical resistant marker Results: The overall data showed
that the cure rate of DHA-PPQ was 100% in Daknong sentinel, without points in ETF, LCF, LPF Especially, with 26.1% positive parasite on or after D 3 after commencement of ACTs treatment as indirect clinical marker for resistance high risk (by parasite clearance slope)
Conclusions: The efficacy of DHA-PPQ are extremely high, ideal for first-line treatment, but
displayed markedly delayed clearance following DHA-PPQ treatment, suggesting either emergence of DHA-PPQ resistance in Daknong, Vietnam or spread to this location from its site of origin in Cambodia This need to be have suitable containment efforts in line with Worldwide Antimalarial Resistance Network guidlines
Key words: Plasmodium falciparum, drug resistance, efficacy